Tag Archives: Đài Loan

Hoàn Cầu: Bắc Kinh sẽ vũ trang cho các thế lực chống Mỹ nếu Trump “manh động” với Đài Loan – Soha

14 Th12

Ngọc Anh | 12/12/2016 19:37

Hoàn Cầu: Bắc Kinh sẽ vũ trang cho các thế lực chống Mỹ nếu Trump "manh động" với Đài Loan

Báo chí chính thống của Trung Quốc phát đi thông điệp rằng nước này có thể dùng biện pháp quân sự để tiếp quản Đài Loan, thay vì “thống nhất hòa bình”.

Tiếp tục lên tiếng sau cuộc điện đàm với lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn hôm 2/12, Tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump nói với Fox News rằng “không có ràng buộc” nào để phải thừa nhận chính sách “Một Trung Quốc”, và ông “không muốn bị Trung Quốc chỉ huy”.

Phía Trung Quốc đã lên tiếng phản đối các phát ngôn của Trump. Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói “hết sức quan ngại” và chỉ ra vấn đề Đài Loan là nền tảng chính trị cho quan hệ Trung-Mỹ, đồng thời cảnh báo quan hệ song phương “không còn gì để nói” nếu chính sách “Một Trung Quốc” bị Mỹ làm tổn hại.

Trong khi đó, truyền thông nhà nước Trung Quốc đã phát đi lời đe dọa vũ trang cho các lực lượng chống Mỹ và thậm chí tấn công quân sự Đài Loan.

Tờ Thời báo Hoàn Cầu, thuộc chủ quản của báo đảng Trung Quốc Nhân dân Nhật báo, ngày 12/12 cảnh báo:

“Trung Quốc sẽ tiếp quản Đài Loan bằng vũ lực, thay vì ‘thống nhất hòa bình’, nếu Trump từ bỏ chính sách ‘Một Trung Quốc’. Các lãnh đạo Đài Loan sau đó sẽ phải hối tiếc khi trở thành một món đồ mặc cả của Trump, một viên gạch đệm để Mỹ tiến tới thay đổi chính sách. Một ngày nào đó, có lẽ chính bà Thái Anh Văn sẽ từ chối nghe điện đàm của Trump”.

Tờ báo “diều hâu” của Trung Quốc cũng dẫn lời một học giả uy tín trong nước có những lời lẽ gay gắt về cá nhân ông Trump.

“Ông ta là một doanh nhân thông minh nhưng lại mù mờ như một đứa trẻ và thiếu nhạy cảm trong vấn đề chính trị, đặc biệt rất ‘nông cạn’ trong vấn đề Đài Loan.

Ông ta không hiểu rằng ‘Một Trung Quốc’ không phải là một chính sách có thể đem ra thương lượng và mặc cả” – Giáo sư Học viện ngoại giao Trung Quốc, ông Lý Hải Đông nói.

 

theo Trí Thức Trẻ

 

Tranh cãi về cuộc điện đàm giữa Trump và lãnh đạo Đài Loan – VNE

7 Th12

 

Bản thân cuộc điện đàm giữa tổng thống đắc cử Mỹ và lãnh đạo Đài Loan không phải vấn đề mà việc biến nó thành chuyện của công chúng mới là căn nguyên gây ra rắc rối, chuyên gia nhận định.

tranh-cai-ve-cuoc-dien-dam-giua-trump-va-lanh-dao-dai-loan

Tổng thống đắc cử Donald Trump hôm 2/12 có cuộc điện đàm 10 phút với nhà lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn. Ảnh: Wall Street Journal

Động cơ của Tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump đằng sau cuộc điện đàm cùng lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn đến nay vẫn là điều bí ẩn. Một số thành viên đảng Cộng hòa đang ca ngợi hành động này như một bước đột phá mới mẻ, phá vỡ những nghi thức ngoại giao có từ thời tổng thống Mỹ Richard M. Nixon, đồng thời đặt nền móng cho một mối quan hệ “lành mạnh” hơn với Trung Quốc. Tuy nhiên, cũng có những ý kiến trái chiều cho rằng nước đi trên là một sai lầm, sẽ chỉ khiến quan hệ Mỹ – Trung rơi vào ảm đạm và Đài Loan ngày càng trở nên cô lập, theo New York Times.

Giới chuyên gia hiện bị chia rẽ giữa hai luồng ý kiến: Liệu cuộc điện đàm là khởi đầu cho một chính sách được ông Trump tính toán kỹ lưỡng hay đây chỉ là một hành động ngẫu hứng.

Ca tụng và chỉ trích

Hiện tại, các thông điệp mà tỷ phú Mỹ cũng như những người đại diện ông đưa ra tương đối nhiễu loạn. Phó tổng thống đắc cử Mỹ Mike Pence hôm 4/12 khẳng định mọi người đang suy diễn thái quá về cuộc điện đàm giữa ông Trump và bà Thái. Ông Trump chỉ đơn thuần nhận lời chúc mừng từ lãnh đạo Đài Loan.

Song một số cố vấn cho nhà tài phiệt New York trong quá trình chuyển giao quyền lực lại nói ông Trump biết chính xác mình đang làm gì.

Tổng thống đắc cử Mỹ, như thường lệ, không có bất kỳ động thái nào để xoa dịu căng thẳng bắt nguồn từ cuộc điện đàm gây tranh cãi. Một chuỗi các bình luận mang sắc thái chỉ trích ông đăng tải trên mạng xã hội Twitter hồi cuối tuần qua về chính sách thương mại và quân sự Trung Quốc tiếp tục làm dấy lên những phân vân trước câu hỏi liệu ông có thực sự muốn cải thiện quan hệ với Bắc Kinh hay không.

Những người trong bộ máy của ông Trump cho rằng việc mở một kênh đối thoại chính thức giữa Mỹ và Đài Loan là cách tốt nhất để gia tăng áp lực lên Trung Quốc. Các đảng viên Cộng hòa đang được cân nhắc cho những vị trí cấp cao thuộc chính quyền Donald Trump ca ngợi đây như một chiến lược khôn ngoan nhằm biến Đài Loan thành quân bài lợi thế trong cuộc chơi địa chính trị với Trung Quốc.

Trung Quốc vốn coi Đài Loan là một tỉnh ly khai và cần thống nhất, kể cả bằng vũ lực.

Trump là tổng thống Mỹ đầu tiên kể từ năm 1972 “mang đến cơ hội làm tươi mới lại mối quan hệ xuyên eo biển”, Jon M. Huntsman Jr., người từng đảm nhận chức vụ đại sứ Mỹ tại Trung Quốc dưới thời Tổng thống Barack Obama, bình luận.

Huntsman cùng với John R. Bolton, cựu đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Quốc dưới thời tổng thống George W. Bush, hiện là hai ứng viên sáng giá cho vị trí ngoại trưởng Mỹ trong chính quyền Donald Trump.

Bản thân nhà tài phiệt New York cũng tỏ ra không quan tâm tới lời gợi ý rằng ông cần Trung Quốc chấp thuận nếu muốn nói chuyện với bà Thái.

“Trung Quốc có hỏi chúng ta về việc định giá thấp đồng tiền của họ (khiến các công ty Mỹ khó cạnh tranh hơn), đánh thuế nặng với sản phẩm của chúng ta tại nước họ (Mỹ không đánh thuế họ)” hay xây một khu phức hợp quân sự lớn giữa Biển Đông, Donald Trump viết trên Twitter cá nhân ngày 4/12. “Tôi không nghĩ vậy!”.

Sau vài phản ứng ban đầu được đánh giá là khá nhẹ nhàng, Trung Quốc đang dần cho thấy một thái độ cứng rắn hơn trước phong cách ngoại giao có phần “phóng túng” của ông Trump, cây bút Mark Landler và Jane Perlez từ New York Times nhận định.

Trong một bài xã luận đăng trên trang nhất tờ People’s Daily phiên bản nước ngoài, Trung Quốc cảnh báo “việc gây trở ngại cho mối quan hệ Mỹ – Trung cũng là gây trở ngại cho chính nước Mỹ” và rằng việc lợi dụng Đài Loan để thúc ép Trung Quốc “sẽ giảm thiểu đáng kể cơ hội hiện thực hóa mục tiêu biến nước Mỹ vĩ đại trở lại”, câu khẩu hiệu quen thuộc ông Trump đưa ra suốt quá trình tranh cử.

Theo giới quan sát, bằng cách công kích chính sách thương mại và an ninh Trung Quốc, Trump dường như muốn tái khẳng định cam kết duy trì một lập trường cứng rắn hơn đối với Bắc Kinh trên nhiều lĩnh vực khác nhau, đồng thời dập tắt những hy vọng nhen nhóm ở Trung Quốc về việc nhà tài phiệt Mỹ sẽ rút lại những tuyên bố hùng hồn mà ông đưa ra suốt chiến dịch tranh cử tổng thống.

Các nhóm ủng hộ Đài Loan ở Mỹ trong khi đó khen ngợi cuộc điện đàm là một bước tiến nhằm tái cân bằng mối quan hệ ba bên giữa Washington, Bắc Kinh và Đài Bắc, song nhấn mạnh nó không nhất thiết phải kích động một cuộc đối đầu giữa Mỹ với Trung Quốc.

“Thật vô lý khi nhắc đến ý tưởng gây chiến với Trung Quốc để bảo vệ Đài Loan cũng như việc các nhà lãnh đạo của chúng ta không thể nói chuyện với nhau”, Randall Schriver, giám đốc điều hành Dự án 2049, một viện chính sách ở Washington ủng hộ mối quan hệ gần gũi giữa Mỹ và Đài Loan, nhận xét.

Thế khó của Trung Quốc

tranh-cai-ve-cuoc-dien-dam-giua-trump-va-lanh-dao-dai-loan-1

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình. Ảnh: Reuters

Các học giả về Trung Quốc khác cho hay họ nhìn thấy những giá trị nhất định trong mong muốn của ông Trump nhằm cân nhắc lại những giao thức ngoại giao cũ. Tuy nhiên, theo một số nhà phân tích, tổng thống đắc cử Mỹ không cần thiết phải tiếp tục làm gia tăng căng thẳng thông qua việc ca tụng cuộc điện đàm cũng như bảo vệ nó bằng hàng loạt dòng bình luận trên Twitter.

“Bản thân cuộc điện đàm không phải vấn đề mà việc biến nó thành chuyện của công chúng mới là vấn đề”, Shelley Rigger, giáo sư khoa học chính trị chuyên nghiên cứu về Đài Loan tại Đại học Davidson, Mỹ, nhận định.

Theo Rigger, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chắc chắn sẽ bị đưa vào thế khó. Nếu phản ứng kém gay gắt, ông có thể phải đối mặt với làn sóng phản đối từ trong nước, nhưng nếu làm quá căng, ông lại đối diện nguy cơ đẩy mối quan hệ Mỹ – Trung rơi xuống hố sâu khó lòng cứu vãn. Phản ứng ban đầu từ chính quyền Trung Quốc trước cuộc điện đàm đã phải hứng chịu nhiều ý kiến chỉ trích trên các trang mạng xã hội ở nước này vì không đủ quyết liệt.

Bình luận về cuộc điện đàm, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị hôm 3/12 né tránh đổ lỗi cho ông Trump, nhấn mạnh đây là “thủ đoạn thấp hèn” của Đài Loan. Chuyên gia coi đây như một động thái nhằm xoa dịu căng thẳng. Song, những dòng tweet ông Trump đăng tải cuối tuần qua đã một lần nữa khiến áp lực đè nặng lên giới lãnh đạo Trung Quốc.

Theo James E. Fanell, cựu giám đốc phụ trách tình báo và thông tin cho Hạm đội Thái Bình Dương, Mỹ, hành động và lời nói của ông Trump vừa “khiến Bắc Kinh nổi giận” vừa như lời nhắc nhở các quốc gia ở châu Á – Thái Bình Dương rằng “chính quyền Mỹ mới sẽ không bị ràng buộc bởi quá khứ”.

Xem thêm: Báo Trung Quốc chê Trump non kém vì điện đàm với Đài Loan

Vũ Hoàng

Trung Quốc cùng Đài Loan lập mưu hợp thức hóa đường lưỡi bò

12 Th10

 

(Quốc tế) – Trước nguy cơ đường lưỡi bò sẽ bị Tòa Trọng tài Thường trực Quốc tế The Hague, Hà Lan xem là bất hợp pháp, Trung Quốc cùng Đài Loan lập mưu hợp thức hóa đường lưỡi bò bằng một cuộc hội thảo kín về Biển Đông tại Đài Bắc vào ngày 7-8.10 giữa các học giả Trung Quốc và Đài Loan.

 
 

Trung Quoc cung Dai Loan lap muu hop thuc hoa duong luoi bo

Đảo Ba Bình đang bị Đài Loan chiếm đóng trái phép

Tờ Want China Times của Đài Loan ngày 11.10 đưa tin, các học giả Trung Quốc đã sang Đài Loan để tìm cách hợp tác với các học giả đảo này trong việc “giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông”. Nhóm học giả Trung Quốc đã tham gia một hội thảo kín về Biển Đông tại Đài Bắc vào ngày 7- 8.10 bàn về vụ kiện đường lưỡi bò do Philippines khởi xướng.

Mưu hợp tác nhằm hợp tác hợp thức hóa đường lưỡi bò

Sáng kiến cùng nhau hợp tác bàn thảo về Biển Đông của các học giả Trung Quốc và Đài Loan được đưa ra khi Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) tại The Hague, Hà Lan dự kiến sẽ đưa ra phán quyết đầu tiên của mình trong vụ kiện của Philippines chống lại các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông trong vài tuần tới.

Phán quyết của tòa án Hague có thể là một đòn giáng mạnh vào yêu sách chủ quyền vô lý và phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông.

Tòa Trọng tài Thường trực sẽ ra phán quyết về tính hợp pháp của đường chín đoạn, còn gọi là đường lưỡi bò mà Trung Quốc yêu sách ở Biển Đông theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) mà cả Philippines và Trung Quốc là thành viên đã phê chuẩn.

Hội thảo kín tại Đài Bắc có sự tham dự của một số học giả hai bờ eo biển Đài Loan và một số quốc gia khác nhằm tìm cách hợp tác giữa Bắc Kinh và Đài Bắc để đối phó với phán quyết của Tòa có thể bất lợi cho yêu sách của cả Trung Quốc lẫn Đài Loan ở Biển Đông.

Đường lưỡi bò mà Trung Quốc đưa ra nhằm khẳng định cái gọi là chủ quyền “lịch sử” phi lý và phi pháp đối với gần như toàn bộ Biển Đông và một số thực thể ở Biển Đông mà họ gọi là đảo.

Nhưng nếu tòa thấy rằng ngay cả đảo Ba Bình, một thực thể tự nhiên lớn nhất trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam, đang bị Đài Loan chiếm đóng bất hợp pháp cũng không đủ điều kiện để có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của đảo tự nhiên theo UNCLOS, thì phán quyết của tòa có thể phá vỡ cả yêu sách chủ quyền của cả Đài Bắc lẫn Bắc Kinh. Điều này khiến Trung Quốc cùng Đài Loan phải lập mưu hợp thức hóa đường lưỡi bò nhằm bảo vệ lập trường lãnh thổ phi lý của chính mình.

Tung tiền mời học giả, mưu dùng tiền đè bẹp công lý

Để kế hoạch bành trướng chiếm trọn biển Đông của mình thành công, Trung Quốc không từ một thủ đoạn nào, từ việc “giả lơ” không đáp ứngi yêu cầu của Tòa án Hague đến tăng tốc xây dựng các đảo nhân tạo phi pháp trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà Bắc Kinh chiếm đóng trái phép…

Bắc Kinh còn có kế hoạch tung tiền mời các học giả Đài Loan và một số quốc gia, vùng lãnh thổ khác nghiên cứu yêu sách Trung Quốc ở Biển Đông. Chính phủ Trung Quốc đã bơm rất nhiều tiền cho đại học Nam Kinh để nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến Biển Đông.

Với quỹ mới được rót, đại học Nam Kinh đã thành lập Trung tâm nghiên cứu Biển Đông mới. Chu Phong, một giáo sư từ đại học Bắc Kinh được nhắm trao cho vị trí Giám đốc Trung tâm này, Ngô Sĩ Tồn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biển Đông của tỉnh Hải Nam đã được bổ nhiệm là Phó giám đốc Trung tâm.

Đường lưỡi bò phi lý được hình thành như thế nào

Đường chữ U, còn được gọi là đường 9 đoạn hay “lưỡi bò” là đường ranh giới được Trung Quốc đơn phương đưa ra để đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ ở vùng Biển Đông.

Tấm bản đồ với các ranh giới trên biển đã được chính quyền Quốc Dân Đảng cầm quyền tại Trung Quốc vẽ ra từ trước khi họ phải chạy tới đảo Đài Loan vào năm 1949, nhưng hầu như không được nhắc đến trong một thời gian dài. Thế nhưng, vào tháng 5.2009, trong một văn kiện chuyển cho Liên Hiệp Quốc, Bắc Kinh đã đơn phương sử dụng tấm bản đồ này để khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên hầu như toàn bộ Biển Đông.

Từ đó đến nay, tấm bản đồ hình lưỡi bò đã bị hầu hết giới nghiên cứu trên thế giới khẳng định không có cơ sở pháp lý, không phù hợp với UNCLOS mà chính Trung Quốc đã ký kết. Trước những lời phê phán kể trên, phía Trung Quốc đã không có lời giải thích thỏa đáng, mà chỉ viện dẫn “chủ quyền lịch sử” để bảo vệ quan điểm của mình.

(Theo Một Thế Giới)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi vềbanbientap@nguyentandung.org

VĂN HÓA THỜI ĐẠI LOẠN: ĐẦU NĂM CHẾT SẶC VÌ CƯỜI:…

9 Th3

Thụy Kha giáng bút trường ca ngắn & kịch thơ;

Vũ Khiêu giáng bút hoa hậu và quán cơm.

Vì sao Thụy Kha 2/15 phiếu vẫn chui được vào giải thưởng Quốc gia của Hội Nhà văn? Độc giả có quyền đặt câu hỏi :”Có phải các thế lực thù địch phản động hải ngoại đã chi tiền cho Kha mua Ban GK, BCH Hội NV để đưa thơ dở, thơ vô cảm, thơ vô hồn của Kha vào hòng bôi bác nền văn học cách mạng chói ngời không? Câu hỏi này, chỉ BGK, BCH Hội NV mới đủ thẩm quyền trả lời. Đến nay, có thể nói không thế lực thù địch phản động nào từ bên ngoài có thể len vào phá hoại mặt trận tư tưởng văn hóa cách mạng hiệu quả bằng chính các ông được mệnh danh “công thần văn nghệ” của chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt! Cho nên, người ta có quyền nghi vấn họ chi tiền nuôi những ông thơ dở, thơ khẩu hiệu, thơ đạo văn, thơ tào lao xịt bọp, nhưng có khả năng to mồm, làm reo với Hội Nhà văn để mấy ông này “tự diễn biến”. Mấy năm trước, có ông Thanh Thảo “thi pháp gãi háng”, đem thơ cứt đái quăng lên ngôi đền Hội nhà văn, nay có thêm ông Thụy Kha đem thơ bạch cầu ung thư, phỉ báng đội quân giải phóng là quân máu trắng, hết máu trắng lại máu xanh như tắc kè.

Ông Thụy Kha chuyên đi đánh quả kiếm chác khắp 3 miền Trung Nam Bắc, chỗ này rượu thịt, chỗ kia gái gú, giao hưởng hợp xướng “tỉnh ca””ngành ca””khu ca” âm nhạc ê a tỉnh này trồng bắp cải tỉnh kia nuôi bò lai, hát dở thua anh hề xóm Hói nhưng tiền tươi thóc thật thu gom hàng trăm triệu mỗi ca khúc “tóm tắt báo cáo tổng kết”. Vì Thụy Kha lấy việc đánh quả thơ văn âm nhạc làm nghiệp chính nên tả đội quân giải phóng cứ như vô cảm: “Họ vừa chuẩn bị kíp mìn để nổ tung con tàu/ Vừa dọn ra mâm cơm thản nhiên ngồi uống rượu”.Trời đất! Cái bài học “lạc quan cách mạng” trong giáo trình hàm thụ, từ xa, anh ta đã ê a sai chỗ, đem đặt lên con tầu không số, đối mặt bom đạn còn ung dung uống rượu, cái này nói trẻ em lớp một nó còn cãi à nha. Sao Kha nỡ nào tả các chiến sĩ cảm tử như tả thân phận đánh quả của Kha nhảy vào tỉnh nọ ngành kia kiếm chác là răng hè? Thật là: “Đặt “Màu Quảng Trị” lổm ngổm câu chữ vô cảm của Thụy Kha bên cạnh “Đêm Quảng Trị” thắm  đượm của Vũ Ngàn Chi, thật giống như Thụy Kha hốt cát dơ rác bẩn vãi lên bàn thờ! Đặt tên tuổi và tác phẩm Trường ca ngắn & Kịch thơ của Nguyễn Thụy Kha bên cạnh Nguyễn Duy, Bằng Việt, Ý Nhi, Thi Hoàng, Nguyễn Mỹ, Hoàng Nhuận Cầm, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hữu Thỉnh, Trần Mạnh Hảo, Đỗ Hoàng, Lê Thị Mây, Vũ Quần Phương, Y Phương, Phạm Tiến Duật, Ngô Minh, Hoàng Vũ Thuật, …của thơ thời chống Mỹ cũng chẳng khác nào đặt em bé bị bệnh đao không trưởng thành nổi bên cạnh các đàn anh đàn chị khỏe khắn lộng lẫy từ thể chất tới tâm hồn!” Nhưng thôi, đầu năm Ất Mùi nhân đọc vannghecuocsong.com; tranmygiong, badamxoe; vonga1153; thachda.blog; thachminh v.v… và hàng chục trang Facebook của các nhà thơ, nhà văn, nhà báo cũng như công chúng yêu văn nghệ, thấy các bài: “Giải thưởng Hội Nhà văn 2014: Thêm một kỳ giải thưởng lèo lá, xú uế”; GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC MẶT TRẬN ĐÃI NGỘ NHỮNG ĐẦU GẤU HẠ CÁNH AN TOÀN (Paul NGUYỄN HOÀNG ĐỨC); Thơ đạt giải thưởng của Nguyễn Thụy Kha quá dở, quá cũ, quá lỗi thời, hô khẩu hiệu suông (Đỗ Hoàng) http://vannghecuocsong.com/vi/news/Giai-Thoai-Viet-Nam/Tho-dat-giai-thuong-cua-Nguyen-Thuy-Kha-qua-cu-qua-do-1749/; Xin chúc mừng Hội Nhà văn đã làm được công việc rất to là đã loại các tác phẩm hay ra ngoài giải thưởng (VONGA1153) ; “Sóng gió giải thưởng” (báo Tiền Phong); Cả năm văn đàn tẻ nhạt, đọc Trường ca ngắn & Kịch thơ của Nguyễn Thụy Kha bỗng chốc gặt hái được những trận cười (VŨ THỊ THU HUẾ) http://nguyennguyenbay.blogspot.com/2015/01/giai-thuong-hoi-nha-van-viet-nam-2014_28.htmlv.v…chúng tôi vừa ngậm ngùi cho thế sự chạy giải quốc doanh vừa được no nê những trận cười nghiêng ngả. Rất thấm nhận định của nhà nghiên cứu lừng danh:“Thật không ê chề nào hơn. Nguyễn Thụy Kha tự mình bôi bẩn cái thể chế mà ông ta tôn thờ bằng sự bất tài vô tướng của mình,cấu kết đổi trắng thay đen, cướp giật đánh quả, dối trá man rợ của ông ta. Cuộc chạy giải thưởng Hội Nhà văn với  sự liên kết hù dọa BGK để tặng cho tập Trường ca ngắn &Kịch thơ dưới mức dở, loạn hình thức thể loại, không quang minh chính đại, , chỉ tự tố cái tư cách thảm thương là một góc  trong hệ thống “chân dung đạo đức Nguyễn Thụy Kha”. Nếu có thực “các thế lực thù địch phản động ở hải ngoại” – như các cơ quan chức năng Việt Nam thường lên án- họ sẽ không bỏ nhỡ cơ hội gửi đô la về nuôi nấng Nguyễn Thụy Kha ăn no tắm mát sáng tác chuyên đề tài cách mạng kháng chiến! Bởi không gì bôi gio trát trấu, phủ nhận thành tựu cách mạng và thành tựu văn nghệ kháng chiến hiệu quả bằng thơ dở của Thụy Kha! Nó khiến nhân dân trong nước và kiều bào, nhất là các thế hệ đi sau, lỡ đọc phải càng giảm sút lòng tin vào thời đại đã qua, cái thời đại mà hệ thống tuyên truyền cực mạnh dày công trang điểm! Cư dân mạng đã giật tít “Chúc mừng Hội Nhà văn đã làm được công việc to tát là đã ngăn chặn được những tác phẩm hay không cho vào giải thưởng!”. Qua chuyện Trường ca ngắn & Kịch thơ của Nguyễn Thụy Kha chạy lọt giải thưởng cánh hẩu, văn giới Việt Nam như buồn ngủ gặp chiếu manh, cả năm tẻ nhạt bỗng chốc gặt hái được những trận cười!”. (https://vonga1153.wordpress.com/2015/02/03/ca-nam-van-dan-te-nhat-doc-truong-ca-ngan-kich-tho-cua-nguyen-thuy-kha-bong-choc-gat-hai-duoc-nhung-tran-cuoi/.) Đầu năm nghe các cây bút lẫy lừng bình luận về giải thưởng quốc doanh, chuyện Nguyễn Thụy Kha giáng bút Trường ca ngắn & kịch thơ làm mất uy tín văn học cách mạng, sang các trang mạng khác lại nghe GS Vũ Khiêu giáng bút hoa hậu và quán cơm, thật hết thuốc chữa! Mới thấy chuyện Lệ Rơi thành ca sĩ xôn xao; Công Phượng 19 hay 21 tuổi; ông Nội (vụ) và ông Ngoại (vụ) chảng nhau vỡ đầu ở Bình Phước cũng không nhố nhăng kệc cỡm bằng. Chẳng biết Hội Nhà văn Việt, Hội đồng Giáo sư quốc gia Việt nghĩ gì khi những chiêu trò vô văn hóa lại khởi đầu từ chốn thiêng. Nhân dân biết trông cậy vào ai. Thế hệ sau biết mong chờ vào ai? Tiền thuế nhân dân hai sương một nắng phải dành nuôi những học giả, nhà thơ báo cô, toàn sản xuất những tác phẩm tệ hại làm ô danh nền văn học nghệ thuật đến thế này sao?

kh

Facebook Bổn Đình Nguyễn

Bài do hainambo40@gmail.com gởi đến Vô Ngã

Trung Quốc dùng đảo Bình Đàn để thử nghiệm thống nhất với Đài Loan – RFI

2 Th2

 

Trung Quốc tăng thêm các chuyến tàu chở hành khách từ Bình Đàn đến Đài Loan (DR)

Trung Quốc tăng thêm các chuyến tàu chở hành khách từ Bình Đàn đến Đài Loan (DR)

Theo hãng tin AFP, Bắc Kinh vừa bổ nhiệm một công dân Đài Loan làm phó chủ tịch một ủy ban ở đảo Bình Đàn của Trung Quốc, mà trên đó có một vùng hiện đang được thử nghiệm như là « tổ quốc chung » giữa Trung Quốc với Đài Loan.

 

Đảo Bình Đàn ( Pingtan ), thuộc tỉnh Phúc Kiến, là một hòn đảo của Trung Quốc nằm gần lãnh thổ Đài Loan nhất và nay đang được biến thành mô hình của một nước Trung Hoa thống nhất. Người dân Đài Loan được mời làm việc cho chính quyền thành phố đảo này. Họ được phép lái xe biển số Đài Loan và mở các tài khoản ngân hàng bằng Đài tệ trên đảo này.

Theo nhật báo chính thức China Daily, trong nửa đầu năm 2013, kinh tế của Bình Đàn đã tăng 16% và tính đến tháng 11 năm ngoái, có đến 129 doanh nghiệp với vốn của Đài Loan đã mở cửa hàng ở Bình Đàn.

Tuy nhiên, theo nhận định của AFP, tiềm năng kinh tế của « tổ quốc chung » này chưa được thể hiện rõ, và do luật lệ ở đây vẫn do Bắc Kinh quy định, nên sẽ khó mà có một sự hội nhập về chính trị giữa Đài Loan với Trung Quốc trên đảo này.

Ủy ban Trung Hoa đại lục của Đài Loan nay tỏ vẻ dè dặt về dự án « cùng phát triển, cùng hưởng lợi » trên đảo Bình Đàn, nhưng phía Bắc Kinh thì cố thúc đẩy dự án này, với việc bổ nhiệm một công dân Đài Loan làm phó chủ tịch ủy ban quản lý vùng thử nghiệm « tổ quốc chung ».

Theo các nhà quan sát, đây là một bước có tính chất biểu tượng và cũng là một cách để tiếp nhận kinh nghiệm quản lý từ bên ngoài.

Đài Loan, Trung Quốc sẽ có những cuộc họp lịch sử – VOA

30 Th1

 

 
 
Ông Vương Uất Kỳ, Chủ nhiệm Ủy ban Hoa Lục của Đài Loan nói chuyện trong cuộc họp báo ở Đài Bắc, 28/1/14

Ông Vương Uất Kỳ, Chủ nhiệm Ủy ban Hoa Lục của Đài Loan nói chuyện trong cuộc họp báo ở Đài Bắc, 28/1/14

 
CỠ CHỮ +

28.01.2014

Một nhà lập chính sách hàng đầu của Đài Loan về các vấn đề Bắc Kinh nói ông sẽ đến Hoa Lục tháng tới để có cuộc tiếp xúc cấp cao đầu tiên giữa hai bên kể từ năm 1949.

Bộ trưởng về các vấn đề Hoa Lục ông Vương Uất Kỳ ngày hôm nay cho biết chuyến đi của ông cần thiết để định chế hóa thêm nữa các mối liên hệ Trung Quốc-Đài Loan, đã trở nên nồng ấm trong những năm qua.

Ông Vương nói với các nhà báo ở Đài Bắc hôm thứ Ba rằng chuyến đi sẽ không đề cập đến những vấn đề chính trị nhạy cảm, nhưng sẽ giúp thiết lập một cơ chế thông tin liên lạc để tránh những hiểu lầm. Ông nói thêm rằng quan hệ kinh tế sẽ là trọng tâm của cuộc họp:

“Đây đơn giản là để hiểu biết lẫn nhau hơn và kết nối Ủy ban Hoa Lục của Đài Loan và Văn phòng Đài Loan Sự vụ của Quốc vụ viện Trung Quốc, thông qua những tương tác bình thường để xúc tiến quá trình thúc đẩy kinh doanh, đây là mục tiêu chính”.

Thế nhưng một vài nhà lập pháp đối lập đã bày tỏ quan ngại về chuyến đi này.

Phản ứng đối với việc xét xử gần đây nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc Hứa Chí Vĩnh, một thành viên đối lập cấp cao Hồng Tài Long nói ông Vương nên truyền tải những điều mà người Đài Loan rất quan tâm về vấn đề nhân quyền ở Trung Quốc.

Nhà lập pháp của đảng đương quyền Lâm Đức Phúc cho rằng ông Vương nên nói chuyện với các nhà lập pháp trước chuyến đi. Ông Lâm Đức Phúc nói:

“Trước khi đi, ông ấy nên đến cơ quan lập pháp và đưa ra lời giải thích và báo cáo, tiếp nhận những đề nghị từ các đảng chính trị. Tôi nghĩ ông ấy sẽ xem xét chuyện này và hành động một cách phù hợp trong chuyến đi này.”

Ông Vương sẽ gặp người đồng nhiệm Trung Quốc, Thứ trưởng Ngoại giao Trương Chí Quân, tại thành phố Nam Kinh ở phía nam và tại Thượng Hải từ ngày 11 tháng Hai cho đến 14 tháng Hai.

Đài Loan tách rời khỏi Trung Quốc sau cuộc nội chiến vào năm 1949, nhưng Bắc Kinh vẫn xem Đài Loan như một tỉnh ly khai mà một ngày nào đó sẽ thống nhất với Hoa Lục.

Những quan hệ kinh tế đã cải thiện trong những năm gần đây, đặc biệt sau khi ông Mã Anh Cửu được xem như thân thiện với Bắc Kinh đắc cử Tổng thống vào năm 2008 và tái đắc cử vào năm 2012.

ĐÀI LOAN VỚI GIẤC MƠ THỐNG NHẤT CỦA TRUNG QUỐC – BS

30 Th10

 ĐÀI LOAN VỚI GIẤC MƠ THỐNG NHẤT CỦA TRUNG QUỐC

Posted by basamnews on October 29th, 2013

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Chủ Nhật, ngày 27/10/2013

TTXVN (New York 25/10)

Trong một bài viết đăng trên số ra mới nhất, tạp chí “Chính trị thế giới” nhận định rằng vì nhiều lý do khác nhau, Trung Quốc chưa thể thực hiện được ước mơ thu Đài Loan về một mối. Dưới đây là nội dung bài bảo: Nằm cách xa hai cực kinh tế chính của thế giới là Mỹ và Liên minh châu Âu, Đài Loan nằm ở Đông Á, và vẫn được người Bồ Đào Nha ở thế kỷ 16 gọi là “Hòn đảo xinh đẹp”. Hòn đảo này, không được hưởng nguồn tài nguyên được đánh giá cao nhất vào đầu thế kỷ 21 là dầu mỏ, hiện đang ở trong một tình thế địa chính trị ngược đời. Một mặt, điều không phải bàn cãi là các thể chế chính trị của Đài Loan đã trở nên dân chủ từ đầu những năm 1990. Nhưng mặt khác, nền dân chủ này lại hầu như không được quốc tế công nhận vì chỉ có một thiểu số Nhà nước duy trì mối quan hệ ngoại giao với hòn đảo này. Số nước cử đại sứ tới Đài Bắc ngày càng ít đi từ khi nền dân chủ tại nước này thay thế một chế độ độc tài. Nói cách khác, Đài Loan bị coi là một nền dân chủ gây khó chịu, không được quốc tế mến chuộng bằng Trung Quốc với chế độ độc đảng cầm quyền. Nằm ở Đông Á ở ngoài khơi của Trung Quốc đại lục, Đài Loan cách khá xa bờ biển của Trung Quốc, khiến cho việc giao thương với đại lục không thuận lợi. Đài Loan nghèo tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt không có dầu mỏ và khoáng sản quý. Lợi ích địa chính trị của hòn đảo này rất ít. Tuy nhiên, nếu phân tích sâu sắc hơn sẽ thấy rõ tầm quan trọng chính trị, kinh tế và chiến lược của hòn đảo này trong thế kỷ 21. Đài Loan được coi là một nước gây khó chịu, ít nhất là về mặt biểu tượng, đối với chế độ đảng cầm quyền duy nhất ở Trung Quốc đại lục từ năm 1949. Đài Loan không những là một mảnh đất bị Đảng Cộng sản Trung Quốc coi là một bộ phận của Trung Quốc, mảnh đất mà Mao Trạch Đông đã không thôn tính được, mà còn là bằng chứng cho thấy rằng một nước mà đa số dân có nguồn gốc là Trung Quốc có thể kết hợp nền dân chủ với thành công về kinh tế. Bằng sự tồn tại của chính mình, Đài Loan coi thường, một cách bất đắc dĩ, một Trung Quốc đại lục vẫn là một đế quốc tập trung hóa mà quyền lực chính trị không qua bầu cử tự do, bởi vì chỉ có bầu cử tự do mới cho phép tiến hành một sự lựa chọn dân chủ các nhà lãnh đạo địa phương và quốc gia. Vì vậy, sự tồn tại của chính Đài Loan là “không chịu nổi” đối với nước láng giềng lớn vì sự tiến triển mang tính thể chế của nó chứng tỏ rằng một chế độ độc tài như chế độ của Tưởng Giới Thạch, có thể nhường chỗ cho một chế độ thiết lập quyền tự do. Là chính đảng khơi nguồn dân chủ, nên đảng Dân Tiến vẫn tổ chức đều đặn hàng năm ngày lễ tưởng niệm “vụ rắc rối 2-2-8” của năm 1947, một sự kiện đánh dấu sự mở đầu vụ “khủng bố trắng” và áp dụng lệnh thiết quân luật trên toàn hòn đảo và mãi đến những năm 1980 mới được hủy bỏ. Nền dân chủ của Đài Loan khác nền “dân chủ” của Trung Quốc về nhiều điểm, như quyền tự do tôn giáo được tôn trọng, các quyền khác cũng được công nhận rộng rãi…
Đạt được thành công về chính trị trong tiến trình dân chủ hóa, Đài Loan cũng là một thành công tuyệt vời về kinh tế khi không chấp nhận một nền kinh tế tập thể, tập trung bao cấp và toàn tâm phát triển một nền kinh tế thị trường, dựa vào những chi phí lớn về giáo dục. Nhờ được hưởng viện trợ của phương Tây, quân đội Đài Loan đã ngăn chặn cuộc chinh phục của Trung Quốc Cộng sản và đã đối đầu thành công trước những sức ép quân sự, nhất là đối với các hòn đảo Quemoy, chỉ cách đại lục 2,3 km. Đài Loan đã biết thực hiện một chính sách phát triên hiệu quả có thể so sánh với Trung Quốc Cộng sản. Do sự tồn tại của mình, hiếm khi được biết đến trên trường quốc tế, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính theo đầu người của Đài Loan thường không được tiết lộ trong các thông kê của các tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, theo các số liệu của Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA), năm 2006, GDP của Đài Loan đứng thứ 17 thế giới với số dân 122,8 triệu người, GDP tính theo đầu người ở đây đạt 27.500 USD, đứng thứ 33 trên thế giới, tức là nhiều gấp 4 lần so với Trung Quốc đại lục, với 6.800 USD/người (đứng thứ 122 trên thế giới). Các con số này chứng tỏ rằng mặc dù đã đạt được những tiến bộ về kinh tế từ khi tiến hành các cuộc cải cách từ những năm 1990, chủ nghĩa cộng sản của Trung Quốc vẫn chưa cải thiện được các điều kiện sống của người dân ở đại lục. Vì vậy, đối với Trung Quốc đại lục, Đài Loan vừa là một điều gây phiền phức, vừa là một lợi thế về kinh tế. Một mặt, nó cho thấy rằng chính sách kinh tế tập thể của Trung Quốc dưới thời Mao Trạch Đông đã dẫn đến một tình trạng bế tắc triền miên, nhưng mặt khác các nguồn của cải kinh tế của Đài Loan lại là một lợi thế nhờ vào vốn đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp của Đài Loan ở Trung Quốc đại lục và bằng sức mua cao, và theo quan điểm kinh tế thì sự liên minh, liên kết với Đài Loan luôn mang lại phần lợi rất lớn cho Trung Quốc đại lục.

Ngoài tầm vóc về kinh tế và chính trị, Đài Loan còn có một lợi ích mang tính chiến lược, vì hai lý do. Trước hết, rõ ràng sức mạnh và tri thức quân sự của Đài Loan không phải là không đáng kể như lịch sử từ năm 1949 đã chứng minh. Đặc biệt, Đài Loan có một số trang thiết bị quân sự khiến các tướng lĩnh Trung Quốc mơ ước. Thứ hai là về địa lý, Đài Loan án ngữ eo biển Đài Loan, nối liền cực thứ ba của bộ ba Trung Quốc-Nhật Bản-Hàn Quốc, cũng như Trung Quốc với các nước Đông Nam Á, với Ấn Độ hay xa hơn là với khu vực Trung Đông và Châu Phi. Hòn đảo Đài Loan nằm ở trung tâm những sự trao đổi lớn theo đường biển tại biển Đông rất được các nước thèm muốn. Thế nhưng, vùng biển này hiện đang đặt ra một vấn đề chiến lược đối với Trung Quốc đại lục. Theo luật pháp quốc tế, các vùng biển độc quyền của Trung Quốc là khá hạn chế. Một mặt, đối diện với Việt Nam, quần đảo Hoàng Sa nằm giữa Việt Nam và Bắc Philippines. Quyền đảo này được tạo nên nhờ khoảng 130 hòn đảo san hô nhỏ không có người ở, phân bố trên một vùng biển dài 250km và rộng 100km. Năm 1932, người Pháp chiếm hòn đảo chính và lập ra ở đó một trạm khí tượng, sau đó do chế độ Nam Việt Nam cai quản, nhưng đã bị Trung Quốc đánh bật vào năm 1974. Từ đó đến nay, dù không được quốc tế công nhận, một đội quân đồn trú của Trung Quốc vẫn chiếm đóng nơi đây và các hòn đảo này vẫn bị Việt Nam cũng như Đài Loan nhận là chủ quyền của mình. Mặt khác, về phía Nam của biển Đông, tức là quần đảo Trường Sa, nằm ở giao điểm các đường biên giới biển của Việt Nam, Malaysia, Brunei, Philippines, Đài Loan và Trung Quốc đại lục và tất cả các nước này dều nhận đó là thuộc chủ quyền của mình, nhất là nơi đây giàu tài nguyên cá, và dầu khí. Vì vậy, quần đảo Trường Sa hiện là trung tâm của một cuộc xung đột giành chủ quyền giữa nhiều nước với nhau. Đặc biệt, sự tồn tại của một Đài Loan đòi chủ quyền đối với các hòn đảo khác nhau không những chống lại những yêu sách biển của Trung Quốc đối với các vùng biển tương ứng mà còn hạn chế sự tiếp cận trực tiếp của hải quân Trung Quốc với các vùng đại dương và vùng biển đặc quyền của Trung Quốc. Ngoài ra, cần phải lưu ý đến những đặc tính biển của khu vực này. Độ saau trung bình của biển Đông là 1.200 mét, so với độ sâu hơn 4.000 mét của Thái Bình Dương, và điều đó khiến cho việc sử dụng trở nên khó khăn. Hiện nay, Trung Quốc không thể sử dụng tàu ngầm mang tên lửa trong một không gian biển vừa chật hẹp vừa nông như vậy, và tất nhiên, có một giải pháp là đi qua một eo biển tới Thái Bình Dương, nhưng điều này cũng dễ bị đối phương phát hiện.

Sự tiếp cận của Trung Quốc đại lục với Thái Bình Dương qua biển Đông và biển Hoa Đông đều đang bị hạn chế, do biển Hoa Đông bị án ngữ bởi Ryukyu, nơi có căn cứ lớn của Mỹ ở Okinawa, trong khi biển Đông lại bị bao quanh bởi nhiều nước và eo biển Malacca. Nơi đây còn trở nên chật hẹp hơn do các vùng biển của các nước trong khu vực. Bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy tầm quan trọng của vấn đề chiến lược này là bản đồ của Trung Quốc đơn phương thể hiện rằng tất cả các vùng biển thuộc các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và cả Đài Loan đều là của họ. Về mặt chiến lược đối với Trung Quốc, bảo đảm chủ quyền đối với Đài Loan và làm cho quốc tế công nhận chủ quyền là một giải pháp để có được một sự tiếp cận trực tiếp và toàn quyền ở Thái Bình Dương, nhất là đối với các tàu ngầm phóng tên lửa. Điều này chứng tỏ lợi ích to lớn về chính trị, kinh tế và chiến lược của Đài Loan đối với Trung Quốc đại lục và giải thích tại sao hầu như tất cả số phiếu của Quốc hội Trung Quốc (2. 896 phiếu thuận so với 2 phiếu trắng) đều tán thành đạo luật chống ly khai ngày 14/3/2005. Đạo luật này, nhấn mạnh đến sự cần thiết phải thống nhất Trung Quốc, hạn chế tính chất đặc biệt của Đài Loan, cho phép Chính quyền Bắc Kinh sử dụng vũ lực chống Đài Loan trong một số điều kiện, trong đó có khả năng tuyên bố độc lập của Đài Loan. Thế nhưng đạo luật này được thông qua mà không hỏi ý kiến của người dân Đài Loan, vì vậy đã bị nhà cầm quyền Đài Loan bác bỏ và ngày 26/3/2005, nhiều cuộc biểu tình đã diễn ra tại Đài Loan để bác bỏ đạo luật này. Các sự kiện này đã chứng tỏ rằng vấn đề Đài Loan rất khác so với các vấn đề có vẻ bề ngoài tương tự đã được giải quyết theo các quyền của người dân vì vấn đề Đài Loan cũng nằm trong những lôgích khác về chính trị, lịch sử và dân số.

Vị trí hiện nay của Đài Loan trong nền địa chính trị thế giới tương phản với sự có mặt ít ỏi mang tính lịch sử của hòn đảo này. Đài Loan từ lâu nay chỉ có người dân bản xứ sinh sống cộng với số ít người gốc Indonesia hay Malaysia, và không mấy quan tâm đến ảnh hưởng của lục địa láng giềng. Tuy nhiên, người ta cũng tìm thấy vài dấu vết của người Trung Quốc lục địa từng sống ở đó vào giai đoạn 618-907, sau đó vào thế kỷ 16, cũng có sự chiếm đóng của người Trung Quốc tại một vài nơi ở Đài Loan. Những người Trung Quốc này lập ra những “Hakka” là nhóm sắc tộc gồm người Trung Quốc đã nhập cư trong suốt nhiều thế kỷ. Những Hakka sống ở Đài Loan vẫn tiếp tục duy trì bản sắc văn hóa đặc biệt của họ ở đó. Tầm quan trọng thương mại của hòn đảo này chỉ bắt đầu xuất hiện khi người Bồ Đào Nha phát hiện ra nó vào năm 1544, những người này đặt tên nó là Ilha Formosa, tức là “Hòn đảo xinh đẹp”. Vị trí của hòn đảo này rất thuận lợi cho việc dùng làm trạm tiếp nhiên liệu, nghỉ chân của tàu bè trên các tuyến đường biển ở Thái Bình Dương. Năm 1683, người Mãn Châu kiểm soát hòn đảo này về quân sự, khi đó được coi là nằm dưới chủ quyền của Trung Quốc. Tuy nhiên, trong những thập kỷ tiếp theo, chính người Trung Quốc thù địch với người Mãn Châu đã di cư tới Ilha Formosa, chủ yếu từ các tỉnh ven biển của Nam Trung Quốc (Phúc Kiến và Quảng Đông), trong khi vẫn giữ mối liên hệ với các tỉnh ở lục địa. Sự di cư này đã đẩy lùi những người bản xứ vào các vùng núi non và trong vài hòn đảo nhỏ. Hiện nay, con cháu của những người di cư này coi mình là “người Đài loan gốc”. Từ cuối thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 19, đối với một Chính quyền Trung Quốc tự coi mình là một thế lực lục địa, hòn đảo Đài Loan bị sáp nhập với tỉnh Phúc Kiến về mặt hành chính. Mãi đến năm 1886, Trung Quốc mới đưa nó lên hàng cấp tỉnh. Trong thế kỷ 19, những ý đồ chinh phục của người châu Âu đều không thành công và năm 1895, tức là 9 năm sau khi Bắc Kinh quyết định trao cho Đài Loan quy chế cấp tỉnh, người Nhật Bản đã xâm chiếm hòn đảo này, khi đó nó gồm chưa đầy 3 triệu dân. Công cuộc thực dân hóa của Nhật Bản đã góp phần làm cho nền kinh tế của hòn đảo này cất cánh. Người Nhật Bản xuất khẩu sang Đài Loan các công nghệ và phương pháp tưới tiêu, cũng như thúc đẩy phát triển giao thông vận tải. Họ chuyển cực hoạt động chính tới phía Bắc, tức là Đài Bắc và cảng Keeling. Trong nửa thế kỷ chiếm đóng của Nhật Bản, các sinh viên Đài Loan đã được đào tạo tại các trường đại học của đất nước Mặt trời mọc. Khi Chiến tranh Thế giới thứ Hai kết thúc, hòn đảo này có tới 6 triệu dân, trong đó hơn 90% là người Hakka và người “Đài Loan gốc”, 10% còn lại là người tứ xứ, trong đó có người Nhật Bản, nhưng ngay sau đó những người Nhật Bản này phải trở về cố hương. Mật độ dân số Đài Loan khi đó là 166 người/km2, cao nhất thế giới. Vào cuối những năm 1990, dân số Đài Loan tiếp tục tăng mạnh do làn sóng di cư lớn thứ hai từ các nơi lân cận kéo tới hòn đảo này.

Ở Trung Quốc đại lục, sau khi Nhật Bản đầu hàng, cuộc nội chiến giữa những người Quốc dân đảng và người Cộng sản lại tiếp tục và hướng tới sự bất lợi cho Quốc dân đảng. Tiếp theo việc Mao Trạch Đông công bố sự ra đời của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ngày 1/10/1949 quân đội Quốc dân đảng, gồm hàng trăm nghìn nhà quân sự, và thủ lĩnh là Tưởng Giới Thạch đã dạt đến Đài Loan. Với các nhân viên dân sự, các viên chức, giáo viên đại học và các thành viên của Quốc dân đảng từ chối chế độ cộng sản, Đài Loan tiếp nhận 1,2 triệu người, nhiều hơn số người Nhật Bản rời hòn đảo này lúc bấy giờ. Thiểu số người này, mà “người Đài Loan gốc” gọi là những người từ đại lục ra, nắm quyền một cách độc đoán mà họ coi là đại diện cho toàn bộ Trung Quốc. Đây là quan điểm của Liên hợp quốc (LHQ), mà chiếc ghế thường trực của Trung Quốc tại Hội đồng bảo an LHQ vẫn do chính quyền Đài Bắc nắm giữ cho đến năm 1971. Nhờ sự nhập cư, những năm 1950 đã ghi nhận sự tăng dân số tự nhiên mạnh mẽ nhất ở Đài Loan. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên vượt quá 3% do tỷ lệ sinh tăng mạnh (hơn 6 con/phụ nữ) và tỷ lệ tử vong giảm nhờ những tiến bộ về kinh tế và y tế. Những người “lục địa” dù áp đặt bàn tay sắt song vẫn không đạt được mục tiêu chính trị của mình là giành lại Trung Hoa lục địa, nhưng họ đã thành công trong việc chống lại chiếc xe lăn đường của Trung Quốc cộng sản và mặc dù ngày càng bị cô lập về ngoại giao và duy trì một nỗ lực quân sự đáng kể trước ý muốn thôn tính của Bắc Kinh, họ vẫn đạt được những thành công to lớn về kinh tế. Do sự huy động chính trị của người Đài Loan gốc, một tiến trình thực sự dân chủ hóa được thực hiện vào giữa những năm 1980, mà bằng chứng là vào năm 1990, ông Lý Đăng Huy, một người Hakka, đã được bầu làm tổng thống.

Do sự hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp của những sự nhập cư khác nhau, Đài Loan của đầu thế kỷ 21 có thành phần dân cư rất đa dạng và đặc biệt. Dân chúng chia thành 5 loại chính. Đông nhất là “người Đài Loan gốc” đồng nhất hóa với hòn đảo hơn là với Trung Quốc và chiếm 46% dân số. Tiếp đến là “người lục địa” chiếm 35% dân số. Người Hakka chiếm 15,7% dân số và họ vẫn cảm thấy họ mang bản sắc Đài Loan còn hơn cả “người Đài Loan gốc”. Cuối cùng là người tứ xứ chiếm 1,7% dân số, sống phân tán thành khoảng một chục nhóm sắc tộc khác nhau. Cho dù là “người Hakka”, “người Đài Loan gốc” hay “người lục địa” thì hầu như tất cả đều có nguồn gốc từ lục địa. Họ đều nhận thức được những lợi ích kinh tế từ thương mại với Trung Quốc đại lục, cho dù phải tiến hành nó một cách gián tiếp vì những lý do chính trị, và họ cũng đều quan tâm đến việc đầu tư vào lục địa, và chính họ đã góp phần rất đáng kể vào sự phát triển của thành phố Thượng Hải của đại lục.

Nhưng còn một vấn đề đáng lo ngại khác là dân số Đài Loan đang không ngừng già đi. Đài Loan đã từng trải qua thời kỳ dân số cực trẻ vào những năm 1950-1960 , khi những người dưới 20 tuổi chiếm hơn 50% dân số. Bằng cách dành ưu tiên cho giáo dục lớp trẻ đông đảo này, Đài Loan đã đạt được sự phát triển kinh tế đáng nể và hiện nay vẫn có một tỷ lệ khá lớn dân số trong độ tuổi lao động, kết quả của việc rất đông trẻ em ra đời trong những năm 1950-1960. Từ đó, Đài Loan đã trải qua giai đoạn chuyển tiếp lần thứ hai về dân số, với đặc tính là giảm sinh và tỷ lệ tăng tự nhiên. Từ năm 1956 đến 1983, chỉ số sinh giảm 67% (từ 6,5 con/phụ nữ xuống còn 2,2 con/phụ nữ) và tỷ lệ sinh giảm 54%, giảm ít hơn chỉ số sinh đẻ (67%) do tăng số phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ. Tỷ lệ phụ nữ trong độ tuổi từ 20 đến 34 tăng từ 11,3% tổng dân số trong năm 1956 lên 13,6% năm 1983. Từ năm 1983, Đài Loan kết thúc giai đoạn chuyển tiếp dân số và bước vào thời kỳ hậu chuyển tiếp, với chỉ số sinh thấp hơn ngưỡng thay thế các thế hệ. Từ năm 1984, chỉ số sinh dao động từ 1,55 đến 1,85 con/phụ nữ và những hậu quả của việc thích sinh con vào những năm đẹp theo truyền thống, chẳng hạn như những em bé sinh vào năm Rồng (1976, 1988, 2000) được coi là sẽ gặp nhiều may mắn, dường như đã mờ nhạt đi. Vì làn sóng di cư không ảnh hưởng mấy đến những tiến triển dân số, tỷ lệ tăng dân số từ giữa những năm 1990 giảm mạnh, nhất là tỷ lệ thanh niên dưới 20 tuổi, chỉ còn dưới 30% vào năm 1999, trong khi tỷ lệ người già tăng. Những người 65 tuổi hoặc cao hơn chiếm 2,5% dân số vào năm 1956 và chỉ chiếm 3% vào năm 1971, nhưng tỷ lệ này đã tăng gấp đôi vào đầu nhũng năm 1990 và đạt 10% vào năm 2006, sau đó có thể vượt quá con số 20% trong nửa cuối những năm 2030. Dân số già đi do số người cao tuổi tăng mạnh, điều mà người ta gọi là tình trạng lão hóa dân số. Số người 65 tuổi hoặc hơn đã tăng gấp đôi từ năm 1990 đến 2007, từ 1,038 triệu người tăng lên 2,3 triệu trong khi số thanh niên dưới 15 tuổi lại giảm từ 5,5 triệu người xuống còn 4,4 triệu. Tình trạng dân số già đi này là tất yếu do chỉ số sinh giảm mạnh và do tuổi thọ của người cao tuổi tăng. Ngoài ra tình trạng dân số già còn liên quan đến dân số đang ở độ tuổi lao động mà tính năng động của lớp trẻ là một trong nhũng nguyên nhân dẫn đến những thành tựu kinh tế của Đài Loan, thế nhưng lợi thế ấy hiện đang giảm dần.

Những kịch bản

Hiện nay, người ta đang xem xét những kịch bản Đài Loan tuyên bố độc lập hay vẫn để nguyên trạng. Kịch bản thứ nhất là thống nhất một cách hòa bình Đài Loan vào Trung Quốc đại lục. Những điều kiện để tiến hành một cuộc thương lượng giữa Trung Quốc và Đài Loan và những bảo đảm của Trung Quốc rằng việc hợp nhất Đài Loan vào Trung Quốc sẽ được thực hiện trong một bối cảnh hòa bình, như đã từng đề cập tới trong một thỏa thuận giữa Bắc Kinh và một chính phủ ở Đài Bắc của Quốc dân đảng. Chính phủ này sẽ chấp nhận một sự sáp nhập dần dần vào Trung Quốc trong khi vẫn duy trì một số quyền tự chủ của Đài Loan, chẳng hạn theo nguyên tắc đã được Đặng Tiểu Bình đưa ra và áp dụng đối với Hong Kong hồi 1984: “Một nước hai chế độ”. Tuy nhiên, một kịch bản như vậy chỉ có thế thực hiện được nếu các điều kiện này được đông đảo công chúng Đài Loan chấp nhận. Nhìn chung, với đa số người Đài Loan, sự hợp nhất Đài Loan vào Trung Quốc luôn được coi là một sự thôn tính hơn là một sự hợp nhất. Vì vậy, một thỏa thuận hợp nhất rõ ràng là không thể chấp nhận được đối với một bộ phận đông đảo dân chúng Đài Loan, những người luôn coi mình là người Đài Loan chứ không phải người Trung Quốc. Và chính những sự kiện diễn ra ở Hong Kong từ khi khu vực tự trị này được trao trả lại cho Trung Quốc vào năm 1997, đã khiến người “Đài Loan gốc” phải thận trọng, bởi vì việc duy trì hai chế độ trong một nước dường như là khó “xuôi chèo mát mái”. Người ta lo ngại rằng nếu hợp nhất như vậy, tại Đài Loan có thể sẽ xảy ra làn sóng biểu tình, phản đối còn lớn hơn các cuộc biểu tình đã diễn ra ở Hong Kong từ năm 1997, phản đối điều mà một số người coi là một sự thôn tính vì Trung Quốc khi ấy sẽ sở hữu nguồn của cải kinh tế và những lợi ích của Đài Loan, rồi sẽ thông qua các đạo luật, hợp pháp hóa sự thôn tính ấy. Nói như thế để thấy rằng vào thời điểm hiện tại việc thực hiện một chủ quyền đầy đủ của Trung Quốc đối với Đài Loan sẽ là không thể chấp nhận được đối với đại đa số người Đài Loan. Và cho đến lúc này, việc Đài Loan giữ nguyên trạng có vẻ dễ chấp nhận hơn, trước hết là đối với dân chúng sống trên hòn đảo này./.

 
%d bloggers like this: