Tag Archives: CON NGƯỜI

Đất nước muốn phát triển, con người phải được tự do – Tvn

31 Th8

Để đất nước phát triển, con người cần không gian tự do sáng tạo. Do đó, trong một xã hội dân chủ, về nguyên tắc không gian tự do cần tương đối rộng và ngược lại những hạn chế quyền tự do phải tương đối hẹp.

Tránh nguy cơ “khóa” các quyền hiến định

Hiến pháp của thời kỳ đổi mới

Những vấn đề để ngỏ trong Dự thảo Hiến pháp

Quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập 1945…

Ngay trong những ngày đầu của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập, cụ thể ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Hồ Chí Minh cũng đã thể hiện rõ tư tưởng bảo đảm quyền tự do của nhân dân trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945. Ngay từ những câu đầu tiên, Người đã trích dẫn những “lời bất hủ” (nguyên văn chữ dùng của Bác) trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ do Thomas Jefferson soạn thảo: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc“.

Người còn nhắc lại Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 như một sự lên án đanh thép tội ác của thực dân Pháp đã “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta… tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào… thi hành những luật pháp dã man”.

Tại sao Người lại nhấn mạnh trong Tuyên ngôn độc lập một tư tưởng từ tuyên ngôn độc lập và dân quyền của các quốc gia tư bản? Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời ngay trong Tuyên ngôn độc lập 1945: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Hồ Chí Minh đã phân biệt rạch ròi giữa chế độ chính trị của một quốc gia và chân lý, giá trị phổ quát của nhân loại.

Thật vậy, các quốc gia dù khác nhau về chế độ chính trị đều phải hướng tới mục tiêu bảo vệ các quyền và tự do căn bản và đem lại cuộc sống hạnh phúc cho người dân.

Ba năm sau Tuyên ngôn độc lập của VNDCCH và cũng là ba năm sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Đại Hội đồng Liên hiệp quốc, thông qua bản Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền con người 1948 (Universal Declaration of Human Rights), cũng đã nhấn mạnh ngay từ đầu: “Sự công nhận nhân phẩm của mọi người trên toàn thế giới và các quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ chính là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới”.

Trải qua bao xương máu của nhân loại, đặc biệt từ đau thương của Chiến tranh thế giới thứ hai, Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền con người đúc kết: “Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được coi là ước vọng cao nhất của con người”.

Đến Hiến pháp 1946…

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam đã khẳng định ngay trong lời nói đầu ba nguyên tắc căn bản của Hiến pháp là: “Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; Đảm bảo các quyền tự do dân chủ; Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”. Suy cho cùng, đây cũng chính là nguyên tắc “nhà nước của dân, do dân, vì dân” do Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln đúc kết (“Government of the people, by the people, for the people, shall not perish from the Earth”).

Lời nói đầu Hiến pháp 1946 cũng nhắc nhở chúng ta rằng “chủ quyền cho đất nước” và “tự do cho nhân dân” luôn song hành. Điều đó thể hiện triết lý sứ mệnh của một nhà nước có chủ quyền không gì khác nhằm “đảm bảo các quyền tự do dân chủ” cho nhân dân. Tiếp đó, Chương II đã long trọng tuyên bố sự công nhận và cam kết bảo đảm các quyền con người phổ quát. Nhìn một cách tổng thể, Hiến pháp 1946 đã thể hiện những tư tưởng chính trị-pháp lý tiến bộ và hoàn toàn có thể là điểm sáng so với các hiến pháp cùng thời trên thế giới.

Hiến pháp, quyền con người, nhân quyền, độc lập, quốc khánh
Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam. Ảnh: An Đăng – TTXVN

…và Hiến pháp 2013

Hiến pháp hiện hành tiếp tục khẳng định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” (khoản 1 Điều 2) và “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân” (Điều 3).

 

Như vậy, Hiến pháp 2013 đã thể hiện triết lý quyền con người không phải do nhà nước ban phát mà các quyền do “tạo hóa” sinh ra gắn với mỗi người. Theo đó, quyền con người phải được Nhà nước “công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm”.

Trong số các quyền con người được Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ, chỉ có một số ít quyền tuyệt đối, tức không bị giới hạn trong bất kỳ trường hợp nào. Quyền được tôn trọng về nhân phẩm, trong đó bao gồm quyền không bị làm nô lệ, quyền không bị tra tấn và đối xử một cách tàn ác, được phần đông thừa nhận mang tính tuyệt đối, không thể bị hạn chế.

Ngoài những quyền tuyệt đối, các quyền còn lại đều có thể bị giới hạn ở những mức độ khác nhau. Sự giới hạn quyền là hiện tượng bình thường và phổ biến ở mọi quốc gia.

Tuy vậy, việc hạn chế này không được tùy tiện và phải tuân theo những nguyên tắc. Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền con người 1948, văn bản được coi là kết tinh của tinh hoa và chuẩn mực toàn cầu, đã quy định nguyên tắc giới hạn quyền con người này tại Điều 29: “Trong việc thực thi các quyền và tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ”.

Tiếp thu tư tưởng này, Hiến pháp 2013 ghi nhận: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (khoản 2, Điều 14). Đây là bước tiến lớn trong tư duy lập hiến ở Việt Nam.

Nguyên tắc này đảm bảo một không gian hợp lý để công dân “tự do” thực hiện quyền của mình, miễn là không lấn vào những phần bị nhà nước “hạn chế”. Thời đại ngày nay, mọi quốc gia giống nhau ở chỗ đều công nhận các quyền và tự do cơ bản, chỉ khác nhau ở phạm vi các quyền bị giới hạn và phương pháp đặt ra vùng bị giới hạn đó.

Nhằm thực hiện khoản 2 Điều 14 Hiến pháp một cách đúng đắn, trước hết, việc nhà nước giới hạn các quyền công dân phải được quy định bằng pháp luật rõ ràng và minh bạch và có lý do chính đáng – tức nhằm bảo vệ quyền của người khác và lợi ích chung của xã hội. Đối với những quyền mà việc thực hiện nó không làm ảnh hưởng đến người khác và lợi ích chung của xã hội, các nhà nước không có lý do chính đáng để hạn chế. Chẳng hạn, nhà nước không cần can thiệp vào những việc như người dân treo tranh gì trong nhà, nhưng có quyền hạn chế số tầng của ngôi nhà nhằm đảm bảo mỹ quan đô thị hay an toàn xây dựng.

Thứ hai, việc hạn chế quyền phải phù hợp với mục tiêu. Chẳng hạn, nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông, nhà nước có thể phạt tiền người vi phạm luật chứ không thể cấm người dân sở hữu xe. Ngoài ra, việc hạn chế quyền cần vừa đủ nhằm đạt được mục tiêu. Ví dụ, nhằm răn đe người vượt đèn đỏ, việc phạt tiền nghiêm khắc là đủ mà không cần phải phạt tù; nhưng đối với người uống rượu lái xe, phạt tù ngắn hạn là phù hợp.

Thứ ba, lợi ích của việc hạn chế quyền phải lớn hơn thiệt hại do việc hạn chế đó gây ra. Có thể lấy bài học về quyền tự do kinh doanh làm thí dụ. Thời bao cấp, quyền tự do kinh doanh bị hạn chế khá lớn, đã kìm hãm nền kinh tế. Theo đó người dân chỉ có thể tham gia kinh doanh tập thể của nhà nước mà không thể thành lập doanh nghiệp tư nhân. Điều này chứng minh việc hạn chế quyền không hợp lý, trái với quy luật phát triển sẽ không đem lại lợi ích mong đợi.

Kể từ đổi mới kinh tế, người dân được mở doanh nghiệp tư. Về tổng thể, khi tự do của người dân được giải phóng, của cải xã hội được tạo ra nhiều hơn và có chất lượng tốt hơn thời tập trung quan liêu bao cấp.

Tóm lại, mỗi nhà nước muốn hạn chế quyền công dân cần tính đến tính chính đáng, tính phù hợp và tính ích lợi xã hội. Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp phải là kim chỉ nam cho việc xây dựng các luật liên quan mật thiết đến quyền và tự do cá nhân như Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tiếp cận thông tin, Luật lập hội, Luật biểu tình, Luật tôn giáo.

Quyền con người và nhà nước kiến tạo phát triển

Để phát triển, quốc gia cần phải phát huy tiềm lực con người. Muốn vậy, con người cần không gian tự do sáng tạo. Do đó, trong một xã hội dân chủ, về nguyên tắc không gian tự do cần tương đối rộng và ngược lại những hạn chế quyền tự do phải tương đối hẹp.

Tất nhiên, mối tương quan giữa tự do-hạn chế này khác nhau giữa các quốc gia và cũng khác nhau giữa các quyền. Nền pháp quyền hiện đại luôn đòi hỏi một “chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” (Lời nói đầu Hiến pháp 1946 nêu trên) phải viện dẫn lý do chính đáng và tính toán những lợi ích xã hội khi muốn hạn chế tự do của người dân. Thực hiện đúng đắn Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp là một chỉ số của nhà nước kiến tạo phát triển.

Bùi Tiến Đạt

(Giảng viên Khoa Luật-ĐHQGHN, NCS Đại học Macquarie, Australia)

‘Đảng ta’ đã ‘giải phóng con người’ như thế nào ? – VOA

27 Th10

 

 
 
nào?
 
 

Kể từ khi ra đời đến nay, “Đảng ta” – danh xưng trìu mến mà nhân dân ta vẫn dành cho Đảng Cộng sản Việt Nam – luôn giương cao “ngọn cờ chiến đấu” là “giải phóng giai cấp”, “giải phóng dân tộc” và trên hết là “giải phóng con người”.

Trong suốt 84 năm qua, dưới sự lãnh đạo “tài tình và sáng suốt” của Đảng, nhân dân ta đã đạt được những thành tựu vĩ đại. Không bút giấy nào có thể ghi hết “công ơn trời biển” của Đảng và “Bác Hồ” trong sự nghiệp nặng nề mà cao cả này.

Bất chấp thực tế đó, các “thế lực thù địch” trong và ngoài nước vẫn ngày đêm truyền bá những “quan điểm sai trái”, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng cho rằng chính phủ Trần Trọng Kim là một chính phủ hợp pháp, độc lập và đã làm được rất nhiều việc cho đất nước trong hoàn cảnh hết sức ngặt nghèo. Theo chúng, thời điểm năm 1945, khi Cách mạng Tháng Tám diễn ra, Pháp đã trao trả độc lập, dù chưa hoàn toàn, cho Việt Nam. Theo chúng, rước Trung Quốc (những kẻ luôn có dã tâm thôn tính và triệt phá Việt Nam) vào để đánh đuổi Pháp (những người đã góp phần quyết định trong công cuộc khai hoá văn minh cho người Việt) thì chẳng khác nào “rước voi về giày mả tổ”. Chưa hết, chúng còn cho rằng cuộc chiến tranh Bắc–Nam 1954–1975 ở Việt Nam thực chất là cuộc nội chiến “huynh đệ tương tàn”, với vũ khí từ hai phe đối địch trong chiến tranh lạnh; người Mỹ, nếu thực sự “xâm lược” Việt Nam, cũng đã rút khỏi Việt Nam từ sau Hiệp định Paris năm 1973.

Những “luận điệu sai trái” nói trên thực ra chẳng có gì là mới mẻ; các “thế lực thù địch” kia đơn giản là muốn phủ nhận sự nghiệp “giải phóng dân tộc” của Đảng thôi. Chẳng có gì là lạ khi đầu óc tối tăm không hiểu được rằng sự nghiệp “giải phóng con người” của Đảng còn rực rỡ hơn thế bội phần. Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài viết này, chúng ta sẽ cùng điểm qua vài thành tựu “giải phóng con người” của “Đảng ta”.

Giải phóng lòng tham

Dưới chế độ phong kiến và thực dân, vốn “xấu xa và thối nát” như Đảng vẫn tuyên truyền cho dân chúng, lòng tham của con người bị tiết chế bởi những chuẩn mực đạo đức và quy tắc ứng xử “thấp kém” của xã hội thời bấy giờ. Vì thế, dưới hai chế độ này, con người ta ít khi bộc lộ “phẩm chất tham lam” của mình.

Cụ Lê Hiền Đức từng kể lại câu chuyện: Sáng ngày 10.10.1954, trở về Hà Nội sau 9 năm kháng chiến, cụ bắt đầu đi tìm gia đình và người thân của mình. Vì chiếc ba lô quá nặng không thể mang theo người được nên cụ đành gửi đại ở bưu điện Bờ Hồ. Buổi chiều, cụ quay lại để lấy ba lô thì thấy nó vẫn nằm y nguyên chỗ cũ giữa tấp nập người qua kẻ lại mà không hề bị xâm phạm.

Thế rồi cũng tại chính Bờ Hồ đó, chỉ một thời gian ngắn dưới sự “lãnh đạo anh minh” của Đảng, dân chúng đã phải ví von: “Có vợ mà cho đi Tây / Như là xe máy để ngay Bờ Hồ.” Và nay thì “văn hoá trộm cắp” ở đây đã nở rộ đến mức người ta lập hẳn một trang Facebook riêng với tên gọi “Đạo chích tại Hồ Gươm – Những điều bạn nên biết”, còn Hà Nội thì trở thành một trong mười thành phố nhiều đạo chích nhất thế giới.

Tham nhũng và trộm cắp dần dần trở thành những hiện tượng rất đỗi quen thuộc và hết sức gần gũi với nhân dân ta.

Chẳng ở đâu trên thế gian này lại có một thứ “văn hoá” đầy tính “nhân văn” như ở Việt Nam: “văn hoá phong bì”. Các vị “đầy tớ của nhân dân”, danh xưng khiêm nhường mà giới quan chức Việt Nam vẫn tự nhận, sẵn sàng vẽ ra đủ thứ dự án hoành tráng lên tới hàng ngàn tỷ mà không cần phải “băn khoăn” gì về “hiệu quả” của chúng, miễn là họ có thể “gặt hái” được cái gì đó để tiếp tục sự nghiệp “phụng sự nhân dân” cao cả.

Trộm cắp thì diễn ra mọi lúc mọi nơi; ngay cả nhà của tướng lĩnh công an cũng được trộm “chiếu cố”. Thậm chí, hễ một ai đó bị tai nạn là người ta lại chẳng nề hà gì chuyện xông vào hôi của mà mục đích chỉ là để giúp nạn nhân vì xót của mà quên đi cơn đau đang hành hạ. “Nhân đạo” và “nhân văn” đến thế thì lịch sử Việt Nam chỉ có ở “thời đại Hồ Chí Minh” thôi!

Giải phóng lòng căm thù đồng loại

Cạnh tranh sinh tồn vốn là một bản năng hàng đầu của động vật. Các loài vật đôi khi vẫn sát hại đồng loại để tồn tại. Những cá thể đầu tiên của loài người vẫn tranh giành nhau, thậm chí sát hại nhau vì sự sinh tồn của mình. Nhưng rồi dần dà, họ nhận ra rằng, vì sự tồn vong của bản thân cũng như giống nòi, họ cần thương yêu, đùm bọc lẫn nhau để hợp tác với nhau trong hoạt động săn bắn, hái lượm, và đặc biệt là để chống lại những kẻ thù dị chủng bên ngoài. Bản năng căm thù đồng loại trong xã hội loài người vì thế mà mai một dần theo thời gian.

Trong các hình thái xã hội trước kia, con người ta được răn dạy là phải thương yêu lẫn nhau; lòng căm thù đồng loại là một khái niệm xa lạ trong các hình thái xã hội này. Điều này thể hiện qua những câu ca dao, thành ngữ như: “Bầu ơi thương lấy bí cùng / Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”, “Thương người như thể thương thân” hay “Lá lành đùm lá rách”, v.v.

Thế rồi ánh bình minh mà Đảng Cộng sản đem tới đã xua tan bóng đêm dằng dặc của nhân loại. Và để nhân dân ta vĩnh viễn thoát khỏi đêm dài tăm tối, một trong những nhiệm vụ hệ trọng nhất mà “Đảng ta” không một phút giây sao nhãng là khơi dậy và giáo dục lòng căm thù đồng loại cho mọi người.

“Con người mới XHCN” ở Việt Nam được Đảng giáo dục không chỉ căm thù đồng loại một cách chung chung mà còn phải hướng lòng căm thù đó vào chính những người đã sinh thành và dưỡng dục mình, như những gì mà thế giới đã được chứng kiến trong cuộc cách mạng “long trời lở đất” mang tên “Cải cách Ruộng đất”. Thay thế những câu ca dao, thành ngữ “suy đồi” kể trên là những câu thơ ca, thành ngữ mang đậm bản chất “nhân văn” và “nhân đạo” của “thời đại Hồ Chí Minh”: “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ / Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong / Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng / Thờ Mao Chủ tịch, thờ Stalin bất diệt” (Tố Hữu), hay “Mình rình mọi người, mọi người rình mình”, v.v.

Các phương tiện truyền thông trong tay Đảng vẫn hàng ngày hàng giờ tuyên truyền, kêu gọi nhân dân ta nêu cao tinh thần “cảnh giác cách mạng” trước các “thế lực thù địch”, bất kể “thế lực thù địch” đó có thể là bố mẹ, vợ chồng hay con cái của mình.

Nhờ nỗ lực không biết mệt mỏi của Đảng trong sự nghiệp giải phóng lòng căm thù đồng loại cho nhân dân nên chưa bao giờ bạo lực lại trở thành một thứ “văn hoá” gần gũi và phổ biến như ở Việt Nam hiện nay. Người ta chém giết, tra tấn, hành hung nhau gần như mọi lúc mọi nơi, từ gia đình, tới nhà trường, ra xã hội, cho đến… đồn công an. Người ta dùng bạo lực để đối xử với nhau bất kể vì lý do gì, nhiều khi chỉ vì “ngứa mắt”. Từ cụ già “gần đất xa trời”, phụ nữ mang thai cho đến em bé nhi đồng… tất cả đều trở thành đối tượng tiềm tàng để người ta “trút căm thù”.

Giải phóng bản năng vô pháp luật

Con người ta hầu như chẳng ai muốn bị gò bó bởi bất cứ thứ luật lệ hay quy tắc mang tính chất ràng buộc nào. Bản chất của con người là yêu thích tự do. Những cá thể đầu tiên của loài người đề cao tự do, phóng túng. Dần dà, người ta nhận ra rằng không một cá thể nào đủ sức tồn tại biệt lập bên ngoài cộng đồng. Mà muốn chung sống với cộng đồng thì mỗi cá thể phải chấp nhận những quy tắc chung (lề thói, phong tục, tập quán… và trên hết là pháp luật) của cộng đồng, bởi nếu thiếu những quy tắc đó thì tổ chức cộng đồng sẽ trở nên hỗn loạn.

Việc tuân theo các quy tắc chung đó dần dần trở thành thứ phản xạ gần như bản năng của mỗi thành viên trong các hình thái xã hội trước kia. Một hình ảnh tiêu biểu rất “đáng phê phán” mà người ta thường thấy ở các nước tư bản “đang giẫy chết” là một người điều khiển xe tự động dừng phương tiện và kiên nhẫn chờ đèn đỏ giữa đêm khuya, dù xung quanh hoàn toàn vắng bóng người.

Thế rồi, như một sự “lựa chọn tất yếu” của lịch sử, “Đảng ta” đã xuất hiện và gần như ngay lập tức giải phóng bản năng vô pháp luật vốn bị giam hãm trong nhân dân một cách bất công suốt hàng thế kỷ. Đảng là “tinh hoa” của giống nòi, đại diện cho sự “anh minh”, “sáng suốt” của dân tộc nên hiếm khi Đảng phải viện đến pháp luật, dù đó là thứ “pháp luật” do chính Đảng nặn ra, từ những sự kiện hệ trọng trước kia như Cải cách Ruộng đất hay Vụ án Xét lại Chống Đảng trước kia cho đến những vụ việc đặc nghiêm trọng hiện nay như vụ vợ chồng Lê Anh Hùng – Lê Thị Phương Anh tố cáo PTT gốc Tàu Hoàng Trung Hải, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và TBT Nông Đức Mạnh hiện nay, mặc dù truyền thông quốc tế cũng đã không ít lần đưa tin.

Như một lẽ tự nhiên, “phẩm chất” vô pháp luật của Đảng cũng dần lan toả trong nhân dân. Nhờ vậy mà giờ đây hiếm có người Việt Nam nào vẫn còn đặt niềm tin vào cái gọi là “pháp quyền XHCN”. Thay vì thế, họ lại sùng bái một động từ tuy đơn giản, mộc mạc nhưng lại đầy “màu nhiệm” – đó là “chạy”: chạy chức, chạy quyền, chạy dự án, chạy trường, chạy án, chạy tiến sỹ, chạy giáo sư, chạy huân chương, chạy bảo hiểm, chạy quân hàm, chạy việc làm, v.v. và v.v. Cả xã hội đua nhau chạy, mạnh ai nấy chạy.

Bộ máy công quyền ngày một phình to để giám sát việc “thực thi pháp luật”, chỉ vì ý thức pháp luật là khái niệm ngày càng trở nên xa lạ với nhân dân. Chẳng hạn, tại các chốt giao thông thì chỉ các cột đèn tín hiệu không thôi là chưa đủ, mà người ta còn cần phải bố trí thêm dăm ba chú công an mặc quân phục cả vàng lẫn xanh lăm lăm cây gậy trong tay để có thể điều tiết giao thông.

Những “thành tựu vĩ đại” của Đảng trong sự nghiệp “giải phóng con người” thì kể mãi cũng không hết. Rốt cuộc, mục tiêu cao cả nhất của Đảng không phải là “giải phóng dân tộc” hay “giải phóng giai cấp”, mà chính là “giải phóng con người”. Sau những gì đã trình bày ở trên, liệu còn có ai dám cho rằng sự nghiệp “giải phóng con người” của “Đảng ta” là không “rực rỡ”, không “vĩ đại”?

“Không biết đến hết thế kỷ này đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa?” – đó là câu hỏi mà ngài Tổng Bí thư đáng kính của chúng ta vẫn ngày đêm “trăn trở”.

Câu hỏi của một bậc “GS.TS” từng đảm trách cương vị “Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương” thì quả là quá khó không chỉ với người Việt Nam chúng ta mà với cả nhân loại văn minh. Tuy nhiên, điều mà chúng ta có thể trả lời dứt khoát ngay bây giờ là không cần phải đợi đến cuối thế kỷ này, “Đảng ta” mới giải phóng hết tất cả những bản năng hoang dã vốn bị giam hãm trong nhân dân ta suốt hàng ngàn năm qua. Và rồi, sau một chu trình phát triển theo vòng xoáy trôn ốc mà Karl Marx “thiên tài” đã khám phá ra, đất nước chúng ta sẽ “tiến lên” một nền văn minh hoang dã khác./.\

Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

 


Lê Anh Hùng

Lê Anh Hùng là một blogger tự do trẻ trong nước tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam.
 
Trình bày ý kiến
Mới nhất
Theo thứ tự thời gian

Bấm vào đây để góp ý trên diễn đàn này (12)

 
 
Ý kiến
     
 
 
bởi: Nguyen Van Su từ: Vinh Long
26.10.2014 00:06
 
Trả lời
Tôi hòan tòan thích thú khi đọc bài này, không cần phải nói gì nhiều hay lý luận biện chứng Mác xit gì. Chỉ nhìn qua xã hội VN hiện nay các tệ nạn xã hội, quan liêu tham nhũng xãy ra ngày càng như “ chuyện thường ngày’ cũng thấy “ tài lãnh đạo” hay ho như thế nào. Hỡi ơi những con người ‘ SỐNG CÓ LÝ TƯỞNG PHỤC VỤ NHÂN DÂN” họ đang ở đâu?
 
 

bởi: Lê Bình Nam

25.10.2014 22:03
 
Trả lời
Di hại khủng khiếp nhất của Mác Lê Mao để lại cho dân tộc Việt Nam là đào tạo nên một tập đòan tay sai cúii đầu cung phụng cho Nga Tàu trước đây vàTàu cộng bây giờ.Việt Nam dưới chế độ độc tài toàn trị mang phướng rách cộng sản đang đi trên con đường đến diệt vong dưới tay bành trướng đại Hán.
 
 

bởi: Hồ Dai từ: Lạng sơn

24.10.2014 11:18
 
Trả lời
Quốc gia hưng vong ,thất phu hữu trách.Nhưng việc khởi xướng.ở đâu,thời nào,thãy đều do giới cầm bút .Giới cầm bút tại VN ,trước đây đã gíup đắc lực cho CS cầm quyền Đất nước .
Nay giới này còn it ỏi,đứng lên đòi quyền sống cho dân ,còn an phận thủ thường . Số phận toàn dân còn gánh chịu oan khiên ,chớ có chế độ độc tài nào chịu ban phát ân huệ gì cho đại chúng .CS cũng độc tài,tàn ác khác gì đâu phát xít ? ! ? !
 
Trả lời

bởi: Không ghi tên

25.10.2014 15:41
 
Trả lời
Khác Phát Xít nhiều lắm.Phát xít giết người nước ngoài,ĐCSVN giết người cùng chủng tộc để có dịp bạo hành và tham nhũng,vơ vét.
 
 

bởi: Dong từ: Usa

24.10.2014 07:14
 
Trả lời
Anh nay la mot nhan tai. Anh dang dau xot vi- dat nuoc VN cham tien.dang CSVN la tai hoa cho nhan load.Chuc anh Le Anh Hung Vui khoe.cam on long nhiet huyet cua Anh.hy vong may man se den voi Viet nam
 
 

bởi: An Le từ: Toronto, Ontario, Canada

24.10.2014 04:45
 
Trả lời
Dám nói ra những sư thật cũng đươc gọi là ANH HÙNG rồi.
 
 

bởi: Vo Danh từ: Ha Tinh

23.10.2014 16:30
 
Trả lời
Khi con người thông minh và thông thạo ngoại ngữ nếu người ấy giúp nước họ sẽ có công rất lớn và nếu họ làm cho cá nhân mình thì lợi tức sẽ lớn. Tiền nhân ta có nhiều anh hung dân tộc họ rất uyên thâm nho học, hiểu được người Phương Bắc và công hiến cuộc đời cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Hồ Chí Minh một con người rất thông minh, rất giỏi tiếng Tàu, Ông đã hy sinh cả cuộc đời mình ‘cho sự nghiệp giải phóng dân tộc’ đẩy nhân dân Việt Nam vào trung tâm làn đạn của các nước lớn và đến hôn nay thì sống cho lợi ích cốt lõi của Trung Quốc. ‘Bác Mao đâu ở đâu xa, Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao’. Dân tộc Việt phải sống, phải nuốt nhục và nuốt hận!
 
 

bởi: Khiêm từ: Sài Gòn

22.10.2014 19:34
 
Trả lời
Ngẫm cho cùng, nền hòa bình, thịnh vượng, ổn định và công bằng xã hội mà phương Tây có được như hôm nay là do nền văn hóa, văn minh Ki-tô giáo mà ra. Mọi chủ thuyết quá “duy” (duy nhân, duy tâm, duy vật, duy thần) đều là những lệch lạc, chỉ có thể thỏa mãn mục đích cá nhân một số người, không đem lại lợi ích chung, bền vững cho nhân phẩm con người và xã hội. Rõ ràng, con người cần khiêm tốn nhìn nhận những bất toàn của mình để có thể được điều chỉnh từ bên trong (lương tâm) ra ngoài (quan hệ xã hội). “Yêu mến Thiên Chúa (Chân, Thiện, Mỹ) trên hết mọi sự, và yêu thương người thân cận như chính mình” thật đáng để chúng ta tái khám phá và suy nghĩ!
 
 

bởi: Huy

22.10.2014 17:52
 
Trả lời
Hy vọng các bạn trẻ trong nước có cơ hội đọc được bài viết này một cách rộng rãi. Cảm ơn tác giả đã chịu khó sơ lược “lịch sử oai hùng của đảng cầm quyền” để tất cả chiêm nghiệm cái thành tích bán nước hại dân của tập đoàn cai trị ngoại lai này.
 
 

bởi: DÂN CHỦ từ: Đà Nẳng

22.10.2014 16:12
 
Trả lời
Đọc bài viết của Lê Anh Hùng mà tôi chảy nước mắt. Tội nghiệp cho dân tộc mình quá ! Văn hóa ở Việt Nam bây giờ là văn hóa “chạy ” ( chạy chức chạy quyền, chạy dự án, chạy trường, chạy thạc sĩ, tiến sĩ…) và “giết” ( giết người cướp của, giết người yêu vì thất tình và thậm chí giết cả cha mẹ mình…). Đó là kết quả của sự nghiệp ” Giải phóng con người” của ” Đảng ta”.
 
 

bởi: Nông Dân Nam Bộ từ: VN

22.10.2014 14:51
 
Trả lời
Đảng csVN chỉ Nói Ngược.Trước giải phóng người dân Tự Do, Muốn đi đâu, ở đâu tùy ý đảng lên án là người dân bị Kềm Kẹp.Trươc giải phóng Nông dan đóng thuế Một đảng bảo nông dân bị bóc lột, thì sau giải phóng nông dân đóng thuế Mười.Con tôi có nộp đơn thi nghĩa vụ quân sự hồi nào đâu, đảng bắt con tôi đi nghia vụ quân sự rồi đảng Vu Không con tôi Trúng tuyển nghĩa vụ quân sự……..đảng nói mọi người đều bình đẳng sao Con trai Nguyễn tấn Dung,con trai Lê thanh Hải lớn lên là tỉnh ủy, quận ủy sao không có đứa nào trúng tuyển nghĩa vụ quân sự……87 triệu dân VN thấy Tận Mắt là đảng csVN toàn Nói Ngược, đổi tên đảng csVN thành đảng Nói Ngược mới là Đúng.Đảng csVN đang Lừa Bịp nhân dân VN.Lừa Bịp nhân dân là Gieo Hận THù vào Lòng Dân.
 
 

bởi: Bạn nhô từ: Hoa Kỳ

22.10.2014 14:14
 
Trả lời
Phải là thiên tài, phải đỉnh cao trí lợn đảng csVN mới Giải Phóng được nhân dân VN, đưa nhân dân VN từ một quốc gia Nhược Tiểu Sắp trở thành nhân dân một tỉnh của Siêu Cường nhất, nhì thế giới.Trong lịch sử VN chưa ai làm được như lãnh đạo đảng csVN. Đảng csVN Vong Nô muôn năm.

 

Những Đúng và Sai về Con Người

17 Th3

 

Đăng bởi:

 

Alan Phan

human monkey

(Bài viết từ 2012, nhưng vẫn là …thực tại. Có gì gọi là “thay đổi” ở xứ này không?)

May 21, 2012

 

May mắn luôn luôn là chỗ ẩn trú của sự lười biếng và bất lực (Luck is always the last refuge of laziness and incompetence – James C. Penney)

 

Hôm qua, một ký giả của một tờ báo mạng tận bên Đức xa xôi, điện thoại hơn 45 phút để phỏng vấn tôi về các vấn đề kinh tế xã hội hiện tại của Việt Nam. Về những dự đoán, anh cho rằng tôi khá chính xác khi tiên liệu các đây hơn 16 tháng trong một bài viết về cơn bão tái chánh sắp đổ bộ và về cái bong bóng bất động sản sẽ nổ vào cuối năm nay. Anh hỏi có những dự đoán nào ông đã sai về Việt Nam ?

 

Thực ra, những cái “đúng” của tôi (cũng như của nhiều người khác) rất dễ định vị. Triệu chứng sốt cảm hay ung thư của một con bệnh hiện diện cùng khắp. Nhìn qua các hiện tượng, nếu không bị đồng tiền hay thiên kiến làm mù mắt, bất cứ ai cũng nhận ra những nghịch lý và yếu kém của nền kinh tế Việt Nam so với chuẩn mực bình thường của toàn cầu. Quá dễ để đoán đúng.

 

Tuy nhiên, tôi thú nhận là đã “sai” khi phân luận về phản ứng của người có quyền và có lợi trong cuộc chơi. Tôi nghĩ rằng trước biến động, mọi người sẽ tích cực thay đổi tư duy, tìm lối sáng tạo, và giải pháp sau cùng sẽ nâng sức cạnh tranh của kinh tế Việt Nam lên vài ba bực. Tôi còn cho đây là cơ hội để tiến hành chính sách mà tôi gọi là “Đổi Mới II”.

 

Dĩ nhiên, tôi đã sai hoàn toàn. Khi gặp nạn, mọi người đều hô hào phải tái cấu trúc, phải cứu con bệnh, phải thay đổi cơ chế và con người để vượt bão. Ống loa của làng thì bảo dân cứ yên chí, mọi chuyện sẽ tốt đẹp trong vòng 2 hay 3 tháng, tối đa. Nhiều hội thảo, đề cương, quyết nghị…được thực hiện. Nhưng sau khi “nói”, đến giai đoạn phải “hành” thì mọi người lại quay về chỗ củ, tiếp tục đẩy tảng đá của Sysiphus. Ngay cả những doanh nghiệp tư nhân và những lớp người trẻ mà tôi kỳ vọng đã hầu như thụ động và bó tay.

 

Tôi còn nhớ vào thời điểm 1990 gì đó, khi tôi quay lại Saigon lần đầu sau 15 năm xa cách. Tháp tùng theo đoàn là vài nhà tư bản Mỹ quản lý 3 quỹ đầu tư lớn tại Wall Street. Toà Đô Chánh (quên, Uỷ Ban Nhân Dân TP) tổ chức một buổi thuyết trình rất trang trọng dành cho các vị khách đặc biệt này để mời họ đầu tư vào Trung Tâm Tài Chánh Thủ Thiêm bên kia sông Saigon. Các vị lãnh đạo cao cấp nhất hứa là cho đến 1993, thành phố sẽ hoàn tất đường hầm cũng như 2 cây cầu mới nối liền với Thủ Thiêm (mô hình theo Trung Tâm Pudong của Shanghai). May mà các ông tư bản Mỹ này cũng có nhiều kinh nghiệm với lời hứa của chính trị gia, nên không cắn câu. (Đường hầm và cầu mới hoàn tất vào 2012, 19 năm sau).

 

Có lẽ vài tháng của tái cấu trúc và đổi mới thể chế sẽ kéo dài đến vài thập niên? Không sao, chúng ta cũng chẳng có gì nhiều để làm, ngoài những giờ ăn nhậu mỗi đêm và cà phê mỗi ngày.

 

Cũng có thể đất nước sẽ vượt bão yên ổn vì các nhà lãnh đạo của chúng ta có lá số tử vi tốt. Họ hay đi chùa chiền, lên đồng, cúng bái thường xuyên nên rất nhiều thần linh phù hộ. Nhưng với 95% dân số, cuộc sống tạm bợ lây lất dưới những cơn bão này có thể trở thành vô tận không?

 

Đó là cái giá phải trả cho những lựa chọn đã làm nhiều thập niên trước.

 

Alan Phan

Con người tự do, nhân ái là đích đến của giáo dục nhân cách – VHNA

28 Th1

 

    •   Lại Nguyên Ân

Xã hội thuần nông lâu đời của người Việt đã khiến chúng ta dễ đồng tình với nhau để hình dung hoạt động giáo dục như là việc “trồng người”.

Thật ra thì sự “trông người”, tức là việc sản sinh ra những thế hệ người mới để kế tục trong tương lai mọi hoạt động sống căn bản của các thế hệ người hiện tại − là mối bận tâm không chỉ của ngành giáo dục, mà còn của nhiều lĩnh vực hoạt động khác, kể cả hoạt động kinh tế, theo nghĩa rộng, nơi mà một loạt hoạt động sống của con người, từ hôn nhân, sinh sản, đến đào tạo ngành nghề… đều được xem như những khâu cốt yếu của sự tái sản xuất sức lao động. Tất nhiên, khâu trọng tâm của việc đào tạo các thế hệ người mới vẫn là công việc của ngành giáo dục, với đối tượng là con người tự nhiên đã được sinh ra, cần được trau dồi, bồi luyện, đào tạo, để có được những năng lực, những phẩm chất, đức tính… khiến nó có thể kế thừa lớp người trước, đảm trách các hoạt động sống liên tục từ hiện tại đến tương lai. “Trồng người” chính là làm hình thành những lớp người mới để tiếp tục cuộc sống của chính con người. 

Con người là sinh vật xã hội; mọi cá thể người được sinh ra đều cần được trải qua một quá trình “xã hội hóa” để trở thành sinh vật xã hội như những con người khác. Nhân cách là kết quả của quá trình ấy. Tiền đề của sự hình thành nhân cách, trước hết là môi trường sinh trưởng của mỗi cá thể người, là những sự liên hệ, liên hội được mỗi cá thể tích lũy từ ấu thơ, là quá trình giáo dục, là những đặc điểm của các chế định gia đình, của thái độ đối với đứa trẻ… Có những ý kiến theo đó thì cá thể người ta là do được sinh ra, còn nhân cách người ta lại do được lắng đọng lại. 

Chính vì nhận thấy nhân cách là “cái lắng lại”, là kết quả những tác động từ nhiều phía đến cá thể, người ta từ xưa đến nay đều chú trọng đến giáo dục. Cũng chính vì thấy rõ nhân cách là cái có thể tạo ra từ những tác động ngoại tại, cho nên, các chính thể, các tập đoàn người trong lịch sử đã từng đề xuất những “mô hình” nhân cách khác nhau, coi như đích đến của họ trong sự nghiệp giáo dục. 

Ở nước ta, suốt hàng ngàn năm, trong xã hội nông nghiệp làng xã dưới chế độ quân chủ chuyên chế theo Nho giáo, “mô hình” nhân cách duy nhất được tạo ra chính là “con người chức năng”: Con người không có giá trị tự thân, chỉ có danh phận trong các quan hệ và trật tự thứ bậc. Như nhận định xác đáng của nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu (1926-1995): “Con người là của gia đình, của họ hàng, của làng của nước. Bản thân họ không có gì là của mình: thân thể là của cha mẹ cho, phận vị là của vua cho, số mệnh là của Trời cho. Có được cái gì cũng là nhờ ơn vua ơn Trời. Giá trị của nó được tính theo chỗ nó là con ai, thuộc họ nào, làng nào, có chức sắc gì, chứ không theo chỗ bản thân nó là gì. Trong xã hội tất cả là thần dân của vua, đều được xếp vào bậc thang tước vị, rồi lại chia thành hạng cha chú hay con cháu. Con người phải nhìn xuống nhìn lên trong cái thang trật tự trên dưới đó, tự xác định vị trí của mình mà ăn mặc, nói năng, đi đứng cho phải phép. Đó là con người chức năng trong xã hội luân thường chứ không có nhân cách độc lập” (Trần Đình Hượu: Đến hiện đại từ truyền thống, H., 1996, tr. 395).

Người nông dân hay nhà nho − hai mẫu người phổ biến nhất dưới thời quân chủ chuyên chế − đều là những dạng “con người chức năng”, tuy ít nhiều có khác nhau.

Người nông dân, tức là người lao động nông nghiệp, cuộc sống gắn với làng xã, về căn bản là những con người tiểu kỷ, cam phận nhỏ bé hèn mọn, sống với những tính toán ích kỷ vụn vặt; ngay cả cái khôn ngoan, cái tốt đẹp ở họ cũng chưa vượt ra ngoài khuôn khổ chất tiểu kỷ làng xã, sự tư lợi ở họ chưa phải chủ nghĩa cá nhân, sự tùy tiện ở họ chưa phải chủ nghĩa tự do phóng túng.

Nhà nho, sản phẩm của nền giáo dục duy nhất − du nhập từ thời ngàn năm Bắc thuộc rồi định hình trong thời độc lập dưới chế độ quân chủ chuyên chế − là học chế Nho giáo, truyền giảng tứ thư ngũ kinh của đạo Khổng. Nhà nho được rèn và phải tự rèn mình theo mô hình người quân tử, đỗ đạt thì làm quan giúp vua trị dân, không thành đạt thì lui về làm thầy (thầy đồ, thầy thuốc, thầy bói…) của dân quê làng xã. Điểm nổi bật ở nhà nho Việt Nam không phải là học vấn uyên bác mà thường chỉ là năng lực làm văn làm thơ, không phải là khả năng thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển mà chỉ là năng lực duy trì một cuộc sống ổn định, phù hợp với xã hội đứng yên không phát triển. Nhà nho Việt Nam có thể là những tấm gương về đạo đức, nhất là về lối sống cao khiết tự tại, nhưng rất khó có thể là những thợ cả hay thủ lĩnh về sự sáng tạo. 

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sự bành trướng và xâm lược của tư bản Âu Tây sang Viễn Đông nói chung, trong đó có Việt Nam, vừa tước đoạt nền độc lập của xứ sở chúng ta, lại vừa lôi cuốn xã hội Việt Nam vào quỹ đạo một quá trình Âu hóa, thế giới hóa, hiện đại hóa. Ở xã hội Việt Nam từ 1858 đến 1945, một nền kinh tế tư bản đã hình thành bên cạnh kinh tế nông nghiệp tự túc cũ, một xã hội thị dân đã hình thành bên cạnh làng xã của nông dân trong làng quê cổ truyền; mô hình nhân cách tự do đã hình thành cả ở giới doanh gia lẫn giới lao động, nhất là giới trí thức. Một diện mạo mới của con người và xã hội Việt Nam thời hiện đại đã bộc lộ rõ, sau những đổi thay về lối sống, nếp sống, về văn hóa tinh thần, diễn ra vừa âm thầm vừa bột phát, nhất là vào những năm 1930-40s. 

Tuy vậy, diện mạo hiện đại ấy chưa hề được gia cố vững bền thì những chuyển động đầy xung đột bạo liệt của các trào lưu chính trị thế giới trong thế kỷ XX đã tràn đến, lôi cuốn cuộc sống xứ sở chúng ta, khiến cả diện mạo xã hội lẫn diện mạo con người đều chịu những đổi thay khốc liệt. Nền chính trị độc lập được khôi phục, sự thống nhất lãnh thổ được thực hiện, nhưng cuộc sống đất nước suốt nửa thế kỷ bị chi phối bởi chiến tranh, bởi nền kinh tế tập thể hóa, quốc doanh hóa, nền quản lý quan liêu hóa, đã làm biến dạng gần như toàn bộ những gì đã có trước đó. Cho đến những năm đầu 1980s, người nông dân càng trở về dạng tiểu kỷ hơn khi chỉ còn thiết tha với mảnh ruộng “phần trăm” ít ỏi còn được tự chủ; người công nhân càng ý thức rõ hơn thân phận làm thuê khi lãnh đạo xí nghiệp càng tỏ rõ là những ông chủ. Vào lúc nhiệt tình cách mạng thời đầu đã dần dà phai nhạt từ lớp người trước qua lớp người sau, mô hình người cán bộ − một thời được hình dung như kẻ có sứ mệnh xả thân sáng thế − càng ngày càng tỏ ra gần gũi với mô hình nhà nho xưa kia, trong đó, bộ phận thành đạt ngày càng được cảm nhận như hạng quan chức hãnh tiến, bộ phận còn lại ngày càng giống đám thầy thợ ăn theo nói leo, cuộc sống công sở lương ba cọc ba đồng không có gì nhiều hứa hẹn để khích lệ sự học hỏi hay sáng tạo. 

Công cuộc đổi mới khởi lên giữa những năm 1980s đã đem lại sức sống, đem lại sinh sắc cho xã hội và con người, chuyển biến đất nước từ trì trệ sang phát triển. Ba chục năm mở cửa cho đầu tư phát triển kinh tế, ta đã thấy nhiều dấu hiệu chuyển biến trong chiều sâu thể chất xã hội và con người, tuy hầu như tất cả đều đang còn dang dở. Những mô hình con người được nêu làm khuôn mẫu của thời bao cấp đã mất dần sức sống, sức cuốn hút. Những mô hình con người kiểu khác đang thành hình, trong đó những đường nét của nhân cách tự do đã xuất hiện và đang tự khẳng định. Cùng lúc ấy, những mô hình con người ích kỷ, phi nhân, cơ hội, bám vào cơ chế cũ, vào lợi ích nhóm, chống lại các xu thế tiến bộ và nhân bản… cũng cạnh tranh quyết liệt giành chỗ đứng trên trường đạo đức của xã hội. 

Về việc xây dựng một mô hình nhân cách, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu đã từng khẳng định: “Trước khi bàn về một mô hình nhân cách thì phải khẳng định sự tồn tại của nhân cách độc lập đã. Có nhân cách độc lập mới có con người tự trọng. Có tự trọng mới thành con người đáng giá để có sự quan hệ với người khác, với đất nước, với nhân loại. Muốn khẳng định nhân cách độc lập, con người cần được giải thoát khỏi tình trạng phụ thuộc… vào gia thế, vào họ, vào làng, khỏi mặc cảm vào ân huệ, để không phải sống chờ đợi, ỷ lại, tìm cách tự bảo vệ bằng dối trá, che đậy, hay tìm ô dù để nấp bóng. Tóm lại là cần có thể chế dân chủ, cần có luật pháp bảo vệ nhân quyền.” (sđd., tr. 395). 

Như vậy, điều kiện tiên quyết của việc xây dựng một mô hình nhân cách, là tạo ra những điều kiện cho nhân cách độc lập, con người tự chủ; đó là những khuôn khổ luật pháp và thực thi tư pháp để đảm bảo những quyền năng cơ bản của con người nói chung trên khắp hành tinh này mà Liên hiệp quốc đã ra tuyên ngôn năm 1948 và nhà nước Việt Nam đã tham gia từ những năm 1980s. Tất nhiên, từ tuyên bố đến thực hiện là những khoảng cách không ngắn, đòi hỏi những giám sát thường trực và nghiêm nhặt.

Còn lại, việc xây dựng một mô hình nhân cách với một số nội hàm định tính cụ thể, tuy vẫn là phần việc chung toàn xã hội, song có phần là sự can dự tích cực của giáo dục, của hệ thống nhà trường từ phổ thông đến cao đẳng, chuyên nghiệp, đại học. 

Thiết nghĩ, trong sự định hướng, sự tác động vào quá trình hình thành nhân cách của các thế hệ trẻ, điều cần tránh, cần chống lại chính là những ý đồ lũng đoạn thế hệ trẻ, biến họ thành công cụ, thành phương tiện thực thi các mục tiêu của các nhóm lợi ích nào đó. Tinh thần nhân bản cần được giữ vững trong việc giáo dục đào tạo con người. Được sinh ra làm người là hạnh phúc của mỗi cá thể; mỗi con người là một giá trị tự tại; không ai, không thế lực nào được phép nhào nặn người khác thành công cụ, thành phương tiện cho các mục tiêu riêng của nhóm phái mình. Cũng cần chống lại những mưu toan thổi phồng các giá trị cục bộ để biệt lập thế hệ trẻ nước mình khỏi những giá trị nhân loại chung. Con người là sản phẩm chung, là thành tạo lịch sử chung toàn nhân loại; không có thuộc tính hay đặc tính nào của con người lại không thể trở thành đặc tính hay thuộc tính của con người Việt Nam.

Nhân cách tự do của con người các thế hệ mới sẽ là cái đảm bảo cho quyền năng sống của nó, cũng là cái đem lại khả năng sáng tạo lớn lao cho nó, trong thế giới hiện tại và tương lai.

Con người của các thế hệ sắp bước vào đời cần được cung cấp sự hiểu biết và phương pháp hiểu biết mà nhân loại đã có, cần được truyền cho cái năng lực sống của các thế hệ trước. Nhưng cuộc sống mà họ sẽ trải qua chưa chắc đã lặp lại các thế hệ đã qua. Hãy để họ lựa chọn cách sống của họ, bởi sẽ không ai có thể sống thay người khác, sống thay thế hệ sau. 

Nếu cần định hướng điều gì cho người của thế hệ sẽ bước vào đời, thiết nghĩ, ấy là tính nhân ái, nhân bản, vì họ cũng như chúng ta, là những con người, đều thuộc loài người. Tính nhân ái, nhân bản còn đang cần được phổ cập rộng hơn, sang thế giới các sinh vật khác, sang thiên nhiên, khi mà việc bảo vệ sinh thái của ngôi nhà chung – trái đất – đang ngày càng trở nên cấp thiết. Nhân ái, nhân bản, vì thế sẽ vượt quá phạm vi một thứ tình cảm để trở thành một thứ nhận thức lý trí.

Nếu có thể định tính cho một mô hình nhân cách, thì cái nên chọn là nhân cách tự do, nhân ái. Con người tự do, nhân ái là đích đến của giáo dục nhân cách.

06/11/2013

Bản tác giả gửi VHNA

 

   

Con người cá nhân trong văn học Việt Nam thế kỉ XV – XVII – Trần Đình Sử

5 Th10

Con người cá nhân trong văn học Việt Nam thế kỉ XV – XVII

Con người cá nhân
trong văn học Việt Nam
từ thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVII

Các nhà nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam đều khẳng định rằng tư tưởng Tam giáo ở Việt Nam đã có một quá trình phân hoá và thâm nhập vào nhau, đáp ứng nhu cầu tinh thần nhiều mặt của con người. Từ chỗ đạo Phật chiếm ưu thế ở thời Lý – Trần, đến thế kỷ XV Nho giáo đã vượt lên, chiếm vị trí được tôn sùng trong xã hội, còn đạo Phật thì suy vi. Thời Hồng Đức có nhiều bài thơ chế giễu việc tu thiền là không thực tế : “Nói những thiên đường cùng địa ngục – Pháp sao chẳng độ được mình ta”. Sự biến đổi ấy đã  làm thay đổi hình thái con người cá nhân trong văn học Việt Nam thời kỳ này, thể hiện ở việc lựa chọn con đường ứng xử của họ trong đời.

I

Con người cá nhân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi (1380 – 1442)

Sự lựa chọn của lịch sử thường không trùng với sự lựa chọn của cá nhân. Con người cá nhân của Nguyễn Trãi chính là được thể hiện trong sự lựa chọn không bao giờ xong của ông. Trước nay mỗi khi nói đến Nguyễn Trãi, người ta thường nói tới một con người nhân nghĩa, yêu nước, thương dân, rồi đi tìm cội nguồn lịch sử và dân tộc của con người đó cũng như cội nguồn ảnh hưởng nước ngoài của nó. Nhưng đó chỉ là con đường đi tìm cái chung. Thật vậy, cá nhân Nguyễn Trãi được thể hiện nổi bật trong bản thân sự lựa chọn day dứt  giữa các tư tưởng, các con đường lập thân, dưỡng thân và nhất là bảo thân, nhưng rốt cuộc vẫn không thoát được lưỡi gươm oan nghiệt của số phận. Dĩ nhiên sự lựa chọn ở mỗi thời kỳ đều không giống nhau, nhưng bỏ qua sự lựa chọn là bỏ qua cá nhân của Nguyễn Trãi.

Chẳng khó gì trong việc khẳng định Nguyễn Trãi là một nhà nho đích thực qua rất nhiều câu thơ. Chính ông cũng nói rằng ông một đời “phỏng dạng đạo tiên nho”.

            Lúc trẻ rừng nho nức hương thơm([1])

            Lòng hãy cho bền đạo Khổng môn

(Tự thánXLI)

            Quét đất thiêu hương giảng ngũ kinh

(Tức sựI)

Nhưng có lúc ông muốn bỏ cả thi thư để “tu thân khác” :

               Chỉn xá lui  mà thủ phận,

               Lại tu thân khác, mặc thi thư.

(Mạn thuậtXII)

Trong thơ chữ Hán, ông tiếc đã bị cái mũ “nhà nho” làm cho lỡ đời :

               Ta dư cửu bị nho quan ngộ,

               Bản thị canh nhàn điếu tịch nhân !

               (Than ôi mũ áo lầm ta mãi,

               Vốn khách câu thanh với cuốc nhàn).

                           (Đề Từ Trọng Phủ Canh ẩn đường)

Lòng ham đạo Thiền của ông cũng rất rõ :

            Trúc thông hiên vắng trong khi ấy,

               Năng mấy sơn tăng làm bạn ngâm.

(Ngôn chí IV)

            Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thầy,

               Có thân chớ phải lợi danh vây…

(Ngôn chíX)

Ông nhìn đời hệt như một thiền sư :

               Người ảo hoá khoe thân ảo hoá,

               Thuở chiêm bao thốt sự chiêm bao.

(Thuật hứngII)

Ông ao ước được sống an nhàn trong một thế giới vô kỷ, vô công, vô danh, “tề thị phi”, “tề vạn vật” như Trang Tử :

               Am trúc hiên mai ngày tháng qua,

               Thị phi nào đến cõi yên hà ?

(Ngôn chí – III)

Có khi ông như không muốn theo ai, chỉ theo chính mình, sống như sở nguyện :

               Dầu bụt dầu tiên ai kẻ hỏi,

               Ông này đã có thú ông này…

(Mạn thuật – VI)

Mâu thuẫn thường trực của Nguyễn Trãi là mâu thuẫn giữa xuất và xử, lánh trần hay nhập thế. Một mặt ông muốn “cởi tục, tìm thanh”, nhưng mặt khác lại vẫn đeo đẳng : “Bui có một niềm chăng nỡ trễ – Đạo làm con với đạo làm tôi”. Đây là vấn đề đặt ra thường xuyên cho nhà nho xưa nay. Nhưng đối với Nguyễn Trãi thì vấn đề trở thành day dứt, đau đớn.

Một mặt, ông muốn “an phận, an lòng”, hưởng thân nhàn :

             Lều nhàn vô sự ấy lâu đài,

               Nằm ở chẳng từng khuất nhiễu ai.

(Tự thán XIV)

            Tuyết đượm chè mai câu dễ động,

               Trì in bóng nguyệt hứng đêm dài…

(Tự thán XIV)

Đó là nơi lý tưởng, quý báu để nghỉ ngơi thân xác và tâm hồn, rất khó đạt tới :

            Một phút thanh nhàn trong buổi ấy,

            Nghìn vàng ước đổi được hay chăng ?

(Tự thán VII)

Mặt khác ông cũng biết quá rõ : thế thái nhân tình ở đời rất hiểm độc :

            Dưới công danh đeo khổ nhục,

               Trong dại dột có phong lưu.

(Ngôn chí II)

            Hai chữ công danh chăng dám cóc,

               Một trường ân oán những hăm he.

(Trần tình VIII)

             Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn,

               Lòng người quanh nữa nước non quanh !

(Bảo kính cảnh giới IX)

             Dễ hay ruột bể sâu cạn,

               Khôn biết lòng người vắn dài.

(Ngôn chí V)

            Ngoài chưng mọi chốn đều thông hết,

               Bui một lòng người cực hiểm thay.

(Mạn thuật IV)

             Đã biết cửa quyền là hiểm hóc,

               Cho hay đường lợi cực quanh co !

(Ngôn chí XIX)

ấy thế nhưng ông vẫn mong được “đại dụng”, được đem sức tàn giúp việc đời, vẫn không muốn nhàn, không thể nhàn :

             Còn có một lòng âu việc nước,

               Đêm đêm thức nhẫn nẻo sơ chung.

(Thuật hứng XXIII)

            Những vì chúa thánh âu đời trị,

               Há kể thân nhàn, tiếc tuổi tàn !

(Tự thán II)

Đây không giản đơn là mâu thuẫn của tư tưởng Nho giáo với tư tưởng Phật – Lão, hay lựa chọn xuất xử nói chung, mà chính là biểu hiện của ý thức về số phận cá nhân, về bản lĩnh con người, của một ý thức muốn cống hiến cho xã hội, bất chấp hiểm nguy, làm cho sự day dứt của nhà thơ mang tính chất bi kịch cá nhân không lối thoát. Không chỗ nào ông thấy mình đồng nhất với các lối đi có sẵn, dù ông biết rõ các lối đi ấy. Xem thơ thấy ông là mục tiêu của những khen chê, dị nghị mà ông phải gồng mình lên gánh chịu bằng mọi cách để giữ vững sự độc lập của riêng mình :

             Lành dữ âu chi thế nghị khen

(Thuật hứng XXIV)

            Thế sự dầu ai hay buộc bện,

               Sen nào có bén trong lầm.

(Thuật hứng XXV)

            Hễ tiếng dữ lành tai quản đắp,

               Cầu ai khen với liễn ai chê !

(Thuật hứng IV)

            ở thế thường hiềm khác tục ngươi,

               Đến đây rằng hết tiếng chê cười.

(Tự thán VI)

             Ai hay ai chẳng hay thì chớ,

               Bui một ta khen ta hữu tình.

(Tự thán XIII)

Lời “khen, chê” đây hẳn là lời chê, lời phủ nhận. Và Nguyễn Trãi có khi đã lớn tiếng tranh luận để tự khẳng định mình, tự động viên mình :

               Thu đến cây nào chẳng lạ lùng,

               Một mình lạt thuở ba đông.

            Lâm tuyền ai rặng già làm khách ?

               Tài đống lương cao ắt cả dùng !

               Đống lương tài có mấy bằng mày ?

               Nhà cả đòi phen chống khoẻ thay.

               Cột rễ bền, dời chẳng động,

               Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày !

               Tuyết sương thấy đã đặng nhiều ngày,

            Có thuốc trường sinh càng khoẻ thay.

               Hổ phách, phục linh nhìn mới biết,

               Dành, còn để trợ dân này !

(Tùng)

ý thức cá nhân ở đây biểu hiện thành ý thức tự khẳng định, chống hoà đồng với thói phàm, đứng ngoài thói tục. ý thức này quyện chặt với ý thức nghĩa vụ, sứ mệnh nêu trên, quyện chặt với quan niệm con người rất sâu sắc của Nguyễn Trãi là con người “hữu tài thời hữu dụng”, mà vô dụng là vô nghĩa. Ông nói : “Vận trị cùng loàn chỉn mặc thì – Bằng ta sinh uổng có làm chi – Ơn vua luống nhiều lần đội – Việc nước nào ích mấy bề !” (Tự thán XXX). Ông thẹn : “Quốc phú binh cường chăng có chước – Bằng tôi nào thuở ích chưng dân ?” (Trần tình – I). Chữ “nhàn” có thể làm ông hoà đồng với cây cỏ, vô danh, vô kỷ, vô ngã, êm đềm, nhưng lại đặt ông vào thế vô dụng ! Mong được “đại dụng” mới là lý tưởng lớn của cá nhân ông. Mà đã mong đại dụng thì không dứt hẳn được với công đức, không muốn nát với cỏ cây. Và thế là lại sa vào lưới trần !

Nhưng lý tưởng đại dụng là lý tưởng làm việc lớn, ích quốc lợi dân, chứ không phải lợi cho cái tôi nhỏ bé của mình, không phải đua chen, tranh cạnh, cơ hội. Về cái tôi này, Nguyễn Trãi có đủ một lý thuyết sáng suốt để giữ mình :

               Việc ngoài hương đảng chớ đôi co,

               Thấy kẻ anh hùng hãy nhịn cho.

               Nhợ nọ có dai nào có đứt,

               Cây kia toan đắn lại toan đo.

               Chớ đua huyết khí nên giận,

               Làm mất lòng người những lo.

               Hễ kẻ làm khôn thời phải khó,

               Chẳng bằng vô sự ngáy pho pho.

(Bảo kính cảnh giới – XLIX)

“Minh triết bảo thân” cũng là một biểu hiện của ý thức cá nhân để giữ mình thời trung đại, nhưng đấy chỉ là nguyên tắc “an thân”, “vô sự” trong đời thường, và có thể tầm thường. Đó là sự sáng suốt, hiểu rõ sự lý, nắm chắc thời thế, tránh nguy, giữ mình. Những lời khuyên trên đây, nếu thiếu một lý tưởng lớn, dễ trở thành một thái độ xử thế dung tục, đánh mất nguyên tắc, thành thói làm ngơ, phụ hoạ mà xưa Khổng Tử gọi là “kẻ thù của đức” (Luận ngữ – Thiên Dương hoá). Mạnh Tử giải thích loại người khôn ngoan ấy như sau : “Muốn chê họ, chẳng có gì chê, muốn trách họ, thì chẳng có chỗ gì trách. Họ đồng hoá theo thói tục thông thường, họ dung hợp với cõi ô trọc. Họ có vẻ trung tín, hành vi họ có vẻ liêm khiết. Dân chúng có vẻ thích họ mà họ cũng tự nhận rằng mình là trung tín, liêm khiết, nhưng họ không thể cùng đi với đạo Thuấn, Nghiêu” (Tận tâm, hạ). Nguyễn Trãi biết giữ thân, nhưng biết giữ nguyên tắc, ví như không a dua với bọn Lương Đăng, không hùa theo mọi sự khen chê  phàm tục.

Không a tòng với thói tục, không chịu lẫn lộn phượng với diều, việc đó khiến nhà thơ cô đơn, cô độc một cách thanh cao, kiên định, khép kín :

            Người tri âm ít, cầm nên lặng,

               Lòng hiếu sinh nhiều, cá ngại câu.

(Tự thuật – X)

            Khó ngặt hãy bền lòng khó ngặt,

               Chê khen mựa ngặt tiếng chê khen.

(Bảo kính cảnh giới – XIII)

             Cội rễ bền, dời chẳng động…

(Tùng)

             Vàng thực âu chi lửa thiêu…

(Tự thuật – V)

Nguyễn Trãi biết sức mình có hạn, điều kiện khó khăn :

               Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ,

               Trời ban tối, ước về đâu

(Ngôn chí – XIII)

nhưng “mạnh gắng”, “bền lòng” vẫn là đặc điểm nổi bật.

Với thơ Nôm Nguyễn Trãi, ta gặp một con người có ý thức cao với đức tài, lý tưởng đại dụng, khôn khéo, sâu sắc, tự tin, dũng cảm tự khẳng định, chọi lại thói phàm tục của người đời, không trùng khít hoàn toàn với khuôn mẫu nào hết. Đó là một nhân cách lớn hết sức phong phú.

II

Con người cá nhân trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585)
và Nguyễn Hàng (thế kỷ XVI)

Như trên đã nói, ý thức cá nhân và ý thức tự khẳng định sự tồn tại, giá trị riêng của con người, gắn liền với ý nghĩa nhân sinh của con người. Trong thời Lê, Nguyễn Trãi tự khẳng định con người cá nhân của mình bằng cách đối lập “ta” với “chúng ngươi”, “ta” với “miệng thế”, “lòng người”, “ta” với “bụt, tiên”.

Đến thế kỷ XVI xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu suy tàn, chính sự rối ren, lòng người ly tán, con người cá nhân trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm tự khẳng định mình bằng hình thức đối lập, khép kín, không giao tiếp, bằng tư thế “độc thiện kỳ thân” – cô độc một cách cao quý, thanh sạch :

             Tự tại, nào âu luỵ đến mình ?([2])

             Tự tại ngày qua mấy kẻ bằng ?

            Dầu ta tự tại, mặc dầu ta

            Yên phận thì lành, ở một mình

             Yên đòi phận, dầu tự tại,

               Lành dữ, khen chê cũng mặc ai.

             Thế sự ngoài tai, mặc nói năng !

             Dầu ta tự tại, có ai han.

             Có thuở lên lầu ngồi đợi nguyệt.

               Một mình uống, lại một mình kham.

             Mựa chê người vắn, cậy ta dài,

               Dầu kém, dầu hơn, ai mặc ai.

             Dửng dưng mọi sự gác bên ngoài,

               Dầu được, dầu thua, ai mặc ai.

Cùng với sự khép kín, không giao tiếp là việc tự nhận mình ngu, dại, hèn, kém tài một cách cao ngạo :

             Thị phi chẳng quản mặc chê khen,

               Ngu dại trần trần, tính đã quen.

             Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,

               Người khôn người đến chốn lao xao.

             Dữ lành miệng thế mặc chê khen,

               Tuổi đã già thì mọi sự hèn

            Anh hùng, người lấy tài làm trọng,

               ẩn dật, ta hay có thú mầu.

             Người hơn, ta thiệt thì dầu vậy,

               Đấy thẳng, đây chùng, chẳng đứt đâu.

             Dại nọ chưa đo,  âu đã đắn,

               Khôn thì thốt trước lại lo sau.

             Thế gian hễ sự lành càng dữ,

               Hễ thấy ai han, hãy lắc đầu

Nhà thơ hầu như không tin vào việc người đời hiểu được lòng tri kỷ :

               Có ai biết được lòng tri kỷ,

               Vòi vọi non cao, nguyệt một vừng.

Bằng đối lập, con người cá nhân tự khẳng định mình trong loại : công danh – nhàn vô sự, khen – chê, giàu – nghèo, khôn – dại, được – mất, ngu – hèn, cương – nhu, nhọn – tù, cũng tức là tự khẳng định mình trong lẽ biến dịch, trong phẩm chất trí tuệ thâm thuý. Trọng tâm ý thức cá nhân là giữ mình cho an toàn, thanh thản, yên phận. Tình cảm cá nhân hầu như không được biểu hiện, ngoài cảm xúc về sự ưu việt trí tuệ biết nhìn xa của mình. So với con người cá nhân trong thơ Nguyễn Trãi ta thấy con người cá nhân trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn thanh cao nhưng khép kín hơn, quyết liệt, tuyệt giao hơn. Ông không có sự ngập ngừng, trăn trở như Nguyễn Trãi nữa. Khuynh hướng cá nhân khép kín, ẩn dật cũng thể hiện ở Tịch cư ninh thể phú của Nguyễn Hãng :

“Dẫu ai đón hỏi nguồn cơn. Mặc kẻ thăm tìm  dấu tích,

Lắng tai mảng rành rành lời trước ; phải đoái thương tính mệnh, ngoại vật  dẫu lọn thuở thừa lưa. Kẻo mình còn lúc nhúc tài hèn : luống dày đội càn khôn, trong đời chửa chút gì bổ ích.

Ngươi chẳng thấy : cánh buồm nhẹ rong chơi bể Bắc, kìa ai lánh đục về trong. Cuộc đời tàn, ngồi mát non Đông, nọ kẻ phù nghiêng đỡ lệch.

Thong thả một năm mười hai tháng, gặp thời bình trị được làm người. Rong chơi ba vạn sáu nghìn ngày, tới cõi trường sinh càng dõi mạch.

Dù ai rằng thơ thẩn ngẩn ngơ. Thì ta cũng vu va vu vích”.

Có thể nhận thấy sự xác lập địa vị chủ đạo của Nho giáo đã tạo nên bước ngoặt cho ý thức cá nhân biểu hiện ở tính tích cực lựa chọn xuất – xử, niềm kiêu hãnh từ bỏ phàm tục, đối lập với kẻ khác, gắn mình với thanh cao, và ở điểm này ý thức tự do nội tâm gắn liền với tư tưởng Phật, Lão – Trang. Nhưng nhìn chung vẫn là ý thức cá nhân trong tinh thần siêu nghiệm.

III

Con người cá nhân trong Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái
Truyền kỳ mạn lục

Quá trình xây dựng nền độc lập dân tộc tất yếu đòi hỏi mẫu người lý tưởng biết yêu nước thương dân, hy sinh cá nhân vì phúc lợi dân tộc. Đó là con người công đức được thể hiện tập trung trong Việt điện u linh. Vấn đề tác giả và niên đại sáng tác của tập sách này còn hết sức phức tạp. Thời điểm sáng tác sớm nhất được biết của sách này là thế kỷ XIV, sau đó có người đẩy ngược lên thế kỷ XIII, rồi lùi xuống thế kỷ XV, và cuối cùng là thế kỷ XVII – XVIII. Dù thế nào thì hình ảnh con người công đức vẫn không thay đổi. Đó là sự thần hoá các giá trị người “ích quốc lợi dân”, con người cá nhân chưa trở thành  mối quan tâm của tác giả. Bài tựa Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên (thế kỷ XIV) khẳng định : “Thông minh chính trực mới đủ để gọi là Thần”, và đối lập với Thần là “dâm thần, tà quái, yêu ma, vọng quỷ”. Trong Truyền kỳ mạn lục (thế kỷ XVI) có thể coi là tác phẩm “đồng thời” với Việt điện u linh, Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI) đã vạch mặt các dâm thần, tạp quỷ như Truyện đối tụng ở Long cung, Chức phán sự ở đền Tản Viên, Truyện cái chùa hoang ở Đông Trào,… Có lẽ cả Việt điện u linh lẫn Truyền kỳ mạn lục đều phát huy tác dụng “dị khúc đồng công” trong việc xác lập thần phả chính thống, phá bỏ tệ loạn thần, loạn miếu đương thời, do tâm lý mê tín dị đoan gây ra. Một đằng lập, một đằng phá, cả hai đều góp phần vào việc dựng xây truyền thống dân tộc.

Xen vào quá trình thần phả hoá các nhân cách có công đức, có quá trình kể chuyện “chí quái, truyền kỳ”. Tư tưởng Nho giáo từ thế kỷ XV chiếm được vị trí thống trị về mặt chính trị và xử thế, nhưng không có ảnh hưởng quyết định đối với việc xuất hiện các thể loại văn học văn xuôi thời này.

Tất cả những ai chép truyện thần quỷ, hoang đường thời này đều vấp phải giáo điều Nho gia : “Kính quỷ thần nhi viễn chi”. Trái với các học giả Trung Hoa cố tìm cách giải thích, hoặc bằng cách quy mọi chuyện hoang đường thành việc thường, các tác giả văn xuôi thần quái thời này của ta có một cách lập luận kiên định, dựa vào truyền thống xa xưa của Trung Quốc có từ Tiên Tần, như Tề Hài của Trang Tử. Bản thân chữ “chí quái” ở Trung Quốc cũng bắt đầu từ Trang Tử. Về sau do Nho học suy vi, Đạo học, Huyền học, Phật học thịnh hành mà loại văn học này xuất hiện rầm rộ từ thời Nguỵ Tấn.

Nhưng các tác giả Việt Nam lại còn dựa vào truyền thống Việt Nam. Kiều Phú (1447- ?) – có thuyết nói là Trần Thế Pháp (thế kỷ XIV)  viết trong Cổ thuyết tựa dẫn “Lĩnh Nam chích quái” : “Nhưng nay xét theo phong tục ở phương Nam, cần phải nêu cao nền văn hiến rực rỡ của ta, một nền văn hiến được xây dựng từ xưa, sáng như mặt trời, mặt trăng, giữa khoảng biển trời xứ nóng bao la. Do đó không thể san định tuỳ tiện”.

Đồng thời người Việt có truyền thống tôn trọng tâm linh, không hoàn toàn duy lý, vì duy lý triệt để cũng có bế tắc. Vũ Quỳnh trong bài Tựa thuyết nói : “ở đây có những chuyện huyền hoặc, hay những câu nói quái lạ. Nhưng nếu cho đó là không cũng vị tất đã là không, mà cho đó là có cũng vị tất đã là có. Có thể, nó chỉ ở cái khoảng không không có có mà thôi, cho nên, sao lại không đáng chép vào sách này ? [3]Ôi, gạt bỏ việc quái đản, để lọc ra cái thường tình, phép thánh hiền vốn dạy như vậy. Nhưng loại truyện cầu cúng, ma quỷ, sách “âm chất” cũng có chép. Còn như lấy lý ra mà bàn thì đến cả sử  sách xưa truyền lại cũng chưa hẳn đã đáng tin”([4]). Vậy là có ý thức không rập khuôn thánh hiền.

Tác giả các Lời bàn trong Truyền kỳ mạn lục cũng suy nghĩ như vậy : “Than ôi, nói chuyện quái sợ loạn chuyện thường, cho nên thánh hiền không nói. Nhưng việc Từ Thức lấy vợ tiên, cho là thực không ư ? Chưa hẳn là không ; cho  là thực có ư, chưa hẳn là có. Có, không lờ mờ, câu chuyện tựa hồ quái đản. Nhưng có âm đức thì tất có dương báo, cũng là lẽ thường. Những bậc quân tử sau này khi để mắt đến sẽ liệu mà thêm bớt, bỏ chỗ quái, mà để chỗ thường thì phỏng có gì là hại ?”([5]). Như vậy ghi chuyện quái cũng không hẳn trái thánh hiền, vì “viễn chi” cũng có nghĩa là “tồn chi” để xét sau vậy.

Truyền kỳ, chí quái mở ra thế giới tâm linh, siêu thực, cho phép con người cá nhân có dịp biểu hiện nhiều mặt hơn.

Nếu nói con người trong thơ thiền Lý – Trần, thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, bên cạnh lý tưởng cao thượng là lý tưởng thoát tục, diệt dục, thuần khiết trong sáng, thì với Truyền kỳ mạn lục đã gặp một thế giới những con người sống trong bể dục, tình dục. “Dục”, nhất là tình dục, vật dục được xuất hiện như một phạm trù của con người cá nhân, nhưng được hiểu như những biểu hiện phản diện. Con người cá nhân xuất hiện dưới những phẩm chất phản diện, dưới hình thái của cái ác, cái xấu. Trọng Quỳ đánh bạc gán vợ (Nhị Khanh) ; Trung Ngộ tham dục với hồn ma cây gạo (Nhị Khanh) ; Dương Thiên Tích dựa thế trả thù báo oán lặt vặt ; chàng Hà Nhân mê đắm hai hồn hoa Liễu, Đào ; thần Thuồng luồng bắt nàng Dương thị ; danh kỹ Hàn Than  với sư Vô Kỷ tham dục thác sinh thành Thuồng luồng ; mối tình bất chính của hồn oan Thị Nghi với viên quan họ Hoàng ; các hạng vua quan tham ác trong truyện Người tiều phu núi Na ; các tượng thần ăn trộm ở chùa hoang Đông Trào ; Lý tướng quân làm ác bị Diêm Vương  trị tội ; cô Tuý Tiêu bị bắt, Dư Nhuận Chi tìm cứu ; người con gái Nam Xương chết oan vì chồng ghen bóng ghen gió,  v.v.

Khuynh hướng tác giả là khuyến thiện, trừng ác, đề cao công đức, lên án vật dục, tình dục, theo tư tưởng Nho giáo đời Tống “Diệt nhân dục, tồn thiên lý”, nhưng lại mượn tay các đạo sĩ hành đạo. Những ai lánh xa bụi trần, vật dục thì được lên tiên, thành tiên, lên trời như Từ Thức, Dương Trạm, Vũ Nương. Những ai tham lam, hám lợi, đều bị trị tội ở Địa phủ của Diêm Vương. Các nhu cầu hưởng thụ cá nhân, ích kỷ được xem là có cội nguồn yêu quỷ, giao long, thuồng luồng, hắc ám.

Nhưng mặt khác, cái “dục” của cá nhân tự do trong tình yêu nam nữ, tuy không được thừa nhận trong lời bình, nhưng lại được miêu tả như những cuộc tình kỳ ngộ lãng mạn đáng nhớ. Cuộc gặp của Trung Ngộ với hồn ma Nhị Khanh cô quạnh đầy ân ái, xướng hoạ, với lý tưởng hành lạc. Cuộc kỳ ngộ ái ân xướng hoạ của Hà Nhân ở trại Tây, rồi kỳ ngộ Hàn Than và Vô Kỷ, Nhuận Chi và Tuý Tiêu, Phật Sinh với Lệ Nương, Thị Nghi với quan họ Hoàng, đều là những cuộc gặp gỡ ngoài lễ giáo, hôn thú, thuần tuý cá nhân, những mối tư tình lấy hưởng thụ làm mục đích, dĩ nhiên không được nhà nho chấp nhận về mặt đạo lý, song về mặt tình cảm, lại được ngòi bút tác giả ưu ái miêu tả khá đẹp với những vần thơ tình tứ đặc sắc. Những bài thơ của Nhị Khanh, của hai nàng Liễu, Đào tả những cảm xúc ân ái thật táo bạo, hiếm có trong văn học thời ấy, và cũng khó xuất hiện dưới dạng phi truyền kỳ. Nhân vật Hà Nhân bình luận : “Tình trạng trong chốn buồng xuân tả đến như thế thì thật tuyệt diệu, lời hoa ý gấm khó lòng theo kịp”. Cùng với Hà Ô Lôi trong Lĩnh Nam chích quái, một số truyện trong Thánh Tông di thảo (thế kỷ XV) như Bài ký một giấc mộng, phần lời bàn nói cái chổi lâu ngày hoá thành tinh quyến rũ con trai – có thể nói đây là lần đầu tiên yếu tố tình dục được đưa vào văn học dưới dạng lưỡng tính, vừa phủ định vừa khẳng định. Điều đặc biệt là tình yêu cá nhân tự do không gắn với giá thú, nghĩa vụ, được khẳng định trong văn học dưới hình thái tội lỗi, cấm kỵ, một thứ tội lỗi chỉ có ở loài yêu quái nhưng lại đáng yêu, khiến ta thích thú như ăn một trái cấm ở đời. Mối tình đẹp đẽ của Nhuận Chi và Tuý Tiêu bị “lời bàn” của sách lên án, mạt sát : Tuý Tiêu là một ả xướng ca, chẳng là người chính chuyên, không hiểu Nhuận Chi ham luyến về cái gì ? Vì nàng hiền chăng ? Nhưng hết làm vợ họ Trương lại làm hầu họ Lý. Vì nàng đẹp chăng ? Thì hết làm mê Hạ Sái lại làm hoặc Dương Thành. Vậy mà lại khinh thường sự đi, sự lại, nhẫn nhục tới ở với người, sờ đầu cọp, vuốt râu cọp, xuýt nữa thì không thoát miệng cọp. Như chàng Nhuận Chi thật là một người ngu vậy”([6]). Với con người cá nhân lúc này, người ta có thể lấy tình mà thương, mà tha, chứ chưa có lý để khẳng định, bảo vệ. Hà Ô Lôi trước khi chết ngâm bài thơ :

                        Thác về thanh sắc nên là thác,

                        Chết việc ốm đau cơm gạo nào !

có thể coi là một lời tuyên bố về khát vọng cá nhân mà chưa có lý chứng giải !

Tóm lại, trong văn học giai đoạn thế kỷ XV đến XVII, con người cá nhân xuất hiện dưới hai hình thái chính : hoặc là lìa bỏ công danh, lìa bỏ thị phi, khen chê, “độc thiện kỳ nhân”, đối lập với kẻ khác phàm tục ; hoặc là đam mê vật dục, sắc dục như một tội lỗi,  trái với đạo lý nhưng đã không còn mặc cảm tội lỗi, trái lại đã biểu hiện được cảm giác đam mê, đẹp, lãng mạn.

(Về con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam

                                                                     NXB Giáo dục, 1997)

 


([1]) Thơ quốc âm của Nguyễn Trãi dẫn trong bài này lấy từ Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, H., 1976.

([2]) Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm dẫn trong bài này lấy từ Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm,  NXB Văn học, H., 1983.

 

([4]) Tân đính “Lĩnh Nam chích quái”, Bùi Văn Nguyên dịch, NXB Khoa học xã hội, H., 1993, tr. 19. Sách “âm chất” là sách ghi điều làm phúc đức, chỉ có quỷ thần biết mà thôi.

([5]) Nguyễn Dữ, Truyền kỳ mạn lục (Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch), NXB Văn nghệ và Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, 1988, tr. 166.

([6]) Nguyễn Dữ, Truyền kỳ mạn lục, Sđd, tr.166.

Đi tìm con người Hoàng Trung Thông – VHNA

2 Th6

Đi tìm con người Hoàng Trung Thông

  •   Nguyễn Huệ Chi

                                                                          

Hoàng Trung Thông  Ảnh:  Nguyễn Đình Toán                                                   

Cho đến giờ tôi vẫn không nắm bắt được con người thật của Hoàng Trung Thông mặc dù chính tôi đã từng chạm vào con người ấy. Trong một Hoàng Trung Thông có đến mấy con người, điều ấy thì chắc không khó để chúng ta nhất trí.

Trước hết là con người chức vụ, kể từ khi là Tỉnh ủy viên Nghệ An cho đến tận khi đảm đương Vụ trưởng Vụ Văn nghệ sau hòa bình lập lại. Nhưng tôi dám quyết, con người chức vụ không phải là con người thật của ông, hay đúng hơn, lúc đầu nó là con người thật, rồi sau mười mấy năm từng trải, kinh qua những cuộc đấu đá trong các phong trào từ ngoài xã hội vào đến văn chương, hình như có cái gì đấy không hợp với tạng của mình, Hoàng Trung Thông đã xa lìa dần con người chức vụ một cách không tự giác. Cho đến khi về Viện Văn học thì tôi nghĩ, chức Viện trưởng với ông chỉ còn là chức phận, một nhiệm vụ do trên giao không thể không làm. Chẳng thế mà, với bản lĩnh, học vấn, và cách giải quyết mọi việc bằng phong thái từ tốn và đức vị tha hiếm có, ông có thể đã đóng góp cho Viện được rất nhiều vào thời điểm này. Chính ông đã hóa giải những mâu thuẫn rắc rối giữa ba ông Viện phó một cách nhẹ nhàng mà đến GS Đặng Thai Mai cũng không thể hóa giải nổi, làm cho Viện đang rất căng trở nên yên ổn. Ông lại có tấm lòng liên tài nên biết cách khuyến khích khéo léo những người thực sự có năng lực trong Viện, và có thể nói, sau khi ông về Viện được 3 năm, uy tín của Viện trưởng trong toàn Viện là một uy tín gần như tuyệt hảo, chinh phục người khác cả bằng lý và cả bằng tình. Đến mức trong lần bầu Giáo sư năm 1980, cả Viện đều bỏ phiếu chức danh Giáo sư cho ông, trong khi một số người tai mắt ở Viện khá nhiều năm chỉ bầu được Phó giáo sư mà thôi.

Thời kỳ ấy người ta kỳ vọng ở Hoàng Trung Thông rất nhiều và sự tín nhiệm đối với ông không chỉ bó hẹp trong Viện mà rộng ra ngoài xã hội. Giữa lúc các Viện trong Ủy ban Khoa học Xã hội không Viện nào có xe riêng, ông làm một bài thơ gửi lên ông Tố Hữu, thế là lập tức Viện Văn có xe Lada mới coóng, oai hơn bất kỳ một Viện nào.

Thế nhưng cũng thật lạ, Hoàng Trung Thông đã không dựa vào yếu tố “nhân hòa” nói trên mà tiến hành tổ chức lại Viện, chủ động tạo cho Viện một bước đột phá như nhiều người hết lòng chờ đợi. Chủ yếu, ông nắm lấy vai trò Tổng biên tập tờ tạp chí để sao cho không có bài nào “sinh sự”, còn thì cứ nhẩn nha như không. Ông khước từ chức vị Giáo sư ngay sau khi được cả Viện tín nhiệm, vì theo ông, làm một nhà thơ cũng đã là đủ lắm. Và hàng ngày ông hầu như không để nhiều thì giờ tính toán các mảng hoạt động khác nhau của Viện sao cho cân đối, thúc đẩy khâu này khâu nọ, mà mặc cho cỗ máy của Viện cứ thế vận hành theo đà vốn có từ xưa. Sự rời rạc loạc choạc vì thế dần dần nảy sinh. Ông chỉ quan tâm đến một vài bộ phận chuyên môn mà mình thích thú, đặc biệt là văn học cổ cận đại, và một phần nào văn học hiện đại, nên kết thân không giấu giếm với Ban văn học Cổ cận đại, kể cả việc chăm chút, góp ý cho các công trình của Ban này. Có vẻ như trong môi trường mà sự suy tưởng được đẩy lùi rất xa về quá khứ, những đàm đạo văn chương của ông trở nên thoải mái hơn, không còn bị vướng víu gò gẫm, cảm hứng cứ thế tự nó tuôn chảy. Vì thế, nhiều hôm đến Viện, ông chỉ ghé vào bàn làm việc một tí rồi đi thẳng xuống nhà tôi ở phía sau, gặp chuyện gì nói chuyện ấy đến hết buổi, nhưng tuyệt không đề cập đến chính trị cũng như nhân sự của Viện, không hé lộ thái độ riêng của mình về cách nhìn cách nghĩ đối với một người cụ thể nào. Thậm chí có hôm để mua vui cho con gái tôi mới chừng 8, 9 tuổi, ông đã dùng tay trồng cây chuối và đi một vòng bằng hai tay, chân chổng ngược lên trời, giữa cái nền nhà chỉ được chừng 12 mét vuông, làm con tôi cười như nắc nẻ.

Tôi đoán chắc ông có điều gì đó giấu kín trong lòng không thể cởi ra với người khác, nên chỉ lấy chơi đùa, và luận bàn văn chương cổ điển làm thú khuây giải. Có lần chị Băng Thanh nói với tôi ông có đọc cho chị ấy nghe hai câu thơ chữ Hán, đại khái: “Thủy thiển hồ hàn ngư bất đaĐiếu ông tranh tụ nại như hà?” (Hồ lạnh nước nông cá chẳng nhiều – Ông câu chen chúc khổ bao nhiêu). Tâm sự ấy cho thấy, việc ông càng về sau càng không làm tròn phận sự của một Viện trưởng không phải là một sự lười nhác mà có nguyên nhân sâu xa của nó, được kết đọng qua một chuỗi dài nhiều năm dấn thân và chứng kiến nhân tình thế thái, tuy sự nghiệp vẫn hanh thông nhưng trong trái tim trung thực của một nghệ sĩ đã phải mang những vết khía không sao chịu nổi. Vì thế, đánh giá hành vi của ông vào những năm cuối thời kỳ ở Viện theo một chiều hướng nào tôi nghĩ đều là không đơn giản:

Tôi muốn uống rượu trong

Lại phải uống rượu đục

Chao! Sông cũng như người

Có khúc và có lúc.

                                                 (Tứ tuyệt II)

           Ta nhìn mặt trời,

           Tưởng là mặt trăng.

           Mặt trời chói lọi,

           Sao mây mờ giăng?

           Và ta tự hỏi

           Làm được gì chăng?

                                                  (Ngày)

Việc nghiện rượu của ông xét cho cùng hẳn cũng là một cách tìm quên. Ông trở nên thoải mái trong sự lơ mơ của người say và biết là rượu tàn phá cơ thể đấy nhưng vẫn chấp nhận như một sự tự hủy hoại chính mình. Đến nỗi có hôm dựa vào mối thân tình, tôi đã gắt với ông ở ngay tại nhà ông, thì con trai ông là Vĩ ghé tai nói nhỏ với tôi: “Chú ơi, để cho bố cháu say như thế cũng là một chút hạnh phúc của bố cháu”.

Nếu nhìn ở khía cạnh tích cực, thì chính sự lãnh đạm với chức vị cũng chứng tỏ con người Hoàng Trung Thông không kham nổi lợi lộc và quyền hành. Về phương diện này, ông là một tấm gương thuộc loại trong sáng nhất trong hàng ngũ quan chức làng văn tính đến nay. Chỉ riêng chuyện chiếc xe Lada, đó là do ông xin được, nhưng ông đã hưởng thụ nó rất ít, và không hề ý thức về cái quyền mình được hưởng thụ. Mỗi ngày ông đi từ 70 Ngô quyền đến 20 Lý Thái tổ rồi lại từ 20 Lý Thái Tổ trở lại 70 Ngô Quyền, thế là xong. Có nhiều hôm ông không đi xe mà còn tự cuốc bộ. Chiếc xe từ đó trở thành phương tiện chung cho cả Viện, cả cho Công đoàn Viện tìm đường giao thiệp với các địa phương để cải thiện sinh hoạt cho anh chị em, trong điều kiện cả nước ăn bo bo và mỳ luộc trường kỳ. Hồi ấy tôi là Thư ký công đoàn nên không thể nào quên những lần cử người này người khác mượn xe Lada để bôn ba khắp nơi cầu may vào các dịp tết nhất. Mỗi lần kiếm được một món thực phẩm nào như gạo thịt là cả Viện tụ họp chia phần y hệt một ngày hội lớn. Còn nhớ cái Tết năm 1984, bạn Nguyễn Hữu Sơn (mới về viện được một năm) được cử về Hà Nam Ninh tìm một con lợn với giá phải chăng do một hợp tác xã nhượng lại. Lợn được bỏ lên xe Lada chở về trong sự hân hoan chờ đón của mọi người. Khi xe chở lợn về đến nơi, anh em mở cửa ra, có vài người nói to lên: “Kính chào thủ trưởng lợn. Xin mời thủ trưởng xuống để chúng em còn đi đón thủ trưởng Thông”. Thử nghĩ, với một Viện trưởng khác, hoặc những người có tiêu chuẩn xe con vào thời bấy giờ, có người nào có cách hành xử bình dân vô vụ lợi như thế? Cho nên, không phải là quá đáng nếu nói chính Hoàng Trung Thông đã tạo nên ở Viện Văn học một không khí thật sự bình đẳng và dân chủ.

Về mặt quan niệm tư tưởng, tôi cũng mang máng cảm nhận ra ở Hoàng Trung Thông thuở bấy giờ có một cái gì thỉnh thoảng lại lấp lóe lên như là sự phản tỉnh, nhưng đây là một phản tỉnh âm thầm nên không dễ thấy. Không thể phủ nhận ông là người rất tin ở các chính sách của Đảng. Khi chủ trương chọn cấp huyện làm đơn vị chiến lược về kinh tế để tạo sức bật cho nông thôn nhằm nhân rộng những cánh đồng 5 tấn do ông Lê Duẩn đưa ra được thực thi trên toàn quốc, ông lập tức về Nghệ Tĩnh xem xét tình hình. Chuyến ấy có tôi, Phong Lê, Lê Ngọc Châu cùng đi với ông. Ông đã về Quỳnh Lưu làng quê nơi mình sinh ra, nơi có ông Bí thư Nguyễn Hữu Đợi với lời tuyên bố nổi tiếng “Một mo cơm một quả cà một tấm lòng cộng sản cùng nhau xếp đặt lại giang sơn”. Ông cũng đã cùng chúng tôi đi thăm hồ Kẻ Gỗ để tìm hiểu cái hồ nhân tạo này tưới tắm cho các cánh đồng ở Cẩm Xuyên xanh tốt lên như thế nào. Cũng chính vì việc vào hồ Kẻ Gỗ khí hậu quá oi bức, do hai bên đều là núi, mà sau khi trở ra đến thị xã Hà Tĩnh thì Hoàng Trung Thông bỗng lên một cơn áp huyết đột ngột đến ngất xỉu. Bệnh viện Hà Tĩnh không có thuốc đặc hiệu nên Tỉnh ủy Nghệ Tĩnh phải cho xe vào gấp đưa ông đi suốt đêm ra Vinh vào Bệnh viện Ba Lan nằm điều trị, khiến chúng tôi lo lắng chờ đợi ở Vinh đến mấy ngày.

Đối với tôi, chuyến đi ấy không có một thu hoạch nào đáng kể trong nhận thức, rằng nông thôn quả thực đã lên hương nhờ việc “hợp tỉnh” (hợp nhất các tỉnh nhỏ thành một tỉnh to) và nhờ dùng cấp huyện làm đòn bẩy cho sản xuất. Hoàng Trung Thông hình như cũng vậy. Số phận nông dân luôn làm ông đau đáu, mong họ đổi đời thực sự (Trong dịp thăm Cộng hòa dân chủ Đức, ông đã dành phần lớn thời gian để thăm thú các vùng nông thôn nước Đức, nhằm tìm hiểu lý do tạo nên sự cách biệt giữa mức sống của nông dân nước mình so với nông dân nước họ). Nhưng với việc cực đoan phá vườn tược làng quê, đưa dân lên núi lập làng mới như ông Đợi làm thì ông chỉ… lắc đầu. Mấy hôm sau ông đưa đến cho tôi xem bài thơ Về làng trong dạng bản thảo, Bài thơ mang giọng tâm tình, kể lại với vợ hình ảnh trẻ đẹp của những cô gái chăn tằm dệt lụa ở quê hương mà ông vừa gặp lại. Bài thơ như muốn ngầm nói rằng làng quê đang đẹp lên là điều ai cũng ao ước và đang đẹp lên thật. Song chính những truyền thống lâu đời của làng được nâng niu gìn giữ mới làm cho làng ngày một đẹp. Sau này tôi cứ ngẫm nghĩ, không biết ông có mượn bài thơ để nhắn nhủ ông Nguyễn Hữu Đợi một lời khuyên răn nào đó hay không.

Cũng một lần khác tôi được tháp tùng ông, là lần ông đi dự hội thảo khoa học và thăm Cộng hòa dân chủ Đức trong một tháng vào mùa đông năm 1980. Chuyến đi này có nhiều kỷ niệm đặc biệt với ông mà tôi sẽ phải viết trong một dịp nào đấy. Nhưng ở đây đang nói đến vấn đề tư tưởng, tôi chỉ lẩy ra một chuyện để chúng ta cùng suy nghĩ. Chúng tôi đến Đức, gặp hai người bạn chủ chốt ở Viện Văn học thuộc Viện Hàn lâm khoa học Đức là Viện sĩ Nauman và Giáo sư Kortum đều là những người có quan hệ thân tình từ trước, riêng Giáo sư Kortum đã sang thăm Viện Văn học đúng vào dịp được chứng kiến sự kiện thống nhất đất nước nên ấn tượng đối với Việt Nam khá sâu đậm. Một hôm vợ chồng Giáo sư Kortum làm tiệc thết chúng tôi, có Viện sĩ Nauman đến dự. Chỉ có 5 người trong bữa tiệc chứ không có phiên dịch vì cả hai bên đều dùng tiếng Pháp, trong đó, tôi là người kém nhất nhưng cũng nghe tạm được vì người Đức nói tiếng Pháp hơi chậm, đủ để nghe, chứ không nhanh và nuốt lời như người Pháp. Theo lệnh Viện trưởng, tôi đã thủ sẵn hai chai “Lúa mới” để làm quà song vẫn cất trong túi chứ chưa mang ra. Đến giữa chừng bữa tiệc, ngẫu nhiên bà vợ Giáo sư Kortum lên tiếng khen rằng ở Việt Nam có thứ rượu rất, rất tuyệt (Au Việt Nam il y a un alcool très, très bon). Ông Thông liền đưa mắt cho tôi, tôi bèn bước lại nơi để túi lôi hai chai “Lúa mới” ra đưa vào bàn tiệc góp phần. Mọi người ồ lên một lượttỏ ý vui mừngvà mở luôn nút để cùng thưởng thức. Vốn là người sính rượu, ông Thông uống rất hào hứng, uống nhiều hơn cả chủ nhân bữa tiệc, vừa uống vừa bàn luận say sưa về văn học, và say lúc nào không biết. Đột nhiên trong một cơn hứng khởi bột phát, ông đưa mắt nhìn khắp mọi người một cách khác thường rồi bỗng cất tiếng hỏi: “Permettez-moi de poser une question directe: y a-t-il ce qui s’appelle le réalisme socialiste en réalité?” (Cho phép tôi hỏi thẳng: trong thực tế có cái gọi là chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa hay không?). Cả hai vợ chồng vị Giáo sư và ông Viện sĩ người Đức ngơ ngác, dồn mắt nhìn vào Hoàng Trung Thông. Nhưng khi họ chưa kịp nói câu gì thì ông đã tự trả lời, giọng kéo dài của người say, cũng có một vẻ tự tin khác lạ: “Non, jamais. Il n’y a rien de si difficile à avaler” (Không, Chưa hề có. Không có một cái gì “khó nhá” đến như vậy cả). Cả hai người đàn ông reo lên, hưởng ứng lập tức: Ah! C’est juste! Avis bien judicieux! (Ô! Đúng! Ý kiến quá đúng!). Còn bà vợ ông Kortum thì không nói câu gì nhưng đôi mắt bỗng tươi tỉnh hẳn lên. Tuy nhiên, cũng chỉ đến đấy. Kể cả ông Thông nữa, ai nấy đều kịp thời dừng lại rồi chuyển sang những chủ đề khác, như chê trách việc Trung Quốc bất ngờ đánh thọc vào biên giới Việt Nam, coi là chuyện vô sỉ… Không một ai nhắc lại điều vừa bất chợt nói với nhau thêm một lời nào.

Cho đến tận khi rời nước Đức, ông Thông cũng không bao giờ nói tiếp với tôi vấn đề này. Tất nhiên, tôi biết đấy là điều ông buột ra trong một lúc say, dẫu sao hẳn cũng phải ủ kín đã từ lâu lắm, Kể từ đó, tôi mới ngày càng để ý tìm hiểu những uẩn khúc bên trong con người Hoàng Trung Thông – người Viện trưởng ân tình mà tôi bao giờ cũng quý trọng. Thú thực đến nay, như đã nói ở phần mở đầu, tôi vẫn chưa tìm ra con người thật của ông, mặc dù đã có đôi phen được chạm đến nó. Đúng như một câu thơ ông chợt hé lộ mình trong một vài năm trước khi mất: Trăng biết đâu lòng ta lệ đầm – Mời trăng”. Có phải ông muốn nhắc nhở lũ chúng ta, những con người phàm tục, đừng có như mặt trăng kia, chỉ biết sáng nhờ nhờ và vô tri vô giác khi xem xét lòng người hay không?

21-4-2013

 

 

KHẮC KHOẢI QUYỀN CON NGƯỜI – BS

6 Th5

KHẮC KHOẢI QUYỀN CON NGƯỜI

RSS 

PHẠM ĐÌNH TRỌNG

Sáng chủ nhật 5.5.5013, tôi rất muốn phone rủ vài ông bạn già cùng đến điểm hẹn Quyền Con Người nhưng gọi nhau trên sóng điện rồi lại lọt vào tai công an thêm rắc rối nên hơn bảy giờ sáng, tôi lặng lẽ ra khỏi nhà.

 

Mới đi một đoạn ngắn tôi thấy một phụ nữ bên chiếc xe máy đứng bên đường ngóng nhìn lại suốt dọc đường. Đàn ông thấy phụ nữ bao giờ cũng muốn ngắm một gương mặt đẹp. Nhưng mặt người phụ nữ này che kín trong lớp vải đen và chiếc kính đen to. Chợt nhận ra điều bất thường ở người đàn bà trong buổi sáng chủ nhật êm ả, tôi ngoái nhìn lại thấy chị ta đang áp điện thoại vào má.

Xuôi theo đường một chiều Nguyễn Thị Minh Khai đến ngã tư đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa vừa lúc đèn đỏ nhưng vì rẽ phải nên tôi vẫn chạy xe vào đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Đến trước dinh Độc Lập, vừa rẽ trái sang đường Lê Duẩn thì hai cảnh sát giao thông trên chiếc mô tô trắng chạy trước chặn đầu xe tôi, cây gậy trắng trong tay viên cảnh sát chỉ xuống đường bảo tôi dừng xe. Hai cảnh sát giao thông trên chiếc mô tô chạy sau áp sát đến. Họ đòi kiểm tra giấy tờ xe của tôi. Tôi hỏi: Tôi có lỗi gì mà các anh dừng xe và kiểm tra giấy tờ tôi. Sau hai, ba lần họ đòi và hai, ba lần tôi hỏi lại họ mới bảo rằng rẽ phải mà tôi không bật tín hiệu báo rẽ gây nguy hiểm cho người sau. Thật vô lí nhưng tôi vẫn đưa giấy tờ cho họ xem. Điều bất thường nữa là họ còn hỏi tôi định đi đâu! Sao cảnh sát giao thông lại quan tâm đến việc tôi sẽ đi đâu nhỉ?

Nhận lại giấy tờ, tôi đến nhà Văn hóa Thanh niên gửi xe máy rồi đi bộ đến điểm hẹn Quyền Con Người, dải thảm cỏ và rừng cây đại thụ giữa nhà thờ Đức Bà và dinh Độc lập. Đang đi trong vườn cây, tôi quay lại thay đổi hướng đi thì phát hiện một thanh niên còn trẻ, dáng to đậm, mặc bộ đồ xám nhạt, áo có mũ trùm đầu thả sau gáy, bám theo tôi. Mấy lần tôi dừng lại, ngồi xuống ghế bên lối đi, cậu ta đều dừng lại gần tôi, không cần giấu giếm sự đeo bám của cậu ta.

Thấy một thanh niên mặt mũi sáng sủa, bên người có chiếc túi nhỏ như túi sách của sinh viên, ngồi một mình trên chiếc ghế đúc bằng gang tôi hỏi xin ngồi nửa ghế trống và được chấp nhận. Tôi bắt chuyện: Cháu đi chơi hay đến đây tham gia sinh hoạt Quyền Con Người? Cháu có quan tâm đến hoạt động đó không? Cậu thanh niên nói rằng có nghe nhắc đến việc đó nhưng Quyền Con Người vẫn bình thường, đầy đủ, có gì đâu phải quan tâm. Tôi nói Quyền Con Người là quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, dân mình đâu có. Cậu thanh niên bảo: Bác nói chuyện với cháu, thế là tự do tư tưởng rồi còn gì nữa – Nói chuyện riêng thì có thể nói được mọi điều nhưng nói trên điễn đàn, trên truyền thông thì đâu có được. Người dân biểu tình hợp pháp chống Trung Quốc xâm lược thì bị bắt bớ, đánh đập, tù đày. Người dân đâu có được bộc lộ chính kiến – Cháu chỉ quan tâm đến học hành, tương lai thôi – Quan tâm đến học thì cháu phải học để biết Quyền Con Người của cháu. Cháu chỉ quan tâm đến tương lai thôi à? Quyền Con Người của cháu không có thì tương lai làm gì có – Cháu thấy mọi cái đều tốt cả mà. Đất nước đã thay đổi, tốt lên rất nhiều – Có thay đổi nhưng quá chậm chạp, không tương xứng với tiềm năng đất nước và mồ hôi, xương máu của dân đã đổ ra. Cháu có thấy Nhận Bản, Hàn Quốc điều kiện tư nhiên đâu bằng mình mà chỉ hai mươi năm sau chiến tranh họ đã trở thành con rồng, con phương kinh tế thế giới. Còn ta, chiến tranh kết thúc gần bốn mươi năm rồi, gấp đôi thời gian của họ mà dân vẫn đói khổ, có người mẹ trẻ phải tự tử vì nghèo đói không nuôi nổi con. Trẻ con miền núi nhịn đói, mùa đông chỉ có manh áo mỏng đi học trong những lớp học rách nát như cái lều vị, cháu có biết không? Có thể cháu có hai, ba bằng đại học, cháu đi làm lương tháng vài chục triệu đồng nhưng lớp trẻ như cháu cả thì đất nước nguy hốn quá cháu ạ. Tôi nói thế và chờ nghe cậu thanh niên phản ứng nhưng im lặng giây lát rồi cậu ta bỏ đi.

Thấy anh Phan Đắc Lữ đi một mình, tôi liền vẫy anh lại. Tôi và anh Phan Đắc Lữ đã ngồi ở chiếc ghế gang trong vườn cây phía trái trước dinh Độc Lập hơn nửa tiếng. Đến tám giờ rưỡi, giờ hẹn của buổi sinh hoạt Quyền Con Người, chúng tôi đi sang vườn cây bên kia đường, nơi tập trung đông bạn trẻ. Nhưng đông hơn cả là những sắc áo công cụ nhà nước: Cảnh sát cơ động. Cảnh sát giao thông. Thanh niên xung phong. Dân phòng. Thanh tra xây dựng .  .  .

Ngày chủ nhật mà nhân viên vườn cây xả nước lênh láng những lối đi, phun ướt hết ghế ngồi nhưng các bạn trẻ vẫn rải báo ngồi kín gờ xi măng hai bên lối đi trong vườn cây. Nhân viên vườn cây lại giở trò đốn hạ cành cây, lấy cớ xua đuổi các bạn trẻ khỏi khu vực cành cây sẽ rơi xuống. Tôi liền nói to: Này các anh. Ngày thường sao các anh không làm? Chủ nhật, người dân đến vườn hoa nghỉ ngơi, các anh lại giở trò phun nước, chặt cây để xua duổi dân là sao? Nhà nước khốn quẫn quá rồi nên phải giở trò thô thiển, lộ liễu, hèn hạ đối phó với dân. Các nhân viên vườn cây biết rằng việc họ làm là bất thường nhưng làm theo lệnh nên họ cứ im lặng làm.

Chợt tôi chú ý đến người đàn ông ngoài năm mươi tuổi, da đen xạm, mặc đồ dân sự đứng cạnh tôi. Tay cầm bộ đàm, ông đưa lên miệng, nói: Cơ động di chuyển sang bên kia đường! Cơ động di chuyển sang bên kia đường! Tôi nhìn sang bên kia đường, nơi quần tụ khá đông người nhưng vẫn yên tĩnh. Cảnh sát 113 di chuyển đến khá đông dưới lòng đường. Bỗng trên hè đường, ngay cạnh chỗ cảnh sát 113 tập trung, lộn xộn xảy ra. Thanh niên xung phong, dân phòng, thanh tra xây dựng xô vào một điểm, nhấp nhô, xô đẩy. Những nắm đấm vung lên. Những dùi cui phóng xuống.

Khi tôi và anh Phan Đắc Lữ đến chỗ xảy ra lộn xộn, mọi việc đã yên. Mấy chậu hoa đặt mép vỉa hè đổ nghiêng xuống lòng đường. Bên mép đường, một thanh niên xung phong mở chiếc túi ni lông đen, lôi những tập giấy trong túi ra, xé vụn. Mọi người cho tôi biết Nguyễn Hoàng Vi và hai bạn trẻ đi với Vi vừa bị bắt ở đây và chiếc túi ni lông đen đựng những tập giấy viết về Quyền Con Người là của nhóm Nguyễn Hoàng Vi. Khát vọng Quyền Con Người đã bị bắt đi và lời văn Quyền Con Người đang bị xé vụn!

P.Đ.T.

Bài học đầu đời phải là đất nước, con người Việt Nam – GDVN

20 Th3

Tràn lan sách tham khảo thiếu nhi “gốc” Trung Quốc:

Bài học đầu đời phải là đất nước, con người Việt Nam

Thứ ba 19/03/2013 22:19
 
Đó là nhận định của các chuyên gia văn hóa, giáo dục khi nói về việc chọn sách tham khảo, dạy cho trẻ em Việt Nam ở lứa tuổi mầm non.
 

“Cảnh giác” khi chọn sách

Theo GS.TS Vũ Gia Hiền, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Văn hóa – Du lịch, Phó hiệu trưởng Trường trung cấp Âu Việt TP.HCM, Chuyên gia Tâm lý Hội Tâm lý Giáo dục học TP.HCM, lứa tuổi mầm non (0-5 tuổi) là giai đoạn phát triển nhận thức rất quan trọng đối với trẻ.

Các chuyên gia giáo dục đều xác định, đây là giai đoạn “tri thức” của con người đang là một tờ giấy trắng. Vì vậy, những gì được viết vẽ vô não bộ sẽ là nền tảng nhận thức, được ghi nhớ rất lâu.

 


Bài học nhận biết “Những người trong gia đình” với người mẹ Trung Quốc trong trang phục sườn xám (cuốn Bách khoa thư đầu đời cho trẻTừ điển bằng hình cho trẻ em, trang 14, Nhà sách Đinh Tỵ liên kết với NXB Mỹ thuật phát hành) – Ảnh: Nguyên Mi chụp lại trang sách

“Trẻ em rất gần gũi với những cảm xúc hình ảnh và chủ yếu học qua hình ảnh. Ở lứa tuổi càng nhỏ thì những ấn tượng hình ảnh càng hằn sâu trên vỏ não. Trẻ sẽ ghi nhớ rất lâu”, ông Hiền nói.

Đặc biệt, ông Hiền phân tích, trẻ ở giai đoạn này cũng chưa thể tự nhận thức, phân biệt. Vì vậy, càng cần phải giáo dục, cho trẻ tiếp cận, gần gũi với văn hóa truyền thống, ngôn ngữ, hình ảnh “mẹ đẻ” về quê hương, đất nước. Sách hình dành cho trẻ em ở lứa tuổi này nên thuần Việt với con trâu, đồng lúa, bờ tre, áo dài hay hình ảnh các địa danh, thắng cảnh, di tích lịch sử Việt Nam, truyện kể Việt Nam…

“Đó là những kiến thức, đặt nền tảng cho sự phát triển văn hóa, tri thức của một con người sau này”, ông Hiền nhấn mạnh.

 


Thư viện với chữ tiếng Hoa ở phía trước cổng trong sách Tiếng Anh nhập môn (bộ sách dành cho lứa tuổi nhi đồng, trang 39, tập 3), do Nhà sách Mỹ Đình và NXB Mỹ Thuật liên kết phát hành – Ảnh: Nguyên Mi chụp lại từ sách

Trong khi đó, theo thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Thanh, nguyên Trưởng phòng Giáo dục Mầm non, Sở GD-ÐT TP.HCM, đây là giai đoạn đầu đời của trẻ, lứa tuổi này rất nhạy cảm. Về mặt tâm lý trong giai đoạn này, khi đứa trẻ được ăn một món ngon nào đó thì sẽ nhớ mãi đến khi lớn. Tương tự, những hình ảnh quen thuộc từ thời thơ ấu, trong giai đoạn đầu đời cũng sẽ in sâu trong trí nhớ, nhận thức của mỗi người.

Trong chương trình giáo dục mầm non 5 tuổi của Bộ GD-ĐT Việt Nam, học sinh đã được học về đất nước, về lá cờ Việt Nam. Trong đó, ngôi trường của em thì cắm cờ Tổ quốc Việt Nam.

Vì vậy, theo ông Hiền, ở lứa tuổi này, phụ huynh, những người làm giáo dục rất cần “cảnh giác” khi cho trẻ tiếp xúc với văn hóa nước ngoài. Sách báo, truyện kể dạy cho trẻ em cần lấy hình ảnh, nhân vật, những câu truyện của Việt Nam, mang đúng chất văn hóa, tinh thần Việt Nam. Bài học đầu đời phải là đất nước, con người Việt Nam.

Sẽ “đính kèm” danh mục sách tham khảo cùng sách giáo khoa?

Trước thực tế nhiều loại sách tham khảo (STK) không rõ nguồn gốc, nội dung không phù hợp, gây bất an cho phụ huynh, học sinh, Bộ GD-ĐT cũng đã lên tiếng về chất lượng STK hiện nay.

Ông Phạm Ngọc Định, Phó vụ trưởng Vụ Giáo dục tiểu học (Bộ GD-ĐT) cho hay, thời gian tới Bộ GD-ĐT bổ sung chế tài cũng như quy định rõ ràng hơn, tăng cường khâu quản lý, giám sát làm thế nào để không có tình trạng bắt học sinh mua STK; giáo viên, hiệu trưởng không giới thiệu, không “bán hộ” STK cho học sinh của mình.

Về chất lượng STK, ông Định nêu những ý tưởng ban đầu của Bộ GD-ĐT trong mong muốn quản lý được chất lượng STK đưa vào nhà trường. Theo đó, mỗi môn học sẽ có một số tài liệu STK nhất định và Bộ sẽ cho in danh mục STK đạt chất lượng đó lên bìa trên bìa SGK để giáo viên, học sinh, phụ huynh có định hướng lựa chọn.

 


Hơn một nửa đầu sách thiếu nhi tại các nhà sách có nguồn từ Trung Quốc – Ảnh: Nguyên Mi

“Những sách được giới thiệu ở bìa SGK như vậy sẽ được thẩm định, chứ không phải xuất bản tràn lan mà không hề được thẩm định dẫn tới có “sạn” như hiện nay”, ông Định nói.

Ông Vũ Đình Chuẩn, Vụ trưởng Vụ Giáo dục trung học, Bộ GD-ĐT, bày tỏ với sự phân cấp quản lý như hiện nay, một mình ngành GD-ĐT không thể “ôm” hết chất lượng của thị trường STK. Nhưng với những STK đưa vào nhà trường thì chắc chắn Bộ phải có trách nhiệm.

“Trước đây, đã có danh mục STK đưa vào thư viện các nhà trường, nhưng sau đó danh mục này đã bị bãi bỏ. Vậy có nên khôi phục lại quy định này không”, ông Chuẩn đặt vấn đề.

Ông Chuẩn còn cho rằng việc thẩm định STK hoàn toàn có thể dựa vào các hội đồng bộ môn của mỗi môn học.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất hiện nay, Cục Xuất bản, Bộ Thông tin-Truyền thông cần siết chặt lại quy trình kiểm duyệt nội dung, cấp phép xuất bản và phát hành, cũng như xử lý các đơn vị vi phạm trong nội dung sách được xuất bản. Thiết nghĩ, điều đó sẽ có tác dụng trong việc sàng lọc “sạn” trong sách, đặc biệt là các ấn phẩm dành cho thiếu nhi, có nguồn gốc từ Trung Quốc, như những trường hợp vừa qua.

 

Tổ chuyên môn có trách nhiệm xem xét nội dung STK đang lưu hành trong trường

Văn bản hướng dẫn sử dụng SGK và tài liệu giảng dạy học tập trong trường phổ thông được ban hành từ năm 2008 và đến nay vẫn còn giá trị trong chỉ đạo của Bộ GD-ĐT với các cơ sở GD-ĐT.

Theo đó, với các loại STK được sử dụng trong nhà trường, hiệu trưởng các trường phổ thông có trách nhiệm giao cho các tổ chuyên môn xem xét nội dung các STK đang lưu hành trong trường.

Nếu phát hiện STK chưa chính xác hoặc không phù hợp với tính chất giáo dục phổ thông thì cần lưu ý học sinh trong việc sử dụng; nếu phát hiện STK có sai sót lớn ảnh hưởng đến dạy và học thì cần kịp thời báo cáo với cơ quan quản lý giáo dục.

Công văn này cũng nêu rõ: các cơ quan quản lý giáo dục và các trường phổ thông không bắt buộc học sinh mua STK. (Tuệ Nguyễn)

 
Theo Thanh Niên

Nhầm lẫn khái niệm “Hiến pháp” và quyền con người với quyền cơ bản – BS

17 Th3

Nhầm lẫn khái niệm “Hiến pháp” và quyền con người với quyền cơ bản

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức *

Bài 1: Nhầm lẫn khái niệm “Hiến pháp”

Trong bài “Bao nhiêu ý dân thì đủ?”**, tác giả Phạm Thị Hoài đã sử dụng nhầm lẫn hai khái niệm Verfassung (Hiến pháp) khác với Grundgesetz (Luật cơ bản) vốn có quan hệ nội hàm “cành, nhánh” hay “mẹ, con”.

 

Để phủ định quyền dân phúc quyết hiến pháp, tác giả Phạm Thị Hoài viện dẫn thực tế quá trình lập hiến Đức (trích): Nhân dân CHLB Đức chưa bao giờ được trưng cầu ý kiến về văn bản tối thượng mang tên Grundgesetz (Luật Cơ bản) của mình. Nó được soạn thảo bởi 65 vị trong Parlamentarischer Rat (Hội đồng Nghị viện), dưới sự ủy nhiệm và kèm cặp của chính quyền quân quản Anh, Pháp và Mỹ sau Thế chiến II. Sau khi được thông qua với 53 phiếu thuận và 12 phiếu chống trong Hội đồng Nghị viện, nó được trình cho ba chính quyền Đồng minh nêu trên xét duyệt. Sau khi được các Thống đốc Quân sự Anh, Pháp, Mỹ chấp nhận, nó được gửi đến các nghị viện tiểu bang để phê chuẩn. Sau khi được phê chuẩn, ngày 23-5-1949 nó được Hội đồng Nghị viện chính thức tuyên bố là văn bản lập quốc. Nước Cộng hòa Liên bang Đức (Tây Đức cũ) ra đời với bản Hiến pháp ấy. Bản hiến pháp được coi là hoàn hảo nhất trong lịch sử nước Đức ấy không do ý nguyện dân chủ từ dưới lên sinh ra, mà do ý chí chính trị từ trên xuống, thậm chí với áp đặt từ các thế lực ngoại bang.

Năm 1990, trong quy trình thốnng nhất nước Đức, nghị viện của các tiểu bang thuộc Đông Đức cũ cũng phê chuẩn và gia nhập Hiến pháp này mà nhân dân Đức ở cả bên Đông lẫn bên Tây đều không được trực tiếp biểu quyết. Trong 64 năm từ khi ra đời, Hiến pháp Đức có 59 bổ sung, sửa đổi, lần cuối cùng vào giữa năm ngoái. Không một lần nào có trưng cầu ý dân. Song điều đó không cản trở nước Đức … thành một trong những nền dân chủ trưởng thành và ổn định nhất trên thế giới”, (Hết trích).

Tác giả đã sử dụng nhầm lẫn hai khái niệm Verfassung (Hiến pháp) khác với Grundgesetz (Luật cơ bản) vốn có quan hệ nội hàm “cành, nhánh” hay “mẹ, con”. Từ năm 1949 tới nay, nước Đức chỉ có Luật Cơ bản năm 1949 và sửa toàn diện năm 1990, được coi như Hiến pháp chứ không phải Hiến pháp. Nó được xuất bản với tờ bìa mang tên “Grundgesetz” và gọi đúng tên đó trên các văn bản pháp lý trích nó. Luật, bất cứ là luật gì cơ bản hay không, do nghị viện ban hành đều không nhất thiết phải phúc quyết, bởi đó là quyền lập pháp của họ, giải thích tại sao Luật Cơ bản Cộng hoà Liên bang Đức chưa bao giờ phúc quyết. Còn đã gọi là “Hiến pháp” thì phải do người dân phúc quyết, vốn chỉ họ mới có quyền lập hiến, xuất phát từ nguyên lý: Hiến pháp của dân phải do dân quyết, giống như chính quyền của dân thì phải do dân bầu. Đó là dấu hiệu khác nhau giữa nội hàm khái niệm “Luật cơ bản” và nội hàm “Hiến pháp”. Điểm giống nhau là chúng cùng quy định: a- thiết chế nhà nước và b- khẳng định quyền con người và quyền công dân mà nhà nước có trách nhiệm phải thực hiện không được xâm phạm – tức quyền cơ bản. Nếu chỉ dừng lại ở đó, thông qua nghị viện, rồi ký lệnh ban hành, thì được gọi là “Luật Cơ bản”, còn thực hiện thêm công đoạn tiếp theo “Phúc quyết” thì được gọi là hiến pháp. Lý do tại sao Luật Cơ bản CHLB Đức năm 1949 lại không trưng cầu dân ý, tác giả Phạm Thị Hoài đã lý giải đúng sự kiện. Còn lý do tại sao tới lần sửa đổi toàn diện năm 1990 vẫn không phúc quyết, bởi chỉ đơn giản do CHDC Đức gia nhập CHLB Đức, nghĩa là phải chấp nhận Luật Cơ bản của họ, giống như Việt Nam sau 1975, chứ không phải hai bên thống nhất thành lập một quốc gia để ban hành một Hiến pháp mới cho mình.

Điều đó cũng giải thích tại sao Hiến pháp mới thông thường gắn liền với các hệ quả đổ vỡ một thiết chế, cách mạng xã hội, tranh chấp bạo lực, chiến tranh (đã trình bày ở bài Hiến pháp sao phải sửa?). Ngoại lệ có thể tìm thấy trong trường hợp Nam Phi hay Miến Điện. Khi đó Hiến pháp không còn là mục đích trực tiếp của đổ vỡ, cách mạng, bạo lực, chiến tranh, mà trở thành phương tiện hoà bình để vượt qua nó.

Với nội hàm khái niệm Hiến pháp nêu trên, các nước có thể mặc định, tức tự hiểu đã là Hiến pháp tất phải phúc quyết (lẽ tự nhiên như quyền ăn uống hít thở, không nhất thiết phải đưa vào hiến pháp) hoặc hiến định như Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946: Điều 21, “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp”.

Tới Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lần này, người chấp bút đã không tuân thủ nguyên lý logic học, cũng sử dụng nhầm lẫn giữa 2 khái niệm Hiến pháp và Luật Cơ bản như trường hợp Phạm Thị Hoài, khi viết Điều 123: “Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Hệ lụy, một khi đã gọi là hiến pháp thì đương nhiên trước hết phải là luật cơ bản, vì vậy Điều 123 nhắc lại là thừa. Mặt khác, đưa ra 1 câu mang tính tiền đề như Điều 123, làm người đọc dễ ngộ nhận, nhầm tưởng khái niệm hiến pháp nằm trong khái niệm luật cơ bản, trong khi luật cơ bản chỉ là một phần nội hàm của khái niệm Hiến pháp

Hệ trọng hơn, về nội dung, Điều 74 hiến định Quốc hội thực hiện quyền lập hiến vốn thuộc của dân, tới Điều 75 diễn giải tiếp, Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn “Làm Hiến pháp“ hiểu theo nghĩa dự thảo là đương nhiên. Nhưng đến Điều 124, hiến định vai trò thụ động của người dân, “Việc trưng cầu ý dân về Hiến pháp do Quốc hội quyết định“; tất dẫn tới hệ lụy chưa thể xác định sau khi Quốc hội thông qua, Việt Nam sẽ có Luật Cơ bản như Đức bởi hoàn cảnh lịch sử đưa đẩy (nếu không trưng cầu dân ý), hay là một bản Hiến pháp đúng khái niệm của nó (trong trường hợp được trưng cầu dân ý).

Hiến pháp là hình ảnh thể chế của một quốc gia trong con mắt thế giới, chứ không phải văn bản lưu hành nội bộ chỉ riêng trong quốc gia đó, vì vậy để có một bản Hiến pháp được họ nhìn nhận ưu việt tiến bộ “sánh vai các cường quốc năm châu“ như ta mong muốn, điều kiện cần đầu tiên là kỹ thuật lập hiến phải tuân thủ đúng các khái niệm khoa học pháp lý phổ quát, trước và trên hết chính khái niệm “hiến pháp“.

Bài 2: Nhầm lẫn quyền con người với quyền cơ bản

Hiến pháp chỉ hiến định một số trong vô vàn quyền con người, chứ không phải toàn bộ, bởi trước hết, do hiến pháp đóng vai trò luật cơ bản, mà đã là luật thì nó chỉ điều chỉnh những quyền con người liên quan tới pháp luật, tức nhà nước, chứ không phải mọi quyền con người như ăn ngủ hít thở, yêu ghét, chẳng hạn.
Bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (DTHP), chương II “quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân” đưa ra 38 điều; so với Hiến pháp năm 1992, lời văn, cấu trúc được sửa lại và bổ sung thêm chín quyền trong chín điều.

Mục đích sửa đổi trên được Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lý giải trong “Báo cáo Thuyết minh”: “Để khẳng định giá trị, vai trò quan trọng của quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp”. Từ mục đích đó, DTHP có nhiệm vụ “làm rõ nội dung quyền con người, quyền công dân…”.

Đã là quyền con người thì do “tạo hoá” sinh ra nằm trong chính mỗi con người. Nếu xét theo hành vi, tổng hợp hết từ chừng 7 tỷ người khác nhau trên quả đất hiện nay, thì quyền con người sẽ vô cùng tận, từ sinh lý, ăn, uống, hít thở, khóc cười, nhìn, nghe, sờ mó… đến hành vi tình cảm, yêu, ghét, hiến, tặng…, tới tâm linh thờ phụng, tín ngưỡng, hay kinh tế, mua bán, cho mượn, đổi chác, hoặc chính trị tham gia đảng phái, bộ máy nhà nước, góp ý chính sách…, không một hiến pháp nào trên thế giới này dù muốn cũng không thể liệt kê nổi, chứ chưa nói khẳng định giá trị, làm rõ nội dung. Vì vậy, nếu lấy nội dung quyền con người làm đối tượng hiến định, thì DTHP nước ta đã không đạt mục đích đề ra. Và cứ theo quan điểm đó, thì hiến pháp nước nào đưa ra càng nhiều quyền con người càng dân chủ tiến bộ ưu việt.

Nhưng thực tế không phải vậy. Nga, Hiến pháp năm 1993 có tới 48 điều về “quyền và tự do của con người và của công dân”, chỉ số dân chủ năm 2007 xếp thứ hạng 102; Trung Quốc, Hiến pháp năm 1982 có 33 điều xếp thứ hạng dân chủ 138; Đức chỉ có 19 điều ở thứ hạng 13; Đan Mạch có 15 điều, đứng thứ 5; Mỹ, chỉ liên quan tới 10 điều tu chính, xếp thứ 17.

Lý do, Hiến pháp chỉ hiến định một số trong vô vàn quyền con người, chứ không phải toàn bộ, bởi trước hết, do hiến pháp đóng vai trò luật cơ bản, mà đã là luật thì nó chỉ điều chỉnh những quyền con người liên quan tới pháp luật, tức nhà nước, chứ không phải mọi quyền con người như ăn ngủ hít thở, yêu ghét, chẳng hạn. Chức năng của nó là chế tài, không có chức năng thay thế sách giáo khoa, hay tài liệu khoa học, để lý giải đưa ra kết luận về giá trị, vai trò quan trọng, nội dung của quyền con người, mà chỉ dựa trên cơ sở khoa học đó để hiến định quyền con người. Tiếp theo, quyền con người mặc dù do tạo hoá sinh ra, “lẽ phải không ai chối cãi được”, nhưng một khi quyền lực nhà nước vốn của dân đã được trao vào tay bộ máy nhà nước thực thi, thì quyền tạo hoá đó của họ trên thực tế rất có thể: 1- Bị quyền lực nhà nước xâm phạm, mà người dân thấp cổ bé họng không làm gì được. Có thể thấu hiểu rõ nhất điều đó ở những nước thuộc điạ, như khi thực dân Pháp “mang lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái” đến nước ta tuyên bố “khai hoá văn minh”, nhưng thực tế lại “cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta (Tuyên ngôn độc lập)” hay trường hợp các nước Ả Rập vừa qua, cách mạng xã hội bùng nổ do quyền làm người bị tước mất, được châm ngòi bởi Mohamed Bouazizi phải tự thiêu, thà chết còn hơn. 2- Không thể thực hiện, bởi bộ máy nhà nước ăn lương có bổn phận đảm bảo quyền tạo hóa của dân, nhưng đã không cung cấp cho họ điều kiện vật chất, hành lang pháp lý thực hiện quyền đó.

Nguyên tắc hiến định quyền con người, vì vậy, chỉ nhắm vào những quyền pháp lý có nguy cơ bị nhà nước xâm phạm hoặc phải được nhà nước bảo đảm tiền đề vật chất cho nó thực hiện. Những quyền đó, khoa học hiến pháp gọi là quyền cơ bản, không hiểu theo nội hàm “hạt cơ bản” trong vật lý, mà theo nghĩa nhà nước bị chế tài trách nhiệm bảo đảm cho quyền đó được thực hiện. Nói cách khác, quyền cơ bản là quyền con người được ghi vào hiến pháp, khi nó thoả mãn đồng thời 3 yếu tố: 1- chắc chắn, 2- liên tục, 3- được viện tới toà án chống lại nhà nước, nếu họ bị thiếu những điều kiện bảo đảm quyền đó được thực hiện.

Có thể hiểu qua ví dụ về “quyền được bảo đảm an sinh xã hội”, ghi trong Ðiều 35 DTHP, được Điều §75 Hiến pháp Đan Mạch quy định tại điểm (1): “Ai không thể tự nuôi sống mình, và không còn nguồn thu nhập nào khác, nhà nước có trách nhiệm trợ cấp đủ”. Ở Đức, xuất phát từ Điều 1, Luật Cơ bản, “nhân phẩm con người không thể xâm phạm. Chú ý và bảo vệ nó là trách nhiệm mọi cơ quan quyền lực nhà nước”, Bộ Luật Xã hội Đức quy định nhà nước phải cấp cho bất kỳ người dân nào không có thu nhập, kể cả người nước ngoài sinh sống ở Đức, 374 Euro/tháng/người (năm 2013) cộng tiền thuê nhà, điện, nước. Cách tháng trước, một hộ gia đình bị cấp thiếu 15 Cent do cơ quan cấp làm tròn số lẻ, khiếu nại không được liền kiện ra toà, được toà xử thắng và phạt cơ quan cấp phải trả án phí 600 Euro. Cũng viện dẫn Điều 1 trên, trong 1 vụ kiện, Toà án Hiến pháp Đức đã bác bỏ điều khoản Bộ luật Xã hội Đức ấn định mức trợ cấp cho người nước ngoài chờ xét tỵ nạn thấp hơn tiêu chuẩn trợ cấp cho người Đức, với lập luận, trợ cấp là mức tối thiểu để bảo đảm nhân phẩm con người vốn không thể phân biệt đã được hiến định.

Xuất phát từ bản chất quyền cơ bản nêu trên, ở họ hiến định quyền cơ bản thực chất là hiến định trách nhiệm nhà nước phải bảo đảm quyền đó được thực hiện, bằng những chuẩn mực, thước đo, quy tắc xử sự có thể đong đo đếm được. Và chỉ khi đó, người dân mới có cơ sở hiến định để tự bảo vệ quyền của mình, bằng cách viện đến toà án được coi là cán cân công lý; các cơ quan quyền lực nhà nước mới bị ràng buộc bởi các cơ sở pháp lý, phải thực thi nếu không sẽ bị chế tài. Đó cũng chính là bản chất của nhà nước pháp quyền do pháp luật định đoạt, khác với nhà nước độc tài do kẻ cầm quyền quyết định.

Còn DTHP ở ta, do hiểu mục đích hiến định nhằm “khẳng định giá trị, vai trò”, “nội dung quyền con người”, nên Điều 35 DTHP nêu trên chỉ ghi vắn tắt đúng 11 chữ “Công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội”, không hề quy định các chuẩn mực thước đo quy tắc xử sự để chế tài trách nhiệm nhà nước phải bảo đảm cho quyền đó thực thi, như trường hợp Đức, Đan Mạch chế tài nhà nước phải trợ cấp cho bất cứ ai không có thu nhập đủ bảo đảm cuộc sống bình thường.

Chính do nhầm lẫn giữa quyền con người và quyền cơ bản, nên DTHP đã đưa ra nhiều quyền, thậm chí nhiều góp ý còn đòi bổ sung thêm bao quyền ước mong nữa. Trong số đó có những quyền, nhiều nước hiện đại chưa dám đề cập, như Điều 38 DTHP: “Công dân có quyền làm việc”, họ không thể hiến định bởi thất nghiệp là bản chất của kinh tế thị trường, chỉ có thể hạn chế chứ không thể chấm dứt. Điều 40 “trẻ em có quyền… được chăm sóc giáo dục”, họ chỉ có thể bảo đảm được một phần chứ không phải tất cả, và đó còn là trách nhiệm gia đình. Tương tự, Điều 41 “có quyền được bảo vệ sức khoẻ” (nghĩa là trách nhiệm nhà nước chữa bệnh cho dân miễn phí?); Điều 44 “quyền hưởng thụ các giá trị văn hoá” (nhà nước miễn phí tham quan du lịch, biểu diễn nghệ thuật, hội hè?); Điều 46 “quyền được sống trong môi trường trong lành” (trách nhiệm nhà nước bồi thường khi dân ngộ độc thực phẩm?), Điều 42, “công dân có quyền và nghĩa vụ học tập” (nhà nước miễn học phí và cấp học bổng?). Chưa nói DTHP hiến định cả những quyền tình cảm không thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật, như Điều 39 “Nam nữ có quyền kết hôn và ly hôn” (chẳng nhẽ ai ế, nhà nước phải có trách nhiệm mai mối cho họ kết hôn?); hay điều chỉnh cả công dân nước khác, khi Điều 19 hiến định Việt kiều với quá nửa đã thôi quốc tịch Việt Nam “là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam” và chỉ thuộc phạm trù tình cảm cội nguồn không thể chế tài.

Hệ luỵ nguy hại ở chỗ, do không chứa đựng đầy đủ ba thuộc tính cần có của khái niệm quyền cơ bản, nên quyền con người dù có ghi vào hiến pháp vẫn không hề thay đổi bản chất, tức thiếu tính pháp lý khả thi, làm mất thuộc tính tối thượng vốn có của hiến pháp, trở thành một bản tuyên ngôn, mất giá trị sử dụng khi ban hành! Có thể tham khảo trường hợp EU hiện cũng đang soạn thảo bổ sung Hiến pháp quyền cơ bản “có tài khoản ngân hàng”, dự kiến thông qua tháng 6.2013. Để bổ sung điều khoản đó, họ phải dựa trên kết quả điều tra thực tế, hiện có 30 triệu công dân EU không có tài khoản do thiếu tiền trả lệ phí, phải chịu thiệt thòi không tiếp cận được Internet, ký hợp đồng điện thoại, hay thuê nhà, tất cả đều đòi điều kiện phải có số tài khoản; từ đó dự toán sẵn quỹ tài chính để miễn lệ phí tài khoản, bảo đảm quyền có tài khoản một khi đã hiến định là được thực thi.

Hiến định quyền cơ bản, vì vậy, khâu đầu tiên hoàn toàn không nằm ở câu chữ mà ở chỗ: 1- phải xác định được chính xác ý nguyện thực tế của người dân, 2- dự liệu được tiền đề để chế tài trách nhiệm thực thi của bộ máy nhà nước vốn đóng vai trò công bộc chứ không phải cai trị – hai yếu tố quyết định cả sức sống trường tồn lẫn vai trò tối thượng của hiến pháp.

N.S.P.

* Trên đây là một phản hồi của TS Nguyễn Sĩ Phương, trong bài “Trước hết Hiến pháp phải quy định cái gì?” của GSTS  Nguyễn Đăng Dung, chúng tôi xin đăng lên thành một bài và đặt tựa theo tinh thần bài viết.

** Bao nhiêu ý dân thì đủ? (pro&contra)

TIN CHẤN ĐỘNG: NHÀ VĂN Y BAN NÓI RÕ SỰ NGẬM MÁU PHUN NGƯỜI CỦA MỘT PHÓ CHỦ TỊCH, MỘT UV BCH HỘI NHÀ VĂN VN VÀ “THƯ NGỎ GỬI NHỮNG CON NGƯỜI TỬ TẾ” – VC+

29 Th1

TIN CHẤN ĐỘNG: NHÀ VĂN Y BAN NÓI RÕ SỰ NGẬM MÁU PHUN NGƯỜI CỦA MỘT PHÓ CHỦ TỊCH, MỘT UV BCH HỘI NHÀ VĂN VN VÀ “THƯ NGỎ GỬI NHỮNG CON NGƯỜI TỬ TẾ”

 
Nay tôi xin nói rõ quan điểm của tôi về cái sự Ngậm máu phun người của hai ông trong BCH Hội Nhà văn VN khóa 8 Lê Quang Trang (Phó chủ tịch Hội) và Vũ Hồng (UV BCH) như sau:

1. Nếu Trò chơi hủy diệt cảm xúc đạo Ý tưởng cuốn tiểu thuyết Cưỡng cơn gió bấc như hai ông đưa lên trang web: Sông Cửu Long (http://www.vannghesongcuulong.org.vn/) và Nhà văn TP Hồ Chí Minh (http://nhavantphcm.com.vn/) thì điều đó đã chứng minh rằng các ông đã không chịu đọc sách. Chính các ông là thành viên ban chung khảo. Chính các ông đã bỏ phiếu cho Trò chơi hủy diệt cảm xúc để nó được bằng khen kia mà. Các ông hãy phải trả lời trước công luận về điều này.2. Trong thư ngỏ trước tôi đã đưa ra những lời cáo buộc, Hội Nhà văn VN đã ra thông báo bác bỏ, rằng đã làm đúng. Trong xã hội dân sự của chúng ta Hội Nhà văn VN hoàn toàn có quyền kiện tôi ra tòa vì nếu sự cáo buộc không đúng sự thật. Cũng như tôi, tôi sẽ kiện hai ông Lê Quang Trang và ông Vũ Hồng ra tòa nếu hai ông này cáo buộc tôi đã đạo văn.
 
Nhà văn Y Ban
 
 

(Văn chương +) Tôi là Y Ban, Hội viên Hội Nhà văn VN từ năm 1996. Trước khi đến với văn chương tôi là Giảng viên trường Cao đẳng Y Tế Nam Định và Trường ĐH Y Thái Bình. Khi tôi bỏ trường ĐH Y để đến với văn chương Bố tôi rất buồn. Bố bảo với tôi: Bố cho con ăn học một nghề tử tế, nay con từ bỏ để đến với cái nghề Mõ này. Năm đời nhà bố không có ai theo văn chương. May bố tôi,  một bác sỹ, một cựu chiến binh đã tham gia và chứng kiến chảo lửa Quảng Trị từ 1972-1975 đã mất rồi, nếu không ông sẽ đau buồn đến thế nào?

Trong lá thư ngỏ trước tôi đã viết: Sau lại thấy may, vì trong quá khứ chẳng đã có đòn của đồng nghiệp mà chết cả đời người lẫn đời văn đó sao. Hiện tại tôi đang phải hứng chịu cái đòn như vậy. Nhưng tôi sẽ rũ bùn đứng dậy chói lòa vì Sự Tử Tế vẫn còn hiện diện xung quanh chúng ta. Và Sự Tử Tế đó đang bao bọc lấy tôi để không một sự Ngậm máu phun người nào làm tổn hại đến tôi. Tôi xin cúi đầu Tri Ân Sự Tử Tế.
Nay tôi xin nói rõ quan điểm của tôi về cái sự Ngậm máu phun người của hai ông trong BCH Hội Nhà văn VN khóa 8 Lê Quang Trang (Phó chủ tịch Hội) và Vũ Hồng (UV BCH) như sau:
1. Nếu Trò chơi hủy diệt cảm xúc đạo Ý tưởng cuốn tiểu thuyết Cưỡng cơn gió bấc như hai ông đưa lên trang web: Sông Cửu Long (http://www.vannghesongcuulong.org.vn/) và Nhà văn TP Hồ Chí Minh (http://nhavantphcm.com.vn/) thì điều đó đã chứng minh rằng các ông đã không chịu đọc sách. Chính các ông là thành viên ban chung khảo. Chính các ông đã bỏ phiếu cho Trò chơi hủy diệt cảm xúc để nó được bằng khen kia mà. Các ông hãy phải trả lời trước công luận về điều này.
2. Trong thư ngỏ trước tôi đã đưa ra những lời cáo buộc, Hội Nhà văn VN đã ra thông báo bác bỏ, rằng đã làm đúng. Trong xã hội dân sự của chúng ta Hội Nhà văn VN hoàn toàn có quyền kiện tôi ra tòa vì nếu sự cáo buộc không đúng sự thật. Cũng như tôi, tôi sẽ kiện hai ông Lê Quang Trang và ông Vũ Hồng ra tòa nếu hai ông này cáo buộc tôi đã đạo văn.
3. Tôi có lời kêu gọi Sự Tử Tế ở quanh tôi. Xin các người hãy hành động. Hãy đọc Trò chơi hủy diệt cảm xúc. Hãy chỉ ra nó có đạo văn hay không? Những tác phẩm của tôi đã ra mắt bạn đọc, có thể hay có thể không hay nhưng tuyệt đối nó là những sáng tạo của tôi.
Tôi không bao giờ mượn ý tưởng của người khác. Với trò bẩn ngậm máu phun người của hai ông Lê Quang Trang và Vũ Hồng và của một số người khác nữa, bịa ra những tin nhắn nặc danh rồi nhắn cho nhau, họ không chỉ vấy máu bẩn lên tôi mà còn vấy bẩn lên cả nền văn học đương đại.
Họ đánh đồng vào một cái gọi là rọ chung gọi là ăn cắp. Trong khi không bao giờ tôi là người ăn cắp. Vì cái sự bôi bẩn này tôi sẽ chiến đấu đến cùng.
Trong một truyện ngắn có tên là Danh Dự tôi đã viết: Mất danh dự là mất tất cả.
Hà Nội, ngày 27/1/2013
“Với 15 cái mũi vô cùng thính nhạy của các vị Ủy viên chấp hành, cộng với mấy chục vị trong các hội đồng chuyên môn cùng hè nhau ngửi văn cuốn sách trên của bà Y Ban, chắc chắn sẽ ngửi thấy sự đạo văn cho coi.
 
Nhà PBVH Trần Mạnh Hảo

Trần Mạnh Hảo tôi có cái mũi hơi bị điếc mùi, sáng sớm nay cũng tìm được cuốn: “Trò chơi hủy diệt cảm xúc” của Y Ban đem về nhà ngửi tít cò bợ mà chưa thấy mùi đạo văn đạo thơ gì sất. Chỉ thấy văn của Y Ban đọc khá hấp dẫn, ít ra là hấp dẫn bằng mấy lần thứ văn xuôi nước ốc được giải thưởng Hồ Chí Minh của bác Lê Văn Thảo, bác Hồ Phương… vừa đây.

Hi vọng hội ngửi nhà ta sẽ ngửi ra mùi đạo văn của Y Ban. Phen này thì Y Ban có thể chạy lên trời, một nữ nhi quần hồng hơi bị phổi bò đang bị Hội ngửi xông vào ngửi phì phò như bễ lò rèn, sớm muộn gì cũng tòi ra tội đạo văn thôi em ơi. Tôi có ý kiến là nếu tìm ra tội đạo văn của Y Ban, xin cứ làm gương khai trừ khỏi Hội cho bà này hết dám vuốt râu hùm.
Theo quan bác Vũ Hồng, hình như nghe trong gió nói cuốn sách của bà trời gầm đất lở này dám dỡn với Hội nhà văn, coi các văn tài lãnh đạo Hội cỡ giải Nobel Hoàng Quang Thuận chỉ bằng con dế đang có vấn đề đạo ý tưởng hay style (phong cách) của Daniel Glattauer gì gì đó…
Trời, hoang đường thay là tội đạo ý tưởng, đạo phong cách trong văn chương. Xin mách nhỏ với quan bác chấp hành chấp tỏi Vũ Hồng nhé, nếu trong gió nói như thế thì tất cả các văn hào từ ông Dox, ông Lep, ông Vic, ông Bal…đều mắc tội đạo văn cả…hà cứ gì chỉ một mình Y Ban?… Hay là trong gió, (vì ngửi văn xem có đạo hay không đạo phải ngửi qua gió) rằng Y Ban đạo lối viết văn bằng các lá thư trao qua đổi lại, mà là thư online. Nếu vậy, sẽ có hàng chục kiệt tác viết kiểu này chắc cũng đạo văn nốt?
Dù sao, chúng tôi cũng đánh giá cao công sức và tinh thần tìm diệt bọn đạo văn (cả đạo thơ nữa nhé) của ỦY VIÊN BAN CHẤP HÀNH Vũ Hồng …thể hiện rõ quyết tâm làm trong sạch văn đàn của ban lãnh đạo hội thật đáng hoan nghênh. Đợt đầu ra quân, xin hàng chục NHÀ NGỬI HỌC của hội gồm toàn những bậc nam nhi oai vệ đang bí mật bao vây một kẻ quần hồng yếu đuối viết văn, quyết tìm ra tội đạo văn, nhớ đừng để cho bà ta chạy thoát…”.
 

LỜI KÊU GỌI THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI THEO HIẾN PHÁP TẠI VIỆT NAM – Bauxite

28 Th12

BoxitVN *

LỜI KÊU GỌI THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI THEO HIẾN PHÁP TẠI VIỆT NAM

28-12-2012

Chúng tôi, những người Việt Nam ký tên dưới đây kêu gọi chính quyền và toàn thể nhân dân thực thi những quyền con người đã được Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam và những Công ước quốc tế mà Việt Nam tham gia ghi nhận và bảo đảm. Trong những quyền đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo Điều 69 Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi bổ sung năm 2001) và theo Điều 19, Điều 21, Điều 22 về những quyền dân sự và chính trị trong Công ước quốc tế mà Việt Nam gia nhập năm 1982.

Trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh những quyền con người phổ quát được ghi trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791, khẳng định “đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

Trên tinh thần đó, chúng tôi yêu cầu Quốc hội Việt Nam hủy bỏ Điều 88 Bộ luật Hình sự (BLHS) Việt Nam về “tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam”và Nghị định 38/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/3/2005 “quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng”.

Điều 88 BLHS quy định một cách mù mờ về tội danh tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam, thực chất là bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận đã được Hiến pháp Việt Nam và Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị ghi nhận và bảo đảm. Việc người dân phản biện, phê phán Nhà nước, kiến nghị về luật pháp về chính sách, về bộ máy nhà nước… là những việc làm cần thiết và thường xuyên trong một nhà nước dân chủ, để xã hội tiến bộ. Nhưng với Điều 88 BLHS, công dân có bất cứ hành vi nào như vậy cũng có thể bị trừng trị. Nhiều công dân Việt Nam đã và đang bị khởi tố, truy tố, xét xử, bị án tù về tội danh này, khiến cho lòng dân bất bình, thế giới chê trách việc thực hiện nhân quyền ở Việt Nam.

Nghị định 38/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 18/3/2005 thực chất là một nghị định cấm biểu tình được ban hành trái thẩm quyền và có nội dung vi hiến. Theo các điều 50, 51 Hiến pháp 1992 (được sửa đổi bổ sung năm 2001), quyền con người, quyền của công dân là do Hiến pháp và luật quy định, tức do Quốc hội quy định. Chính phủ không có quyền quy định những quyền đó, càng không có quyền hạn chế, ngăn cản, thậm chí cấm những quyền đó. Ngay sau khi tuyên bố độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 31 ngày 13/9/1945, trong đó đã khẳng định biểu tình là quyền cơ bản trong một chế độ dân chủ, công dân chỉ cần thông báo cho chính quyền địa phương trước khi tiến hành biểu tình. Đến nay sắc lệnh này chưa có luật nào hủy bỏ, mặc nhiên vẫn còn giá trị pháp lý. Nghị định 38 nêu trên vừa trái sắc lệnh này, vừa trái các quy định của Hiến pháp hiện hành và Công ước quốc tế về những quyền dân sự và chính trị, nên phải được hủy bỏ ngay lập tức.

Chúng tôi kêu gọi toàn thể đồng bào yêu cầu chính quyền các cấp phải bảo đảm thực hiện đúng các quyền con người của công dân đã được ghi trong Hiến pháp Việt Nam và các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Chúng tôi đề nghị các luật sư, luật gia, giảng viên luật hãy giải thích sâu rộng quyền con người của công dân cho đồng bào, cho chính quyền, cho những lực lượng như công an, quân đội, dân phòng, cho các tổ chức thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam… để mọi công dân Việt Nam được hưởng những quyền con người như những dân tộc khác trên thế giới, để những giới chức Việt Nam tôn trọng và bảo đảm quyền con người cho đồng bào mình.

Chúng tôi kêu gọi cán bộ, công chức, sĩ quan, chiến sĩ trong các cơ quan chức năng của Việt Nam tôn trọng và bảo đảm các quyền con người theo Hiến pháp Việt nam và Công ước quốc tế, không mù quáng tuân theo mệnh lệnh vi phạm quyền con người.

Thực thi và đảm bảo quyền con người tại Việt Nam là điều kiện không thể thiếu để xây dựng một nước Việt Nam “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”, có vị thế xứng đáng trên thế giới. Đó cũng là cách hiệu quả nhất để thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, như ý nguyện của toàn thể đồng bào.

Để thực thi những quyền này, trước hết Quốc hội hãy hủy bỏ Điều 88 BLHS và Nghị định 38/NĐ-CP/2005, yêu cầu Chính quyền trả tự do cho tất cả những tù nhân công khai bày tỏ chính kiến của mình một cách ôn hòa mà đã bị quy vào tội danh theo Điều 88 BLHS.

Một lần nữa chúng tôi kêu gọi toàn thể đồng bào quyết thực thi những quyền cơ bản của con người và buộc Chính quyền phải tôn trọng và bảo đảm những quyền đó. Để thể hiện sự hưởng ứng, chúng tôi mong đồng bào trong và ngoài nước tích cực tham gia và vận động ký tên vào Lời kêu gọi này.

Chúng tôi tin tưởng rằng cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam giành quyền con người ngày càng được nhân dân thế giới đồng tình và ủng hộ.

Ngày 25 tháng 12 năm 2012

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI KÝ TÊN VÀO

“LỜI KÊU GỌI THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI TẠI VIỆT NAM”

(83 người ký)

H1

H2

Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975

H3

Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Phó Giám đốc Tổng công ty Du lịch Thành phố (Saigontourist)

H4

Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh)

H5

Hồ Ngọc Nhuận, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Giám đốc chính trị nhật báo Tin Sáng

H6

Hồ Ngọc Cứ, luật gia, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên Phó Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Dân chủ và Pháp luật của Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

H7

Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh

H8

Nguyên Ngọc, nhà văn, Hội An

H9

Nguyễn Thế Hùng, GS TS, Trường Đại học Bách khoa, Phó Chủ tịch Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam, Đà Nẵng

H10

André Menras – Hồ Cương Quyết, Chủ tịch Hiệp hội trao đổi sư phạm Pháp – Việt (ADEP), Pháp

H11

Phạm Đình Trọng, nhà văn, TP HCM

H12

Thái Văn Cầu, chuyên gia Khoa học Không gian, Hoa Kỳ

H13

Tô Lê Sơn, kỹ sư, TP HCM

H1

Hà Sĩ Phu, TS, Đà Lạt

H15Bùi Minh Quốc, nhà thơ, cán bộ Cựu kháng chiến, nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Lâm Đồng, Đà Lạt

H16

Hiền Thục, nghệ nhân mỹ thuật ứng dụng, nhà báo, nguyên phóng viên, biên tập viên Đài Phát thanh – Truyền hình Lâm Đồng, Đà Lạt

H17

Trần Minh Thảo, Đà Lạt

H18

Lê Thân, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên cán bộ phong trào đấu tranh của nhân dân, sinh viên, học sinh tranh thủ dân chủ Thành phố Đà Lạt, TP HCM

H19

Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, TP HCM

H20

H2

H21

Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Giám đốc Làng Du lịch Bình Quới,TP HCM

H22

Kha Lương Ngãi, nguyên phó Tông biên tập báo Sài Gòn Giải Phóng

H23

Nguyễn Trọng Huấn, KTS, nguyên Tổng biên tập báo Kiến trúc và Đời sống

H24

Tống Văn Công, nguyên Tổng biên tập báo Lao động

H25

Nguyễn Duy, nhà thơ, TP HCM

H26

H27

Nguyễn Thị Khánh Trâm, nghiên cứu viên, Phân viện Văn hóa Nghệ thuật, TP HCM

H28

Trần Hải, kỹ sư, TP HCM

H29

Lê Văn Tâm, TS, nguyên Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Nhật Bản

H30

Nguyễn Viện, nhà văn, TP HCM

H31

H32

Vũ Thị Phương Anh, công dân Việt Nam, TP HCM

H33

Nguyễn Quốc Vũ, Cộng hòa Czech

H34

Nguyễn Mạnh Cường, doanh nhân, Cộng hòa Czech

H0

Phạm Văn Đỉnh, TSKH, Pháp

H00

Phạm Hữu Uyển, Cộng hòa Czech

H36

Bùi Tiến An, cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên cán bộ Ban Dân vận Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên Chủ tịch Lực lượng Phụng sự Lao động (trước 1975)

H37

Vũ Quang Việt, TS, nguyên chuyên gia kinh tế Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ

H38

Nguyễn Bá Thuận, chuyên gia vận trù và dự báo, Đan Mạch

H39

Lưu Trọng Văn, nhà báo,TP HCM

H45

Đào Duy Chữ, TS, TP HCM

H40

Phạm Gia Minh, nhà báo, Hà Nội

H41

Nguyễn Thanh Giang, TS, Hà Nội

H44

Nguyễn Trác Chi, hành nghề tự do, TP HCM

Để ký tên vào Lời kêu gọi này, xin đồng bào trong và ngoài nước gửi e-mail về địa chỉ loikeugoi2012@gmail.com, ghi rõ họ tên, nghề nghiệp, chức danh (nếu có) và địa chỉ.

Nguồn: BoxitVN

* Các văn bản tham chiếu:

Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001).

Bộ luật Hình sự.

Nghị định 38/2005/NĐ-CP.

Sắc lệnh số 31.

Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị.

Like this:

One blogger likes this.
%d bloggers like this: