Tag Archives: Địa chính trị-

Sóng ngầm địa chính trị khu vực và lựa chọn của Việt Nam – VHNA

3 Th1

 

  •   Lê Hồng Hiệp

 

 

Trong năm 2014, sự kiện nổi bật nhất của ngành đối ngoại Việt Nam có lẽ chính là cuộc đấu tranh xung quanh sự kiện giàn khoan Hải Dương 981. Việc Trung Quốc cuối cùng phải rút giàn khoan ở một chừng mực nào đó có thể coi là một thành công đối với Việt Nam, nhưng đó cũng là một thách thức còn để ngỏ khi hàng loạt câu hỏi vẫn chưa có lời đáp: Liệu Trung Quốc có tái diễn vụ giàn khoan, nếu có thì ở đâu, và nếu không thì Trung Quốc sẽ có hành động gì trên Biển Đông? Quan trọng hơn, Việt Nam cần phải xử lý mối quan hệ với Trung Quốc ra sao trong bối cảnh rộng lớn hơn là các sóng ngầm địa chính trị khu vực đang diễn biến ngày càng phức tạp?

Bài phân tích này sẽ cố gắng trả lời các câu hỏi trên. Tuy nhiên, trước khi đi vào vấn đề chính là quan hệ Việt – Trung, chúng ta cần điểm lại một số nét chính trong tình hình các quốc gia chủ chốt cũng như bối cảnh địa-chính trị khu vực, những yếu tố vốn có tác động quan trọng tới cục diện quan hệ song phương.

Bối cảnh các quốc gia chủ chốt

Trung Quốc

Sau hơn 3 thập niên phát triển liên tục với tốc độ 2 con số, hiện nay tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đang chững lại ở mức khoảng 7%/năm với nhiều khó khăn chồng chất như mô hình tăng trưởng cũ hết động lực, cơ cấu và xu hướng dân số bất lợi, các rủi ro tiềm ẩn trong hệ thống tài chính – ngân hàng và thị trường nhà đất… Điều này đặt ra những thách thức lớn cho tính chính danh và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ).

Một mặt, thực tế này yêu cầu Trung Quốc phải tiến hành cải cách cơ cấu nền kinh tế theo hướng từ bỏ mô hình tăng trưởng dựa trên đầu tư và xuất khẩu sang dựa trên tiêu dùng trong nước và sức sáng tạo của các doanh nghiệp, thể hiện qua các biện pháp đề ra tại Hội nghị TW 3 năm 2013. Mặt khác, Trung Quốc cũng tiến hành cuộc chiến chống tham nhũng mạnh mẽ, vừa giúp củng cố quyền lực của tân Chủ tịch Tập Cận Bình, vừa giúp loại bỏ các rào cản, các nhóm lợi ích gây cản trở cải cách kinh tế, đồng thời giúp nâng cao uy tín của Đảng trong bối cảnh trụ cột chính trong tính chính danh của Đảng là thành tích phát triển kinh tế đang gặp khó khăn.

Về đối ngoại, Trung Quốc đã thoát ra ngoài tư thế “giấu mình chờ thời”, bắt đầu công khai và mạnh mẽ cạnh tranh vị thế và ảnh hưởng với Hoa Kỳ trong khu vực và trên thế giới, thể hiện qua các sáng kiến như “con đường tơ lụa thế kỷ 21”, “con đường tơ lụa trên biển”, ý tưởng “châu Á là của người châu Á”, hay việc thành lập Ngân hàng Phát triển Mới với nhóm BRIC…

Trong quan hệ với Mỹ, Trung Quốc đề xướng mô hình “quan hệ cường quốc kiểu mới” nhằm thuyết phục Mỹ không “ngăn chặn” Trung Quốc vươn lên, vừa nhằm đạt được vị thế ngang hàng với Mỹ, qua đó phân chia khu vực ảnh hưởng với Washington. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng tỏ ra hung hăng và cứng rắn hơn trong các tranh chấp biển và lãnh thổ với láng giềng, mà ví dụ tiêu biểu là vụ giàn khoan 981. Điều này vừa phù hợp với xu thế chung trong chính sách đối ngoại của chính quyền Tập Cận Bình, vừa có tác dụng giương cao ngọn cờ chủ nghĩa dân tộc để củng cố sự ủng hộ của người dân trong bối cảnh tính chính danh trong nước của ĐCSTQ ngày càng bị thách thức.

Trong năm tới Trung Quốc có thể thực hiện “ngoại giao hòa hoãn” do e dè trước phản ứng của cộng đồng quốc tế sau vụ giàn khoan 981 và lo sợ các nước trong khu vực sẽ nghiêng về phía Mỹ, đi ngược lại mục tiêu lớn của Trung Quốc. Tuy nhiên, trong dài hạn, với việc Trung Quốc từ bỏ chính sách “giấu mình chờ thời” để theo đuổi tham vọng siêu cường, kết hợp với khó khăn trong nước nhiều khả năng sẽ ngày càng nghiêm trọng, xu thế hung hăng, lấn lướt của Bắc Kinh trong chính sách đối ngoại, đặc biệt là trên vấn đề Biển Đông, nhiều khả năng sẽ còn tiếp diễn.

Nhật Bản

Sau khi quay lại làm thủ tướng năm 2012, ông Shinzo Abe đã tiến hành nhiều cải cách kinh tế và chính trị quan trọng. Về kinh tế ông Abe đã tiến hành chính sách Abenomics, với ba “mũi tên” gồm kích thích tài khóa, nới lỏng tiền tệ và cải cách cơ cấu. Tuy nhiên sau khi phát huy hiệu quả vào năm 2013 với việc kinh tế Nhật tăng trưởng 1,5%, thì sang năm 2014 chính sách này đã bị “hụt hơi” khi nền kinh tế bị co lại 2%, trong đó một nguyên nhân chủ yếu được đánh giá là việc chính quyền Abe tăng thuế tiêu dùng quá sớm (vào tháng 4/2014) từ mức 5% lên 8%,[1] khiến lòng tin của người tiêu dùng sụt giảm, tác động tiêu cực tới phục hồi kinh tế.

Trong bối cảnh đó, ông Abe đã tuyên bố giải tán quốc hội vào tháng trước và tổ chức bầu cử sớm vào ngày 14/12 vừa qua. Kết quả Đảng Dân chủ Tự do (LDP) đã tiếp tục giành thắng lợi áp đảo,[2] qua đó giúp củng cố và kéo dài tuổi đời chính trị của ông Abe, giúp ông có nhiều thời gian hơn để tiếp tục thực hiện chính sách Abenomics cũng như các thay đổi về chính sách đối ngoại.

Về chính sách đối ngoại, điểm tiêu biểu trong thời gian qua là chính quyền Abe đã diễn dịch lại hiến pháp để cho phép quân đội Nhật có vai trò lớn hơn. Cụ thể hiến pháp Nhật sau khi được diễn dịch lại đã cho phép Nhật tham gia phòng thủ tập thể ở những nơi lợi ích của Nhật bị đe dọa, đồng thời mở đường cho quân đội Nhật đóng vai trò quốc tế lớn hơn (nhất là trong sứ mệnh hỗ trợ nhân đạo).

Ngoài ra, mặc dù Nhật tiếp tục đề cao hợp tác quân sự với Mỹ thông qua liên minh Mỹ – Nhật, nhưng chính quyền Abe muốn tự chủ lớn hơn và bớt phụ thuộc hơn vào Mỹ về quốc phòng. Dưới thời Abe, Nhật cũng thể hiện xu hướng cứng rắn hơn với Trung Quốc, như quốc hữu hóa quần đảo Senkaku, phản đối và tảng lờ Khu vực nhận diện phòng không (ADIZ) của Trung Quốc thiết lập trên biển Hoa Đông… Nhật cũng tích cực hỗ trợ Philippines và Việt Nam về ngoại giao và an ninh, trong đó tiêu biểu là viện trợ các tàu tuần tra cho Hà Nội và Manila. Dù quy mô viện trợ còn hạn chế do bản thân Nhật cũng đang cần các nguồn lực để đối phó với Trung Quốc trên biển Hoa Đông, nhưng nó cho thấy xu thế ngày càng cứng rắn của Nhật đối với Trung Quốc.

Nay với việc Abe tiếp tục khởi đầu một nhiệm kỳ mới, các chính sách đối ngoại và an ninh mạnh mẽ của ông sẽ hầu như chắc chắn được duy trì và thúc đẩy, đưa Nhật tái trỗi dậy thành một cường quốc “bình thường” với sức ảnh hưởng đồng thời cả về kinh tế lẫn quân sự trong khu vực và trên thế giới.

Nga

Sau khi phạm sai lầm vì đã vội vàng sáp nhập Crimea, nước Nga của Putin đã phải vật lộn trong khó khăn để đương đầu với các lệnh trừng phạt của phương Tây, bên cạnh các khó khăn kinh tế chồng chất do giá dầu thế giới giảm và tình trạng rớt giá của đồng Rúp.

Ngoài ra, do bị phương Tây cô lập nên Nga đã tìm cách thắt chặt quan hệ với Trung Quốc, dẫn tới một số lo ngại rằng Trục Bắc Kinh – Moscow sẽ được hình thành nhằm giúp 2 nước đối phó với các áp lực từ Mỹ và phương Tây. Tuy nhiên, nhiều nhà phân tích, bao gồm cả các quan chức Mỹ, đều cho rằng giữa hai nước vẫn còn những khác biệt lớn về sự quan tâm, mục tiêu, lợi ích… nên sự gần gũi gia tăng giữa hai nước thời gian qua chủ yếu mang tính chiến thuật chứ không phải là một liên minh chiến lược lâu dài.

Trong bối cảnh đó, mối bận tâm chính của chính quyền Putin trong thời gian qua cũng như sắp tới chủ yếu là vấn đề Ukraine và quan hệ với phương Tây chứ không phải khu vực Thái Bình Dương. Cụ thể, trước áp lực của phương Tây, khó khăn kinh tế chồng chất và nhất là địa vị “thân cô thế cô”, Nga nhiều khả năng sẽ phải nhún nhường, tìm một giải pháp chính trị cho vấn đề Đông Ukraine và Crimea để dần dần bình thường hóa quan hệ với phương Tây. Tuy nhiên điều này sẽ không đến sớm nếu Tổng thống Putin tiếp tục cầm quyền. Vì vậy, xu hướng chính sách đối ngoại Nga trong thời gian tới sẽ phụ thuộc vào diễn biến chính trị trong nước của Nga, đặc biệt là vị thế của Tổng thống Putin.

Hoa Kỳ

Trái với các quan điểm bi quan cho rằng Mỹ đang trượt dài vào thời kỳ suy thoái, sức mạnh kinh tế và quyền lực quốc gia nói chung của Hoa Kỳ vẫn được duy trì và thúc đẩy. Cụ thể, mặc dù một vài ước tính cho rằng GDP tính theo sức mua tương đương (PPP) của Trung Quốc đã vượt Mỹ trong năm nay, ưu thế về sức năng động – sáng tạo, trình độ công nghệ, sự áp đảo của các công ty đa quốc gia, sự vượt trội về GDP tính theo đầu người… về cơ bản vẫn giúp cho Hoa Kỳ duy trì được khoảng cách xa về kinh tế so với Trung Quốc.

Trong khi triển vọng kinh tế Trung Quốc bắt đầu có dấu hiệu ảm đạm, thì kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng 2,3% năm 2012, 2,2% năm 2013, và dự kiến đạt 2,5% năm 2014, trong khi tỉ lệ thất nghiệp tới tháng 10/2014 đã giảm xuống chỉ còn 5,8%, mức thấp nhất kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 và thấp hơn đáng kể so với hầu hết các nước công nghiệp phát triển.

Một đặc điểm nổi bật của kinh tế Mỹ được nhiều người đánh giá cao trong thời gian gần đây là việc ngành sản xuất dầu lửa của nước này đã phát triển mạnh nhờ vào công nghệ khai thác dầu đá phiến (shale). Cụ thể, chỉ trong vòng năm năm, công nghệ này đã đưa sản lượng dầu của Mỹ tăng gần gấp đôi từ mức 5 triệu thùng/ngày năm 2008 lên 9 triệu  thùng vào năm nay.

Nếu xu hướng này tiếp tục thì đến khoảng năm 2020 Mỹ có thể vượt Arab Saudi trở thành nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới. Việc ngành sản xuất dầu phát triển mạnh không chỉ mang lại sự thịnh vượng và tạo công ăn việc làm cho người Mỹ mà còn mang lại cho Mỹ một vũ khí địa chính trị lợi hại, đặc biệt là giúp Mỹ có thể giảm bớt sự chú ý vào khu vực rốn dầu Trung Đông để tập trung vào các khu vực khác.

Về đối ngoại và quân sự, Hoa Kỳ đang giảm dần sự can dự vào khu vực Trung Đông, một phần do sự “mệt mỏi chiến lược” vì những can dự kéo dài nhưng kém hiệu quả ở khu vực này kể từ sau sự kiện 11/9/2001, một phần do tầm quan trọng chiến lược của khu vực có xu hướng giảm sút trong mắt Washington.

Trong khi vẫn phối hợp với EU và các đồng minh trong các vấn đề như Ukraine hay không kích Nhà nước Hồi giáo, Mỹ sẽ tập trung nhiều sự chú ý hơn vào khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, nhất là sự trỗi dậy của Trung Quốc, bởi chính Trung Quốc sẽ là vấn đề “sống còn”, là đối thủ duy nhất đủ tầm để có thể lật đổ vị thế siêu cường của Mỹ cũng như trật tự thế giới mà Mỹ dẫn dắt. Trong bối cảnh đó, Mỹ sẽ tiếp tục duy trì chính sách “tái cân bằng” sang khu vực, đồng thời thúc đẩy việc gắn kết, tăng cường sức mạnh của các nước đồng minh và đối tác, biến họ trở thành các quốc gia giàu mạnh và thực sự độc lập để có thể giúp hạn chế bớt ảnh hưởng của Trung Quốc, đồng thời giúp Mỹ có được vị thế tốt hơn nhằm đối phó với sự trỗi dậy ngày càng không êm ả của Bắc Kinh.

Xu hướng địa chính trị khu vực  

Một xu hướng địa chính trị khu vực đang ngày càng trở nên nổi trội, đó chính là việc Mỹ cùng các đồng minh ngày càng bất an trước sự trỗi dậy của Trung Quốc và việc nước này công khai thách thức trật tự khu vực, nhất là vị thế siêu cường dẫn đầu của Mỹ. Xu hướng này khiến cho khu vực nhiều khả năng sẽ bước vào một cuộc Chiến tranh Lạnh mới trong vòng khoảng 20 năm tới.

Về mặt lý thuyết, nếu Trung Quốc tiếp tục trỗi dậy và thách thức Mỹ, mâu thuẫn và xung đột giữa hai cường quốc là không thể tránh khỏi. Trái với thuyết “cân bằng quyền lực” (balance of power theory) cho rằng hệ thống quốc tế sẽ ổn định và hòa bình khi đạt được sự cân bằng giữa các trung tâm quyền lực chính, thuyết “chuyển giao quyền lực” (power transition theory) cho rằng một khi một cường quốc đang lên tiệm cận sức mạnh của cường quốc thống trị và khao khát giành vị thế bá chủ của cường quốc đó thì xung đột giữa hai bên là không thể tránh khỏi. Chỉ sau khi cường quốc đang lên bị kiềm chế hoặc đánh bại (giữ vững nguyên trạng) hoặc cường quốc bá chủ bị lật đổ (thiết lập nguyên trạng mới) thì hệ thống quốc tế mới lại đạt được thế cân bằng và ổn định. Quy luật này đã được chứng minh nhiều lần trong lịch sử, và sẽ tiếp tục là logic trường tồn của chính trị hiện thực trong quan hệ quốc tế.

Về mặt thực tế, hiện nay cục diện địa chính trị khu vực đang dần đi theo hướng dự báo của thuyết “chuyển giao quyền lực”. Cụ thể, trong khi Trung Quốc (cường quốc đang lên) tìm cách mở rộng ảnh hưởng, tranh giành quyền lực với Mỹ (cường quốc thống trị), thì Mỹ đang âm thầm cố gắng tìm cách kiềm chế Trung Quốc, thông qua các chiến lược tiêu biểu như “tái cân bằng” quân sự sang tây Thái Bình Dương, đàm phán Hiệp định TPP với các nước trong khu vực mà không có sự tham gia của Trung Quốc; cải thiện và thắt chặt quan hệ với các nước đồng minh và đối tác, nhất là các nước láng giềng Trung Quốc; sử dụng các công cụ như luật pháp quốc tế và các thể chế quốc tế để kiềm chế và điều chỉnh hành vi của Bắc Kinh….

Hiện nay, giới chức Mỹ vẫn đang cố gắng thận trọng, tránh “tư duy Chiến tranh lạnh”, trong khi cố gắng can dự với Trung Quốc để xây dựng lòng tin, giảm căng thẳng. Tuy nhiên đây không phải là xu hướng lâu dài mà chỉ là ngắn hạn. Trước mắt Mỹ chưa sẵn lòng mạnh tay kiềm chế Trung Quốc như từng kiềm chế Liên Xô trước đây bởi quan hệ tốt với Trung Quốc đang mang lại cho Mỹ nhiều lợi ích, đồng thời Mỹ cần thêm thời gian để đánh giá xu hướng hành vi của Trung Quốc khi hiện nay Bắc Kinh dù có biểu hiện hung hăng và thách thức lợi ích của Mỹ nhưng sự thách thức đó chưa đủ lớn để đe dọa các lợi ích sống còn, nhất là vị thế bá chủ của Mỹ.

Vì vậy trong tương lai, mức độ kiềm chế của Mỹ và đồng minh đối với Trung Quốc sẽ biến chuyển tùy theo mức độ hung hăng và thách thức mà Trung Quốc theo đuổi trong chính sách đối ngoại của mình. Ngoài ra, về phía Mỹ, nếu trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 một ứng cử viên Cộng hòa đắc cử thì nhiều khả năng Mỹ sẽ có một chính sách đối ngoại cứng rắn hơn, nhất là trong quan hệ với Trung Quốc.

Mặc dù có một khả năng là Trung Quốc do các vấn đề trong nước sẽ bị chững lại, thậm chí rối loại và suy yếu, không thể đủ sức “trỗi dậy” mãi mãi đủ để đe dọa vị thế của Mỹ, nhưng khả năng cao hơn là Trung Quốc sẽ tiếp tục vươn lên, dù chậm dù nhanh, để làm cho Mỹ và đồng minh cảm thấy bất an, lo sợ. Khi đó, một cuộc Chiến tranh lạnh Mới ở khu vực, như đã nói trên, là khó có thể tránh khỏi. Cuộc Chiến tranh lạnh Mới giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ khác với cuộc Chiến tranh lạnh thế kỷ 20 giữa Mỹ và Liên Xô ở 4 điểm chính:

  • Chiến lược chứ không phải ý thức hệ:Cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc chủ yếu tập trung vào yếu tố lợi ích chiến lược chứ không phải ý thức hệ. Việc tập hợp lực lượng của hai bên sẽ dựa vào điểm đồng về lợi ích chiến lược chứ không phải ý thức hệ. Đây là đặc điểm chi phối 3 đặc điểm còn lại.
  • Ở cấp độ khu vực chứ không phải toàn cầu:Cuộc Chiến tranh lạnh này sẽ tập trung chủ yếu tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương mà ít có khả năng lan rộng ra toàn cầu bởi Trung Quốc không có một hệ thống đồng minh rộng lớn và lợi ích của Mỹ và Trung Quốc không mâu thuẫn lớn ở các khu vực khác.
  • Không phải giữa 2 khối nước cứng nhắc:Khác với Chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô khi hai bên dẫn đầu hai khối nước trải khắp 5 châu thì trong Chiến tranh lạnh mới sự đối đầu tập trung chủ yếu vào quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ. Nga, như đã nói ở trên, ít có khả năng tham gia cùng Trung Quốc thành một khối chiến lược để đối đầu với Mỹ và đồng minh.
  • Vai trò của tương thuộc kinh tế:Khác với Chiến tranh lạnh thế kỷ 20, trong cuộc Chiến tranh lạnh mới, sự tương thuộc kinh tế giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ giúp kiềm chế bớt hành vi của hai bên, giúp hai bên dễ đối thoại với nhau để giải quyết bất đồng. Tuy nhiên do lợi ích địa chính trị được coi trọng hơn lợi ích kinh tế nên sự tương thuộc kinh tế sẽ không đủ ngăn cản Chiến tranh lạnh mới diễn ra. Viễn cảnh khả dĩ nhất là “kinh tế nóng, chính trị lạnh” giữa các cường quốc.

Vậy xu hướng địa chính trị khu vực này sẽ tác động như thế nào tới Việt Nam, và Việt Nam cần phải ứng phó ra sao?

Lựa chọn chiến lược của Việt Nam

“Lời nguyền địa lý” khiến Việt Nam luôn phải đối diện với những thách thức trong xử lý quan hệ với Trung Quốc. Trước một Trung Quốc lớn mạnh hơn nhiều lần, chiến lược Trung Quốc truyền thống của Việt Nam là ngoại giao hòa hiếu, trong đế ngoài vương, nhún nhường với Trung Quốc trong khả năng cho phép để giữ hòa bình và độc lập.

Nếu không có tranh chấp Biển Đông thì Việt Nam hiện nay sẽ có điều kiện thuận lợi hơn nhiều để duy trì một chính sách hòa hiếu cùng mối quan hệ ổn định, tương kính với Trung Quốc. Thế nhưng, với việc Trung Quốc ngày càng thực hiện các chính sách hung hăng và cưỡng ép, mà sự kiện Giàn khoan 981 là ví dụ điển hình, việc duy trì một chính sách ngoại giao hòa hiếu truyền thống như vậy với Trung Quốc đang ngày càng khó khăn, thậm chí phản tác dụng.

Chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc hiện đối mặt với hai lựa chọn căn bản: ưu tiên quan hệ hữu hảo với Trung Quốc hay ưu tiên chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ?

Trong suốt chiều dài lịch sử đất nước, lựa chọn này luôn được đặt ra cho các nhà cầm quyền Việt Nam, và câu trả lời luôn rõ ràng: Chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là lợi ích quốc gia tối thượng. Đã có những lúc Việt Nam tỏ ra hòa hiếu, nhún nhường với Trung Quốc, nhưng đó là khi Trung Quốc không trực tiếp đe dọa chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, hoặc sau khi Việt Nam đã đánh bại các cuộc xâm lược của các đội quân phương Bắc (ví dụ, Lê Lợi cấp thuyền và ngựa cho lính nhà Minh rút quân về nước, Nguyễn Huệ cho chôn cất tử tế lính nhà Thanh tử trận, gửi sứ thần sang nhận sắc phong và “tạ tội” với hoàng đế nhà Thanh…). Chưa bao giờ trong lịch sử Việt Nam lại nhún nhường, mềm yếu trước Trung Quốc khi Trung Quốc tìm cách xâm lược hoặc cưỡng ép, đe dọa… Việt Nam.

Hiện nay, đương nhiên chúng ta vẫn luôn coi chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ là lợi ích tối thượng. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần xác định Trung Quốc đang đe dọa Việt Nam đến mức nào để quyết định nên hòa hiếu, nhún nhường, hay cứng rắn với Trung Quốc. Nếu mối đe dọa Trung Quốc chưa lớn mà chúng ta quá cứng rắn thì sẽ gây căng thẳng không cần thiết, ngược lại nếu mối đe dọa lớn mà chúng ta nhún nhường, mềm yếu sẽ càng khuyến khích Trung Quốc lấn tới, làm phương hại lợi ích quốc gia.

Trong thời gian qua, xu hướng mối đe dọa từ Trung Quốc đang gia tăng là rõ ràng. Đặc biệt trong vấn đề Biển Đông, một loạt các hành động của Trung Quốc từ năm 2007 đến nay càng cho thấy rõ tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Các hành động như cắt cáp tàu Bình Minh 02, đưa giàn khoan 981 cùng lực lượng hộ tống hùng hổ vào vùng biển Việt Nam, xây dựng và mở rộng đảo nhân tạo… cho thấy cường độ hung hăng của Trung Quốc ngày càng tăng, và chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trên Biển Đông đang bị đe dọa hơn bao giờ hết.

Trong tương lai gần, việc Trung Quốc đưa các giàn khoan xuống Trường Sa và bãi Tư Chính, thiết lập ADIZ trên Biển Đông, tăng cường quân sự hóa các điểm chiếm đóng, thậm chí tìm cách khống chế các tuyến đường biển của Việt Nam hay xâm lược các đảo của Việt Nam đang nắm giữ… là những khả năng không thể bị loại bỏ, nếu không muốn nói đó chỉ là vấn đề thời gian.

Trong bối cảnh đó, ngoài việc nâng cao nội lực về kinh tế, quốc phòng, xây dựng sự đoàn kết và đồng thuận trong cũng như ngoài nước, Việt Nam cần tranh thủ tận dụng các diễn biến địa chính trị khu vực để nâng cao vị thế chiến lược của mình, góp phần kiềm chế tham vọng của Trung Quốc. Đặc biệt việc mâu thuẫn giữa Mỹ và Trung Quốc đang dần gia tăng đang tạo cơ hội cho Việt Nam tăng cường quan hệ với Mỹ và các nước đồng minh và đối tác của Mỹ, nhất là những nước có chung nhận thức về mối đe dọa và lợi ích trên Biển Đông.

Vì vậy, như tác giả bài viết từng đề xuất, trong khi vẫn duy trì nguyên tắc “ba không” trên danh nghĩa, Việt Nam cần từng bước thắt chặt quan hệ chiến lược – an ninh với các quốc gia chủ chốt trong khu vực dưới dạng các “liên minh” mềm, không chính thức, đặc biệt là với Hoa Kỳ và Nhật Bản, để có thể nâng cao vị thế chiến lược của mình trong quan hệ với Trung Quốc, nhất là trên hồ sơ Biển Đông.

Như đã lập luận trước đây, tranh chấp Biển Đông hiện tại gồm ba tầng nấc, với tầng nấc ngoài cùng đang trở nên ngày càng quan trọng là sự cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc. Điều này biến Biển Đông trở thành một trong những “chiến trường” cho sự đối đầu giữa hai cường quốc. Một câu hỏi đặt ra là trong bối cảnh đó, Việt Nam có nên can dự vào cuộc đối đầu này để rồi trở thành “nạn nhân” của một cuộc đấu đá giữa các cường quốc hay không?

Một điều chúng ta phải chấp nhận đối mặt là với vị trí địa lý của mình, đặc biệt là do sự tham gia của chúng ta vào tranh chấp Biển Đông với các lợi ích đan xen, chồng chéo, chúng ta không thể và không nên đứng ngoài các diễn biến địa chính trị khu vực. Nói cách khác, làm sao để Việt Nam không bị ảnh hưởng bởi cuộc đối đầu đang tăng cường giữa Mỹ và Trung Quốc là một nhiệm vụ bất khả thi. Điều chúng ta có thể làm chỉ là làm sao hạn chế được tối đa các tác động tiêu cực của cuộc đối đầu này lên chúng ta mà thôi.

Để làm được điều này, không có cách nào khả dĩ hơn việc chúng ta chủ động can dự vào các diễn biến địa chính trị khu vực, góp phần định hình các diễn biến đó (nếu có thể), hoặc ít nhất nắm bắt được các thông tin, diễn biến, can dự vào ý đồ của các cường quốc để không phải trở thành kẻ ngoài lề, bị động đối phó, và rốt cuộc sẽ trở thành “nạn nhân” bị đem ra mặc cả trong ván cờ giữa các nước lớn như đã từng xảy ra trong lịch sử.

Hiện tại, trong vấn đề Biển Đông, Việt Nam có hai vũ khí quan trọng có thể khiến Trung Quốc e sợ, đó là các lựa chọn pháp lý và việc theo đuổi chính trị liên minh. Tuy nhiên, trong khi phát súng pháp lý chưa thật sự sẵn sàng và một khi bắn ra sẽ không thể thu hồi lại, thì theo đuổi chính trị liên minh là một biện pháp linh hoạt và hiệu quả hơn mà Việt Nam có thể thực hiện để răn đe Trung Quốc.

Thứ nhất, biện pháp này đánh vào tâm lý sợ bị bao vây, “ngăn chặn” của Trung Quốc. Trung Quốc sẽ không bao giờ muốn Việt Nam ngã vào tay một cường quốc đối địch, vì vậy nếu Việt Nam dịch chuyển theo hướng chính trị liên minh thì Trung Quốc sẽ phải cân nhắc trong hành động để không đẩy Việt Nam ra quá xa.

Thứ hai, chính trị liên minh không phải là một con đường một chiều. Cách dễ nhất để hình dung chính trị liên minh là một đường trục với hai thái cực đối diện, một thái cực (-1) là phù thịnh (bandwagoning), đi theo đối thủ, và thái cực còn lại (+1) là tham gia liên minh quân sự để cân bằng (balancing) lại đối thủ. Trong quan hệ với Trung Quốc, Việt Nam lý tưởng nhất là ở vị trí cân bằng (0), tuy nhiên tùy theo diễn biến quan hệ song phương và bối cảnh khu vực, chúng ta có thể điều chỉnh vị trí của mình trong khoảng từ -1 đến +1 cho phù hợp. Ví dụ, nếu Trung Quốc hung hăng, hiếu chiến, Việt Nam có thể điều chỉnh dần sang vị trí  +1, nhưng nếu Trung Quốc ôn hòa, xuống nước, Việt Nam có thể điều chỉnh dần về vị trí số 0. Như vậy chúng ta không nên lo sợ phá vỡ quan hệ với Trung Quốc vì chúng ta có thể điều chỉnh tùy theo tình hình. Điều chúng ta phải lo sợ hơn là mất lãnh thổ, thứ một khi đã rơi vào tay người khác sẽ khó có thể đòi lại được.

Thứ ba, do có sự linh hoạt như trên, nên Việt Nam nếu khéo léo có thể điều chỉnh từng bước đi trong chính trị liên minh để đáp lại các hành động của Trung Quốc. Trước mắt, nếu Trung Quốc tiếp tục đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam, chúng ta có thể áp dụng lại chiến thuật như vừa qua, kiềm chế và kiên nhẫn đấu tranh để Trung Quốc rút, phục hồi nguyên trạng. Tuy nhiên nếu Trung Quốc lặp đi lặp lại hoặc leo thang, ví dụ không rút giàn khoan, đưa giàn khoan xuống khu vực Trường Sa/ Tư Chính, thiết lập ADIZ trên Biển Đông, hay thậm chí xâm lược các vị trí Việt Nam đang nắm giữ, thì Việt Nam cần ứng phó ra sao? Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần phải có các bước chuẩn bị để khi Trung Quốc đi một nước cờ thì Việt Nam có thể đi được một nước tương ứng để đáp lại, tránh tình trạng Trung Quốc leo thang nhưng Việt Nam chỉ có một bài để đấu tranh. Với các nấc thang khác nhau như đã kể trên, chính trị liên minh giúp Việt Nam dự liệu trước các quân bài khác nhau để đối phó với Trung Quốc, bên cạnh chuyện đấu tranh trên thực địa.

Như vậy, trước bối cảnh Trung Quốc ngày càng có các hành động hung hăng mang  tính cưỡng bức trên Biển Đông, Việt Nam cần tận dụng các biến đổi địa chính trị khu vực để giành thế chiến lược có lợi cho mình. Trước mắt, Việt Nam cần thực hiện một số các biện pháp như cảnh báo Trung Quốc về hậu quả chiến lược nếu  tiếp tục có cách hành động cưỡng bức hoặc leo thang tranh chấp; làm việc cùng các quốc gia đối tác quan trọng (đặc biệt là Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Philippines) để lập kế hoạch tăng cường các mối quan hệ song phương, nhất là trong lĩnh vực an ninh – quốc phòng, đồng thời lập kế hoạch các bước đi và nấc thang tiếp theo mà Việt Nam cần thực hiện để đáp lại các hành động gây hấn mới hoặc leo thang tranh chấp trên Biển Đông của Trung Quốc.

Tóm lại, Việt Nam chỉ có thể hòa hiếu với Trung Quốc nếu Trung Quốc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nếu Trung Quốc dùng bạo quyền để cưỡng bức thì chúng ta không thể mềm yếu để rồi mãi mãi đánh mất chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ vì một thứ “hữu nghị viễn vông”.

Trong khi tìm mọi cách cố gắng duy trì quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và tương kính với Trung Quốc, chúng ta cũng nên sẵn sàng theo đuổi các mối quan hệ liên minh với các đối tác ở các lĩnh vực và mức độ khác nhau để đối phó với các mối đe dọa trên Biển Đông. Theo nghĩa đó, liên minh không nên được hiểu là đi với nước này để chống nước kia, mà là đi với nước nào để chúng ta có thể bảo vệ được tốt nhất lợi ích quốc gia của mình.

Nguồn:Nghiencuuquocte.net.

  

 

 

 

 

Cuộc thực nghiệm địa chính trị 2014 của Putin

26 Th12

 

 

– Tổng thống Nga Putin trong năm 2014 đã thực hiện một cuộc “thực nghiệm” địa chính trị lớn. Cuộc thực nghiệm ấy là cơ hội để ông xem xét tầm nhìn của mình trong quan hệ quốc tế và vị trí của Nga trên vũ đài thế giới.

Nước Nga bắt đầu một năm với dấu ấn ngoạn mục ở Thế vận hội mùa đông tại Sochi trị giá nhiều tỉ USD đầu tư và Nga đứng đầu bảng tổng sắp huy chương. Không lâu sau đó, quyết định sáp nhập Crưm hồi tháng 3 được người dân Nga ủng hộ. Tỉ lệ tín nhiệm của Putin tăng vọt từ khoảng 60% đầu năm lên 80%.

Putin, Mỹ, EU, Nga, Ukraina, Crưm, cấm vận, trừng phạt, đồng rúp
Tổng thống Nga Putin và Tổng thống Mỹ Obama. Ảnh: ABCNews

Dĩ nhiên, cái giá phải trả của Putin khi sáp nhập Crưm, đó là sự cô lập của phương Tây, đặc biệt các biện pháp trừng phạt kinh tế đang bắt đầu thấm đòn. Tháng 6, các nước G8 tẩy chay hội nghị thường kỳ của khối vốn dự kiến tổ chức tại Sochi, rồi tuyên bố loại bỏ Moscow ra khỏi khối. Tháng 11, tại hội nghị G20 ở Australia, Putin đã rời hội nghị sớm khi chủ nhà đón tiếp lạnh nhạt và các lãnh đạo phương Tây gây sức ép.

Nước Nga chưa từng chứng kiến một tình trạng khẩn cấp quốc gia như hiện tại kể từ 2002. Tính đến thời điểm hiện tại, đồng rúp đã giảm hơn 40% so với đô la. Dự trữ ngoại hối Nga giảm gần 100 tỉ USD. Lạm phát ở mức 9,1% tính đến tháng 11 và có thể sớm tăng lên hai con số…

Ông Putin trong thông điệp liên bang đầu tháng 12 phải thừa nhận: “Nước Nga vừa trải qua một năm đầy khó khăn”. Ngay cả giới phân tích tại Nga cũng đánh giá, ông Putin hiện đang ở tình thế khó khăn nhất kể từ khi lên nắm quyền. Điều này không chỉ đúng với chính sách ngoại giao mà còn ảnh hưởng tới chính sách đối nội của Moscow. 

Tuy nhiên, giới phân tích cũng cảnh báo về hậu quả khi “gấu Nga” bị “dồn vào chân tường”. Bắt tay với TQ, ông Putin không ngại ngần chuyển tải thông điệp với phương Tây rằng, nếu bị cô lập, Moscow sẽ tìm tới phương Đông cho các dự án, thoả thuận năng lượng, những hợp đồng quân sự và liên minh chính trị mới.

Con át chủ bài của Moscow là một thoả thuận cung cấp khí tự nhiên với TQ thành hiện thực sau nhiều năm đàm phán; là thúc đẩy hợp tác với Ấn Độ. Nga còn không ngừng củng cố các liên kết kinh tế khu vực, tăng cường quan hệ với các nước SNG, mở rộng hợp tác với khu vực châu Á – TBD và Mỹ Latin và giữ tiếng nói quan trọng tại các diễn đàn khu vực như Liên minh kinh tế Á-Âu, BRICS, SCO (Tổ chức hợp tác Thượng Hải)…

Tiến sĩ Andrew C. Kuchins, Giám đốc, nhà nghiên cứu cấp cao thuộc Chương trình Nga và Âu-Á của Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) tại Washington cho rằng không có bằng chứng nào cho thấy các biện pháp trừng phạt sẽ thay đổi cách hành xử của Nga. Thay vào đó sẽ chỉ khuyến khích ông Putin và người Nga giữ nguyên quan điểm.

Còn George Friedman, nhà sáng lập, lãnh đạo công ty tình báo tư nhân lớn nhất thế giới Stratfor nhận xét: “Nếu muốn giết gấu Nga, thì phải giết được ngay, chứ gấu bị thương thì đó là thảm họa với tất cả, và việc tiêu diệt được nước Nga là cực kỳ khó khăn”…

 
Putin, Mỹ, EU, Nga, Ukraina, Crưm, cấm vận, trừng phạt, đồng rúp
Với Chủ tịch TQ Tập Cận Bình. Ảnh: Getty Images

Nhiều danh xưng mà Putin liên tiếp có được những tháng cuối năm chứng tỏ 2014 là một năm quyền lực của ông dù có rất nhiều thách thức phải đối mặt. Ở nước ngoài, năm thứ hai liên tiếp, ông Putin được tạp chí Forbes bình chọn là nhân vật quyền lực nhất thế giới. Vì những ảnh hưởng lớn đến thế giới trong năm qua, Tạp chí Time đề cử ông là Nhân vật của năm. Trong nước, mặc nền kinh tế Nga chao đảo, dân Nga cũng vẫn chọn Putin là “Người đàn ông của năm”. Đây là lần thứ 15 kể từ 1999, ông nhận được danh hiệu này.

Nếu như trước đây, chính sách đối ngoại của Putin không vượt quá điều gọi là phản ứng với những thách thức bên ngoài thì trong 2014, ông đã quyết định so sánh tầm nhìn thế giới mà ông suy nghĩ bấy lâu với thực tế khách quan.

Tầm nhìn ấy là phương Tây không công nhận Nga là đối tác bình đẳng, và hơn thế nữa, họ đang sử dụng nhiều phương cách để dung hòa tiềm năng quân sự chiến lược của Nga; rằng văn minh phương Tây đang khủng hoảng và vai trò dẫn dắt toàn cầu của họ mất dần; rằng ngoại giao thông minh là Nga cần quản lý và xây dựng các mối quan hệ đối tác với những quốc gia “không phải phương Tây”; rằng trong một cuộc đối đầu công khai giữa Nga và phương Tây, thì bất đồng giữa Mỹ và châu Âu sẽ ngày càng sâu sắc và châu Âu có thể cuối cùng đứng về phía Nga; rằng cuối cùng cuộc khủng hoảng, Nga sẽ trở thành nhà lãnh đạo toàn cầu, công khai thách thức với bá quyền Mỹ; và những sụt giảm kinh tế Nga có thể được bù đắp bằng những ảnh hưởng chính trị gia tăng…

Bước sang năm 2015, Tổng thống Putin có thể sẽ tiếp tục theo đuổi các mục tiêu phù hợp với thế giới quan của ông đã đề cập ở trên. Ông sẽ tiếp tục nỗ lực xây dựng quan hệ với cá nhân từng nước châu Âu để phá vỡ sự thống nhất của một khối phương Tây – đặc biệt về mặt chính sách cấm vận; tiếp tục những sáng kiến táo bạo tại các hội nghị của BRICS, SCO, G-20 và các nhóm “phi phương Tây” khác; thực thi nhiều biện pháp để giữ vững ổn định chính trị – kinh tế trong nước…

Tuy vậy, những khó khăn và bấp bênh mà Nga đã và đang phải đối mặt về kinh tế và ngoại giao cũng có thể khiến Putin điều chỉnh cuộc thực nghiệm của mình trong năm mới. 

Putin vẫn giữ được tỉ lệ ủng hộ trên 80% trong nước. Nhưng, sự ủng hộ ấy đang đứng trước quá nhiều áp lực và tác động – chủ yếu là người dân bắt đầu cảm thấy là nạn nhân của các biện pháp trừng phạt phương Tây. Tổng thống Nga có quá nhiều việc để làm phía trước nếu muốn giữ nguyên hình ảnh “người hùng”.

Thái An 

Địa Chính Trị Trong Quan Hệ Hoa Kỳ-Cuba – BS

25 Th12

 

Posted by adminbasam on 24/12/2014

Stratfor Global Intelligence

Tác giả: George Friedman

Người dịch: Lê Minh Nguyên

23-12-2014

H1Trong tuần qua, Tổng thống HK Barack Obama và Chủ tịch Cuba Raul Castro đồng ý trao đổi tù nhân đang bị giam giữ về tội gián điệp. Ngoài ra, Washington và Havana đồng ý tổ chức các cuộc thảo luận với mục đích thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Không có thoả thuận nào về việc chấm dứt lệnh cấm vận của HK đối với Cuba, cái bước đòi hỏi sự chấp thuận của Quốc Hội.

Đây là một thỏa thuận khiêm tốn, bởi vì trong thực tế không có bất cứ một thỏa thuận nào được ký kết. Quan hệ HK-Cuba đã giá băng trong nhiều thập kỷ, với không bên nào sẵn sàng nhượng bộ đáng kể hoặc thậm chí có những buớc đi đầu. Nguyên nhân một phần là do chính trị nội bộ của mỗi nước mà nó làm cho việc lạnh nhạt được khuyến khích. Về phía HK, liên minh của người Mỹ gốc Cuba, các nhóm bảo thủ và các nhóm bảo vệ nhân quyền chỉ trích sự vi phạm nhân quyền của Cuba và ngăn chặn nỗ lực. Về phía Cuba, sự thù nghịch với Hoa Kỳ đóng một vai trò then chốt trong việc duy trì chính đáng tính cho chế độ cộng sản. Không chỉ chính quyền được sinh ra để chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ, mà Havana cũng còn sử dụng lệnh cấm vận của HK để giải thích cho những thất bại kinh tế của Cuba. Không có áp lực bên ngoài để thúc đẩy hai bên tuơng nhuợng nhau, và có nhiều lý do nội bộ đáng kể để duy trì tình trạng ngưng đọng như vậy.

Người Cuba bây giờ đang bị một số áp lực để chuyển dịch chính sách của họ. Họ đã tìm cách để tồn tại sau sự sụp đổ của Liên Xô với những khó khăn. Bây giờ họ phải đối diện với một vấn đề cấp bách ngay trước mắt: sự bất ổn của Venezuela. Caracas cung cấp dầu cho Cuba với sự giảm giá rất lớn. Thật khó có thể nói nền kinh tế của Cuba gần bờ vực như thế nào, nhưng rõ ràng là dầu của Venezuela đã tạo ra một sự khác biệt đáng kể. Chính quyền của Tổng thống Venezuela, Nicolas Maduro, đang phải đối mặt với tình trạng bất ổn đang tăng tốc cho những thất bại về kinh tế. Nếu chính phủ Venezuela sụp đổ, Cuba sẽ mất đi một trong những trụ cột nền móng để chống đỡ chế độ. Số phận của Venezuela vẫn còn chưa biết được như thế nào, nhưng Cuba phải đối mặt với khả năng của một kịch bản xấu nhất có thể xảy ra này, và phải tạo điều kiện cho việc mở cửa. Mở cửa sang Hoa Kỳ thì hợp lý trong việc duy trì chế độ.

Lý do cho sự thay đổi của HK thì ít rõ ràng hơn. Nó có ý nghĩa chính trị từ thế đứng của Obama. Thứ nhất, về ý thức hệ, bỏ cấm vận hấp dẫn ông ta. Thứ hai, ông có ít thành công trong chính sách đối ngoại được ghi nhận. Bình thường hóa quan hệ với Cuba là cái gì đó ông có thể đạt được, bởi vì những nhóm như Phòng Thương mại Mỹ ủng hộ việc bình thường và sẽ cung cấp vỏ bọc chính trị bảo vệ ông bên phía Đảng Cộng hòa. Nhưng cuối cùng và có lẽ quan trọng nhất là các nền tảng địa chính trị đã ám ảnh HK về Cuba hầu hết đã không còn nữa, nếu không phải vĩnh viễn thì ít ra là trong tương lai gần. Bình thường hóa quan hệ với Cuba không còn là mối đe dọa chiến lược. Để hiểu được phản ứng của HK với Cuba trong nửa thế kỷ qua, quan trọng là sự hiểu biết về thách thức địa chính trị của Cuba cho Hoa Kỳ.

Giá trị chiến lược của Cuba

H2Ngược dòng thời gian, sự thách thức bắt đầu từ khi hoàn tất việc mua Louisiana của Tổng thống Thomas Jefferson năm 1803. Lãnh thổ Louisiana thuộc sở hữu của Tây Ban Nha trong hầu hết lịch sử của nó cho đến khi nó được nhượng lại cho Pháp một vài năm trước khi Napoleon bán lại cho Hoa Kỳ để lấy tiền tài trợ cho chiến tranh với người Anh. Jefferson thấy Louisiana là thiết yếu cho an ninh quốc gia của HK trong hai phuơng diện: Thứ nhất, dân Mỹ vào thời điểm đó chủ yếu sống ở phía đông của rặng núi Appalachians trong một dải dài chạy từ New England tới biên giới Georgia-Florida. Nó rất dễ bị xâm lược và không có chổ để rút lui, như hiển nhiên đã thấy trong cuộc chiến tranh năm 1812. Thứ hai, Jefferson có viễn kiến về sự thịnh vượng của HK nên được xây dựng xung quanh những nông dân sở hữu đất đai của mình, sống như các doanh nhân chứ không phải là nông nô. Vùng đất trù phú của Louisiana, nếu ở trong tay của những người di dân đến Hoa Kỳ, sẽ tạo ra sự giàu có để xây dựng đất nước và cung cấp chiều sâu chiến lược để đảm bảo an ninh của HK.

Điều làm cho Louisiana có giá trị là cấu trúc sông của nó sẽ cho phép người nông dân miền Trung Tây vận chuyển hàng hóa trong các sà lan đến sông Mississippi và theo dòng đi xuống New Orleans. Tại đây, nông phẩm sẽ được chuyển qua cho các tàu đi biển và vận chuyển đến châu Âu. Các nông phẩm này sẽ làm cho cuộc Cách mạng công nghiệp ở Anh dễ thực hiện, vì việc nhập khẩu số lượng lớn thực phẩm giúp giải phóng nông dân Anh hầu cung cấp nhân lực làm việc trong các ngành công nghiệp ở đô thị.

Để cho việc thực hiện điều này được thuận tiện, HK cần kiểm soát hệ thông sông ngòi chằn chịt Ohio-Missouri-Mississippi (trong đó có rất nhiều con sông khác), cửa sông Mississippi, Vịnh Mexico, và các lối ra Đại Tây Dương chạy giữa Cuba và Florida, cũng như giữa Cuba và Mexico. Nếu chuỗi dây chuyền cung cấp này bị phá vỡ ở bất cứ nơi nào, nó sẽ gây hậu quả đáng kể cho toàn cầu – và đặc biệt là cho HK. New Orleans vẫn là cảng lớn nhất cho các khối luợng hàng to lớn ở HK, vẫn vận chuyển lương thực tới châu Âu và nhập khẩu thép cho nền sản xuất của HK.

Đối với người Tây Ban Nha, Lãnh Thổ Louisiana là lá chắn chống HK xâm nhập vào Mexico và các mỏ bạch kim giàu có của họ, nó cung cấp một phần đáng kể cho sự giàu thịnh của Tây Ban Nha. Với Louisiana trong tay HK, những thành trì quan trọng này bị đe dọa. Nhìn từ quan điểm của người Mỹ, mối quan tâm của Tây Ban Nha có thể đưa đến khả năng Tây Ban Nha can thiệp vào thương mại của HK. Với Florida, Cuba và Yucatan (Mễ) nằm trong tay Tây Ban Nha, người Tây Ban Nha có tiềm năng để ngăn chặn dòng sản xuất chảy xuống Mississippi.

Cựu Tổng thống Andrew Jackson đóng vai trò quan trọng trong chiến lược của Jefferson. Là một tướng lãnh, ông tiến hành các cuộc chiến tranh chống lại người da đỏ Seminole ở Florida và chiếm lấy lãnh thổ này từ sự cai trị của Tây Ban Nha – và từ Seminoles. Ông bảo vệ New Orleans từ cuộc tấn công của Anh năm 1814. Khi ông trở thành tổng thống, ông thấy rằng Mexico, bây giờ đã độc lập từ Tây Ban Nha, trở thành mối đe dọa chính cho toàn bộ sự nghiệp của vùng trung Mỹ. Biên giới của Mexico ở Texas nằm trên sông Sabine, chỉ 193 km (120 dặm) từ Mississippi. Jackson, thông qua cấp duới của ông là Sam Houston, khuyến khích sự nổi dậy của Texas chống lại người Mexico để thiết lập sân khấu cho sự sáp nhập.

Nhưng Cuba của Tây Ban Nha vẫn là cái gai đâm vô hông HK. Các eo biển Florida và Yucatan đều hẹp. Mặc dù Tây Ban Nha, ngay cả khi ở trong trạng thái suy yếu, vẫn có thể ngăn chặn tuyến đường thương mại của Mỹ, nhưng người Anh mới chính là điều làm cho người Mỹ lo lắng nhất. Có căn cứ ở Bahamas, gần Cuba, người Anh, trong tâm trí của họ có nhiều mâu thuẫn với Hoa Kỳ, có thể chiếm Cuba và áp đặt lệnh phong tỏa gần như bất khả phá vỡ, làm tê liệt nền kinh tế HK. Anh phụ thuộc vào nông phẩm ở Mỹ, cho nên không thể loại trừ khả năng họ sẽ tìm cách giành quyền kiểm soát xuất khẩu từ Trung Tây để đảm bảo an ninh kinh tế của họ. Nỗi lo sợ quyền lực của Anh đã góp phần định hình cuộc nội chiến và những thập kỷ sau đó.

Cuba là chìa khóa. Nếu nó trong tay của một thế lực thù địch nước ngoài, nó có giá trị như nút đậy sông Mississippi, không khác gì chiếm được New Orleans. Sự suy yếu của người Tây Ban Nha làm cho người Mỹ lo sợ. Bất kỳ quyền lực mạnh mẽ nào của châu Âu – nguời Anh, hay sau năm 1871, người Đức – có thể dễ dàng đá văng người Tây Ban Nha ra khỏi Cuba. Và Hoa Kỳ, thiếu một lực lượng hải quân hùng mạnh, sẽ không thể đối phó. Chiếm Cuba đã trở thành vấn đề cấp bách trong chiến lược của HK. Theodore Roosevelt, tổng thống trông coi sự trừng lên của HK như là một cuờng quốc hải quân lớn – và là người đã giúp đảm bảo việc xây dựng kênh đào Panama, vì nó tối quan trọng cho một lực lượng hải quân hai đại dương – đã trở thành biểu tượng của việc HK chiếm Cuba trong cuộc chiến Tây ban nha-HK những năm 1898-1900.

Với việc chiếm Cuba, đường vận chuyển New Orleans-Atlantic được bảo đảm. Hoa Kỳ duy trì quyền kiểm soát Cuba cho đến khi sự nổi lên của Fidel Castro. Nhưng Hoa Kỳ vẫn luôn lo lắng về an ninh Cuba. Bởi vì nếu chính tự nó, hòn đảo này không thể đe dọa các đường cung cấp hàng hải. Tuy nhiên, nếu trong tay của một thế lực thù địch đáng kể, Cuba có thể trở thành căn cứ cho việc bóp nghẹt Hoa Kỳ. Trước thế chiến thứ II, khi có dư luận ồn ào về ảnh hưởng của Đức ở Cuba, Hoa Kỳ đã làm tất cả những gì có thể để đảm bảo sự vuơn lên của cựu lãnh đạo Cuba, Fulgencio Batista, được coi như là một đồng minh hay con rối của HK, tùy thuộc vào cách nhìn của mỗi nguời. Nhưng điều then chốt là: Bất cứ khi nào có một thế lực lớn của nước ngoài quan tâm đến Cuba, thì Hoa Kỳ luôn phản ứng, điều này đã có hiệu quả cho đến khi Castro nắm quyền vào năm 1959.

Ảnh hưởng của Liên Xô

Nếu Liên Xô muốn tìm kiếm một điểm duy nhất mà từ đó họ có thể đe dọa lợi ích của HK, họ sẽ thấy không có nơi nào hấp dẫn hơn Cuba. Vì vậy, cho nên dù Fidel Castro có là cộng sản hay không trước khi nắm chính quyền, thì cuối cùng ông ta cũng sẽ trở thành một đồng minh cộng sản của Liên Xô. Tôi nghi rằng ông ta đã trở thành cộng sản những năm trước khi ông lên nắm quyền nhưng đã khôn ngoan che giấu, vì biết rằng nếu công khai nói mình là nhà cai trị theo cộng sản ở Cuba, thì sẽ làm sống lại những nỗi sợ hãi cũ của HK. Cũng có thể, ông không phải là nguời cộng sản, nhưng quay sang Liên Xô vì sợ hãi sự can thiệp của HK. Hoa Kỳ, do không thể đọc được là cuộc cách mạng đang xảy ra, đã máy móc đi theo hướng gia tăng sự kiểm soát. Castro, dù như một người cộng sản, hay một nhà cải cách ruộng đất, hay bất cứ ông ta là gì, đều cần một đồng minh để chống lại sự can thiệp của HK. Cho dù sự sắp xếp đã được lên kế hoạch từ nhiều năm, như tôi nghi ngờ, hay do một cú đẩy đột ngột, Liên Xô đã nhìn thấy nó như là một cuộc hôn nhân được thực hiện ở thiên đàng.

Cho dù Liên Xô không bao giờ đặt vũ khí hạt nhân ở Cuba, Hoa Kỳ vẫn sẽ phản đối một đồng minh của Liên Xô nắm quyền kiểm soát ở Cuba trong Chiến Tranh Lạnh. Điều này đã được in khằng trong địa chính trị của HK. Nhưng Liên Xô đã đặt tên lửa ở đó, đây cũng là điều cần nên đề cập đến.

Lực lượng không quân Liên Xô thiếu các máy bay chiến luợc ném bom tầm xa. Trong Thế chiến thứ II, họ đã tập trung vào máy bay tầm ngắn, lực luợng không quân của họ để yểm trợ các hoạt động trên mặt đất. Hoa Kỳ, vì đương đầu với cả Đức và Nhật Bản từ trên không ở tầm xa, cho nên có rất nhiều kinh nghiệm với máy bay ném bom tầm xa. Do đó, trong những năm 1950s, máy bay HK có căn cứ ở Châu Âu, và kế đến, với B-52 ở lục địa Hoa Kỳ, đều có thể tấn công Liên Xô bằng vũ khí hạt nhân. Liên Xô, thiếu một đội ngũ máy bay ném bom tầm xa, không thể trả đũa Hoa Kỳ. Cán cân quyền lực hoàn toàn nghiêng về phía Hoa Kỳ.

Liên Xô lập kế hoạch nhảy vọt vuợt qua sự khó khăn trong việc xây dựng đội máy bay ném bom có ​​người lái, bằng cách di chuyển các tên lửa đạn đạo liên lục địa. Đầu những năm 1960s, các thiết kế tên lửa đã tiến nhanh, nhưng triển khai sử dụng thì chưa. Liên Xô không thể ngăn chặn hiệu quả một cuộc tấn công hạt nhân của HK, ngoại trừ hạm đội tàu ngầm vẫn còn kém phát triển của họ. Bầu không khí giữa Hoa Kỳ và Liên Xô chứa nhiều nọc độc, và Moscow không thể giả định rằng Washington sẽ không sử dụng cửa sổ cơ hội đang bị thu hẹp để tấn công một cách an toàn chống Liên Xô.

Liên Xô có tên lửa đạn đạo tầm trung hiệu quả. Mặc dù nó không thể bắn tới Hoa Kỳ từ Liên Xô, nhưng nó có thể bắn tới hầu như tất cả các nơi nào của Hoa Kỳ từ Cuba. Người Nga chỉ cần mua thêm chút thời gian cần thiết để triển khai lực lượng tên lửa đạn đạo liên lục địa khổng lồ và lực luợng tàu ngầm. Cuba là một nơi hoàn hảo để triển khai từ đó. Nếu thành công, Liên Xô có thể đóng lại cửa sổ cơ hội của HK bằng cách đặt một lực lượng răn đe ở Cuba. Họ đã bị khám phá trước khi họ có thể sẵn sàng. Hoa Kỳ đe dọa chiếm đóng, và Liên Xô nghĩ rằng người Mỹ cũng đang đe dọa một cuộc tấn công hạt nhân áp đảo vào Liên Xô. Họ đã phải lùi bước. Như đã được biết, Hoa Kỳ không dự định cho một cuộc tấn công như vậy, nhưng Liên Xô không thể biết được điều đó.

Cuba đã khằng lên tâm lý chiến lược của Mỹ qua hai lớp. Tự nó, nó không bao giờ là một mối đe dọa. Dưới sự điều khiển của một lực lượng hải quân nước ngoài, nó có thể bóp nghẹt Hoa Kỳ. Sau khi Liên Xô cố gắng triển khai tên lửa đạn đạo tầm trung, nó tạo ra thêm một lớp mới, đó là Cuba trở thành mối đe dọa tiềm năng cho lục địa HK, tương tự như các tuyến đường thương mại. Các thỏa thuận giữa Hoa Kỳ và Liên Xô bao gồm việc đảm bảo là HK không xâm chiếm Cuba, và Liên Xô không lập căn cứ vũ khí hạt nhân ở đó. Nhưng Cuba vẫn là một vấn nạn đối với Hoa Kỳ. Nếu có một cuộc chiến tranh ở châu Âu, Cuba sẽ là một căn cứ để đe doạ sự kiểm soát của HK ở Caribbean, và cùng với nó, là khả năng của HK để vận chuyển tàu từ hạm đội Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương. Áp lực của Hoa Kỳ không bao giờ thuyên giảm cho Cuba, Liên Xô sử dụng nó như là một căn cứ cho nhiều thứ, trừ vũ khí hạt nhân (ta cho là như vậy), và chế độ Castro bám vào Liên Xô để có được an ninh, trong khi hỗ trợ các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, như thuờng được gọi, ở châu Mỹ Latin và châu Phi, nhằm phục vụ lợi ích chiến lược của Liên Xô.

Cuba hậu Liên Xô

Với sự sụp đổ của Liên Xô, Castro bị mất nơi nương tựa và bảo đảm chiến lược. Mặt khác, Cuba không còn là mối đe dọa cho Hoa Kỳ. Có một sự thỏa hiệp ngầm. Vì Cuba đã không còn là một mối đe dọa đối với Hoa Kỳ, nhưng trên lý thuyết vẫn là có thể, cho nên Washington sẽ không chấm dứt sự thù địch đối với Havana nhưng sẽ không tích cực cố gắng lật đổ. Về phần mình, chính quyền Cuba hứa sẽ không làm những gì, mà thực ra nó cũng không thể có khả năng làm: trở thành một mối đe dọa chiến lược cho Hoa Kỳ. Cuba vẫn là mối phiền toái giống như Venezuela, nhưng mối phiền toái không phải là đe dọa chiến lược. Do vậy, mối quan hệ vẫn lạnh.

Kể từ khi mua Louisiana, Cuba là mối đe dọa tiềm năng cho Hoa Kỳ khi nó bị kiểm soát hay nó liên kết với một cường quốc châu Âu. Vì vậy, Hoa Kỳ không ngừng cố gắng định hình các chính sách của Cuba, và do đó, lên chính trị nội bộ của Cuba. Mục tiêu của Fidel Castro là chấm dứt sự ảnh hưởng của HK, nhưng ông chỉ có thể đạt được điều đó bằng cách nối kết với một cường quốc: Liên Xô. Cuba độc lập từ Hoa Kỳ đòi hỏi nó phải lệ thuộc vào Liên Xô. Và rằng, giống như tất cả các mối quan hệ, nó phải trả bằng một cái giá.

Việc trao đổi tù nhân là thú vị. Việc mở đại sứ quán là quan trọng. Nhưng câu hỏi lớn vẫn chưa được trả lời. Ở thời điểm này, không có quyền lực lớn khai thác vị trí địa lý của Cuba (bao gồm cả Trung Quốc, cho hiện tại). Vì vậy, không có các vấn đề quan trọng. Nhưng không ai biết được tương lai. Cuba muốn duy trì chế độ và tìm cách giải tỏa áp lực từ Hoa Kỳ. Tại thời điểm này, Cuba thực sự không quan trọng. Nhưng khi thời gian đi qua, không ai có thể đảm bảo rằng nó sẽ không trở nên quan trọng. Cho nên, chính sách của HK nhấn mạnh vào sự thay đổi chế độ trước khi giải tỏa áp lực. Với việc Cuba quyết định duy trì chế độ, thì Cuba có gì để cho? Họ có thể hứa trung lập vĩnh viễn, nhưng cam kết như vậy không có giá trị nhiều.

Cuba cần quan hệ tốt hơn với Hoa Kỳ, đặc biệt là nếu chính quyền Venezuela sụp đổ. Với nền kinh tế nghèo nàn của Venezuela thì có thể, về mặt lý thuyết, Cuba buộc phải thay đổi chế độ do từ áp lực nội bộ. Hơn nữa, Raul Cátro đã già và Fidel Cátro đã rất già. Nếu chính quyền Cuba cần phải duy trì, nó phải được bảo đảm ngay từ bây giờ, bởi vì hiện giờ không được rõ là những gì sẽ nối tiếp khi hậu Castros. Nhưng Hoa Kỳ có yếu tố thời gian, và mối quan tâm về Cuba là một phần trong DNA của HK. Không có sự lo lắng trong hiện tại, thì duy trì áp lực là điều không có ý nghĩa. Nhưng Washington cũng không có sự khẩn cấp để chấm dứt nó cho Havana. Obama có thể muốn có một di sản, nhưng logic của tình hình là Cuba cần điều này hơn HK, và cái giá của HK cho việc bình thường sẽ cao hơn khi nó xuất hiện ở thời điểm này, cho dù được thiết lập bởi Obama hay người kế nhiệm ông.

Chúng ta đang vẫn còn xa để giải quyết một tranh chấp chiến lược bắt nguồn từ vị trí của Cuba, và sự kiện là vị trí của nó có thể đe dọa lợi ích của HK. Cho nên, động thái cởi mở chỉ là động thái cởi mở. Con đường vẫn còn rất dài trong vấn đề này.

Khủng hoảng giữa Nhật Bản và Trung Quốc sẽ là một căng thẳng địa chính trị nghiêm trọng nhất trên thế giới – ĐCV

2 Th2

Khủng hoảng giữa Nhật Bản và Trung Quốc sẽ là một căng thẳng địa chính trị nghiêm trọng nhất trên thế giới

Giới thiệu: Bản tiếng Việt dưới đây dựa trên một cuộc phỏng vấn ông Ian Bremmer, chủ tịch công ty tham vấn về địa chính trị Eurasia Group, được thực hiện tại Davos, Thụy Sĩ bởi tạp chí Business Insider. Bài phỏng vấn với văn nói được viết lại thành một bài bình luận. Nhưng nội dung không thay đổi.

Hình (U.S. Department of Energy): Bản đồ tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Trung Quốc và Nhật Bản xem ra sắp bước vào một cuộc chiến súng đạn về một vài hòn đảo nhỏ mà hai bên đang tranh chấp. Sự căng thẳng giữa hai nước đang gia tăng bất kể những hòn đảo và là một mối lo ngại quốc gia lớn lao đối với Hoa Kỳ và các nơi khác trên thế giới.

Chuyện gì sẽ xẩy ra với Trung Quốc và Nhật Bản?

Vấn đề to lớn là quan hệ, cân bằng sức mạnh giữa hai nước này đã thay đổi và đang thay đổi một cách đột ngột, gây ấn tượng sâu sắc – thật sự và rất mạnh mẽ, không có lợi cho Nhật Bản.

Từ những phối cảnh về an ninh, chính trị, và kinh tế nẩy sinh ra những vấn đề lớn lao cho Nhật Bản. Hiện nay sau cùng Nhật Bản đã có một nhà lãnh đạo [Shinzo Abe] có khả năng tại chức một thời gian. Ông ta không những có khuynh hướng quốc gia dân tộc mà còn có khuynh hướng ngày càng ủng hộ dân chủ. Ông đã là thủ tướng trước đây và là một người thực tiễn hơn, nhưng nếu chúng ta gặp ông, ông nói về sự mong muốn thành lập một liên minh các nước dân chủ tại Á châu [và] hướng nhiều hơn về Ấn Độ, Úc châu, và Tân Tây Lan. Ông [xứng đáng với biệt hiệu] là Ông Chuyển Hướng trước khi vấn đề chuyển hướng trở thành một thời trang.

Nhà lãnh đạo mới của Nhật Bản bước vào một lãnh vực mà Hoa Kỳ đã hành động vì lo ngại về thử thách của Trung Quốc ở trong vùng.  Nhìn từ phối cảnh của chính sách ngoại giao, đây là một cố gắng chiến lược đơn thuần lớn nhất mà chánh quyền Obama đã cam kết.

Chúng ta phải nghĩ rằng Trung Quốc sẽ xem tất cả những thứ này là những hành động khiêu khích. Câu hỏi thật sự là chính phủ Trung Quốc sẵn sàng để phản ứng tới mức nào trong cách leo thang? Đây có phải là trường hợp xung đột giữa Nga – Georgia hay không? Đúng một chút. Chúng ta đang chọc con gấu phải không? Tôi không có câu trả lời về vấn đề này, nhưng tôi nghi ngờ rằng nó không tốt.

Tôi có một vài điểm vắn tắt sau đây:

Trước hết, trái với Ông Hồ Cẩm Đào, Ông Tập Cận Bình có quyền hành đối với quân đội. Ông củng cố trực tiếp được nhiều những thứ như Ban Thường Vụ xung quanh. Ông ta là một nhân vật mạnh mẽ hơn, cá tính mạnh mẽ hơn, và dược lòng trung thành của Quân Đội nhiều hơn. Như vậy, nếu muốn leo thang, ông có thể cảm thấy thoải mãi hơn và tự tin rằng ông có thể tăng, giảm mà không mất khả năng kiểm soát. Điều này nguy hiểm cho Nhật Bản.

Nếu chúng ta cũng nhìn vào cách Trung Quốc tiến hành về vấn đề này trước đây: cho phi cơ bay sát địa phận trước những cuộc bầu cử, hầu như là Trung Quốc không muốn Ông [Shinzo] Abe đắc cử, [nhưng] họ chắc chắc không phiền hà nếu Ông Abe thắng. Chủ nghĩa quốc gia dân tộc bài Nhật là màn kịch Trung Quốc đóng dễ dàng. Nó cho phép Trung Quốc giải tỏa một số việc nếu không sẽ gây ra bất mãn và như vậy tạo ra những khó khăn cho chính phủ Trung Quốc.

Một điểm chót về vấn đề này. Khi chúng ta nhìn vào vấn đề Trung Quốc – Nhật Bản, so với tất cả những lãnh thổ khác trong vùng – chúng ta nói về Biển Hoa Đông, Biển Hoa Nam – với tất cả những nước trong vùng Biển Hoa Nam, Trung Quốc có một nền kinh tế lớn hơn bất cứ nền kinh tế nào của những nước này, nhưng Trung Quốc cũng lại có những cộng đồng dân Trung Quốc ở hải ngoại chế ngự nền kinh tế địa phương. Họ là những doanh nhân, và với thời gian điều này làm cho Trung Quốc thoải mái. Những doanh nhân này biết chuyện gì xẩy ra bên trong nước, tạo ra sự minh bạch. Nhưng điều này cũng có nghĩa là với thời gian, Trung Quốc thật sự cảm thấy như thể là nếu họ chỉ cần xây dựng một quan hệ kinh tế, an ninh sẽ được bảo đảm.

Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng chính trị, họ sẽ có ảnh hưởng an ninh song phương. Tất cả Trung Quốc có thể làm được là nắm chắc rằng Hoa Kỳ không có khả năng để tạo ra những liên hệ đa phương ở trong vùng.

Đối với trường hợp Nhật Bản, điều này không đúng. Không có người Trung Quốc có ảnh hưởng thương mại quan trọng trong nước Nhật. Họ rất mơ hồ về cách thức hệ thống hoạt động. Nhật Bản lớn hơn nhiều, do đó, nếu chúng ta là Trung Quốc, chúng ta nghĩ làm thế nào để có thể thay đổi cán cân theo chiều hướng có lợi cho chúng ta. Khi chúng ta trở thành một nền kinh tế lớn nhất thế giới, khi chúng ta xây dựng một quân lực lớn mạnh hơn, vấn đề của chúng ta là Nhật Bản.

Một quốc gia mà chúng ta chuẩn bị để xông xáo tới – bây giờ tạm gọi là quyết đoán – nhưng sau này có thể là xông xáo – là Nhật Bản. Tất cả những yếu tố cấu trúc này thật sự làm tôi lo ngại. Không có gì để nghi ngờ rằng những liên hệ kinh tế giữa hai nước vẫn còn quan trọng. Không có gì phải thắc mắc rằng Hoa Kỳ chắc chắn không muốn thấy tranh chấp giữa nước đồng minh Nhật Bản và Trung Quốc. Hoa Kỳ sẽ có thể cố gắng tới mức nào để ngăn chặn cuộc tranh chấp này với một tiền đề là Hoa Kỳ và Nhật Bản có quan hệ mật thiết; Tôi không rõ nếu cuộc tranh chấp sẽ không trở thành nghiêm trọng hơn. Nếu tôi phải đánh cuộc ngay bây giờ, tôi nghĩ rằng sẽ có tình trạng sẽ leo thang nghiêm trọng trong năm 2013.

Tôi nghĩ cho đến nay, Trung Quốc – Nhật Bản là một căng thẳng địa chính trị nghiêm trọng nhất trên căn bản tranh chấp trực tiếp song phương trong những năm sắp tới.

Sẽ có chiến tranh giữa Trung Quốc và Nhật Bản ?

japan-china crisis 1

Tôi nghĩ rằng hai nước đang có chiến tranh rồi. Tôi nghĩ rằng cuộc chiến vi tính chống các ngân hàng Nhật đã gia tăng rất nhiều. Tôi nghĩ chúng ta nhìn vào những cuộc biểu tình chống Nhật Bản do chính phủ rõ ràng khuyến khích và ảnh hưởng trực tiếp đối với đầu tư của Nhật tại Trung Quốc. Chiến tranh ngày nay được điều khiển bằng những phương tiện khác. Chúng ta có thể chắc chắn không nói rằng những kẻ này là bạn. Câu hỏi là họ là kẻ thù hay là vừa là bạn vừa là kẻ thù?

Nhìn vào nhóm 20 quốc gia (G-20), liên hệ song phương tệ nhất trong bất cứ hai nước nào trong G-20 hiện nay là Trung Quốc – Nhật Bản. Tôi nghĩ điều này rõ ràng. Nhân tiện đây, mười năm trước là trường hợp Nga – Nhật Bản.  Vào thời điểm đó cũng liên hệ đến tranh chấp lãnh thổ.  Nhật Bản thật sự đã phải làm việc vất vả để cải thiện liên hệ này.

Vì nhiều lý do tình trạng trước đây dễ dàng hơn nhiều. Chúng ta không có vấn đề văn hóa. Nga thấy Nhật có khả năng trả tiền và tất cả những thứ như vậy. Trường hợp Trung Quốc – Nhật Bản vô cùng khó khăn hơn.

Tôi có nghĩ rằng hai nước sẽ trực tiếp đối đầu nhau không?  Đây không phải là trường hợp Nga xâm chiếm Georgia với xe tăng, nhưng chúng ta có thể chắc chắn thấy những cuộc giao tranh nhỏ trên lãnh thổ tranh chấp. Sự kiện này có khả năng lôi cuốn sự có mặt nhiều hơn của Hoa Kỳ trong vùng. Nguy hiểm là điều này có thể làm cho quan hệ Hoa Kỳ – Trung Quốc trở nên tồi tệ.

Nếu ở trong đúng tình trạng này, những gì sẽ xẩy ra? Một phi cơ Nhật sẽ bắn đạn lửa vào một phi cơ Trung Quốc. Phi cơ Trung Quốc phản ứng lại và bắn rơi phi cơ Nhật. Cái gì sẽ xẩy ra?

Trước hết chúng ta sẽ thấy bang giao giữa hai nước bị cắt đứt. Dĩ nhiên những đại sứ sẽ bị triệu hồi tức khắc. Không phải là hoàn toàn đoạn tuyệt, nhưng đây là việc đầu tiên xẩy ra. Chúng ta sẽ thấy [những hoạt động] bài Trung Quốc và [những hoạt động] bài Nhật ở khắp nơi. Chúng ta sẽ thấy một vài trường hợp liên hệ đến bạo lực.

Hình (Reuters): Ngoại Trưởng Nhật Fumio gặp Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hilary Clinton trong lần viếng thăm Washington vào giữa tháng 1, 2013. Hoa Kỳ tuyên bố không ủng hộ bất cứ một hành động đơn phương nào về cuộc tranh chấp lãnh hải giữa Trung Quốc và Nhật Bản.

Có thể sẽ có một số người gốc Nhật sống tại Trung Quốc sẽ bị đánh đập và giết chết. Việc đánh phá các cơ sở của Nhật Bản tại Trung Quốc được xem như không chịu đựng nổi.  Những công ty Nhật sẽ phải rời khỏi Trung Quốc hàng loạt.

Tình trạng xấu đủ. Đây là những điều thật chắc chắn xẩy ra nếu có kiểu đương đầu như vậy. Câu hỏi đặt ra là hai bên có thể quay ngược trở lại được không?

Về viễn cảnh quân sự, tôi nghi ngờ hai nước muốn như vậy. Hoa Kỳ lập tức sẽ biểu dương sức mạnh. Đây hiển nhiên sẽ là một báo động cao nhất cho cả hai phe, nhưng cũng sẽ có nhiều biện pháp để tạo sự tin cậy giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc để thử bảo đảm cuộc tranh chấp quân sự giữa Nhật – Trung Quốc không bị vượt ra khỏi khả năng kiềm chế.

Bây giờ hãy nhớ rằng Nhật Bản chi tiêu vào khoảng 1% tổng sản phẩm nội địa về quốc phòng. Nhật Bản không tự bảo vệ như chúng ta. Điều này làm cuộc sống dễ dàng hơn khi nghĩ về tình trạng tồi tệ có thể gặp phải, nhưng không có nguy hiểm về chiến tranh – xung đột quân sự trực tiếp – tình trạng này làm cho hai bên tin tưởng rằng việc leo thang là có thể xẩy ra.

Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, nếu có xung đột – Đông và Tây Đức – người ta nói tới Thế Chiến Thứ III. Nhưng ở đây không ai nói như thế. Một phần bởi vì Nhật quá yếu. Một phần vì Nhật, Trung Quốc, và Hoa Kỳ có quá nhiều quyền lợi kết nối với người Trung Quốc.

Nhưng nếu Hoa Kỳ biểu dương lực lượng, Hoa Kỳ sẽ bảo vệ Nhật Bản?  Hoa Kỳ sẽ phải làm như thế vì Nhật Bản là đồng minh của chúng ta.  Hoa Kỳ cũng có những quyền lợi tại Trung Quốc. Chúng ta đã chọn phe. Nếu nhìn vào lời tuyên bố của Bà Hillary Clinton về điểm này, chúng ta rõ ràng đã lựa chọn phe: “Chúng ta không muốn dính líu vào cuộc xung đột này, nhưng hãy để cho chúng ta làm sáng tỏ một cách rất tường tận rằng chúng ta ủng hộ sự toàn vẹn lãnh thổ của Nhật Bản.” Chúng ta dành cho Nhật Bản những hòn đảo này. Họ là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ. Chúng ta cam kết về điều đó.

Chúng ta có những quyền lợi to tát tại Trung Đông trong lãnh vực năng lượng. Những quyền lợi này đang giảm xuống với thời gian. Do Thái là đồng minh của chúng ta. Điều này làm chúng ta gặp khó khăn. Đây là rõ ràng là một tình trạng tương tự, nhưng Trung Quốc rất quan trọng đối với chúng ta về phương diện kinh tế hơn bất cứ nước nào tại Trung Đông.

Hoa Kỳ có đánh nhau với Trung Quốc hay không?

Nếu Trung Quốc quyết định lấy những đảo này, chúng ta có bảo vệ Nhật Bản hay không? Chúng ta có đánh nhau với Trung Quốc hay không?

Tôi nghĩ rằng xác suất của kịch bản này quả thật rất thấp, chính vì Hoa Kỳ dính líu vào việc này.  Thật vậy, trong khi Trung Quốc đã chuẩn bị hành động gây gỗ không thỏa hiệp với Nhật Bản, tôi không tin rằng Trung Quốc sẵn sàng để hành động như vậy với Hoa Kỳ.

Việc Hoa Kỳ can dự vào cuộc xung đột Trung-Nhật sẽ có những ảnh hưởng kinh tế gián tiếp không thể tránh được. Nó sẽ có tác động trên quan hệ thương mại Trung-Mỹ, và chắc chắn sẽ làm cho quan hệ ngoại giao giữa hai nước trở nên lạnh nhạt hơn nhiều. Nó cũng sẽ làm cho tiềm năng hợp tác mới mẻ về Syria không đáng kể qua thời gian. Bắc Hàn và nhiều nơi khác chúng ta cần sư hợp tác sẽ trở thành khó khăn hơn nhiều.

Đây là hai cường quốc quan trọng nhất thế giới hiện nay.

Tôi nghĩ xác suất về việc Trung Quốc xung đột quân sự trong vùng với Hoa Kỳ đang bảo vệ Nhật Bản quả thật rất thấp. Đối với tôi đây là lối cổ võ sự sợ hãi mà thôi.

Tôi nghĩ rằng đối với cuộc đụng độ quân sự lẻ tẻ, vấn đề tiềm tàng nằm ở trong cuộc xung đột kinh tế nghiêm trọng thực sự giữa Nhật Bản và Trung Quốc. Đó là điều thực sự đúng hiện nay, nó có thể xẩy ra ngày mai.

The Japan-China Crisis Is The Most Significant Geopolitical Tension In The World
Ian Bremmer
Business Insider
24-1-2013
Người dịch: Nguyễn Quốc Khải

© Đàn Chim Việt

 

Châu Á đang trải qua quá trình tái cấu trúc địa chính trị? – VHNA

4 Th1

Châu Á đang trải qua quá trình tái cấu trúc địa chính trị?

  • Email
  • In

 

 Theo đánh giá mới đây của mạng tin “Chân trời chiến lược”, một “siêu liên hiệp” châu Á đã hình thành. Chúng ta đang chứng kiến siêu liên hiệp này qua mô hình tăng cường gia nhập các tổ chức liên chính phủ châu Á, cùng sự xuất hiện các chính sách đối trọng với Trung Quốc, nhất là dựa vào Ấn Độ. Cam kết của Mỹ đối với Đông Á và Nam Á cũng góp phần củng cố siêu liên hiệp này. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Bắc Kinh từ năm 2008 đang giúp Oasinhtơn gia tăng ảnh hưởng tại châu Á bất chấp Mỹ đang trong giai đoạn suy tàn trên trường quốc tế.

Từ gần 10 năm nay, giới phân tích luôn nhấn mạnh đến khái niệm liên hiệp an ninh khu vực. Chúng ta đang đề cập đến sự xuất hiện của giả thiết một siêu liên hiệp tam giác nổi Nam Á và Đông Á trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. 5 xu hướng lớn bao trùm quá trình tái cấu trúc địa chính trị của châu Á 10 năm qua gồm: sự phát triển của Trung Quốc, Ấn Độ, sự suy yếu của Mỹ, các cuộc tranh giành ảnh hưởng để xác định một bản sắc khu vực châu Á và sự xuất hiện các chính sách đối trọng với Trung Quốc.

Trung Quốc, Ấn Độ và Mỹ

Chúng ta đã ghi nhận những số liệu về sự gia tăng sức mạnh kinh tế và quân sự của Trung Quốc. Sự phát triển này là điều hiển nhiên và hết sức ấn tượng. Phần lớn người Trung Quốc bày tỏ niềm tự hào. Tuy nhiên, cũng xuất hiện hai thái độ khác nhau: một mặt là chủ nghĩa quốc tế ở cấp độ nào đó và dự định hành động tích cực với phần còn lại của thế giới; mặt khác là chủ nghĩa dân tộc cứng rắn, trong đó những người bảo vệ xu hướng này cho rằng Bắc Kinh cần phải sử dụng quyền lực mới đạt được của mình để áp đặt quy chế cường quốc, yêu sách lãnh thổ và để làm lợi cho sức mạnh kinh tế bao trùm. Vì vậy, chúng ta đang chứng kiến hai nước Trung Quốc: một muốn hội nhập với cộng đồng quốc tế và cải cách bên trong, trong khi số khác từ chối và bảo vệ một khái niệm thực dụng, có tính truyền thống và tự điều hòa quan hệ hơn là một cường quốc phải duy trì với các đối tác khác của cộng đồng quốc tế. Theo diện mạo mà Trung Quốc muốn thể hiện, đất nước bị chứng “tâm thần phân liệt” này có thể xuất hiện một cách vô hại hơn là đe dọa. vẫn cần phải tìm hiểu xem hai xu hướng trên sẽ tiến triển trong lòng đất nước này như thế nào và mức độ chúng sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ của Trung Quốc với môi trường châu Á và với cộng đồng quốc tế một cách tổng thể. Chúng ta hãy phác thảo một bản tổng kết quá trình tiến triển của đất nước này trong 10 năm qua. Các điểm tích cực cũng nhiều. Trung Quốc đang hội nhập với các thể chế Đông Á xoay quanh Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Trung Quốc đã đóng vai trò hàng đầu trong các thể chế khu vực khác, nhất là Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) và các cuộc đàm phán 6 bên về hồ sơ hạt nhân Bắc Triều Tiên. Trung Quốc cũng ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do với các nước Đông Nam Á láng giềng và cho rằng đã thực hiện một chính sách có trách nhiệm trong và sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á cuối những năm 1990. Những mối quan hệ căng thẳng với Đài Loan đã giảm, về mặt quốc tế, Trung Quốc từ nay đóng góp một phần quan trọng vào các chiến dịch gìn giữ hòa bình; tham gia các chiến dịch chống cướp biển ngoài khơi Xômali và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Tại nhiều nước, đầu tư và các sản phẩm của Trung Quốc được chào đón. Trung Quốc đã đóng vai trò bình ổn khi mua trái phiếu kho bạc Mỹ để đổi lại Mỹ mở cửa thị trường cho lĩnh vực xuất khẩu của Trung Quốc. Những điểm tiêu cực cũng không ít. Bắc Kinh đã công khai chứng tỏ tham vọng tăng cường khả năng quân sự và trấn áp mạnh tay đối với các phe đối lập trong nước, những phần tử đòi tự do trong xã hội hay những người dân không thuộc dân tộc Hán tại Tây Tạng hay Tân Cương. Quan hệ giữa Trung Quốc và Nhật Bản luôn căng thẳng: tranh chấp lịch sử lại được khơi lại; đa số người Trung Quốc vẫn nung nấu tinh thần chống Nhật; những tranh chấp lãnh hải làm tăng mối hận thù giữa hai nước. Một vấn đề báo động khác là thái độ hung hăng của Trung Quốc trong các yêu sách chủ quyền tại Biển Đông, Biển Hoa Đông và với Ấn Độ. Viện trợ mà Bắc Kinh dành cho Pakixtan trong lĩnh vực hạt nhân cũng là một mối quan tâm. Hơn nữa, Bắc Kinh cũng công khai cùng các nước khác ngăn cản Nhật Bản đạt được quy chế ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Lập trường của Trung Quốc trong các chủ đề toàn cầu, nhất là khí hậu trái đất nóng lên, đã cho thấy một sự thụt lùi trước nước Mỹ do những lợi ích quốc gia. Trung Quốc cũng từ chối đảm đương vai trò lãnh đạo hay làm theo những thỏa thuận mà các nước khác đưa ra. Việc dự báo những tác động mà cuộc khủng hoảng hiện nay sẽ ảnh hưởng đến địa vị của nước này trong nền kinh tế thế

giới là điều vẫn còn khó khăn, song sự ủng hộ kiên định của Chính phủ Trung Quốc đối với các doanh nghiệp nhà nước nắm quyền kiểm soát toàn bộ các lĩnh vực kinh tế dự báo một sự tăng cường chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc trong lĩnh vực kinh tế, là điều đáng lo ngại.

Liệu Trung Quốc có thực sự là một cường quốc nguyên trạng?

 

 Tất cả những điều trên đang làm xói mòn sự tin cậy về một nước Trung Quốc muốn trở thành cường quốc nguyên trạng, gắn với một sự phát triển hòa bình và duy trì quan hệ hài hòa với các đối tác. Liệu đó chỉ là những tuyên truyền nhạt nhẽo hay một sự lừa bịp rõ rệt? Mối nghi ngờ được củng cố bởi một sự tương quan bề ngoài giữa thái độ cương quyết của Trung Quốc trước sự suy yếu của Mỹ và phương Tây kể từ năm 2008. Kịch bản thích hợp với nhừng hành động thực dụng, dự báo rằng các cường quốc khu vực sẽ trờ nên khiêu khích hơn trong quá trình phát triển và tìm cách đảo lộn quy chế nguyên trạng, Sự sợ hãi và lo ngại, được tạo ra bởi sự tăng cường sức mạnh của Trung Quốc, đã gia tăng do ảnh hưởng đáng kể từ tư duy thực dụng tại nhiều nước, từ các môi trường đại học đến các tầng lớp chính trị. Nếu Bắc Kinh đang tìm cách hưởng lợi từ sự suy yếu của Mỹ và nếu sự suy yếu này là hiện thực, các nước láng giềng của Trung Quốc có cái để mà lo ngại. Và nếu thái độ đe dọa của Trung Quốc làm các nước láng giềng lo ngại thì cũng sẽ khiến Ấn Độ tham gia một chính sách đối trọng với Trung Quốc cho dù có Mỹ hậu thuẫn hay không.

Giả thiết về một nước Trung Quốc có thể trỗi dậy một cách hòa bình được đưa ra, song không dễ như vậy. Vi điều này, Bắc Kinh sẽ phải thực hiện một chính sách rất thận trọng và dè dặt trước các nước láng giềng. Đó không phải là trường hợp của ngày hôm nay và tình hình hiện nay sẽ có thể tiến triển một cách thực dụng. Thất bại trong cách phát triển hòa bình của Trung Quốc đang tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển một siêu liên hiệp châu Á yà đè nặng lên mối quan hệ Bắc Kinh – Oasinhtơn.

về phần mình, Ấn Độ hiện không nổi lên một cách ấn tượng và không đạt được mức độ phát triển bằng Trung Quốc song hưởng một tốc độ tăng trưởng kinh tế khá đều đặn. Tham vọng cường quốc mới nổi của Ấn Độ sẽ vượt ra khỏi không gian Nam Á. Nếu tiến triển dân chủ của Ấn Độ không khiến phương Tây lo ngại bằng Trung Quốc thì một số nước biên giới, hiển nhiên có Pakixtan, đang cảm thấy bị đe dọa bởi gã láng giềng khổng lồ này. Việc Ấn Độ thắt chặt quan hệ với Mỹ đã cho phép nước này gần đạt được mục đích, đó là quy chế cường quốc trên trường quốc tế. Ấn Độ đã đạt được một bước nữa theo hướng trên nhờ vào thỏa thuận với Oasinhtơn khi chính thức gia nhập Câu lạc bộ các cường quốc hạt nhân. Ảnh hưởng kinh tế, chính trị và quân sự của Niu Đêli đang được thiêt lập tại nhiều khu vực trên thế giới. Nếu Ấn Độ đang cho thấy tham vọng trở thành cường quốc châu Á cai quản Ấn Độ Dương thì nước này cũng sẽ có một lý lẽ bổ sung để đạt quy chế cường quốc. Trung Quốc cũng đã bắt đàu các bước đi như vậy, nhất là tăng cường phát triển hải quân. Một số nhà phân tích ít nghiêng về giả thiết coi Ấn Độ là một cường quốc. Tuy nhiên, chừng nào Ấn Độ còn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nước này sẽ có được những dự báo lạc quan để tiếp cận quy chế mong muốn trên, như điều Trung Quốc đã làm từ lâu.

Trung Quốc và Ấn Độ là các cường quốc mới nổi trong khi Mỹ đang đứng bên bờ dốc, kèm với sự suy yếu toàn cầu của phương Tây. Theo chu kỳ, chúng ta đang chứng kiến thảm kịch suy tàn của Mỹ – mô hình đã hoành hành đầu những năm 1970 và cuối những năm 1980. Sự suy tàn hiện nay bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 và là thách thức đối với Oasinhtơn. Chủ nghĩa đơn cực của Chính quyền Bush cùng những cách thức trong “cuộc chiến chống khủng bố” đã giáng một đòn mạnh vào tính hợp pháp của Oasinhtơn trong vai trò lãnh đạo cộng đồng quốc tế. Siêu cường duy nhất này cũng đã thiệt hại trong các cuộc chiến tranh dài hạn và tốn kém tại Irắc và Ápganixtan. Nếu Mỹ đang bị tụt hơi trên trường quốc tế thì họ vẫn đang đóng vai trò trọng tài và là người điều tiết quan trọng hơn tại Đông Á và Nam Á. Sự trỗi dậy của Trung Quốc và thái độ ngày càng hung hăng của nước này đối với các nước láng giềng đã cho phép Mỹ củng cố địa vị tại châu Á. Việc thiết lập lại quan hệ với Ấn Độ được bắt đầu từ những năm 1990 và vẫn sẽ tiếp tục diễn ra. Liên minh quân sự với Nhật Bản và Ôxtrâylia cũng đã được củng cố.

Bản sắc khu vực như thế nào cho châu Á: cạnh tranh và cuộc chiến giành ảnh hưởng?

Sự phụ thuộc của các nước Đông Nam Á theo các cấp độ khác nhau vào các tổ chức liên chính phủ (IGO) châu Á là một dấu hiệu nữa chứng tỏ sự tương tác gia tăng giữa hai phức hệ an ninh và đặt ra vấn đề nóng bỏng liên quan tới bản sắc của châu Á với tư cách là một khu vực. Loại hình tổ chức này đã được tăng cường trong những năm 1990. Như nhà phân tích T.J. Pempel nhận xét, Đông Á khác với các khu vực khác bởi có nhiều IGO với quy mô khiêm tốn và tồn tại không chồng lấn lên nhau. Không một IGO khu vực nào tập hợp đầy đủ các Nhà nước như tại Đông Á. Diện mạo Đông Á đặc biệt này được gọi là “cuộc chạy đua gia nhập hiệp hội”, nơi các Nhà nước khu vực đang lao vào một cuộc cạnh tranh dữ dội để xác định nước muốn trở thành thành viên của tổ chức hay nhóm nước nào qua cách mà nước đó thể hiện quan niệm về bản sắc, vai trò khu vực và địa vị của mình trong một cộng đồng quốc tế được phương Tây sắp xếp và quản lý.

ASEAN+3 (APT) và các cơ quan gắn với tổ chức này có tính đại diện nhất cho Đông Á, song không bao gồm Bắc Triều Tiên hay Đài Loan. Khởi nguồn, ASEAN có sự phân biệt giữa Đông Nam Á và Đông Bắc Á, song hiện tổ chức này tập hợp hai khu vực trên từ những năm 1990. về phần mình, Đông Bắc Á không bao giờ được tính vào các IGO khu vực, ít nhất là đến năm 2008 khi Trung Quốc, Nhật và Hàn Quốc đưa ra nguyên tắc nhóm họp tại hội nghị thượng đỉnh ba bên độc lập với APT. Bảng tổng kết các hội nghị trên sau hội nghị thượng đỉnh lần thứ 4 năm 2011 cho thấy vẫn còn khiêm tốn. Sự xuống cấp của mối quan hệ giữa Trung Quốc với Nhật Bản và Hàn Quốc đã xếp lại dự định đối thoại thành yếu tố thứ yếu. Ban đầu Bắc Kinh mong muốn Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) tập hợp các Nhà nước trong khu vực, song Nhật Bản đã gây sức ép thành công để việc tổ chức EAS mở rộng ra ngoài phạm vi Đông Á. Bắc Kinh và Tôkyô đã lao vào một cuộc đấu không khoan nhượng trong hậu trường để nắm quyền thành lập và cơ cấu các IGO khu vực và thông qua các tổ chức này thể hiện tầm nhìn khu vực cũng như các tham “vọng của mình trong bối cảnh cộng đồng quốc tế bị ảnh hưởng bởi phương Tây. Trước nguy cơ đơn giản hóa IGO, chúng ta có thể thấy rằng Trung Quốc thường thể hiện sự đề cao các tổ chức liên chính phủ Đông Á hơn số khác bởi có thể áp đặt sự bá quyền. Chiến lược này tiếp nối khuynh hướng tiêu biểu của các cường quốc ủng hộ chủ nghĩa đa phương: Đó là tham gia các IGO khác nhau trong khi bảo đảm rằng mỗi một tổ chức bị chia tách với số khác. Trung Quốc hoàn toàn ý thức được sự cần thiết phải thể hiện ít đe dọa đối với các nước láng giềng và đánh giá những rủi ro gắn với hành động gia tăng cạnh tranh chống Tôkyô. Cam kết của Trung Quốc với ASEAN diễn ra theo chiều hướng ôn hòa, nhưng Bắc Kinh luôn thể hiện lập trường là nòng cốt cứng rắn của Đông Á, được hoàn thành bởi một hệ thống hợp tác khu vực rộng hơn, ví dụ trong khung cảnh EAS hay Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF). Ấn Độ và Nhật Bản có thể hỗ trợ nhau ở phạm vi khu vực cũng như quốc tế trong “cuộc chạy đua” giành một ghế ủy viên thường trực Hội đồng Bản an Liên hợp quốc. Nhật Bản, cũng như nhiều nước thành viên ASEAN khác, muốn kết nạp Ấn Độ và các Nhà nước khác vào HĐBA LHQ để một mặt giảm tầm ảnh hưởng của Bắc Kinh và mặt khác tạo mối quan hệ mạnh hơn giữa khu vực với cộng đồng quốc tế – phương Tây. Có hai yếu tố mang tính quyết định ở đây, đó là sự thiếu vắng mọi IGO-có tầm vóc là đầu cực gắn kết toàn bộ các Nhà nước Đông Á và mô hình khu vực bao gồm các IGO phạm vi hẹp. Các yếu tố trên giải thích sự tồn tại của một số lượng lớn IGO xung quanh Đông Á, gồm một hay nhiều Nhà nước Đông Á và kết nối các nhà nước này với một tình hữu nghị rộng hơn. Các IGO trên đang cho phép các nước thành viên Đông Á thiết lập các mối quan hệ đặc biệt với một khu vực láng giềng. Thông qua đó, các Nhà nước Đông Á đôi khi phối hợp

hành động trực tiếp với cộng đồng quốc tế – phương Tây. Cũng cần thiết đánh giá các IGO là khu vực để chứng kiến sự lặp lại của mô hình xã hội trên và phải thừa nhận rằng mô hình này cho phép thiết lập các mối quan hệ mạnh mẽ và đông đảo giữa các khu vực khác nhau.

Ở phía Bắc, chúng ta chứng kiến “các cuộc đàm phán 6 bên” và SCO. Mỹ, Nga, Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, Hàn Quốc và Trung Quốc đang tham gia các cuộc đàm phán để thuyết phục Bắc Triều Tiên từ bỏ chương trình hạt nhân. SCO gồm các nước thành viên Trung Quốc, Nga, Udơbêkixtan, Tátgikixtan, Cadắcxtan và Cưrơgưxtan, cùng các nước quan sát viên Ấn Độ, Pakixtan, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Mông cổ và Tuốcmênixtan. Mục đích của SCO là nhằm loại bỏ vai trò của Mỹ, dựa vào Nga và gắn kết Trung Quốc với Trung Á. Các nước quan sát viên đang thiết lập mối quan hệ đan chéo với Nam Á và Trung Đông. Ở phía Đông và Nam Á trải dài đến tận hai bờ Thái Bình Dương, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) tập hợp đa số-các Nhà nước Đông Á, Bắc Mỹ, châu Đại Dương và một số Nhà nước Nam Mỹ. Các diễn đàn ba bên khác nhau bao gồm cả APEC, có tham vọng thông qua các thỏa thuận an ninh song phương với Mỹ: Nhóm Giám sát và Phối hợp ba bên (TCOG) gồm Mỹ, Nhật Bàn và Hàn Quốc; một mô hình khác như trên gồm Mỹ, Ôxtrâylia và Nhật và một hội nghị thượng đỉnh mới đây gồm Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ. Oasinhtơn qua các điều kiện trên đã chen một chân vào khu vực và chúng ta tự hỏi châu Đại Dương có thực sự thuộc về châu Á không hay trước tiên là tiền đồn của đầu cực quốc tế – phương Tây. Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Đại Tây Dương (TPP) vừa góp phần tăng vai trò vào đầu cực này. Ôxtrâylia, Brunây, Chilê, Malaixia, Niu Dilân, Pêru, Xinhgapo, Mỹ và Việt Nam đang tập hợp xung quanh một kế hoạch thỏa thuận mậu dịch tự do. Canada, Nhật Bản và Mêhicô sẽ có thể gia nhập. Nếu một hiệp định hoàn chỉnh và có chiều sâu ra đời, mối quan hệ đối tác trên sẽ trở nên rất có ý nghĩa. Tuy nhiên, vẫn còn quá sớm để dự báo sự ra đời của dự án này. Nếu Bắc Kinh vẫn đứng ngoài TPP thì nước này có thể sẽ trở thành một công cụ chính trị đối trọng mới do nhiều nước lập ra dưới sự hô hào của Mỹ để kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc. Với giả thiết ngược lại nếu Trung Quốc cuối cùng gia nhập TPP, mọi ý định của nước này nhằm cô lập Đông Á trong một khu vực chặt chẽ hơn để dễ cai trị, cũng sẽ bị cản trở. Khả năng cuối cùng, TPP sẽ có thể trở thành một “vỏ ốc trống rỗng”, ít có hiệu lực như những diễn đàn đa phương khác trước đó. Ở phía Nam cũng như phía Tây gần Ấn Độ Dương, chúng ta có Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC), tập hợp toàn bộ các Nhà nước Nam Á và đã trao quy chế quan sát viên cho Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc, Mianma và Ôxtrâylia. SAARC ở phạm vi nào đó là tổ chức sóng đôi với SCO, nơi Ấn Độ và Pakixtan là quan sát viên. Cuối cùng, ARF và EAS đảm bảo mối quan hệ cấp thế giới khi củng cố quan hệ liên khu vực cấp cao. ARF cũng kết nối các Nhà nước từ Đông Á đến châu Đại Dương, Bắc Mỹ, Nga và Liên minh châu Âu (EU). EAS cũng gồm các thành viên như Ôxtrâylia, Niu Dilân, Ấn Độ, Nga và Mỹ. Hình ảnh lưu lại từ những tổ chức trên là một phạm vi rộng lớn các đầu cực, các tổ chức hợp tác đang mở rộng tâm ảnh hưởng xa hơn và chồng lấn nhau từng phần, xích lại gần Đông Á và Nam Á, đôi khi kết nối hai khu vực này với Nga và phương Tây. Một số lượng lớn các Nhà nước Nam Á đang gia nhập các IGO Đông Á và các IGO này lại mở ra cho các nước thành viên ngoài châu Á. Tính thích đáng của quy mô khu vực đã bị chất vấn, hoặc bị mất đi bởi những tương tác trên và những mối quan hệ cắt ngang, hoặc mở rộng. Ý tưởng một “khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương” đôi khi được Chính quyền Obama bảo vệ đang làm cho khái nhiệm về khu vực trở nên phi lý. Như đã từng đề cập, ý tưởng trên nằm trong chiến lược linh hoạt chống lại khu vực mà Mỹ triển khai từ nhiều năm qua. Nguyên tắc của chiến lược là Mỹ tham vọng tham gia nhiều tổ chức khu vực (Đại Tây Dương, châu Á-Thái Bình Dương, châu Mỹ) để hợp pháp hóa sự can dự của mình vào công việc của các nước và tạo một sự ảnh hưởng cần thiết để chống lại việc hình thành các tổ chức mà Mỹ bị cách ly (tại châu Âu, Đông Á, Mỹ Latinh). Xu hướng trên nằm trong các chiến lược đối trọng cấp siêu liên hiệp châu Á.

“Siêu liên hiệp” châu Á đã hình thành. Chúng ta thấy mô hình này qua sự gia nhập tăng cường đan chéo các tổ chức liên chính phủ châu Á với sự xuất hiện các chính sách đối trọng chống Trung Quốc, đặc biệt dựa vào Ấn Độ. Mỹ cam kết tại Đông Á và Nam Á cũng tham gia siêu liên hiệp này. Sự trỗi dậy mạnh mẽ của Bắc Kinh từ năm 2008 đang giúp Oasinhtơn gia tăng ảnh hưởng tại châu Á bất chấp Oasinhtơn đang trong giai đoạn suy tàn trên trường quốc tế. Việc lôi kéo một số Nhà nước láng giềng của Trung Quốc làm đối trọng là chiến lược làm hài lòng giới diều hâu tại Oasinhtơn, song đang cho thấy mối lo ngại rằng thái độ cương quyết mới đây của Trung Quốc liên quan tới những tranh chấp lãnh thổ cũng như trong các vấn đề nội bộ dự báo còn tồi tệ hơn. Mối lo ngại này đến từ các nước Nhật Bản, Ấn Độ, Việt Nam, Philíppin hay Ôxtrâylia, đang đẩy các nước này củng cố liên minh với Mỹ, nước đóng vai trò chiến lược tại Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Ấn Độ và nhiều Nhà nước Đông Nam Á đang tìm cách liên minh với nhau, cả với Nhật Bản và Mỹ để hình thành một mặt trận chống lại mối đe dọa từ Trung Quốc. Đó chính là một món quà ngoại giao và chiến lược thực sự mà những phe phái theo đường lối cứng rắn tại Trung Quốc ban tặng cho Mỹ. Vừa mới đây, Oasinhtơn đã chuyển hướng chiến lược đặt châu Á là trọng tâm chính sách an ninh của Mỹ. Việc tăng cường quan hệ chiến lược giữa Nam Á và Đông Á sẽ chủ yếu phụ thuộc vào cách thức trỗi dậy lần lượt của Ấn Độ và Trung Quốc. Từ nay chúng ta có thể nhận thấy được những dấu hiệu của một sự tương tác chiến lược, dù còn hạn chế song là thực tế giữa Ấn Độ và Trung Quốc. Hai nước này đang đối đầu trực tiếp – tranh chấp biên giới và nguồn nước, đối đầu gián tiếp – cam kết của mỗi nước vào phạm vi ảnh hưởng của đối phương. Theo các nhà phân tích I. Rehman và D. Scott, Ấn Độ và Trung Quốc đang lao vào một cuộc chơi ngăn chặn và chống ngăn chặn, bị vướng vào những mối đe dọa an ninh. Nhìn chung, những phe phái theo chủ nghĩa thực dụng của Ấn Độ và Trung Quốc lo ngại về sự phát triển của một chủ nghĩa đối kháng sâu sắc giữa hai cường quốc mới nổi này mà theo họ là không thể tránh khỏi do những tranh chấp biên giới, việc sở hữu vũ khí nguyên tử, cạnh tranh hải quân, kinh tế và quy chế quốc tế.

Trung Quốc đang sử dụng chiến thuật phân tán sự tập trung của Ấn Độ khi hỗ trợ các Nhà nước láng giềng; đang tăng cường sự hiện diện tại Nam Á – Pakixtan, Mianma và Xri Lanca. Trung Quốc đang cố gắng kiềm chế Ấn Độ tham gia các IGO Đông Á và HĐBA LHQ. Bắc Kinh cũng tăng cường sức mạnh quân sự tại Ấn Độ Dương, nhất là xây dựng các cơ sở hạ tầng cầu cảng và giao thông tại Pakixtan, Mianma và Xri Lanca; ưu tiên thúc đẩy trao đổi thương mại để triển khai sự hiện diện quân sự. Những kết quả từ việc gia tăng đáng kể trao đổi thương mại giữa Trung Quốc với Ấn Độ còn chưa rõ ràng. Theo nhà phân tích B.R. Nayar, hiện tượng trên có tác động đổi mới tại Trung Quốc, làm giảm sự kích động các Nhà nước Nam Á thù nghịch với Ấn Độ. Tuy nhiên, đó không phải là những điều chúng ta thấy ngày nay. Trung Quốc đang thông qua một chiến lược cứng rắn hơn bao giờ hết liên quan tới những tranh chấp biên giới với Ấn Độ và cũng đang cung cấp các lò phản ứng hạt nhân cho Pakixtan. Giống như Mỹ, Ấn Độ đang tìm cách hạn chế đầu tư của Trung Quốc vào các lĩnh vực nhạy cảm như năng lượng hay viễn thông.

Ấn Độ xích lại gần Oasinhtơn

Yếu tố chính trong chính sách đối trọng của Ấn Độ với Trung Quốc là xích lại gần Mỹ, và được bắt đầu năm 2000. Chính sách này đã cho phép Niu Đêli được thừa nhận là cường quốc hạt nhân. Tuy nhiên, Ấn Độ không dự định liên kết hay khép kín trong cuộc cạnh tranh với đối thủ Trung Quốc. Ấn Độ nuôi dưỡng một kế hoạch với tham vọng tăng cường các lực lượng, ví dụ một lực lượng hải quân hoạt động tầm xa được trang bị 3 tàu sân bay để khẳng định tư cách một cường quốc hàng hải tại Ấn Độ Dương. Niu Đêli cũng đã phát triển “chính sách hướng Đông” trước tiên nhằm đưa đất nước trở thành đầu tàu tăng trưởng kinh tế của khu vực tới cam kết tổng thể hơn tại Đông Á. Ấn Độ và Trung Quốc đang lao vào một cuộc chiến tranh giành ảnh hưởng tại Mianma. Ấn Độ duy trì quan hệ hữu nghị truyền thống chặt chẽ với Việt Nam với hy vọng biến Hà Nội thành một đồng minh trung thành giống Pakixtan đối với Trung Quốc. Tại Đông Nam Á, Ấn Độ đang thiết lập quan hệ tốt đẹp với Xinhgapo và Inđônêxia. Hải quân Ấn Độ thường xuyên có mặt trong khu vực và tham gia các cuộc tập trận hải quân với các nước khu vực. Điều này đóng vai trò làm đối trọng trước sự hiện diện của Trung Quốc. Niu Đêli cũng đang đóng vai trò gia tăng ảnh hưởng trong khai thác tài nguyên tại Biển Đông, khu vực tranh chấp giữa Trung Quốc với các nước ven biển.

Từ những năm 2000, quan hệ giữa Ấn Độ với Nhật Bản đã được cải thiện, nhất là với Tuyên bố chung về hợp tác an ninh năm 2008. Mối quan hệ mới này trước tiên phục vụ mục đích chính trị, nhưng đến nay vẫn còn chưa được tăng cường, chưa có một thỏa thuận quân sự hay chưa thúc đẩy trao đối thương mại. Tuy nhiên, hải quân Ấn Độ đã mở rộng khu vực tập trận đến vùng lãnh hải của Nhật Bản và Hàn Quốc. Ấn Độ mong muốn có được công nghệ phòng thu tên lửa đạn đạo (DAMB), trong đó Nhật Bản hoặc Mỹ có thể là các đối tác cung cấp. Ấn Độ và Nhật Bản đă biết lựa chọn đứng về một phe trong cuộc chiến bá quyền giữa Oasinhtơn và Bắc Kinh. Bên cạnh đó, ngay từ năm 2007 một trục dân chủ đã từng bước được xây dựng tại châu Á giữa các nước Ấn Độ, Nhật Bản, Ôxtrâylia và Mỹ. Điều này cũng làm Trung Quốc lo ngại. “Quân bài dân chủ” cho phép Ấn Độ tiến xa hơn mà không phải vội vàng và giúp liên kết với hệ thống các liên minh khu vực được xây dựng xung quanh Mỹ. Các mối quan hệ chính trị, quân sự và trong một phạm vi nào đó là kinh tế ngày càng chặt chẽ giữa Đông Á và Nam Á đang mở ra một siêu liên hiệp mới tại châu Á. Bị đặt bên ngoài lục địa châu Á, Nga trở nên quá yếu đến mức không thể gây ảnh hưởng thực sự từ sự năng động của mình. Việc Nga bị gạt ra khỏi khu vực dẫn đến khả năng Mátxcơva sẽ tăng cường phát triển quan hệ một cách nhanh chóng với các nước châu Á trong thời gian tới. vấn đề còn lại là các cuộc xung đột mở: giữa Trung Quốc và Đài Loan; hai miền Triều Tiên; Ấn Độ với Pakixtan. Từ lâu Trung Quốc là đối tác ủng hộ Pakixtan trong khi Ấn Độ không tham gia giải quyết tranh chấp liên quan tới hai miền Triều Tiên hay giữa Trung Quốc với Đài Loan. Thời gian tới có thể Ấn Độ sẽ thực hiện điều này. Hai trung tâm căng thẳng trên có thể bùng nổ bất kỳ lúc nào song lại không ảnh hưởng đáng kể đến những biến động tổng thể của siêu liên hiệp.

Từ nay, sự tồn tại của một siêu liên hiệp châu Á là thực tế chứ không còn phôi thai nữa. Quan hệ giữa Đông Á và Nam Á về chính trị và an ninh đang được củng cố. Ấn Độ và Trung Quốc đang duy trì một sự liên quan chiến lược trong đó hai nước nhận biết rõ những thách thức. Trung Quốc mạnh hơn Ấn Độ và cảm thấy ít bị de dọa bởi đối thủ trong khi Ấn Độ thì ngược lại. Vị trí của Trung Quốc tại Nam Á có tính lâu đời và vững chắc hơn là vị trí của Ấn Độ tại. Đông Á. Tuy nhiên, Ấn Độ có một quân át chủ bài, đó là liên minh với Mỹ. Trung Quốc quả thực đang trên con đường phát triển song lại không liên kết với một cường quốc nào khác. Các nước láng giềng của Ấn Độ ủng hộ cam kết của Trung Quốc tại Nam Á, cũng như các nước Đông Á – Nhật Bản, Hàn Quốc không tin tưởng vào Mỹ – ủng hộ vai trò của Ấn Độ trong khu vực mình. Hầu như toàn bộ các nước Đông Á và Nam Á đang tìm cách tự bảo vệ mình trước sự trỗi dậy của Trung Quốc. Một liên minh đang hình thành mở rộng từ Nhật Bản tới Ấn Độ, đi qua Việt Nam và Ôxtrâylia với sự hỗ trợ từ Mỹ.

Liệu có hình thành một liên minh chống lại Bắc Kinh?

Nếu Trung Quốc duy trì chính sách cứng rắn kể từ năm 2008, liên minh sắp được hình thành trên sẽ cứng rắn hơn. Các nước khu vực sẽ tìm cách tự bảo vệ chống lại mối đe dọa của Trung Quốc bằng cách củng cố sức mạnh quân sự trong khi hợp tác hơn nữa về an ninh và tìm kiếm sự hỗ trợ từ Mỹ. Một cuộc chiến tranh khu vực là ít có khả năng bởi nhiều nước có vũ khí hạt nhân trong khi Oasinhtơn đã cam kết trong khu vực và tất cả các nước châu Á đồng thuận cần thiết bảo vệ tăng trưởng. Tại Đông Á, sự phụ thuộc kinh tế lẫn nhau đang đóng vai trò điều hành trong dài hạn bằng cách ngăn cản mọi cuộc xung đột chính trị phát sinh. Trừ những thay đổi cấp tiến, sự phụ thuộc kinh tế sẽ cần phải giữ chức năng là sứ giả hòa bình. Yếu tố này không có thế mạnh tại Nam Á và tầm ảnh hưởng còn yếu trong quan hệ giữa Đông Á và Nam Á. Tuy nhiên, có khả năng các nước châu Á đang lao vào một cuộc chạy đua vũ trang và thực hiện các chính sách đối trọng. Mong muốn của Trung Quốc là bảo vệ hay đạt được những mục tiêu của một cường quốc hàng đầu – vũ khí nguyên tử, khả năng không gian, hải quân tầm xa – là điều hợp lệ, song Bắc Kinh cần trông chờ những điều mà các nước láng giềng hành động. Nhật Bản, Đông Nam Á và Ấn Độ liên quan tới sức mạnh quân sự gia tăng từ Trung Quốc. Các nước đang đáp trả bằng các phương tiện tương tự. Đó là một thế tiến thoái lưỡng nan an ninh cổ điển dẫn đến một cuộc xung đột vũ trang nếu Trung Quốc không quay trở lại với thái độ ôn hòa và gắn kết hơn với ý tưởng phát triển hòa bình, song trước hết lại đang là một nền “hòa bình lạnh” có vũ trang.

Siêu liên hiệp châu Á từ nay bao gồm toàn bộ các hoạt động tương tác giữa Đông Á và Nam Á về an ninh và hội nhập cùng sự tham gia trước đây và hiện nay của Mỹ vào những biến động khu vực. Lúc này, Đông Á và Nam Á gắn nhiều với những biến động an ninh hơn là quan hệ kinh tế; còn cần phải xem xét sự cân bằng hay mất cân bằng sẽ đi đến đâu. Sự hiện diện mạnh mẽ của Mỹ được coi như một chất xúc tác hòa trộn giữa những biến động an ninh khu vực châu Á với những biến động của thế giới, bắt đầu với Ấn Độ và Trung Quốc. Do sự đan chéo trên, các nước châu Á khác đang bị cuốn vào một cuộc chơi của chủ nghĩa cân bằng để tự bảo vệ mình trước một nước Trung Quốc đang trỗi dậy và có tiềm năng đe dọa, trở nên chín muồi trước một nước Mỹ đang trong giai đoạn suy tàn; tránh mọi sự lôi kéo vào một cuộc chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Trung Quốc, nước sẽ không phục vụ cho lợi ích của khu vực. Hai yếu tố, động lực giải thích cho những biến động trên: sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng như tương lai phát triển khó đoán định của nước này và cách thức Trung Quốc sẽ sử dụng trên vai trò là cường quốc mới. Bắc Kinh đang gặp khó khăn trong việc thuyết phục rằng mình khát khao một sự phát triển hòa bình và thái độ của nước này chỉ có thể khiến các nước láng giềng lo ngại. Đó là một mối lợi bất ngờ cho Mỹ, nước đang suy yếu và xem đây là dịp để bảo vệ và củng cố vị trí của mình tại châu Á. Thật nghịch lý là trong khi trấn an các nước láng giềng châu Á thì Bắc Kinh lại đặt Oasinhtơn vào thế khó…

***

Thời kỳ đô hộ 500 năm của phương Tây đối với thế giới đã chấm dứt. Đó là luận đim của nhà sử học người Anh và giáo sư Trường Đại học Havard, Niall Ferguson. Phân tích vn đề này trên tạp chí “Statafrik”, ông cho rằng cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 và cuộc khủng hoảng nợ năm 2011 chỉ là những triệu chứng của việc sức mạnh kinh tế được chuyển từ Tây sang Đông.

Hai cuộc khủng hoảng nói trên cũng không phải là chu kỳ kinh tế đơn thuần, mà là triệu chứng và chất xúc tác thúc đẩy nhanh quá trình thay đổi về cơ bản tình trạng cân bằng sức mạnh thế giới với trọng lực dường như ít nhiều dịch chuyển từ phương Tây sang châu Á. Các cường quốc kinh tế tương lai sẽ không phải là Mỹ và châu Âu nữa, mà là Trung Quốc và Ấn Độ.

Năm 1913, của cải rõ ràng nằm trong tay các nước thực dân. Tại các nước Áo, Bỉ, Pháp, Đức, Italia, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Nga, Anh và Mỹ, tập trung tới 61% Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của thế giới, trong khi các nước thuộc địa chỉ nắm giữ 18%. Trong khi đó, về diện tích, các nước thuộc địa bao phủ tới 48% tổng diện tích thế giới và có 31% dân số thế giới.

Người ta nhận thấy rằng từ năm 1500, cán cân hầu như không thay đổi: các cường quốc phương Tây nắm giữ tới 43% GDP thế giới. Nếu tính theo GDP theo đầu người, vào năm 1600, tình trạng mất cân đối còn nặng nề hơn giữa các nước phương Tây và các nước khác. Dân chúng ở các nước phương Tây giàu hơn rất nhiều so với người dân ở các nước khác trên thế giới. Tuy nhiên, đến thế kỷ 20 diễn ra chu trình đuổi bắt với tốc độ rất nhanh. Tổng sản phẩm quốc nội tính theo đầu người ở Ấn Độ, vào năm 1600 chỉ bằng 2% so với của Anh, sau tăng lên mức 10%. Ở Mỹ so với ở Trung Quốc cũng như vậy. Vào thế kỷ 20, cuộc đuổi bắt diễn ra ở các nước châu Á với nhịp độ nhanh hơn ở các nước phương Tây trước đây. Tăng trưởng GDP trong cả thời kỳ Cách mạng công nghiệp là 4,4% ở Anh, 5,3% ở Mỹ, 7,7% ở Nhật Bản và 10,3% ở Trung Quốc. Tăng trưởng trung bình hàng năm GDP trong các thời kỳ “cách mạng công nghiệp” này là 2,2% ở Anh (từ năm 1830 đến năm 1900), 3,9% ở Mỹ (1870-1913), 9,3% ở Nhật Bản (1950-1973) và 9,4% ở Trung Quốc (1978-2004).

Tăng trưởng đều đặn ở các nước phương Đông dĩ nhiên dẫn đến hệ quả là phần GDP thế giới của các nước Khu vực đồng euro, Canađa, Nhật Bản, Anh và Mỹ suy giảm hay chững lại. Tỷ lệ đóng góp trong GDP thế giới của Trung Quốc, trái lại, tăng lên kể từ đầu những năm 2000. Tăng trưởng ở Trung Quốc dường như vẫn chưa dừng lại. Mức tăng GDP của Trung Quốc và Ấn Độ bỏ xa mức tăng ở các nước phương Tây. Chỉ có Mỹ là sẽ giữ được mức tăng trưởng GDP tương đối đều đặn sau năm 2025. Theo dự báo của Goldman Sachs, Trung Quốc có thể sẽ trở thành cường quốc kinh tế hàng đầu thế giới, vượt lên trước Mỹ bắt đầu từ thời kỳ 2026- 2027. Kể cả ở các nước có số dân ít hơn, mức độ chênh lệch giữa các nước Đông và Tây cũng thể hiện rõ. Tăng trưởng mạnh ở các nước châu Á còn hiển thị trong so sánh tiến triển GDP của Anh và Nhật Bản trong thời kỳ 1870-2008. Từ đầu những năm 1960, tăng trưởng kinh tế ở Nhật Bản cao hơn hẳn so với của Anh.

Liệu đó có phải là tiến trình phi công nghiệp hóa thế giới phương Tây không? Khái niệm này lúc này đang được nói đến nhiều, theo đó, về sản xuất công nghiệp, Trung Quốc là nước duy nhất có được tăng trưởng từ đầu những năm 1990, còn tất cả các nước khác chững lại hay giảm đáng kể, chẳng hạn như ở Mỹ. Có thể coi Trung Quốc giống như một chiếc xe khỏe trong thế kỷ 21. Sự phát triển mạnh mẽ của nước này được khẳng định qua các con số về GDP so với của Mỹ. Cụ thể là GDP của Trung Quốc, Hồng Công và Đài Loan cộng lại đạt xấp xỉ 90% GDP của Mỹ vào năm 2009 so với hơn 10% một chút vào năm 1950.

Phương Tây suy thoái không phải chỉ về kinh tế mà cả về dân số. số dân của các nước phương Tây trong dân số thế giới giảm từ 20% vào năm 1950 xuống còn 10% vào năm 2050. Trong khi tăng trưởng dân số ở các nước phương Tây đang trục trặc, món nợ của các nước được gọi là phát triển ngày càng lớn… Theo con số của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, món nợ của các nước đứng đầu trong số các nước thuộc nhóm G20 từ nay đến năm 2015 sẽ lên tới gần 120% GDP của các nước này so với 66% vào năm 2000. Số nợ của các nước đang phát triển giảm từ hơn 80% GDP vào năm 2000 xuống còn chưa đến 40% vào năm 2015. Tệ hơn thế là món nợ đó ngày càng tăng… Theo kịch bản tồi tệ nhất, món nợ đó có thế lên tới hơn 300% GDP của Bồ Đào ,Nha, Tây Ban Nha hay Ai Len vào năm 2040, 400% GDP của Hy Lạp, 450% GDP của Mỹ và hơn 500% GDP của Anh…

Những món nợ chồng chất như vậy không thể không gây hậu quả đối với sự ổn định chính trị của thế giới. Vì chưa bao giờ có một cuộc khủng hoảng nợ nào kết thúc mà không gây ra tình trạng tiền tệ hóa và/hay lạm phát, nên Trung Quốc ý thức rõ nguy cơ mà các nước phương Tây gây ra đối với sự ổn định kinh tế của thế giới. Bộ trưởng Thương mại nước này Trần Đức Minh từng tuyên bố rằng Mỹ in tiền mà không hề kiểm soát và giá nguyên liệu tiếp tục tăng khiến Trung Quốc phải chịu lạm phát nhập khẩu. Tình trạng không chắc chắn đó gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng cho doanh nghiệp.

Liệu điều đó có dẫn đến một cuộc chiến tranh tỷ giá không? Bởi lẽ các nựớc phương Tây cho rằng chính chính sách tỷ giá của Trung Quốc gây ra nhiều vấn đề cho nền kinh tế thế giới. Đồng nhân dân tệ được định giá thấp về phương diện cơ cấu. Cách đây vài tháng, Tổng thống Mỹ, Barack Obama, tuyên bố tại Liên hợp quốc rằng nếu Trung Quốc không có biện pháp – để chấm dứt thao túng đồng tiền của mình, Mỹ sẽ có cách khác để bảo vệ lợi ích của mình. Liên quan đến một cuộc “chiến tranh ngoại tệ” có thể xảy ra, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo phản ứng lại khi nói rằng không nên gây áp lực về tỷ giá đồng nhân dân tệ. Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc đã phải đóng cửa và công nhân phải trở về quê hương mình. Nếu Trung Quốc phải chịu một cuộc khủng hoảng xã hội và kinh tế, đó sẽ là thảm họa đối với thế giới. Trên thị trường hối đoái, tỷ giá giữa đồng đôla Mỹ và đồng nhân dân tệ đã giảm từ năm 2005.

Trước nguy cơ mất ổn định xã hội và chính trị, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đưa ra một kế hoạch đơn giản: tiêu thụ nhiều hơn nữa. Số xe hơi Trung Quốc bán được tăng từ 2 triệu chiếc/năm vào năm 2005 lên 14 triệu chiếc hiện nay (so với 11 triệu ở Mỹ). Và mức cầu xe hơi ở Trung Quốc có thể tăng gấp 10 lần. Năm 2035, Trung Quốc sẽ sử dụng 20% năng lượng của thế giới, tăng 75% so với năm 2008.

Mức tiêu thụ đó cũng dẫn đến tăng hàng nhập khẩu. Trung Quốc trở thành một trong những nước nhập khẩu nhiều nhất thế giới. Trung Quốc là khách hàng lớn của Braxin (12,5% hàng xuất khẩu của nước này vào năm 2009), Nam Phi (]0,3%), và Ôxtrâylia (21,8%). Mức tăng trưởng đó phải được duy trì: theo Viện than thế giới, Trung Quốc tiêu thụ 46% sản lượng than của thế giới. Năm 2009, mức tiêu thụ thép thô của nước này cao hơn hai lần so với của Liên minh châu Âu, Mỹ và Nhật Bản cộng lại.

Trung Quốc cũng thực hiện chính sách đầu tư và mua hàng chiến lược của nước ngoài. Chẳng hạn châu Phi thư hút tới 41% tổng lượng đầu tư của Trung Quốc, chỉ đứng sau các nước châu Á (44%). Tháng 1/2010, các nhà đầu tư Trung Quốc đầu tư trực tiếp 2,4 tỷ USD vào 420 doanh nghiệp nước ngoài của 75 nước, chủ yếu trong các lĩnh vực viễn thông, vận tải và công nghiệp hóa dầu. Gần 800.000 người Trung Quốc ra làm việc ở nước ngoài – không tính số người di cư – trên khắp thế giới để quản lý số vốn đầu tư này.

Tại Pháp, người ta không có dầu mỏ, song có ý tưởng. Khẩu hiệu của những năm 1970 này liệu có còn giá trị đối với các nước phương Tây trước thực trạng này không? Có, gì mới về sáng chế ở các nước phát triển không?

Nhật Bản đứng đầu, Mỹ đứng thứ hai nhờ “nhập khẩu” ồ ạt chất xám của nước ngoài. Tiếp đó là Hàn Quốc. Các nước có tỷ lệ bằng phát minh sáng chế cao nhất là Nhật Bản với số bằng tăng từ 180.000 (năm 2005) lên 240.000 (năm 2008), và Trung Quốc tăng khoảng 100% trong ba năm (từ 25.000 lên 50.000 trong cùng thời gian trên).

Không có gì đáng ngạc nhiên khi sự phân bố bằng phát minh sáng chế trên thế giới đó cũng phản ánh năng lực của các hệ thống giáo dục. Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Anh và Italia là hai nước có tỷ lệ cao nhất số thanh niên không có trình độ hay có trình độ thấp. Đứng đầu các nước có số thanh niên có trình độ cao nhất là Hàn Quốc. Học sinh châu Á là những người lập được nhiều kỷ lục cao nhất trong các kỳ thi quốc tế. Chẳng hạn về toán học trong số học sinh ở độ tuổi 14 tuổi, trong Top 5 hoàn toàn là các nước châu Á, theo thứ tự là Đài Loan, Hàn Quốc, Xinhgapo, Hồng Công và Nhật Bản. Trong các kỳ thi về khoa học cũng gần như vậy, với Xinhgapo đứng đầu, sau đó là Đài Loan, Nhật Bản và Hàn Quốc. Như vậy, các nhà khoa học và nghiên cứu của tương lai phải chăng chắc chắn sẽ hoàn toàn là người của phương Đông?

Trong cuốn sách của mình xuất bản vào tháng 11/2012, Niall Ferguson cho rằng sự sụp đổ của các nền văn minh lớn diễn ra rất nhanh. Đế chế La Mã “vỡ tan chỉ trong vòng một thế hệ”, “cuộc chuyển tiếp thảm họa giữa cân bằng Khổng Tử và tình trạng hỗn loạn ở Trung Quốc thời nhà Minh diễn ra chỉ trong gần một thập kỷ và Liên Xô rơi thẳng từ vách đá xuống. Các nền văn minh là những hệ thống rất phức tạp dựa trên tác động tương hỗ của một số rất cao yếu tố cấu thành nhưng được sắp xếp một cách phi đối xứng khiến cấu trúc của chúng giống như một tổ mối ở Namibia hơn là một kim tự tháp ở Ai Cập. Các hệ thống đó có thể hoạt động ổn định trong một thời gian nhất định, bề ngoài có vẻ cân bằng nhưng trên thực tế lại luôn phải điều chỉnh. Nhưng đến một thời điểm quyết định nhất định, một rối loạn nhỏ cũng có thể dẫn đến một giai đoạn chuyển tiếp giữa tình trạng cân bằng bề ngoài đó và một cuộc khủng hoảng sâu rộng. Chỉ cần một hạt cát nhỏ cũng đủ để làm cho cả tòa lâu đài đó đổ sụp./.  

Nguồn: TTXVN/BS

 

Biển – thành tố “trẻ” trong cấu trúc địa chính trị Trung Hoa – VHNA

13 Th9

Biển – thành tố “trẻ” trong cấu trúc địa chính trị Trung Hoa

Trịnh Văn Định

Khi biển trở thành một thành tố mới trong lịch sử Trung Hoa sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng và uy hiếp đến nhiều nước lân bang, trong đó đặc biệt nghiêm trọng uy hiếp trực tiếp Việt Nam, xâm chiếm biển, đảo của Việt Nam và nhiều nước khác trong khu vực.

 Thông điệp mà chúng tôi muốn gửi tới là bắt mạch đúng căn nguyên cội nguồn và dã tâm của những tuyên bố gần đây trên biển của Trung Quốc. Và ở tầm vĩ mô chúng ta cần có nhìn nhận đúng động thái này để có những biện pháp ứng xử phù hợp với tham vọng của Trung Quốc.

Đặt vấn đề

Tính đến thời điểm này, nhìn toàn trạng của tiến trình vận động, xu hướng vận động của lãnh thổ Trung Hoa và lãnh thổ châu Âu đi theo hai vécto trái chiều nhau. Lãnh thổ châu Âu, định hình bởi khu vực hạt nhân là văn minh Hi – La đi theo hướng từ tập quyền đến phân tán, và đang có xu hướng ngày càng phân lập nhỏ hơn (xét về quốc gia lãnh thổ). Lãnh thổ Trung Quốc tính từ thời đại Xuân Thu – Chiến Quốc, thời đại cơ sở của nhiều truyền thống lớn Trung Hoa vận động qua nhiều trạng thái nhưng theo hướng từ phân tán đến tập quyền đế chế và ngược lại, nhưng ngày nay xu hướng tập quyền với quy mô lớn hơn.

Nhìn từ địa chính trị, mô hình đế chế Trung Hoa trước thế kỷ XX(1) được định vị bởi đất liền và hai con sông lớn. Trước thế kỷ XX mô hình đế chế Trung Hoa sống động và lan tỏa chủ yếu trên hai trục chính. Nhìn từ trục đất liền, lãnh thổ đế chế Trung Hoa có xu hướng lan tỏa mạnh và mở rộng theo hướng Đông, Đông Nam, Tây Nam và sự trải rộng lãnh thổ theo xu hướng từ Tây, Tây Bắc sang Đông, Đông Nam(2). Nhìn từ các dòng sông, mô hình đế chế Trung Hoa xuôi theo các con sông lớn: Hoàng Hà và Trường Giang cùng với nó là mở rộng và thâu nạp vào đó nhiều vùng đất mới. Trước thế kỷ XX, mô hình này chủ đạo vẫn lan tỏa theo hướng đất liền và men theo chiều các dòng sông. Biển chưa từng trở thành một thành tố trong tiến trình lan tỏa của đế chế Hán.

Vì vậy, điểm đặc biệt nhất của đế chế Trung Hoa thời điểm này so với trong lịch sử nhìn từ địa chính trị là bổ sung thêm thành tố mới trong cấu trúc mô hình đế chế: thành tố Biển.

Bài viết đi từ trong lịch sử chỉ ra cơ sở lịch sử, quy luật sống động và lan tỏa của thực thể Trung Hoa, căn nguyên sâu xa của thành tố Biển tham gia vào mô hình cấu trúc đế chế Hán. Đồng thời chỉ ra ý nghĩa và ảnh hưởng của yếu tố này đối với thực thể Việt.

Về mặt thuật ngữ, cần minh bạch nội hàm hai khái niệm: Thành tố trẻđịa chính trị. Thành tố trẻ trong bài viết có những nội hàm: 1. Ở nghĩa trừu tượng nhất, thành tố trẻ là một thành tố trong tam giác mô hình cấu trúc địa chính trị Trung Hoa được chúng tôi quan niệm đến thời điểm này gồm: Sông – Đất liền và Biển. 2. Thành tố trẻ là thành tố được quy chiếu với những thành tố vốn có trước là sông và đất liền. Ở ý nghĩa này thành tố trẻ đồng nghĩa với thành tố Biển. Trẻ là mới so với hai thành tố trước đó. Thành tố trẻ được hiểu là thành tố bộ phận và là thành tố của tính liên tục và sống động. Khái niệm địa chính trị được hiểu với hai nội hàm:1. Là gạch nối giữa địa lý và chính trị. 2. Quan trọng hơn, thể hiện đặc trưng tư duy của đế chế.

 1. Lược sử tiến trình hình thành đế chế Trung Hoa cổ đại và Hi-La cổ đại nhìn từ địa chính trị

1.1. Nhìn từ Trung Hoa cổ đại

1.1.1. Đế chế mở rộng theo lưu vực các dòng sông

Sông Hoàng Hà không chỉ là nguồn cội của văn minh Hoa Hạ, còn là nơi định hướng vận động tự nhiên của sự lan tỏa và sống động của lãnh thổ Hoa Hạ. Từ lưu vực con sông này, lãnh thổ Trung Hoa bắt đầu tiến trình lan tỏa và sống động của nó theo hai mạch chủ đạo: một là, lan tỏa của lãnh thổ theo lưu vực hai con sông Hoàng Hà và Trường Giang, hai là, lấy lưu vực sông Hoàng Hà và Trường Giang làm điểm quy chiếu, từ đó lan tỏa ra xung quanh, không có biên giới cố định và ổn định.

1.1.1.1. Từ thời cổ đại đến trước thời Tần (221 TCN)- Đế chế tập trung quanh lưu vực sông Hoàng Hà

Từ rất sớm, cư dân Hoa Hạ cư trú ở lưu vực sông Hoàng Hà. Tính từ Tam Hoàng, Ngũ đế, cho đến Hạ, Thương, Tây Chu, lãnh thổ Trung Quốc chưa vượt ra khỏi lưu vực sông Hoàng Hà. [1]

Sự đột phá của tiến trình lan toả và sống động lãnh thổ Trung Quốc mang tính bước ngoặt ở thời điểm họ thâu nạp vào mình những cư dân, quốc gia đã tồn tại và phát triển nền văn hóa riêng ở lưu vực sông Trường Giang. Thời Xuân Thu – Chiến Quốc, lưu vực sông Trường Giang tồn tại với tư cách những quốc gia riêng biệt, có nền văn hoá độc lập. Tiêu biểu: Sở, Ngô, Việt… Thậm chí thời điểm này, những quốc gia tiêu biểu như nước Sở, Ngô, Việt thay nhau vươn lên làm chủ chư Hầu và là một đối trọng cạnh tranh thiên hạ với nhà Chu.[2] 

1.1.1.2.Thời Tần – lãnh thổ đế chế hợp nhất giữa sông Hoàng Hà và sông Trường Giang

Đến thời nhà Tần, lãnh thổ Trung Quốc đã hình thành trên một quy mô rộng lớn nhất chưa từng có trong lịch sử. Trong đó, lãnh thổ chủ yếu của Trung Quốc thời kỳ này hợp nhất bởi các quốc gia ở lưu vực hai con sông Hoàng Hà và Trường Giang. Về cơ bản lãnh thổ Trung Hoa chủ yếu mở rộng từ hạt nhân là hai con sông này. Sử ký còn ghi lại lời tấu của Vương Quán, Phùng Kiếp và Lý Tư về lãnh thổ thời Tần: “Ngũ đế ngày xưa, đất chỉ vuông ngàn dặm, ngoài ra là đất đai của chư hầu và của Man Di, họ vào chầu hay không thiên tử cũng không sao cai quản được. Nay bệ hạ dấy nghĩa binh… bình định được thiên hạ, bốn biển thành quận huyện, pháp luật và mệnh lệnh đều thống nhất ở một nơi, từ thượng cổ tới nay chưa hề có, Ngũ đế đều không bằng”[3].

Như vậy, tính từ thời điểm này cho đến thời nhà Thanh, lãnh thổ Trung Quốc sống động và lan tỏa, luôn lấy điểm quy chiếu từ lưu vực hai con sông này. Tư duy của sự sống động và lan tỏa của lãnh thổ Trung Hoa gắn với sự xuôi dòng của các dòng sông và quy chiếu từ lưu vực hai dòng sông này và điều đó có nghĩa Biển chưa trở thành một thành tố trong mô hình cấu trúc địa chính trị thực thể Trung Hoa là đặc điểm nổi bật của thực thể Trung Hoa trong thời kỳ chuyên chế.

1.1.2. Lãnh thổ của sự quy chiếu từ lưu vực các dòng sông

Sự sống động và lan tỏa của lãnh thổ Trung Hoa không chỉ men theo và lớn mạnh theo chiều xuôi dòng của hai con sông lớn Hoàng Hà và Trường Giang. Cùng với cung đường mở rộng lãnh thổ xuôi theo chiều các con sông lớn, lãnh thổ Trung Hoa cũng mở rộng và lan tỏa theo những hướng khác nhau quy chiếu từ hạt nhân là lưu vực hai dòng sông này.

Ở các thời đại Tam Hoàng, Ngũ đế, trải qua Hạ, Thương, Chu lãnh thổ Trung Quốc vẫn tập trung ở lưu vực sông Hoàng Hà.

Sự vươn rộng và cơ bản định hình lãnh thổ Trung Hoa đến thời đại nhà Tần đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử hình thành lãnh thổ quốc gia này. Lần đầu tiên trong lịch sử hình thành lãnh thổ Trung Hoa, một lãnh thổ có quy mô rộng lớn nhất trong lịch sử được định hình. Xu hướng dịch chuyển lãnh thổ Trung Hoa từ Hạ, Thương, Chu, qua Xuân Thu – Chiến Quốc đến thời đại đế chế Tần dịch chuyển mạnh theo hướng Đông, Nam, Đông Nam và Tây Nam

Trải qua Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh lãnh thổ Trung Quốc về cơ bản co giãn trên cơ sở sự ổn định tương đối lãnh thổ hình thành thời nhà Tần. Đáng chú ý nhất, đến thời Nguyên, lãnh thổ Trung Quốc lần đầu tiên trong lịch sử thể hiện và hiện thực hóa khát vọng của mình vượt qua Trung Á, đánh sang tận Roma. Đặc biệt, khu vực phía Nam, Đông Nam, tức vùng Vân Nam ngày nay, nước Nam Chiếu, Đại Lý trước kia, chính thức trở thành lãnh thổ ổn định của Trung Quốc rộng lớn(3). Ba lần nhà Nguyên định nhập Đại Việt và một số nước khác ở Đông Nam Á hợp vào lãnh thổ của mình nhưng đều thất bại trước Đại Việt. Có thể nói, những thời đại đánh dấu sự định hình và mở rộng lãnh thổ Trung Quốc là Tần, Nguyên và nhà Thanh. Nhà Tần đánh dấu sự hình thành lãnh thổ quốc gia lớn nhất trong lịch sử. Thời Nguyên tiến thêm một bước quy chiếu và vươn xa lãnh thổ sâu xuống phía Nam, Đông Nam, Đông Nam Á, phía Tây và châu Âu.

Đặc biệt thời nhà Thanh, lãnh thổ Trung Quốc chinh phục thêm Tân Cương, Tây Tạng, Đài Loan một phần Kadacstan, Kyrukistan, Udebekistan ngày nay và cùng với Mông Cổ, trước đó vào đế chế của mình.Thanh sử cảo: Nhà Thanh mở rộng cương giới về phía Bắc đến Mông Cổ, phía Tây đến Tân Cương, phía Đông quản lý Đảo Đài Loan. “Từ đó [đầu Thanh] đến nay, Đông đến tận Tam tính (Tam tính đời Gia Khánh đặt Tam Tính phó đô đốc hạt khu, thuộc tỉnh Cát Lâm, Tam tính gồm toàn bộ khu vực sông Amour và đảo Sakhalin. Nay là các tỉnh thành komsomd, Khabarovsk, Vladivostok, O.Sakhalin thuộc Russia) Gồm cả Khố Hiệt [O.Sakhaline], Tây tận phủ Sơ Lặc Tân Cương (Sơ Lặc, tên phủ, cực tây Tân Cương. Nay là thành phố kashi, Tân Cương Duy Ngô Nhĩ tự trị khu). Cho đến Thông Lĩnh (vùng núi Muztagata, nơi giáp với Afghanistan, Tajikitan), Bắc đến Tận Ngoại Hưng An Lĩnh [gồm vùng Nội và Ngoại, Vùng Nam sông Amaour (Hắc Long Giang) thuộc tỉnh Hắc Long Giang gọi là Nội Hưng An Lĩnh. Phía Bắc Sông Amour gọi là Ngoại Hưng An Lĩnh, năm Hàm Phong thứ 8 (1858) theo điều ước Ái Huy, nhà Thanh giao vùng đất này cho Nga], Nam Tận Nha Sơn đảo Quỳnh Châu Quảng Đông, không ai không lạy về nội địa, buộc chặt với bản triều. Ôi thật lớn lao mạnh mẽ! Từ Hán, Đường đến nay chưa có vậy” [4].

 Như vậy, lãnh thổ Trung Quốc vừa sống động và lan tỏa theo chiều các dòng sông của lưu vực hai con sông lớn Hoàng Hà và Trường Giang, xu hướng lãnh thổ lan tỏa theo hướng từ Tây sang Đông và từ Tây Bắc xuống Đông, Đông Nam, và luôn khao khát thực hiện khát vọng chiếm toàn bộ khu vực Đông Nam Á, xâm lấn cả Trung Á và xu hướng lan sang cả châu Âu. Điều này có nghĩa, khoảng trên 2000 năm lịch sử lan tỏa và sống động của lãnh thổ Trung Hoa, mô hình đế chế Trung Hoa về cơ bản chỉ tồn tại và định hướng vận động mở rộng lãnh thổ đế chế dựa trên hai trục hệ thống lớn là: hai dòng sông lớn và đất liền. Biển chưa từng trở thành một thành tố trong cấu trúc mô hình đế chế địa chính trị Trung Hoa.

1.2. Nhìn từ Hi- La cổ đại

Hi La cổ đại không có những bình nguyên rộng lớn được tạo tác bởi những con sông lớn như ở Trung Hoa cổ đại. Hi-La cổ đại hình thành chủ yếu trên cơ sở những đảo và hải đảo [5]. Tiến trình hình thành đế chế Hi – La cổ đại không lan tỏa theo lưu vực các dòng sông và không quy chiếu từ các đồng bằng bình nguyên lớn được hình thành bởi hệ thống những sông lớn như ở Trung Hoa cổ đại. Đế chế Hi – La hình thành từ sự thôn tính và tiêu diệt các thành bang trên các đảo trên biển. [6]. Một cách tự nhiên, từ rất sớm, cư dân của Hi-La cổ đại đã đối mặt với biển khơi. Sự chiến đấu và hình thành đế chế gắn với những cuộc chiến lớn bằng những hải đội lớn từ sớm trong lịch sử. Hệ thống thần thoại và sử thi Home đã ghi lại rất rõ vấn đề này.

Từ rất sớm, phương Tây là quê hương của những nhà hàng hải thám hiểm vĩ đại và cũng từ những cuộc thám hiểm đó đã đưa đến những phát kiến vĩ đại trong lịch sử (như Cristoforo Colombo, người Ý(1451 -1506), nhà thám hiểm Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan (1480-1521).

Với sự phát triển mạnh mẽ từ nền văn hóa Phục Hưng, nhiều thương thuyền và những nhà truyền giáo phương Tây đã vượt biển đến với Đông Á, Ấn Độ. Cuộc  tiếp xúc Đông – Tây này đánh dấu một tiến trình lan tỏa của đế chế phương Tây. Những thuộc địa hoặc bán thuộc địa ở châu Á như là một phần lãnh thổ kéo dài của đế chế phương Tây.

1.3. Tiến trình hình thành địa chính trị Trung Hoa cổ đại và Hi – La cổ đại nhìn so sánh.

Lược sử tiến trình hình thành đế chế Trung Hoa cổ đại và Hi – La cổ đại nhìn từ địa chính trị, chúng ta có thể sơ bộ ghi nhận những nét tương đồng và dị biệt như sau.

1.3.1 Những tương đồng

Cả đế chế Trung Hoa cổ đại và Hi – La cổ đại trong tiến trình hình thành đế chế của mình chịu sự quy định của yếu tố địa lý. Ở Trung Hoa cổ đại, do đế chế được hình thành từ lưu vực dòng sông với những bình nguyên rộng lớn nên đế chế lan toả gắn liền với những dòng sông lớn và đế chế mở rộng quy chiếu từ các dòng sông lớn. Từ phía khác, đế chế Hi – La không hình thành từ những dòng sông và bình nguyên rộng lớn mà hình thành từ các đảo, bán đảo quần đảo và hải đảo trên biển. Điều này có nghĩa, cả đế chế Trung Hoa cổ đại và đế chế Hi La cổ đại trong tiến trình hình thành của mình đều chịu sự chi phối của đặc tính địa lý tự nhiên thuần tuý.

1.3.2. Những khác biệt

Tuy nhiên do đế chế hình thành và tạo tác trong những điều kiện tự nhiên và tộc người khác nhau nên trong tiến trình hình thành của mình, những định hướng phát triển đế chế và tư duy lan tỏa đế chế cũng tạo ra những khác biệt hết sức đáng quan tâm.

Do đế chế Trung Hoa cổ đại hình thành và tạo tác từ lưu vực của các con sông lớn và lãnh thổ mở rộng quy chiếu từ các dòng sông nên cội nguồn đế chế mang đặc tính sông đậm nét. Các dòng sông lớn của Trung Hoa là Hoàng Hà và Trường Giang tạo ra hai bình nguyên lớn bậc nhất thế giới là bình nguyên Hoa Bắc gắn với sông Hoàng Hà và bình nguyên Hoa Nam gắn với sông Dương Tử. Phù sa của hai bình nguyên này là cơ sở hình thành nền nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp của toàn đế chế. Việc hình thành những thương thuyền buôn bán Trung Quốc với bên ngoài Trung Quốc có từ sớm nhưng nó không phải là đặc trưng của đế chế Trung Hoa.

Ngược lại, do được tạo tác và hình thành từ các đảo và quần đảo trên biển. Cùng với những cuộc chiến tranh thôn tính lẫn nhau của các thành bang, đế chế Hi- La và sau này là Châu Âu sớm phát triển thương thuyền. Thương mại là đặc trưng nền tảng của kinh tế đế chế. Vai trò của các dòng sông về cơ bản mờ nhạt hơn so với biển trong thời đại phát triển chủ nghĩa tư bản về sau.

2. Những ghi chép về Biển và vùng đất giáp Biển trong chính sử Trung Quốc

Trong phần này chúng tôi sẽ tiến hành lược sử những ghi chép trong chính sử  của đế chế Trung Hoa cổ đại để từ đó làm cơ sở luận bàn về quan niệm về biển và tư duy biển của đế chế Trung Hoa. Những ghi chép trong chính sử, với tư cách là tuyên ngôn của đế chế nên có thể xem là tiếng nói và đặc trưng tư duy của đế chế.

Sử ký chưa có mục “địa lý chí”. Từ Hán thư bắt đầu có mục địa lý chí. Những ghi chép liên quan đến Biển bắt đầu có từ Nam tề thư.

Hán Thư – địa lý chí chép các quận ven biển Trung Quốc gồm 7 quận

– Nam Hải (nay là địa bàn thành phố Quảng Châu)

– Hợp Phố (nay là khu vực Trạm Giang (Quảng Đông) và Bắc Hải (Quảng Tây))

– Đam Nhĩ (nay là vùng Đam Châu, Lâm Cao, Trừng Mại, tức là vùng Tây Bắc tỉnh Hải Nam ngày nay)

– Châu Nhai (nay là vùng đất từ cảng Hải Khẩu đến thành phố Văn Xương, tức là vùng Đông Bắc tỉnh Hải Nam, Trung Quốc

– Giao Chỉ (nay là Bắc bộ Việt Nam)

– Cửu Chân (Nay là Bắc Trung Bộ Việt Nam)

– Nhật Nam (nay là Trung Bộ Việt Nam) [7]

Nhận xét: Hán thư chỉ chép các quận ven biển, đảo Hải Nam. Không chép thêm gì về biển Đông.

Hậu Hán thư: các vùng đất ven biển  gồm 5 quận chép trong Quận quốc chí là

 Nam Hải (địa bàn như thời Tây Hán, 4 quận dưới đây cũng vậy)

– Hợp phố

– Giao chỉ

– Cửu chân

– Nhật Nam

Tấn thư

Giao Châu thời Hán và Tam Quốc đến thời Tấn phân ra làm hai là Giao châu ở phía nam và Quảng Châu ở phía Bắc. Giao châu lãnh 7 quận gồm

Hợp Phố, 6 huyện

Giao chỉ, 14 huyện

Tân Xương, 6 huyện

Võ Bình, 7 huyện

Cửu Chân, 7 huyện

Cửu Đức, 8 huyện

Nhật Nam, 5 huyện

 Hậu Hán Thư: Cũng tương tự như Hán thư, Hậu Hán thư chép các quận ven biển, không chép về biển Đông

Nam tề thư, quyển 14, 15, Châu Quận chí, đất cực Nam Nam Tề vẫn là Giao Châu và Việt Châu như hồi Tống: “Giao Châu, trị sở châu đặt tại Giao Chỉ, lãnh 9 quận.

1. Quận Cửu Chân, lãnh 10 huyện: Di Phong, Tứ (Tư) Phố, Tùng Nguyên, Cao An, Kiến Sơ, Thường Lạc, Tân Ngô, Quân An, Cát Bàng, Vũ Ninh.

2. Quận Vũ Bình lãnh 6 huyện: Vũ Định, Phòng (Phong) Khê, Bình Đạo, Vũ Hưng, Căn Ninh, Nam Di.

3. Quận Tân Xương, lãnh 8 huyện: Phạm Tín, Gia Ninh, Phong Sơn, Tây Đạo, Lâm Tây, Ngô Định, Tân Đạo, Tấn Hóa

4. Quận Cửu Đức, lãnh 7 huyện: Cửu Đức, Hàm Hoan, Phố Dương, Nam Lăng, Đô Giao, Việt Thường, Tây An,11 huyện

5. Quận Nhật Nam, lãnh 7 huyện

6. Quận Giao Chỉ

7. Quận Tống Bình, lãnh 3 huyện

8. Quận Tống Thọ

9. Quận Nghĩa Xương

Việt Châu, trị sở đặt ở quận Lâm Chương, quận này vốn là đất giáp giới phía Bắc Hợp Phố. Việt châu lãnh 20 quận

Cựu Đường thư, Địa lý chí gồm 4 quyển 38, 39, 40, 41 chia làm 10 đạo. Lĩnh Nam đạo là đất 2 châu Giao, Quảng thời Tấn, thuộc quyền Nam Hải Tiết độ sứ, lãnh 17 châu. Đảo Quỳnh đặt 5 châu: Nhai, Đam, Quỳnh, Chấn và Vạn An. Cực nam là châu Chấn: “Châu Chấn, thời Tùy là quận Lâm Chấn. Năm Võ Đức thứ năm 622, đặt châu Chấn. Năm Thiên Bảo nguyên niên 742, đổi làm quận Lâm Chấn. Năm Càn Nguyên nguyên niên, đổi trở lại làm châu Chấn. Lãnh 4 huyện, 819 hộ, 2.821 nhân khẩu. Từ trị sở châu đến kinh sư 8.606 dặm, đến Đông đô 7.797 dặm. Phía Đông đến huyện Lăng Thủy châu Vạn An 160 dặm, phía Nam đến biển lớn, phía Tây đến châu Đam 420 dặm, phía Bắc đến châu Quỳnh 450 dặm, Đông Nam đến biển lớn 27 dặm, Tây Nam đến biển lớn 1000 dặm, Tây Bắc đến huyện Diên Đức 90 dặm, cùng với châu Nhai là đất trong biển lớn [8]

Nhận xét, Địa lý chí trong Đường thư về phía Nam trên phương diện quản lý hành chính không chép nơi nào ngoài biển khơi ngoài vùng đất đảo Hải Nam ngày nay.

Tống sử, Địa lý chí gồm 6 quyển, từ quyển 85-90. Chế độ quản lý hành chính thời Tống phân 2 cấp Châu và Huyện.

Về quản lý hành chính, chia đảo Quỳnh làm 4 địa bàn cấp Châu và tương đương: 1/Quỳnh Châu ở phía bắc và Đông Bắc. 2/Vạn An quân ở phía Đông và Đông Nam. 3/Cát Dương quân ở phía nam và tây nam. 4/ Xương Hóa quân ở phía Tây. Cực Nam là chấn Lâm Xuyên thuộc Cát Dương quân (là đất Chấn Châu thời Đường). Về mặt giám sát 4 đơn vị này thuộc Quảng Nam Tây lộ.

Nhận xét, Địa lý chí trong Tống sử cho thấy cương vực nhà Tống về phía Đông Nam vẫn dừng lại ở phần đất cực nam đảo Quỳnh như hồi thời Đường.

Nguyên sử: Địa lý chí chép đảo Quỳnh được quản lý bởi 4 đơn vị hành chính.1/ Càn Ninh Quân dân an phủ ty, là đất châu Nhai đời Đường, Quỳnh Quản An phủ đô giám đời Tống; 2/ Nam Ninh quân, là đất châu Đam đời Đường, Xương Hóa quân đời Tống. 3/Vạn An quân, là đất châu Vạn An đời Đường, Tống đổi làm quân. 4/Cát Dương quân, là đất châu Chấn đời Đường, châu Nhai đời Tống. Các đơn vị này thuộc Hải Bắc Hải Nam Đạo Tuyên úy ty [9] 

Nhận xét, cương vực tổng thể thời Nguyên chỉ đến cực nam đảo Hải Nam ngày nay.

Minh sử: Phần đất cực nam trên đảo Quỳnh lập thành một phủ. Năm Hồng Vũ nguyên niên (1368) nhập 4 đơn vị thời Nguyên lập phủ Quỳnh Châu. Cực nam phủ Quỳnh Châu là châu Nhai là phần đất Cát Dương quân thời Nguyên: “Châu Nhai, thời Nguyên là Cát Dương quân, thuộc Hải Bắc Hải Nam đạo Tuyên úy tỵ. Thánh 10 năm Hồng Vũ nguyên niên (1368) đổi làm châu Nhai, thuộc vào phủ (Quỳnh Châu). Tháng 6 năm Chính Thống thứ 4 (1439), đặt trị sở của Châu ở huyện Ninh Viễn, nên nhập huyện Ninh Viễn vào. Phía Nam có Nam Sơn, phía Bắc có Đại Hà, phân dòng từ Ngũ Chỉ Sơn, chảy vào biển theo hướng nam, phía Đông có Đằng Kiều; Tây có Bão Tuế, phía Tây Bắc lại có 3 ty Tuần kiểm Thông Viễn. Châu Nhai cách phủ trị 1.410 dặm về phía Bắc. Lãnh 1 huyện Cảm Ân, ở phía Tây Bắc châu. Trước thuộc Châu Đam, năm Chính Thống thứ năm 1440 chuyển thuộc châu Nhai. Phía Tây đến Biển; phía Nam có sông Nam Tương, nguồn từ núi Lê Mẫu, đổ vào biển theo hướng Tây Nam; phía Đông Nam có ty Tuần kiểm Diên Đức”[10] 

Nhận xét, cương vực quản lý hành chính thời Minh về phía biển nam vẫn nằm trong cương vực có từ thời Nguyên.

Sự kiện Trịnh Hòa

Trịnh Hòa với đội hải thuyền hùng hậu 7 lần vượt biển vào các năm 1405, 1408, 1412, 1416, 1421, 1425, 1430, đến 37 nước/ địa phương: “Tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 3 (1405), ban mệnh cho Hòa cùng bọn Vương Cảnh Hoằng đi sứ Tây Dương. Tướng và binh lính hơn 27.800 người, đem nhiều vàng, tiền làm lễ vật. Chế tạo thuyền lớn, dài 44 trượng, rộng 18 trượng, tất cả 62 chiếc. Từ cửa sông Lưu Gia Hà ở Tô Châu ra biển đi đến Phúc Kiến, rồi từ cửa Ngũ Hổ thuộc biển Phúc Kiến giương buồm ra khơi, đầu tiên đến nước Chiêm Thành, sau đó đi khắp các nước Phiên, tuyên đọc chiếu chỉ của Thiên Tử, nhân dịp này cũng ban tặng lễ phẩm cho các quân trưởng, ai không phục thì uy hiếp bằng vũ lực. Tháng 9 năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), bọn Hòa trở về, các nước cho sứ giả theo Hòa đến triều kiến” [11]

Thanh sử cảo: Nhà Thanh mở rộng cương giới về phía Bắc đến Mông Cổ, phía Tây đến Tân Cương, phía Đông quản lý Đảo Đài Loan. “Từ đó [đầu Thanh] đến nay, Đông tận Tam tính (Tam Tính đời Gia Khánh đặt Tam Tính phó đô Thống hạt khu, thuộc tỉnh Cát Lâm, Tam Tính gồm toàn bộ khu vực sông Amour và đảo Sakhalin. Nay là các tỉnh thành Komsomd, Khabarovsk, Vladivostok, O.Sakhalin thuộc Russia).

Gồm cả Khố Hiệt [O.Sakhaline], Tây tận phủ Sơ Lặc Tân Cương (Sơ Lặc, tên phủ, cực tây Tân Cương. Nay là thành phố Kashi, Tân Cương Duy Ngô Nhĩ tự trị khu). Cho đến Thông Lĩnh (vùng núi Muztagata, nơi giáp với Afghanistan, Tajikitan), Bắc đến Tận Ngoại Hưng An Lĩnh [gồm vùng Nội và Ngoại, Vùng Nam sông Hắc Long Giang thuộc tỉnh Hắc Long Giang gọi là Nội Hưng An Lĩnh. Phía Bắc Sông Amour gọi là Ngoại Hưng An Lĩnh, năm Hàm Phong thứ 8 (1858) theo điều ước Ái Huy, Nhà Thanh giao vùng đất này cho Nga], Nam Tận Nhai Sơn đảo Quỳnh Châu Quảng Đông, không ai không lạy về nội địa, buộc chặt với bản triều. Ôi thật lớn lao mạnh mẽ! Từ Hán, Đường đến nay chưa có vậy”[12]

Cương vực nhà Thanh tuy mở rộng cương giới về phía Bắc đến Mông Cổ, phía Tây đến Tân Cương, Phía Đông đến Đảo Đài Loan nhưng cực Nam tận cùng ở Đảo Hải Nam. Không có ghi chép về chủ quyền lãnh thổ trên Biển ngoài những đảo này.

3.  Luận về Biển trong cấu trúc địa chính trị đế chế Trung Hoa trong lịch sử và Biển trong cấu trúc địa chính trị Trung Hoa ngày nay

3.1.  Luận về Biển trong cấu trúc địa chính trị đế chế Trung Hoa trong lịch sử

Dựa vào những ghi chép trong chính sử của Trung Hoa và căn cứ vào tiến trình vận động và lan tỏa lãnh thổ Trung Hoa, có thể rút ra những nhận xét về Biển với tư cách là một thành tố trong mô hình địa chính trị Trung Hoa như sau;

Trước hết, trong lịch sử nền chuyên chế, Biển chưa trở thành một thành tố trong mô hình cấu trúc địa chính trị Trung Hoa.

Nhìn từ thực tế tiến trình sống động và lan tỏa của đế chế Hán, đã có nhiều vùng đất và nhiều con sông được nhập vào và trở thành một phần lãnh thổ của đế chế. Nếu hình dung nguồn cội của đế chế Hán bắt nguồn từ sông Hoàng Hà thì từ rất sớm, thời Tần đế chế Hán đã đưa sông Trường Giang nhập vào cùng với Sông Hoàng Hà trở thành một bộ phận của đế chế. Nhìn từ những vùng đất, trước thời Tần, đất của đế chế chỉ tập trung chủ yếu ở trung, thượng lưu sông Hoàng Hà. Sau thời Tần có thêm cả vùng đất của lưu vực sông Trường Giang. Thời Nguyên nhập thêm vùng đất Vân Nam ngày nay trước đó là nhà nước Nước Nam Chiếu, và sau là nước Đại Lý, cụ thể là vào thế kỷ 13, năm 1258. Thời Thanh có thêm cả Tân Cương, Tây Tạng, Đài Loan… Ngược lại, trong thực tiễn lan toả đế chế chưa bổ sung vào cấu trúc của mình thành tố Biển

Mặt khác, căn cứ vào những ghi chép trong chính sử của Trung Quốc không tồn tại những ghi chép về những vùng biển với tư cách là một thành tố của đế chế. Chính sử của Trung Quốc chỉ ghi chép lãnh thổ Trung Quốc đến những hòn đảo Đài Loan và Đảo Hải Nam.

Như vậy, điều này có nghĩa, từ trong lịch sử, nhìn từ tiến trình sống động và lan tỏa của thực thể Hoa Hạ, Biển chưa từng trở thành một thành tố đồng tồn với Sông và đất liền. Hay nói cách khác, tư duy địa chính trị của đế chế là tư duy Sông – Đất liền. Biển chưa trở thành một thành tố trong nhận thức của đế chế.

 Tuy nhiên trong sâu xa của tiến trình sống động và lan toả này đã báo trước một xu hướng hướng biển và khống chế biển. Từ thời Tần, lãnh thổ Trung Quốc có xu hướng vận động từ Tây sang Đông. Kinh đô lớn của Trung Quốc có xu hương dịch chuyển từ Tây sang Đông, hướng Biển là rất rõ: Thời Tần là Trường An, Thời Hán là Lạc Dương, đến Tống, Nguyên, Minh,Thanh là, Biện Kinh, Hàng Châu, Bắc Kinh… đều dịch chuyển gần biển hơn. Lãnh thổ Trung Quốc mở rộng theo hướng thâu nạp dần nhiều dân tộc ven, gần, cận Biển, đặc biệt Sở, Ngô, Việt và sau này là Vân Nam. Việt Nam và Đông Nam Á luôn là khát vọng của tiến trình này. Như vậy, hướng Biển là xu hướng trong tiến trình sống động và lan tỏa của lãnh thổ Trung Hoa. Vậy tại sao, chỉ cho đến những năm đầu thế kỷ XXI này Trung Quốc chính thức công khai tuyên tố chủ quyền mang tính đế chế đầy sống động và lan toả của đường Biển. Biến Biển trở thành một thành tố trong tiến trình lan tỏa của đế chế Trung Hoa.

Vấn đề đặt ra là tại sao trong lịch sử nền chuyên chế, Biển chưa trở thành một thành tố trong mô hình cấu trúc địa chính trị Trung Hoa?

Trước hết, nhìn từ địa chính trị và mô thức tư duy địa chính trị Trung Hoa. Như trên đã lược dẫn về nguồn cội hình thành đế chế Hi La và đế chế Trung Hoa nhìn từ góc độ địa lý, nếu như Hi – La hình thành đế chế trên cơ sở đảo và hải đảo thì Trung Hoa hình thành đế chế trên cơ sở sông và đất liền. Từ điểm xuất phát này quy định hết sức sâu sắc trong mô thức tư duy địa chính trị Trung Hoa. Mô thức tư duy này hình thành từ rất sớm và được phát ngôn ra trong nhận thức về phương thức cai trị và chủ quyền của đế chế. Ngày nhà Hán thành lập, việc định đô trở thành một việc trọng đại. Nhiều mưu thần hiến kế việc định đô, trong đó ý kiến của Trương Lương được Hán Cao Tổ vừa lòng nhất là định đô và cai trị đế chế trên cơ sở Sông, từ sông cai trị đất liền Trương Lương nói: Tuy Lạc Dương có những hiểm trở ấy nhưng đất hẹp không quá vài trăm dặm, ruộng đất xấu lại phải đương đầu với kẻ địch cả bốn mặt, đó không phải là nước dụng vũ. Trái lại, Quan Trung bên trái có Hào Sơn, Hàm Cốc Quan, bên phải có đất Lũng, đất Thục, đồng ruộng phì nhiêu ngàn dặm; phía Nam có của cái của đất Ba, đất Thục, phía Bắc có cái lợi đồng cỏ đất Hồ, cả ba mặt đều có thiên nhiên hiểm trở phòng giữ, chỉ dùng một mặt đông khống chế chư hầu. Khi chư  hầu yên ổn thì sông Hoàng Hà, Vị Thuỷ có thể dùng để chuyên chở của cải của Thiên hạ đem về cấp cho Kinh Đô. Nếu chư hầu có biến, thì cứ thuận dòng đi xuống có thể tiện việc chuyên chở. Đó mới là thành vàng ngàn dặm, một kho báu trời cho vậy.[13] Hơn nữa, hệ thống sông đào ở Trung Quốc hình thành từ rất sớm để thuận tiện cho việc cai trị. Mặt khác, một mệnh đề được nhiều văn nhân sĩ đại phu thẩm thấu và nhắc đi nhắc lại xuyên suốt trong lịch sử: “phổ thiên chi hạ, Mạc phi vương thổ, xuất thổ chi tân, mạc phi vương thần” (tất cả mọi thứ dưới gầm trời đất này, không đâu không phải là đất của Hoàng đế và sông nước này đâu đâu cũng thuộc về thiên tử). Như vậy, từ hình thành đế chế trên cơ sở Sông và đất liền, với nền nông nghiệp dựa trên cơ sở bình nguyên rộng lớn là cơ sở đảm bảo cho sự tồn tại của đế chế. Rõ ràng, điều kiện tự nhiên không tạo điều kiện thuận lợi để hình thành tư duy đế chế hướng Biển.

Mặt khác, lãnh thổ đế chế Trung Hoa hình thành trên cơ sở hạt nhân là lưu vực Sông Hoàng Hà. Tiến trình hình thành lãnh thổ đế chế là tiến trình không ngừng co giãn và bổ sung thêm vào mình những vùng đất mới. Những vùng đất quanh hai con sông Hoàng Hà, Trường Giang và những vùng đất khác quy chiếu từ hai con sông này lần lượt được đế chế lãnh thổ hoá trong tiến trình lịch sử. Trong nhiều nghìn nằm, nhiều vùng đất đã bị đế chế hoá hoàn toàn (những quốc gia quanh khu vực sông Trường Giang), có những vùng đất lớn mạnh và trở thành lãnh thổ riêng (Đại Việt) và về cơ bản đế chế nhiều lần muốn đế chế hoá như Việt Nam nhưng trong nhiều nghìn năm chưa thành. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tiến trình này dừng lại mà thực chất nó vẫn diễn ra liên tục. Lãnh thổ hình thành theo kiểu đó được nhiều nhà nghiên cứu hình dung theo kiểu tằm ăn lá dâu(4).Trong nền chuyên chế, đế chế Hoa Hạ đã vươn mình theo nhiều định hướng khác nhau nhưng theo trục sông và đất liền. Phần nào đó, những vùng đất và những dòng sông đã cố định hoá hoặc thuộc về những quốc gia lớn mạnh đế chế chưa thể nhập vào mình được đã lớn mạnh gây trở ngại lớn cho quá trình này. Do vậy, biển là một thành tố khác không nằm trong quy luật lan toả của đế chế.

Mặt khác, Trung Hoa là quốc gia Nho giáo. Trong quan niệm của Nho gia, Sĩ là Nho sĩ, giới Sĩ xếp thứ nhất, sau đó là công, thương. Thương mại, ngoại thương gắn với buôn bán và phát triển buôn bán theo hướng buôn bán không được đế chế coi trọng. Thời Minh sau chuyến đi của Trịnh Hoà đã đóng cửa buôn bán với các nước bên ngoài. Trong nhận thức của đế chế, hướng biển và ngoại thương sẽ rất nhanh chóng phá hoại sự tồn tại của đế chế.

Trên đây là những lý do căn bản nhất làm chậm tiến trình lan tỏa ra Biển của Trung Hoa đế chế.

3.2. Luận về Biển trong địa chính trị Trung Hoa ngày nay

3.2.1. Luận về sự tham gia của thành tố Biển trong mô hình cấu trúc địa chính trị đế chế Trung Hoa

Với tuyên bố gần đây của đế chế Trung Hoa hiện đại về chủ quyền trên biển là tuyên bố đầu tiên và thể hiện quan niệm của đế chế về Biển. Điều này có nghĩa Lợi ích cốt lõi hình chữ U được đế chế Trung Hoa ngày nay nhận thức là một thành tố của địa chính trị Trung Hoa. Thành tố Biển chính thức trở thành một trong ba thành tố của mô hình cấu trúc địa chính trị thực thể Trung Hoa: Sông – Đất liền – Biển. Đây chính là cái mà chúng tôi gọi là Thành tố trẻ trong mô hình cấu trúc địa chính trị Trung Hoa.

Rõ ràng, nhìn từ địa chính trị và một cái nhìn lịch sử sẽ cho thấy rõ nguồn gốc sâu xa và bản chất của thành tố Biển với tư cách là một thành tố “trẻ” của đế chế. Sự tham gia của Thành tố Biển trong mô hình cấu trúc địa chính trị Trung Hoa nằm trong mạch tiến trình lan tỏa và sống động của đế chế Trung Hoa từ sâu xa trong lịch sử.

 Mô hình cấu trúc của đế chế Trung Hoa hình thành từ nguồn cội và dần trở thành trục chủ đạo của tiến trình hình thành và vận động của đế chế gồm hai thành tố cơ sở và cơ bản: Sông và đất liền. Trên đại thể, trong suốt tiến trình sống động và lan tỏa của mình, hai thành tố này không ngừng mở rộng và bổ sung. Hệ thống sông được tạo bởi trụ cột là hai sông lớn Hoàng Hà và Trường Giang. Đất liền được bổ sung thêm nhiều vùng đất mới trải qua các thời đại. Nhìn tổng quát, đến thời đại nhà Thanh, lãnh thổ đế chế đã mở rộng nhất trong lịch sử. Về cơ bản, đế chế Trung Hoa đã vươn mình gần như từ cội nguồn đến hạ nguồn của những con sông lớn này, luôn tham vọng sông chảy tới đâu, lãnh thổ Trung Quốc vươn tới đó. Và nhiều vùng đất chung quanh đã nhập vào với đế chế.

Với một cái nhìn lịch sử về lãnh thổ Trung Hoa như vừa dẫn ra ở trên, có thể thấy, về cơ bản lãnh thổ Trung Quốc là một tiến trình không ngừng vận động và không ngừng nhập vào mình những vùng đất mới ở chung quanh. Những đế chế lớn như Tần, Hán, Đường, Nguyên, Thanh đều nhập vào mình những vùng đất mới, mở rộng và làm mới đế chế. Việc bổ sung thêm vào trong mình thành tố biển nằm trong quy luật này của tiến trình hình thành đế chế. Nhưng bản chất và khác biệt của nó so với truyền thống là, nếu như trong truyền thống địa chính trị đế chế chỉ gồm thành tố sông và đất liền thì đây là lần đầu tiên, đế chế bổ sung vào mình thành tố Biển.

3.2.2. Căn nguyên Biển trở thành một thành tố trong cấu trúc địa chính trị Đại Hán

Qua những phân tích trên đây có thể đi đến một cái nhìn tổng quát mang tính quy luật của tiến trình hình thành và lớn mạnh của đế chế Trung Hoa nhìn từ địa chính trị.

Chiến lược tàm thực là đặc trưng nổi bật trong toàn bộ tiến trình hình thành đế chế nhìn từ địa chính trị. Tàm thực trong thời đại chuyên chế được diễn ra liên tục xuyên suốt trên hai trục Sông và đất liền. Từ trước thời Tần, Hán, Đường,Tống, Nguyên, Minh, Thanh đế chế luôn được bổ sung và tái bổ sung thêm sông và vùng đất mới. Diện mạo lãnh thổ ngày nay là tiến trình của nhiều nghìn năm này. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là đế chế luôn lớn mạnh và không có những vùng đất tách ra độc lập. Có sự độc lập và tự chủ ở những quốc gia mà trước đây đế chế hình dung là Man Di. Tuy nhiên, những quốc gia độc lập này luôn luôn bị đe dọa bởi chiến lược tàm thực này.

Chiến lược tàm thực đã diễn ra trên sông và đất liền nhiều nghìn năm qua. Đây là lần đầu tiên chiến lược này hướng ra Biển Đông. Tại sao vậy? Từ góc nhìn địa chính trị và đặc trưng hình thành đế chế nhìn từ địa chính trị có thể thấy hướng ra Biển Đông là một sự thức tỉnh của đế chế, sự tự nhận thức của đế chế.

Những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, các quốc gia Phương Tây như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Mỹ… đến Á Đông và thuộc địa hóa nhiều quốc gia ở khu vực này. Trung Quốc không là thuộc địa nhưng lãnh thổ bị xâu xé bởi nhiều quốc gia lớn này và đặc biệt là Nhật Bản. Trung Quốc đã tự hỏi tại sao nền văn minh và quốc gia lớn bậc nhất thế giới này lại bị các quốc gia nhỏ hơn xa hơn và kém vĩ đại huy hoàng hơn đến xâm chiếm. Trong nhiều vấn đề chủ chốt được đế chế phản tư, có một góc nhìn được đế chế quan tâm là họ đặt câu hỏi tại sao những nước như Anh, Pháp, Hà Lan… và cả Nhật nhỏ bé như vậy lại có thể trở thành lớn mạnh và đi xâm chiếm các nước khác lớn và vĩ đại hơn ? Trung Quốc đã tiến hành làm một bộ phim tài liệu phỏng vấn những chính trị gia, những học giả, nhà sử học những nhà quản lý hành đầu Thế giới Phương Tây đều nhận được một câu trả lời là: sở dĩ các quốc gia này lớn mạnh là bởi họ khống chế được những tuyến đường biển chiến lược. Bộ phim tư liệu này đã được phát liên lục nhiều kỳ trên đài truyền hình Trung ương Trung Quốc. Ngay lập tức, Mỹ và nhiều quốc gia Phương Tây đã mua và phát lại bộ phim tài liệu này? Người đứng sau tư tưởng này là Giáo sư Đại học Bắc Kinh Tiễn Thừa Đán “Năm 2006, đài truyền hình Trung ương Trung Quốc đã cho chiếu một loạt phim lịch sử có tựa “Sự vươn lên của các cường quốc” (Đại Quốc Sử Kí”), rất thành công. Phim thực hiện những cuộc phỏng vấn các sử gia, các nhà lãnh đạo thế giới, đã được đánh giá là khá chính xác. Kênh lịch sử của Mĩ đã mua lại bản quyền và đem chiếu ở Hoa Kì. Cuốn phim dài 1.250 phút cắt nghĩa nguyên nhân các đế quốc đã vươn lên, phát triển và lụi tàn. Đó là các đế quốc Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp, Anh, Đức, Nhật, Nga và Mĩ. Người đứng sau tư tưởng này, Giáo sư  Đại học Bắc Kinh, Tiễn Thừa Đán đã hiểu được ý nghĩa lời kêu gọi trong phim: “chỉ vì Trung Quốc, người dân Trung Quốc, chủng tộc Trung Quốc đã được sống dậy và tham gia thêm một lần nữa vào sân khấu thế giới[14](5).

Rõ ràng, Trung Quốc đã hiểu đúng được căn nguyên của sự lớn mạnh các quốc gia đã đến xâm lược mình. Đã hiểu ra được nguyên nhân của sự lớn mạnh của họ và điểm yếu cốt tử của mình so với các quốc gia Phương Tây.

Vì vậy, một lần nữa chiến lược tàm thực đã áp dụng trên sông và đất liền lại được tái áp dụng trên Biển. Lãnh thổ Trung Quốc ngoài đại lục giờ đây có thêm đường lưỡi bò hình chữ U trên biển hết sức vô lý. Biên giới lãnh thổ trong tham vọng của Trung Quốc lần đầu tiên trong lịch sử vươn ra Biển Đông xa đến như vậy.

4. Kết luận

Mục tiêu tối hậu của Trung Quốc là trở thành một đế chế cường thịnh nhất thế giới. Muốn làm được như vậy, Trung Quốc buộc phải khống chế được Biển Đông, tuyến đường chiến lược nối Đông Á với Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Và bởi kinh nghiệm của các quốc gia lớn mạnh trên thế giới, có khống chế được tuyến hàng hải chiến lược này mới đảm bảo sự lớn mạnh của Trung Hoa. Và Trung Hoa mới thực sự tham gia thêm một lần nữa vào sân khấu thế giới như lời nhận định của GS.Tiễn Thừa Đán, Đại học Bắc Kinh, Trung Hoa.[15], [16]. Khi biển trở thành một thành tố mới trong lịch sử Trung Hoa sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng và uy hiếp đến nhiều nước lân bang, trong đó đặc biệt nghiêm trọng uy hiếp trực tiếp Việt Nam, xâm chiếm biển, đảo của Việt Nam và nhiều nước khác trong khu vực. Thông điệp mà chúng tôi muốn gửi tới là bắt mạch đúng căn nguyên cội nguồn và dã tâm của những tuyên bố gần đây trên biển của Trung Quốc. Và ở tầm vĩ mô chúng ta cần có nhìn nhận đúng động thái này để có những biện pháp ứng xử phù hợp với tham vọng của Trung Quốc.

 

——————

[1] [2] [13] Chủ nghĩa duy tâm của một quan niệm về lãnh thổ, Tạp chí Triết học, Viện Triết học, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội, Số 4/1980, tr. 99 – 118

[4] Thanh sử cảo, quyển 54, Chí 29, Địa lý 1. Trung Hoa thư cục cuốn 8. Tr,1891

[5] [6] Lịch sử thế giới cổ đại, Lương Ninh chủ biên, Nxb Giáo dục,2010. tr.161

[7] Hán thư, quyển 28 hạ, Địa lý chí 8 hạ. Bản Trung Hoa Thư cục, tr. 1630.

[8] Cựu Đường thi, quyển 38, chí 18, Địa lý 1, Tổng luận, Bản Trung Hoa thư cục cuốn 5, tr. 1384-1385

[9] Nguyên sử, quyển 63, Chí 15, Địa lý 6, Bản Trung Hoa Thư Cục, cuốn 5, tr. 1538-1539

[10] Minh sử, quyển 45, Chí 21, Địa lý 6. Trung Hoa thư cục cuốn 4,tr. 1145-1147.

[11] Minh sử quyển 304, Liệt truyện 192, Trịnh Hòa. Trung Hoa thư cục cuốn 26, tr.7766-7768

[12] Thanh sử cảo, quyển 54, Chí 29, Địa lý 1. Trung Hoa thư cục cuốn 8. Tr,1891

[13] Sử ký, Tư Mã Thiên, Nxb Văn học, 1995, tr. 293

[14] [15] Trung Quốc sau khủng hoảng, Nguyễn Nhã tổng hợp và dịch Nxb Tri Thức, 2011, tr. 190

[16] Những  tư liệu trong chính sử Trung Quốc chúng tôi tham khảo của tác giả Nguyễn Hoàng Quân, in trong sách Người Việt với Biển, Nxb Thế giới, 2012, PGS.TS Nguyễn Văn Kim chủ biên. Trân trọng cám ơn tác giả và chủ biên cuốn sách.

(1) Mốc thời gian mang tính tương đối, được hiểu là thời điểm trước khi Trung Hoa tuyên bố chủ quyền lãnh thổ hình lưỡi bò trên Biển Đông

(2) Trung Quốc từ rất sớm đã rất sợ cư dân phía Bắc. Vạn Lý Trường Thành được hiểu là biểu tượng của sự sợ hãi của  Hán tộc đối với cư dân Phương Bắc.

(3) Xem, An Ninh thế giới giữa tháng, bài: không thể nhận được những gì không phải của mình của tác giả Trần Ngọc Vương. Số 55, ra thứ 2, ngày 13/8/2012, Tr. 8-9.

(4) Chữ dùng của ông Trần Ngọc Vương

(5) Bài báo là Lemonde diplomatique, nguyên bản tiếng Anh, tác giả Olivier Zajec, tháng 9 -2008. Thông tin này người viết dẫn lại theo cuốn sách Trung Quốc sau khủng hoảng, dưới con mắt các nhà báo và các chuyên gia kinh tế quốc tế, do Nguyễn Nhã tổng hợp và dịch, Nhà xuất bản tri thức, 2011, bài Tham vọng của hải quân Trung Quốc, tr. 190.

 

VAI TRÒ CỐT YẾU CỦA BIỂN ĐÔNG ĐỐI VỚI CHIẾN LƯỢC ĐỊA CHÍNH TRỊ CỦA TRUNG QUỐC – BS

15 Th8

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

VAI TRÒ CT YU CỦA BIN ĐÔNG ĐỐI VỚI CHIẾN LƯỢC ĐỊA CHÍNH TRỊ CA TRUNG QUỐC

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Bài viết trên tờ “Tín báo ” (Hồng Công) ngày 5/8 của Giáo sư Cúc Hi Long thuộc Học vin Quan hệ Quốc tế, Đại học Ký Nam Trung Quốc.

Sau mấy chục năm cải cách mở cửa, Trung Quốc không những đã nắm trong tay đội tàu viễn dương đẳng cấp thế giới mà còn xây dựng mối quan hệ mật thiết với nền kinh tế toàn cầu; sự vươn dài toàn cầu của đời sống kinh tế đã khiến Trung Quốc đương đại trở thành một nước mang nhiều kiểu đời sống kinh tế văn hóa xã hội, đã thâu gom được đặc trưng văn minh biển. Ngày nay, Trung Quốc chưa phải là một cường quốc biển nhưng đã có đầy đủ điều kiện cơ bản để trở thành quốc gia biển.

 

Chiến lược của Trung Quốc: Hai ngả lựa chọn

Con đường trở thành cường quốc biển của Trung Quốc vẫn đang đối mặt với những sự lựa chọn khó khăn. Nhìn từ lịch sử, máu và bạo lực thấm đẫm lịch sử phát triển của các cường quốc biển truyền thống; phân tích từ góc độ hiện thực, “quyền lực là hành động, lợi ích là mục đích” được viết để viết lại trong tuyên bố của các nước bá quyền biển thế giới đương đại và các nước đi sau. Trung Quốc là cường quốc nằm sát biển cũng có mô hình tiến lên trước tất sẽ gặp phải các kiểu xung đột. Việc Trung Quốc tìm tòi hướng chiến lược mới sẽ không tránh khỏi sức ép ứng phó của các nước trên thế giới dựa theo mô hình chiến lược quyền lợi biển truyền thống.

Cho dù dự đoán phản ứng của các nước khác với nguyện vọng lương thiện tới mức nào, Trung Quốc cũng không thể tránh khỏi những cái nhìn thù địch và áp lực địa chính trị. Xung quanh Trung Quốc hiện nay, phía Tây Bắc, tiếp giáp với Tân Cương là khu vực Trung Á thuộc phạm vi ảnh hưởng truyền thống của Nga; phía Tây Nam là Ấn Độ – nước luôn luôn cảnh giác với Trung Quốc – phía Đông Bắc là bán đảo Triều Tiên có tình hình không mấy lạc quan và Nhật Bản với tội ác lịch sử không suy nghĩ hối cải; phía Đông Nam là các nước Đông Nam Á có quan hệ thương mại lớn với Trung Quốc nhưng do tranh chấp Biển Đông nên quan hệ còn hạn chế.

Trung Quốc cơ bản rơi vào hoàn cảnh chiến lược địa chính trị bế quan, bị bao vây. Hoàn cảnh chiến lược này mang đến cho Trung Quốc hai sự lựa chọn cực đoan trong suy tính, quyết định sách lược – phải chấp nhận hiện thực, chấp nhận sự lãnh đạo của cường quyền thế giới, nhân nhượng vì lợi ích toàn cục trong hoàn cảnh khó khăn chiến lược địa chính trị; nếu muốn mưu cầu phát triển, phải phá vỡ tình trạng địa chính trị bị bao vây, trở thành cường quốc khu vực.

Đương nhiên, nhân nhượng vì lợi ích toàn cục cũng có thể mang lại cho Trung Quốc không gian phát triển, nhưng có thể mang lại không gian phát triển lớn mức nào thì cũng đáng để suy nghĩ kỹ càng. Hiện nay, dưới áp lực của Mỹ môi trường chiến lược quốc tế ổn định của Trung Quốc, quan hệ Trung – Nga khá ổn định dưới áp lực của Mỹ, nhưng quan hệ Trung – Nga không phải không có biến số. Do áp lực của châu Âu, Nga thực sự cần Trung Quốc, nhưng nếu giả thiết rằng có một ngày Nga trở thành cường quốc lãnh đạo châu Âu thì quan hệ Trung – Nga sẽ ra sao? Giả thiết mạnh hơn nữa rằng nếu Trung Quốc thất bại trong cuộc cạnh tranh chiến lược trong vòng 10 năm tới, Nhật Bản trở thành cường quốc Đông Á hoàn toàn dẫn dắt châu Á thì quan hệ Trung – Nga sẽ như thế nào? Khi Nga thành công ở châu Âu, Nhật Bản thành công ở Đông Á, Trung Quốc sẽ đi đâu về đâu?

Mỹ đối vi Trung Quốc: vừa kéo vừa đánh

Chiến lược địa chính trị không phải là toàn bộ chiến lược quốc gia, nhưng là trụ đỡ quan trọng cho chiến lược quốc gia toàn diện. Cho dù có thực lực kinh tế, có sức dẫn dắt chính trị và có năng lực truyền bá văn hóa, nếu không có ảnh hưởng quân sự và địa chính trị thì một đất nước cũng khó trở thành một cường quốc khu vực thực sự. Trước tiên, Trung Quốc nên phà bỏ áp lực địa chính trị bao vây đất nước hiện nay, xem xét kỹ mối quan hệ với Nga. Hướng phát triển chiến lược địa chính trị của Trung Quốc không phải ở phía Bắc cũng chẳng phải ở phía Tây, mà ở phía Đông Nam.

Trong lịch sử, bán đảo Trung Nam (bán đảo Đông Dương) là thuộc địa của Pháp, sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, Mỹ và Liên Xô lần lượt khống chế bán đảo Trung Nam, đó chính là gông cùm khiến các nước như Việt Nam, Lào, Campuchia ngày nay khổ có thể tự tìm kiểm mô hình phát triển mang tính độc lập. Mỹ ngày nay lại đưa vai trò chiến lược vào khu vực bán đảo Trung Nam, áp lực chiến lược khu vực cả trên biển và trên đất liền phía Nam Trung Quốc vì thế tăng lên.

Biển Đông nằm ở giữa Thái Bình Dương và lục địa Đông Á. Vùng biển này được tạo nên bởi những đảo và chuỗi quần đảo nằm bên ngoài lục địa chia cắt với khu vực biển Tây Thái Bình Dương. Xét từ góc độ địa chính trị, đảo và chuỗi quần đảo này là bức màn phòng ngự tự nhiên của lục địa Đông Á, song cũng là lô cốt đầu cầu tự nhiên dùng để tấn công vào lục địa Đông Á của các quốc gia của Nhật Bản đã từng coi “chiến lược biển” là cái gốc lập nước để kinh doanh.

Thực tế, cho dù hiện đất nước không mấy khởi sắc, nhưng Nhật Bản vẫn không ngừng các bước đi của họ từ nước lớn kinh tế hướng tới nước lớn quân sự và nước lớn chính trị. về chiến lược biển, sự phòng thủ chiến lược đối với Trung Quốc của Nhật Bản sẽ là thách thức lớn nhất đối với chiến lược biển của Trung Quốc. Thách thức này không chỉ sẽ thấm sâu đến trụ cột các mặt của an ninh địa chính trị trên biển của Trung Quốc, mà còn thể hiện ngày càng rõ hơn ở các kỹ thuật khoa học quân sự nhằm vào Trung Quốc.

Trong tương lai, Trung Quốc vẫn còn 10-15 năm cơ hội chiến lược tốt nhất ở bán đảo Triều Tiên và bán đảo Trung Nam, cũng còn cơ hội tốt để kinh doanh và thúc đẩy quyền lợi biển ở Biển Đông và quan hệ hai bờ. Trong thời kỳ này, Trung Quốc sẽ đối mặt với sự đối lập và điều chỉnh trong quan hệ với Mỹ, cũng sẽ đối mặt với sự thách thức ngày càng cứng rắn và lộ rõ của Nhật Bản. Trung Quốc không thể dự đoán tương lai xa sẽ thay đổi như thế nào. Trung Quốc chỉ có thể biết rằng cần nắm chắc hiện tại thực hiện sự kết nối tốt giữa chiến lược lâu dài và chính sách cụ thể.

***

(Đài RFA 8/8)

Vừa qua, tại miền Nam California đã có một cuộc hội thảo về “Vấn đề tranh chấp Biển Đông” với bốn diễn giả thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, như địa lý và luật pháp công, lịch sử và chính trị hoặc kinh tế và an ninh.

Trong số diễn giả có chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa với bài phân tích những nhược điểm kinh tế và mục tiêu sâu xa của lãnh đạo Trung Quốc khi bành trướng vào vùng Biển Đông. Mục “Diễn đàn Kinh tế” tuần này sẽ tìm hiểu về những động lực đó của Trung Quốc.

– Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Trong cuộc hội thảo trưa ngày 4/8 vừa qua tại miền Nam California, ông có được mời lên trình bày khía cạnh kinh tế của các động thái gần đây của Trung Quốc. Chúng tôi đề nghị ông triển khai những ý ông đã phát biểu ngắn gọn tại cuộc hội thảo này. Nhưng trước hết, xin ông tóm lược cho biết về cuộc hội thảo đó.

+ Thái độ của Trung Quốc và tình hình căng thẳng gần đây tại vùng Biển Đông khiến dư luận thế giới quan tâm. Cộng đồng người Việt ở bên ngoài cũng ưu lo về quyền lợi lâu dài của Việt Nam vì thế nhiều đoàn thể hay diễn đàn đều cố tìm hiểu chuyện này. Ban tổ chức cuộc hội thảo vừa qua là một đoàn thể đấu tranh chính trị, họ mời các chuyên gia ở ngoài tổ chức đến trình bày nhiều khía cạnh khác nhau của vấn đề cho công luận cùng biết rõ.

Không là thành viên của một tổ chức chính trị nào, tôi nhận lời phát biểu như một bổn phận và qua đó còn học hỏi được nhiều ý kiến khác. Một diễn giả đáng chú ý là học giả Vũ Hữu San. Ông là sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng hòa, nguyên thuyền trưởng của tàu khu trục Trần Khánh Dư HQ 4 đã tham chiến với Hải quân Trung Quốc trong trận hải chiến hồi tháng 1/1974 để báo vệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Sau 1975, ông đi học lại và nghiên cứu thêm về đặc tính hải dương và chủ quyền của Việt Nam trên vùng Biển Đông. Với tôi, ông là một học giả am tường với mấy chục năm cẩn trọng tìm hiểu sâu xa về một vấn đề sinh tử cho Việt Nam.

Nghịch lý

– Thưa ông, trên diễn đàn này từ nhiều năm qua, ông đã phân tích các vấn đề kinh tế của Trung Quốc nhằm cảnh báo Việt Nam về nhiều khó khăn tương tự. Tại cuộc hội thảo vừa qua, ông phổ biến một bài tham luận rất dài nhưng tóm lược vào một số điểm chính trong phần phát biểu trước cử tọa, mà truyền thông Việt ngữ đánh giá là chăm chú theo dõi. Hôm nay, xin đề nghị ông trình bày những ý đó.

+ Được mời trình bày một đề tài phức tạp nên tôi cố thu gọn vào khoảng 20 phút phát biểu để nhấn mạnh đến đặc tính sâu xa của Trung Quốc rồi đến yêu cầu về kinh tế và an ninh ngày nay khiến lãnh đạo nước này mới là vấn đề của thế giới. Tôi xin trình bày cho rõ hơn ở đây. Trước hết, Trung Quốc chỉ là một “ốc đảo”, thiếu đất, thiếu nước, đói ăn và khát dầu cho nên đang tìm cách giải quyết những bài toán này của họ.

– Hình như ông lại nói ra nghịch lý. Trung Quốc có lãnh thổ gần 10 triệu km2, với dân số hơn 1,3 tỷ người có sản lượng kinh tế chỉ đứng sau Mỹ và còn là chủ nợ số một của nước Mỹ mà ông lại gọi là ốc đảo thiếu đất thiếu nước đói ăn và khát dầu…. Xin ông lần lượt giải thích cho những vấn đề đó.

+ Nếu tôi có nêu ra nghịch lý thì chẳng vì lập dị hay kích thích sự chú ý. Vấn đề là cách tiếp cận một bài toán khách quan từ nhiều giác độ và trong thế động chứ không do cảm quan thù ghét hoặc cứ nhắc lại ấn tượng của nhiều người.

Trước hết, về địa hình, khu vực cốt lõi của Trung Quốc thật ra chỉ là một “ốc đảo” bên Thái Bình Dương. Ngoài hướng Đông là biển cả, ba hướng kia đều bị bao vây bởi núi rừng hiểm trở, sa mạc và thảo nguyên bất lợi cho sự vận chuyển và sinh hoạt. Ý nghĩa ốc đảo là như vậy, xin hãy nhìn vào bản đồ tự nhiên hay dân số của họ thì thấy.

Thứ hai, khu vực phì nhiêu đó là ở miền Đông gần biển, nơi có độ ẩm nhờ nước mưa, đủ cao cho canh tác và có châu thổ của hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử. Khu vực “ốc đảo” này hiện gồm 11 tỉnh và ba thành phố lớn với 500 triệu dân, nhưng diện tích có thể canh tác bình quân cho một người chỉ bằng một phần ba trung bình thế giới, nên ta mới gọi là “thiếu đất”.

Thứ ba, trên diện tích lãnh thổ gần 10 triệu km2, diện tích có nước nhờ ao hồ sông suối thật ra chỉ chiếm 0,28%, thấp hơn các nước lớn trên thế giới. Lượng nước ngọt cho một đầu người của Trung Quốc cũng thuộc loại thấp nhất châu Á, vốn dĩ đang là lục địa thiếu nước nhất địa cầu. Vì thế Trung Quốc mới đòi cướp nguồn nước của thiên hạ, từ đỉnh Himalaya đến các con sông lớn cua châu Á và sông Mê Công quen thuộc của người Việt.

Thứ tư mới là vấn đề đói ăn. Do khan hiếm đất và nước bên trong mà chưa biết cải tiến, dù có sản lượng lương thực lớn nhất thế giới, Trung Quốc vẫn phải nhập nông sản và giới lãnh đạo sợ nhất là chuyện dân chúng nổi loạn thiếu ăn như đã tửng xay ra nhiều lần trong lịch sử.

Thứ năm, không chỉ thiếu ăn mà Trung Quốc còn khát dầu, vì thiếu nguyên nhiên vật liệu cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa đang khởi sự. Vì hiệu năng tiêu thụ kém, nước này sử dụng lãng phí và từ cả chục năm nay phải nhập khẩu dầu thô và khí đốt từ nhiều nơi để bổ sung cho than đá ở trong nước.

Một quốc gia có 3 nền kinh tế

– Như vậy, ông cho là vì những khan hiếm và không nuôi nổi một dân số quá đông ở trong nước, Trung Quốc mới muốn bành trướng ra ngoài để tìm tài nguyên cần thiết cho một nước đang công nghiệp hóa hay sao?

+ Nhiều người lý luận như vậy, nhưng tôi nghĩ sự tình còn nguy hiểm hơn vậy vì nhiều lý do khác.

Chúng ta không quên các nước láng giềng của Trung Quốc còn gặp hoàn cảnh tài nguyên bất lợi hơn nhiều, như Hàn Quốc và Nhật Bản. Nhưng trong thể kỷ 21 nếu mà cứ thiếu thì lại đi ăn cướp sao? Nhật Bản từng gặp bài toán đó nên giải quyết bằng xâm lăng và bành trướng quân sự như đã thấy vào các năm 1910, 1931 rồi 1941 với kết quả là chiến tranh và tàn phá cho cả châu Á và nước Nhật. Cho nên từ năm 1945 họ đã chuyển sang hướng hợp tác trong hòa bình để phát triển.

– Vì sao lãnh đạo Trung Quốc không giải quyết theo hướng đó? Trong cuộc hội thảo, ông có nói đến sự sợ hãi và đặc tính mà ông gọi là “nhất quốc tam kinh”, một quốc gia có ba nền kinh tế. Thưa ông chuyện ấy là gì?

+ Tôi thiển nghĩ Trung Quốc là nơi mà nỗi sợ hãi bị ngoại xâm đã thành một phần bản chất của lãnh đạo mọi thời. Nó được định chế hóa và xây dựng lên như một kiến trúc có thể thấy từ Mặt Trăng, đó là Vạn lý Trường thành, xuất hiện từ thời Chiến Quốc và mở rộng rồi củng cố vào đời Tần Thủy Hoàng và thời Minh. Nền văn hoá duy chủng và độc tôn của Hán tộc khiến họ khinh miệt các chủng tộc xung quanh mà họ coi là “tứ di”, bốn hướng đều là man rợ. Thực tế thì Hán tộc ở Trung Nguyên vẫn bị các dị tộc tấn công và làm chủ nhiều lần trong mấy thế kỷ. Vì vậy mới có phản ứng phòng thủ bằng thành lũy ngay từ trong đầu.

Thứ nữa là yếu tố “tam phân”. Do địa hình, lãnh thổ Trung Quốc có ba khu vực với đặc tính kinh tế khác biệt và đấy là bài toán của lãnh đạo ngày nay. Thứ nhất là ốc đảo tương đối trù phú và “hướng ngoại” của 11 tỉnh tiếp cận với biển và mở ra thế giới bên ngoài. Thứ hai là khu vực “nội địa” gồm tám tỉnh bị khóa trong lục địa, nơi sinh sống của 450 triệu dân nghèo hơn. Khu vực này khô cằn và có ít tuyến đường vận chuyển nên vẫn bị lạc hậu dù lãnh đạo đã nhiều lần ra sức đầu tư để khai khẩn. Khu vực thứ ba gồm 11 tỉnh bao trùm lên một nửa diện tích lãnh thổ cũng là vùng hoang vu hiểm trở ở hướng Tây và hướng Bắc. Với diện tích bạt ngàn và dân cư thưa thớt, đây là đất biên vực gồm cả lãnh thổ nước khác mà lãnh đạo mọi thòi đều muốn kiểm soát để biển thành vùng đệm quân sự nhằm bảo vệ các khu vực kia, nhất là Trung Nguyên của Hán tộc.

Vì chưa có dân chủ và không theo thể chế liên bang, Trung Quốc chưa thể phát triển ba khu vực này một cách công bằng và hài hòa. Lại theo định hướng xã hội chủ nghĩa với thực quyền kinh tế và kinh doanh trong tay nhà nước và thân tộc, nước này không giải quyết được bài toán kinh tế và thường bị nguy cơ nội loạn. Thí dụ gần đây nhất không chỉ là Trùng Khánh, Ô Khảm hay Ôn Châu, mà còn xung đột giữa tư doanh và quốc doanh về dầu khí tại huyện Tĩnh Biên của tỉnh Thiểm Tây.

– Khi bên trong có đầy mầm loạn như vậy thì tại sao lãnh đạo Trung Quốc còn gây thêm vấn đề với những quyết định về ngoại giao, quân sự và kinh tế ở ngoài Biển Đông của Việt Nam?

+ Ta đi vào một khía cạnh tâm lý của lãnh đạo Trung Quốc thời nay là họ rất tinh vi trong sự lỗi thời, lại một nghịch lý khác mà chúng ta cố hiểu ra.

Trong mấy ngàn năm huy hoàng của văn hoá Trung Hoa, lãnh đạo Trung Quốc cho thần dân sống với ảo tưởng rằng mình là trung tâm của thiên hạ, tên nước của họ có phản ảnh tâm lý đó. Nhưng đấy là ảo giác vì các chư hầu xung quanh đều cứng đầu và gây tốn kém khiến triều đình ở trung ương nhọc lòng không ít. Họ cứ phải ra sức trấn áp hoặc đồng hóa dị tộc và củng cố vùng đệm quân sự bên trong. Trung Quốc là một cường quốc lục địa quay lưng ra biển chứ chưa bao giờ là cường quốc biển.

Xưa nay, nước này sống trong chế độ tự cung tự cấp và ít lệ thuộc thế giới bên ngoài, cần gì thì đã có Con Đường Tơ Lụa qua Trung Á. Ngày nay, và lần đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc không thể quay lưng ra bên ngoài vì phải phụ thuộc vào các nước để có thị trường xuất khẩu, có nguồn cung cấp năng lượng và kỹ thuật cho kinh tế ở bên trong.

Vì đến 90% lượng hàng hóa trao đổi giữa các lục địa ngày nay đều qua đường hàng hải, là cách rẻ nhất, việc tự do vận chuyển qua đại dương là nhu cầu sinh tử cho thế giới và được quốc tế công nhận, được siêu cường biển số một là Mỹ bảo vệ. Khi mở cửa ra ngoài, lãnh đạo Trung Quốc lại muốn kiểm soát quyền tự do đó, trước hết là trên vùng biển cận duyên.

Bành trưng và ngang ngược

– Qua phần trình bày phải nói là rất cô đọng vừa rồi, người ta thấy ra ít nhất hai vấn đề với lãnh đạo Bắc Kinh. Trước hết là quyền khai thác tài nguyên ngoài biển mà Trung Quốc lại coi là thuộc chủ quyền của mình ở Biển Đông. Thứ nữa là quyền tự do hàng hải mà lãnh đạo nước này lại muốn kiểm soát và thực ra là hạn chế. Có phải là như vậy không?

+ Ngoài biển Hoa Đông tức là vùng Biển Đông Bắc Á, nước này gặp phải các nước láng giềng phú cường và không sợ hãi. Tại Biển Đông, tức là vùng Biển Đông Nam Á, Trung Quốc gặp các quốc gia nhỏ yếu hơn nên mới tính trò hung hãn và ly gián. Đã vậy, vùng Biển Đông còn có vị trí chiến lược cho luồng vận chuyển từ Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương, từ Đông Bắc Á xuống đến châu Đại Dương nên cũng là vùng sinh tử cho kinh tế Trung Quốc, là điều chưa hề có bao giờ, nên họ muốn kiểm soát.

Cho nên, ngoài việc vẽ ra cái lưỡi bò chín khúc để tranh đoạt tài nguyên ngoài Biển Đông, chiếm lấy các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, rồi đưa hải quân vào vùng tranh chấp chủ quyền với các nước Đông Nam Á, lãnh đạo Bắc Kinh còn muốn biến vùng Biển Đông thành vùng đệm quân sự của mình.

Tôi muốn được nhấn mạnh đến sự kiện là Trung Quốc không chỉ muốn cưỡng đoạt tài nguyên thủy sản hay năng lượng và kim loại dưới Biển Đông mà còn đòi xây dựng khu vực này thành vùng đệm quân sự tương tự như Tây Tạng, Tân Cương, hay Nội Mông. Nếu thế giới không có phản ứng thì sẽ có ngày Bắc Kinh gọi đây là khu vực quyền lợi cốt lõi của Trung Quốc.

– Như vậy hình như dự báo của ông lại còn bi quan hơn cái nhìn của nhiều người vì không thu hẹp vào chuyện tước đoạt tài nguyên dưới đáy biển.

+ Tôi sẽ lại nói ngược nữa! Chính là thái độ ngang ngược của nước này khi họ chưa có một lực lượng hải quân hùng mạnh lại là điều may vì sẽ khiến thế giới chú ý và các nước có liên quan phải có phản ứng. Các nước có liên quan không chỉ là Việt Nam hay Philippin bị cướp mất lãnh hải và tài nguyên ở dưới mà còn có các nước bị hạn chế vận chuyển qua các dòng hải lưu hay các tuyến đường trọng yếu ngoài biển. Chúng ta đã thấy và sẽ thấy phản ứng đó của quốc tế.

Nếu Bắc Kinh chấp nhận luật lệ quốc tế như đa số các nước về quyền khai thác tài nguyên và quyền tự do hàng hải thì còn có đàm phán nhằm giải quyết các mâu thuẫn. Vì đa nghi và chủ quan, họ không tôn trọng điều ấy nên mới là vấn đề cho thế giới chứ không là vấn đề riêng của Việt Nam. Còn vấn đề Trung Quốc của Việt Nam, có lẽ nó nằm trong đảng Cộng sản và vấn đề ấy thì người Việt phải tự giải quyết để có thể hợp tác cùng các nước để giải quyêt vấn đề Trung Quốc của thế giới./.

%d bloggers like this: