Tag Archives: giải thưởng

Nhà thơ Phan Hoàng đoạt giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM 2012 – TT&VH

18 Th12

Nhà thơ Phan Hoàng đoạt giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM 2012

(Thethaovanhoa.vn) – Hội Nhà văn TP.HCM vừa công bố giải thưởng năm 2012 của hội này dành cho nhà thơ Phan Hoàng với tập thơ Chất vấn thói quen và tặng thưởng dành cho tập thơ Chim Lạc trở về của nhà thơ Nguyễn Công Bình.

Giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM được phát vào dịp cuối năm cho các lĩnh vực thơ, văn xuôi, lý luận phê bình. Quy trình xét giải bắt đầu từ việc các nhà thơ đang là hội viên hoặc chưa vào Hội Nhà văn TP.HCM nộp tác phẩm đến văn phòng hội. Sau đó các tác phẩm dự giải sẽ được ba hội đồng chuyên môn trực thuộc Hội Nhà văn TP.HCM, gồm: thơ, văn xuôi, lý luận phê bình thẩm định rồi đưa lên Hội đồng chung khảo xét giải. 

Năm nay, các hội đồng chuyên môn đã chọn ra 2 tập thơ xét giải thưởng, 2 tập thơ và 2 tập văn xuôi xét tặng thưởng, không có tác phẩm lý luận phê bình nào.

Các thành viên trong Hội đồng xét giải gồm: Lê Quang Trang (Chủ tịch Hội), Phạm Sỹ Sáu và Trần Văn Tuấn (Phó Chủ tịch Hội), Dương Trọng Dật (Chủ tịch Hội đồng lý luận phê bình), Hoàng Đình Quang (Chủ tịch Hội đồng văn xuôi) đã quyết định chỉ trao một giải thưởng cho nhà thơ Phan Hoàng và một tặng thưởng cho nhà thơ Nguyễn Công Bình. Như vậy, giải thưởng Hội Nhà văn TP.HCM năm nay không có tác phẩm văn xuôi và lý luận phê bình nào “xứng đáng” nhận thưởng.

Nhà thơ Phan Hoàng hiện là ủy viên Ban chấp hành, Trưởng ban Nhà văn trẻ Hội Nhà văn TP.HCM kiêm chủ biên trang web của hội. Nhà thơ Nguyễn Công Bình hiện công tác tại NXB Thanh niên, chi nhánh TP.HCM.

H.Nhân
Thể thao & Văn hóa

Bao giờ có hai người Việt Nam nhận Giải thưởng Trần Nhân Tông? – Hữu Nguyên

23 Th9

Bao giờ có hai người Việt Nam nhận Giải thưởng Trần Nhân Tông?

 
Một giải thưởng quốc tế đầu tiên mang tên Việt Nam và hàm chứa các giá trị Việt Nam phổ quát tới toàn nhân loại đã chính thức được trao cho hai chính khách Myanmar. Điều đáng nói là hai người này thuộc hai phe đối lập, đó là Giải thưởng Trần Nhân Tông về Hòa giải.
 
Chỉ vài năm trước đây thôi, ít có người dám nghĩ tới điều này: sự bắt tay và cùng nhau hành động vì tương lai và lợi ích quốc gia Myanmar của hai người vốn được coi như là thù địch về chính trị. Một người là thủ lĩnh quân đội, nay là tổng thống Myanmar; còn người kia là nhà đấu tranh chính trị dân sự đối lập vì mục tiêu tự do và dân chủ cho Myanmar, thường xuyên bị giam cầm trong lao tù.
 
Đây là 2 nhân vật được cả hội đồng cố vấn và xét giải thưởng cùng nhất trí cao để trao giải  trong số những gương mặt sáng giá được giới thiệu, đề cử đến Uỷ ban giải thưởng Trần Nhân Tông về Hòa giải. Hội đồng cố vấn và xét giải thưởng quyết định chọn Tổng Thống U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập – Aung San Suu Kyi với tiêu chí của giải thưởng này trao cho 2 người ở 2 phía đối lập, xung đột, bắt tay, hoà giải với nhau. Hòa giải chỉ thực sự được diễn ra khi mỗi bên sẵn sàng bước tới với sự khoan dung, với một tấm lòng cao cả và điều chỉnh để tiến tới sự tương đồng.
 
 
 
 Tổng thống Myanmar, ông U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập NLD – bà Aung San Suu Kyi chính thức được trao tặng giải thưởng Trần Nhân Tông về Hòa giải
 
Trong năm qua Tổng thống Thein Sein và bà Aung San Suu Kyi đã có những nỗ lực ban đầu để đưa đất nước Myanmar biến chuyển tốt đẹp về chính trị, được thế giới trân trọng, ghi nhận. Đồng thời, giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà giải cũng muốn gửi đến lời chúc các vị lãnh đạo Myanmar tiếp tục nỗ lực nhiều hơn nữa cho đất nước Myanmar và thế giới.
 
“Hòa giải là hành động hàn gắn, mang những phái đối lập lại với nhau. Để hòa giải thực sự được diễn ra, cả hai phía phải sẵn sàng hợp tác và nhượng bộ, mặc dù trong một số trường hợp một bên đã đàn áp bên kia. Chỉ khi mỗi bên sẵn sàng bước tới với cái ôm hôn cho bên kia, hòa giải thực sự xảy ra. Hòa giải là hành động song phương, và điều này tạo nên sự khác biệt giữa giải thưởng Trần Nhân Tông và giải thưởng Nobel”- GS Thomas Pat­ter­son – Chủ tịch giải thưởng quốc tế Trần Nhân Tông về Hòa giải nhấn mạnh. Hòa giải, ngay cả với cựu thù, là con đường để đạt được hòa bình vĩnh cữu và sự hòa hợp, cho nội tại  mỗi cá nhân và trong quan hệ giữa con người với nhau. Cuộc đời Trần Nhân Tông có sự thu nhỏ của sự hòa giải, và điều này phù hợp với giải thưởng mang tên ông.
 
Thầy Thích Nhất Hạnh trong thư chúc mừng hai vị được trao giải thưởng đầu tiên này đã tóm tắt rất cô đọng những điểm quan trọng nhất trong cuộc đời Trần Nhân Tông và cũng là cơ sở nền tảng để hình thành nên giải thưởng độc đáo này: “Cùng với việc luyện tập và trau dồi ngôn ngữ về tình yêu thương, Trần Nhân Tông đã luôn lắng nghe người dân từ tất cả các tầng lớp xã hội ở đất nước của ngài. Trần Nhân Tông đã tổ chức trưng cầu dân ý và tập hợp toàn dân tộc để đánh bại hàng trăm nghìn quân của Hốt Tất Liệt và những cận thần của hắn. Sau sự rút lui của quân xâm lược, vua Trần Nhân Tông đã phát hiện ra nhiều tài liệu bí mật tiết lộ sự hợp tác giữa một số cộng sự của ngài và quân đội Hốt Tất Liệt, nhưng ngài đã ra lệnh đốt các tài liệu dưới sự chứng kiến của tất cả mọi người. Ngài nói: “Đất nước ta cần sự hòa giải và hàn gắn chứ không cần sự trừng phạt”. Khi đất nước đã ổn định, Vua Trần Nhân Tông bàn giao ngôi cho con trai của ngài là Trần Anh Tông và trở thành một tu sĩ, tu hành trên núi Yên Tử. Ngài đi trên khắp đất nước với đôi chân trần, giảng dạy người dân của mình để tu hành Ngũ tắc và từ bỏ việc mê tín dị đoan. Ngài cũng đi đến các nước láng giềng để thúc đẩy quan hệ hòa bình giữa hai quốc gia”.
 
GS Thomas Pat­ter­son – Chủ tịch giải thưởng quốc tế Trần Nhân Tông về Hòa giải  chia sẻ thêm: “Nhiều năm trước, tôi là một người lính Mỹ tới Việt Nam và tôi đã đem lòng yêu đất nước, con người và lịch sử của các bạn. Đó là thời điểm lần đầu tiên tôi nhận biết về Trần Nhân Tông, vị Vua đã hoàn thành được điều mà nhiều người không làm được: chiến thắng quân Mông Cổ. Tuy nhiên, mãi đến năm 2010 tôi mới có được một sự hiểu biết đầy đủ về tầm vóc của ông khi tôi tới Việt Nam cùng vợ và có cơ hội thăm Yên Tử ở Quảng Ninh. Đó là nơi tôi bắt đầu ngưỡng mộ sự hy sinh không chút vị kỉ của ông đối với đất nước. Đó là sự vô tư không vị kỉ, sự khiêm tốn mà chúng ta tìm thấy ở cuộc đời Hồ Chí Minh hay George Washington”.
 
Còn nhớ cuối năm 2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng khuyên Tổng Thống U Thein Sein là Myanmar nên mở cửa với thế giới bên ngoài như “tấm gương Việt Nam”. Trên thực tế Myanmar ngày nay chỉ trong thời gian ngắn ngủi đã làm được rất nhiều điều cụ thể theo tinh thần lời khuyên đó của Thủ tướng Việt Nam. Cựu tướng quân Thein Sein đã khởi động tiến trình cải cách dân chủ, thả bà Aung San Suu Kyi và bầu cử tự do, công nhận sự hợp hiến của phe đối lập. Hàng ngàn tù nhân chính trị đã được thả. Mới đây, ông còn thay tới 16 bộ trưởng, trong đó có bộ trưởng Thông tin. Không kiểm soát báo chí và cho phép báo tư nhân ra đời. Quyền lực thứ tư sẽ giúp cho xã hội minh bạch và trong sạch hơn.
 
Tháng trước Aung San Suu Kyi thăm khắp châu Âu và được chào đón nồng nhiệt. Mấy hôm nay, cựu tù nhân lương tâm, khôi nguyên Nobel hòa bình, đang thăm Mỹ 18 ngày. Ngoài việc nhận Huy chương Vàng Quốc hội Mỹ, gặp Hillary Clinton, và các nhà lập pháp, Obama tiếp tại Nhà Trắng, rồi Tổng Thư ký UN chào đón, với lịch thăm thú dầy đặc, bà Aung San Suu Kyi được Tổng thống Thein Sein, người từng giam giữ bà hàng chục năm, giao nhiệm vụ nặng nề là đàm phán với Mỹ để nới lỏng các biện pháp trừng phạt kinh tế. Mới đây có tin cho hay, phía Mỹ đã bỏ lệnh trừng phạt cá nhân Tổng thống Thein Sein và chủ tịch Quốc hội Myanmar. Bà Aung San Suu Kyi đã nói rất rõ với phía Mỹ, cải cách chính trị tại Myanmar không thể phụ thuộc vào cấm vận của bất kỳ ai, mà phải dựa vào nội lực của chính quốc gia ấy.
 
Mới đây, nhận xét về câu chuyện hòa giải ở Myanmar qua hai nhân vật đối lập cùng các lợi ích to lớn mà đất nước này đang có được từ cộng đồng thế giới thông qua tiến trình hòa giải hữu hiệu từ bên trong nội bộ quốc gia đó, tác giả Hiệu Minh bình luận về trường hợp bà Aung San Suu Kyi đã cho rằng: “Dùng tù nhân lương tâm để giải thoát quốc gia trên thế giới đã từng xảy ra và có những ví dụ về hòa giải tuyệt vời. Nam Phi có Nelson Mandela, ngồi sau song sắt 27 năm trời và sau thành lãnh tụ yêu mến của cả da trắng lẫn da đen, bởi vị tổng thống da trắng Frederik Willem de Klerk đã biết hòa giải. Ba Lan có thủ lãnh công đoàn Đoàn kết  Lech Wałęsa bị tù, giam lỏng, rồi lên đến Tổng thống bởi vị lãnh đạo cộng sản Wojciech Jaruzelskilúc đó hiểu thời thế. Thời cách mạng văn hóa, Đặng Tiểu Bình vào tù ra tội, nhưng chính ông đưa nước Trung Hoa lên hàng thứ hai trên thế giới vì thuyết mèo đen mèo trắng. Niềm hy vọng tiếp theo, cả thế giới đang trông chờ vào sự khéo léo của người phụ nữ tưởng rằng yếu đuối như Suu Kyi. Chính nữ tù nhân lương tâm này sẽ thay đổi Myanmar”.
 
 
 
 Huân chương được trao  cho Tổng thống Myanmar, ông U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập NLD – bà Aung San Suu Kyi.
 
Giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà Giải được xác lập bởi Hội đồng cố vấn và Uỷ ban giải thưởng  là những nhà lãnh đạo, những Giáo sư, học giả có uy tín của Harvard , của nước Mỹ và thế giới như Giáo sư Michael Dukakis, Cuự Ứng viên Tổng thống Mỹ, Cựu Thống đốc bang Massachusetts, bà Ann Mc Daniel, Phó Chủ tịch Washington Post, Giáo sư Thomas Patterson, Trường Quản lý nhà nước Kennedy , Đại học Harvard, bà Robin Sproul  Phó Chủ tịch hãng truyền hình ABC News, Giáo sư Thomas Scanlon, nhà triết học lớn ở Đại học Harvard, nhà báo nổi tiếng Giáo sư Thomas Fiedler, hiệu trưởng trường truyền thông, Đại học Boston, cựu Tổng biên tập Miami Herald, ,nhà lãnh đạo danh tiếng Giáo sư Vaira Vike-Freiberga, cựu Tổng thống Latvia ….
 
Những nhà lãnh đạo, những học giả danh tiếng muốn thông qua Giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà Giải góp một tiếng nói khiêm nhường vào hành trình tìm kiếm hoà giải, yêu thương cho nhân loại, với hy vọng lòng bao dung và vị tha, sự hoà giải, giải phóng con người khỏi hận thù sẽ ngự trị trên trái đất thân yêu này.
 
Tuy nhiên, có lẽ một điều mong chờ mà cũng là niềm khao khát vô biên của mọi người Việt Nam ngày nay rằng đến bao giờ mới xuất hiện hai người Việt Nam đủ các điều kiện để nhận Giải thưởng quốc tế mang tên Trần Nhân Tông?
 
Một giải thưởng quốc tế mang tên một người Việt Nam đã làm rạng danh lịch sử dân tộc với nội hàm sâu sắc về hòa giải, yêu thương, đoàn kết để cùng phát triển các giá trị, di sản của người Việt mà biết bao thế hệ đã phải đổ xương máu giữ gìn cho tới tận hôm nay,  bao giờ sẽ được trao cho hai người Việt Nam hiện tại. Hai người sẽ thật sự chân thành bắt tay nhau và cùng nhau hành động vì tương lai, vì lợi ích quốc gia – dân tộc,  cho dù trước đó ít lâu họ có thể được coi như là thù địch về chính trị.
 
Biết tới bao giờ?
 
22 tháng 9 năm 2012
 
 

”Trần Nhân Tông Hòa giải” : Giải thưởng quốc tế mang tên Việt – RFI

6 Th9

”Trần Nhân Tông Hòa giải” : Giải thưởng quốc tế mang tên Việt

 

Logo của Open Minds, nơi thai nghén ý tưởng Giải thưởng Trần Nhân Tông Hòa giải & Yêu thương (DR)

Logo của Open Minds, nơi thai nghén ý tưởng Giải thưởng Trần Nhân Tông Hòa giải & Yêu thương (DR)
 

Ngày 22/09/2012 tới Viện Trần Nhân Tông, vừa ra đời tại Boston (Hoa Kỳ), lần đầu tiên sẽ trao một giải thưởng quốc tế mang tên « Trần Nhân Tông Hòa giải và Yêu thương » và tổ chức một hội nghị về chủ đề này. Viện Trần Nhân Tông tự đặt cho mình sứ mạng tìm hiểu về cuộc đời và ảnh hưởng của một nhân vật, được coi là thuộc hàng kiệt xuất nhất trong lịch sử Việt Nam, và hy vọng mang lại các bài học, giải pháp để ngăn ngừa và hóa giải các xung đột đương đại.

Trần Nhân Tông là một hoàng đế của vương quốc Đại Việt nửa cuối thế kỷ XIII. Nhân vật lịch sử này được biết đến cùng một lúc như là người lãnh đạo vương quốc trong thời gian hai cuộc chiến tranh vệ quốc chống xâm lược Nguyên – Mông phía bắc, người kiến lập nền hòa bình với vương quốc Chăm pa ở phía nam. Trần Nhân Tông còn đặc biệt nổi tiếng như là người sáng lập dòng thiền Phật giáo mang tên Trúc Lâm Yên Tử. Trong vài thập niên gần đây ở Việt Nam, thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được phục hồi và có xu hướng phát triển ngày càng mạnh. Theo đánh giá của một bộ phận công luận tại Việt Nam, Trần Nhân Tông được coi như một trong các vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam, trị vì đất nước với một phong cách gần dân và một chủ trương khoan hòa.

Sự ra đời của một viện nghiên cứu và phổ biến giá trị gắn liền với tên tuổi một danh nhân Việt Nam tại Boston, một trung tâm văn hóa khoa học lớn của nước Mỹ, là một điều gây bất ngờ đối với nhiều người Việt Nam. Để đưa tới quý thính giả một số thông tin về các hoạt động và mục tiêu của Trần Nhân Tông Academy, chúng tôi có cuộc phỏng vấn qua điện thoại với ông Nguyễn Anh Tuấn, giám đốc điều hành Viện Trần Nhân Tông tại Boston, và là người, như chúng tôi được biết, đã khơi màn cho sáng kiến thành lập viện, cũng như cho nhiều hoạt động của Trần Nhân Tông Academy.
 
Tham gia vào tạp chí hôm nay còn có nhà thơ Trần Việt Phương từ Hà Nội, bà Nguyễn Thúy Hà, giám đốc công ty phi lợi nhuận Open Minds ở Hà Nội, phụ trách phát triển các hoạt động liên quan đến Trần Nhân Tông ở Việt Nam, nhà sử học Nguyễn Duy Chính và giáo sư Phạm Cao Dương (từ California – Hoa Kỳ).

Khởi nguồn của ý tưởng về một giải thưởng mang tên Hòa giải và Yêu thương có lẽ đã bắt đầu từ sáng kiến tổ chức một « ngày Hòa giải và Yêu thương » hàng năm 9-9 tại Việt Nam, của mạng kết nối tri thức mang tên Open Mind Network, theo sáng kiến của một số học giả Trung tâm báo chí chính trị và chính sách công Shorenstein (Đại học Havard). Cùng với sự lên ngôi của ngày Hòa giải và Yêu thương tại Việt Nam là một loạt các hoạt động nhằm tôn vinh Trần Nhân Tông. Như vậy là, chỉ trong một thời gian rất ngắn, ý tưởng về một ngày Hòa giải và Yêu thương vào tháng 9 hàng năm đã được kết nối với biểu tượng « Vua Phật » Trần Nhân Tông để đưa đến “The Tran Nhan Tong Reconciliation Prize“, một trong các giải thưởng quốc tế đầu tiên mang tên một danh nhân Việt Nam, cũng được tổ chức trong tháng này.

 
Huy chương giải thưởng Trần Nhân Tông Hòa giải và Yêu thương

 

Viện Trần Nhân Tông hay Trần Nhân Tông Academy, một cơ sở nghiên cứu khoa học về một danh nhân Việt Nam, truyền bá các giá trị và tìm kiếm các giải pháp cho các xung đột xã hội đương đại trên thế giới, đã nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà hoạt động chính trị và truyền thông, các nhà nghiên cứu về khoa học chính trị, pháp lý… , các nhà hoạt động văn hóa nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới, như : bà Ann L. McDaniel, phó giám đốc tập đoàn truyền thông The Washington Post, ông Michael Dukakis, nguyên ứng cử viên tranh cử tổng thống Mỹ năm 1988, cựu thống đốc bang Massachusetts, cựu tổng thống Latvia bà Vaira Vike– Freiberga, ông Thomas Pattterson, giáo sư về Chính trị và Báo chí tại Trường Quản lý Nhà nước John F. Kennedy, thuộc Đại học Harvard, nhà toán học Hoàng Tụy, nguyên chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Văn An, nhà thơ Trần Việt Phương…
 
Nội dung các hoạt động và đường hướng của Trần Nhân Tông Academy, cũng như quá trình hình thành của Viện, sau đây xin mời quý vị nghe tiếng nói của ông Nguyễn Anh Tuấn, phụ trách Viện Trần Nhân Tông từ Boston :

 
Ông Nguyễn Anh Tuấn (Boston)

 
05/09/2012
 
 

 
 
 
 
 
 
 
RFI : Kính chào ông Nguyễn Anh Tuấn. Trước hết xin cảm ơn ông đã nhận lời nói chuyện với thính giả RFI. Xin được hỏi ông về các nội dung hoạt động chính của Viện Trần Nhân Tông/Trần Nhân Tông Academy.

Nguyễn Anh Tuấn : Xin cảm ơn anh, cảm ơn các bạn đã quan tâm theo dõi. Viện Trần Nhân Tông hoạt động như một tổ chức xã hội, có nghiên cứu, có các hoạt động xã hội. Nghiên cứu thì chúng tôi sẽ phát triển, đẩy mạnh và tổ chức các nghiên cứu, để tìm hiểu kỹ hơn về những giá trị, những di sản của Trần Nhân Tông, và từ đó có thể quảng bá và giới thiệu đến bạn bè quốc tế. Đấy là công tác nghiên cứu và triển khai ứng dụng, làm sao để ứng dụng được nhiều các giá trị đó vào trong xã hội. Giải thưởng Trần Nhân Tông Hòa giải cũng là một hoạt động quan trọng. Một trong những tiêu chí của Viện Trần Nhân Tông là làm sao thúc đẩy, làm sao đem đến những giá trị, những giải pháp cho thế giới, để vừa ngăn ngừa, vừa giảm thiểu, làm sao cho xung đột trên thế giới bớt đi, Hòa giải yêu thương trở nên chủ đạo trong cuộc sống hàng ngày.

RFI : Xin ông cho biết các hướng nghiên cứu chính về Trần Nhân Tông và di sản của Trần Nhân Tông trong tương lai gần của Viện.

Nguyễn Anh Tuấn : Chúng tôi có những định hướng, chẳng hạn như nghiên cứu một cách sâu sắc, thấu đáo, đầy đủ, những giá trị di sản của Trần Nhân Tông, vì đã hơn 7 thế kỷ, những tư liệu không còn nhiều. Có nhiều bài báo, sách nói về thân thế và sự nghiệp Trần Nhân Tông, nhưng cần những nghiên cứu thấu đáo hơn, có sở cứ hơn, thuyết phục bạn bè quốc tế hơn.

Thứ hai là, tổ chức tập hợp các tư liệu còn tản mát, rải rác của Trần Nhân Tông, tiến tới xây dựng một bảo tàng về Trần Nhân Tông. Đây là sáng kiến của giáo sư Thomas Patterson, chủ tịch Viện Trần Nhân Tông. Ở Hà Nội, cần một bảo tàng có tầm quốc tế xứng đáng với thủ đô Hà Nội, và Trần Nhân Tông là một danh nhân rất lớn của Việt Nam xứng đáng với một bảo tàng lớn, xứng tầm quốc tế. Làm sao để bảo tàng đó có chất lượng, nội dung có giá trị để xứng tầm một bảo tàng lớn, được bạn bè thế giới trân trọng. Đây là các công tác nghiên cứu của Trần Nhân Tông Academy.

Ngoài ra là việc xuất bản các ấn phẩm qua các hội nghị, ví dụ như hội nghị về Hòa giải, 21/09 ở đây, tại đại học Havard. Sẽ có những báo cáo có chiều sâu, rồi chúng tôi sẽ tổ chức các ấn phẩm, các cuốn sách. Sau này sẽ có những hội nghị bàn tròn Trần Nhân Tông bàn về những giải pháp để giải quyết xung đột, ngăn ngừa xung đột chẳng hạn.

Academy không chỉ làm một mình. Chúng tôi tập hợp, liên kết, vận động nhiều nguồn lực trí tuệ, hợp tác trong và ngoài nước, làm sao để phối hợp cùng nhau để nghiên cứu, để đưa ra được các kết quả tốt. Những công việc này không phải ngày một ngày hai, mà còn rất dài hơi, khổ công lắm, không đơn giản tí nào.

Việt Nam là khu vực cần ưu tiên, dân tộc Việt Nam cần hòa giải

RFI : Về hướng nghiên cứu ứng dụng, được coi là một đặc điểm nổi bật của Viện Trần Nhân Tông, Viện có ưu tiến một khu vực địa lý nào không, và một loại hình xung đột nào không ?

Nguyễn Anh Tuấn : Những nơi được ưu tiên là các khu vực « nóng », đang xảy ra xung đột, hoặc tiềm ẩn những nguy cơ xảy ra xung đột lớn, thì tôi nghĩ Trần Nhân Tông Academy sẽ quan tâm.

Còn về vùng ưu tiên, tôi nghĩ rằng, ngay cả Việt Nam chúng ta cũng là một vùng cần ưu tiên. Dân tộc Việt Nam cũng cần hòa giải. Trong tương lai, làm sao để những khoảng cách, những khác biệt giữa nhóm người này và nhóm người khác trong dân tộc chúng ta, làm sao có một tiếng nói chung, có một sức mạnh tổng lực để đoàn kết, làm sao cho dân tộc chúng ta có một sức mạnh to lớn, để đoàn kết yêu thương nhau, quý mến nhau, cộng hưởng với nhau. Chúng tôi rất tâm niệm, rất tâm huyết, biết điều này nhiều trở lực, nhiều trở ngại. Nhưng chúng ta có thể quan tâm, có thể làm, làm từ đơn giản, từ những việc nhỏ, những vấn đề nhỏ, rồi chúng ta sẽ ra được những con đường lớn, những công việc lớn. Nhưng mà, thôi chúng ta hãy cứ thành tâm, hãy suy nghĩ, hãy trăn trở vì nó, thì đấy là… Làm sao để hàng ngày mỗi người chúng ta sống áp dụng được những cái minh triết, những cái giá trị sống yêu thương, nhân bản, nhân ái, vị tha, hòa giải của Trần Nhân Tông. Và (ứng dụng) cho chính cuộc sống hàng ngày, tôi nghĩ sẽ mang lại hạnh phúc cho chính chúng ta.

Viện Trần Nhân Tông : kết tinh tâm huyết trí tuệ trong nước và quốc tế

RFI : Thưa ông, bản thân tôi và có thể một bộ phận công chúng, rất là ấn tượng khi được nghe đến một viện nghiên cứu mang tên một danh nhân Việt Nam mà lại được đặt tại Hoa Kỳ, một quốc gia có quan hệ thăng trầm với Việt Nam. Vậy ông có thể cho biết về quá trình thành lập viện, mà theo tôi được biết, ông là một người chủ xướng và có vai trò quan trọng trong quá trình thành lập cũng như các hoạt động bước đầu của viện.

Nguyễn Anh Tuấn : Quá trình này là một sự trăn trở, có nhiều đóng góp, hợp lực của nhiều trí tuệ và tâm huyết trong xã hội, không chỉ riêng tôi. Vào thời điểm năm 2009, chúng tôi có những suy nghĩ, có nhiều mong muốn để làm một cái gì đó về Trần Nhân Tông, vì Trần Nhân Tông là một vị vua anh minh của Việt Nam, nhưng mà phải qua trao đổi, chia sẻ với mọi người, và khi tôi có điều kiện sang Havard – Boston ở đây, tôi có điều kiện gặp gỡ và nói chuyện với các học giả ở Havard, đặc biệt là giáo sư Thomas Patterson, và các bạn bè của tôi ở đây. Tôi cũng có điều kiện nói chuyện và xin ý kiến của những người mà tôi rất quý trọng, như nhà văn hóa Việt Phương ở Hà Nội, người trước đây đã rất nặng lòng cố vấn cho Vietnamnet.

Qua các trao đổi chia sẻ như vậy, tôi thấy tự tin hơn, và đi đến quyết định : vậy là chúng ta có thể suy nghĩ làm một cái gì đó về Trần Nhân Tông để giới thiệu ra thế giới, làm sao để những giá trị của Trần Nhân Tông đi vào đời sống của người Việt Nam chúng ta. Tôi quyết định cùng nhau thành lập Trần Nhân Tông Academy ở đây. Nói tóm lại, đây là một quá trình trăn trở, học hỏi, chia sẻ, chiêm nghiệm và trao đổi với nhau. Tôi nghĩ rằng, đây là kết quả tâm huyết, trí tuệ của nhiều người Việt Nam nói chung, tôi chỉ là một người có lòng, có nhiệt tình, còn lại thì tôi nghĩ rằng, để có được ngày hôm nay, có được công việc đang triển khai thế này là kết tinh của rất nhiều tâm huyết trí tuệ trong nước, cũng như bạn bè quốc tế ở đây.

RFI : Vì sao Viện lại chọn giải thưởng Trần Nhân Tông Hòa giải như là một trọng tâm hoạt động ?

Nguyễn Anh Tuấn : Để giới thiệu Trần Nhân Tông ra nhân loại, thì giải thưởng cũng là một điểm nhấn cho mọi người biết đến và cũng là xứng đáng để trân trọng những con người có các đóng góp, hoặc là có những giá trị đồng cảm, hoặc đang đi theo những giá trị tinh thần mà Trần Nhân Tông đã theo đuổi, đã tâm nguyện. Chúng tôi nghĩ đơn giản như vậy thôi. Tức là giải thưởng Trần Nhân Tông sẽ có sức cổ vũ, có sức lan tỏa, được mọi người quan tâm nhiều hơn, cũng là một sự khích lệ đối với người Việt Nam ở trong nước, khi chúng ta có được một giải thưởng quốc tế mang tên Trần Nhân Tông được bạn bè quốc tế trân trọng.

RFI : Ông có thể cho biết những khó khăn trắc trở để có được một cơ sở như ngày hôm nay với sự tham gia của nhiều nhân vật có uy tín, nhiều học giả thuộc các ngành nghiên cứu khác nhau.

Nguyễn Anh Tuấn : Khó khăn là khởi đầu từ số 0. Mọi người bắt đầu xây dựng bằng tâm huyết, tâm nguyện của mình thôi. Đúng là khi ở Việt Nam, khi còn là tổng biên tập vietnamnet, tôi có cả bao nhiên con người, có nguồn lực để làm, kể cả khả năng tài chính, còn sang đây thì đúng là từ số 0.

Nhưng tôi nghĩ, thôi thì, cái quan trọng nhất là mình có lửa, gọi là có lửa nhiệt tình, rồi có tâm, thì chắc chắn sẽ được sự đồng cảm, đồng hành của nhiều người, chẳng hạn như giáo sư Thomas Petterson đã tham gia làm chủ tịch, rồi một số học giả khác, một số nhà hoạt động xã hội có uy tín khác, như là Michael Dukakis (nguyên ứng cử viên tổng thống Mỹ), hoặc những người như Ann L. McDaniel (phó giám đốc tập đoàn truyền thông The Washington Post)… đã nhận làm cố vấn cho giải thưởng. Đấy là những người đó đã cảm nhận được cái giá trị của hòa giải, yêu thương con người của Trần Nhân Tông. Hoặc bà cựu tổng thống Latvia Vaira Vike– Freiberga từng đến Hà Nội để tham gia hội nghị đầu tiên 16-2.

Khó khăn vẫn còn chồng chất, anh ạ. Nhưng mà tôi nghĩ điều quan trọng nhất là có những người có uy tín, có trí tuệ, có nhân cách đồng hành, cùng chia sẻ, cùng giúp, mỗi người một chút thì đã có ngày hôm nay. Tôi nghĩ rằng, lý tưởng cao đẹp vì hòa bình, lý tưởng hòa giải, hòa bình, đem những điều tốt đẹp, yêu thương cho nhân loại, đã gắn tất cả mọi người với nhau. Tôi thật sự cảm thấy rất xúc động, và đẹp nhất, vui nhất cuộc đời mình, được đi làm, làm cùng với những giá trị rất cao đẹp như vậy, với những người rất cao đẹp, cao quý, để triển khai cùng. Cái đó làm cho tôi cảm thấy hạnh phúc và tự tin. Chẳng hạn như tôi không thể nào quên được những tâm huyết, những trí tuệ, những chia sẻ, những dẫn dắt, mà nhà thơ Việt Phương đã đồng hành, giúp đỡ, đi cùng, đến giờ này cũng thế, nhà thơ Việt Phương luôn luôn dành tâm huyết, trí tuệ cho Trần Nhân Tông Academy. Nếu có tâm huyết, sẽ có những người đi cùng nữa.

Hòa giải là nền tảng cho Hòa bình ?

RFI : Như ông nói hiện nay, nhiều người và ở khắp mọi nơi có mối quan tâm đến vấn đề hòa giải và tình yêu thương, mà còn hơn cả sự quan tâm, mà có thể nói sự hòa giải trở thành một thách thức với nhân loại hiện nay, để khiến cho người ta phải đi tìm những biểu tượng mới, như hình tượng Trần Nhân Tông ở Việt Nam chẳng hạn, cho dù đã có không ít những biểu tượng cho hòa bình ?

Nguyễn Anh Tuấn : Tôi nghĩ rằng, Trần Nhân Tông là một giá trị của nhân loại chưa được giới thiệu nhiều, và nhân loại chưa biết đến nhiều. Bản thân tôi có một niềm tin là đó là một giá trị cao quý mà nhân loại trân trọng, nếu như chúng ta giới thiệu đúng lúc, đầy đủ. Tôi nghĩ rằng, có nhiều người cũng có niềm tin ấy cho nên đồng cảm với nhau.

Thứ hai, đúng là vấn đề xung đột của nhân loại luôn luôn không bao giờ dứt, khoa học, công nghệ phát triển mạnh, kinh tế phát triển mạnh, nhiều thành quả, và chúng ta đang sống trong thời đại « văn minh », thời đại thông tin internet, mobile, nhưng chưa bao giờ chúng ta có một thế giới yên bình, không có xung đột, không có bạo lực. Không có chiến tranh thì có bạo lực ở nơi này, nơi khác, giữa con người này, con người khác, nhóm này, nhóm khác. Đó là lý do khiến mọi người vẫn tiếp tục quan tâm, mặc dù có nhiều tổ chức xã hội, nhiều phong trào dấy lên ở nhiều nơi, đã làm rất nhiều, chứ không phải ngày nay chúng ta mới làm, nhưng mà có lẽ vẫn chưa đủ.

Thứ nữa là, HÒA GIẢI là một vấn đề rất đáng để quan tâm. HÒA BÌNH cũng là một giá trị, cũng là một mục tiêu, cũng là vấn đề, nhưng HÒA GIẢI cũng đặt ra nhiều vấn đề cho chúng ta làm. Phải chăng có HÒA GIẢI, có khoan dung, có lượng thứ nhau, có thông cảm, đồng cảm, chia sẻ với nhau, thì sẽ dễ dàng dẫn đến, hoặc nó là nền tảng để có được HÒA BÌNH vững chắc hay chăng ? Về sự yêu thương giữa con người với nhau, về sự chia sẻ độ lượng, để từ đó con người vượt qua được những hận thù, những đố kỵ, ganh ghét nhau, để có thể làm hạt nhân cho HÒA BÌNH, ổn định, tốt đẹp cho con người trong tương lai hay chăng ? Về cái này tôi cũng phải suy nghĩ, phải nghiên cứu thật nhiều. Tôi nghĩ về khía cạnh này, đặt vấn đề của anh cũng là chính xác, tôi cũng đồng cảm với cái nêu của anh như vậy.

RFI : Xin thay mặt RFI chúc ông và Viện Trần Nhân Tông nhiều thành công, và hy vọng có thời gian được chuyển tiếng nói của ông và các học giả trong viện tới thính giả của đài.

Nguyễn Anh Tuấn : Cảm ơn anh và qua đài, xin cảm ơn thính giả RFI. Một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng tri ân đối với mọi nỗ lực, mọi tâm huyết, trí tuệ của mọi người trong thời gian vừa qua, đã giành cho Trần Nhân Tông Academy, rất nhiều, rất nhiều. Có thể nói đó là sự trân trọng lớn của tôi và của những người đã và đang xây dựng Trần Nhân Tông Academy và mong rằng trong thời gian tới sẽ nhận được những trí tuệ, những tâm huyết, những đóng góp ở khắp mọi nơi để xây dựng nên một viện Trần Nhân Tông có nhiều đóng góp cho nhân loại cho sự nghiệp Hòa giải và Yêu thương. Chúng tôi luôn đón nhận và trân trọng.

Cần thực sự chú ý đến các nghiên cứu cơ bản

Như quý vị đã biết, một trong các sứ mạng chính mà Trần Nhân Tông Academy tự đặt cho mình là tổ chức các nghiên cứu cơ bản về một nhân vật lịch sử cách nay đã 7 thế kỷ. Đây là một nhiệm vụ rất nặng nề như người giám đốc Viện chia sẻ, vì số lượng các tư liệu về giai đoạn này là rất ít ỏi. Đây cũng là điều được nhà thơ Việt Phương, thành viên Ban Cố vấn của viện, cũng như các khách mời khác nhấn mạnh.

Nhà sử học Nguyễn Duy Chính lưu ý đến hai điểm yếu trong các nghiên cứu về lịch sử trung đại Việt Nam, thứ nhất là các văn bản đời sau thường lái quan điểm của cổ nhân và các sự kiện trong lịch sử theo ý mình, bên cạnh đó, tại Việt Nam, ít chuyên gia có thể cùng lúc làm việc trong hai lĩnh vực sử học và lịch sử văn học, đây là một cản trở lớn đối với việc tìm hiểu hành trạng và tư tưởng của Trần Nhân Tông, cũng như đời sống xã hội giai đoạn đó.
 
Cùng với vấn đề phục dựng lịch sử đầy thách thức, ông Trần Việt Phương nhấn mạnh đến việc cần cẩn trọng trong việc đề cao các giá trị tư tưởng độc đáo của hình tượng Trần Nhân Tông, khi chưa có trong tay đầy đủ các bằng chứng cho phép làm việc này, đồng thời khuyến khích nên nghiên cứu kỹ về môn phái Thiền Trúc Lâm, để xác định được các đặc điểm riêng, nếu có, của môn phái này.
 
Giáo sư Phạm Cao Dương hoan nghênh ý tưởng về một dự án Trần Nhân Tông, cho đây là một cơ hội tốt cho việc đẩy mạnh nghiên cứu, nhưng cũng đặc biệt lưu ý đến việc cần phải chú ý đến các nghiên cứu căn bản về lịch sử, dựa trên việc đào tạo và đầu tư lâu dài cho nghiên cứu, đặc biệt cho các nhà nghiên cứu trẻ (với gợi ý có thể trao một giải thưởng riêng cho nghiên cứu), nếu không muốn dự án này sau một thời gian ngắn sẽ bị hụt hơi và để lại những hậu quả đáng tiếc. Ông cũng lưu ý về giai đoạn nhà Trần, bên cạnh Trần Nhân Tông, còn có nhiều nhân vật khác rất đáng được quan tâm. Giáo sư Phạm Cao Dương bày tỏ lo ngại rằng, nếu các hoạt động của Viện Trần Nhân Tông thiên về các mục tiêu chính trị nhất thời, thì hình tượng Trần Nhân Tông có thể bị lợi dụng. Sau khi tham khảo thành phần ban cố vấn và điều hành của Trần Nhân Tông Academy, giáo sư Phạm Cao Dương có nhận xét là, việc gần như vắng bóng các nhà nghiên cứu sử học, lịch sử tôn giáo, triết học, cũng như việc dành ít nội dung cho các nghiên cứu cơ bản có thể khiến cho viện không đạt được sứ mạng đề ra. Giáo sư Phạm Cao Dương cũng đặt vấn đề về sự không phù hợp có thể có, giữa tôn chỉ của giải thưởng với bản chất của tư tưởng Trần Nhân Tông. 
 
Tìm hiểu di sản Trần Nhân Tông :
Cơ hội thức tỉnh hướng thượng cho xã hội Việt Nam
 
Trong báo cáo tham luận tại hội thảo về Trần Nhân Tông đầu năm nay, nhà sử học Dương Trung Quốc đưa chúng ta trở lại các vấn đề đương đại, với nhận định « sau những chiến thắng to lớn với tinh thần độc lập tự do (…) (người Việt Nam) lại không kế thừa được tiếp theo những tư tưởng của Trần Nhân Tông về khoan dung, tha thứ, trong sự hòa hợp, nhất là trong nước ». Một giải thưởng quốc tế về hòa giải và yêu thương mang tên Trần Nhân Tông, như vậy, có ý nghĩa đặc biệt đối với Việt Nam, như một cơ hội hướng thượng để chính xã hội Việt Nam, đặc biệt là những người cầm quyền, đối diện với một sự thực về các đối kháng, bất công trong xã hội, và đối diện với chính mình, hầu tìm cách hóa giải.
 
Một điểm quan trọng khác trong bài phát biểu của nhà sử học Dương Trung Quốc là : « không nên tôn giáo hóa việc này để thấy giá trị phật giáo được trải nghiệm trong thực tiễn Việt Nam qua nhân vật Trần Nhân Tông là giá trị chung mà ở nhiều tôn giáo khác, ở thiên chúa giáo, ở hồi giáo đều có hạt nhân ấy. Nếu chúng ta khai thác được tất cả những hạt nhân tích cực ấy trong mọi tôn giáo, tức là bản chất văn hóa của nó chắc chắn điều ta làm sẽ góp phần vào cái chung và thức tỉnh, dù bắt đầu thức tỉnh bằng sự nhỏ bé. »

7 nhà văn được Giải thưởng Hồ Chí Minh và 38 nhà văn được Giải thưởng Nhà Nước – lethieunhon/BS

14 Th4

7 nhà văn được Giải thưởng Hồ Chí Minh và 38 nhà văn được Giải thưởng Nhà Nước

Sau nhiều đề cử, tranh luận, kiện tụng và trách móc, cuối cùng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà Nước giai đoạn 2006-2011 về văn học nghệ thuật cũng đã được công bố. Nhìn vào danh sách, thấy giới cầm bút chiếm số lượng khá lớn. Ví dụ, ở Giải thưởng Hồ Chí Minh, sân khấu chỉ có ba (Nguyễn Đình Nghi, Dương Ngọc Đức và Sỹ Tiến) âm nhạc chỉ có hai (Phạm Tuyên và Văn Chung), mỹ thuật chỉ có một ( Nguyễn Gia Trí) thì văn chương có đến bảy vị được vinh danh. Cứ đà này, có lẽ Việt Nam sẽ phải mở thêm rất nhiều con đường để treo tên tuổi các văn nhân, thi sĩ khá tích cực sáng tạo và rất tích cực làm đơn xin xét tặng các loại giải thưởng.

Giải thưởng Hồ Chí Minh
1. Cố nhà thơ Phạm Tiến Duật với Đường dài và những đốm lửa, Tiếng bom và tiếng chuông chùa, Vừa làm vừa nghĩ. 2. Hoàng Tích Chỉ với Em bé Hà Nội, Mối tình đầu, Thành phố lúc rạng đông, Biển gọi… 3. Đinh Trọng Đoàn (Ma Văn Kháng) với Mưa mùa hạ, Côi cút giữa cảnh đời, Gặp gỡ ở La Pan Tẩn… 4. Nguyễn Hữu Thỉnh (Hữu Thỉnh) với Thương lượng với thời gian, Trường ca biển… 5. Nguyễn Thế Xương (Hồ Phương) với tiểu thuyết Ngàn dâu, Những cánh rừng lá đỏ. 6. Chu Bá Bình (Đỗ Chu) với Một loài chim trên sóng, tập tùy bút Tản mạn trước đèn; và 7. Dương Ngọc Huy (Lê Văn Thảo) với tiểu thuyết Con đường xuyên rừng và Tuyển tập truyện ngắn Lê Văn Thảo. Giải thưởng Nhà nước
1. Ngô Ngọc Bội 2.  Lê Thị Minh Khuê (Lê Minh Khuê) 3. Nguyễn Thành Long (đã mất) 4. Thái Bá Lợi, 5. Nguyễn Trọng Phu (Phù Thăng – đã mất) 6.  Ngô Văn Phú 7. Bế Kiến Quốc (đã mất) 8. Lê Văn Sửu (Triệu Bôn – đã mất) 9. Thái Nguyên Chung (Nguyễn Chí Trung) 10. Hoàng Nhuận Cầm 11. Trương Đình (Trinh Đường – đã mất) 12. Nguyễn Duy Khán (Duy Khán – đã mất) 13. Nguyễn Hữu Loan (Hữu Loan – đã mất) 14.  Nguyễn Đức Ngọc (Anh Ngọc) 15.  Tô Thế Quảng (Tô Nhuận Vỹ) 16. Lưu Quang Lũy (Lưu Trùng Dương) 17. Nguyễn Sĩ Hộ (Lý Biên Cương – đã mất) 18. Vi Văn Hồng (Vi Hồng – đã mất) 19. Nguyễn Duy Hinh (Lê Tri Kỷ – đã mất) 20. Cao Tiến Lê 21. Phan Thanh Quế (Thanh Quế) 22. Hồ Văn Ba (Chim Trắng – đã mất) 23. Phạm Điệng (Dũng Hà – đã mất) 24. Trần Hồng Nhu (Hồng Nhu) 25. Nguyễn Trọng Tạo 26. Nguyễn Thị Như Trang 27. Nguyễn Xuân Cang (Xuân Cang) 28. Ngô Thảo 29. Trần Hữu Hỷ (Trần Ninh Hồ) 30. Nguyễn Thị Hồng Ngát 31. Lê Thành Nghị 32. Nguyễn Khắc Phê 33. Nguyễn Ngọc Bái (Ngọc Bái) 34.  Nguyễn Đức Hân (Phan Hồng Giang) 35.  Mai Trung Rạng (Mai Ngữ – đã mất) 36. Mai Quốc Liên 37. Tân Khải Minh (Sao Mai – đã mất) 38. Trần Văn Tuấn.

GS Chu Hảo, Phó Chủ tịch Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh: Trước khi nhận Giải thưởng này, ông Sự đã sống trong lòng dân Hội An rồi – ĐĐK

25 Th3

<!–

–>

Sáng qua, 24-3-2012, tại Hà Nội, Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh lần thứ 5 đã được trao cho các cá nhân có cống hiến xuất sắc trong các lĩnh vực Giáo dục, Nghiên cứu văn hoá, Việt Nam học và Dịch thuật. Điều đặc biệt là trong số những nhân vật nhận Giải thưởng năm nay, có ông Nguyễn Sự – Bí thư Thành ủy Hội An. Nhân dịp này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với GS Chu Hảo- Phó Chủ tịch thường trực Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh.
Thưa ông, Giải thưởng văn hóa Phan Châu Trinh được trao thường niên nhưng đây là năm đầu tiên hạng mục giải thưởng giáo dục được mở rộng thành Vì sự nghiệp Văn hóa – Giáo dục?
– Đầu tiên, phải thấy rằng việc mở rộng giải thưởng đã thể hiện sự phát triển ngày càng đi lên của Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh, khẳng định uy tín giá trị của Giải thưởng trong xã hội.
Năm nay, chúng tôi muốn mở rộng giải Vì sự nghiệp Giáo dục thành Vì Sự nghiệp Văn hóa và Giáo dục để tôn vinh những người có cống hiến đặc biệt cho sự nghiệp phát triển văn hóa của nước ta. Lý do tại sao chúng tôi lại chú trọng tới văn hóa bởi xét trên thực tế, vấn đề lâu dài của đất nước không phải là kinh tế mà là vấn đề văn hóa. Kinh tế thì phát triển có chu kỳ trồi sụt lên xuống quãng độ 5- 10 năm, nhưng những vấn đề tồn tại của văn hóa và giáo dục thì lâu hơn, có thể từ 50 năm đến cả trăm năm. Việc chọn một người có đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực văn hóa để trao giải thưởng, tôn vinh ở thời điểm này theo chúng tôi là cần thiết hơn cả. Lý do là vậy, chứ không phải là chúng tôi không còn người để trao giải trong lĩnh vực giáo dục nữa.
Thưa ông, xã hội đang phải đối mặt với sự xuống cấp nghiêm trọng về văn hóa, đạo đức, lối sống… Vì vậy, giải thưởng Phan Châu Trinh lại càng trở nên có ý nghĩa khi mục tiêu hướng tới là chấn hưng văn hóa- giáo dục nước nhà?
– Điều này hoàn toàn đúng. Ở khía cạnh khác, như chúng ta đã thấy, văn hóa và giáo dục là hai lĩnh vực liên quan mật thiết với nhau. Chúng tôi muốn thông qua giải thưởng này đóng góp một phần nhỏ để kêu gọi ý thức của cộng đồng, chú ý đến việc phát huy và duy trì những giá trị văn hóa truyền thống.
Chúng ta đang trong quá trình hội nhập, một trong những mối lo lắng của nhiều người, đó là sự mất đi của bản sắc văn hóa dân tộc. Nhưng chúng tôi, những người có trách nhiệm ở Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh nhận thức rằng, việc bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc phải được hiểu một cách hết sức chính xác và có chiều sâu văn hóa. Cụ thể là chúng ta không phải cố tình che chắn, rồi khoanh vùng lại để mà bảo tồn bằng được. Trong quá trình toàn cầu hóa, phải quen với sự tiếp thu, giao lưu với các nền văn hóa đa dạng. Và trong sự giao lưu, chấp nhận những nền văn hóa của các dân tộc khác, điều quan trọng là tinh hoa văn hóa của mình còn giữ được thì đó mới gọi là bản sắc.
Vâng, và năm nay, việc Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh được trao cho ông Nguyễn Sự- Bí thư Thành ủy Hội An được dư luận ghi nhận là một sự tưởng thưởng xứng đáng cho một người dành rất nhiều tâm huyết trong việc bảo tồn và phát triển Hội An. Điều này, vượt ra khỏi quan niệm là phải có công trình nghiên cứu về văn hóa mới xứng đáng được trao giải, xét ở góc độ khác, ông Nguyễn Sự còn là một mẫu mực về hình ảnh người cán bộ lãnh đạo, một ” công bộc” gương mẫu?
– Khác với những giải thưởng khác, ở Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh, chúng tôi coi mình là người hân hạnh, vinh dự được mang và trao giải thưởng đến những cá nhân xứng đáng với cống hiến của họ (chứ người được nhận giải không phải làm đơn đề nghị, hay đơn xin được xét giải thưởng). Trường hợp ông Nguyễn Sự rất hiếm hoi, vì trước khi giải thưởng của chúng tôi tìm đến ông, thuyết phục ông, thì ông Sự đã là người của dân, đã sống trong lòng người dân Hội An rồi. Hoặc nói cách khác, trước khi chúng tôi trao giải, nhân dân đã trao tặng giải thưởng cho ông Sự rồi.
Và như vậy, khi trao Giải thưởng Vì sự nghiệp Văn hóa – Giáo dục cho ông Nguyễn Sự, rõ ràng Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh hẳn đã có thông điệp gửi đến cộng đồng, gửi đến người đứng đầu các địa phương trong cách ứng xử với văn hóa?
– Hội An là điển hình của sự thành công trong việc vừa phát triển, vừa bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống. Với ý nghĩa đó, việc trao giải Vì sự nghiệp Văn hóa – Giáo dục cho ông Nguyễn Sự trong quá trình toàn cầu hóa, chúng tôi cũng muốn gửi tới xã hội những thông điệp rõ ràng.
Thứ nhất là các lãnh đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền và những người đứng đầu một địa phương ngoài việc “đứng mũi chịu sào” trong phát triển kinh tế- xã hội, họ cũng phải có ý thức trong việc giữ gìn bảo tồn không gian văn hóa ở địa phương mình. Nếu người đứng đầu không có ý thức như vậy thì không gian văn hóa sẽ không còn, các di tích lịch sử văn hóa cũng dần dần bị mai một. Điều thứ hai chúng tôi muốn gửi gắm là quá trình hiện đại hóa ở bất kỳ đất nước và địa phương nào cũng dẫn đến việc toàn cầu hóa. Và trong quá trình đó, biết cách giữ gìn cho được bản sắc văn hóa mới là quan trọng.
– Xin trân trọng cảm ơn ông!
Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh lần thứ 5 được trao cho các cá nhân:
Giải Vì sự nghiệp Văn hóa và Giáo dục: Ông Nguyễn Sự (sinh năm 1957) – Bí thư Thành ủy Hội An – vì những hoạt động tiêu biểu góp phần bảo tồn di sản văn hóa nước nhà;
Giải Dịch thuật: Ông Nguyễn Văn Khoa (sinh năm 1944) với dịch phẩm Đối thoại Socratic 1 của Plato (NXB Tri Thức, 2011);
Giải Nghiên cứu văn hóa: Ông Trần Văn Khê (sinh năm 1921) vì những đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực nghiên cứu và quảng bá âm nhạc dân tộc.
Và ông Nguyễn Thạch Giang (sinh năm 1928) vì những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu văn học Hán – Nôm;
Giải Việt Nam học: Ông Alain Ruscio (sinh năm 1947, Pháp) – nhà sử học, tiến sĩ văn học, nhà nghiên cứu độc lập, người đã dành chủ yếu công tác nghiên cứu của mình về Đông Dương thuộc địa và cuộc chiến tranh của Pháp ở Đông Dương (1945 – 1954). Đồng nhận Giải thưởng này là ông Pavel Vladimirovich Pozner (sinh năm 1945 tại New York, Mỹ, cùng gia đình trở về Nga năm 1952). Ông là một trong số ít chuyên gia về Việt Nam học tại Viện phương Đông, thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên bang Nga.
Hương Lê (thực hiện)

Giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh 2011: Nguyên do của niềm vinh dự – SGTT

21 Th3

– Giải thưởng văn hoá Phan Châu Trinh 2011 được quyết định trao tặng sáu cá nhân với bốn giải thưởng trên các lĩnh vực văn hoá – giáo dục, dịch thuật, Việt Nam học và nghiên cứu.

Ngoài giải Dịch thuật thuộc về ông Nguyễn Văn Khoa như SGTT ngày 19.3 đã giới thiệu, giải Vì sự nghiệp văn hóa – giáo dục được trao cho ông Nguyễn Sự, bí thư TP Hội An; giải Nghiên cứu được trao cho GS.TS Trần Văn Khê và PGS Nguyễn Thạch Giang. Giải Việt Nam học được trao cho hai nhà Việt Nam học nước ngoài gồm ông Alain Ruscio (Pháp), và P. V. Pozner (Nga). Lễ trao giải sẽ diễn ra lúc 9 giờ ngày 24.3 tại Hà Nội, đúng ngày giỗ cụ Phan Châu Trinh. Ba chủ nhân của giải thưởng đã bày tỏ nguyên do đưa họ đến với vinh dự này.

 

Dịch giả Nguyễn Văn Khoa

Học lại từ cái nôi văn hoá nhân loại

Tại sao tôi lại chọn Cổ Hy Lạp, tại sao lại chọn Socrates?

Thứ nhất: hãy đoạn tuyệt với thứ văn hoá độc canh hay đơn sắc; hãy đoạn tuyệt với loại “tư duy duy nhất”. Có những nền văn minh tự xem mình là cái rốn của vũ trụ; chúng ta đều biết chúng đã có số phận nào.

Thứ hai: hãy đoạn tuyệt với những cổ võ “về nguồn”, cho tâm thức luôn luôn lo sợ “mất bản sắc”, cho những mộng mị khư khư “bảo tồn văn hoá dân tộc”. Việt Nam ta không có hãnh diện được là một chiếc nôi của văn minh nhân loại. Ta không có chiếc nôi hoành tráng nào để trở về cả. Có nhiều nét văn hoá ta cứ ôm cứng vì ngỡ là của mình, xem kỹ lại hoá ra là bị áp đặt bởi kẻ khác. Hãy “chấn dân khí”. Đất Pháp cũng không phải là một chiếc nôi của văn minh nhân loại: người Pháp viết bằng chữ cái Latinh, tính toán bằng số Arập. Điều đó không ngăn cản họ cống hiến cho nhân loại bao giá trị văn hoá lớn lao sau này.

Thứ ba: đừng để bị cầm tù bởi ý niệm “bản sắc văn hoá”. Nhà văn Nguyên Ngọc nhận định: “Bản sắc không đứng yên, một lần là xong, một lần cho mãi mãi, mà biến đổi, cập nhật”. Paul Ricoeur xem “bản sắc văn hoá” là một biến số lịch sử; ông đặt tên nó là “bản sắc trần thuật (tự sự)” rồi đặt nó đối lập trực diện với cái ý tưởng có một bản sắc bất biến…

Thứ tư: đất nước ta may mắn có hàng ngàn cây số bờ biển, nhưng chúng ta chỉ mới nói đến kinh tế biển gần đây thôi. Hãy nhìn xa hơn những vấn đề kinh tế dù thiết yếu, mà nghĩ thêm về văn hoá biển – văn hoá ra khơi. Đã nghĩ tới chuyện hậu dân sinh, hãy hạ quyết tâm khai dân trí. Chúng ta đã “giải phóng đôi vai và đôi tay”; hãy tự giải phóng nốt cái đầu, hãy “tự lực khai hoá” tiếp. Tự nhiên, mỗi công trình phiên dịch sẽ là một chiếc thuyền vượt trùng dương, để chở về bao giá trị lạ lẫm nhưng hay đẹp, hữu ích.

Thứ năm: tôi tin rằng chúng ta cần học hỏi rất nhiều từ phương Tây. Thử nhìn quanh ta mà xem. Internet, điện thoại di động, thiết bị thu hình – phát sóng, ôtô, máy bay, xe lửa cao tốc, thuyền đại dương, tàu không gian v.v.. Bao nhiêu thứ mỗi ngày vây quanh ta, là bấy nhiêu sản phẩm kinh tế gốc gác từ đây. Nhưng sức mạnh kinh tế của phương Tây chỉ là phần nổi của tảng băng, cái làm cho sức mạnh kinh tế ấy nổi cao như núi, nghĩa là cái phần chìm của băng sơn này, chính là những giá trị văn hoá – trong đó có tư duy lý tính, có tinh thần phê phán, có tư tưởng tự do, có tư tưởng dân trị.

Và Cổ Hy Lạp chính là chiếc nôi của nền văn hoá ấy. Và Socrates chính là triết gia đầu tiên của dòng triết học muốn áp dụng lý tính vào mọi vấn đề con người, là nạn nhân đầu tiên của cuộc xung đột: triết học chống tôn giáo, phê phán chống bảo thủ, chuyển biến chống bất động… trong thời Cổ Hy Lạp ấy.

 

GS.TS Trần Văn Khê

Khơi dậy ý thức công dân từ thơ bé

Tôi rất ngạc nhiên và vô cùng hãnh diện khi được thông báo tôi đã vinh hạnh ở trong số những người được trao tặng giải thưởng Nghiên cứu của quỹ Văn hoá Phan Châu Trinh năm 2011.

Nói là ngạc nhiên và hãnh diện vì tôi không cần phải làm bất cứ hồ sơ, đơn từ nào để được xét trao giải. Các công trình nghiên cứu của tôi trong nhiều năm qua ở Pháp cũng như ở Việt Nam đã được các vị có trách nhiệm ở quỹ tự đề xuất, sưu tầm, xem xét cẩn trọng và có quyết định về giải trước khi trao đổi với tôi để đi đến công bố.

Tôi cũng rất hãnh diện vì giữa cá nhân tôi và nhà yêu nước — nhà văn hoá lớn Phan Châu Trinh đã có một mối dây liên hệ khá đặc biệt, mặc dù tôi chưa từng có vinh hạnh được gặp cụ Phan lần nào. Chuyện là, người cô ruột của tôi là bà Trần Ngọc Diện nguyên là giáo viên dạy âm nhạc (đàn tranh) và thêu thùa của trường nữ Áo Tím ở Sài Gòn, do đã cùng các đồng sự tham gia đám tang Phan Châu Trinh nên bị nhà trường bãi dụng. Sự kiện ấy đã gây chấn động và gieo vào tâm hồn thơ trẻ của tôi, tuy còn mơ hồ, ý thức trách nhiệm mà mỗi công dân cần có đối với quốc gia của mình. Chính từ ý thức mơ hồ từ thời thơ bé ấy mà khi ở tuổi trưởng thành tôi đã tự nguyện gần gũi với những người yêu nước trong kháng chiến chống thực dân Pháp, được khích lệ và đã theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu, quảng bá âm nhạc dân tộc suốt cả cuộc đời mình.

 

Bí thư Thành uỷ Hội An Nguyễn Sự

Nồi chè tiếp biến văn hoá

Cho phép tôi kể một câu chuyện nhỏ rất bình thường ở Hội An, có thể giúp ta suy nghĩ thêm hình như không chỉ về Hội An, mà cả về văn hoá, cũng không chỉ văn hoá Hội An, mà là văn hoá nói chung.

Một trong những món ăn được nhiều người ưa thích ở Hội An là món chè đậu ván của hai chị em nghèo, chỉ bán về đêm, khoảng từ chín, mười giờ, cho đến đúng khuya. Người chị gánh gánh chè nhẹ tênh từ trên đầu phố thong thả đi xuống, người em gánh cũng nhẹ tênh từ cuối phố thong thả đi lên, tới lúc gặp nhau thì chè vừa hết, và cánh cửa cuối cùng của những ngôi nhà cổ phố Hội cũng vừa khép lại. Chè đậu ván của hai bà đặc sắc ở chỗ nước thì trong veo không chút gợn mà ngọt thanh và dịu, còn các hạt đậu thì mịn bâng mà lại còn nguyên, không hề vỡ, thậm chí một vết rạn nứt nhỏ cũng không […]

Bí quyết của món chè này, theo tôi được biết, là ở cách pha nước đường: hai bà dùng loại đường bát vốn quen thuộc ở các làng quê xứ Quảng, không biết quý vị đã biết thứ đường ấy chưa, nước mật trong chảo còn ở trạng thái thô nhất, chưa lọc chút tạp chất nào, đang sôi sùng sục, chín tới một độ nào đó thì được đổ ra những cái bát cũng thô như vậy, để cho nguội đi, đặc quánh lại, màu đen xỉn, hai bát đường úp vào nhau, quấn rơm và đem bán ở chợ, hoặc bán cả cặp, hoặc từng bát, cũng có khi chẻ ra từng góc bán cho các bà mẹ đi chợ mua quà về cho con. Loại đường quê mùa nhất, thô sơ nhất, nghèo hèn nhất, bình dân nhất, đứng ở bét bảng xếp hạng của họ nhà đường. Đường ấy pha với đường phèn, tức là nghịch lý tột cùng, đường phèn đứng đầu bảng chót vót, là kim cương của đường, là đường vua, quý phái, vương giả. Chính sự pha trộn bất ngờ, tài tình và mầu nhiệm, mà cũng giản dị ấy của hai bà bán chè đêm Hội An đã tạo nên bí quyết của chè đậu ván kỳ diệu là đặc sản lâu đời của thành phố chúng tôi.

Ảnh: T.L

 

Tất nhiên hai chị em bà bán chè vô danh những đêm khuya phố Hội không hề nói, thậm chí chắc cũng không hề biết đến từ “bí quyết”, càng không nghĩ về triết lý chè của hai bà. Bởi vì quả thật ở đây có một triết lý sâu xa, và cái triết lý ấy đã thấm đâu đó trong máu của hai bà, của mỗi con người Hội An. Tôi cho triết lý cơ bản, hay là bản lĩnh chủ yếu của Hội An là vậy, đã giúp thành phố chúng tôi trải bao trầm luân và thách thức, cả những thách thức gay gắt và hỗn hào hôm nay của kinh tế thị trường đang hoang dã, vẫn vừa đi được cùng thiên hạ, không đến mức ở những hàng sau, và vẫn bình tĩnh là mình trong biến đổi không ngừng.

Đó là bản lĩnh kết hợp được một cách hoàn toàn, nhẹ nhàng như không, những đối lập gay gắt nhất, cực đoan nhất, để làm ra cái kỳ diệu bình thường hay cái bình thường kỳ diệu…

Công bố giải thưởng Phan Chu Trinh năm 2011 – TT

17 Th3

 

TT – Chủ tịch hội đồng khoa học của Quỹ văn hóa Phan Chu Trinh – nhà văn Nguyên Ngọc vừa công bố những cá nhân có đóng góp xuất sắc cho nền văn hóa nước nhà sẽ nhận giải thưởng Phan Chu Trinh lần 5-2011.

Ông Alain Ruscio và Đại tướng Võ Nguyên Giáp lúc còn trẻ – Ảnh: VOV

Theo đó, giải Vì sự nghiệp văn hóa và giáo dục được trao cho ông Nguyễn Sự (sinh năm 1957) – bí thư thành ủy Hội An – vì những hoạt động tiêu biểu góp phần bảo tồn di sản văn hóa nước nhà. Giải Dịch thuật được trao cho ông Nguyễn Văn Khoa (sinh năm 1944) với dịch phẩm Ðối thoại Socratic 1 của Plato (NXB Tri Thức, 2011).

Giải Nghiên cứu được trao cho ông Trần Văn Khê (sinh năm 1921) vì những đóng góp xuất sắc trong lĩnh vực nghiên cứu và quảng bá âm nhạc dân tộc và ông Nguyễn Thạch Giang (sinh năm 1928) vì những đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu văn học Hán – Nôm.

Giải Việt Nam học được trao cho ông Alain Ruscio (sinh năm 1947, Pháp) – nhà sử học, tiến sĩ văn học, nhà nghiên cứu độc lập, người đã dành chủ yếu công tác nghiên cứu của mình về Ðông Dương thuộc địa và cuộc chiến tranh của Pháp ở Ðông Dương (1945 – 1954).

Ông là người lãnh đạo Trung tâm Thông tin và tư liệu về nước Việt Nam đương đại. Ðồng nhận giải thưởng này là ông Pavel Vladimirovich Pozner (sinh năm 1945 tại New York, Mỹ, cùng gia đình trở về Nga năm 1952). Ông là một trong số ít chuyên gia về Việt Nam học tại Viện phương Ðông, thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên bang Nga.

Lễ trao giải sẽ diễn ra ngày 24-3 tại hội trường Viện Nghiên cứu công nghệ và phát triển, 35 Ðiện Biên Phủ, quận Ba Ðình, Hà Nội, đúng ngày giỗ của nhà yêu nước và nhà văn hóa Phan Chu Trinh.

V.HOÀI

Giải thưởng HNV Hà Nội 2011 được trao cho cố nhà văn Trần Dần – TN

29 Th2

Ngày 28.2, cuộc họp của Ban chung khảo Giải thưởng Hội Nhà văn (HNV) Hà Nội năm 2011 (gồm các ủy viên Ban Chấp hành và Hội đồng chuyên môn) đã diễn ra  sôi nổi với nhiều tranh luận thẳng thắn đối với 10 tác phẩm được lọt vào vòng chung khảo, gồm:

Những ngã tư và những cột đèn (tiểu thuyết Trần Dần), Đội gạo lên chùa (tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh), Kín (tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú); Những kỷ niệm tưởng tượng (tập thơ Trương Đăng Dung), Phim đôi – tình tự chậm (tập thơ Vi Thùy Linh), Lúc ấy và bằng ấy (tập thơ Tấn Phong); Đánh đường tìm hoa (phê bình của Nguyễn Thị Minh Thái), Suy tưởng, giấc mơ, viết (phê bình của Khánh Phương); Dịch thuật: Olga Berggolts (thơ dịch của Thụy Anh từ nguyên bản tiếng Nga), Các người khắc biết tay tôi (Lê Bá Thự dịch từ nguyên bản tiếng Ba Lan).

Sau khi cân nhắc khá kỹ, Ban Chung khảo gồm 10 nhà văn, nhà thơ đã bỏ phiếu kín. Kết quả, tiểu thuyết Những ngã tư và những cột đèn của cố nhà văn Trần Dần đã đoạt giải thưởng HNV Hà Nội  (được 9/10 phiếu) với nhận xét: đây là cuốn tiểu thuyết viết cách đây hơn 40 năm, nhưng văn phong hiện đại, giàu tính tư tưởng, nhân văn của nhà văn Trần Dần đã rung động, thuyết phục các độc giả văn chương khó tính của thời hiện đại và là một tác phẩm lớn trong kho tàng sáng tạo của văn học đương đại Việt Nam.

Tập thơ Những kỷ niệm tưởng tượng của nhà thơ Trương Đăng Dung cùng với tập thơ dịch Olga Berggolts của tác giả trẻ Thụy Anh  cũng đoạt giải lần này.

Việt Chiến

Giải thưởng thời phân hóa – PN

10 Th2

 – Những giải thưởng theo nhau xuất hiện quá nhiều giữa một làng văn nghệ lắm ồn ã đã dẫn đến hệ quả tất yếu: chúng ngày càng ít được quan tâm và ít thuyết phục hơn.

Bước vào năm thứ sáu, Giải thưởng truyền hình TP.HCM (HTVA) đã trở thành cái tên quen thuộc đối với nhiều người – nhưng quen thuộc không theo cái nghĩa là được công chúng kỳ vọng, đợi chờ mà theo nghĩa “biết rồi!”. Không phải HTVA dở, càng không phải ban tổ chức (BTC) không nỗ lực làm mới, thậm chí trái lại, chương trình còn liên tục cải tiến để thu hút khán giả. Thế nhưng dường như người ta đang dần ít chú ý đến HTVA hơn khi phải chia sự quan tâm của mình cho quá nhiều thứ khác.

Mang một thương hiệu cực lớn, Giải thưởng video âm nhạc Việt (VMVC) của kênh MTV Việt Nam vừa kết thúc mà không gây được tiếng vang nào đáng kể. Trong suốt nhiều tuần phát sóng, bình chọn, sân chơi VMVC chỉ như một chiếc ao làng dành cho các nghệ sĩ tham gia và fan của họ. Nhiều người, đến nay, vẫn bàn tán về tấm ảnh chụp màn hình trang web đăng tải kết quả bình chọn tuần đầu của VMVC chỉ như một minh chứng cho sự thất bại thảm hại của giải thưởng. Giải của MTV (dù là Việt Nam) mà chỉ có hơn 2.000 lượt bình chọn (trong khi ngay từ mùa đầu tiên, Giải thưởng âm nhạc trực tuyến Zing Music Awards – ZMA đã đạt trên 1,6 triệu lượt bình chọn). Tất nhiên, việc kiểm chứng độ tin cậy của tấm ảnh đã không thể thực hiện được bởi theo một số nguồn tin thì BTC VMVC đã gỡ thông tin về số lượt bình chọn khỏi trang web. Chưa hết, kết quả của VMVC còn khiến không ít người phản ứng khi ca khúc Rắc rối của Karik (nghệ sĩ “đùng một cái” xuất hiện trên MTV Việt Nam, trước đó chẳng ai biết là ai) với ngôn từ, hình ảnh phản cảm đã được xướng tên chiến thắng bên cạnh Mỹ Tâm.

VMVC với thương hiệu MTV vẫn không thể thu hút khán giả như mong đợi (Từ phải sang: Mỹ Tâm, Karik, Hồng Nhung giành chiến thắng tại VMVC lần thứ nhất) – Ảnh: G.T.

Có số lượt bình chọn “khủng” nhất hiện nay trong số các giải thưởng, nhưng ZMA cũng không tránh khỏi những bàn tán xôn xao khi trong danh sách nghệ sĩ giành chiến thắng có những cái tên “xa lạ” với đại chúng. ZMA được trả về đúng vị trí của nó – sân chơi âm nhạc dành cho khán giả trẻ trên internet. Tương tự, Làn sóng xanh đã mất sức ảnh hưởng từng tạo được trên thị trường nhạc Việt, trở lại là một sân chơi dành cho khán giả radio. Mai Vàng, Ngôi sao của năm… cũng đã tạm hài lòng với vị trí cục bộ của mình. Ngay cả một giải thưởng được đánh giá là có tính chuyên môn cao, được nhiều nghệ sĩ khát khao đạt đến như Cống hiến cũng không tránh khỏi tình trạng chung.

Đêm 5/2, chương trình Bài hát yêu thích (BHYT) trên sóng VTV đã tôn vinh Người hát tình ca qua phần thể hiện của Uyên Linh là ca khúc của tháng 1/2012. Kết quả này không thuyết phục lắm, ít nhất là so với những gì cô thể hiện trên sân khấu của chương trình. Trước đó, trên Facebook của các fan ca sĩ Văn Mai Hương là những lời than phiền về việc họ không thể nhắn tin bình chọn cho thần tượng. Nếu biết ngay sát giờ lên sóng BHYT số đầu tiên, BTC phải cho vời khán giả từ cánh gà lên lấp chỗ trống ở khu vực VIP cho đẹp khuôn hình máy quay, người ta có thể dự báo BHYT khó mà thành công như mong đợi, dù số tiền thưởng lên đến hơn 1,1 tỷ cho ca khúc giành giải. Đêm 18, 19/2 tới đây, chương trình Bài hát Việt (BHV) sẽ có hai đêm gala trao giải tại Nhà hát Thành phố, nhưng dường như ngoài những người có ít nhiều liên quan và một bộ phận khán giả, phần khá lớn còn lại đã quên mất có một chương trình tên là BHV nhằm tôn vinh những ca khúc chất lượng của Việt Nam.

Từng có nhiều phân tích cho rằng hôm nay và ngày mai sẽ không có những ngôi sao, chương trình “của đại chúng” theo nghĩa vừa chinh phục được giới chuyên môn, vừa thu hút đám đông, trừ phi đó là một thiên tài và chắc chắn sẽ trở thành huyền thoại. Các ngôi sao, giải thưởng và cả công chúng sẽ phân chia thành từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm có vị trí riêng của mình. Nhận định này có vẻ như đang “đúng dần lên”…

PHẠM THÀNH NHÂN

%d bloggers like this: