Tag Archives: HỘI NGHỊ

Trước thềm Hội nghị Trung ương 10 – BBC

25 Th12

 

null

Chất lượng cao mp3 (5.6 Mb)

 

22 tháng 12 2014 Cập nhật lúc 19:49 ICT

Ông Du Chính Thanh, nhân vật lãnh đạo hàng thứ tư của Đảng Cộng sản Trung Quốc, sắp sửa có chuyến thăm Việt Nam trong những ngày cuối năm 2014, hãng tin nhà nước Trung Quốc vừa loan tin.

Chuyến thăm này diễn ra vào lúc Đảng Cộng sản Việt Nam sắp có hội nghị trung ương quan trọng để bàn về nhân sự cho nhiệm kỳ tới.

Trao đổi với BBC, Tiến sỹ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, cho biết chuyến thăm của ông Du ‘trước đây chưa có trong lịch’.

“Có lẽ chuyến đi này đã xuất hiện theo yêu cầu nào đó của Bắc Kinh muốn có ý kiến, tham khảo, trao đổi với lãnh đạo Việt Nam,” ông Doanh nói.

“Trong mối quan hệ giữa hai bên nhất là phía Trung Quốc luôn nhấn mạnh mối quan hệ chặt chẽ giữa hai Đảng thì việc ông Du Chính Thanh đi thăm cũng là một điều nằm trong khuôn khổ thỏa thuận giữa hai bên,” ông nói thêm.

Về việc chuyến đi này của ông Du có liên hệ gì đến hội nghị trung ương Đảng sắp họp hay không, Tiến sỹ Doanh nói rằng qua kinh nghiệm từ thời ông còn công tác trong Đảng thì ‘Trung Quốc vẫn thường xuyên muốn có các ý kiến có thể gây tác động và ảnh hưởng đến quyết định của Đảng Cộng sản Việt Nam’.

“Tuy nhiên, ý kiến đó tác động được đến đâu là việc của Đảng Cộng sản Việt Nam chứ không hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn của Trung Quốc,” ông nói thêm.

Khi được hỏi về việc hội nghị 10 bị trì hoãn, ông Doanh giải thích rằng đây là ‘một kỳ họp quan trọng nên cần chuẩn bị kỹ’.

“Cuộc họp này (Hội nghị trung ương 10) quan trọng để thảo luận các văn kiện trình ra Đại hội 12 và thông qua để qua năm 2015 các cấp đảng bộ bắt đầu thảo luận và đóng góp ý kiến,” ông nói.

“Theo lịch trình như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã thông báo, kỳ họp này sẽ có lần bỏ phiếu tín nhiệm đầu tiên đối với nhân sự lãnh đạo của Đảng,” ông Doanh cho biết.

Vấn đề nhân sự lãnh đạo của Đảng cho khóa mới cũng sẽ ‘là một nội dung quan trọng được đưa ra thảo luận và được Trung ương góp ý kiến’ tại hội nghị 10, ông Doanh cho biết.

“Sẽ có các nguyên tắc, phương hướng chỉ đạo và cũng có thể có ý kiến thăm dò ban đầu về cơ cấu lãnh đạo Đại hội 12 sắp tới đây,” ông nói thêm nhưng từ chối bình luận về việc có phải đấu đá nội bộ là nguyên nhân Đảng trì hoãn hội nghị trung ương 10 hay không.

Tìm hiểu nội dung hội nghị Thành Đô: đọc lại tài liệu năm 2002 của Nguyễn Chí Trung… – BS

17 Th10

 

Posted by adminbasam on 17/10/2014

Trương Nhân Tuấn

16-102014

Nội dung của hội nghị Thành Đô đầu thập niên 90 đưa đến việc bình thường hóa hai nước Trung-Việt là như thế nào ? Có cái gọi là « kết ước Thành Đô » giữa lãnh đạo đảng cộng sản VN và TQ hay không ? Câu trả lời hôm nay không dễ.

Lời đồn đoán về cái gọi là « Việt Nam tự trị », hay VN là « một tỉnh » của Trung Quốc, có lẽ không thuyết phục được nhiều người. Tuy nhiên, sác xuất về một cam kết đảng CSVN là một « thành phần » dưới sự lãnh đạo của đảng CS Trung Quốc lại rất cao nhưng lại không thấy dư luận đề cập tới. Trước khi Liên Xô sụp đổ, các đảng cộng sản của các nước đều là một « chi bộ », hay « phân bộ » của cộng sản quốc tế do đảng cộng sản Liên Xô cầm đầu. Sau khi quốc tế cộng sản sụp đổ, đảng cộng sản Trung Quốc đương nhiên là người thừa kế chính đáng, lãnh đạo các đảng CS tại các nước VN, Bắc Hàn và Cuba (sau này có thêm Vénézuella).

Vấn đề vì vậy cần tìm hiểu là sự « quan hệ » giữa hai đảng cộng sản VN và TQ là như thế nào ?

Chắc chắn phía TQ rất thích VN trở thành một « tỉnh », hay một « chư hầu » của TQ, như trước khi VN lọt vào tay Pháp. Đây là mục tiêu của các lãnh tụ TQ, có từ thời Mao Trạch Đông. (Điều này xảy ra thì vùng biển xác định bởi bản đồ chín đoạn chữ U đương nhiên thuộc TQ). Nhưng đưa VN trở lại tình trạng cuối thế kỷ 19 không dễ thực hiện, kể cả khi đảng CSVN là một bộ phận không tách rời của đảng CSTQ. Ta thấy những cố gắng lộ liễu của đảng CSVN, qua những lần VN tiếp đón lãnh đạo đảng CSTQ, phía VN cố gắng qui tụ đông đảo học sinh, giao cho chúng lá cờ đỏ « lục tinh » (quốc kỳ của TQ chỉ có 5 sao), đứng dọc bên đường phe phẩy để chào đón lãnh tụ. Bởi vì trong nội tình của đảng CSVN, một số lớn đảng viên lại « có ý kiến khác ».

Trong trung hạn TQ muốn nhìn thấy một nước VN phân hóa, nghèo đói, ngu dốt chậm tiến… Điều này đương nhiên dễ dàng thực hiện và ít tốn kém hơn. Ta thấy trên thực tế, TQ đã đi hơn ½ đoạn đường của họ.

Tài liệu dưới đây của ông Nguyễn Chí Trung, nguyên là thư ký của Lê Khả Phiêu, viết từ năm 2002, do « Câu lạc bộ Dân chủ » công bố ra dư luận hải ngoại tháng 12 năm 2003. Qua đó ta mới biết trong hàng ngũ lãnh đạo của VN, những ai có chủ trương kiên định « xã hội chủ nghĩa » ? những ai có chủ trương « xóa » XHCN ? Những ai chủ trương xem Mỹ là kẻ thù « chiến lược » và những ai muốn quan hệ và xem Mỹ là đồng minh ? Nhờ vậy ta mới có thể biết được phần nào « đường đi nước bước » của phía TQ. Họ đã « gài người » như thế nào ? họ đã phân hóa « nhân sự » VN ra sao ?

Nhiều người cho rằng, muốn biết nội dung hội nghị Thành Đô thế nào thì nên hỏi Đổ Mười, vì ông này có tham gia hội nghị. Theo tài liệu này, Đổ Mười là nhân tố quan trọng ủng hộ Võ Văn Kiệt (và Nguyễn Mạnh Cầm) « trụ » lại, trong khi hai ông này chủ trương xóa bỏ XHCH. Nếu vậy thì ông Đổ Mười chưa chắc đã « theo Tàu ». Muốn hỏi thì nên hỏi Lê Khả Phiêu.

Còn về vấn đề biên giới lãnh thổ, hải phận, ta cũng biết một điều quan trọng. Lãnh đạo CSVN đã nhìn nhận « có ba vùng biển tranh chấp » với TQ. Vùng biển tranh chấp thứ ba là vùng biển Trường Sa (vùng phía tây bãi Tư Chính). (Một số « học giả » của Quĩ Nghiên cứu Biển Đông trước đây chấp nhận thực tế này, vì vậy đã đề xướng chủ trương « khai thác chung » với Trung Quốc. Không ai lúc đó có thể giải thích câu hỏi tôi đặt ra là nguyên nhân vì đâu “có tranh chấp ở Trường Sa”, vì sao phải “khai thác chung” với TQ ? Tôi bị những học giả này kết án là “duy ý chí” – sic!)

Dĩ nhiên, như những tài liệu khác (chính thức hay không chính thức) xuất phát từ phía CSVN, ta chỉ có thể kiểm chứng sự thật ra sao qua một thời gian (so sánh dữ kiện và) chứng nghiệm trên thực tế. Quí độc giả thử đọc tài liệu này, sau đó rà soát lại với kinh nghiệm và thực tế để có một kết luận về quan hệ VN và TQ.  

*****

Từ thập kỷ 90 của thế kỷ 20, CNXH ở Đông Âu và Liên Xô xụp đổ đã tác động mạnh mẽ vào xã hội và nội bộ đảng ta, tư tưởng của chủ nghĩa cơ hội phát sinh, phát triển trong đa số cán bộ cao cấp và đảng viên. Đến đại hội đảng lần VI nổi lên từ Trần Xuân Bách, uỷ viên bộ chính trị- trưởng ban tổ chức trung ương đảng đã ngóc đầu dậy đòi đa nguyên đa đảng nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của đảng, thực hành kiểu dân chủ Phương Tây. Theo con đường TBCN. Lúc đó, TW và bộ chính trị đảng ta còn mạnh, quật ngã Trần Xuân Bách ngay. Tháng 3/1990, hội nghị Bộ chính trị- ban chấp hành đã cách chức một số trung ương uỷ viên và khai trừ đảng đối với Trần Xuân Bách.

Bước vào thời kỳ đổi mới, mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, tư tưởng cá nhân thực dụng,…. Làm cho cán bộ, đảng viên càng sa sút phẩm chất, đảng bị suy thoái. Một bộ phận đồng chí mơ hồ lập trường Phương Tây, muốn quay lưng với đảng, với chủ nghĩa xã hội,… Võ Văn Kiệt, thủ tướng chính phủ, uỷ viên bộ chính trị, xuất hiện chủ nghĩa cơ hội, đòi xoá bỏ CNXH, đi theo con đường TBCN trung lập.

Cuối đại hội đảng lần thứ VII , ngày 9/8/1995, Võ Văn Kiệt đưa ra cương lĩnh trình bộ chính trị (dài 30 trang) , lúc đó anh Linh (đương nhiệm Tổng bí thư) nghiên cứu đưa vào báo cáo bộ chính trị. Đến đại hội đảng lần thứ VIII đòi bỏ định hướng XHCN, bỏ kinh tế quốc doanh, bỏ hợp tác xã, bỏ “Điều 4 hiến pháp”, thực hiện dân chủ triệt để.

Lúc đó, Nguyễn mạnh Cầm đưa ra luận điểm “không còn đấu tranh giai cấp”. Mỹ không phải là đối tượng chiến lược (kẻ thù) của Việt Nam. Thế giới đang cần hợp tác, đến lúc cạnh tranh kinh tế chứ không phải coi nhau như kẻ thù (đường lối ấy phù hợp với chiến lược Châu á thái bình dương của Mỹ).

Ngày 10/10/1995. Bộ chính trị đưa vấn đề của Kiệt, Cầm nêu trên, ra thảo luận 1 ngày không xong. Ngày hôm sau đưa ra thảo luận tiếp. Lê Khả Phiêu phát biểu trước (đương nhiệm là TCCT-Uỷ viên bộ chính trị). Đương nhiên là đấu tranh quyết liệt với quan điểm sai trái trên đây của Kiệt và Cầm . Sau khi phát biểu xong, anh Linh hỏi ai có ý kiến gì phát biểu thêm ? Thì Lê Đức Anh nói: “ đúng”. Anh Linh và bộ chính trị không ai phát biểu gì cả. Kiệt xin lỗi anh Phiêu và nói : ” Anh phê phán tôi như vậy là quá đáng, và phân trần: độc lập dân tộc, xoá CNXH , tài liệu đó là anh em họ viết ra, tôi chỉ ký mà thôi “.Phiêu đấu tranh tiếp: ” Anh nói vậy hoá ra anh là người hai mặt à”

Ngày hôm sau tiếp tục đưa vấn đề này ra thảo luận, giữa Kiệt và Phiêu đấu tranh qua lại rất căng thẳng. Bộ chính trị cũng không ai có ý kiến gì. Đỗ Mười nói: ” Còn khó quá, hãy hoãn lại, sau sẽ thảo luận”. Nhưng rồi cũng tạm gác… Tiếp tuần sau đưa ra thảo luận. ý kiến của Cầm và Mười cũng lừng chừng, bảo Phiêu phát biểu trước. Cầm thấy không ai có ý kiến gì cũng làm thinh. Đến đó, bộ chính trị dừng lại không có kết luận cuối cùng. Vũ Oanh thì muốn bỏ CNXH.

Đến đại hội 9 Ban chấp hành trung ương khoá VII (từ 16 đến 23 tháng 2/ 1996), hội nghị bộ chính trị trung ương thông qua dự thảo báo cáo chính trị đại hội đảng lần thứ VII , một số TW uỷ viên buộc Đỗ Mười đưa vấn đề của Kiệt , Cầm ra thảo luận lại. Lúc bấy giờ chỉ có một số uỷ viên trung ương khu vực miền trung đấu tranh phê phán quyết liệt quan điểm của Kiệt, Cầm. Các đồng chí ấy phân tích “ nếu một quần chúng có quan điểm như Kiệt thì có thể kết nạp vào đảng được không? Nếu một đồng chí có quan điểm như vậy có bầu đi dự đại hội đảng, vào Trung ương hay không? Đây là phần xem xét tư cách đưa ra khỏi đảng”

Đỗ Mười lại thoả hiệp đứng ra bào chữa, thanh minh cho Kiệt. Mười cho đó là nhận thức lệch chứ không có vấn đề gì đâu. Đỗ Mười lúc này muốn ổn định nội bộ. Lê Đức Anh vẫn làm thinh. Nguyễn Chản phê phán Cầm là mơ hồ giai cấp. Tại sao cho Mỹ là bạn chứ không phải là thù ? Chản phân tích đập mạnh quan điểm của Cầm. Cần tự ái phản ứng, cho Chản là lên mặt dạy đời.

Bước vào hội nghị TW lần 10 trù bị lần 1. Kiệt, Anh bị thiểu số phiếu (Kiệt 20 , Anh 60 phiếu), Không đủ phiếu ở lại trung ương, đủ điều kiện để loại Kiệt. Nhưng đến hội nghị trung ương lần thứ 11, trù bị chính thức nếu bầu, thì Đỗ Mười quay ngoặt 180 độ: “ yêu cầu Kiệt ở lại Bộ chính trị, chứ một mình tôi không làm nổi”

Đại hội đảng lần thứ VIII(từ 26/6 đến 1/7/1996), Đỗ Mười: Tổng Bí Thư. Anh, Kiệt, Cầm, Phiêu ở lại bộ chính trị . Trong hội nghị trù bị , đấu tranh về nhân sự đã diễn ra rất gay cấn. Ra Đại hội, anh Linh công khai vạch thẳng hiện tượng tiêu cực, suy thoái trong đảng ở ngay trong Bộ chính trị.

Anh Linh nói : “Dột từ trên nóc dột xuống”. Đỗ Mười thanh minh “ mía sâu có đốt, nhà dột có chỗ”.

Họp Ban chấp hành TW lần 4 khoá 8 từ ngày 23 đến 29 tháng 12/1997 xem xét vấn đề nhân sự cấp cao và thảo luận 11 vấn đề về quan điểm, chủ trương, chính sách quan trọng. Vấn đề thứ 11 là: ” khắc phục tình trạng thoái hoá trong cán bộ, đảng viên”, rồi đi đến quyết định một số vấn đề về nhân sự: Kiệt, Anh, Mười còn ở lại hay nghỉ? Anh năm Công (Võ Chí Công) cố vấn đề nghị: cả 3 nên nghỉ (nhưng cả 3 đều muốn ở lại Bộ chính trị). Vấn đề là chọn Tổng bí thư thay cho Đỗ Mười?

Lúc đầu thì anh Đồng, anh năm Công giới thiệu Cầm. Nhưng sau đó có nhiều ý kiến về Cầm nên thôi không chọn. Năm Công lại giới thiệu Nguyễn Văn An. Anh Linh thì muốn giới thiệu Nguyễn Xuân Tùng, nhưng Tùng có vụ lộn xộn ở Sài Gòn nên thôi. Sau đó anh Linh xem lý lịch của Phiêu, thấy Phiêu chưa làm bí thư tỉnh hoặc thành phố lớn nào, anh Linh ngập ngừng hỏi Lê Đức Anh xem giới thiệu ai? (bấy lâu nay ta đã hiểu lầm Anh đưa Phiêu làm TBThư để điều khiển, song không phải như vậy. Vì khi Anh làm chủ tịch nước, Đoàn Khuê làm bộ trưởng quốc phòng, Anh làm Phó bí thư quân uỷ trung ương nhưng Mười giao hẹn quyền hạn cho Anh. Vì quyền hạn chức Bí thư quận uỷ trung ương hơn nên Anh muốn làm Tổng Bí Thư để kiêm luôn chức ấy).

Sau đó . Anh bị tai biến mạch máu não. Đoàn Khuê và một số cán bộ tích cực ủng hộ đưa LKPhiêu làm tổng bí thư để giữ Chủ Nghĩa xã hội.

Kiệt, Mười, Anh, mặc dù có ý kiến của anh năm Công đề nghị nghỉ, 3 vị cứ bấu víu ở lại. Khi anh Đồng xin rút khỏi cố vấn (cả anh Linh và anh Công cũng vậy), anh nói với Kiệt, Mười, Anh là không ở lại bộ chính trị thì làm cố vấn. Mười tỏ vẻ phấn khởi. Anh lừng khừng. Nhưng rồi cả 3 đều phải rút khỏi bộ chính trị để làm cố vấn.

Đến đây, tháng 12/1997 Đỗ Mười chuyển giao chức TBT cho LKPhiêu (xem tài liệu riêng). Bộ chính trị lúc này gồm: Cũ có Phiêu,TD Lương, Trương tấn Sang, Lê Minh Hương, Phạm Thế Duyệt, Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Văn An, Nguyễn Tấn Dũng. Mới có Khải, Ngân, Lê Minh Triết, Phan Diễn, NPhú Trọng, Nguyễn Đức Bình, Phạm Văn Trà, Tùng, Thị Mỹ.

Thế là từ tháng 12-1997 đến đầu năm 2001 Lê Khả Phiêu đảm nhiệm cương vị TBT. Phiêu làm được nhiều việc , tiêu biểu cho ý chí đấu tranh , kiên định đường lối , dương cao 3 ngọn cờ.

1.- Kiên định con đường tiến lên CNXH , giữ vững định hướng XHCN .

2.- Đối ngoại giữ vững độc lập tự chủ trong quan hệ quốc tế ( hoà nhập chứ không hoà tan ).

3.- Đối nội đề ra cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn đảng , tập trung và khắc phục sự suy thoái trong đảng , mục tiêu đấu tranh chủ yếu là chống tham nhũng . Trong vấn đề này LK Phiêu đã mạnh tay xử lý 1 số cán bộ ở cấp cao , cách chức Phó Thủ Tướng Ngô Xuân Lộc , cảnh cáo bãi chức Kiêm Tổng Giám Đốc ngân hàng và hàng mấy chục cán bộ cấp tỉnh tập trung ở phía nam .

Với tác phong giản dị, chan hoà trong quần chúng, sát dân, xông pha trong bão lũ, giải quyết kịp thời những vấn đề cứu dân trong lúc khó khăn… Nói thẳng, phân biệt đúng, sai, có uy tín đối với quần chúng. Khôi phục uy tín đng và mối quan hệ dân với đảng, dân tin đảng.

Cũng trong thời điểm cuối 2000 đầu 2001 địch + phần tử xấu trong , ngoài nước tung dư luận đòi ta thay đổi đường lối. Mỹ ép ta bỏ điều 4 trong hiến pháp, đòi gác lại CNXH, đổi tên đảng, tên nước, sửa đổi quốc kỳ, quốc ca… Song ta không ngờ và không hề nghĩ tới việc thay đổi đường lối chính trị, tổ chức lật đổ lại chính nằm trong âm mưu của 3 anh cố vấn (đến đại hội IX bột phát ta mới hiểu).

Thời kỳ đương nhiệm (trước đại hội IX) có mấy hoạt động nổi bật của TBT LK Phiêu, và cũng chính những hoạt động này bị 3 anh cố vấn lên án:

-Xử lý Ngô Xuân Lộc (bị Đỗ Mười phản đối).

-Thành lập tổ chức A10.

-Hoãn ký hiệp ước thương mại Việt – Mỹ

-Thăm TQ-Hội đàm với GiangTrạch Dân.

-Thăm châu Âu (Có Thị Dung cùng đi trong đoàn).

-Trực tiếp đối thoại với Bin Clin-Tơn.

+Chuẩn bị đại hội đảng IX

Một mặt đưa dự thảo báo cáo chính trị thu thập ý kiến tham gia c?a mọi tầng lớp nhân dân. TBT LK Phiêu đi sát cơ sở dự Đại hội đảng bộ cơ sở tận chi bộ. Không khí dân chủ tin tưởng, phấn khởi trong đảng và ngoài xã hội tăng cao.

Đồng thời trong lúc này 3 anh cố vấn cũng bàn mưu , tính kế chuẩn bị đảo chính trong đảng trước khi khai mạc đại hội .Họ lập kế hoạch , tạo chứng cớ giả , tập trung mũi nhọn nhằm lật đổ TBT LK Phiêu ( Phiêu không biết ). Ba anh cố vấn mớm cho Hữu Thọ ( trưởng ban Tư TưởngVăn Hoá TW ) tung dư luận trong cuộc họp báo tại thành phố HCM: ” nhiệm kỳ đại hội đảng tới Lê Khả Phiêu nên nghỉ ” . Thọ phát biểu rất vô nguyên tắc vì chưa đại hội và Bộ chính trị, TW chưa có ý kiến gì về nhân sự đại hội.

Trong lúc TBT- Lê Khả Phiêu lo chuẩn bị cho đại hội thì 3 anh cố vấn ráo riết chuẩn bị vùi dập, vu khống, lật đổ Phiêu. Trực diện vu khống, đả kích, thực hiện mưu đồ đo chính trong đảng trước đại hội IX khai mạc lần lượt diễn ra như sau:

-Sáng 10-10-2000 Phiêu mời 3 cố vấn họp để thăm dò chuẩn bị nhân sự cho đại hội IX . Phiêu nêu ý kiến 1 số đ/c nên rút ra khỏi Bộ chính trị là :Nguyễn Đức Bình , Phạm VănTrà , Nguyễn Mạnh Cầm, Tùng, Phạm Thế Duyệt, Nguyễn Tấn Dũng và Trần Xuân Giá ra khỏi TW, rồi nêu thôi chế độ cố vấn…

Cùng lúc này Lê Đức Anh bắt tay Trần Đức Lương, mớm: “ Lần này anh sẽ phải làm Tổng Bí Thư “. (Lương hí hửng mừng thầm).

Chiều 10-10 cố vấn ra đòn tấn công đợt 1.

-Cố vấn đưa ra đề nghị trẻ hoá TW Bộ chính trị dưới 50 tuổi ( như vậy thì Bộ chính trị chỉ còn 1, Tw còn 60 người). Nhưng 3 cố vấn cảm thấy khó thực hiện, khó có sự đồng tình.

Ngày 3-1 đến 11-1-2001 Đại Hội đảng toàn quân, cố vấn tấn công đợt 2.

Trong đại hội này LĐ Anh đột ngột buộc LK Phiêu 10 tội:

1.- Bán đất, bán biển cho Trung Quốc.
2.- Lộ bí mật ý đồ chiến lược với Giang Trạch Dân.
3.- Độc đóan thiếu dân chủ.
4.- Thành lập A10 âm mưu lật đổ nội bộ.
5.- Quan hệ bất chính với gái và quan hệ với gái gián điệp.
6.- Hoãn ký hiệp định thương mại Việt – Mỹ.
7.- Trực tiếp đối thoại với Clin-Tơn quá cứng rắn.
8.- Đề bạt Lê Hải Anh là 1 tên đào ngũ lên thứ trưởng Bộ Quốc Phòng.
9.- Địa phương chủ nghĩa (Thanh Hoá hoá, Hà Nội hoá, lôi kéo người Thanh Hoá lên trung ương).
10.- Lôi lại vụ Xiêm Riệp.

Trong lúc này LĐ Anh mắng thẳng vào mặt Phạm Thanh Ngân là đồ ngu và tập trung vu khống Phiêu về tội vô nguyên tắc trong việc thành lập A10 (tổ chức chuyên theo dõi nội bộ) và bán đất, bán biển cho Trung Quốc… làm cho toàn bộ những người có mặt trong đại hội ngơ ngác.

Phiêu và Ngân có thanh minh.

Cố vấn không kết tội Phiêu được lại buộc Phiêu nhận kỷ luật và bảo: Phiêu phải từ chức ngay. Phiêu bị đột ngột, bất ngờ nên thanh minh vài điểm xung quanh vụ A10 và nói: “Nếu tín nhiệm thì tôi tiếp tục làm, không thì thôi.”

Sau đó các cán bộ lão thành cách mạng gây áp lực, động viên Phiêu làm lại không nên rút lui…

+Từ đầu tháng 1 đến đầu tháng 2-2001

Không kết tội được, chưa đánh bại được ý chí của LK Phiêu, ban cố vấn phân công nhau đi vận động để tìm kiếm sự ủng hộ của các đ/c uỷ viên TW, uỷ viên Bộ chính trị, tướng lĩnh về hưu để lật đổ các đ/c cầm đầu bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước, nhưng vẫn tập trung mũi nhọn vào TBT LK Phiêu.

Ngày 13-1-2001 Đỗ Mười gọi điện thoại cho Nguyễn Đức Tâm (nguyên UV Bộ chính trị – trưởng ban Tổ chứcTW cũ ) đang ở Hải Phòng báo sẽ gặp Tâm để thông báo một số tình hình , nhưng Tâm bận. Đến 6-2-2001 Mười mới gặp Tâm (LĐ Anh đã cho người thông báo tình hình với Tâm trước) Hỏi Tâm có ý kiến như thế nào về những điều đã được Anh thông báo? Rồi Mười phân tích phê phán việc Phiêu quyết định thành lập A10 là sai nguyên tắc. Rồi Mười trao cho Tâm một bản án LK Phiêu dài 7, 8 trang trong đó đặt vấn đề : Phiêu quan hệ trai gái với Thị Hà, thị Dung là gián điệp Mỹ… Mười còn trao cho Tâm 1 tấm ảnh nói là : “ảnh chụp được từ nước ngoài “. Mười còn vận động Tâm đòi thay đổi 50 % uỷ viên Bộ chính trị, nhất là 3 người chủ chốt: Phiêu, Lương, Khải và điều NĐ Mạnh sang công tác khác. (Xem bản báo cáo của Tâm với Bộ chính trị).

+Đòn tấn công thứ 3.

Sau 1 tháng ráo riết vận động đến 5-2-2001 hội nghị TW 11a họp trù bị. LĐ Anh chính thức đưa 10 tội của LK Phiêu ra trước hội nghị. Buộc hội nghị tập trung thảo luận đấu tranh phê phán Phiêu về quyết định thành lập A10. Cho Phiêu là lộng quyền, vi phạm nguyên tắc nghiêm trọng , định lật đổ TW& Bộ chính trị gây nghi ngờ nội bộ… Anh tiếp tục buộc Phiêu từ chức trước khi khai mạc đại hội IX.

Vấn đề thành lập A10 như sau:

Nguyên từ trước năm 1995 LĐ Anh nắm hội đồng an ninh, quyết định nâng cục II lên thành tổng cục II (TCII) , giao cho nó quyền hạn, nhiệm vụ vượt quá chức năng ( thành cơ quan tình báo chiến lược quốc gia ) lại làm cả nhiệm vụ của an ninh phản gián. Võ Văn Kiệt ra QĐ 96 sau đó NĐ Mạnh ra pháp lệnh thành lập cơ quan phối kiểm tin (gồm CA, TCII, cục bảo vệ QĐ). Để nắm vững TCII, LĐ Anh nhận Nguyễn Chí Vịnh (một thanh niên hư hỏng, con trai Nguyễn Chí Thanh) làm con nuôi nâng đỡ, ô dù đưa vào quân báo đề bạt nhanh lên đại tá phụ trách tổng cục phó TC II.

Dựa vào thế LĐ Anh, TC II ngày càng lộng hành cho nên công tác phối kiểm tin không còn chuẩn xác , nội bộ TCII phức tạp , đưa tin không chính xác và nhiều việc làm sai trái. Ví dụ tên Nguyên thư ký cho Phan Văn Khải cùng tên Tô Luyến cục 11, TCII định bắt cóc Võ Thị Thắng bức cung buộc Thắng phải nhận làm việc cho địch khi Thắng bị địch bắt trong kháng chiến để lập hồ sơ giả trị tội chị Thắng. May là ta đã phát hiện kịp thời chặn đứng lại . Ví dụ khác là, chúng đã đưa 1 số tài liệu, cán bộ của ta bị địch bắt trước đây đã đầu hàng và nhận nhiệm vụ địch giao . Họ nói tài liệu này do cơ sở điệp báo của ta từ nước ngoài cung cấp . Song thực tế tài liệu đó là ta thu được của địch từ khi giải phóng miền Nam. Trước đó Vũ Chính thiếu tướng là cục trưởng cục II (xem thêm tài liệu vương triều Vũ Chính – cha vợ của Vịnh) có đề nghị LK Phiêu đề bạt Nguyễn Chí Vịnh lên hàm thiếu tướng và đưa vào TW nhưng bị Phiêu bác bỏ. Trong lúc này có tên Kế đại tá TCII bí mật lập đường dây viễn thông liên lạc với nước ngoài bị cục bảo vệ an ninh phát hiện . Đứng trước tình hình lộn xộn đó LK Phiêu họp với Trà , Ngân định thành lập nhóm A10, thành phần gồm TC II , Cục bảo vệ an ninh, Tổng cục chính trị, thành lập một bộ phận phối kiểm tin địch, ta tránh tình trạng mạnh ai nấy báo (một việc mà 2 nguồn tin đưa ra khác nhau). Cử Trà làm tổ trưởng A10, Trà lại đề cử Ngân làm. Phiêu giao Vũ Chính làm kế hoạch. Vũ Chính đưa bản thảo cho Phiêu xem . Phiêu thấy Vũ Chính đề ra nhiệm vụ, quyền hạn A10 quá to. Phiêu xoá đoạn ” theo dõi lực lượng cấp tiến trong và ngoài quân đội”. Chính về viết lại thành 1 bản chính theo nội dung Phiêu đã sửa kèm theo phụ lục hướng dẫn lại để nguyên không sửa. Chính đưa cho Ngân thông qua . Ngân đem bản chính không xem phụ lục, Ngân ký chuyển cho Phiêu. Phiêu thấy Ngân ký rồi tưởng đã chữa theo ý Phiêu, Phiêu cũng không xem phụ lục, Phiêu ký. Trong văn bản đề chức danh là “Bí thư quân uỷ TW” chứ không đề thay mặt quân uỷ TW. Sau khi Phiêu ký, Chính thấy Phiêu sơ hở, sai sót rồi, Chính đem văn bản đó giao cho LĐ Anh. Anh chớp lấy lên án là Phiêu lộng quyền , độc đoán , phạm nguyên tắc không qua tập thể Quân Uỷ TW. Từ đó quy ra tội như thế là Phiêu chủ trương theo dõi cán bộ cao cấp TW, cán bộ trong và ngoài quân đội. Như thế là theo dõi cả Bộ chính trị, mang ý định âm mưu lật đổ. Và đòi Ban chấp hành TW phải kỷ luật Phiêu, buộc Phiêu phải từ chức ngay.

Qua đấu tranh thẳng thắn, có 1 số ý kiến bảo vệ Phiêu, Phiêu chỉ sơ hở về hành chính, không phạm sai nguyên tắc. Phiêu chứng minh bằng lấy bản thảo mà Phiêu đã gạch bỏ đoạn theo dõi thượng cấp đến… mà do Chính không sửa khi ký vào bản chính thức. Chỉ có thiếu sót là không xem lại kỹ phụ lục kèm theo, không phải độc đoán mà có họp thường vụ đảng uỷ quân sự TW (Phiêu, Trà, Ngân) quyết định thành lập A10 (Lúc này Trà cứ ngồi im ậm ừ để 1 mình Phiêu thanh minh). Phiêu bình tĩnh: “Thưa anh sáu Nam -LĐ Anh – Nếu anh nói tôi lộng quyền thì việc lộng quyền ấy đã xảy ra từ năm 1995 khi anh đưa cục II lên thành TCII cho nó hoạt động quá phạm vi hoạt động cuả nó đấy! Nếu anh nói tôi nghi kỵ thì anh hãy nhớ lại khi anh lâm bệnh tai biến mạch máu não, anh không chịu uống thuốc, không dám ăn. Chị khóc lóc sợ anh chết, chị chạy sang nhà tôi, nhờ tôi động viên bảo anh ăn, uống thuốc. Vậy chính anh mới là người nghi kỵ nội bộ.. từ đó…

Ngày đó không quật ngã được Phiêu về A10 thì đến ngày 6-2-2001 LĐ Anh dở thủ đoạn đểu cáng đổ cho Ngân cử người theo dõi cán bộ cao cấp trong đảng. Ngân thanh minh không có chỉ thị, văn bản nào giao nhiệm vụ đó.

Chị Mỹ, Chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra TW, kiểm tra toàn bộ hồ sơ, giấy tờ thành lập cũng như hoạt động của nhóm A10 đều không có dấu hiệu gì là theo dõi cán bộ cao cấp trong đảng như Anh vu khống. LĐ Anh đuối lý quay sang dùng thủ đoạn đê hèn hơn gán cho Phiêu là “Anh rỉ tai cán bộ phụ trách A10 theo dõi”. Phiêu phản bác lại… Trần Đức Lương ôm mộng sẽ được làm TBT (Như LĐAnh mớm) Lương trực tiếp chất vấn thiếu tướng cục trưởng bảo vệ an ninh “ Phiêu, Ngân có rủ đến anh không?” và đe doạ “nếu anh không nói tôi kỷ luật anh”. Trước hành động bỉ ổi của Lương thiếu tướng An phản bác vì sự thực không có. LĐ Anh đã dùng ngón cuối cùng là gọi Nguyễn Chí Vịnh làm chứng là Phiêu và Ngân có rỉ tai y. Chứng cứ như vậy Phiêu, Ngân thanh minh sao được. Thấy sự thực là chúng vu khống nên hội nghị bỏ ngỏ, cho qua không kết luận gì. Hội nghị TW 11a giải tán.

Sau Hội nghị TW 11a LĐ Anh phái Sơn thư ký riêng đến từng nhà cán bộ cao cấp lão thành từng là UV Bộ chính trị, UVTW, một số tướng lĩnh quân đội về hưu như Chu Huy Mân, Trần văn Quang, Nguyễn Thanh Bình, Hoàng Minh Thảo, Nguyễn Quyết, Tố Hữu, Đồng Sỹ Nguyên… Đến Nguyễn Đức Tâm, Sơn nêu tội Phiêu về vụ A10 và trao bản vạch tội Phiêu dài 6,7 trang để thuyết phục và nói các đ/c lão thành ủng hộ lật đổ Phiêu. Song tất cả đều khước từ và có đơn tố giác phản bác gửi đến Bộ chính trị và TBT.

Đồng thời sau hội nghị 11 a việc vu khống, đả kích của 3 vị cố vấn dùng lật đổ, đảo chính trong đảng trước hết là hạ bệ LK Phiêu lan ra khắp nước. Trong cán bộ lão thành cao cấp, nhiều nơi nhiều cá nhân, tập thể của chi bộ biên thư , kiến nghị dồn dập gửi về TW, BTL , Bộ chính trị, bảo vệ đoàn kết, bảo vệ TBT LK Phiêu, lên án cố vấn chủ yếu là LĐ Anh, đòi kỷ luật cố vấn thông báo cho toàn đảng biết không thể bỏ qua. Như vậy trải gần 1 tháng đến hội nghị Tw 11 b khai mạc vẫn tiếp tục đấu tranh.

+LĐ Anh tấn công Phiêu lần thứ 4.

LĐ Anh nêu vụ Phiêu đi thăm TQ đối thoại với Giang Trạch Dân là phạm tội bán đất , bán biển, là lộ bí mật chiến lược của đảng, là độc đoán. Đi về không báo cáo với Bộ chính trị, không cho Nguyễn Mạnh Cầm cùng dự họp là biểu hiện sự thậm thụt sao đó…

Sự thật vụ việc này là: Xuất phát từ phía TQ, GT Dân mời Phiêu sang thăm. Ta thăm dò ý của họ chỉ TBT gặp TBT? Họ trả lời mỗi bên 4 người: TBT, thư ký TBT, trưởng ban đối ngoại TW, chánh văn phòng TW. Ta cũng muốn nhân dịp này thăm dò thái độ của TQ đối với Mỹ, đối với CNXH. Kế hoạch đi thăm do ban đối ngoại TW làm, Mạnh Cầm thông qua… Khi vào phòng họp do sơ xuất Cầm bước vào phòng bị ngăn lại ngay vì không dúng thành phần quy định .

Nội dung bàn ta thoả hiệp chữa lại cột mốc biên giới ở vĩ tuyến… do TQ yêu cầu. Họ lập luận trước kia do công nhân đưa cột mốc không tới đỉnh núi đành bỏ lai sườn núi, bây giờ đưa cột mốc lên đỉnh núi.

Về biển : Hai bên đấu tranh cuối cùng đã đi đến thoả thuận xác định 3 vùng biển, ở ngoài khi Vịnh Bắc Bộ là vùng đánh cá chung của cả 2 bên.

Quan hệ với TQ ngày nay rất tế nhị. Ta ở cạnh một nước to, không thể căng với họ vì họ sát nách ta. Khi LĐ Anh phê là Cầm không được vào dự là thậm thụt ,Phiêu chứng minh kế hoạch đi hội đàm do Cầm thông qua, không dự vì không đúng thành phần do TQ quyết định. Khi họ nói độc đoán về không báo cáo Bộ chính trị, Phiêu chứng minh, có Khải làm chứng. Khải nói: “Lúc đó Phiêu có báo cáo Bộ chính trị”, Phiêu đem văn bản ngày 4 có báo cáo với Bộ chính trị, có LĐ Anh dự, ngày 28 mới đi (Cầm ngồi đó ậm ừ). Phiêu chứng minh khi về có báo ,giở văn bản ngày 1-5 Phiêu báo cáo trong phiên họp Bộ chính trị, tập văn bản có ghi; Phiêu chỉ thị cho Trần Đình Hoan triển khai (Hoan ngồi đó ậm ừ).

Đuối lý LĐ Anh lại quay sang phê bình Phiêu tại sao tranh chấp với TQ vùng biển đông lại không đưa ASEAN vào? Phiêu giải thích: “Khu Tư Chính tây Trường Sa là thuộc chủ quyền của ta, chỉ tranh chấp với TQ không dính gì đến ASEAN . Nếu thực hiện đa phương đưa ASEAN vào thì ta không còn chủ quyền 2 khu vực ấy. Nên vấn đề này chỉ có song phương, không đa phương, mà trong nguyên tắc đa phương có song phương…” Anh đuối lý. Anh tiếp tục quay sang chỉ trích và kết tội Phiêu làm lộ bí mật quốc gia. Tại sao lại cho GT Dân biết ta xác định Mỹ vẫn là đối tượng chiến lược (kẻ thù).

Vấn đề này thực chất như sau:

Khi Phiêu gặp Phi đen tại Cuba 2 bên thống nhất thế nào cũng phải giữ TQ lại, đừng để TQ vượt đà… Phi Đen nói: “GT Dân thì được, còn Chu Dung Cơ chưa rõ… cần theo dõi xem sao …” Chu Dung Cơ khi sang thăm ta, ngồi trên chuyến chuyên cơ có bộc lộ với ta “năm 1997 đã cho ta là sai” ta cũng không muốn TQ thoả hiệp với Mỹ nên nhân chuyến đi này xem TQ xác định đối tượng chiến lược như thế nào.

Qua đàm đạo GT Dân nói: “Mỹ chiả 2 tay tôi phải chiả 2 tay, phải cảnh giác, phải nắm chắc LLVT”. Rồi Dân rỉ tai Phiêu. “Mỹ là đối tượng chiến lược của TQ, không phải là đối tác”. Do đó Phiêu mới nói: “Chúng tôi vẫn coi Mỹ là kẻ thù”. Chứ không phải cố ý làm lộ bí mật quốc gia gì cả. Các cố vấn im.

Họ quay sang tấn công đòn thứ 5 mạnh hơn.

LĐ Anh, Đỗ Mười xúm nhau tố Phiêu quan hệ với gái gián điệp, tình báo Mỹ khi đi công tác sang Châu Âu, thị Hà, thị Dung và 1 phụ nữ khác nữa đồn là tình báo của Mỹ và nước ngoài. Đỗ mười đưa bức ảnh ghép Phiêu và Hà, 1 bức Phiêu ngồi cạnh thị Dung ở Pháp để làm chứng.

+Sự thực về Phiêu quan hệ với thị Hà như thế nào? Ra sao?

Thị Hà là con gái của Đặng Kinh ở Hải Phòng, trong chiến tranh Kinh là thủ trưởng của Phiêu. Trong chiến dịch tiến công vào thành cổ Quảng Trị khi địch oanh tạc vào vị trí của Kinh thì Phiêu lấy thân mình che chắn cho Kinh. Từ đó gia đình Kinh gắn bó với Phiêu. Thị Hà và Phiêu có cảm tình, dan díu… Nhưng khi Phiêu về Tổng cục chính trị, vào Ban Chấp Hành TW có đưa vấn đề này ra kiểm điểm. Phiêu đã cắt quan hệ, các cố vấn, cơ quan quân sự (có lẽ là cục II ) ghép ảnh Phiêu với Hà rồi đưa cho Vợ Phiêu xem để kích động ( thật bỉ ổi !) rồi đưa ra hội nghị TW vu khống Phiêu. Nhưng thị Hà thời kỳ Phiêu làm TBT, Hà vẫn rêu rao khoe khoang TBT Phiêu vẫn còn quan hệ yêu đương với cô ta. Phiêu đành chịu. Sự việc gác lại đó. Nhưng Hà đâu có phải là gián điệp.

Thị Dung là nhân viên 1 tổ chức kinh tế, đơn vị cử đi trong phái đoàn Phiêu sang Châu Âu. Trong lúc đang hội đàm tại Pháp, có cả đoàn ta, đoàn quốc tế, có Dung đi cùng. Cố vấn sử dụng (TC II) in ảnh bôi lem mặt những người xung quanh chỉ còn lộ ra hình Phiêu và Dung. Họ đưa ra trước hội nghị TW (quá bỉ ổi!) để chứng minh Phiêu ra nước ngoài lén lút quan hệ với gái gián điệp. Lúc đó Nguyễn Mạnh Cầm không còn nén được nữa bật đứng lên phản bác: “Hôm đó có tôi ở sau lưng anh Phiêu, tại sao xoá mặt tôi đi”. Thế là thủ đoạn vu khống bị lật tẩy hoàn toàn.
Chưa dừng ! Nguy hiểm hơn. Họ lại quay sang tấn công đòn thứ 6.

LĐ Anh, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt (Xuất chiêu đủ 3) LĐ Anh, Đỗ Mười cho rằng Phiêu trực tiếp đàm thoại với Clin-Tơn như vậy là quá cứng rắn, quan hệ với Mỹ sẽ khó khăn… VV Kiệt phát biểu với giọng thống thiết “Đ/ c Phiêu làm như vậy thì công lao chúng tôi đặt quan hệ với Mỹ lâu nay (mở cấm vận, quan hệ bình thường, các nước của Mỹ đầu tư, cho vay) coi như công dã tràng xe cát? Rồi đây sẽ hạn chế đầu tư, cho vay, công cuộc xây dựng kinh tế, Công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ khó khăn (luận điệu này đương nhiên đã tác động tâm lý nhiều người đâm lo, có sức thuyết phục rộng rãi các nghành, các cấp làm kinh tế… thật là nguy hiểm và nguy hại nếu đảng ta không kịp thời đấu tranh)”.

Còn Đỗ Mười, Trần Xuân Giá hùa vào phê phán quyết liệt LK Phiêu, lên án tiếp tội lỗi của LK Phiêu làm trì hoãn ký kết hiệp định thương mại. Cố tình gây cản trở Mỹ và các nước mở rộng đầu tư.

+Hai sự kiện hư thực, đúng sai như thế nào?

1.- Việc tiếp xúc với Clin-Tơn TT Mỹ.

Khi Clin-Tơn tiếp xúc và nói chuyện với giáo viên, sinh viên tại trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội với giọng trịch thượng, tiếp xúc với 1 số nơi nhằm xoá nhoà tội ác, đánh đồng ta như Mỹ. Chính Phiêu muốn tỏ cho Clin Tơn biết rằng: “Lịch sử là không thể phủ định, không thể xoá nhoà, không thể đánh đồng người bị xâm lược với kẻ đi xâm lược, lên án Mỹ chia cắt nước ta, gây chiến tranh xâm lược ta chứ không phải nhân dân ta gây chiến”, Làm cho Clin Tơn không được chơi trội, gây mơ hồ ảo tưởng… nội dung ứng xử của Phiêu đã được cán bộ, đảng viên nhất trí, các cụ hưu trí và nhân dân rất hoan nghênh, đồng tình, hả dạ. Tại sao 3 cố vấn và Giá lại buồn, lại lo và phê phán?

2.- Vấn đề ký hiệp định thương mại Việt Mỹ.

Ban đầu Mỹ tự thảo bằng tiếng Anh hoàn toàn. Nguyễn Tấn Dũng và Mạnh Cầm ở lại Mỹ vội ký tắt rồi mang về báo cáo với Phiêu và ngày 27-7-1999 (Sau này ta mới biết lúc ấy Cầm và Dũng xin cho con học ở Mỹ, được Mỹ nhận cấp học bổng). Phiêu ngầm đưa cho các trí thức chuyên gia kinh tế tham khảo và hỏi ý kiến anh Giáp vì trong văn bản có 40 điều hoàn toàn có lợi cho Mỹ, bất lợi cho ta. Phiêu đưa Bộ chính trị, đa số đồng ý hoãn – chưa ký.

Ngày 1-4-1999 LĐ Anh thúc ép Phiêu, bảo Phiêu phải cho ký. Phiêu bảo phải chờ ý kiến tập thể Bộ Chính Trị. LĐ Anh hùng hổ nói ” ù có tập thể cũng phải ký”. Phiêu bực mình đáp “Anh nói như vậy là vô nguyên tắc”. Trong khi họp BCT để bàn thì chỉ có Tấn Dũng (Phó Thủ Tướng) và Cầm có ý kiến phải ký. Phan Diễn ngập ngừng. Phiêu gạn hỏi Diễn “Anh đồng ý ký hay không.” Diễn ấp úng: “ờ, ờ thì ký.” (Sau này ta mới biết con trai Lê Đức Anh được Mỹ cấp học bổng du học tại Mỹ)’

Sau đó ta buộc Mỹ phải xuống thang, chịu sửa lại 1 số điều khoản bất lợi cho ta, ta mới ký bằng cách ta gợi ý cho tổng thống Pháp Chiracs mời cho ta gặp Mỹ tại Pháp trong chuyến công cán Châu Âu. Phiêu gặp Clin Tơn qua hội đàm ta hé mở ý tứ mập mờ cho Clin Tơn ngầm hiểu ” Nếu Mỹ không chơi với ta thì ta chơi với EU, Nhật, TQ. Từ đó Mỹ sửa và ta chịu ký.

Trong Bộ Chính Trị thừa nhận việc ta hoãn ký hiệp định TM Việt-Mỹ , ứng xử với Clin Tơn là đúng. Nhưng khi cố vấn đưa ra hội nghị 11b phê phán, quy tội cho Phiêu thì tất cả BCT ngồi đó làm thinh để một mình Phiêu đối đáp tại sao?). Chứng tỏ ban cố vấn có liên quan thao túng Bộ Chính Trị.

Chưa thôi! Họ tập trung vơ vét ra đòn thứ 7.

Họ quay sang phê phán Phiêu tại sao sử dụng Nguyễn Chí Trung làm thư ký riêng. Họ vu khống là lý lịch Trung không rõ, nào là thành phần trên, gia đình thuộc lớp trên, quan hệ chính trị xấu (trước kia) nhưng không phải vậy.

Đến khi chị Mỹ phát biểu tổng hợp và kết luận 3 vụ đều là vu khống hiểm độc của ban cố vấn. Chị Mỹ chất vấn: “Những vấn đề các cố vấn đưa ra là gốc ở đâu? Vấn đề A10, vấn đề TQ, vấn đề quan hệ với gái gián điệp chả phải là vấn đề gì cả. Chị Mỹ cho là vu khống.

Họ lại quay sang vu khống chị Mỹ (Chủ Nhiệm Uỷ Ban Kiểm Tra TW). LĐ Anh trực tiếp tố cáo chị Mỹ là ăn hối lộ với Lê Minh Hương. Đ/c M Hương vặn lại: “Anh nói chắc không?” LĐ Anh nói chắc, giả đò về lấy sổ tay ra có ghi mấy dòng để chứng minh. Hương báo với Phiêu. Phiêu cử người đi xác minh là không có. Hỏi lại Anh. Anh từ chối là không có tố cho chị Mỹ . Hương nói: “Chính anh báo với tôi mà! Anh Anh?”
Những vấn đề khác như đề bạt Lê Hải Anh, vấn đề Xiêm Riệp, địa phương chủ nghĩa đều là chuyện vụn vặt, hội nghị không ai bàn đến làm gì.

Cuối cùng hội nghị 11a, 11b đều không có cơ sở, lý do gì để kết tội, thi hành kỷ luật đối với LK Phiêu.

Phiêu còn 2 việc tồn đọng khó thanh minh.

1 là vụ rỉ tai Vịnh, 2 là việc quan hệ với Hà.

Nhưng còn nhiều vấn đề đối với mấy ông cố vấn mà chưa nói được hết. Ví như: 
1.- Vấn đề lịch sử chính trị của Lê Đức Anh: Cho con đi học ở Mỹ. Trước đây Anh đồng ý 1 bộ phận chuyên môn của Mỹ ở lại bệnh viện 108 để nghiên cứu (Đoàn Khuê và LK Phiêu bác bỏ).

Tình hình bạo loạn ở Tây Nguyên thì Anh nói là chuyện trẻ con, chúng nó làm gì lấy được Tây Nguyên. Phiêu lại nói: “Đó là vụ bạo loạn chính trị đằng sau là Mỹ – dẹp ngay”.

LĐ Anh nhận tiền Đặng Đình Loan (Phần tử xấu) tên Bích (Phần tử yếu kém bên bộ công an), tên Tư Không ở tp HCM (cũng loại xấu) đưa vào làm việc ở bộ phận thư ký của Phiêu bị Phiêu bác. Trước đây LĐAnh sử dụng và hậu đãi Trần Đình Hoan để y làm loa nói xấu anh Giáp. LĐAnh còn thuyết Ngô Hoàng thứ trưởng Giao Thông nhận thằng Hà là con trai của mình làm Vụ trưởng quốc tế dần dần vào TW. Hoàng xin ý kiến Phiêu, Phiêu bác (LĐAnh giận lắm). Sau đó LĐAnh đề nghị đưa Hà lên phó Giám Đốc Đại Học Bách Khoa, Phiêu nói không được.

LĐ Anh đưa toàn bộ phần tử xấu vào cương vị trọng yếu trong tổ chức đảng và nhà nước, còn ép đưa 1 số kém vào TW. Khi Anh đòi đưa Kiên (Tư Lệnh Quân Khu 7 ra thay Trà, Phiêu không đồng ý. Anh lại giữ Trà ở lại Bộ trưởng Quốc Phòng. Anh phê bình Phiêu là không tình nghĩa với Trà (Phiêu định đổi người khác thay Trà). LĐ Anh không từ ngõ ngách nào đều vu khống, moi móc nói xấu vấy lỗi cho đ/c LK Phiêu.
Còn việc con trai LĐ Anh do Mỹ nuôi học bên đó bây giờ ta mới biết! và LĐ Anh kết nạp đảng năm nào, ngày nào, ai giới thiệu, ở đâu? Lại có tuổi đảng 60 (nghe nói có cụ đã ra tận Bộ chính trị TW tố cáo Anh).

2.- Còn Đỗ Mười tại Hà Nội có ông bạn thân thiết hỏi tại sao vừa rồi anh làm như vậy (Vu khống lật đổ Phiêu) Mười trả lời: “Nó lật tôi, tôi lật lại” (Một câu trả lời “tuyệt hay” của vị nguyên TBT, nguyên cố vấn BCHTW. khó có câu nói nào ngắn chỉ 6 từ mà lột tả được đúng, chính xác cả khẩu khí và bản chất thực cuả Đỗ Mười, đồng thời cũng là khái quát bản chất, khẩu khí thực của đại đa số những vị có chức có quyền trong ĐCSVN hiện nay như vậy) Rồi Mười lại trách: “Bấy lâu nay vợ chồng Phan Văn Khải đến thăm tôi chứ Phiêu nó có đến thăm tôi bao giờ đâu”. (Khi Phiêu xử lý Ngô Xuân Lộc Mười phản đối vì Lộc ân tình với Mười, do Mười cất nhắc lên. Chính Mười cắm Phạm Thế Duyệt vào Bộ chính trị, sau khi thôi Bí thư thành uỷ Hà Nội lại làm thường trực Bộ chính trị…

+Hội Nghị Ban Chấp Hành TƯ lần thứ 12.

Khai mạc gồm 165 đoàn đại biểu (ta hy vọng các đoàn đại biểu địa phương lên sẽ thay đổi cục diện. LK Phiêu sẽ được đa số ủng hộ tái cử. LK Phiêu chưa tuyên bố rút thì Trần Xuân Giá đã phê phán Phiêu quyết liệt về hoãn ký hiệp định thương mại và cứng rắn với Clin Tơn… Khi được các nước đầu tư để phát triển kinh tế (đã làm lung lạc các đại biểu về dự dại hội). Tiếp đến Mai Thúc Lân lên gân sỉ vả LK Phiêu: “Anh là đồ lật lọng. Tại sao trước đây anh nói rút lui… bây giờ lại không rút tên trong danh sách…”. (Trước hội nghị TW 12 Anh mời Lân đến dùng cơm thân mật và Anh nói với Lân: “Lần này anh sẽ vào Bộ chính trị và làm chủ tịch Quốc Hội”. Lân hí hửng quay sang chống Phiêu).

Khi vào chương trình ứng cử vào Bộ chính trị TW trong 165 đoàn đại biểu thì có 155 đoàn giới thiệu LK Phiêu. Song lấy phiếu thăm dò cá nhân (sự thật họ làm sao không rõ do Phạm Thế Duyệt chủ trì) họ công bố chỉ có 155 đại biểu (trên tổng số hơn 1000) giới thiệu LK Phiêu? Đến lúc này Phiêu tự thấy nếu bầu cử trúng vào TW cũng thấp, vào Ban Bí thư, Bộ chính trị càng khó. Nếu trúng khó làm nên Phiêu rút ra cho an. Bằng uỷ nhiệm cho Đ/c Phan Văn Khải thông báo Phiêu rút khỏi danh sách đề cử.

Đến giai đoạn bầu TBT. Danh sách dự kiến đưa ra: Trần Đức Lương, Nông Đức Mạnh.

Nguyễn Minh Triết phản đối Trần Đức Lương. Triết nói: “ở miền Nam, miền Trung không ai tín nhiệm anh Lương đâu”. (Gần đây vợ chồng Lương sửa lại nhà ở trên 1 tỷ, còn chuyện gì nữa mà Triết chỉ trích Lương ta không rõ).

Thế là chỉ còn lại 1 mình Nông Đức Mạnh. Mạnh từ đầu chí cuối luôn từ chối vì trình độ năng lực. Nhưng khi Mạnh tham khảo ý kiến 1 số đ/c lão thành trung kiên thì các đ/c ấy khuyên Mạnh: ” Nếu tình huống xấu thì anh phải đứng ra nhận”. Mạnh mới nhận đề cử vào cương vị TBT.

Thế là mưu đồ đảo chính Phiêu thành công, ban cố vấn, đồng thời ghế cố vấn của các vị cũng bị xoá bỏ. Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt bị lực lượng quần chúng chỉ trích, cố xin lỗi theo kiểu đỡ đòn xuê xoa. Còn LĐ Anh nói tôi làm vậy là để tự kiêu binh, LĐAnh còn rất ngoan cố. Kiệt tuy buông lời xoa dịu nhưng còn biểu lộ ý đồ xấu xa, Kiệt nói: ” Tôi còn đi xa hơn nữa…?”

Đến đây ta có thể tạm kết luận:

Rõ ràng Bộ chính trị, BCHTW đều bị ban cố vấn vừa khống chế vừa thao túng, là do các cố vấn vừa lộng quyền vừa vô nguyên tắc và quá cá nhân. Bởi vì nhiều vấn đề Phiêu bị vu khống vô nguyên tắc. Nhiều người trong Bộ chính trị biết và thấy bị oan nhưng không dám đứng ra bênh vực, minh chứng cho Phiêu mà ngồi làm thinh như Phạm Văn Trà (vì có đến 5 toà nhà 3 bà Vợ) Quân đội không thích, bị kỷ luật khiển trách (đưa lên đài) thế mà vẫn cứ thừa nhận là đủ tư cách đại biểu bầu vào Tw!.

+Nguyên nhân sâu xa từ đâu?

-Đó là vấn đề đấu tranh giữa 2 quan điểm và 2 đường lối. Đỗ Mười thoả hiệp với Võ Văn Kiệt từ đầu.

-LĐ Anh lộng quyền muốn thống lĩnh quân đội , biến quân đội theo ý đồ riêng của mình, xích gần với Mỹ (bởi vì lịch sử chính trị của Anh còn mờ ám, không phải là đảng viên.
-Sau Võ Văn Kiệt là Trần Bạch Đằng có quan hệ rất phức tạp.

-Mỹ đang hô hào hỗ trợ muốn ta trượt nhanh vào cải cách tư nhân hoá. Ta hiện đang xoay nền kinh tế theo hướng đó. Thực tế là đang đẩy mạnh cổ phần hoá…Vấn đề đầu tư cho kinh tế quốc doanh trước đây gần 1 ngàn mấy trăm tỷ nay chỉ còn 96 tỷ thì còn làm ăn gì được nữa? Nền kinh tế của ta đang có nhiều cơ hội hội nhập và cũng đầy thử thách cam go.

+Kết Luận.

Phải chăng đánh đổi Lê Khả Phiêu là đánh đổi đường lối chính trị, tổ chức, đánh đổi ngọn cờ: Độc lập dân tộc và CNXH.

Đây là cuộc đấu tranh một còn một mất giữa 2 con đường XHCN & TBCN của đảng ta.

Bởi vì lực lượng hữu khuynh đang chiếm đa số trong đảng. Số tích cực, kiên định đường lối XHCN chỉ chiếm 1/3 trong Bộ chính trị, 1/3 trong TW, 1/3 dưới chi bộ và các cấp.

Nền nhà ta chưa vững chắc, tư tưởng chính trị chính thống của ta chưa kiên định, nền kinh tế thị trường luôn có 2 mặt.

Những sự kiện tóm lược trên đây là tình hình đã qua quá đau lòng và khó hiểu.

Ta mong rằng từ nay về sau và mãi , không xảy ra và thực hiện đúng di chúc Bác Hồ.

Tóm lược Xong đêm 21-7-2002

Nguyễn Chí Trung

 

Ban Tuyên giáo TW phổ biến tài liệu Hội nghị Thành Đô – RFA

14 Th10

 

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-10-13

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này

Tập tài liệu về Hội nghị Thành Đô do ban Tuyên giáo Trung ương đã được biên soạn và phân phát đến các đảng viên, cán bộ trong các cơ sở đảng

Tập tài liệu về Hội nghị Thành Đô do ban Tuyên giáo Trung ương đã được biên soạn và phân phát đến các đảng viên, cán bộ trong các cơ sở đảng

RFA files photo

 

Một tài liệu được nói là do Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam biên soạn về Cuộc gặp cấp cao tại Thành Đô năm 1990 mà nhiều người quan tâm trong nước gọi là Thỏa thuận Thành Đô đang được lưu hành xuống cơ sở đảng. Động thái này được thực hiện sau khi có một số kêu gọi của chính những vị cao cấp trong Đảng cũng như người quan tâm phải bạch hóa thỏa thuận đó. Những điều được Ban Tuyên giáo nêu ra trong tài liệu có đáp ứng được yêu cầu của những người từng có kiến nghị về việc này hay chưa? Gia Minh trình bày.

Kiến nghị bạch hóa

Vài tháng trước đây, một bản tin được loan truyền khá rộng rãi ở Việt Nam cho biết Tân Hoa Xã, cơ quan thông tấn chính thức của Trung Quốc, và tờ Hoàn Cầu ở Hoa Lục, có tiết lộ thông tin về Cuộc gặp cấp cao diễn ra vào hai ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 ở Thành Đô giữa những nhà lãnh đạo Trung Quốc và những người tương nhiệm Việt Nam.

Mặc dù đến giờ vẫn có những nghi vấn chưa trả lời được về tính chính xác của xuất xứ và nội dung quan trọng được nói là do hai cơ quan thông tấn Trung Quốc loan đi, nhưng theo một số người quan tâm ở Việt Nam thì nội dung đó như sau “Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên và cho Việt Nam thời gian 30 năm (1990-2020) để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc.

Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như TQ đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… Phía TQ đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên và cho VN thời gian 30 năm(1990-2020) để ĐCSVN giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc TQ

Tân Hoa Xã?

Trước thông tin như thế, vào ngày 20 tháng 7 vừa qua, thiếu tướng Lê Duy Mật, nguyên phó tư lệnh- tham mưu trưởng Quân khu 2 và tư lệnh mặt trận 1979-1984 (Hà Giang) có một thư kiến nghị gửi đến các cấp lãnh đạo đảng cộng sản hiện nay. Nội dung thư nêu lên thực tế Việt Nam lâu nay và trích lại điều được cho là phát xuất từ Tân Hoa Xã nêu ra để yêu cầu đảng phải công khai Thỏa hiệp Thành Đô.

Đến ngày 4 tháng 9, 20 cựu sĩ quan cao cấp trong Lực lượng Vũ trang Quân đội Nhân Dân Việt Nam cũng có một kiến nghị gửi cho chủ tịch nước và thủ tướng chính phủ trong đó có điểm tương tự là phải công khai cho người dân biết về những thỏa thuận nếu có đã ký kết giữa hai phía.

Nhóm những bloggers tại Việt Nam vừa qua khởi xướng phong trào mang tên ‘Chúng tôi muốn biết’ cho biết vào ngày 15 tháng 10 này đại diện của họ sẽ trao một văn bản ‘Yêu cầu Quốc hội Bạch Hóa Hội nghị Thành Đô’ đến Ban Dân Nguyện ở Hà Nội và Văn phòng Quốc hội 2 tại Sài Gòn.

Giải đáp của Ban Tuyên giáo?

Từ cuối tuần rồi, một tài liệu được phổ biến rộng rãi trên mạng, nói rằng Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có lời giải thích với các chi bộ về  Hội Nghị Thành Đô và những lời đồn thổi ngoài xã hội về cuộc họp cấp cao này.

Hình ảnh được cho là của Hội Nghị Thành Đô năm 1990
Hình ảnh được cho là của Hội Nghị Thành Đô năm 1990

Tài liệu được nói là xuất xứ từ Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đang được những người quan tâm phổ biến trên mạng Internet có ba đề mục. Hai đề mục đầu nói đến bối cảnh tình hình quốc tế của cuộc gặp và mục đích cuộc gặp. Mục thứ ba trình bày lại những diễn biến và kết quả cuộc gặp được nói nhằm bàn về quan hệ Việt Nam- Trung Quốc.

Tài liệu này bác bỏ ý của trích dẫn mà những người quan tâm nói rằng do Tân Hoa Xã và tờ Hoàn Cầu Thời Báo nêu ra, khẳng định không hề có cái gọi là ‘Việt Nam sẽ thành khu tự trị thuộc Trung Quốc giống như Nội Mông, Tân Cương và Quảng Tây vào năm 2020…

Tài liệu này bác bỏ ý của trích dẫn mà những người quan tâm nói rằng do Tân Hoa Xã và tờ Hoàn Cầu Thời Báo nêu ra,  khẳng định không hề có cái gọi là ‘Việt Nam sẽ thành khu tự trị thuộc Trung Quốc giống như Nội Mông, Tân Cương và Quảng Tây vào năm 2020…’ như điều được phổ biến trên một số trang mạng và blog, gọi đó là một ‘luận điệu bịa đặt với ý đồ kích động, gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và trong các tầng lớp nhân dân’.

Đòi hỏi mới

Đại tá Bùi Văn Bồng, một trong 20 cựu sĩ quan cao cấp ký tên vào kiến nghị hồi ngày 4 tháng 9 có phát biểu sau khi biết tin về việc lưu hành tài liệu của Ban Tuyên Giáo Trung ương về Cuộc gặp cấp cao Việt- Trung tại Thành Đô hồi năm 1990:

Tân Hoa Xã và Hoàn Cầu đưa tin như thế thì phải đập lại ngay là không có sự việc đó. Ý đồ gì mà Trung Quốc đưa tin như thế. Theo tôi không có căn cứ gì để tin hay không tin; thế nhưng khi một tờ báo nước ngoài nói những điều bất lợi cho chủ quyền dân tộc và lại cũng bất lợi cho cả đảng cộng sản Việt Nam, nhà nước Việt Nam trong những việc lớn như thế không còn là thông tin nội bộ nữa.

Lẽ ra khi có thư ngỏ của các cựu chiến binh, nhất là khi có thư của thiếu tướng Lê Duy Mật, theo tôi thì báo Nhân dân, hoặc Quân đội Nhân dân hoặc Thông tấn xã phải có ý kiến ngay. Ở đây không làm được việc đó thì tính chiến đấu và kịp thời của báo chí chính thống là chậm, không đạt yêu cầu.

Tất cả nằm trong tay những người của đảng cộng sản và họ tự quyết lấy. ngay quốc hội mà không biết được nữa là nhân dân! Những hiệp ước bí mật của đảng cộng sản với Trung Quốc và Liên Xô cũng như các chính sách khác, nhân dân hoàn toàn không được biết

Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa

Sự thật đến đâu, ‘Thành Đô’ bàn những vấn đề gì, và không có bàn đến chuyện đó mà báo Trung Quốc bịa. Thế thì có gì khó đâu! Mà mình càng im lặng, cứ giải quyết nội bộ, trở thành một mô- típ rồi: chuyện gì lớn nhỏ đều cứ thích giải quyết nội bộ trước. Theo tôi chuyện này có gì mà giải quyết nội bộ, cứ công khai hóa mà phản bác lại họ. Như thế theo tôi nhân dân sẽ tin hơn và bớt dư luận phức tạp. Còn cứ lẩn quẩn nội bộ, thòi tin chỗ này, thông tin chỗ khác, rồi đưa chỗ này tí, chỗ kia tí thì chả có lợi gì về mặt dư luận mà đồng thời người ta lại cho đảng và Nhà nước không muốn minh bạch hóa.

Cựu tù nhân lương tâm nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa nhắc lại cách hành xử lâu nay của đảng và nhà cầm quyền Hà Nội; tuy nhiên trước sự phát triển của tinh thần dân chủ thì cách thức bưng bít thông tin sẽ không còn hiệu quả nữa. Ông nói:

Từ khi đảng cộng sản lãnh đạo đất nước bằng những cách theo kiểu của họ thì nhân dân có được biết gì đâu. Chính sách, chủ trương của họ hoàn toàn bí mật. Từ những năm 64-65 lúc thì ngả về Trung Quốc, lúc thì ngả về Nga. Toàn mấy ông trong Bộ Chính Trị, thậm chí mấy ông có ‘giá trị’ trong Bộ Chính Trị họ tự làm lấy đấy chứ. Quốc hội cũng chỉ là bù nhìn thôi, họ lập ra cho có gọi là quốc hội thôi chứ quốc hội cũng không biết. Tất cả nằm trong tay những người của đảng cộng sản và họ tự quyết lấy. ngay quốc hội mà không biết được nữa là nhân dân! Những hiệp ước bí mật của đảng cộng sản với Trung Quốc và Liên Xô cũng như các chính sách khác, nhân dân hoàn toàn không được biết.

Thời gian gần đây do phong trào dân chủ trong nước thì anh em, một số trí thức, một số quân nhân đòi hỏi nên chúng ta được biết phần nào ngọn của tảng băng thôi, còn khúc chìm chúng ta không thể biết được.

Theo tôi nghĩ, dần dần đảng cộng sản phải minh bạch hóa, và nhân dân phải có quyền được biết những chính sách.

Cũng trong tuần qua hai tác giả tại Paris, Pháp là Chu Chi Nam và Vũ Văn Lâm có một bài viết trình bày lại tình hình thế giới cộng sản quốc tế, Việt Nam và Trung Cộng trước khi diễn ra Hội nghị Thành Đô. Bài viết cũng phân tích thực tế về những diễn tiến đã và đang xảy ra để chứng minh cho thấy có một thỏa thuận được lãnh đạo hai phía ký kết và Việt Nam đang gánh phần thua thiệt rất lớn.

Đối với những người đang yêu cầu đảng và chính phủ bạch hóa Thỏa thuận Thành Đô thì cần phải thực hiện nguyên tắc mà Hà Nội luôn luôn nói là “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra…” Theo họ thì trong vai trò những người dân làm chủ đất nước, họ có quyền yêu cầu các đại biểu quốc hội phải bạch hóa một cách đầy đủ và chính xác toàn bộ nội dung của Hội nghị Thành Đô.

 

VỀ HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ – BS

11 Th10

 

Posted by adminbasam on 11/10/2014

Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

10-10-2014

Từ khi xẩy ra Hội nghị Thành Đô vào ngày 3 và 4/tháng 9/năm 1990 tới nay, cộng sản Việt Nam không ngừng dâng đất, nhượng biển và qụy lụy Trung cộng. Từ đó có người cho rằng đây là một hội nghị bán nước. Có phải thế không ? Chúng ta cùng nhau xem xét vấn đề.

I) Tình hình thế giới cộng sản trước Hội nghị Thành đô

– Tình hình tại Liên sô

Tình hình Liên sô trước Hội nghi Thành đô 1990 là một tình hình: kinh tế thì đổ nát, chính trị thì không những dân, mà chính giới lãnh đạo, từ dưới lên trên, phần lớn hết tin tưởng vào chính quyền, vào đảng Cộng sản. Bắt đầu bằng Brejnev, Tổng bí thư, trước khi chết, đã phải than lên: « Xã hội chủ nghĩa gì mà 1/3 xe chạy ngoài đường là ăn cắp săng của công, 1/3 bằng cấp là bằng cấp giả, công chức đến sở làm việc là đến cho có mặt, sau đó thì đi coi hát hay làm việc riêng. » Thêm vào đó, khi Brejnev chết, hai ông già lên thay, vừa bệnh hoạn, vừa chết sớm, Andropov, cầm quyền từ 1983 tới 1984, Tchernenko, lên thay, nhưng chỉ mấy tháng sau thì bệnh nặng, không thể cầm quyền, thực quyền ở trong tay Gorbatchev, cho tới khi Tchernenko chết, Gorbatchev lên ngôi chính thức vào năm 1985.

Gorbatchev nhận một gia tài cộng sản đổ nát, muốn cải tổ, tuy nhiên lúc đầu ông còn thận trọng, chỉ dùng những biện pháp nhỏ, như đưa ra những đạo luật xử phạt mạnh tham nhũng hối lộ, cấm dân nghiện rượu, cấm công chức bỏ giờ làm việc, và đồng thời cho xe đi hốt những người dân chán nản, thất vọng, uống rượu nằm đầy đường, bắt những công chức trong giờ làm việc mà lại có mặt ở những tiệm rượu hay những nhà hát. Nhưng những biện pháp này không đi đến đâu, tham nhũng hối lộ vẫn lan tràn, dân vẫn mất tin tưởng, vẫn uống rượu, không có rượu thì pha chế với alcool để uống, kinh tế vẫn đình trệ. Thêm vào đó, những quốc gia bị Nga hoàng và Lénine sát nhập vào Nga, bắt đầu nổi lên đòi tự trị. Đấy là chưa nói đến những vùng bị đe dọa bởi nạn đói. Đến nỗi Gorbatchev, sợ phải than lên:« Tiếng kêu của song chảo, nồi niêu còn ghê sợ hơn tiếng súng đại bác và xe tăng. »

Người xưa có nói: « Họa vô đơn chí. Phúc bất trùng lai « (Tai họa không đến một lần. Phúc không trở lại lần thứ hai). Tình trạng quốc gia xã hội thì đã như vậy, đùng một cái, ngày 25/4/1986, nhà máy nguyên tử Tcherbobyl bị nổ. Đây là nhà máy được Liên sô xây vào năm 1977, khánh thành năm 1983, tại phía bắc thủ đô Kiev của nước Ukraine ngày hôm nay. Nhà máy nguyên tử này nổ ra mới cho dân và thế giới thấy tình trạng tồi tệ của nước Liên sô về hạ tầng cơ sở. Để chữa cháy, ngăn cản phóng xạ thoát ra ngoài, người lính không có một bộ đồ mặc chống phóng xạ, họ phải dùng những chiếc áo mưa. Lúc đầu, cơ quan cấp dưới còn dấu diếm, nhưng sau không thể, phải báo cáo lên cấp trên, tới Gorbatchev.

Từ lúc này Gorbatchev mới thấy không thể dùng những biện pháp cải tổ nhỏ, mà phải cải tổ sâu rộng, nên đã đưa ra :

– Chính sách Trong sáng ( Glasnost ), cấm cơ quan cấp dưới che dấu sự thật, phải làm những bản tường trình trong sáng, nói lên sự thật.

– Chính sách tái cấu trúc ( Pérestroika), để được như vậy, thì phải tái cấu trúc guồng máy quốc gia, cách chức những công chức tham nhũng hối lộ, bất tài, dựa vào con ông cháu cha mà được lên chức, từ từ thực hiện bầu cử tự do, cho phép đối lập hoạt động, báo chí được quyền nói lên sự thật.

Có người tố cáo Gorbatchev là người của CIA, Cơ quan tình báo Hoa kỳ, gài vào để làm sụp chế độ cộng sản. Thực ra không phải vậy. Không có một bằng cớ, một tài liệu nào chứng tỏ ông là người của CIA. Ông chỉ muốn cứu và cải tổ một chế độ không thể cải tổ được mà chỉ có thay thế; và con đường ông đi là con đường tất yếu của lịch sử, nếu muốn nghĩ đến dân, đến nước, nếu muốn theo kịp đà tiến bộ của nhân loại.

Thực vậy, căn nhà xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên một nền móng sai lầm là lý thuyết Mác Lê. Marx chủ trương bãi bỏ quyền tư hữu, đấu tranh giai cấp. Bãi bỏ quyền tư hữu có nghĩa là bãi bỏ một nguyên động lực chính thúc đẩy con người làm việc, đưa xã hội cộng sản lâm vào cảnh « Cha chung không ai khóc. Nhà chung không người chăm sóc. Ruộng chung không ai cày. » Người dân đến hợp tác xã là để có mặt, làm việc cho lấy có, mang tâm trạng « Ta làm việc nhiều cũng chỉ lãnh lương như người làm ít hay không làm. » Đã từ lâu, những máy cày, xe cộ của hợp tác xã, bị bỏ mục nát ở ngoài đồng. Số khoai lang đào được, 1/3 để hư thối ở ngoài đồng, 1/3 hư thối vì chuyên chở và bảo trì không cẩn thận ở trong kho.

Ông Jegor Gaida, người đã từng làm Thủ tướng, kiêm Bộ trưởng bộ kinh tế thời Tổng thống Boris Eltsine, thì cho rằng sở dĩ có sự sụp đổ của Liên sô là vì khí đốt và dầu hỏa, trong một quyển sách ông viết sau khi không còn tại chức. Theo ông, vào những năm 70, giá khí đốt và dầu hỏa tăng, Liên sô là quốc gia xuất cảng 2 thứ này, nên nguồn thâu nhập tăng. Chính vì vậy mà suốt thời Brejnev làm Tổng bí thư từ năm 1964 tới năm 1983, Liên sô không những chạy đua vũ khí với Hoa kỳ, làm ông chủ thầu, đặt vũ khí ở những nước đàn em, như Ba lan thì sản xuất tàu thủy, Đông Đức thì sản xuất xe tăng, Tiệp khắc thì sản xuất súng AK47 v.v… Nhưng đến những năm 80, thì giá khí đốt và dầu bắt đầu giảm, khiến phần thu nhập của Liên sô cũng giảm, lôi theo các nước đàn em.

Phần nhận xét này của ông Gaida không phải là không đúng, nhưng nó chỉ là một phần và có tính cách ngắn hạn. Một đế quốc, một triều đại sụp đổ tất nhiên là đến từ nhiều nguyên nhân: nguyên nhân gần, nguyên nhân xa, nguyên nhân trung hạn, nguyên nhân thật xa.

Nguyên nhân sụp đổ thật xa của của Liên sô bắt đầu từ nền tảng triết học của Marx, như trên đã nói là chủ trương bãi bỏ quyền tư hữu.

Nguyên nhân trung hạn đó là tư tưởng của Lénine lập nên nhà nước độc đảng, độc tài, áp dụng lý thuyết không tưởng của Marx, trong những đợt đánh tư bản mại sản, giết chết hết giai tầng trung lưu.

Chính Boris Eltsine, đã từng là người cộng sản, Uỷ viên Bộ Chính trị, phải than lên khi ông làm Tổng thống xứ Nga: « Nước Nga đã không còn giai tầng trung lưu, giai tầng năng động và là xương sống của xã hội. Đâu còn những con người tháo vát, chỉ cần tay cầm một con dao lớn, đi vào rừng, rồi tạo nên tất cả, nhà để ở, ruộng để cấy lúa, đất để trồng trọt, không những nuôi sống thân mình, gia đình mình, mà còn những gia đình khác. »

Ngoài ra còn nhiều những nguyên nhân khác, như Chiến tranh lạnh, Hoa kỳ nhằm đánh cộng sản, dụ Liên sô vào một cuộc chạy đua vũ trang, lâm vào cảnh kẻ nghèo thi đua tiêu tiền với kẻ giàu.

Từ đó mang lại những nguyên nhân gần, tham nhũng, hối lộ, dân mất hết tin tưởng vào Đảng Cộng sản và chính quyền, trước cuộc sống khó khăn, càng ngày càng bế tắc, dân sinh ra nghiện rượu.

Thế giới trước năm 1990 còn bị đè nặng dưới áp lực của Chiến tranh lạnh, gồm 2 khối : Khối cộng sản lãnh đạo bởi Liên sô, mặc dầu có sự tranh quyền của Trung cộng, Khối tư bản dưới sự lãnh đạo của Hoa kỳ. Vì vậy tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của Liên sô có ảnh hưởng trực tiếp không những đối với những nước cộng sản, mà còn đến cả thế giới.

Trong khuôn khổ bài này tôi chỉ xin nói về ảnh hưởng của Liên số đối với Việt Nam, Trung cộng và tất nhiên ảnh hưởng đến Hội Nghị Thành đô 1990.

II) Tình hình Việt nam sau khi Lê Duẫn chết vào tháng 7/1986, trước Hội nghị Thành đô

Có thể nói Lê Duẫn là người cuồng tín theo Liên sô, đúng hơn là theo Brejnev, tự biến Việt Nam thành một con chốt trong bàn cờ tranh hùng tư bản – cộng sản, theo kế hoặch của Brejnev.

Brejnev lên chức Tổng bí thư năm 1964, sau khi hạ bệ Khrouschev, ông này bị chỉ trích là đã mềm yếu trước tư bản vì cho rằng « Tư bản mạnh « chủ trương chính sách hòa hoãn với tư bản, quay về sửa sai chế độ cộng sản. Chính vì vậy mà khi lên ngôi Tổng bí thư năm 1953, chỉ ba năm sau, 1956, Khrouschev tố cáo chính sách tôn thờ cá nhân của Staline, bắt tay với Hoa kỳ, chính sách « Chung sống hòa bình «, « Nguyên tử phục vụ hòa bình«.

Brejnev hoàn toàn chủ trương ngược lại, cho rằng khối cộng sản không yếu như người ta tưởng, khối tư bản không mạnh như người ta nghĩ, mà ngược lại. Vì vậy ông chủ trương quên đi những khó khăn nội bộ, đẩy mạnh cuộc chiến chống tư bản, sau khi chiến thắng tư bản trên toàn thế giới, lúc đó trở về sửa sai cũng không muộn. Brejnev đã đưa ra một chiến lược gồm 2 kế sách: Thượng sách đẩy mạnh công cuộc chống tư bản ở mọi nơi trên thế giới, đưa đến chỗ tư bản phải sụp đổ tất yếu như lời dạy của Marx. Trung sách, nếu không thì chia đôi thế giới lấy trục Sài Gon, Phnom Penh, Bangkok, Kaboul, Moscou làm giới tuyến, bên này phía đông thuộc về công sản, bên kia phía tây thuộc về tư bản.

Chính sách của Brejnev có vẻ hấp dẫn, được đa số trong Trung ương đảng nghe theo, nên có việc hạ bệ Khrouschev vào năm 1964.

Brejnev dùng ba con chốt chính để thực hiện chiến lược của mình : Bên châu Mỹ, Phi châu thì dùng Cuba với Phidel Castro; bên Âu châu thì dùng Đông Đức; bên Á châu thì dùng Việt Nam. Lê Duẫn là con chốt trung thành bậc nhất của Brejnev

Brejnev sửa sọan thượng sách trong vòng 4 năm và bắt đầu tấn công tư bản, như ở Việt Nam chúng ta thấy có Tết Mậu thân 1968, ở Âu châu và ngay ở Mỹ châu có « Phong trào Hòa bình «, những cuộc biểu tình phản chiến, sinh viên xuống đường, đứng đằng sau là những đảng cộng sản, những trí thức thân tả, bên Phi châu thì có những cuộc đảo chính thân cộng sản như ở Ethiopie v.v…

Quả thực lúc đầu có những kết quả ngoạn mục, thế giới tư bản, ngay cả tại Mỹ, có những cuộc biểu tình cả triệu người, thế giới tư bản quả thật bị rung rinh. Tuy nhiên đấy chỉ là kết quả có vẻ ngoạn mục lúc ban đầu, nhưng thế giới tư bản không sụp, mà ngược lại, ngân sách chi phí ra bên ngoài của Liên sô càng ngày càng tăng. Nói như một viên tướng Liên sô lúc bấy giờ:« Những thành quả gặt hái của Liên sô không làm tư bản lay chuyển, mà chỉ là những gánh nặng, những chương mục thêm để Liên sô gửi tiền giúp đỡ. »

Thêm vào đó tư bản, đứng đầu là Hoa kỳ, lại tìm cách khai thác tối đa sự bất đồng giữa Trung cộng và Liên sô. Nên có việc Nixon gặp Mao ở Bắc kinh, ra tuyên bố chung ở Thượng hải năm 1972.

Có người nói, thượng sách của Brejnev được thực hiện trong vòng 8 năm, từ năm 1964 tới 1972, thì chấm dứt, Brejnev phải quay ra thực hiện trung sách, chia đôi thế giới, giữ những gì mình đã gặt hái được.

Chính vì vậy mà có việc Liên sô gửi quân sang xâm chiếm A phú hãn, ký hiệp ước quân sự với Việt Nam và cộng sản Việt Nam gửi quân qua xâm chiếm Căm bốt năm 1978, để làm giới tuyến cộng sản tư bản Sài Gòn – Phnom Penh – Bangkok – Kaboul – Moscou như vừa nói ở trên.

Người khác lại cho rằng thượng sách được kết thúc vào năm 1975, thực ra là vào ngày 1/8/1975, ngày ký Hiệp ước Helsinski, chỉ sau khi quân đội cộng sản xua quân vào cưỡng chiếm miền Nam Việt nam khoảng 3 tháng.

Trong khi cộng sản Việt nam mù quáng vui mừng « chiến thắng » và còn có người u mê đến nỗi cho rằng trong tương lai sẽ « gửi quân sang giải phóng Hoa kỳ « , không biết gì đến tình hình thế giới và ngay cả tình hình khối cộng sản, thì Brejnev, một chỗ dựa « vững chắc « của Lê Duẫn, đã phải lùi bước, đi từ thế công sang thế thủ ở Hội nghị Helsinki, Phần Lan, họp vào cuối tháng 7, gồm các nước Âu châu cộng thêm Hoa kỳ và Gia nã đại. Ở Hội nghị này, Brejnev yêu cầu các nước Âu châu cộng với Hoa kỳ và Gia nã đại công nhận : 1) Biên giới sẵn có của Âu châu, nhất là giữa Liên sô, Ba lan và Đức, lấy sông Oder làm ranh giới, vì vào thời Đệ Nhị Thế Chiến, Staline đã chiếm một phần lãnh thổ của Ba lan, và bù lại thì lại lấy một phần lãnh thổ của Đức sát nhập vào Ba lan ; 2) Yêu cầu thế giới chấp nhận học thuyết Brejnev, theo đó, những nước dưới sự ảnh hưởng của Liên sô chỉ có độc lập giới hạn và Liên sô có quyền gửi quân đến những nước này nếu cần.

Ngược lại thế giới tự do yêu cầu Liên sô phải mở cửa kinh tế để buôn bán với các nước tự do, không thể phá sóng những đài tự do chuyển vào thế giới cộng sản, phải thả một số tù nhân lương tâm.

Khi tham dự và ký những điều khoản của Hiệp ước Helsinski, có một người tướng của Cơ quan Quân báo Liên sô cho rằng « Liên sô ký Hiệp ước này là đã để cho tư bản chọc thủng phòng tuyến của mình «. Điều nhận xét của viên tướng này cho tới ngày Liên sô sụp đổ, quả không sai.

Trở về tình hình cộng sản Việt nam, vẫn u mê với « Chiến thắng «, vẫn nghĩ rằng « Tư bản đang giãy chết «, « Cộng sản sẽ toàn thắng trên toàn thế giới «, họ vẫn ở kế thượng sách của chiến lược Brejnev, trong khi ông này đã phải lùi về kế trung sách. Chính vì vậy mà cộng sản Việt nam xua quân sang xâm chiếm Căm bốt năm 1978 và còn hăm he tiến đánh Thái lan. Tuy nhiên cả Liên sô và cộng sản Việt nam, một bên thì bị sa lầy ở Căm bốt, bên kia thì bị sa lầy ở A phú hãn.

Đấy là chưa nói đến sự kiện Hoa kỳ và Trung cộng xích lại gần nhau hơn. Đặng tiểu Bình đã trở lại chính quyền năm 1976 và 2 năm sau 1978 nắm thực quyền, đã vội vã sang thăm Hoa kỳ năm 1979, đóng vai một người Hoa Kỳ, đội mũ cao bồi, đi xem đua ngựa. Cùng năm 1979, thì xua quân vượt biên giới « Dạy cho Việt nam một bài học ».

Từ ngày Hội nghị Helsinski tới ngày Brejnev chết, tình hình thế giới cộng sản càng ngày càng xấu đi, tại quốc nội cũng như quốc ngoại.

Quốc nội thì nói chung các nước cộng sản, kinh tế càng ngày càng tồi tệ, dân bất mãn, bỏ nước ra đi như ở Việt nam, tại Liên sô thì dân sinh ra nghiện rượu; quốc ngoại thì xẩy ra tranh chấp Việt – Căm bốt, Việt – Hoa, Nga – Hoa. Tranh chấp Nga – Hoa trở nên cao độ. Hoa kỳ lợi dụng tình thế này để chia rẽ thế giới cộng sản.

Brejnev chết là một mất mát lớn với cộng sản Việt nam, đặc biệt là với Lê Duẫn, người tuân thủ bất cứ một mệnh lệnh gì và sẵn sàng làm con chốt thí thân cho chiến lược của ông này. Brejnev chết đi, tình hình Liên sô cũng không có gì sáng sủa, hai ông già lên thay, Andropov và Tchernenko, trong vòng 2 năm, cho tới khi Gorbatchev kế vị, rồi thế giới cộng sản Liên sô và Đông Âu sụp đổ. Trong thời gian này thì Lê Duẫn của Việt Nam vẫn cầm quyền cho tới tháng 7/1986.

Khi Lê Duẫn chết, người lên kế vị với chức vụ quyền Tổng bí thư là Trường Chinh, vì lúc đó theo thứ tự trong đảng thì đứng đầu là Lê Duẫn, thứ nhì là Trường Chinh, thứ ba là Phạm văn Đồng, Lê đức Thọ đứng mãi thứ 6. Trường Chinh sang Liên sô 2 lần vào tháng 7, tháng 8, mong được sự chấp nhận của Gorbatchev, vì lúc này Gorbatchev đã lên ngôi. Nhưng ông này không chịu, khuyên những người già nên về hưu, nhường chỗ cho những người trẻ. Lợi dùng tình thế này, Lê đức Thọ kéo theo Trường Chinh và Phạm văn Đồng, ba người đều từ chức, về hưu. Nhưng trên thực tế là khi Lê Duẫn chết, con người quyền lực nhất lúc bấy giờ là Lê đức Thọ, vì con người này mặc dầu đứng thứ sáu, thứ bảy, nhưng nắm giữ chức vụ tổ chức nhân sự trong đảng, có nhiều vây cánh, ác ôn côn đồ, gian manh, xảo quyệt, đầu óc bè phái, gia tộc rất mạnh.

Mặc dầu rút vào trong bóng tối, nhưng Lê đức Thọ đưa hết tay em của mình vào những chức vụ quan trọng trong đảng và chính quyền:

Nguyễn văn Linh, người từng là tay em của Thọ trong thời gian ở Trung ương Cục miền Nam, nay lên làm Tổng bí thư. Đây là một con người vô nhân cách, không có lập trường chính trị rõ ràng, gió chiều nào theo chiều ấy, hoàn toàn bị khống chế bởi họ Lê, mặc dầu đảng cộng sản đã đánh bóng con người này, cho rằng đây là con người « Nói và Làm « , vì ông có viết báo, lấy bút hiệu là N.V.L., ở báo Nhân dân; hay đây là một con người sáng suốt, bằng cả trăm cả ngàn ngọn nến không kém gì Lê Duẫn. Chúng ta thấy lúc đầu thì Linh chủ trương « Đổi mới «, nhưng sau đó lại đàn áp những nhà đối lập không khác chi thời trước. Điều đáng buồn cho Việt Nam là trong thời gian Hội nghị Thành Đô, thì chính con người vô nhân cách, không có lập trường chính trị này làm Tổng bí thư.

Về đảng thì đã là vậy, về chính quyền thì cũng là toàn tay em của Thọ, từ Đỗ Mười làm Thủ tướng, nhưng trước đó, vào thời chiến tranh chống Pháp, là Ủy viên ám sát của đảng ở vùng tả ngạn sông Hồng, gồm một phần Hà Đông, Nam định, Thái bình và Ninh bình, cũng là tay em của Thọ. Thêm vào đó em ruột của Lê đức Thọ là Mai chí Thọ ( cộng sản thay tên đổi họ) làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ, công an. Lê đức Anh, người dưới quyền của Thọ ở miền nam, được Thọ cất nhắc lên chức Đại tướng, Tư lệnh đoàn quân sang xâm chiến Căm Bốt, được làm Bộ trưởng Bộ quốc Phòng; ngay cả Nguyễn cơ Thạch, Bộ trưởng Bộ ngoại giao, là người trong Phái đoàn thương thuyết về Hiệp định Paris 1973, mà Lê đức Thọ là cố vấn, nhưng là người nắm thực quyền.

Lê đức Anh là một anh cai phu đồn điền, mà người dân kêu là « Anh chột «, là một người ác ôn không kém Thọ, vì đánh phu đồn điền, nên bị nghỉ việc, sau đó theo cộng sản. Vì là đặc trách tổ chức nhân sự của đảng, nên Thọ nắm được hồ sơ này, nhưng giữ kín, để làm một con bài sau này để dễ bề khống chế. Việc này, những người am tường tình hình đảng cộng sản Việt nam đều biết.

Cũng về đảng, chính những người cộng sản cao cấp và gần Lê đức Thọ, ai cũng rõ ông này có ba biệt hiệu: « Anh Sáu búa «, « Anh Sáu Tú bà « và « Anh Sáu hèn. « Anh sáu búa vì Lê đức Thọ chủ trương dùng búa để đập đầu, giết người thay vì dùng súng đạn. Anh Sáu tú bà vì trong thời gian nắm Trung ương Cục miền Nam sau Lê Duẫn, thì nhiệm vụ chính của Thọ là kiếm gái miền Nam gửi ra miền Bắc để cống hiến cho Bác (tức Hồ chí Minh) và cho Đảng ( tức các ông lớn trong Bộ Chính trị và Trung ương đảng). Anh Sáu hèn vì khi « Chiến thắng miền nam « thì hãnh tiến, vác mặt lên trời, đã ra lệnh trục xuất Đại sứ Pháp, ông Mérillon lúc bấy giờ, ra khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiến đồng hồ. Sau đó, khi cần, thì sang qụy lụy Pháp, xin Pháp giúp đỡ, viện trợ, đi chữa bệnh, nằm ở nhà thương quân sự của Pháp Val de Grace lúc cuối đời.

Người xưa có câu: « Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã « ( Trâu thì đi với trâu, ngựa thì đi tìm ngựa), ngay cả Tây phương cũng có câu: « Dis – moi qui tu hantes, je te dirai qui tu es « ( Hãy nói cho tôi người anh lui tới, tôi sẽ nói anh là người thế nào.)

Con người Lê đức Thọ là con người vừa hèn, vừa ác ôn côn đồ, thủ đoạn “Mày theo tao thì mày có tất, nếu không thì tao sẽ giết mày”, vì vậy những tay em của hắn, từ Nguyễn văn Linh, Đỗ Mười, Lê đức Anh, Mai chí Thọ, và hôm nay còn một người cháu của ông ta là Lê hồng Anh, vừa mới sang Tàu qụy lụy Tập cận Bình, những con người này mang tất cả những tật xấu của Lê đức Thọ, cũng hèn nhát, ác ôn côn đồ, qụy lụy ngoại bang, tinh thần gia tộc, bè phái, không coi thể diện quốc gia, quyền lợi dân tộc ra gì.

Người ta có thể nói từ ngày Lê Duẫn chết tới nay, Việt Nam bị khống chế bởi gia tộc họ Lê, con cháu và tay em. Những vụ ám sát, thủ tiêu như vụ của tướng Hoàng văn Thái, Lê trọng Tấn, mà vợ con phải than lên: “Chồng và bố tôi bị người ta đầu độc chết v.v…”, tất cả xa gần đều liên quan đến gia tộc này và những tay chân, bộ hạ của nó.

Thực ra thi Lê đức Thọ họ Phan, tên thực là Phan đình Khải, người Nam định, có trình độ tiểu học, thời đó gọi là bằng Cao đẳng tiểu học, được Pháp lập ra, vào lúc đầu khi đã ổn định chế độ thuộc địa. Những người có cấp bằng này hoặc đi về làng dạy học, như Trần Phú, Tổng bí thư đầu tiên của đảng cộng sản Việt Nam, mà người ta thường gọi là “Ông giáo Phú”, hay Nguyễn thị Minh Khai, cũng được gọi là “Cô giáo Khai”, và ngay cả Hồ chí Minh cũng đã từng làm ông giáo làng ở Phan Thiết; những người khác thì đi làm hỏa xa, tức sóat vé trên tàu xe lửa, trường hợp của Lê đức Thọ.

Lê đức Thọ còn 2 người em, làm tướng, trước và ngay cả sau năm 1975, nhất là từ khi Lê đức Thọ nắm thực quyền sau khi Lê Duẫn chết. Đó là Mai chí Thọ, tên thật là Phan đình Đống, làm đến chức vụ Bộ trưởng Bộ công an. Một người khác tên Đinh đức Thiện, tên thật là Phan đình Dinh, đặc trách về việc tiếp vận hậu cần, tương đương với Bộ trưởng Bộ Tiếp tế Lương thực. Có nguồn tin cho rằng Lê hồng Anh, đương kim Bộ Trưởng bộ Công An, đặc trách về Ban bí thư đảng ngày hôm nay, là con của Đinh đức Thiện. Nguồn tin này không phải không có lý. Một nguồn tin khác cho rằng ngay cả Nguyễn tấn Dũng, đương kim Thủ tướng hiện nay là con rơi của Mai chí Thọ, trong thời gian hoạt động ở miền Nam, sau đó đã ra ngoài Bắc, để lại cho Võ văn Kiệt làm con nuôi. Chính vì vậy, trong thời gian Võ văn Kiệt làm Thủ tướng, Mai chí Thọ làm Bộ trưởng Nội vụ, Nguyễn tấn Dũng đã lên như diều.

Tất cả những người con cháu, tay em của Thọ đều là những người giống Thọ, đầu óc gia tộc, bè phái rất lớn, sẵn sàng làm bất cứ giá nào để bảo vệ quyền lợi gia tộc và bè phái, dầu hèn hạ, qụy lụy ngoại bang hay ác ôn côn đồ.

Ngày hôm nay, cộng sản vẫn còn nắm quyền, gia đình họ Lê vẫn khống chế, sự thật vẫn bị che dấu, nhưng rồi trong tương lai sự thật sẽ được phơi bày. Như trường hợp Staline ra lệnh giết 20 000 sĩ quan Ba Lan là do Gorbatchev tiết lộ bí mật; gia đình Nga hoàng Nicolas 2 bị giết hại bởi Lénine là do Boris Eltsine không những cho mọi người biết mà còn tổ chức an táng trọng thể.

Thực ra trước khi Lê Duẫn chết, cộng sản Việt Nam cũng biết rõ Liên sô không còn là chỗ tựa vững chắc nữa, không còn là thanh trì cách mạng, “là ngày mai tươi sáng của Việt nam”, nhất là khi Tchernenko chết, tất cả những Tổng bí thư của những đảng cộng sản đều phải sang để dự tang, Gorbatchev nói thẳng với mọi người có mặt rằng: “Liên sô không thể giúp đỡ được nữa. Hiện nay muốn có hàng hóa của Liên sô thì phải mua và trả bằng ngoại tệ hay trao đổi hàng hóa”.

Chính vì vậy mà cộng sản Việt Nam đã chạy đôn chạy đáo, không còn sĩ diện quốc gia, dân tộc, đi van lạy các cường quốc.

Lúc đầu là với Mỹ. Ngoại trưởng Việt Nam nhiều lần sang Hoa kỳ, ban đầu thì còn lên giá, làm cao, tuyên bố: «Hoa kỳ muốn tái lập bang giao với Việt nam thì phải bồi thường chiến tranh», sau đó xuống nước, không nói gì đến bồi thường chiến tranh, và tuyên bố: «Nếu Hoa kỳ muốn tái lập bang giao với Việt Nam, thì Việt nam sẵn sàng giành mọi ưu tiên cho Hoa kỳ, ngay cả việc Hoa kỳ muốn đặt tòa Đại sứ hay Tổng lãnh sự, ở đâu, Việt nam cũng đều đồng ý».

Tuy nhiên giữa cán cân Trung cộng và Việt Nam, Hoa kỳ chọn Trung cộng chứ không chọn Việt Nam. Chúng ta phải nhớ là vào cuối thập niên 70 và đầu thập niên 80, tình hình giữa Việt Nam và Trung cộng rất căng thẳng. Hoa kỳ muốn đi với Trung cộng để chỉa mũi dùi vào Liên sô, đánh sập Liên sô. Và cộng sản Việt nam lại là tay em trung thành của nước này.

Muốn đi theo Hoa kỳ không xong, cộng sản Việt nam quay sang tìm sự giúp đỡ của Pháp vào những năm 1988-1989, lúc này là lúc Tổng thống Pháp F. Mittérand vừa mới tái đắc cử. Tuy nhiên khả năng tài chính của Pháp hạn hẹp, thêm vào đó Pháp đòi hỏi phải dân chủ hóa chế độ, vì lúc này là lúc những phong trào dân chủ và những cuộc cách mạng dân chủ đã xẩy ra ở Đông Âu, nên việc không thành.

Việc Lê đức Thọ sang chữa bệnh ở Pháp năm 1988, vừa mang ý nghĩa chữa bệnh, vừa mang ý nghĩa chính trị.

Cộng sản Việt nam không còn con đường nào là hèn hạ, muối mặt, sang qụy lụy Trung cộng, mặc dầu trước đó đã lên tiếng chửi rủa Trung cộng không còn tiếng xấu nào mà không dùng, nào là « Chủ nghĩa bành trướng Bắc Kinh «, « Kẻ thù liền đất, liền trời « v.v…

Ai cũng biết người đứng sau nền chính trị Việt Nam và tất nhiên sau Hội nghị Thành đô là Lê đức Thọ, Phái đoàn Việt Nam gồm có Nguyễn văn Linh, đương kim Tổng bí thư, Đỗ Mười, đương kim Thủ tướng, Phạm văn Đồng, cựu Thủ tướng, cố vấn Phái đoàn. Phía bên Trung cộng, người đứng ngầm đằng sau là Đặng tiểu Bình, Phái đoàn gồm có Giang trặch Dân, đương kim Tổng bí thư, Lý Bằng, đương kim Thủ tướng.

Phía Việt Nam thì Lê đức Thọ bệnh nặng, chúng ta nên nhớ là Hội nghị Thành đô họp 2 ngày 3 và 4 tháng 9/1990, tất nhiên có những trao đổi trước đó cả tháng nếu không cả năm, thì chỉ hơn một tháng sau Lê đức Thọ chết vào ngày 13/10/1990.

Phía Việt nam nghĩ rằng có Phạm văn Đồng để cân xứng với Đặng tiểu Bình, nhưng đã lầm. Họ Phạm chỉ là một con người thừa hành, không có nhìn xa trông rộng, bằng chứng là đã ký công hàm bán nước năm 1958, thêm vào đó, đây là một con người cũng vô cùng hèn hạ, nhưng lại đạo đức giả và giỏi đóng kịch, giống như Hồ chí Minh, nên đã được người cộng sản khen ngợi rằng Phạm văn Đồng là học trò trung thành của Bác. Con người đạo đức giả này, sau khi họp Thành Đô về còn tỏ ra hối hận.

Về phía Trung cộng, chúng ta thấy Đặng tiểu Bình, một người lên voi xuống chó, ở chính trường quốc nội cũng như hải ngoại, là một con chó sói già trước một đàn cừu non Việt Nam. Con người này chỉ dùng lý thuyết cộng sản như một phương tiện để phục vụ cứu cánh của mình là chủ nghĩa bành trướng đại Hán, « Mèo trắng, mèo đen không quan trọng, miễn là nó bắt được chuột. » Trong khi đó thì cộng sản Việt nam vẫn « Đánh Mỹ để xây dựng xã hội chủ nghĩa «. Chính vì vậy mà ông Nixon đã nói: « Trung cộng chống Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng. »

Đó là sơ qua diễn tiến tình hình chính trị, trước khi đi đến hội nghị Thành đô 1990, về phía Việt Nam. Nhưng về phía Trung cộng thì như thế nào ?

III) Tình hình Trung cộng trước Hội nghị Thành đô

Tình hình Trung cộng gần kề nhất ngày Hội nghị Thành đô là biến cố Thiên An môn 1989. Đây là một biến cố lớn trong lịch sử cận đại của Trung cộng và của đảng Cộng sản Tàu.

Những cuộc biểu tình ở nhiều thành phố và nhất là ở Bắc kinh, tại quảng trường Thiên an môn, từ ngày 15/4 tới ngày 4/6/1989, đã huy động cả triệu người đủ mọi tầng lớp, từ nông dân, công nhân đến sinh viên học sinh, công chức và có cả quân đội, đòi tự do hóa chế độ, chống tham nhũng, cửa quyền, con ông cháu cha của đảng Cộng sản. Phe cải cách lúc đó tiêu biểu là Tổng bí thư Triệu tử Dương, phe bảo thủ tiêu biểu là Thủ tướng lý Bằng. Lập trường của Đặng tiểu Bình vào lúc đầu có vẻ ngả về phe cải cách, sau đó lừng khừng đứng giữa, cuối cùng đã ngả về phe bảo thủ, khi cuộc biểu tình đã không tự kiểm soát nổi, có những phần tử đã lợi dụng căng những biểu ngữ chống họ Đặng. Đấy là chưa nói hình ảnh sinh viên học sinh đã làm quá đà trong thời kỳ Cách mạng Hồng vệ Binh (1964 -1974), đưa bố mẹ, thầy cô ra đấu tố, đưa đến cảnh một người con trai của Đặng tiểu Bình, khi vệ binh đỏ đến phòng cư xá sinh viên, đã sợ quá, nhảy từ lầu cao xuống đất, gãy xương sống, suốt đời phải đi xe lăn; một biến cố nữa, đó là vợ chồng ông Chu ân Lai, đương kim Thủ tướng và vợ ông ta, bà Đặng vĩnh Siêu, một cán bộ lâu năm và rất ảnh hưởng trong Đảng cộng sản lúc bấy giờ, có một người con gái nuôi, dạy nhảy múa ở nhà hát Bắc kinh, bị đưa đi trại học tập, do chính sắc lệnh của Chu ân Lai, sau đó những người Vệ binh thân Mao, đã lấy một cái đinh dài đóng vào đầu cô ta, làm cho cô ta chết. Hình ảnh và hành động này ám ảnh không những bà Đặng vĩnh Siêu, Đặng tiểu Bình, mà phần lớn giới lãnh đạo Trung cộng lúc bấy giờ.

Vì vậy nên khi quyết định « Dẹp hay không dẹp biểu tình «, thì phe bảo thủ đã thắng. Đưa đến hậu quả làm cả ngàn người chết và cả chục ngàn người bị thương. Quyết định đàn áp biểu tình có nhiều người chống đối, trong đó có Tổng bí Thư Triệu tử Dương, Bộ trưởng quốc phòng, Tư lệnh quân đội Bắc kinh. Vì vậy nên phe bảo thủ phải gọi những đoàn quân ở phía tây bắc, từ những vùng Tây tạng, Tân cương v.v… về để dẹp biểu tình.

Biến cố Thiên an Môn suýt nữa làm cho nước Tàu nổ tung, ít ra làm 2. Trước đó thì cách mạng Hồng vệ binh đã đưa nước tàu vào cảnh nội chiến, có cơ bị chia ra làm nhiều mảnh.

Từ xưa tới nay, giới báo chí, trí thức và ngay cả giới lãnh đạo tây phương có cái nhìn sai lạc về Tàu.

Đầu thế kỷ thứ 19, thì Napoléon ví nước Tàu như một con hổ đang ngủ, nếu nó thức dậy sẽ làm rung chuyển thế giới. Vào những năm 70, một nhà chính trị, kiêm văn sĩ Pháp, ông Alain Peyrefitte, có viết quyển sách « Quand la Chine s’éveillera… « (1973), ( Khi nước Tàu sẽ tỉnh dậy… ). Không nói đâu xa, ngay ngày hôm nay, thế giới Tây phương vẫn còn có những cái nhìn sai lầm về Tàu.

Trong khi đó, chính những người Tàu, ngay cả một số giới lãnh đạo, thì ngược lại. Ông Chu dung Cơ, cựu Thủ tướng Tàu, có nói: « Nước Tàu là một anh khổng lồ, chân bằng đất xét. » Cũng một cựu Thủ tướng khác, ông Ôn gia Bảo, vào cuối năm 2012, giai đoạn chuyển quyền giữa Hồ cẩm Đào và Tập cận Bình, thì tuyên bố: « Nước tàu đang đi vào nguy hiểm của thời kỳ Cách mạng Hồng vệ binh. » Sự đấm đá trong đảng, tranh quyền đoạt lợi hiện nay vẫn tiếp diễn.(1)

Tháng 7/2014, một cuộc nghiên cứu, được công bố bởi Hurun Report, về việc tìm hiểu hành vi và thái độ của những người giàu nhất Trung cộng, mà trong đó phần lớn là những gia đình thuộc con ông cháu cha của những người lãnh đạo cao nhất, cho ta thấy: hơn 60% những người được khảo sát thì đã ra nước ngoài hay đã nộp hồ sơ để ra nước ngoài; 85% thì nói họ đã gửi con, người thân thích đến những trường đại học ở ngoại quốc.( Ian Bremmer, « China superpower or superbust, The National Interest Magazine, tháng 11 và 12/ 2013).

Một chính quyền, một quốc gia có thể ví như một cái cây, những người của chính quyền là những người ở dưới gốc cây, hưởng bóng mát của nó, nay tìm cách gửi tiền hay gửi con ra nước ngoài chẳng khác nào đào đất ở gốc cây đổ đi chỗ khác, thì cái cây sớm muộn cũng sẽ bị trốc gốc.

Trong chính trị, sự lầm lẫn về địch thủ, đối phương, ngay cả với bạn, rất nguy hiểm, dẫn đến những hậu quả to lớn khó lường. Tuy nhiên đối với giới lãnh đạo Tây phương, nó có quan trọng, nhưng không có tính cách sống còn, nguy hiểm chết người, hại cả một dân tộc như đối với giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam.

Có thể nói giới lãnh đạo Cộng sản Việt Nam, bắt đầu từ Hồ chí Minh cho tới ngày nay, có một cái nhìn sai lầm về thế giới cộng sản, nhất là về Trung cộng.

Điều này bắt nguồn từ nhiều nguyên do:

Nguyên nhân sâu xa bắt nguồn ngay từ cuộc đời cá nhân của Hồ chí Minh. Sau khi rời Việt nam, đi làm bồi cho một chiếc tàu Pháp, sống lang bạt kỳ hồ, khổ sở ở New York, Luân đôn, rồi Paris, thiếu thốn khó khăn, được Đệ Tam quốc tế lượm về nuôi nấng, huấn luyện, được sung sướng. Tất nhiên họ Hồ về cá nhân thì coi tổ chức Đệ tam, nhưng thực tế là Liên sô, như « Cha mẹ «. Chúng ta thấy, trong thời gian họ Hồ bị tổ chức này thất sủng, vào những năm cuối thập niên 20, đầu 30, vì lúc đó có sự tranh quyền gay gắt giữa Staline và Trotski, mà trước đó họ Hồ làm việc cho Borodine, người thân Trotski, họ Hồ đã bị thất sủng, đã viết thư không biết bao nhiêu lần cho Đệ Tam, xin từng miếng cơm đến tiền trả tiền hotel. Chúng ta có thể thấy những bức thư này dễ dàng trong Tuyển tập Hồ chí Minh, do chính đảng Cộng sản Việt nam xuất bản.

Rồi tình hình thế giới thay đổi, Phát xít Moussolini xuất hiện ở Ý năm 1923, ở Đức năm 1933 với Hitler, Đệ tam quốc tế họp kỳ cuối cùng năm 1936, trước khi bị Staline giải tán, đã quyết định thay đổi chiến lược, từ « Đấu tranh giai cấp « sang « Hợp tác giai cấp để chống Phát xít « , họ Hồ được dùng lại, và đã cùng phái đoàn cộng sản Tàu, trở về Tàu vào khoảng năm 1938 nhằm sửa sọan cướp chính quyền.

Sau khi cướp được chính quyền thì nay chạy sang Tàu lạy lục xin viện trợ, mai chạy sang Liên sô để xin giúp đỡ.

Ngày hôm nay Cộng sản Việt Nam tâng bốc họ Hồ, đưa ra « Tư tưởng Hồ chí Minh «, nhưng chính ông đã tuyên bố: « Tôi không có tư tưởng gì cả. Tư tưởng của tôi đã có Staline và Mao nghĩ hộ. Những con người này không bao giờ sai lầm. »

Một con người không có tư tưởng, mà vì hoàn cảnh cứ phải đi xin cầu viện, lúc trẻ thì cho bản thân, lúc lớn thì cho tổ chức, con người này bản chất đã trở thành qụy lụy ngoại bang. Bản chất này đã ăn sâu vào xương tủy của con cháu Hồ tức những lãnh đạo cộng sản Việt nam sau này. Lê Duẫn, người kế vị trực tiếp Hồ, thì thản nhiên tuyên bố :

« Chúng tôi đánh đây là đánh cho Liên sô và Trung cộng.» không ngần ngại hy sinh từ thế hệ này đến thế hệ khác để phục vụ lý tưởng cộng sản, nhưng thực tế là phục vụ Nga, Tàu.

Con cháu của Hồ chí Minh và Lê Duẫn ngày hôm nay, sau Hội nghị Thành đô năm 1990, đã sẵn sàng chấp ngận khẩu hiệu « Bốn Tốt và Mười sáu Chữ vàng «, đưa ra bởi Giang trạch Dân, nhưng thực tế là dâng đất, nhượng biển, thần phục ngoại bang như cha anh cộng sản Hồ Lê trước đây.

Nguyên nhân gần, đó là thế giới cộng sản Đông Âu, trong đó có Liên sô, « thành trì cách mạng, chỗ tựa vững chắc » của cộng sản Việt Nam từ từ sụp đổ từng mảng một, mà người chứng kiến tận mắt đó là Nguyễn văn Linh, lúc đó là đương kim Tổng bí thư, Trưởng Phái đoàn của Việt nam tại Hội nghị Thành đô.

Từ tháng 9/1989, cả ngàn người Đức, bỏ Đông Đức sang xin tỵ nạn ở Tây Đức.Tháng 10/1989, Honnecker từ chức Chủ tịch đảng Cộng sản Đông Đức. Tháng 11/1989, bức tường Bá Linh, ngăn cách hai nước Đông và Tây Đức, hai thế giới cộng sản và tư bản, sụp đổ. Tiếp theo đó là Tổng bí thư Todor Zhivkov của đảng cộng sản Bulgarie, rồi Tổng bí thư Milos Jakes của đảng cộng sản Tiệp khắc cũng từ chức.

Tháng 12/1989, cuộc cách mạng dân chủ ở Roumanie bùng nổ, vợ chồng nhà độc tài cộng sản Ceausescu, bị hạ bệ, rồi bị tử hình.

Những tình hình đó đã ảnh hưởng và ám ảnh sâu đậm đến giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Đấy là chưa nói đến sự kiện là giới lãnh đạo cộng sản Việt Nam đến Hội nghị Thành đô còn mang đầy « mặc cảm tội lỗi » với đàn anh Trung cộng, vì sau khi Trung cộng « dạy cho cộng sản Việt nam một bài học », như lời tuyên bố của Đặng tiểu Bình, sau khi viếng thăm Hoa kỳ vào năm 1979, chiến tranh Việt Trung vẫn tiếp diễn ở biên giới và ở ngoài khơi. Năm 1988, Trung cộng đánh Trường sa của Việt Nam, chiếm đảo Gạc ma, mà hiện nay Trung cộng đang thành lập một căn cứ quân sự với những phi đạo cho máy bay, và những cứ điểm để khai thác dầu hỏa, mà cộng sản Việt Nam cứ im thin thít.

Chiến tranh tại biên giới Việt Hoa kéo dài đến tận 1987, 3 năm trước Hội nghị Thành đô. Theo một số quan sát viên, ngoài những sự đụng độ nhỏ, có 6 trận đánh lớn, vào tháng 7/1980; tháng 5/81; 4/83; 6/85; 12/86; 1/87.

Từ bản chất lệ thuộc ngoại bang, đến mặc cảm « tội lỗi « , cộng thêm với những cái nhìn « ếch ngồi đáy giếng « chỉ biết có Liên sô, nay thế giới Liên sô từ từ sụp đổ, Phái đoàn cộng sản Việt Nam dự hội nghị Thành đô với một tư thế kém cỏi, như những « con cừu non « , trước một phái đoàn, mà đứng đằng sau là Đặng tiểu Bình, một con cáo già, gian manh, xảo quyệt ở mức độ quốc tế, với một tham vọng và ý chí mãnh liệt bành trướng chủ nghĩa « Đại Hán ». Tất nhiên những con cừu non đó bị con cáo già ăn thịt là lẽ thường tình.

IV) Diễn tiến của Hội nghị Thành đô ( Hình thức và nội dung)

Thực ra, về nội dung của văn bản Hiệp ước Hội nghị Thành đô, cho tới ngày hôm nay, một cách chính thức, chưa có ai rõ. Người ta chỉ phỏng đoán qua những việc làm của Cộng sản Tàu và Việt nam, từ ngày có Hội nghị này cho tới nay.

Chính thức và để có giá trị trên mặt công pháp quốc tế, thì bất cứ hiệp ước quốc tế nào, nhất là liên quan đến biên giới trên đất liền hay trên biển, giữa hai hay nhiều quốc gia, thì phải có sự trong sáng: có nghĩa là phải được công bố, phải có sự phê chuẩn của quốc hội hay sự chấp nhận của dân qua trưng cầu dân ý và bản hiệp ước đó phải gửi tới cơ quan lưu trữ hồ sơ của Liên hiệp quốc. Về Hiệp ước Thành đô cả Trung cộng và Cộng sản Việt nam không hành xử theo kiểu này, mà hành xử lén la, lén lút, có tính cách mờ ám chứ không minh bạch, theo cách hành xử của những nước tự do, dân chủ.

Kinh nghiệm cho chúng ta thấy là Công Hàm của Phạm văn Đồng năm 1958. Về phía cộng sản Việt Nam thì dấu diếm dân, về phía Trung cộng thì lập lờ đánh lận con đen qua việc yêu cầu Việt nam tôn trọng quyền lãnh hải 12 hải lý, rồi công bố bản đồ của Trung cộng, trong đó có Hoàng sa và Trường sa của Việt Nam.

Thực ra thì không riêng gì Trung cộng và Cộng sản Việt Nam hành động lén lút, dấu dân, mà có thể nói tất cả những chế độ cộng sản, từ chế độ đầu tiên do Lénine thành lập năm 1917.

Lénine, để có được chính quyền, không ngần ngại tuyên bố là sẵn sàng nhượng đất cho Đức, sau đó có cử Trotski đi ký Hiệp ước nhượng đất ở Brest – Listovk, năm 1918, với Đức. Hiệp ước này ít người được biết, trong khi đó dân thì mù tịt. Ngay cả việc Lénine giết toàn gia đình Hoàng gia Nga Nicolas 2, ngày hôm nay người ta cũng không tìm ra một sắc lệnh nào của Lénine, ngoài việc Lénine cử một tay em thân cận, ngày xưa là một chủ ngục và được Lénine thường nói với mọi người rằng đây« là người giỏi nhất trong những người chúng ta «, có nghĩa là dám giết người, dám thủ tiêu, xuống chỗ ở của gia đình hoàng gia, rồi một đêm nọ, cùng với mười mấy người có súng, kêu gia đình xuống một cái hầm, đọc một bản án và giết cả gia đình.

Hành động hận thù, lén lút giết người không gớm tay, đó là hành động của giới lãnh đạo cộng sản.

Lê đức Thọ của Việt Nam, thì tuyên bố: « Mài hận thù để làm bén nhọn đấu tranh. » Em của hắn, Mai chí Thọ, vào năm 1981, lúc này là thế giới cộng sản đã bắt đầu xuống dốc, thì trân tráo, vô liêm sỉ, tuyên bố trước một số trí thức miềm Nam phải « đi học tập cải tạo « :

« Hồ chí Minh có thể là một kẻ độc ác; Nixon có thể là một người vĩ đại, người Mỹ có thể đã có chính nghĩa. Nhưng chúng tôi đã thắng và người Mỹ đã bị đánh bại, bởi vì chúng tôi đã thuyết phục được người dân rằng Hồ chí Minh là một người vĩ đại và Nixon là một kẻ giết người, người Mỹ là những kẻ xâm lược. Yếu tố then chốt đó là kiểm soát được người dân và quan điểm của họ. Chỉ có chủ nghĩa Marx – Lénine là làm được điều đó. Không ai trong các anh (chỉ những người trí thức miền nam bị đi học tập cải tạo) thấy sự kháng cự đối với chế độ của những người cộng sản, vì vậy đừng suy nghĩ về chuyện đó. Quên chuyện đó đi. » ( Mai chí Thọ – theo lời của Đoàn văn Toại, trong A Lament for Việt Nam – New York Times Magazine – 29/03/1981).

Chế độ Marx-Lénine mà Mai chí Thọ nói tới không gì hơn là cai trị dân bằng cái loa, cái còng và cái súng. Cái loa là bưng bít thông tin, che dấu sự thật, rồi dùng cái loa để nói dối dân. Cái còng và cái súng là dọa dân, nếu ai không theo tao thì bỏ tù, hay thủ tiêu.

Tuy nhiên cách cai trị đó đã quá lỗi thời. Thế giới cộng sản Đông Âu sụp đổ, một phần cũng vì lý do đó. Ngày hôm nay những chế độ cộng sản còn lại, với nền văn minh trí thức điện toán, thông tin dễ dàng với những internet, điện thoại cầm tay, đang trên đà sụp đỗ cũng là vì vậy.

Trở về Hội nghị Thành đô, vì không có bản Hiệp ước ký kết giữa 2 bên được công bố chính thức, nên người ta chỉ phỏng đoán dựa vào quyển Nhật ký của Trần quang Cơ, Thứ trưởng Bộ ngoại giao, lời tuyên bố của Nguyễn cơ Thạch, lúc đầu; sau đó là tài liệu của Weakileaks, Hoàn cầu thời báo cùng một số báo chí khác.

Về Nhật ký của Trần quang Cơ, phần rõ ràng là phần nói về vụ giải quyết tình hình Cam bốt: Cộng sản Việt Nam rút quân khỏi nước này, thành lập Hội đồng Hòa giải dân tộc dưới sự lãnh đạo của ông cựu hoàng Sihanouk. Chính ở điểm này, Trung cộng có nhượng bộ. Đó là Trung cộng đòi phải sự có mặt của phe Polpot, nhưng kết cục thì không có. Trần quang Cơ có nói đến những buổi thương thuyết trước Hội nghị, có nói đến phía Việt Nam đề nghị phía Trung cộng đứng ra lãnh đạo khối cộng sản còn lại, nhưng không nói rõ đề nghị này là thế nào. Có phải để Trung cộng lãnh đạo rồi Việt Nam nhận làm một tỉnh của Trung cộng không ? Điều này không thấy trong nhật ký. Người ta chỉ thấy trong một vài tờ báo nói rằng đó là tiết lộ trong 3 100 bức điện thư lưu trữ ở Bộ Ngoại giao Hoa kỳ. Vấn đề kiểm chứng thật khó khăn, ngay với cả một số người thông thạo tin tức.

Trong khi đó thì Nguyễn cơ Thạch, cấp trên, là Bộ trưởng Ngoại giao, không viết nhật ký, không được dự Hội nghị Thành đô, vì Trung cộng không muốn, lại tuyên bố: « Hội nghị Thành đô bắt đầu một thời kỳ Bắc thuộc nguy hiểm và lâu dài. »

Có người cho rằng để biết nội dung của bản Hiệp ước Thành đô thì chúng ta chỉ cần xét đến hình thức và hậu quả của nó.

Thực vậy, nếu nói về hình thức thì đây là một hội nghị quốc tế vô cùng nhục nhã đối với Cộng sản Việt nam. Theo thông lệ, một hội nghị ở mức độ cao như vậy thì phải họp ở thủ đô, nay lại họp ở một thủ phủ một tỉnh bậc trung là Tứ xuyên. Họp 2 ngày mồng 3 và mồng 4 tháng 9, Phái đoàn Việt Nam phải có mặt trước ngày mồng 2 tại Thành đô, đúng vào ngày Quốc khánh cộng sản Việt nam. Ép cộng sản Việt nam làm điều này, Trung cộng muốn nói là Trung cộng không coi Việt nam là một nước độc lập. Thêm vào đó, phái đoàn Việt Nam phải đi đường bộ để sang họp. Đặng tiểu Bình dụ để phía Việt Nam chấp nhận họp, đã hứa xuống gặp phái đoàn, nhưng sau đó không xuống gặp và còn tuyên bố khinh bỉ Cộng sản Việt nam: « Tôi không thèm gặp những phường ăn cháo, đái bát. »

Ngày xưa Mặc đăng Dung, Lê chiêu Thống qụy lụy Tàu để giữ ngôi báu, nhưng cũng không đến nỗi hèn mạt như vậy.

Những hành động của cộng sản Việt Nam sau Hội nghị Thành đô :

Mặc dầu người ta không biết chính thức nội dung của Hiệp ước Thành Đô, vì cả 2 bên Trung cộng và Cộng sản Việt nam không công bố chính thức nội dung của hiệp ước này. Nhưng những hành động của Cộng sản Việt nam từ ngày có Hội nghị tới nay quả là hành động bán nước. Bởi lẽ đó có người cho rằng nội dung của Hiệp ước là bán nước cũng không phải là không có lý.

Thật vậy, từ ngày 3 và 4 tháng 9 năm 1990 tới nay, những hành động của Cộng sản Việt nam chứng tỏ càng ngày càng đưa Việt nam vào vòng kiềm tỏa, lệ thuộc Trung cộng về kinh tế, chính trị quốc nội và hải ngoại. Người ta còn nhớ, sau Hội nghị không lâu, Giang trạch Dân đến viếng thăm Việt nam, không đến Hà nội, thủ đô, mà tới Đà nẵng tắm biển, rồi gọi giới lãnh đạo Cộng sản Việt nam tới « chầủ «, kiểu như ngày xưa chầu Thiên hoàng.

Năm 1997, Cộng sản Việt nam muốn gia nhập Tổ chức Thương mại quốc tế, nhưng Trung cộng không muốn, nên phải từ chối.

Hai Hiệp định năm 1999, về vấn đề biên giới và năm 2 000 về lãnh hải, mà cộng sản đã ký với Trung cộng, dâng cho Trung cộng cả ngàn cây số vuông về lãnh thổ trong đó có thác Bản dốc và Ải Nam quan, cùng cả 20 000 cây số vuông về lãnh hải.

Tiếp theo đó là những hiệp ước nhượng cho Trung cộng khai thác bô xít ở vùng cao nguyên Trung phần, xương sống chiến lược của Việt nam, rồi nhượng những vùng rừng ở biên giới cùng cho phép Trung cộng lập những khu tự trị ở Việt Nam.

Gần đây Trung cộng đặt giàn khoan dầu HD 981 ở trong thềm lục địa Việt nam, cả thế giới trông đợi phản ứng mạnh mẽ của giới lãnh đạo cộng sản Việt nam, nhưng ngoài một vài lời tuyên bố cứng rắn, sau đó đâu lại hoàn đấy, đó là Cộng sản Hà nội vẫn tiếp tục quỵ lụy Trung cộng, làm cho cả thế giới thất vọng.

Đó là về chính trị, còn về kinh tế thì ngay dù người dân bình thường cũng nhìn thấy rõ là nền kinh tế Việt nam hiện nay hoàn toàn lệ thuộc Trung cộng. Việt nam chỉ là một cửa tiệm để Trung cộng thuồn những hàng ô nhiễm, mang độc hại, những hàng giả, bị tẩy chay, sang mang nhãn hiệu Việt Nam để bán trên thế giới.

Nhìn lại quá khứ, suy xét hiện tại, để chẩn đoán tương lai:

Trong những chế độ cộng sản, những giới lãnh đạo cộng sản, không có một chế độ nào, giới lãnh đạo nào mà lại ngây thơ, ngu muội, nhưng lại nghĩ mình là « Đỉnh cao trí tuệ của loài người tiến bộ « như cộng sản Việt nam. Ngày xưa thì Hồ chí Minh tuyên bố: « Tôi không có tư tưởng gì cả, tư tưởng của tôi đã có Staline và Mao nghĩ hộ. »

Lê Duẫn thì nói: « Chúng tôi đánh đây là đánh cho Liên sô và Trung cộng.» Ngày nay, sự ngây thơ và ngu muội đó được biểu hiện qua Hội nghị Thành đô.

Thực ra sự ngây thơ và ngu muội không phải chỉ ở giới lãnh đạo mà ngay ở một số trí thức cộng sản. Đã từ lâu cộng sản Liên sô và Trung cộng đã dùng chủ nghĩa cộng sản như một phương tiện cho mộng xâm chiếm, bành trướng của mình, trong khi đó, giới trí thức cộng sản Việt nam vẫn nghĩ:« Bên ni biên giới là mình Bên kia biên giới cũng tình quê hương …»

Ngày hôm nay, có người cho rằng một số trẻ Việt Nam mất định hướng, vọng ngoại, đến nỗi “ Lên sân khấu để hôn cái ghế ngồi của một tài tử Nam Hàn.” Nhưng họ quên ngày xưa có một số trí thức cộng sản làm những bài thơ ca tụng Lénine, Staline: “ Hôn cho anh nền tảng đá công trường, nơi vĩ đại Lénine thường dạo bước “, hay: “Ôi ông Staline, ông mất, đất trời biết không. Thương cha thương mẹ thương chồng, thương mình thương một, thương ông, thương mười.”

Ngày xưa “ hôn chân Lénine, Staline”, ngày hôm nay một số giới trè “ hôn ghế ngồi “ một tài tử ngoại quốc, ngẫm đi ngẫm lại, mặc dầu là 2 hành động khác nhau, nhưng mang cùng một bản chất.

Hiện nay, nhiều người bàn tán về đề tài “ Thoát Trung “, nhưng họ quên rằng điều kiện đầu tiên, ắt có và đủ, để “Thoát Trung”, đó là “ Thoát cộng”.

Ngày nào còn chế độ cộng sản, miệng thì hô hào yêu nước, nhưng trên thực tế thì bán nước. Ngày đó không thể thoát Trung, mà trên thực tế là càng ngày càng bị lún xâu vào vòng kiềm tỏa của Trung cộng.

Ngày nào còn đảng cộng sản độc quyền “ yêu nước “, độc quyền cai trị dân, không cho dân cất tiếng nói, miệng thì hô hào xã hội chủ nghĩa, công bằng xã hội, nhưng trên thực tế là cướp nhà cửa, ruộng vườn, tài sản của dân, để trao vào tay một thiểu số đảng đoàn cán bộ, làm cho xã hội trở nên vô cùng bất công, ngày đó những hành động như Hội nghị Thành đô còn tái diễn, không những không thể thoát Trung, mà dân Việt còn không thể ngóc đầu lên được, để phát triển, để theo kịp đà tiến bộ của nhân loại.

                               Paris ngày 09/10/2014

                         Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

 

Hội nghị quốc tế bác danh nghĩa chủ quyền của TQ

13 Th6

 

Cái gọi là danh nghĩa chủ quyền Trung Quốc đối với các quần đảo ngoài khơi Biển Đông đã bị cộng đồng quốc tế bác bỏ rõ ràng trong khuôn khổ Hội nghị San Francisco (năm 1951) gồm 51 quốc gia tham dự. Bài 1: Chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa trong chính sử

Bài 2: Các vua VN đều quan tâm khẳng định chủ quyền

Bài 3: Chuyện cứu tàu của Pháp tại Hoàng Sa

Bài 4: Những nhân chứng phương Tây về chủ quyền Hoàng Sa

Bài 5: Bản đồ cổ xác định đảo Hải Nam là địa phận cuối TQ

Bài 6: Chủ quyền Hoàng Sa thời Pháp thuộc

Khăng khăng “không cần tranh cãi”

Ngày 29/4/1932, chính phủ Pháp gởi kháng nghị nêu rõ các bằng chứng về sự chiếm hữu của Việt Nam với  Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đó, lần đầu tiên Pháp “mời” Trung Hoa Dân Quốc ra tòa án quốc tế phân xử, nhưng nước này ngay lập tức tuyên bố “không cần tranh cãi”.

Ngày 13/4/1933, một chiến hạm thuộc lực lượng hải quân Pháp ở Viễn Đông  dưới sự chỉ huy của trung tá De Lattre rời Sài Gòn đến quần đảo Trường Sa. Một nghi thức chiếm hữu theo truyền thống của phương Tây được tiến hành. Một văn bản được thảo ra và các thuyền trưởng ký thành 11 văn bản.

Năm 1934 – 1935, Bộ ngoại giao và Bộ nội vụ Trung Hoa dân quốc giao cho ủy ban thẩm tra bản đồ thủy lục âm thầm đặt tên quần đảo Đoàn Sa cho quần đảo Trường Sa của Việt Nam và phiên âm dịch nghĩa khoảng 124 bãi đá ngầm, đảo nhỏ, ngầm của Hoàng Sa và Trường Sa thành tên Trung Quốc. Lúc này các quần đảo lớn mới có tên Đông Sa, Tây Sa, Nam Sa và Đoàn Sa.

Người Pháp lập tức đầy mạnh đầu tư xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng khá hiện đại lên Hoàng Sa. Sau cuộc khảo sát của Viện Hải dương học và nghề cá Nha Trang, năm 1938 Pháp đã cử các đơn vị bảo an lên các đảo để bắt đầu xây dựng, tổ chức quản lý trên các đơn đảo.

Chủ quyền Trường Sa Hoàng Sa, thư tịch cổ, châu bản, Trung Quốc, Việt Nam, cưỡng chiếm Hoàng Sa, bản đồ, sử sách, hải đội Hoàng Sa
Trụ sở hành chính VN tại Hoàng Sa trước 1945. Ảnh tư liệu

Tại đảo Hoàng Sa và Ba Bình và Phú Lâm, một trạm khí tượng, bia chủ quyền, hải đăng, trạm phát sóng TFS được dựng lên. Các công chức ra Hoàng Sa được đưa vợ con ra sinh sống, có nhà cửa tránh bão, giếng đào có nước ngọt đầy đủ. Hàng tháng có tàu tiếp tế từ đất liền chở ra lương thực, thực phẩm.

Cũng trong giai đoạn này, TQ tiến hành vẽ mới các bản đồ, phiên âm và điều chỉnh đặt tên Trung Quốc. Tuy nhiên, sau này có sự thay đổi tên liên tục vì không nhất quán.

Có thể nói tới năm 1938, các quần đảo Hoàng Sa đã được quản lý chặt chẽ. Trung Hoa Dân Quốc không còn hung hăng đòi hỏi chủ quyền như trước nhưng vẫn ngoan cố khẳng định chủ quyền là của họ “không cần tranh cãi”.

Năm 1939, tình hình chiến tranh lan rộng khắp châu Á. Nhật bắt đầu nhảy vào Đông Dương. Để thực hiện kế hoạch mở rộng lãnh thổ, Nhật đòi Pháp trao Hoàng Sa, Pháp phản đối. Anh ủng hộ Pháp, phản đối yêu sách vô lý của Nhật.

Sau khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, toàn bộ công chức, quân Pháp và Việt Nam tại Hoàng Sa bị bắt làm tù binh. Hoàng Sa thành căn cứ hậu cần của Nhật, được Nhật sử dụng phục vụ cho cuộc chiến vùng Đông Á, các tàu chiến Nhật thường xuyên ghé qua.

Lợi dụng thời cơ

Ngày 19/8/1945, Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 2/9/1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập ở Quảng Trường Ba Đình, chấm dứt chế độ đô hộ của Pháp.

Sau khi Nhật bại trận, Pháp trở lại xâm lược Việt Nam. Theo phân công của phe Đồng Minh, quân Tưởng Giới Thạch tiếp quản nơi quân đội Nhật chiếm đóng từ phía Bắc vĩ tuyến 16. Hai nước Pháp và Trung Hoa đều tiếp tục tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, vẫn tiếp tục coi trọng vị trí chiến lược Hoàng Sa và Trường Sa.

Chủ quyền Trường Sa Hoàng Sa, thư tịch cổ, châu bản, Trung Quốc, Việt Nam, cưỡng chiếm Hoàng Sa, bản đồ, sử sách, hải đội Hoàng Sa
Vợ công chức trên đảo Hoàng Sa. Ảnh tư liệu

Quân Nhật đã rút khỏi quần đảo Hoàng Sa cũng như Trường Sa vào năm 1946, Pháp trở lại Việt Nam làm chủ Biển Đông, lập tức cử một phân đội bộ binh Pháp đổ bộ từ tàu Savorgnan de Brazza đến thay thế quân đội Nhật từ tháng 5/1946, nhưng đơn vị này chỉ ở đó trong vài tháng. Trong thời gian từ 20 – 27/5/1946, đô đốc D’Argenlieu, cao ủy Đông Dương cũng đã phái tốc hạm L’Escarmouche ra nắm tình hình đảo Hoàng Sa (Pattle ) thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Vào lúc quân đội viễn chinh Pháp và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đang bận đối phó với cuộc chiến tranh toàn diện sắp xảy ra, thì ngày 26/10/1946, lợi dụng thời cơ, hạm đội đặc biệt của Trung Hoa Dân Quốc gồm 4 chiến hạm, mỗi chiếc chở một số đại diện của các cơ quan và 59 binh sĩ thuộc trung đội độc lập về cảnh vệ của hải quân (tiền thân của quân thủy đánh bộ) xuất phát từ cảng Ngô Tùng ngày 9/10/1946. Ngày 29/11/1946, các tàu Vĩnh Hưng và Trung Kiên tới đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đây. Tàu Thái Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa.

Ngày 17/10/1947, Thông báo hạm Tonkinois của Pháp được phái đến Hoàng Sa để yêu cầu quân Tưởng Giới Thạch rút khỏi Phú Lâm nhưng họ không rút. Pháp gửi một phân đội lính trong đó có cả quân lính “Quốc gia Việt Nam” đến đóng một đồn ở đảo Hoàng Sa (Pattle). Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc phản kháng và các cuộc thương lượng được tiến hành từ ngày 25/2 đến ngày 4/7/1947 tại Paris. Tại đây, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc đã từ chối không chấp nhận việc nhờ trọng tài quốc tế giải quyết do Pháp đề xuất. Ngày 1/12/1947, Bộ Nội vụ chính quyền Tưởng Giới Thạch công bố tên Trung Hoa cho hai quần đảo và đặt chúng thuộc lãnh thổ Trung Hoa.

Tháng 4/1949, Đổng lý văn phòng của quốc trưởng Bảo Đại là hoàng thân Bửu Lộc, trong một cuộc họp báo tại Sài Gòn đã công khai khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đã từ lâu đời trên quần đảo Hoàng Sa.

Vào ngày 1/10/1949, Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập ở lục địa Trung Quốc, Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch cầm đầu đã rút lui ra Đài Loan. Tháng 4/1950, đồn lính Trung Hoa dân quốc chiếm đóng bất hợp pháp ở đảo Phú Lâm (Ile Boisée) thuộc quần đảo Hoàng Sa đã rút lui. Còn đồn lính của Pháp đóng ở đảo Hoàng Sa (Pattle) vẫn còn duy trì. Đến năm 1954, Pháp đã chính thức trao lại quyền quản lý cho Chính phủ Quốc gia Việt Nam.

Chủ quyền Trường Sa Hoàng Sa, thư tịch cổ, châu bản, Trung Quốc, Việt Nam, cưỡng chiếm Hoàng Sa, bản đồ, sử sách, hải đội Hoàng Sa
Đào giếng nước ngọt ở Hoàng Sa năm 1938. Ảnh tư liệu

Trước đó, ngày 14/10/1950, chính phủ Pháp chính thức chuyển giao cho chính phủ Bảo Đại quyền quản lý các quần đảo Hoàng Sa. Thủ hiến Trung Phần là Phan Văn Giáo đã chủ tọa việc chuyển giao quyền hành ở quần đảo Hoàng Sa.

Hội nghị San Francisco có 51 quốc gia tham dự từ ngày 5/ 9 đến ngày 8/9/1951, ký kết hoà ước với Nhật. Ngày 5/9/1951, họp khoáng đại, ngoại trưởng Gromyko đề nghị 13 khoản tu chính. Khoản tu chính liên quan đến việc Nhật nhìn nhận chủ quyền của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đối với đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa dưới phía Nam đã bị Hội nghị bác bỏ với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận. Như vậy, cái gọi là danh nghĩa chủ quyền Trung Quốc đối với các quần đảo ngoài khơi Biển Đông đã bị cộng đồng quốc tế bác bỏ rõ ràng trong khuôn khổ một Hội nghị quốc tế.

Ngày 7/9/1951, tại hội nghị trên, Thủ tướng kiêm ngoại trưởng Trần Văn Hữu của Chính phủ Bảo Đại long trọng tuyên bố rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam: “Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour étouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les îles Spratley et Paracels qui de tout temps ont fait partie du Viet Nam“.

(Còn nữa)

Duy Chiến

* Bài có sử dụng tư liệu nghiên cứu của tiến sĩ Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, người sáng lập và cố vấn Quỹ Văn Hóa Giáo dục tại TP.HCM.

Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ-ASEAN lần đầu tiên diễn ra tại Mỹ – RFI

29 Th3
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel phát biểu tại Thượng đỉnh An ninh Châu Á : Đối thoại Shangri-La, Singapore, 01/06/2013.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel phát biểu tại Thượng đỉnh An ninh Châu Á : Đối thoại Shangri-La, Singapore, 01/06/2013.

REUTERS/Edgar Su
Trọng Nghĩa

Nếu có một sự kiện nêu bật quyết tâm xoay trục của Mỹ qua Châu Á, đặc biệt là qua vùng Đông Nam Á, thì đó sẽ là hội nghị mở ra vào đầu tuần tới (01-03/04/2014) tại Hawaii, tập hợp Bộ trưởng Quốc phòng 10 nước ASEAN và đồng nhiệm Mỹ Chuck Hagel. Bộ Quốc phòng Mỹ vào hôm qua, 27/03 đã chính thức loan báo sự kiện này và nhấn mạnh rằng đây là lần đầu tiên mà Hoa Kỳ tổ chức trên lãnh thổ của mình một cuộc họp Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ-ASEAN.

 

Trong cuộc họp báo tại Washington, Chuẩn Đô đốc Mỹ John Kirby, phát ngôn viên Lầu Năm Góc, xác định rằng chính Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel đã chuyển lời mời các đồng nhiệm ASEAN đến Mỹ dự họp, nhân dịp ông qua Singapore vào tháng Sáu năm 2013 để tham gia cuộc Đối thoại Shangri-La, và nhân Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng tại Brunei vào tháng Tám cùng năm.

Theo Chuẩn Đô đốc Kirby, ưu tiên của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ chính là tăng cường và mở rộng quan hệ của Lầu Năm Góc với toàn bộ các thành viên ASEAN. Bản thân ông Hagel cũng đã làm việc chặt chẽ với Tư lệnh Hải quân Mỹ tại vùng Thái Bình Dương, Đô đốc Samuel J. Locklear III, để giúp cho hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ-ASEAN sắp tới đây thành công tốt đẹp.

Phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Mỹ còn tiết lộ rằng hội nghị với các Bộ trưởng ASEAN sẽ xác định các cách thức tăng cường hợp tác an ninh đa phương trong khu vực, và xây dựng quan hệ đối tác mạnh mẽ hơn giữa các cơ quan quân sự và dân sự để cải thiện công cuộc trợ giúp nhân đạo và cứu trợ thiên tai.

Chính trong chiều hướng đó mà ông Chuck Hagel đã mời lãnh đạo hai cơ quan chuyên trách của Mỹ là Cơ quan Quản lý Đại dương và Khí quyển Quốc gia NOAA và Cơ quan Phát triển Quốc tế USAID cùng đến tham gia cuộc họp.

Theo nhận định của hãng tin Mỹ AP, Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ-ASEAN diễn ra lần đầu tiên trên đất Mỹ là một phần trong các nỗ lực không ngừng của Lầu Năm Góc hiện nay nhằm tăng cường và mở rộng sự hiện diện cũng như hoạt động quân đội Mỹ trong trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương

Trong khuôn khổ đó, ngay sau hội nghị với các đồng nhiệm Đông Nam Á tại Hawaii, ông Chuck Hagel đã sẽ đi thăm Nhật Bản, Trung Quốc và Mông Cổ, trong khuôn khổ vòng công du thứ tư của ông qua châu Á từ khi nhậm chức.

Thư gửi Hội nghị Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) năm 2014 – DLB

29 Th1

 

 
Thưa quý vị
 
Tôi là một Geophysicist 78 tuổi hiện sống ở Hanoi. Tôi không làm chính trị. Công việc chính của tôi là nghiên cứu về Palaeomagnetism. Tôi đã nghỉ hưu nhưng vì bị giày vò bởi sự tước đoạt các quyền tự do dân chủ, chà đạp lên quyền con người đối với nhân dân tôi nên tôi đã không thể không lên tiếng. Cuối năm 1998, chỉ vì bài viết “Nhân quyền – Khát vọng ngàn đời” (còn lưu trong thư viện online: www.nguyenthanhgiang.com) trình bày những nhận thức phổ quát về nhân quyền, trong đó khẳng đinh: “Nhân quyền cao hơn chủ quyền” mà tôi bị ông Đỗ Mười – tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam lúc bấy giờ – ra lệnh tống giam. Ngày ấy đã sát Tết Nguyên đán nên một học trò cũ của tôi ở ngành công an nói rằng họ đã xin hoãn chấp hành lệnh. Tuy nhiên đến tháng 3 năm 1999 họ đã tống giam tôi thật sự. Nhờ đã nổ ra nhiều cuộc biểu tình ở Hoa Kỳ, Pháp, Úc… và sự can thiệp của Quốc hội Hoa Kỳ cùng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ họ đã phải thả tôi ra sau mấy tháng biệt giam. Không xét xử, không luận tội nhưng cũng không xin lỗi.
 
Tuy chưa bỏ tù lâu dài được tôi nhưng họ đã và đang thường xuyên vây hãm, khống chế, cô lập tôi. Trước đây họ cắt điện thoại, cắt mạng internet, nay họ theo dõi, nghe lén 24/24h. Khi nhận được tín hiệu mà họ cho là khả nghi, họ điều động hàng chục (có khi tới dăm chục) công an bao vây và đặt chốt canh công khai ngay trước nhà tôi. Cuộc vây ráp, bắt bớ mới nhất xảy ra hôm 29 tháng 11 năm 2013 chỉ vì họ nhận được tin tiến sỹ Phạm Chí Dũng – một nhà hoạt động dân chủ – từ Saigon ra Hanoi làm việc ghé thăm tôi. Báo chí của ĐCSVN không chỉ ngang nhiên gán ghép tôi: phản bội tổ quốc, phản động, gián điệp… mà còn vu khống, xuyên tạc, bôi bẩn tôi rất thậm tệ. Mặc dù không tìm được bằng chứng luận tôi nhưng họ vẫn liên tục khám nhà tôi tới 9 lần (sục cả vào thùng gạo, nhà vệ sinh…), lấy đi hàng tạ tài liệu và thiết bị văn phòng, câu lưu thẩm vấn tôi gần 20 lần…
 
Dẫu sao, nỗi gian truân của tôi không thể nào so sánh với Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), Nguyễn Xuân Nghĩa… Tôi vô cùng xót thương những người vừa có tấm lòng thiết tha vì con người vừa có trí tuệ cao cả như: Trần Huỳnh Duy Thức, Vi Đức Hồi, Đỗ thị Minh Hạnh, Nguyễn Tiến Trung, Lê Quốc Quân, Cù Huy Hà Vũ, Trần Anh Kim… Tôi cũng mong quý vị quan tâm đến những người dù đã được ra tù hay chưa vào tù nhưng đang sống dở chết dở giữa xã hội vì bị kỳ thị, bị khống chế như Lê Thị Công Nhân, Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn Văn Đài, Phạm Hồng Sơn, Huỳnh Thục Vy…
 
Không thể không thừa nhận rằng Quyền Con Người ở Việt Nam đã được thăng tiến đáng kể. Tuy nhiên vì đã được xuất phát từ mức vô cùng tồi tệ kể từ khi ĐCSVN du nhập chủ nghĩa Mác Lênin nên cho đến nay nhân dân tôi vẫn còn bị đọa đày trong trạng thái thật đen tối.
 
Ông Trần Phú, tổng bí thư đầu tiên của ĐCSVN, từng tuyên bố: “Trí, Phú, Địa, Hào đào tận gốc, trốc tận rễ”. Xin quý vị xem xét lại xem, trong lịch sử nhân loại có cái khẩu lệnh nào phản động hơn thế? Những “công cuộc lớn” của ĐCSVN như: Cải cách Ruộng đất, Nhân văn Giai phẩm, Xét lại Chống Đảng… chính là sự nối dài của chủ trương cơ bản của ĐCSVN: diệt tinh hoa dân tộc. Diệt tinh hoa dân tộc chính là tước bỏ quyền sống, quyền phát triển của dân tộc. Cho đến tận bây giờ ĐCSVN vẫn ngang nhiên trân tráo cướp đoạt quyền của dân tộc, của đất nước. Mỗi độ xuân về, họ trương khẩu hiệu phải mừng Đảng rồi mới được mừng xuân, mừng đất nước. Họ buộc quân đội trước hết phải trung với Đảng, chứ không phải với nước. Họ buộc công an phải là thanh lá chắn của Đảng
 
Rõ ràng vấn đề nền tảng của Dân chủ và Nhân quyền ở Việt Nam đã bị hủy hoại từ ngày ĐCSVN chấp chính. Mỗi ngày họ có sửa sang vặt vãnh đôi chút để lấy lòng và lừa mỵ những ai hời hợt cả tin nhưng thực tế vẫn quá tồi tệ.
 
Tiếc rằng tôi không thể đến trực tiếp với quý vị (năm 1996 tôi cũng đã từng được mời đến Giơneve để trình bày một bản báo cáo về Palaeomagnetism tại Hội nghị Địa Vật lý Quốc tế nhưng đã bị nhà cầm quyền ngăn trở) nhưng kính mong quý vị hãy chú tâm lắng nghe những đồng sự của tôi là những đại diện cho VOICE, Mạng Lưới Blogger Việt Nam, No-U Việt Nam, Dân Làm Báo, Con Đường Việt Nam, Phật Giáo Hòa Hảo Truyền thống, Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo Việt Nam
 
Tôi hy vọng quý vị sẽ có đóng góp thỏa đáng cho việc đòi xóa bỏ điều 258 trong bộ luật hình sự và thả các tù nhân lương tâm ở Việt Nam
 
Hanoi ngày 26 tháng 01 năm 2014
 
Tiến sỹ Nguyễn Thanh Giang
Số nhà 6, Tập thể Địa Vật lý Máy bay
Trung Văn, Từ Liêm – Hanoi
Mobi: 0984 724 165 
 
 
%d bloggers like this: