Tag Archives: khi

Khi chế độ trở thành vấn nạn – BBC

30 Th1

 

Tiến sĩ Đoàn Xuân Lộc

Gửi cho BBC Việt ngữ từ London

 

 
Hiện chỉ còn vài nước trên thế giới theo Chủ nghĩa Cộng sản như Bắc Hàn.

Đều nằm trên bán đảo Triều Tiên, có chung một dân tộc, cùng chung một nền văn hóa và nói chung một ngôn ngữ nhưng Nam Triều Tiên trở thành một quốc gia giàu mạnh, dân chủ trong khi Bắc Triều Tiên vẫn phải đối diện với nghèo đói, cô lập.

Trường hợp Nam và Bắc Hàn cho thấy một thể chế chính trị cởi mở, tự do có thể giúp một đất nước phồn thịnh. Trái lại, một chế độ độc tài, toàn trị lại kìm hãm sự phát triển của một quốc gia.

 

Ngoài chế độ độc tài, gia đình trị ở Bắc Hàn, trên thế giới ngày hôm nay vẫn còn có không ít nhà lãnh đạo, chế độ – thay vì giúp đất nước mình phát triển hay là giải pháp cho những vấn nạn của đất nước mình – họ lại trở thành vật cản cho sự phát triển hoặc thậm chí là nguyên nhân dẫn đến bất ổn, xung đột của chính quốc gia nơi họ nắm quyền.

Chế độ Assad ở Syria

Một ví dụ cụ thể cho trường hợp ấy là Tổng thống Bashar al-Assad của Syria – người đẩy đưa quốc gia Bắc Phi này vào một cuộc nội chiến đẫm máu trong gần ba năm qua và cũng là nguyên nhân chính dẫn đến chia rẽ tại hòa đàm Syria, diễn ra tại Geneva, Thụy Sỹ, trong những ngày qua.

Lên nắm quyền năm 2000 – khi cha ông là Hafez al-Assad chết sau 30 năm cai trị Syria – ông Bashar al-Assad, sinh năm 1965, là một tổng thống tương đối trẻ. Tuy vậy, cũng giống như cha mình, ông vẫn tiếp tục lối lãnh đạo độc quyền, độc tài và gia đình trị. Ông và những người thân cận với ông chi phối toàn bộ đời sống chính trị, kinh tế, xã hội ở Syria.

Syria tan hoang sau hơn 3 năm xung đột.

Theo một bài viết trên The Guardian – một trong những nhật báo quan trọng tại Anh –ngày 19/07/2012, trước khi cuộc nổi dậy xẩy ra ông Assad và người thân của ông sở hữu khoảng từ 60% đến 70% tài sản của Syria và đến năm 2012, ông đã bòn rút khoảng 1.5 tỷ đôla cho gia đình và những người thân cận.

Dưới thời cai trị của ông, Syria cũng được coi là một quốc gia vi phạm nhân quyền nghiêm trọng. Theo các tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế, chế độ của ông Assad đã bắt bớ, tù giam, tra tấn và giết hại những tiếng nói, nhân vật chính trị đối lập.

Đó cũng là lý do tại sao, ngay sau có khi các cuộc nổi dậy ở các nước Ả Rập-Bắc Phi như Tunisia, Ai Cập và Libya, phong trào nổi dậy chống chế độ Assad cũng bùng nổ tại Syria.

Tuy vậy, khác hẳn với Zine al-Abidine Ben Ali ở Tunisia, Hosni Mubarak ở Ai Cập và Moammar Gaddafi ở Libya – những nhà độc tài bị truất phế hay chịu một kết cục bi thảm như trường hợp ông Gaddafi – ông Assad vẫn chưa bị lật đổ.

Nhưng khi dùng mọi thủ đoạn để cầm cố quyền lực, ông đã gây nên không ít tội ác trong ba năm qua. Chẳng hạn, theo một bản phúc trình của một nhóm công tố viên về tội ác chiến tranh và chuyên gia pháp y nổi tiếng quốc tế được tiết lộ mới đây, chế độ của ông đã tra tấn và giết hại khoảng 11.000 người thuộc phe đối lập.

Hơn nữa, chính sự tham quyền, cố vị ấy đã lôi kéo Syria vào một cuộc nội chiến đẫm máu, tương tàn và đẩy người dân Syria vào một thảm cảnh rất bi thương. Uớc tính đến nay, cuộc nội chiến ở Syria đã cướp đi hơn 100 ngàn sinh mạng và gần 10 triệu người Syria phải rời bỏ nhà cửa – trong số có hơn 2 triệu người phải chạy sang các nước làng giềng lánh nạn. Đó là những con số thật không nhỏ với một quốc gia chỉ có hơn 22 triệu dân.

“Hội nghị Geneva khẳng định không có chuyện ông Assad nhượng bộ và đồng ý ra đi. Và điều này cũng có nghĩa là cuộc nội chiến ở Syria khó có thể kết thúc và người dân nước này vẫn tiếp tục phải chịu cảnh ly tán, chết chóc trong thời gian tới”

Vẫn biết rằng lực lượng đối lập Syria cũng ít nhiều nhúng tay vào thảm cảnh này. Chẳng hạn, Nga – một đồng minh thân cận của chế độ Assad – thường cho rằng trong các nhóm đối lập có các thành phần khủng bố và những đối tượng này cũng tiến hành những vụ tàn sát ở Syria trong thời gian qua. Các tổ chức quốc tế, như Tổ chức theo dõi nhân quyền, cũng đã từng lên tiếng tố cáo phe đối lập giết hại dân thường.

Ngoài ra, nếu phe đối lập – trong đó có các thành phần Hồi giáo cực đoan, những người đã từng tuyên bố họ sẽ cho thiết lập một nhà nước Hồi giáo ở Syria – được lên nắm quyền, cũng không chắc Syria có thể tiến tới dân chủ, ổn định. Việc ông Mohammed Morsi cho áp dụng luật Hồi giáo bảo thủ, hà khắc của Huynh đệ Hồi giáo – một phong trào có khẩu hiệu ‘Hồi giáo là giải pháp’ – ở Ai Cập khi lên nắm quyền và cũng vì vậy bị truất phế một năm sau đó, dẫn đến tình trạng bất ổn hiện nay ở Ai Cập chứng minh điều đó.

Tuy vậy, ít ai có thể phủ nhận rằng ông Assad đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa đẩy Syria đến thảm cảnh ngày hôm nay. Do đó, dù không còn mặn mà ủng hộ phe đối lập ở Syria như họ đã từng làm với phong trào nổi dậy ở Lybia, các nước phương Tây như Mỹ, Anh và Pháp nhất quyết buộc ông Assad phải từ bỏ quyền lực.

Nhưng đại diện của chính phủ ông tại Hội nghị Geneva khẳng định không có chuyện ông Assad nhượng bộ và đồng ý ra đi. Và điều này cũng có nghĩa là cuộc nội chiến ở Syria khó có thể kết thúc và người dân nước này vẫn tiếp tục phải chịu cảnh ly tán, chết chóc trong thời gian tới.

Tổng thống Yanukovych ở Ukraine

Một quốc gia khác cũng đang phải đối diện với bạo lực, bất ổn và có thể dẫn tới nội chiến nếu những xung đột hiện tại không sớm được giải quyết là Ukraine.

“Có thể nói ông Yanukovych là nguyên nhân chính dẫn đưa Ukraine đến tình trạng bế tắc, bất ổn và xung đột ngày hôm nay”

Xung đột giữa chính quyền Tổng thống Viktor Yanukovych và những người đối lập tại Ukraine bắt đầu từ giữa tháng 11 năm ngoái khi ông Yanukovych dừng ký kết một hiệp định liên hiệp với Liên hiệp châu Âu (EU).

Lãnh đạo đối lập và người dân ở thủ đô Kiev và nhiều nơi khác ở Ukraine đã đồng loạt xuống đường phản đối quyết định này vì họ muốn Ukraine thoát khỏi sự phụ thuộc vào Ngà và tiến gần với EU.

Trước áp lực của người biểu tình, ông Yanukovych hứa sẽ ký hiệp ước với EU. Tuy vậy, sau đó ông lại không làm như vậy vì nhận được những hứa hẹn giúp đỡ rất hẫu hĩnh – như giảm một phần ba giá khí đốt cho Ukraine – từ Nga. Điều này càng làm nhiều người Ukraine xuống đường phản đối vì họ không biết ông Yanukovych đã trao đổi gì với Nga để nhận được sự giúp đỡ ấy.

Nằm cạnh một quốc gia lớn và hơn nữa lại phụ thuộc nặng vào quốc gia ấy, đặc biệt là về năng lượng, thoát khỏi sự lệ thuộc của Nga quả thực không dễ đối với Ukraine. Càng không dễ khi Nga lại có những hứa hẹn giúp đỡ rất hấp dẫn, có thể giúp Ukraine thoát khỏi tình trạng nợ nần trước mắt, thậm chí nguy cơ bị phá sản.

Nhưng có thể nói Tổng thống Yanukovych quyết định theo Nga thay vì đến với EU vì điều đó có lợi cho chính bản thân ông hơn là có lợi cho đất nước và người Ukraine.

Theo Nga, ông không cần phải tiến hành những cải cách chính trị hay buộc phải minh bạch trong quyết sách của mình. Và như vậy, ông và những người thân của ông có thể kiếm lời từ những khoản giúp đỡ của Nga. Hơn nữa, biết đâu Nga cũng dành cho ông những ưu đãi cá nhân khác.

Nhưng để đến được với EU, ông Yanukovych và chính phủ của ông cần thực hiện một số điều kiện, trong có cần phải thay đổi luật để xây dựng một nhà nước pháp quyền, minh bạch, dân chủ. Đây là những điều mà đất nước và người dân muốn có vì chúng sẽ giúp Ukraine phát triển, phồn thịnh trong tương lai.

Đó cũng là lý do tại sao người dân ở các tỉnh thuộc phía Đông của Ukraine – nơi từng dành cho ông Yanukovych nhiều sự ủng hộ trong cuộc bẩu cử tống thống năm 2010 – cũng xuống đường biểu tình chống chính phủ của ông lần này.

Các cuộc biểu tình tại Ukraine càng trở nên bạo lực, trầm trọng một phần cũng vì chính phủ ông đã dùng vũ lực để trấn áp biểu tình và thậm chí ra luật ngăn cấm biểu tình. Nếu thay vì dùng những biện pháp mạnh, ông biết đối thoại và chịu nhân nhượng ngay từ đầu chắc Ukraine đã không phải rơi vào tình trạng bất ổn, khủng hoảng, tê liệt như hiện nay.

Hơn nữa, nếu biết làm vậy ông cũng không phải đối diện với nguy cơ bị lật đổ. Dù ông có những nhân nhượng trong mấy ngày qua – chẳng hạn giải tán chính phủ, chịu gặp lãnh đạo đối lập – xem ra giới đối lập và người biểu tình vẫn chưa chịu dừng bước. Giờ họ muốn ông từ chức và tổ chức bầu cử sớm.

Một lý do khác làm người dân Ukraine chống đối và muốn truất phế ông Yanukovych là tình trạng tham nhũng tràn làn tại Ukraine từ khi ông trở thành tổng thống. Năm 2013, Tổ chức minh bạch thế giới đã xếp Ukraine thứ 144 (trên 177 quốc gia, lãnh thổ) về mức độ tham nhũng. Trong khi đó năm 2007 quốc gia này xếp thứ 118.

Một bài viết của Shaun Walker trên nhật báo The Guardian ngày 27/01/2014 đề cập tình trạng các nhóm lợi ích và những người thân cận ông Yanukovych chi phối, khuynh đảo chính trị và kinh tế Ukraine. Theo bài viết, con trai của ông Yanukovych là Oleksandr, một nha sỹ, đã thâu tóm một tài sản rất lớn – ước tính lên đến 500 triệu đôla vào đầu năm 2014 theo một nguồn khác – trong vòng ba năm qua.

Do đó, có thể nói ông Yanukovych là nguyên nhân chính dẫn đưa Ukraine đến tình trạng bế tắc, bất ổn và xung đột ngày hôm nay.

Đảng Cộng sản ở Việt Nam?

Ông Lê Hiếu Đằng, người mới qua đời hôm 22/01/2014 từng nói ĐCSVN là lực cản của dân tộc.

Dù không có những xung đột như ở Syria và Ukraine hay phải đối diện với nghèo đói, cô lập như Bắc Hàn, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với không ít bế tắc chính trị, khó khăn kinh tế và bất ổn xã hội.

Và nếu dựa vào các góp ý, kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992 của giới nhân sỹ, trí thức và các tổ chức khác hay những phát biểu, quyết định của một số chuyên gia, đảng viên, cựu quan chức Việt Nam trong thời gian qua xem ra Đảng Cộng sản Việt Nam và đường lối của họ là nguyên nhân dẫn đến những vấn nạn đó.

Chẳng hạn ông Lê Hiếu Đằng – một cựu quan chức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người vừa mới qua đời hôm 22/01 – đã tuyên bố bỏ Đảng Cộng sản sau hơn 40 năm là đảng viên chỉ vì ông nhận ra rằng Đảng Cộng sản đang ‘trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc, đi ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân’.

Trong lời phân ưu của mình trước sự ra đi của ông Lê Hiếu Đằng, những người khởi xướng và điều hành trang mạng Bauxite Việt Nam đã mô tả chế độ hiện tại là ‘một tập đoàn độc tài tham nhũng đang đưa đất nước vào tình trạng còn tồi tệ hơn cái chế độ mà anh [ông Lê Hiếu Đằng] đã góp phần đánh đổ’.

Vào tháng 11 năm ngoái, những người khởi xướng và hưởng ứng Kiến nghị 72 đã gửi thư kêu gọi Quốc hội Việt Nam dừng việc thông qua Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 vì họ cho rằng Bản Dự thảo này ‘thậm chí có một số điểm còn thụt lùi hơn trước. Điều đó có nghĩa là vẫn duy trì một nền tảng pháp lý lỗi thời của thể chế toàn trị, là nguồn gốc đã gây ra cho đất nước và nhân dân rất nhiều thảm họa, đặc biệt là cuộc khủng hoảng trầm trọng về chính trị – kinh tế – văn hóa – xã hội mà cả nước đang lâm vào và vẫn chưa có lối thoát’.

Trước đó, trong góp ý dự thảo sửa đổi Hiến pháp, dù không gay gắt, Hội đồng Giám mục Việt Nam cũng đã rõ ràng và công khai chỉ ra những bất cập, nguy hại khi hiến định Đảng Cộng sản là ‘lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng’.

Theo các Giám mục Việt Nam, ‘sự trói buộc tư tưởng vào một hệ ý thức duy nhất đã kìm hãm tư duy sáng tạo của người dân Việt Nam. Ðây là một trong những lý do lớn, dẫn đến tình trạng trì trệ và chậm tiến của Việt Nam về nhiều mặt: giáo dục, khoa học và công nghệ, văn hóa và nghệ thuật’.

Nếu theo dõi tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của Việt Nam trong thời gian qua và đặc biệt nếu dựa vào các chỉ số, số liệu của các tổ chức quốc tế, có thể thấy ít hay nhiều những nhận định trên cũng có cơ sở.

Tình trạng các nhóm lợi ích thâu tóm, chi phối nền kinh tế Việt Nam hay tham nhũng tràn lan – có người ước tính đến ‘50% quan chức dính vào tham nhũng’ – được giới quan sát, chuyên gia nêu trong thời gian qua cho thấy mô hình kinh tế của Việt Nam có không ít bất cập. Và phải chăng đây là một trong những lý do Việt Nam vẫn tụt hậu so với các nước khác khu vực khác?

Theo Ngân hàng thế giới, thu nhập đầu người (GDP per capita) của Việt Nam năm 2012 chỉ ở mức 1755 đôla/người, trong khi đó ở Singapore là 51709, Malaysia 10432, Thái Lan 5580, Indonesia 3557 và Philippines 2587.

Việt Nam thua xa sáu nước ASEAN trên không chỉ về kinh tế mà còn về nhiều lĩnh vực khác.

Năm 2013, chỉ số dân chủ của The Economist xếp Việt Nam thứ 144 (trên 167 quốc gia) trong khi đó Indonesia được xếp thứ 53, Thái Lan 58, Malaysia 64, Philippines 69 và Singapore 81. Năm 2013, Tổ chức Phóng viên không biên giới xếp Việt Nam vào gần cuối bảng (172 trên 179) – và sau tất cả chín nước ASEAN khác, trong đó có cả Lào, Cambodia và Myanmar – về tự do báo chí.

Các quan chức Việt Nam và một số người thường biện minh rằng Việt Nam thua các nước Đông Nam Á trên tại vì các quốc gia ấy không có chiến tranh như Việt Nam.

Không ai phủ nhận những tác động tiêu cực của chiến tranh lên sự phát triển của Việt Nam. Nhưng cứ mãi hay chỉ đổ lỗi cho chiến tranh để biện hộ cho sự yếu kém của mình xem ra không thuyết phục lắm.

Nhân dân khổ, đất nước tụt hậu

“Khi giới cầm quyền chỉ biết quan tâm đến lợi ích của mình, của đảng mình, của phe nhóm hay người thân của mình và quên đi lợi ích của người dân, của đất nước thì quốc gia ấy không thể phát triển, ổn định”

Những ví dụ trên – đặc biệt là trường hợp Syria – cho thấy ở bất cứ một quốc gia nào khi giới cầm quyền chỉ biết quan tâm đến lợi ích của mình, của đảng mình, của phe nhóm hay người thân của mình và quên đi lợi ích của người dân, của đất nước thì quốc gia ấy không thể phát triển, ổn định.

Những biến động, xung đột ở Syria và các nước Ả Rập-Bắc Phi trong thời gian qua cũng minh chứng rằng bất cứ hình thức độc tài nào – về chính trị hay tư tưởng – cũng kìm kẹp sự phát triển của đất nước và làm người dân cực khổ.

Và nếu một nhà lãnh đạo, một chế độ chỉ biết coi trọng lợi ích của mình thì người lãnh đạo hay chế độ ấy – dù có tuyên truyền hay biện hộ kiểu gì – cũng chỉ là gánh nặng hay vấn nạn cho nhân dân và đất nước của mình.

Trái lại ở đâu có một vị lãnh đạo, một chính quyền biết đặt lợi ích của người dân, đất nước lên trên hết và biết tìm cách giúp quốc gia vượt qua những vấn nạn mà nó đang đối diện, đất nước ấy sớm hay muộn sẽ tự do, ổn định, phát triển.

Trường hợp ông Nelson Mandela – người đã giúp Nam Phi thoát khỏi chế độ phân biệt chủng tộc và hàn gắn, hòa giải những vết thương, xung đột quá khứ để tiến tới dân chủ, tự do, bình đẳng và phát triển – là một ví dụ điển hình. Đây cũng là lý do tại sao người dân Nam Phi và thế giới tiến bộ nói chung đều dành cho ông Nelson Mandela nhiều sự thương tiếc, kính trọng, ngưỡng mộ khi ông qua đời.

Bài phản ánh văn phong và quan điểm riêng của tác giả, hiện làm việc nghiên cứu tại Viện Global Policy, London.

Khi Trung Quốc ‘đụng đâu lấn đó’ – Vnn

2 Th5

Khi Trung Quốc ‘đụng đâu lấn đó’

Việc triển khai tour du lịch trái phép ra quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam là bước gây hấn mới của Trung Quốc, làm gia tăng căng thẳng và phức tạp ở Biển Đông.

 

Chuyến du lịch của hơn 100 trăm du khách Trung Quốc hôm chủ nhật vừa qua được mô tả có hành trình ba đêm, tới một hòn đảo cát trắng hoang sơ ở Biển Đông, kể cả đến những bãi biển mà Trung Quốc gọi là thuộc “quần đảo Tây Sa”. Cái họ gọi là “Tây Sa” ấy chính là quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Tờ Thời báo Hoàn cầu Trung Quốc thậm chí còn loan báo rằng, nếu chuyến đầu thành công, giới chức Trung Quốc sẽ mở các chuyến thăm mỗi tháng một, hai lần.

Không những thế, họ còn chuẩn bị tổ chức thi câu cá tại khu vực quần đảo Hoàng Sa. Mới đây nữa, quan chức cao cấp Trung Quốc còn đến cắt băng khánh thành nhà sách Tân Hoa trên đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam…

 

Trung Quốc, Biển Đông, chủ quyền, Hoàng Sa, Nhật Bản, Ấn Độ, Hoa Đông, Lương Thanh Nghị, ASEAN
Tàu du lịch được cho là Trung Quốc sẽ dùng để đưa trái phép du khách tới Hoàng Sa. Ảnh: Yododo

Trong tháng 4, hai lần Việt Nam lên tiếng cáo buộc những sự việc trên, kể cả khi nó đang ở trong kế hoạch.

Hôm 12/4, khi những kế hoạch trên được truyền thông Trung Quốc loan báo, đại diện Ủy ban Biên giới quốc gia đã lên tiếng cảnh báo việc tổ chức đưa khách du lịch tới quần đảo Hoàng Sa là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, trái với tinh thần Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Ủy ban này yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ kế hoạch.

Trong một động thái thể hiện lập trường mạnh mẽ, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã trao công hàm cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội để phản đối kế hoạch đưa du khách ra Hoàng Sa.

Bất chấp phản ứng của Việt Nam, những kế hoạch bị phản bác vẫn được triển khai. Một lần nữa, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị hôm 30/4 lên tiếng phản đối, coi những việc làm trên của phía Trung Quốc đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, trái với Thỏa thuận nguyên tắc cơ bản giải quyết các vấn đề trên biển giữa hai nước, không tuân thủ Tuyên bố cấp cao ASEAN – Trung Quốc kỷ niệm 10 năm DOC và vi phạm DOC.

Ở cấp địa phương, lãnh đạo Đà Nẵng cũng lên tiếng khẳng định quần đảo Hoàng Sa là một huyện đảo của thành phố này, một bộ phận không tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Việc Trung Quốc đưa khách du lịch ra Hoàng Sa đã xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, gây bất bình đối với chính quyền và nhân dân Đà Nẵng.

Gây biến phức tạp

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam cho rằng, những hành động của phía Trung Quốc “gây căng thẳng và làm phức tạp tình hình ở Biển Đông” và yêu cầu phía Trung Quốc “chấm dứt các việc làm sai trái” để “không làm ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định ở Biển Đông”.

Những hành động nêu trên là bước leo thang gây hấn mới của Trung Quốc, góp phần gia tăng quan ngại cho khu vực bởi tính chất khiêu khích và coi thường luật pháp quốc tế.

Không chỉ Việt Nam, Nhật Bản, Ấn Độ, Philippines và cả Malaysia gần đây đều lên tiếng về các vụ xâm nhập lãnh hải trái phép của Trung Quốc.

Tuần trước, 8 tàu hải giám Trung Quốc đã tiến vào vùng biển thuộc quyền kiểm soát của Nhật với nỗ lực ngăn chặn một đội tàu chở các nhà hoạt động người Nhật Bản tiếp cận quần đảo Senkaku/Điếu Ngư ở Hoa Đông.

Báo chí Nhật Bản đưa tin các tàu Trung Quốc đã được sự hộ tống của khá nhiều máy bay quân sự, kể cả máy bay chiến đấu Su-27 và Su-30. “Đây là mối đe dọa chưa từng có”, một quan chức Nhật Bản giấu tên nói với báo Sankei Shimbun.

Cuối tháng trước, đội tàu chiến 4 chiếc của hải quân Trung Quốc gồm cả tàu đổ bộ đã tiến đến bãi đá James – nơi Malaysia đã tuyên bố chủ quyền, nằm cách quốc gia này khoảng 80km, cách bờ biển Trung Quốc tới 1.800km, vượt ra cả ngoài giới hạn “bản đồ 9 đoạn” mà Trung Quốc tự đưa ra với yêu sách bao trùm hầu hết Biển Đông.

Tín hiệu?

Dư luận đặt vấn đề hàng loạt các động thái của Trung Quốc liên quan lãnh hải có lẽ không còn chỉ dừng ở “phép thử” với các nước láng giềng trong khu vực.

Sự quả quyết mới của Bắc Kinh đang rung hồi chuông báo động với châu Á và đặt ra nhiều câu hỏi về cái gọi là “giấc mơ Trung Quốc”. Nhiều người đã gắn kết nó với các cam kết rõ ràng của giới lãnh đạo Trung Quốc về việc xây dựng và tăng cường quân sự quốc gia để tạo sức mạnh trong tranh chấp lãnh thổ với các láng giềng.

Tô Hải Long – nhà nghiên cứu ở Viện Đông Nam Á, Đại học Tế Nam viết trên Thời báo Hoàn cầu rằng: Ban lãnh đạo mới của Trung Quốc đã tạo lập một giấc mơ vĩ đại cho đất nước, bao gồm bảo vệ an ninh hàng hải và xây dựng Trung Quốc thành cường quốc hàng hải.

Theo Stephanie Kleine-Ahlbrandt, chuyên gia đối ngoại về Trung Quốc tại nhóm Nghiên cứu khủng hoảng quốc tế, người Trung Quốc cuối cùng đã lộ liễu hơn về những gì họ định làm và muốn gửi tín hiệu với khu vực.

Hôm 16/4, Bắc Kinh công bố sách trắng quốc phòng nêu rõ mối quan hệ giữa sức mạnh quân sự và ý thức hệ mới của Trung Quốc. Sách trắng khẳng định vai trò của quân đội là “bảo đảm hiện thực hoá “giấc mơ Trung Quốc”.

Tân hoa xã thì nhấn mạnh thêm rằng: “Bản chất chiến lược phòng thủ quốc gia của Trung Quốc không thay đổi nhưng Trung Quốc sẽ không đổi chác chủ quyền và lợi ích của mình”.

Thái An (tổng hợp)

Khi học giả Trung Quốc nói thật(*) – BV/BS

15 Th12

Khi học giả Trung Quốc nói thật(*)

 
Bản đồ minh họa các “chư hầu” thời  Vương Tiều 
 
Trước tình hình tranh chấp Biển Đông ngày càng căng thẳng, tiếp theo cuộc Hội thảo quốc tế về Biển Đông lần thứ nhất (năm 2009), cuộc Hội thảo lần thứ hai có tên “Biển Đông: Hợp tác vì An ninh và Phát triển Khu vực” do Học viện Ngoại Giao và Hội luật gia Viêt Nam đứng ra tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 10 đến 12/11/2010. Hội thảo lần này được dư luận trong và ngoài nước rất quan tâm không phải  vì nó diễn ra ngay sau Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 27 mà vì tình hình Biển Đông đang nóng lên trước hành đồng xâm lấn biển đảo trắng trợn của phía Trung Quốc. 

Bài viết ngắn này không nhằm trình bày về cuộc hội thảo mà chỉ nêu lên một hiện tượng cho thấy người Trung Quốc đang đi theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan rất nguy hiểm. Không ai khác mà chính bộ máy cầm quyền nước này đã và đang cố tình “hâm nóng” tinh thần dân tộc cực đoan Đại Hán đã có từ thời các Hán đế, trong đó Hán tộc được coi là “con trời” trong khi tất cả các dân tộc khác chỉ là man di mọi rợ, các nước láng giềng chỉ là “phiên thuộc” của Vương Triều . Cách tư duy này thực sự  nguy hiểm  không kém gì tư tưởng “đại Đức” của phát xít Hit-le thời kỳ trước Thế chiến II , và nếu không bị ngăn chặn rất có thể sẽ đưa thế giới vào một cuộc chiến tranh mới.  

 
 
Ngay trong ngày đầu của Hội thảo, dư luận đã ngỡ ngàng trước những cách lập luận thiên lệch không giống ai của các đại biểu Trung Quốc. Một vị tiến sĩ tên là Vương Hàn Lĩnh (của Viên Luật pháp Quốc tế thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc) đã trâng tráo tuyên bố : “Nên nhớ rằng cho đến năm 1885, Việt Nam vẫn là thuộc quốc của Trung Quốc”. Cũng chính là  vị tiến sĩ này trước đó đã giảng giải một cách đầy tự tin rằng  “Anh có thể tự lựa chọn cách giải quyết tranh chấp mà anh cho là tốt nhất, có thể phân định được lãnh hải bằng cách này hay cách khác, nhưng chắc chắn là anh không thể tự lựa chọn được hàng xóm. Hai nước Trung Quốc và Việt Nam mãi mãi là hàng xóm, qua biết bao thế hệ và còn tiếp tục với rất nhiều thế hệ nữa”….và không quên đe dọa : “Nếu không chọn cách giải quyết như tôi vừa nêu, các anh sẽ phải hứng chịu các xung đột bằng vũ lực, hoặc thậm chí chiến tranh. Điều này không hề tốt cho tương lai”. (xem thêm tại www.tuanvietnamnet ngày 11/11/2010).
           
Thì ra, lâu nay thế giới dường như đã quên cơn ác mộng của chủ nghĩa dân tộc cực đoan Đại Hán. Nhân dân Việt Nam cũng đã phần nào bỏ qua nỗi uất hận trong quá khứ , kể cả cuộc chiến tranh biên giới 1979 với tâm trạng bán tín bán nghi về sự “cải tà quy chính” của ông bạn láng giềng đang chuyển hóa từ chế độ phong kiến lạc hậu sang thế giới đại đồng (!) trong khi cả thế giới quen nghĩ về Trung Quốc như một nước đông dân kém phát triển như con “hổ giấy” vậy!. Ít ai tin rằng cái quốc gia đông dân và nghèo đói này không lúc nào quên ấp ủ giấc mộng bá chủ đã có từ hàng ngàn năm trước. Giấc mộng đó mạnh đến nỗi nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình trước khi chết đã phải căn dặn con cháu phải biết “ẩn minh chờ thời”, tức là  đừng quá nóng vội mà bộc lộ dã tâm quá sớm sẽ làm hỏng mưu đồ bá vương!  
 
Tò mò trước những lập luận  cuồng tín của các nhà nghiên cứu Trung Quốc, tôi  thử tìm trên mạng thì thấy  tin nói về kết quả của một cuộc khảo sát  vừa mới được hãng thông tấn  Mỹ- Global Times thực hiện, trong đó lấy ý kiến của hơn 1.300 người dân tại 6 tỉnh thành lớn của Trung Quốc là Bắc Kinh, Quảng Châu, Thành Đô, Trường Sa, Tây An và Thẩm Dương về giải pháp cho vấn đề tranh chấp chủ quyền Biển Đông. Kết quả khảo sát cho thấy, trong hơn 90% người tham gia trả lời, trong đó 39,8% cho rằng phải chiến đấu để khẳng định chủ quyền; 35,3% cho rằng nên đặt vấn đề tranh chấp chủ quyền qua một bên và cùng nhau phát triển trong khi vẫn tiếp tục lên tiếng khẳng định chủ quyền; chỉ có 18,3% đồng ý xác định lại biên giới lãnh hải cùng với các quốc gia hữu quan. Cuộc thăm dò cũng cho thấy đa số người dân Trung Quốc xếp Việt Nam là nước kẻ thù số 3 cần đề phòng sau Mỹ và Nhật Bản!
 
 
Khi được hỏi lý do tại sao, một số người  cho rằng có thể việc giáo dục lịch sử cũng như tình trạng kiểm soát thông tin tại Trung Quốc đã dẫn đến nhận xét trên…Vì theo họ, không ít người dân Trung Quốc khi còn ngồi trên ghế nhà trường, họ đã được giáo dục rằng chủ quyền của hai quần đảo Nam Sa và Tây Sa (Trường Sa và Hoàng Sa) là thuộc về Trung Quốc, nhưng bị Việt Nam và các nước khác chiếm đoạt (!?).
 
Bình luận về kết quả khảo sát nói trên, Tiến sĩ  June Teufel Dreyer, Giảng viên Khoa học Chính Trị của trường đại học Miami  cho rằng “Sách của Trung Quốc đã phá hỏng lịch sử một cách nặng nề bởi vì Việt Nam đang nắm giữ Hoàng Sa vào thời điểm mà Trung Quốc dùng bạo lực để chiếm lấy nó vào khoảng những năm 1974 – 1975. Vì vậy, tôi không hiểu vì sao mà người ta có thể nói rằng các quần đảo trên là của Trung Quốc. Tuy nhiên, nhiều người đã đọc sách giáo khoa của Trung Quốc thì nói rằng có nhiều điều không hẳn là đúng sự thật”.      

Tiến sĩ Dreyer cũng nhận xét: “Mặc dù mọi cuộc khảo sát đều mang tính tương đối, nhưng trước con số khá cao mang tính thể hiện sự đồng lòng của người dân Trung Quốc đối với các quyết định của chính quyền khiến người ta không khỏi đặt câu hỏi về sự thành công của chính sách giáo dục và sự kiểm soát thông tin hữu hiệu của Bắc Kinh trong mục tiêu phục vụ cho chính trị. Vấn đề ở chỗ, hy sinh dân trí để đạt được mục tiêu chính trị lại không phải là lựa chọn của một xã hội dân chủ và văn minh”.

          

Thì ra Tiến sĩ Vương Hàn Lĩnh và các học giả Trung Quốc đã nói rất thật về tình trạng chủ nghĩa dân tộc cực đoan trong xã hội Trung Quốc đương đại. May thay sự nói thật của họ dù sao cũng giúp cảnh báo thế giới về nguy cơ của  chủ nghĩa bành trướng bá quyền Đại Hán đang đến gần. 
(*) Bài này được “chuyển nhà” từ blog Yahoo Vietnam của cùng tác giả

 

 
 
 
 
 

2 nhận xét:

  1. Trích: “Cách tư duy này thực sự nguy hiểm không kém gì tư tưởng “đại Đức” của phát xít Hit-le thời kỳ trước Thế chiến II , và nếu không bị ngăn chặn rất có thể sẽ đưa thế giới vào một cuộc chiến tranh mới”.
    Biết đâu, một cuộc chiến tranh mới sẽ là cần thiết và là giải pháp tốt để chia Trung Cộng ra thành nhiều nước nhỏ bác ạ.
    Em hy vọng, người Mỹ sẽ đưa Trung cộng vào một cuộc chạy đua vũ trang, và cuối cùng Trung cộng sẽ sụp đổ như cách mà Liên xô sụp đổ.
    Kính!

    Trả lờiXóa

  2. Quy luật là vậy. Nếu cứ tiếp tục con đường xâm lược bành trướng của CN dân tộc cực đoan,TQ tất yếu sẽ thất bại…Nhưng trước khi nó sụp đổ thì VN
    và các nước khác sẽ bị tàn phá như BaLan,Hung,Tiệp….

    Chính TQ phát động cuộc chạy đua vũ trang lần này…với một giá quá rẻ, nếu không nói là có lãi- đó là biện pháp kích cầu nền kinh tế TQ đồng thời làm chảy máu nền kinh tế các nước đối phương, kể cả Nhật,Mĩ.

KHI MỸ HƯỚNG VỀ CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG – TTXVN/BS

12 Th4

Tài liệu tham khảo đặc biệt

(Báo Le Monde diplomatique tháng 3/2012)

Trong khi Chính phủ Ixraen đang đe dọa tn công Iran, Liên minh chân Âu và Mỹ đã tăng cường những biện pháp trừng phạt cứng rn chng lại nước Cộng hòa Hồi giáo nàymột chiến lược mà người ta có th nghi ngờ rằng nó sẽ dn đến một mục tiêu đã được biết đến. Tình hung này khiến Oasinhtơn còn lo lắng nhiều hơn vì nước Mỹ bị suy yếu bởi cuộc khủng hoảng và những thất bại của họ ở Irc và Ápganixtan, đang tìm cách chuyn hướng những ưu tiên của họ và sẽ tập trung vào châu Á – Thái Bình Dương.

 

“Dân tộc ta đang sống trong một thời khắc quá độ”, đó là điều mà Tổng thống Obama đã tuyên bố vào ngày 5/1 vừa qua, trước khi tiết lộ chiến lược phòng thủ tương lai của nước Mỹ. Chiến lược này dự báo sẽ thu gọn tầm vóc quân sự và sẽ chấm dứt một số sứ mệnh, đặc biệt là những trận chiến ở vùng đất cơ giới hóa ở châu Âu và các hoạt động tác chiến chống nổi loạn ở Ápganixtan và Pakixtan. Mục đích là để tập trung nhiều hơn vào những khu vực khác – đặc biệt là châu Á – Thái Bình Dương – và các mục tiêu khác: chiến tranh mạng, các hoạt động tác chiến đặc biệt và việc kiểm soát các vùng biển. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta nhận định: “Lực lượng liên minh của Mỹ sẽ bị giảm nhẹ, nhưng nó sẽ nhanh nhẹn và linh hoạt hơn, sẵn sàng triển khai một cách nhanh chóng, sáng tạo và hoàn thiện hơn về mặt kỹ thuật”.

Theo Obama và Panetta, hướmg đi mới này phản ánh một tình trạng không sáng sủa cả bên trong lẫn bên ngoài. Bị suy yếu bởi cuộc khủng hoảng kinh tế, nước Mỹ đã lâm vào tình trạng bùng nổ nợ công; căn cứ vào Đạo luật kiểm soát ngân sách được thông qua năm 2011, ngân sách của Bộ Quốc phòng sẽ bị cắt 478 tỉ USD trong vòng 10 năm tới. Và có thể còn những cắt giảm lớn nữa nếu các đảng viên Cộng hòa với Dân chủ không thể đi đến một thỏa thuận về những giải pháp kinh tế khác. Trên phương diện quốc tế, việc rút quân khỏi Irắc đã không làm giảm áp lực quân sự. Oasinhtơn đang đối mặt với những cuộc xung đột tiềm tàng mới, ví dụ cuộc chiến với Iran hay với Bắc Triều Tiên, cũng như trước sự khẳng định của Trung Quốc.

Thoạt tiên, chính sách này nhằm mục đích tạo ra một lực lượng quân sự nhỏ gọn hơn, nhưng thích nghi tốt hơn với những mối nguy hiểm tiềm tàng trong tương lai, như vậy nó có thể được coi như là một câu trả lời thực dụng trong một bối cảnh kinh tế và địa – chính trị không ổn định. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ, người ta có thể phát hiện ra những mục tiêu rộng lớn hơn.

Những đối thủ tham vọng

Đối mặt với sự xuất hiện của những đối thủ tham vọng và với nguy cơ không thể tránh khỏi là dần mất đi cương vị siêu cường duy nhất của mình, mước Mỹ tìm cách giữ vững ưu thế của họ bằng cách duy trì thế lực trong những cuộc chiến có tính quyết định và trong những khu vực then chốt của hành tinh, có nghĩa là trong những vùng ngoại vi của châu Á, dựa theo một vòng cung trải từ Vịnh Pécxích, qua Ấn Độ Dương và Biển Trung Hoa tới Tây Bắc Thái Bình Dương. Để làm được điều này, Lầu Năm Góc sẽ tìm mọi cách để bảo toàn ưu thế của mình không những trên đường không và đường biển, mà cả trong lĩnh vực chiến tranh mạng và công nghệ vũ trụ nữa. Là phương diện chính của chính sách quốc phòng Mỹ, việc chống khủng bố sẽ chủ yếu được giao phó cho các lực lượng tinh hoa, được trang bị bởi các máy bay do thám hủy diệt không người lái và bởi trang thiết bị cực kỳ hiện đại.

Quản lý việc thu hẹp sự hiện diện của mình ở nước ngoài, hay nói cách khác, quản lý sự suy sụp của một đế quốc – chưa bao giờ là một điều dễ dàng. Rất nhiều quốc gia đối mặt với thách thức này, đặc biệt là Anh và Pháp sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hoặc Nga sau sự sụp đổ của Liên bang Xôviết, đã ghi nhận điều đó bằng kinh nghiệm xương máu của mình. Họ đã thường dấn thân vào những cuộc phiêu lưu quân sự đầy mạo hiểm, như cuộc xâm lược của Pháp và Anh vào Ai Cập năm 1956, hay cuộc xâm lược của Liên Xô vào Ápganixtan năm 1979; bấy nhiêu cuộc khởi xướng đó đã nhanh chóng dẫn đến sự suy sụp thay vì trì hoãn nó, Khi tấn công Irắc vào năm 2003, Mỹ đang ở trên đỉnh cao của quyền lực. Nhưng cuộc nổi dậy tiếp diễn sau đó kéo dài và tốn kém tới mức – theo ước tính khoảng từ 1000 đến 4000 tỉ USD – điều này dẫn tới xu hướng, và một phần nào đó khả năng Mỹ dấn thân vào một cuộc chiến lâu dài ở châu Á, Dường như từ nay trở đi có rất ít khả năng Obama hoặc bất cứ một vị tổng thống nào khác, dù thuộc Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa, sẽ lao vào một chiến dịch quân sự tương tự như những cuộc chiến tranh ở Irắc và Apganixtan.

Vì vậy, là những người hiểu biết tinh tế về lịch sử, Tổng thống Obama và những cố vấn chính của ông hiểu rằng sẽ thật là ngu ngốc – và tốn kém – nếu cứ bám vào toàn bộ những cam kết quân sự của Mỹ ở nước ngoài, nhưng không phải vì thế mà họ từ bỏ tất cả những cam kết đó, Chính sách quốc phòng mới của họ đi theo một con đường ở giữa hai điều trên: giảm bớt sự dính líu của họ ở một số khu vực, đặc biệt là châu Âu, và củng cố sự hiện diện của họ ở các khu vực khác. Ông William J Burn, Thứ trưởng ngoại giao Mỹ đã phát biểu trong một bài diễn văn ở Oasinhtơn vào tháng 11/2001: “Trong những thập kỷ tới, châu Á – Thái Bình Dương sẽ trở thành một khu vực năng động nhất, và quan trọng nhất trên thế giới đối với những lợi ích của Mỹ. Khu vực này đã tập trung hơn một nửa dân số thế giới, những đồng minh chủ chốt, những cường quốc mới nổi và một số thị trường kinh tế chính”. Để duy trì sự thịnh vượng, và để không bị suy sụp vì sự phát triển của Trung Quốc, đây chính là khu vực mà nước Mỹ cần phải tập trung sự cố gắng của mình, ông Burns giải thích: -“Để đáp ứng những thay đổi sâu sắc đang diễn ra ở châu Á, chúng ta cần phải phát triển một kiểu kiến trúc ngoại giao, kinh tế và an ninh có thể theo kịp tốc độ”.

Kiểu “kiến trúc mới” này bao gồm nhiều tầm vóc quan trọng, cả về mặt quân sự và phi quân sự. Mỹ vừa mới củng cố các mối quan hệ ngoại giao với Inđônêxia, Philippin và Việt Nam, và đã thiết lập lại những mối quan hệ chính thức với Mianma. Song song với đó, Nhà Trắng tìm mọi cách để tăng cường thương mại Mỹ ở châu Á và ủng hộ hết mình cho sự chấp thuận một hiệp định tự do trao đổi đa phương: Quan hệ đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Chiến lược này có một mục đích tiềm ẩn: chống lại sự vươn lên của Trung Quốc và ảnh hưởng của nước này đối với Đông Nam Á. Ví dụ bằng cách khôi phục các quan hệ ngoại giao với Mianma, Mỹ hy vọng thâm nhập vào một đất nước mà ở đó, cho tới nay Bắc Kinh chỉ có rất ít đối thủ cạnh tranh. Đối với TPP, đơn giản là loại trừ Trung Quốc, lấy cớ vì những lý do kỹ thuật.

Khả năng triển khai

Ý muốn vượt qua đối thủ Trung Quốc cũng đòi hỏi những phương hướng quân sự mới. Theo các nhà chiến lược của Lầu Năm Góc, sự thịnh vượng của các đồng minh của Mỹ ở châu Á phụ thuộc vào quyền tự do của họ ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, điều kiện không thể thiếu để nhập khẩu những nguyên liệu (đặc biệt là dầu mỏ) và xuất khẩu những mặt hàng ché biến công nghiệp một cách thuận lợi. Ông Burns phân tích: “Sự vươn lên của Trung Quốc đã không chỉ đổi mới những thành phố và những nền kinh tế châu Á: nó đã vẽ lại một bản đồ địa chiến lược. “Chỉ cần nêu ra một ví dụ, một nửa trọng tải hàng hóa hiện nay đi qua Biển Đông”.

Chế ngự được vùng biển này và các vùng biển kế bên, Mỹ sẽ có thể áp đặt một quyền lực ép buộc tiềm ẩn đối với Trung Quổc và một số nước khác trong khu vực, như điều mà trước đây Hải quân Anh đã làm. Các cố vấn của Lầu Năm Góc từ lâu nay đã biện hộ cho kiểu chính sách như thế này, bằng cách tuyên bố rằng lợi thế đặc biệt của Mỹ nằm trong khả năng của họ kiểm soát những đường biển chính trên thế giới, một lợi thế mà không một cường quốc nào khác có được. Dường như Chính quyền Obama cũng đã lựa chọn quan điểm này. Tổng thống Mỹ đã hứa hẹn điều này trong một bài diễn văn đọc ở Canbơrơ (Ôxtrâylia) vào ngày 17/11/2011. Ông cam đoan: bất chấp những cắt giảm ngân sách, “chúng ta sẽ cung cấp những phương tiện cần thiết để duy trì sự hiện diện quân sự của chúng ta ở khu vực này bằng cách cải thiện sự có mặt của chúng ta ở Đông Nam Á”. Vì vậy cần phải chờ đợi những hoạt động quân sự và những hoạt động triển khai tàu chiến của Mỹ trong khu vực này. Ông Obama cũng thông báo về việc thành lập một căn cứ mới ở Darwin, thuộc bờ biển phía Bắc Ôxtrâylia, và việc tăng viện trợ quân sự cho Inđônêxia.

Việc thực hiện những kế hoạch địa chính trị khổng lồ này sẽ gây ra một sự chuyển biến trong quân đội Mỹ. Một tài liệu của Lầu Năm Góc dự báo: Điều này sẽ “tăng thêm sức mạnh thể chế và tập trung vào sự hiện diện, khả năng triển khai và sức mạnh răn đe của họ ở châu Á – Thái Bình Dương”. Mặc dù tài liệu này không chỉ rõ những thành phần nào của quân đội sẽ được tạo điều kiện, nhưng rõ ràng trọng tâm chú ý sẽ rơi vào lực lượng hải quân – đặc biệt là các tàu sân bay và các hạm đội tàu chiến – và vào những máy bay và tên lửa đời mới nhất. Trên thực tế, trong khi tổng lực lượng quân đội Mỹ sẽ giảm từ 570 nghìn xuống còn 490 nghìn lính trong vòng 10 năm, thì ông Obama đã bác bỏ ý kiến giảm bớt lực lượng hải quân.

Vả lại, nước Mỹ dự kiến sẽ đầu tư một lượng tiền đáng kế để trang bị các loại vũ khí cho quân đội chống lại chiến lược “chống tiếp cận” và “chống xâm nhập khu vực” (A2/AD) của các đối thủ tiềm tàng. Kế hoạch mới của Lầu Năm Góc giải thích: “Để răn đe một cách hiệu quả những đối thủ nếu có và để khiến họ không đạt được những mục đích của họ, Mỹ phải duy trì khả năng triển khai trong các khu vực mà quyền tự do di chuyển và hoạt động của chúng ta còn đang gây tranh cãi” – một lời trích dẫn gần như, nói rõ về những vùng biển Đông và biển Hoa Đông, cũng như đối với Iran và Bắc Triều Tiên. Ở những khu vực này, tài liệu nêu rõ, những đối thủ tiềm tàng của Mỹ, “ví dụ Trung Quốc”, có nguy cơ sử dụng những

“phương pháp không đối xứng” – tàu ngầm, tên lửa chống hạm, chiến tranh mạng… -để đánh bại hoặc ngăn cản hoạt động của quân đội Mỹ. Hệ quả là “quân đội Mỹ sẽ đầu tư cần thiết để đảm bảo khả năng hoạt động của họ trong những khu vực A2/AD”. Rõ ràng, Mỹ đang muốn chế ngự khu vực ngoại vi đường biển châu Á; họ đã dành ưu tiên cho khu vực này. Sẽ chẳng có gì là quan trọng nếu Trung Quốc và các cường quốc mới nổi khác phản đối điều này.

***

TTXVN (Bắc Kinh 4/4)

Ngày 28/3, tờ “Giải phóng quân” (Trung Quốc) đăng bài viết “Bốn mâu thuẫn lớn ràng buộc tiến trình điều chỉnh chiến lược quân sự của Mỹ sang khu vực chân Á-Thái Bình Dương” của tác gi Trương Diệp, có nội dung đáng chủ ý sau:

Điều chỉnh chiến lược quân sự là bước đi chiến lược mang tính lịch sử quan trọng của Mỹ nhằm bảo vệ địa vị bá quyền đơn cực của mình, hiện nay tiến độ của trọng tâm chiến lược quân sự Mỹ chuyển dịch sang phía Đông đang được đẩy nhanh, mục tiêu đã rõ ràng, diễn biến hết sức mạnh mẽ. Tuy nhiên, tác giả cho rằng trong bối cảnh thời đại hòa bình phát triển, trước hiện thực phải co cụm chiến lược tổng thể, sự điều chỉnh chiến lược quân sự của Mỹ tồn tại nhiều mâu thuẫn nội tại, điều này sẽ làm tăng thêm những khó khăn và tính không xác định trong tiến trình điều chỉnh chiến lược, trong đó có 4 mâu thuẫn cơ bản sau:

1/ Mâu thuẫn giữa mục tiêu chiến lược bá quyền đơn cực và xu thế phát triển lịch sử đa cực hoá. Mục đích chủ yếu của điều chỉnh chiến lược quân sự của Mỹ là chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương, triệt tiêu ảnh hưởng của các “nước lớn mới nổi”, xoay chuyển cục diện bất lợi do cuộc chiến chống khủng bố khiến khả năng kiểm soát đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương sụt giảm, duy trì địa vị “lãnh đạo toàn cầu” của mình, trong đó ý đồ bảo vệ bá quyền đơn cực Mỹ là rất rõ ràng. Tuy nhiên, sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, tiến trình đa cực hoá thế giới nhanh chóng phát triển. Mười năm với cuộc chiến chống khủng bố và cuộc khủng hoảng kinh tế đã khiến sức mạnh tổng hợp của Mỹ bị tổn thất nghiêm trọng, điều này làm tăng cục diện chiến lược “nhất siêu đa cường”. Trong bối cảnh thời đại đa cực hoá ngày càng phát triển, các cường quốc mới nổi trỗi dậy mang tính tập thể, thực lực của Mỹ giảm sút tương đối, việc Mỹ tiếp tục kiên trì mục tiêu bá quyền thế giới đơn cực đã mâu thuẫn với trào lưu phát triển của lịch sử thế giới ngày nay và khó có thể điều hòa, giữa mục tiêu chiến lược và năng lực thực hiện của nước này cũng tồn tại khoảng cách tương đối lớn. Trong lĩnh vực chính trị quốc tê, Mỹ sẽ phải chịu nhiều kiềm chế hơn khi thông qua Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc xử lý các vấn đề quốc tế và khu vực quan trọng; trong lĩnh vực kinh tế-thương mại quốc tế, chính sách đồng đô la Mỹ “hại người lợi ta” đă trở thành mục tiêu công kích; khả năng kiểm soát đối với Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) giảm sút; tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mức độ khó khăn của Mỹ trong việc kiểm soát và gây ảnh hưởng đối với các công việc của khu vực không ngừng tăng lên, khu vực này đã hội tụ nhiều nước lớn trên thế giới, có nhu cầu độc tập tự chủ tương đối mạnh. Mâu thuẫn nội tại giữa mục tiêu chiến lược với xu thế phát triển lịch sử là mâu thuẫn mang tính căn bản trong điều chỉnh chiến lược quân sự Mỹ, đồng thời cũng là vấn đề tự thân khó có thể khắc phục. Cùng với thời gian, vai trò ràng buộc của nó sẽ xuất hiện trên các lĩnh vực, các quyết định trong tiến trình điều chỉnh chiến lược quân sự của Mỹ sẽ đối mặt với nhiều khó khăn chồng chất.

2/ Mâu thuẫn giữa trọng tâm hành động quân sự với trọng tâm chiến lược quân sự. Trọng tâm chiến lược chuyển dịch từ khu vực Đại Trung Đông sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã trở thành nhận thức chung từ trên xuống dưới, từ chính quyền đến dân chúng Mỹ, Tuy nhiên, vấn đề hạt nhân Iran tiếp tục nóng lên, tình hình căng thẳng giữa Mỹ và Iran không ngừng gia tăng, cục diện Xyri tiếp tục rối ren, liên tiếp gặp phiền phức tại Ápganixtan, Irắc, đều khiến cho Mỹ không thể căng sức đối phó, khó có thể thoát ra khỏi Trung Đông trong thời gian ngắn. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương là khu vực quan trọng nhất trong bàn cờ chiến lược toàn cầu của Mỹ hiện nay, nhưng hoàn toàn không phải là khu vực cấp thiết nhất; tầm quan trọng của cuộc chiến chống khủng bố tại Trung Đông đang giảm đi, nhưng khu vực này vẫn là khu vực trọng điểm để Mỹ triển khai hành động quân sự hiện nay. Sự không thống nhất giữa trọng tâm bành động quân Sự với trọng tâm chiến lược quân sự là mâu thuẫn hàng đầu mà quân đội Mỹ hiện cần giải quyết, ở một chừng mực nhất định điều này sẽ ràng buộc tiến độ chuyển dịch trọng tâm của chiến lược của Mỹ sang phía Đông. Hiện nay trọng tâm của chiến lược quân sự này đang ở vào giai đoạn khởi động và tăng tốc, nếu các vấn đề điểm nóng như Iran, Xyri được giải quyêt hoặc hòa dịu, quân đội Mỹ có thể thuận lợi rút ra khỏi khu vực này, thì tiến trình dịch chuyển trọng tâm chiến lược sang phía Đông của Mỹ sẽ bước vào giai đoạn thực thi toàn diện. Tuy nhiên, nếu cục diện bất ổn tại Trung Đông ngày càng nghiêm trọng hoặc bùng nổ xung đột quân sự, tất sẽ dẫn đến rối loạn, thậm chí phá vỡ tiến trình nói trên.

3/ Mâu thuẫn giữa tính rõ ràng về phương hướng chiến lược và tính mơ hồ về đối thủ chiến lược. Cùng với trọng tâm chiến lược quân sự của Mỹ từng bước chuyển dịch sang phía Đông, nhiều nhà quan sát cho rằng phương hướng chiến lược đã ngày càng rõ ràng, tức là tập trung lực lượng kiềm chế sự phát triển của Trung Quốc, duy trì địa vị chủ đạo đối với các công việc của châu Á-Thái Bình Dương. Nhưng trong vấn đề đối thủ chiến lược Mỹ lại cố ý duy trì tính mơ hồ, chưa bao giờ bày tỏ rõ ràng Trung Quốc là đối thủ chiến lược của mình, chỉ nhấn mạnh cần tập trung đối phó với các “mối đe dọa tiềm tàng tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương”, vấn bày tỏ hoan nghênh đối với sự “trỗi dậy của Trung Quốc . Mâu thuẫn giữa tính rõ ràng về phương hướng và tính mơ hồ về đối thủ trong chiến lược quân sự của Mỹ là do đặc trưng thời đại toàn cầu hoá và tính chất của quan hệ Trung-Mỹ hiện nay quyết định. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hoá, giữa các quốc gia không còn là quan hệ “không phải thù tức là bạn” của thời kỳ Chiến tranh Lạnh, quan hệ giữa các nước lớn đều xuất hiện cục diện đan xen giữa cạnh tranh và hợp tác, quan hệ Trung-Mỹ cũng có nhiều thay đổi sâu sắc. Mức độ hòa nhập kinh tế quốc tế và hệ thông chính trị thế giới của Trung Quốc không ngừng tăng lên, trở thành lực lượng quan trọng của chính trị, kinh tế quốc tế, không chỉ trong lĩnh vực an ninh phi truyên thống mà còn trên cả các vấn đề an ninh truyền thống như vấn đề hạt nhân của Bắc Triều Tiên, Iran, Trung Đông, sự nhờ cậy của Mỹ đối với Trung Quốc ngày càng lớn hơn. Đồng thời với “kiềm chế”, duy trì tiếp xúc đã trở thành cốt lõi trong sách lược của Mỹ đối với Trung Quốc. Mâu thuẫn giữa tính rõ ràng về phương hướng và tính mơ hồ về đối thủ chiến lược trong chiến lược quân sự Mỹ đã quyết định đại cục cạnh tranh và điều hòa giữa hai nước Trung-Mỹ sẽ không có những thay đổi mang tính căn bản. Trọng tâm chiến lược quân sự của Mỹ chuyển dịch sang phía Đông sẽ khiến nhân tố cạnh tranh trong quan hệ Trung-Mỹ tăng lên rõ rệt, nhưng kiểu cạnh tranh này không giống với quan hệ “một mất một còn” của Mỹ- Xô thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Quan hệ quân sự giữa hai nước Trung-Mỹ sẽ lấy đề phòng, kiềm chế là chính, đồng thời tồn tại không gian về điều hòa và hợp tác tương đối lớn, khả năng xảy ra đối kháng quân sự trực tiếp chỉ duy trì ở mức tương đối thấp, vẫn sẽ cho thấy tình hình tổng thể là kiềm chế và chống kiềm chế, thoả hiệp lẫn nhau trong đấu tranh trên nhiều bình diện.

4/ Mâu thuẫn giữa ưu thế kinh tế suy giảm với nhiệm vụ quân đội tăng lên. Bị tác động bởi khủng hoảng kinh tế và cuộc chiến chống khủng bố, địa vị ưu thế kinh tế của Mỹ rõ ràng bị giảm sút, sức ảnh hưởng và sức kiểm soát về phương diện chính trị, văn hoá cũng xuất hiện xu thế đi xuống, chỉ có lĩnh vực quân sự vẫn tiếp tục duy trì được địa vị ưu thế tuyệt đối. Trong bối cảnh đó, địa vị ưu tiên của biện pháp quân sự tăng lên, trở thành biện pháp chủ yếu để Mỹ mở rộng ảnh hưởng, thực hiện mục tiêu chiến lược về chính trị, kinh tế và văn hoá. Những năm gần đây, Mỹ lấy lực lượng quân sự làm kẻ dẫn đường, tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương không ngừng tạo ra các chủ đề an ninh, lấy việc cung cấp “sản phẩm an ninh khu vực” làm sức hút, duy trì và củng cố địa vị chủ đạo khu vực châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ. Phạm vi, sứ mệnh, nhiệm vụ của quân đội Mỹ từng bước vươn từ lĩnh vực an ninh truyền thống sang lĩnh vực an ninh phi truyền thống, từ đối kháng quân sự trực tiếp sang mở rộng, kiến tạo phương hướng trật tự an ninh khu vực. Trong Báo cáo đánh giá chiến lược quân sự công bố năm 2012, bên cạnh việc giữ nguyên 6 nhiệm vụ cơ bản, Mỹ đã tăng thêm 4 nhiệm vụ mới trong đó lấy hành động quân sự phi chiến tranh làm cốt lõi. Tuy nhiên, trong bối cảnh sức mạnh tổng hợp giảm sút, chiến lược toàn cầu thu hẹp, dự toán ngân sách quốc phòng bị cắt giảm, nhiệm vụ của lực lượng quân sự không ngừng mở rộng tất sẽ làm trầm trọng hơn mâu thuẫn giữa đầu tư chiến lược bị giảm thiểu với nhu cầu cần phải mở rộng. Trong Báo cáo đánh giá quốc phòng, Mỹ thừa nhận “chúng ta đang đứng trước thách thức cân bằng quan hệ giữa nguồn lực hiện có với thoả mãn nhu cầu an ninh quốc gia, mức độ khó khăn này là chưa từng có trong lịch sử”. Điều chỉnh triển khai binh lực, tái tổ chức căn cứ, phát triển trang thiết bị hành động quân sự do điều chỉnh chiến lược quân sự đưa tới đều cần phải tăng thêm đầu tư kinh phí.

Khó khăn về kinh tế sẽ trở thành nhân tố ràng buộc chủ yếu gây khó khăn cho quân đội Mỹ trong một thời gian tương đối dài, đồng thời sẽ kiềm chế khả năng triển khai trọng tâm chiến lược của Mỹ sang khu vực châu Á- Thái Bình Dương trong một thời gian nhất định.

***

Nqày 19/3, mạng “Tin tức Trung Quốcđăng bài viết Đánh giá thế nào về tình hình đối đầu quân sự Mỹ-Trung hiện nay? ” của tác gi Tiết Lí Thái, chuyên gia nghiên cứu của Trung tâm an ninh và hợp tác quốc tế, Đại học Stanford (Mỹ), có nội dung như sau:

Nhìn từ động hướng quân sự của Mỹ thời gian gần đây, dường như Mỹ đang tiếp tục tăng cường trạng thái đối đầu quân sự với Trung Quốc. Ví dụ, ngày 8/3, Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ Aston Carter tuyên bố, trong vài năm tới, số lượng tàu chiến của hải quân Mỹ được triển khai tại Thái Bình Dương sẽ tăng từ 52% hiện nay lên 60% vào năm 2013 trong tổng số tàu chiến của lực lượng hải quân Mỹ, trong đó còn bao gồm việc tăng thêm một tàu sân bay, nâng số tàu sân bay được triển khai tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương lên 6 chiếc.

Trong các quân chủng của Mỹ, hải quân là quân chủng có khả năng nhất thể hiện năng lực tác chiến toàn cầu của Mỹ. Lục quân tạm thời không nói đến, so sánh với không quân thì hải quân càng cho thấy rõ năng lực tác chiến viễn dương và năng lực tác chiến lâu dài trong điều kiện chiến tranh của quân đội Mỹ. Trong các binh chủng của hải quân Mỹ, lực lượng có khả năng tấn công viễn dương và có sức đột phá mạnh nhất cũng chính là không quân hải quân lấy tàu sân bay làm bàn đạp tấn công.

Tàu sân bay là “sân bay di động trên biển”. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, quần thể chiến đấu của tàu sân bay luôn là lực lượng nòng cốt của quân đội Mỹ trong việc thực thi triển khai can thiệp quân sự ở nước ngoài. Trong nhiều cuộc khủng hoảng quốc tế, sự lựa chọn đầu tiên của Chính phủ Mỹ nhằm phản ứng trước diễn biến tình hình chính là việc điều động tàu sân bay, đồng thời dựa vào quần thể chiến đấu của tàu sân bay để nhanh chóng chủ động giành quyền kiểm soát về hải quân và không quân tại khu vực xảy ra chiến sự. Sự lựa chọn này chủ yếu xuất phát từ thực tế, quằn thể chiến đấu của tàu sân bay luôn trong trạng thái chuẩn bị chiến tranh cao năng lực phản ứng nhanh mạnh, có sức răn đe lớn, bên cạnh đó. còn có đặc điểm như bán kính tác chiến lớn, thời gian duy trì trạng thái chiến tranh dài.

Ngoài ra, khi quy hoạch dự toán ngân sách quốc phòng tài khoá 2013, để nghiên cứu phát triển máy bay ném bom tàng hình tầm xa thế hệ mới, Lầu Năm Góc đã phân chia ngân sách riêng cho dự án này. Gần đây Tham mưu trưởng Không quân Mỹ, tướng Norton A Schwartz, cho biết sở dĩ Mỹ tăng cường khoản đầu tư lớn cho nghiên cứu phát triển máy bay ném bom tàng hình tầm xa thế hệ mới là “tính đến việc có thể xuyên thủng và phá tan mạng lưới phòng không của Trung Quốc”.                          

Phải chăng Mỹ đang tăng cường đối đầu quân sự vi Trung Quốc?

Tướng Norton A Schwartz cho rằng tại các tỉnh duyên hải miền Đông, Trung Quốc đã triển khai mạng lưới phòng không dày đặc, có tính năng tốt nhất trên thế giới; Iran cũng triển khai hệ thống phòng không nhất thể hoá tại các địa điểm trọng yếu xung quanh các cơ sở hạt nhân. Tướng Noiton A Schwartz chỉ ra rằng để đối phó với năng lực quân sự có tính thách thức của Trung Quốc đang trong quá trình phát triển hiện nay việc Lầu Năm Góc nghiên cứu phát triển máy bay ném bom tàng hình tầm xa thế hệ mới là mọt bộ phận hợp thành quan trọng của “khái niệm tác chiến nhất thể hóa không quân hải quân” đang được Mỹ quy hoạch triển khai

Trong khi Mỹ đang thu hẹp mặt trận quân sự trên phạm vi toàn cầu thi tàu sân bay của hải quân Mỹ triển khai tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương không những không giảm mà còn có xu hướng tăng lên. Để có thể xé toang mạng lưới phòng không của Trung Quốc, không quân Mỹ cũng đang gấp rút xây dựng một phi đội máy bay ném bom tàng hình tầm xa thế hệ mới. Theo những động thái trên, quân đội Mỹ đã liệt Trung Quốc vào đối tượng cần đề phòng nhất. Đánh giá chiến lược của Mỹ cho rằng Trung Quốc là quốc gia đối địch lớn nhất trong tương lai và Mỹ gần như đã và đang chuẩn bị mọi phương án cho xu hướng này. Trong suy nghĩ của các nhà chiến lược Bắc Kinh, hầu hết các dự án đầu tư vào quân sự và nghiên

cứu phát triển vũ khí của Mỹ đều có yếu tố Trung Quốc, coi Trung Quốc là ke thù giả tưởng chủ yếu nhất của Mỹ.

Ngày 5/1/2012, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã công bố Chiến lược quân sự mới của Mỹ trong tương lai 10 năm tới, trong đó có 3 đặc điểm nổi bật là thu hẹp quy mô, thay đổi kết cấu và quan tâm khu vục châu Á-Thái Bình Dương. Trong dự toán ngân sách quốc phòng của Mỹ năm tài khoá 2013, ngân sách chi cho lục quân bị cắt giảm nghiêm trọng, ngân sách chi cho không quân và hải quân vẫn tiếp tục được duy trì ở mức tương đối, đây chính là ý nghĩa cốt lõi trong chiến lược quân sự mới của Mỹ được thể hiện trên phương diện chi ngân sách quân sự.

Phân tích kỹ chiến lược an ninh và triển khai quân sự của Mỹ trong những năm gần đây, nhận định cho rằng Mỹ đã tăng cường trạng thái đối đầu quân sự toàn diện với Trung Quốc tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương là vẫn còn quá sớm. Nhìn chung, chính sách “quay trở lại châu Á” của Chính quyền Obama trên thực tế nội dung cốt lối là tăng cường quan hệ đối tác với các tổ chức và đồng minh khu vực, tái cân bằng trật tự ưu tiên ngoại giao, cân bằng quân sự khu vực, mở rộng thị trường thương mại với châu Á và duy trì quan hệ ổn định với Trung Quốc. Trong khi đó, Obama có thực hiện thuận lợi chính sách “quay trờ lại châu Á” hay không, mấu chốt ở chỗ có thể duy trì quan hệ ổn định với Trung Quốc hay không.

Iran làm cho Mỹ khó có thể ra tay

Đối với lợi ích cốt lõi của phương Tây, cơ sở vũ khí hạt nhân Iran là vấn đề mang tính toàn cầu. Iran là cường quốc trung bình, sức mạnh tổng hợp vượt xa so với Irắc, Ápganixan, Libi và Xyri, trong khi đó Iran lại nằm kề con đường xuất khẩu dầu mỏ chủ yếu của vịnh Pécxích, đó là eo biển Hormuz, sử dụng vũ lực đối với Iran, tất yếu sẽ khiến eo biển này bị phong tỏa, đồng nghĩa với việc huyết mạch chính của nguồn năng lượng thế giới bị cắt đứt, nhất là đối với các quốc gia châu Âu đang lâm vào cuộc khủng hoảng nợ công, việc gây ra cuộc khủng hoảng này sẽ làm tăng thêm nhiều gánh nặng và nhân tố không xác định. Tuy nhiên, hiện nay các quốc gia phương Tây vẫn đang tăng cường gây sức ép với Iran trên tất cả các mặt như ngoại giao, kinh tế, quân sự.

Cho dù Iran cương quyết không nhượng bộ trong vấn đề hạt nhân, cuối cùng sẽ khiến Mỹ, Ixraen phát động một cuộc tấn công quân sự đối với Iran, nhưng đây sẽ giống như việc chọc vào tổ ong, hậu quả ác tính đối với Mỹ, Ixraen là có thể nhìn thấy. NATO phát động chiến tranh đối với hai nước nhỏ là Irắc và Ápganixtan còn kéo dài đến 10 năm, cho dù mục tiêu tấn công của NATO lần này chỉ giới hạn bởi các cơ sở hạt nhân của Iran, không cuốn vào chiến tranh mặt đất, song Iran hoàn toàn có thể thực hiện chiến lược phản công “anh đánh theo cách của anh, tôi đánh theo cách của tôi”, chiến tranh sẽ lan rộng đến các khu vực khác. Tóm lại, chiến tranh Mỹ, Ixraen-Iran sẽ không thể kết thúc trong thời gian ngắn. Như vậy, sau khi Mỹ có thể kiểm soát được Iran, nguyên khí quốc gia sẽ hao kiệt nghiêm trọng, khả năng gây áp lực quân sự to lớn đối với Trung Quốc sẽ không còn như trước.

Tóm lại, chỉ căn cứ vào việc Mỹ tăng cường tập trung lực lượng hải quân, không quân vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đã vội vàng đưa ra nhận định Oasinhtơn đang có ý đồ tăng cường trạng thái đối đầu quân sự với Trung Quốc, sẽ là không thận trọng. Trên thực tế, khi Mỹ tập trung quân lực tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, còn có ý đồ đối phó với các thách thức đến từ Iran, Trung Á, một số quốc gia Tây Á và còn tính toán đến việc cung cấp bảo đảm quân sự cho chiến lược kinh tế toàn cầu trong thế kỷ mới của Mỹ.

***

TTXVN (Oasinhtơn 5/4)

Tăng cường hợp tác Mỹ-Phippin là chìa khóa cho sự n định ở Bin Đông. Đó là đầu đề bài viết trong tuần qua của tác giả Robert Wars haw thuộc Viện nghiên cứu chiến lược Heritage Foundation có trụ sở tại thủ đô Oasinhtơn. Sau đây là nội dung bài viết:

Năm ngoái, Mỹ và Philippin đã tăng cường mối quan hệ an ninh với việc Mỹ trang bị cho Hải quân Philippin một tàu tuần duyên cao tốc và một chiếc nữa sẽ được chuyển giao trong năm 2012 này. Mỹ cũng đã gia tăng giúp đỡ kỳ thuật cho các lực lượng vũ trang Philippin, cung cấp tình báo và giúp huấn luyện chống khủng bố, đồng thời cũng đã nâng cấp đối thoại chiến lược. Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương Kurt Campbell từng tuyên bố trong một cuộc điều trần tại Quốc hội Mỹ: “Chúng ta đang trên đà phục hưng mối quan hệ giữa Mỹ và Philippin”. Sự gia tăng quan hệ với đồng minh lâu đời nhất của Mỹ ở châu Á diễn ra trong bối cảnh căng thẳng ngày càng tăng ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), nơi 6 quốc gia, trong đó có Trung Quốc và Philippin, có những tuyên bố chủ quyền chồng lấn ở vùng biển được cho là giàu tài nguyên này. Trung Quốc, nước có tuyên bố chủ quyền mở rộng vào tận nơi chi cách lãnh thổ Philippin vài dặm, đã nhiều lần hù dọa các tàu của Philipin và cả tàu của Mỹ. Bảo vệ quyền tự do hàng hải ở Biển Đông rõ ràng là nằm trong lợi ích của Mỹ vì có tới 1.200 tỷ USD hàng hóa của Mỹ chuyển qua vùng biển này hàng năm. Nó cũng cực kỳ quan trọng đối với Philippin, quốc gia mà, theo báo chí, đang hoan nghênh một vai trò lớn hơn của Mỹ trong khu vực.

Mới đây, Tổng thống Philippin Benigno Aquino bày tỏ mong muốn Mỹ và Philippin gia tăng quan hệ, theo đó sẽ có nhiều chuyến thăm Philippin hơn của các tàu chiến Mỹ, có nhiều cuộc diễn tập và huấn luyện chung hơn, giống như thỏa thuận hồi tháng 11/2011 giữa Mỹ và Ôxtrâylia. Ngoại, trưởng Philippin Albert del Rosario mới đây cũng bày tỏ nguyện vọng “chúng tôi muốn có nhiều người Mỹ đến thăm thường xuyên hơn bằng việc nói tới việc mở cửa các cơ sở quân sự của Philippin để sử dụng chung với các lực lượng của Mỹ”, ông Rosario cho biết trong cuộc hội đàm 2+2 giữa ông và Bộ trưởng Quốc phòng Philippin với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta vào ngày 30/4 tới, phía Philippin sẽ đề nghị mua thêm tàu tuần duyên thứ ba và một phi đội máy bay F-16. Đây rõ ràng là những bước đi rất khích lệ và Mỹ cần sẵn sàng cung cấp cho Philippin những vật liệu và thiết bị quân sự thiết yếu cũng như những chương trình huấn luyện cần thiết. Hơn nữa, với vị trí địa chiến lược của Philippin ở Biển Đông, Oasinhtơn và Manila cũng cần đi tới một thỏa thuận về sự hợp tác Mỹ-Philíppin trong việc tiến hành các hoạt động do thám từ các căn cứ không quân của Philippin. Mỹ cũng nên hỗ trợ xây dựng lực lượng thủy quân lục chiến còn yếu kém của Philippin để lực lượng này có đủ khả năng thực thi nhiệm vụ.

Tuy nhiên, sự cam kết của Mỹ với Philippin cần mở rộng, chứ không chỉ thuần túy về quân sự. Mở rộng buôn bán, tạo thuận lợi cho Manila tham gia vòng đàm phán về Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) cũng sẽ giúp cho Philippin có một nền tảng cơ sở rộng rãi để Philippin không lệ thuộc vào Oasinhtơn và cũng không lệ thuộc vào Trung Quốc. Sự quan tâm ở cấp cao, trong đó có chuyến thăm Mỹ trong mùa Hè này của Tổng thống Aquino, cũng rất quan trọng, nhất là trong bối cảnh nước Mỹ đang bị chia rẽ do năm bầu cử.

Hơn nữa, cách tốt nhất để bảo đảm sự ốn định ở Biển Đông là bằng việc duy trì một lực lượng triển khai ở tuyến trước và luôn ở thế sẵn sàng về quân sự khắp vùng biển Tây Thái Bình Dương. Mặc dù ngân sách Lầu Năm Góc bị cắt giảm nhưng nếu không dành một khoản ngân sách để hậu thuẫn cho những cam kết trên đây thì Mỹ có nguy cơ sẽ bị mất niềm tin của khu vực, điều đó sẽ càng dẫn tới một tình trạng không chắc chắn và bất ổn tại Biển Đông.

Chuyển giao cho Philippin một vài con tàu trước mắt là để giúp đồng minh của chúng ta tự vệ, nhưng về lâu dài, hòa bình và ổn định cần được bảo vệ thông qua việc thể chế hóa sự có mặt của Mỹ trong khu vực.

Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 20 vừa diễn ra tại Campuchia, nước khá hữu hảo với Trung Quốc và vấn đề Biến Đông đã bị nước chủ nhà đưa ra khỏi, chương trình nghị sự, bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của Philippin. Tuy nhiên cũng phải nói thẳng ra rằng ASEAN không thể bảo vệ được các lợi ích an ninh và hàng hải của Mỹ trên các vùng biển. Bởi vậy, Mỹ và Philippin không có gì phải lo lắng về vấn đề Biển Đông với năm Campuchia làm Chủ tịch ASEAN. Tăng cường các liên minh truyền thống và tìm kiếm các đối tác mới sẽ là công cụ hiệu quả nhất của Mỹ để duy trì sự ổn định ở Biển Đông.

Liên quan tới sự can dự quân sự của Mỹ trong khu vực, báo “Bưu điện Oasinhtơn” ngày 27/3 đưa tin Mỹ và Ôxtrâylia đang soạn thảo một kế hoạch mở rộng hợp tác quân sự giữa hai nước, trong đó có thể bao gồm việc triển khai lực lượng máy bay do thám tại nhóm đảo san hô và tăng cường quyền tiếp cận của Hải quân Mỹ đối với các hải cảng của Ôxtrâylia. Kế hoạch này là sự mở rộng thỏa thuận đạt được tháng 11/2011 theo đó Ôxtrâylia cho phép Mỹ triển khai 2.500 lính thủy quân lục chiến tại căn cứ Darwin nằm ở bờ biển phía Bắc của nước này.

Các cuộc đàm phán về kế hoạch mở rộng hợp tác quân sự với Ôxtrâylia là dấu hiệu mới nhất cho thấy Chính quyền Obama đang rất khẩn trương chuyển hướng trọng điểm chiến lược toàn cầu của Mỹ sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chính phủ Mỹ hiện cũng đang trong giai đoạn hoàn tất thỏa thuận triển khai 4 tàu chiến tại Xinhgapo, đã và đang thương thuvểt để gia tăng sự hiện diện quân sự tại Philippin. Ở tầm mức thấp hơn, Lầu Năm Góc cũng đang tìm cách nâng cấp các mối quan hệ quân sự với Thái Lan, Việt Nam, Malaixia, Inđônêxia và Brunây.

Lầu Năm Góc hiện cũng đang xem xét lại quy mô vả bổ trí lại lực ượng ở khu vực Đông Bắc Á, theo hướng từng bước giảm bớt quy mô tại Nhật Bản và Hàn Quốc để gia tăng sự hiện diện ở khu vực Đông Nam Á, nơi án ngữ các tuyến vận tải đường biển nhộn nhịp nhất của thế giới và cũng là nơi đang có sự giành giật quốc tế ngày quyết liệt đối với nguồn dầu khí và các nguồn tài nguyên khác. Kết quả rà soát mới đây về thế bố trí binh lực của Ôxtrâylia khuyến nghị chính phủ điều chỉnh thế bổ trí quân sự, bằng việc cân nhắc các lợi ích an ninh của Mỹ. Một khuyến nghị là mở rộng căn cứ hải quân Stirling ở thành phố Perth nằm ở miền Tây Ôxtrâylia để có thể cho phép Mỹ sử dụng làm nơi triển khai quân và thực thi các hoạt động tác chiến ở khu vực Đông Nam Á và Ấn Độ Dương. Tại Ấn Độ Dương, Mỹ hiện sử dụng chung căn cứ trên đảo Diego Garcia của Anh và hợp đồng thuê sẽ hết hạn vào năm 2016. Lầu Năm Góc đang cùng với Ôxtrâylia khảo sát dãy đảo san hô Cocos Island của Ôxtrâylia ở Ấn Độ Dương VÌ coi đây là địa điểm lý tưởng để triển khai lực lượng máy bay do thám, rất thuận tiện cho việc thực thi các chuyến bay do thám thường xuyên vào khu vực Biển Đông. Ngoài ra, Lầu Năm Góc cũng đang cân nhắc đề xuất của Ôxtrâylia nâng cấp căn cứ Stirling, thậm chí cả đề nghị xây dựng một căn cứ hải quân mới ở thành phố Brisbane, nằm ở bờ biển phía Đông của Ôxtrâylia./.

%d bloggers like this: