Tag Archives: mỹ

Mỹ sẽ dùng ‘lá bài Nga’ khắc chế Trung Quốc?

2 Th12

Mặc dù cùng theo đuổi một mục tiêu, rất có thể Trump sẽ sử dụng những biện pháp khác người tiền nhiệm của mình.  

Sẽ không “đảo chiều”? 

Mặc dù Trump từng nhiều lần phát ngôn “gây sốc” trên quãng thời gian tranh cử, nhưng chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin rằng chính sách đối ngoại Mỹ trong những năm sắp tới dù có thể thay đổi nhưng sẽ không “đảo chiều”. Và Biển Đông sẽ vẫn là trọng tâm trong Chiến lược Châu Á của Mỹ. 

Thứ nhất, lịch sử cho thấy, lợi ích quốc gia cốt lõi của Mỹ gần như không thay đổi bất kể ai lên làm tổng thống. Mỹ chưa bao giờ nhượng bộ một đối thủ chiến lược nào khi điều đó đe doạ an ninh quốc gia và vị trí siêu cường số một của mình. Nhìn từ Washington, một khi bị Trung Quốc đe doạ vị trí độc tôn, thì đối với Mỹ, Trung Quốc sẽ không khác Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh là bao.  

Thứ hai, gần như chưa có tổng thống Mỹ nào thay đổi hoàn toàn chính sách của người tiền nhiệm. Đa số sẽ gỡ bỏ một phần, sửa đổi một phần và giữ lại một phần. Dưới thời Trump, khả năng cao xu hướng đơn phương và cứng rắn trong chính sách ngoại giao Mỹ sẽ mạnh hơn, nhưng không có nghĩa là Trump sẽ hủy bỏ toàn bộ những gì Obama đã đạt được.

Nhìn chung, nhiều khả năng Trump sẽ kế tục phần nào chính sách “xoay trục về Châu Á” của Obama và theo dõi sát sao tình hình tranh chấp ở Biển Đông, tuy cách tiếp cận và các quyết sách cụ thể có thể sẽ khác. Nếu Mỹ nhượng bộ Trung Quốc ở Biển Đông và hải quân Mỹ đánh mất khả năng tự do đi lại của mình ở vùng biển này, khả năng tác chiến của quân đội Mỹ ở Châu Á sẽ bị suy giảm đáng kể.  

Điều này có thể đe doạ nghiêm trọng an ninh của các đồng minh của Mỹ trong khu vực như Nhật Bản hay Philippines nếu có xung đột vũ trang xảy ra giữa họ và Trung Quốc. Một khi các đồng minh không thể hoàn toàn tin tưởng vào sự đảm bảo về an ninh của Mỹ nữa, họ sẽ buộc phải gia tăng chi tiêu quốc phòng. Trên thực tế, điều này đã và đang xảy ra. Hệ quả tiềm tàng là một cuộc chạy đua vũ trang làm gia tăng căng thẳng và bất ổn trong khu vực. Đây là điều Mỹ không muốn. 

Mỹ sẽ dùng ‘lá bài Nga’ khắc chế Trung Quốc?
Hai tàu sân bay Mỹ USS John C. Stennis (trái) và USS Ronald Reagan tập trận phối hợp, ảnh chụp ngày 18.6.2016 trên biển Philippines. Ảnh: Hải quân Mỹ/ Thanh niên

Mục tiêu cũ, cách chơi khác? 

Mặc dù cùng theo đuổi một mục tiêu, rất có thể Trump sẽ sử dụng những biện pháp khác người tiền nhiệm của mình.  

Thứ nhất là các chính sách về thương mại. Bởi việc rút ra khỏi TPP là một trong những lời hứa hẹn lớn nhất của Trump với cử tri khi tranh cử, nên kể cả Mỹ có không đơn phương rút ra khỏi hiệp định này sau khi Trump nhậm chức, thì việc hoãn thông qua TPP trong thời gian trước mắt gần như chắc chắn sẽ xảy ra.  

Mặc dù vậy, về lâu dài áp lực để phê chuẩn sẽ vẫn tồn tại trong chính trị Mỹ do gắn kết lợi ích với nước Mỹ và Đảng Cộng hòa. Kể cả khi không theo đuổi TPP nữa thì trụ cột kinh tế – thương mại vẫn không thể bị gỡ bỏ. Vẫn có khả năng Trump sẽ triển khai đàm phán các hiệp định thương mại tự do song phương ở Châu Á để mở rộng thị trường cho nền kinh tế Mỹ và củng cố vị trí chiến lược của Mỹ trong khu vực.  

Thứ hai là sự suy giảm vai trò của các cơ chế đa phương. Chính sách đối ngoại của Trump nhiều khả năng sẽ nhấn mạnh các mối quan hệ song phương và coi nhẹ các thể chế đa phương hơn so với thời Obama. Vì vậy, nếu Mỹ có tiếp tục coi trọng Biển Đông, khả năng cao là nước này sẽ không tận dụng các kênh ngoại giao đa phương như ASEAN, ARF, EAS, mà sẽ đẩy mạnh hợp tác song phương với các quốc gia có tranh chấp. Điều này có thể sẽ gây bất lợi cho những quốc gia nhỏ.  

Thứ ba là con bài hoà hoãn (détente) Mỹ – Nga. Với những lời khen mà Trump đã dành cho Putin trong thời gian vừa qua, rất có thể Trump sẽ tìm cách “tái khởi động” lại mối quan hệ với Nga để tạo ra thế “Nixon đảo ngược”. Nói cách khác, thay vì dùng “lá bài Trung Quốc” để tạo thế đối trọng với Liên Xô như Nixon từng làm trong Chiến tranh Lạnh, Trump sẽ dùng “lá bài Nga” để đẩy Trung Quốc vào thế yếu và buộc Trung Quốc phải hoà hoãn.  

Ngoài ra, quan hệ tốt với Nga sẽ giúp Trump dễ dàng hơn trong xử lý vấn đề Trung Đông như đã hứa với cử tri trước đó. Trừ khi Nga tiếp tục có những động thái khiến Mỹ và các đồng minh NATO cảm thấy bất an, gần như chắc chắn một sự thoả hiệp Mỹ – Nga sẽ xảy ra, đặc biệt khi các đòn trừng phạt của Mỹ và EU đối với Nga trong suốt thời gian vừa qua chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. 

Do đó, đối với các quốc gia ở Biển Đông, tác động từ chiến thắng của Trump vẫn còn là một câu hỏi. Bắc Kinh chắc chắn không ưa chính sách ngoại giao cứng rắn của Hillary nhưng buộc phải dè chừng trước sự khó đoán của Trump. Đặc biệt khi những tuyên bố từ trước tới nay của Trump nhằm vào Trung Quốc là rất gay gắt, ít nhất là về tiền tệ và thương mại.  

Các nước nhỏ hơn trong khu vực có lẽ sẽ trông đợi vào Trump để tạo ra một sự chuyển biến đủ lớn để hoá giải thế bế tắc hiện nay ở Biển Đông, song cũng sẽ thấy bất an trước một khả năng không thể loại trừ là Mỹ-Trung bắt tay hoà hoãn. Tuy nhiên do Mỹ-Trung vẫn đang ở thế đối đầu hết sức gay gắt, khả năng hoà hoãn là rất thấp.

Do đó, có thể sẽ là một gợi ý khôn ngoan cho các bên còn lại trong tranh chấp ở Biển Đông là khai thác triệt để mâu thuẫn Mỹ – Trung, đồng thời thuyết phục Bắc Kinh nhượng bộ, trong bối cảnh các cơ chế đa phương trong khu vực được dự đoán sẽ mất vai trò chủ đạo như đã nói ở trên.  

NCS. Ngô Di Lân, ĐH Brandeis, Hoa Kỳ

(cùng nhóm nghiên cứu thuộc Sáng Kiến Việt Nam)

CHIỀU HƯỚNG CHIẾN LƯỢC NGOẠI GIAO CỦA MỸ VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ TRUNG-MỸ – BS

15 Th5

CHIỀU HƯỚNG CHIẾN LƯỢC NGOẠI GIAO CỦA MỸ VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ TRUNG-MỸ

Posted by basamnews on 15/05/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

CHIỀU HƯỚNG CHIẾN LƯỢC NGOẠI GIAO CỦA MỸ VÀ

XU THẾ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ TRUNG-MỸ

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ hai, ngày 14/5/2012

(Tạp chí “Thế giới đương đại ” – Trung Quốc)

Một năm trở lại đây, sau khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu kết thúc, kinh tế Mỹ vẫn tiếp tục suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp ở mức cao không giảm. Trước bối cảnh đó, về mặt ngoại giao, Tổng thống Obama giữ lời hứa trong bầu cử, vào ngày 31/8/2010, tuyên bố kết thúc hoạt động tác chiến của quân đội Mỹ tại Irắc và sẽ rút toàn bộ quân đóng tại Irắc vào cuối năm 2012. Theo sau đó là Hội nghị NATO tháng 12/2010 quyết định NATO và quân đội Mỹ sẽ bắt đầu rút quân khỏi. Ápganixtan từ năm 2014. Đồng thời với xu thế kết thúc hai cuộc chiến tranh tại Irắc và Ápganixtan, Mỹ cũng đang xem xét và tìm kiếm phương hướng ngoại giao và chiến lược, an ninh của mình thời kì hậu chiến tranh Irắc, đẩy mạnh hành động “quay trở lại” và khôi phục vai trò và vị thế của mình ở các khu vực trên thế giới. Song trước mắt, trong một hai năm tới, trọng điểm chiến lược toàn cầu của Mỹ vẫn là hai cuộc chiến tranh Irắc và Ápganixtan, ngoại giao Mỹ vẫn chưa và cũng như không thể hoàn toàn tiến vào “thời kì hậu chiến tranh Irắc”.

 

Việc Trung Quốc vẫn tiếp tục phát triển và “thời kì chiến tranh Irắc” của Mỹ có xu hướng kết thúc đã khiến cho một số thế lực của giới ngoại giao và chiến lược của Mỹ bắt đầu suy nghĩ và tìm kiếm phương hướng trọng điểm của nước mình, của toàn cầu và chiến lược ngoại giao của Mỹ hậu chiến tranh Irắc. Những điều này khiến cho chiến lược ngoại giao của Mỹ đối với Trung Quốc thể hiện rõ trạng thái có nhiều thay đổi và không xác định ở mức độ nhất định về mặt tư duy chiến lược.

Chiến lược ngoại giao và an ninh của Mỹ đang chuẩn bị chuyển từ “thời kì chiến tranh Irắc” sang “thời kì hậu chiến tranh Irắc”, hướng đi đó vẫn chưa xác định

Ngày 31/8/2010, việc Mỹ kết thúc hoạt động tác chiến tại Irắc, thêm vào đó, cuối năm 2010, Mỹ và NATO đã đưa ra quyết định năm 2014 bắt đầu rút quân ra khỏi Ápganixtan, chứng tỏ chiến lược toàn cầu đầu thế kỉ 21 của Mỹ đang hướng tới “thời kì hậu chiến tranh Irắc” hoặc “thời kì hậu chiến tranh Irắc-Ápganixtan”. Chính quyền Obama và Đảng Dân chủ có ý đồ kết thúc hai cuộc chiến tranh và chiến lược ngoại giao, an ninh Mỹ do họ chủ đạo nhưng đến nay họ vẫn chưa có cách nào thực hiện được. Mỹ vẫn chưa thực sự bước vào thời kì chiến lược mới, chỉ là tính đến và chuẩn bị chiến lược toàn cầu và ngoại giao Mỹ “‘thời kì hậu chiến tranh Irắc ở một vài mặt nào đó.

Trong năm đầu tiên tranh cử và cầm quyền, Obama đã xây dựng cho mình một hình tượng hoàn toàn không giống Bush và phái bảo thủ mới của Đảng Cộng hòa; Đối mặt với những tổn hại nghiêm trọng đến hình tượng quốc tế và quan hệ ngoại giao Mỹ do chiến tranh Irắc mang lại, Chính quyền Obama và Đảng Dân chủ trong năm đầu tiên cầm quyền đã thi hành các chính sách ‘‘ngoại giao sức mạnh thông minh”, “ngoại giao lắng nghe ’ và “ngoại giao mỉm cười”. Obama, Biden, Hillary v.v… hầu như liên tục đến thăm rất nhiều nước châu Âu, châu Á, Trung Đông, châu Phi, Khu vực Mỹ La-tinh, đến đâu cũng có thái độ nhượng bộ, lắng nghe, khiêm tôn, thân thiện, nhằm cải thiện những tổn hại nghiêm trọng về hình tượng và quan hệ đối ngoại của Mỹ trong thời kỳ Bush. Có thể nói, những hành động ngoại giao “khôi phục hình tượng và quan hệ đối ngoại của Mỹ” trong năm đầu tiên của Chính quyền Obama đã thực hiện được những mục tiêu ban đầu. Hình tượng quốc tế của Mỹ đã được khôi phục khá nhiều, quan hệ của Mỹ với các nước trên thế giới như liên minh, Hồi giáo… đã có phần cải thiện, cơ bản đã trở về thời kì và trạng thái trước chiến tranh Irắc.

Nhìn bề ngoài có thể thấy mục đích chính của ngoại giao Mỹ trong năm đầu tiên Obama cầm quyền là “cải thiện và khôi phục hình tượng nước Mỹ và quan hệ đối ngoại”; ngoại giao Mỹ trong năm cầm quyền thứ 2 của ông là tiếp tục nhắc lại việc “khôi phục và duy trì vị thế và ảnh hưởng của Mỹ”. Sau khi cơ bản đã thực hiện được mục tiêu ngoại giao của năm đầu tiên, từ năm 2010 đến nay, ngoại giao Mỹ đã áp dụng “thế tiến công”, bắt đầu can thiệp ngày càng nhiều vào các công việc của khu vực và quốc tế, theo đuổi “sự quay trở lại” các khu vực trên thế giới, nâng cao vị thế và ánh hưởng của Mỹ trên toàn cầu. Để thực hiện được mục tiêu chiến lược này, Mỹ đã không ngần ngại lựa chọn cách “thách thức” thậm chí đối kháng cục bộ.

Từ năm 2010 trở lại đây, Mỹ rõ ràng đã đẩy nhanh tiến độ “quay trở lại” Đông Nam Á và toàn châu Á. Mỹ đã mượn “Biển Đông”, “sự kiện tàu Cheonan”, “sự kiện đào Yeonpyeong” và “bất ổn tại nước Cộng hoà Cưrơgưxtan” đế mở rộng ảnh hưởng của mình ở châu Á, củng cố quan hệ với các nước đồng minh, tăng cường quan hệ với các nước châu Á như Đông Nam Á, đối phó và ngăn chặn những ảnh hưởng và vị thế ngày càng cao của Trung Quốc ở châu Á. Tại Trung Đông, Mỹ lại lần nữa sắp xếp ván cờ “Thúc đẩy đàm phán hòa bình Trung Đông”, tổ chức Hội nghị cấp cao Palextin và Ixraen, với ý đồ để thúc đẩy Đàm phán hòa bình Trung Đông giành được tiến triển. Mỹ còn gây thêm sức ép và uy hiếp đối với Iran. Gần đây, Mỹ đã tăng cường can dự vào các công việc của các nước Bắc Phi và Trung Đông như Libi, lại một lần nữa áp dụng hành động quân sự.

Cho dù Mỹ có thể hoàn toàn rút quân và thoát khỏi Irắc và Ápganixtan, trọng điểm của chiến lược toàn cầu trở về tình hình truyền thống là đối phó với các nước địa chính trị khác, cũng khác với việc Mỹ tất nhiên hoặc có thể đối phó với các cường quốc mới nổi lên như Trung Quốc, Nga như đối phó với Liên Xô và Trung Quốc thời kì Chiến tranh Lạnh. Vì tình hình quốc tế đã nảy sinh những thay đổi cơ bản, thế giới dần hướng tới toàn cầu hóa, đa cực hóa, dân chủ hóa và phụ thuộc lẫn nhau, những nước lớn như Trung Quốc chủ yếu quan tâm đến phát triển, không tranh giành thế giới và mở rộng ý thức hệ với nước Mỹ. Do đó, Mỹ sẽ không vì những lợi ích, ý chí, điều kiện và năng lực vốn có mà cô lập, ngăn chặn các cường quốc khác trên thế giới giống như thời Chiến tranh Lạnh, đối kháng toàn diện với các cường quốc khác. Toàn cầu hóa, đa cực hóa, đa phương hóa, dân chủ hóa, phụ thuộc lẫn nhau, sự phức tạp hóa của tình hình toàn cầu hóa và quan hệ giữa các nước đã hình thành nên hạn chế đối với tất cả các lực lượng và quốc gia trên thế giới, không một nước nào được phép tùy ý hành động, kể cả Mỹ-cường quốc hùng mạnh nhất-cũng không ngoại lệ. Hơn nữa, các cường quốc khác cũng có khả năng tạo dựng quan hệ đối ngoại và quan hệ với Mỹ, một mình Mỹ không thể quyết định toàn cục quan hệ quốc tế và mối quan hệ với các nước lớn khác. Kết thúc chuyến thăm và làm việc tại Mỹ của Chủ tịch Hồ cẩm Đào tháng 1/2011, Mỹ đã đồng ý cùng Trung Quốc thiết lập và phát triển mối “quan hệ đối tác hợp tác”.

Trong tình hình ngoại giao chuẩn bị chuyển hướng, ngoại giao Mỹ đối với Trung Quốc vẫn bộc lộ trạng thái và xu hướng có tính hai mặt

Trọng điểm chiến lược toàn cầu của Mỹ “thời kì hậu chiến tranh Irắc” sẽ chuyển sang hướng nào? Trong bài phát biểu chính thức kết thúc hành động tác chiến của Mỹ tại Irắc ngày 31/8/2010, Tổng thống Obama đã bày tỏ rõ: chiến tranh Irắc đã tiêu tốn quá nhiều tài nguyên và tinh lực của nước Mỹ, bây giờ đã đến lúc chuyển những tài nguyên và tinh lực đó vào trong nước, chấn hưng nền kinh tế và thực lực của nước Mỹ. Nếu Mỹ thật sự có thể chuyển trọng điểm chiến lược quốc gia, tài nguyên và sức chú ý vào các công việc trong nước, đây là việc tốt đối với nước Mỹ và thế giới. Vấn đề là Mỹ, bao gồm cá nhân Obama có làm được điều này không? Hơn 60 năm lịch sử sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ Hai đã minh chứng, sau Chiến tranh Thế giới thứ Hai, Mỹ chưa từng hoàn toàn đặt trọng điểm chiến lược vào trong nước, Mỹ chưa và cũng không thể thay đổi cũng như từ bỏ mục tiêu chiến lược khu vực nhà nước và toàn cầu trong việc “lãnh đạo thế giới”. “Báo cáo chiến lược an ninh quốc gia” mà Mỹ công bố trong mấy chục năm lại đây đã chứng minh rõ điều này.

Do đó, tình hình thực tế về ngoại giao giữa Irắc, Ápganixtan và Mỹ quyết định, trong một hai năm, Mỹ không thể hoàn toàn thực hiện được sự thay đổi chiến lược sang “thời kì hậu chiến tranh Irắc”, vẫn chưa thể thực sự kết thúc “thời kì Irắc” của chiến lược ngoại giao và an ninh sau khi Mỹ bước vào thế kỉ 21, cũng có thể nói, chưa thể khẳng định Trung Quốc hiện nay, thậm, chí trong vài năm tới nhất định sẽ trở thành mục tiêu và đối tượng trọng điểm trong chiến lược toàn cầu của Mỹ. Đồng thời, cục diện quan hệ Trung-Mỹ và thế giới thời kì gần đây cho thấy Trung Quốc ngày càng không còn là “bên tiếp nhận” trong việc bố trí chiến lược, mà đồng thời cũng là “bên tạo dựng” chiến lược. Những tình hình này nói lên rằng Trung Quốc hiện tại và trong tương lai cũng có năng lực và điều kiện nhất định để tô tạo chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc và toàn cầu, cũng như ảnh hưởng đến tính chất và xu hướng chiến lược ngoại giao của Mỹ đối với Trung Quốc và toàn cầu.

Có thể dự đoán, những vấn đề mới và cũ còn tồn tại trong chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc và trong quan hệ hai nước sẽ có phần gia tăng, một số mâu thuẫn và bất đồng trong thương mại, tỷ giá hối đoái sẽ tăng lên, nhưng chiến lược của Mỹ với Trung Quốc không thể nảy sinh những thay đổi cơ bản, ngoại giao nội chính Mỹ vẫn không đủ điều kiện để có những thay đổi lớn trong chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc và trong quan hệ Trung-Mỹ. Sự phát triển của Trung Quốc, và ngoại giao nội chính Mỹ cũng chưa dẫn đến tình hình là Mỹ trong thời gian tới phải thay đổi chiến lược của mình với Trung Quốc và quan hệ Trung-Mỹ. Cũng có thể nói, tình hình chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc và quan hệ Trung-Mỹ sau Chiến tranh Lạnh cũng không vì những thay đổi của ngoại giao nội chính Mỹ năm 2011 mà biến đổi, trong một hai năm tới khả năng thay đổi cũng không lớn.

Hiện tại và thời gian tới, chiến lược của Mỹ với Trung Quốc và quan hệ Trung-Mỹ có một số mặt tích cực và tiêu cực tồn tại lâu nay sẽ có thể tiếp tục tồn tại và phát triển; cùng với sự phát triển không ngừng của Trung Quốc, trong một số lĩnh vực mới nổi, những mâu thuẫn và bất đồng giữa Mỹ gặp khó khăn, bất đồng chính trị nghiêm trọng và ngoại giao đang chuẩn bị chuyển hướng.

Đồng thời, kết quả bầu cử giữa kì của Mỹ khiến cho bất đồng về mặt nội chính và ngoại giao trong nước, đặc biệt là giữa quốc hội và tổng thống càng trầm trọng hơn, khiến cho khả năng Quốc hội và Chính phủ Mỹ cùng chung một lập trường trong vấn đề nội chính và ngoại giao thấp đi. Việc điều hành công việc nội chính khó khăn sẽ khiến Tổng thống Obama dành nhiều thời gian và công sức cho công tác ngoại giao để xử lý mối quan hệ với các quốc gia khác và giải quyết các vấn đề quốc tế, giành được nhiều thành tích ngoại giao hơn. Có thể nói, những việc trên tương đối có lợi cho quan hệ Trung-Mỹ trong hai năm tới. Do quan hệ cơ bản trong hai năm tới của Chính quyền Obama và Đảng Cộng hòa kiểm soát Hạ viện là quan hệ đối lập và đối kháng, họ sẽ tiến hành đấu tranh và đối kháng về nhiều vấn đề, mà lĩnh vực đối kháng của họ chủ yếu là vấn đề trong nước, bao gồm quan niệm và giá trị. Trong phần lớn các lĩnh vực, hai Đảng, Quốc hội và Nhà Trắng Mỹ sẽ không lựa chọn những sách lược mang tính đối kháng với Trung Quốc. Cuộc bầu cử giữa kì của Mỹ kết thúc ngày 3/11/2010 đã cho thấy rõ việc tập trung vào những vấn đề Trung Quốc và quan hệ Trung- Mỹ sẽ không tăng thêm điểm cho các chính trị gia.

1/Quốc hội và Chính phủ Mỹ vẫn sẽ mượn vấn đề kinh tế-thương mại và tỷ giá của đồng nhân dân tệ để gây áp lực cho Trung Quốc

Kinh tế trong nước khó khăn khiến cho Quốc hội và Chính phủ Mỹ tăng cường lời lẽ và hành động gây sức ép cho Trung Quốc về vấn đề kinh tế-thương mại và tỷ giá hối đoái, nhưng sau bầu cử giữa kỳ, những bất đồng về vấn đề này trong nội bộ Quốc hội, giữa Quốc hội và Chính phủ có thể tăng thêm, tính khả năng nhất trí trong hành động thấp.

Tình hình trong nước khó khăn, tranh chấp gia tăng, Mỹ khó mà lựa chọn được phương pháp hiệu quả để thay đổi cục diện, việc chuyển hướng ra bên ngoài tìm kiếm nguyên nhân và đột phá là cách làm truyền thống của Mỹ. Đối mặt với tình hình kinh tế liên tục ảm đạm và không có cách nào thay đổi khó khăn trong nước, Quốc hội, Công đoàn và một số doanh nghiệp Mỹ đã coi việc bảo hộ thương mại và nâng giá đồng nhân dân tệ là một trong những con đường giải quyết vấn đề kinh tế Mỹ. Điều này càng tăng thêm sức ép cho Chính phủ Mỹ và Trung Quốc.

Trước bầu cử giữa kỳ năm 2010, Hạ viện Mỹ đã thông qua nghị quyết yêu cầu tăng giá đồng nhân dân tệ, Thượng viện vì gần sát bầu cử nên chưa tiến hành biểu quyết dự thảo nghị quyết này. Ngày 16/3/2011 Thượng nghị sĩ bang Niu Yoóc Mỹ, Charles Schumer, đã công bố phiên bản mới về “dự luật Schumer”, khởi động chương trình lập pháp, lại một lần nữa tạo sức ép với Trung Quốc, về vấn đề tỷ giá đồng nhân dân tệ. Chủ tịch Liên minh Tiền tệ công bằng Mỹ (FCQ, ông Charles Blum, trước đó tiết lộ, nghị sĩ Quốc hội chuẩn bị cùng gửi thư lên Tổng thống Obama, thúc giục ông gây sức ép đối với Trung Quốc về vấn đề tỷ giá hối đoái, hơn nữa, thư yêu cầu là chữ kí của hàng trăm nghị sĩ hai viện.

Từ tình hình trên có thể thấy, không thể gạt bỏ việc Thượng viện sẽ tiếp tục thảo luận vấn đề đồng nhân dân tệ, thậm chí thông qua dự luật. Nếu hai viện đều thông qua dự luật về đồng nhân dân tệ thì khả năng phê duyệt của Tổng thống Obama là rất lớn, bởi vì Obama không giống như Bush, là người có nhận thức và lập trường vững chắc trong quan hệ Trung-Mỹ, có thể đối mặt một cách kiên định trước quyết định của Quốc hội khi đó về vấn đề đãi ngộ tới huệ quốc. Đồng thời, nói về quan hệ Trung-Mỹ, hiện tại trong nước Mỹ cũng thiếu sự ủng hộ và bảo vệ từ giới doanh nghiệp hoặc các lực lượng khác.

Tuy nhiên, dù cho hai viện của Quốc hội đều thông qua, và Tổng thống Obama cũng đã ký nghị quyết về tỷ giá đồng nhân dân tệ, cũng không có nghĩa là không thể tránh được xung đột toàn diện trong quan hệ thương mại Trung-Mỹ và quan hệ giữa hai nước. Do đó nghị quyết Quốc hội chỉ là trao quyền cho tổng thống áp dụng hành động tương ứng, chứ không yêu cầu tổng thống áp dụng hành động toàn diện. Với tình hình này, tổng thống Obama và Chính phủ Mỹ rất có thể sẽ từng bước áp dụng hành động ở một vài sản phẩm và lĩnh vực, chứ không cùng lúc áp dụng hành động ngăn chặn đối với toàn bộ hàng hóa Trung Quốc vào Mỹ bằng cách nâng cao thuế quan, điều này có thể ảnh hưởng đến thương mại vài trăm triệu, hơn một tỷ hoặc có thể đến vài tỷ USD. Đương nhiên, Tổng thống và Chính phủ Mỹ vẫn sẽ tiếp tục tăng thêm sức ép đối với Trung Quốc về vấn đề tỷ giá hối đoái.

2/ Những lo lắng và ứng phó của Mỹ đối với thực lực, đặc biệt là thực lực quân sự và sự đẩy mạnh các hoạt động của Trung Quốc đang ngày càng gia tăng

Cùng với Sự phát triển liên tục của Trung Quốc, thực lực kinh tế, quân sự và ảnh hưởng quốc tế của Trung Quốc đều tiếp tục nâng cao, tuy về tổng thể dòng chính trong chính sách Mỹ vẫn chưa coi sự trỗi dậy của Trung Quốc là những thách thức và mối đe dọa đối với Mỹ, nhưng trên thực tế họ xác định mối quan hệ Trung-Mỹ là mối quan hệ cạnh tranh, Trong nước Mỹ có rất nhiều dư luận tỏ ra lo lắng và cảnh giác đối với sự phát triển hiện đại hóa quân sự Trung Quốc, trên cơ sở đó có thái độ cứng rắn đối với Trung Quốc, trong đó phần lớn là dư luận từ phía quân đội, Nhưng trong đó cũng không thiếu những lời kêu gọi lý trí và nhìn nhận một cách bình tĩnh tình hình khó khăn của mối quan hệ Trung-Mỹ. Từ những tuyên bố nhiều lần của Nhà Trắng và phát biểu của Obama có thể thấy, về tổng thể, hai bên Trung-Mỹ đều đang cố gắng kiểm soát tình hình xấu, cố gắng ngăn chặn những tình hình xấu làm tổn hại và phá hoại toàn cục quan hệ Trung-Mỹ.

Từ năm 2000 trở lại đây, việc trình Quốc hội báo cáo hàng năm về tình hình sức mạnh quân sự Trung Quốc đã trở thành thông lệ của phía quân đội Mỹ. Một mặt, Lầu Năm Góc thừa nhận sự hiện đại hóa quân sự Trung Quốc phản ánh sự trỗi đậy của Trung Quốc với tư cách nước lớn trên toàn cầu, nhưng đồng thời cũng lo lắng Trung Quốc có thể trở thành đối thủ cạnh tranh lợi ích của Mỹ tại Thái Bình Dương; lo lắng sức mạnh quân sự Trung Quốc “không minh bạch” ảnh hưởng đến sự ổn định của khu vực quan trọng này, sự phát triển kĩ thuật quân sự Trung Quốc có thể gây cản trở cho hoạt động của Mỹ tại các cửa ngõ chính của Trung Quốc và vùng biển quốc tế Tây Thái Bình Dương.

Nhưng so với những năm trước, báo cáo năm 2010 đã xuất hiện những thay đổi nhỏ. Báo cáo này vốn định đưa ra vào tháng 3 năm đó, nhưng thời gian chính thức ra mắt đã lùi lại khoảng 5 tháng. Báo cáo hàng năm có tên gọi “Báo cáo sức mạnh quân sự Trung Quốc”, nhưng tiêu đề năm 2010 lại là “Phát triển quân sự và an ninh của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”. Ngoài ra, trong báo cáo năm 2010, quân đội Mỹ cho rằng 10 năm qua, Trung Quốc đã tăng nhanh tiến độ chuyển biến, quân lực đã phát triển đủ mạnh để ảnh hưởng đến những vụ việc diễn ra bên ngoài Trung Quốc. Quân đội Trung Quốc hiện nay có thể đưa ra những đóng góp cho việc nỗ lực gìn giữ hòa bình thế giới, viện trợ nhân đạo và tấn công cướp biển, về vấn đề này, Mỹ tỏ ra hoan nghênh và mong muốn hợp tác phát triển hơn nữa.

“Thuyết về mối đe dọa từ Trung Quốc”, “Thuyết về sự thù địch từ Trung Quốc” vẫn tiếp tục tồn tại trong đảng cầm quyền và đảng đối lập của Mỹ, thậm chí có lúc trở thành trào lưu chính của một số ngành trong chính phủ và cách nhìn nhận của Quốc hội; nhưng lực lượng chủ yếu trong chính sách ngoại giao Mỹ mà những người đứng đầu là tổng thống, ngoại trưởng, trợ lý các công việc an ninh quốc gia tổng thống thì vẫn chưa coi Trung Quốc là đối thủ và thù địch. Họ vẫn có ý đồ giành được sự ủng hộ và hợp tác của Trung Quốc trong các công việc khu vực và quốc tế, vẫn lựa chọn chính sách hai mặt “tiếp xúc và phòng ngừa” đối với Trung Quốc từ sau Chiến tranh Lạnh kéo dài cho đến nay. Chưa có dấu hiệu rõ ràng nào chửng tỏ nhận thức và chính sách của lãnh đạo và quan chức cấp cao Chính phủ Mỹ như Tổng thống Obama, Ngoại trưởng Hillary đối với Trung Quốc nảy sinh những thay đổi quan trọng khác với năm đầu tiên cầm quyền.

3/ Sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc tại châu Á không ngừng tăng cường, kế hoạch “quay trở lại châu Á” của Mỹ làm gia tăng cạnh tranh và mâu thuẫn với Trung Quốc

Cùng với sự phát triển kinh tế Trung Quốc, ảnh hưởng về mặt phát triển kinh tế tại châu Á tăng lên rõ ràng, Trung Quốc đã thay thế Mỹ và Nhật Bản trở thành động lực chính trong tăng trưởng kinh tế châu Á, đối tác thương mại chính và thị trường xuất khẩu chủ yếu của đa số các nước và khu vực châu Á. Sức ảnh hưởng chính trị của Mỹ về các mặt ý thức hệ, dân chủ, nhân quyền, phương thức phát triển, v.v. tại châu Á giảm rõ rệt so với 10 năm trước, Mỹ đã không còn là nơi đầu tư và thị trường lớn nhất trong việc xuất khẩu những sản phẩm của rất nhiều nước và khu vực châu Á, vị thế kinh tế và ảnh hưởng của Mỹ tại châu Á giảm rõ rệt.

Chính quyền Obama cảm thấy lo lắng đối với sự thật và xu hướng là vị thế và ảnh hưởng của Trung Quốc tại châu Á đang được nâng cao, còn vị thế và ảnh hưởng của Mỹ lại hạ xuống. Họ hạ quyết tâm lựa chọn hành động ứng phó với xu thế phát triển bất lợi này cho Mỹ, Bắt đầu từ cuối năm đầu tiên cầm quyền, Chính quyền Obama đã từng bước lựa chọn hành động ứng phó với sự tăng lên của sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc tại châu Á. Cụ thể là: (1) Tỏ rõ, sự nhất thể hóa khu vực châu Á-Thái Bình Dương không thể trả giá cho việc làm yếu đi sức ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực này; (2) Gia nhập và đẩy nhanh tiến trình Hiệp định quan hệ đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Trung Quốc không tham gia, cố gắng trở thành hội viên của Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS); (3) Gia nhập “Hiệp ước hợp tác và thân thiện Đông Nam Á”, tổ chức Hội nghị thượng đỉnh đối thoại hàng năm giữa Mỹ và ASEAN (1+10); (4) Thông qua các vấn đề “sự kiện tàu Cheonan”, “sự kiện đảo Yeonpyeong”, “đảo Điếu Ngư” để lựa chọn đứng về phía Nhật-Hàn vô điều kiện, tăng cường quan hệ liên minh với Nhật-Hàn; (5) Lợi dụng “vấn đề biển Đông”, gây chia rẽ quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á, khiến cho về vấn đề an ninh, các nước này phải đề phòng Trung Quốc, cần đến Mỹ, đứng về phía Mỹ.

Thực chất chiến lược “quay trở lại châu Á” của Chính quyền Obama là mưu tính duy trì vị thế và vai trò chủ đạo truyền thống của Mỹ tại châu Á. về cách làm, Mỹ không thể giống như trước đây, chỉ thiên về đem lại ý thức hệ và quan niệm giá trị, cung cấp thị trường và vốn cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương, hiện nay, để duy trì vai trò chủ đạo tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Mỹ cần dựa vào sức mạnh quân sự của mình nhiều hơn, dựa vào vấn đề an ninh, dựa vào việc mâu thuẫn và tranh chấp giữa Trung Quốc với một vài nước châu Á.

4/ Trong quan hệ Trung-Mỹ, Mỹ vẫn sẽ tiếp tục lợi dụng và can dự vào vấn đề Đài Loan và Tây Tạng

Cùng với sự cải thiện và ấm lên của quan hệ hai bờ, những tổn hại trong quan hệ Trung-Mỹ về vấn đề Đài Loan đã giảm đi, nhưng vấn đề này chưa hoàn toàn xóa bỏ, đôi khi vẫn xuất hiện trong quan hệ Trung-Mỹ. Dự tính Mỹ vẫn sẽ tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan, duy trì việc tiếp xúc quân sự và chính thức với Đài Loan, có lúc việc tiếp xúc, thăm hỏi giữa các cấp cũng gia tăng. Nhưng mấy chục năm lịch sử đã chứng minh, về quan hệ chính thức với Đài Loan, Mỹ vi phạm 3 thông cáo chung tương đối ít. Trọng điếm từ nay về sau vẫn sẽ là ngăn chặn và phản đối việc Mỹ bán trang thiết bị vũ khí tiên tiến, hạng nặng cho Đài Loan, về vấn đề can thiệp vào Tây Tạng và Tân Cương, phản ứng của Chính phủ Mỹ đối với sự kiện “14/3” và “5/7” xuất hiện hai năm gần đây khá ôn hòa. Điều này chứng tỏ, so với những năm 90 của thế kỉ trước, vị thế và vai trò của Mỹ trong chiến lược của Mỹ đối với Trung Quốc và quan hệ Trung-Mỹ về vấn đề dân chủ, nhân quyền can thiệp Tây Tạng đã hạ xuống tương đối, tính đối kháng đối lập về vấn đề này giữa hai nước đã yếu đi.

5/ năm 2010, quan hệ Trung-Mỹ gặp nhiều trở ngại hơn, tranh chấp không ngừng, nhưng tình hình và bố cục của quan hệ Trung-Mỹ sau Chiến tranh Lạnh không có sự thay đổi, nhận thức và chiến lược tổng thể của Mỹ với Trung Quốc chưa xuất hiện thay đổi lớn

Phần lớn những vấn đề tồn tại trong quan hệ Trung-Mỹ năm 2010 là vấn đề Đài Loan, can thiệp Tây Tạng v.v… Bên cạnh đó,  cho dù tranh chấp trong quan hệ Trung-Mỹ năm 2010 gia tăng, Mỹ cũng chưa thay đổi chính sách tiếp xúc với Trung Quốc. Tháng 5/2010, chiến lược Trung-Mỹ và đối thoại kinh tế đã giành được tiến triển; tháng 9 cùng năm, phó Trợ lý các công việc an ninh quốc gia của tổng thống và Chủ tịch Ủy ban kinh tế của tổng thống Mỹ đã đến thăm Trung Quốc; Thủ tướng Ôn Gia Bảo và Tổng Thống Obama đã có cuộc đàm phán tại Niu Yoóc, hai bên đã đạt được thỏa thuận Chủ tịch HỒ Cẩm Đào đến thăm Mỹ, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đến thăm Trung Quốc v.v. Tất cả những điều này cho thấy kết cấu và tình hình quan hệ Trung-Mỹ năm 2010 không có những thay đổi cơ bản.

Đồng thời, cùng với sự trỗi dậy và các hoạt động liên quan của Trung Quốc gia tăng, đặc biệt là việc phát triển sức mạnh quân sự, sự gia tăng các hoạt động ở Tây Thái Bình Dương, .khiến cho quân đội Mỹ vốn quen với những hoạt động thông suốt, không gặp trở ngại từ mấy chục năm nay cảm thấy “không thuận tiện”, bị “quấy nhiễu” và “đe dọa” tất nhiên Mỹ sẽ có những phản ứng và đối phó. Việc Mỹ lợi dụng sự tranh cãi giữa Nhật Bản, Hàn Quốc và các nước Đông Nam Á với Trung Quốc về vấn đề lãnh thổ, lãnh hải và tài nguyên để lôi kéo các nước châu Á, cùng nhau đối phó với sự gia tăng hoạt động và trỗi dậy của Trung Quốc đã trờ thành sách lược và phương pháp duy trì vị thế, vai trò và lợi ích của Mỹ tại châu Á.

Chiến lược “quay trở lại châu Á” mà dựa vào quân sự là chính của Mỹ đã đem lại nhiều mâu thuẫn và bất đồng mới, thậm chí dẫn đến nguy cơ đối kháng quân sự mới trong quan hệ Trung-Mỹ. Đối với việc hiện diện quân sự và hoạt động tương quan của Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chúng ta cần nhận thấy, tuy điều đó đã tạo thành mối đe dọa nào đó đối với lợi ích an ninh Trung Quốc, nhưng không phải là sự đối khang và thách thức trực tiếp với nước này. Động cơ và mục đích chính trong thái độ và hành động của Mỹ về các vấn đề biển Đông, tập trận chung ở biển Hoàng Hải, đảo Điếu Ngư vẫn là lôi kéo các nước châu Á, chứ không phải chỉ nhằm vào Trung Quốc.

Lời kết

Sự tranh chấp về vấn đề biển Đông giữa hai nước Trung Quốc và Mỹ từ năm 2010 trở lại đây lại một lần nữa cho thấy trong rất nhiều tình huống, Mỹ và Trung Quốc không thể tránh khỏi mâu thuẫn, và xung đột khi theo đuổi lợi ích quốc gia của riêng mình. Do đó, trong tương lai, những xung đột giữa Trung Quốc và Mỹ ở khu vực Tây Thái Bình Dương như vấn đề biển Đông vẫn sẽ không ngừng xảy ra, song phía Mỹ cũng hy vọng hai nước có thể thông qua “cơ chế đối thoại an ninh trên biển” để có thể kiềm chế những bất đồng giữa hai bên trong phạm vi có thể kiểm soát.

Cùng với việc không ngừng tăng cường thực lực tổng thể của Trung Quốc, cạnh tranh giữa các nước trên thế giới ngày càng gay gắt, tranh chấp về thương mại và tỷ giá hối đoái sẽ tồn tại lâu dài. Biện pháp giải quyết căn bản vẫn là ở chỗ Trung Quốc thực hiện sự thay đổi phương thức phát triển của bản thân, giảm thiểu sự phụ thuộc của nền kỉnh tế Trung Quốc vào thị trường Mỹ, và thực sự cần thực hiện phướng thức đó là vì muốn thúc đẩy nhu cầu trong nước phát triển. Chỉ cần giữa hai nước Trung Quốc và Mỹ tồn tại vấn đề thương mại mất cân bằng nghiêm trọng, Quốc hội và Chính phủ Mỹ sẽ không dừng lại ở việc phê phán và gây áp lực đối với Trung Quốc về vấn đề thương mại và tỷ giá hối đoái.

Lập trường và hành động của Mỹ về các vấn đề đảo Điếu Ngư, tranh chấp biển Đông, tập trận chung ở biển Hoàng Hải v.v…cho đến nay đã tạo thành mối đe dọa và thách thức bất  định đối với Trung Quốc, nhưng cũng vẫn chưa hình thành sự thù địch và đối kháng về những vấn đề này giữa hai nước, Lập trường phía Mỹ có một số thay đổi mới, một mặt nhằm vào Trung Quốc, nhưng chủ yếu vẫn là xuất phát từ nhu cầu gìn giữ mối quan hệ liên minh, giữ vững vị thế và ảnh hưởng của nó ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mặt khác nhằm vào Trung Quốc chỉ là lý do thứ 2. Do đó, phải coi trọng cao độ và giải quyết ổn thỏa những mâu thuẫn, bất đồng và đối lập này, nhưng cũng phải tiến hành khống chế và quản lý, đề phòng nó tạo thành sự quấy rối và phá hoại nghiêm trọng đối với tình hình chung của quan hệ Trung-Mỹ và toàn cục chiến lược của Trung Quốc./.

 

Share this:

Like this:

Be the first to like this post.

Bài viết này được đăng vào 15/05/2012 lúc 02:05 và tập tin được lưu ở Quan hệ Mỹ-Trung, Quân sự.Bạn có thể theo dõi các phản hồi của bài viết này thông qua RSS 2.0 dòng thông tin. Bạn có thể Để lại lời nhắn, hoặc trackback từ trang của bạn.

Có mộ phản hồi to “988. CHIỀU HƯỚNG CHIẾN LƯỢC NGOẠI GIAO CỦA MỸ VÀ XU THẾ PHÁT TRIỂN QUAN HỆ TRUNG-MỸ”

  1. NCM đã nói

    15/05/2012 lúc 04:33 Voi giong dieu hong hach va tu cho rang da du suc manh quan su de khong che Tay Thai binh duong , China dang tu cho minh la mot cuong quoc (xam luoc ,chen ep cac nuoc nho ; tu cho minh quyen phan xet cac nuoc khac phai cu xu nhu the nao) va muon gay ap luc de USA phai nhuong buoc ? Chu nghia Dai Han cua nha cam quyen Trung quoc da lo ro nguyen hinh !

Philippines có thành ‘vật hy sinh’ trong quan hệ Mỹ-Trung? – ĐV/BS

14 Th5

Đại sứ quán Trung Quốc tại Philippines ngày 9/5 đã ra thông báo khẩn cấp yêu cầu tất cả các công dân Trung Quốc đang sinh sống, làm việc và học tập ở Philippines phải tăng cường chú ý và làm tốt công tác đảm bảo an toàn.

Trong bối cảnh căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines xung quanh vấn đề tranh chấp lãnh hải tại khu vực bãi đá ngầm Scarborough (Trung Quốc gọi là đảo Hoàng Nham) ở biển Tây Philippines (Biển Đông) đang có dấu hiệu leo thang, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Voltaire Gazmin cho biết Manila đã nhận được đảm bảo từ phía Mỹ rằng Washington sẽ bảo vệ Manila trong trường hợp xảy ra đối đầu quân sự giữa Philippines-Trung Quốc ở vùng biển này.
Trung Quốc đe dọa mạnh tay
Bắc Kinh tiếp tục đe dọa Manila khi cảnh báo Philippines nên “hành xử thận trọng” trong vụ tranh cãi chủ quyền, và “không nên tiếp tục làm tổn hại quan hệ song phương”. Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Phó Doanh ngày 8/5 đã lần thứ ba hẹn gặp với Đại biện lâm thời Philippines tại Trung Quốc, trong công hàm nói rõ Trung Quốc đã làm tốt các công tác chuẩn bị ứng phó với khả năng Philippines làm to vụ việc. Chuyên gia các vấn đề quyền hải dương của Trung Quốc Lý Kim Minh cho biết, những hành động của Philippines đã vượt qua giới hạn cuối cùng của Trung Quốc. Thái độ của bà Phó Doanh chính là “thông điệp cuối cùng” gửi tới Philippines. Theo Lý Kim Minh, sở dĩ lần này phía Trung Quốc đưa ra thái độ cứng rắn như vậy chủ yếu là bởi Philippines không ngừng có những động thái nhỏ, đồng thời lần đầu tiên đã đóng chặt cánh cửa giải quyết vấn đề theo các kênh ngoại giao và hòa bình và việc Philippines muốn phá hủy vật đánh dấu (chủ quyền) của Trung Quốc trên đảo Hoàng Nham đã vượt quá giới hạn cuối cùng của Trung Quốc. Nếu như Philippines tiếp tục không tính tới hậu quả, thúc đẩy sự việc leo thang thì sẽ khó tránh khỏi họa “binh đao súng đạn”.
Trong khi đó, Hứa Lợi Bình – chuyên gia nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược châu Á-Thái Bình Dương và Toàn cầu thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc – cho rằng một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến việc Philippines có thái độ như hiện nay là vì nước này cho rằng Trung Quốc tạm thời sẽ không áp dụng hành động quân sự tại Biển Đông, song rõ ràng là Philippines đã tính toán sai quyết tâm và ý chí của Trung Quốc. Chuyên gia này cho rằng nếu Philippines ép thêm nữa, Trung Quốc không thể không đáp trả, và không loại trừ khả năng xảy ra xung đột vũ trang quy mô nhỏ. Theo điều tra của một trang mạng ở Trung Quốc, gần 80% số người được hỏi cho rằng Trung Quốc cần phải đáp trả bằng quân sự khi bị thách thức ở Nam Hải (Biển Đông).
Đại sứ quán Trung Quốc tại Philippines ngày 9/5 đã ra thông báo khẩn cấp yêu cầu tất cả các công dân Trung Quốc đang sinh sống, làm việc và học tập ở  Philippines phải tăng cường chú ý và làm tốt công tác đảm bảo an toàn. Thông báo khuyến cáo các công dân Trung Quốc hạn chế ra ngoài, tuân thủ nghiêm ngặt quy định và pháp luật của nước sở tại, tránh nảy sinh tranh chấp hoặc va chạm với người dân địa phương. Hai ngày sau, ngày 11/5, Đại sứ quán Trung Quốc tại Philippines cho biết trưa cùng ngày có khoảng 300 người dân Philippines đã biểu tình phản đối trước trụ sở Lãnh sự Đại sứ quán Trung Quốc. Ngay trong ngày, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi tuyên bố việc Philippines kích động dân chúng tiến hành biểu tình nhằm vào Trung Quốc là hành động sai lầm, làm phức tạp và mở rộng vụ việc, đồng thời hy vọng Manila không áp dụng bất cứ hành động nào làm leo thang tình hình.
Mỹ sẽ nhập cuộc nếu xảy ra xung đột?
Trước khả năng xảy ra xung đột quân sự với Trung Quốc trên biển, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Voltaire Gazmin mới đây nói rằng  trong cuộc thảo luận tại Washington hồi tuần trước với các quan chức cấp cao Mỹ, hai bên đã thảo luận về những căng thẳng gần đây giữa Philippines và Trung Quốc tại khu vực bãi đá ngầm Scarborough/Hoàng Nham. Theo Bộ trưởng Gazmin, “Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã nhấn mạnh rằng họ không đứng về bên nào trong cuộc tranh chấp, nhưng Mỹ sẽ tôn trọng Hiệp ước phòng thủ tương trợ đã ký với Philippines năm 1951”. Bộ trưởng Gazmin trích dẫn các điều khoản trong Hiệp ước phòng thủ tương trợ Mỹ – Philippines, trong đó quy định rõ Washington sẽ hỗ trợ Manila “trong trường hợp xảy ra tấn công vũ trang… trên vùng lãnh hải biển đảo ở Thái Bình Dương”. Khi được hỏi về việc có thể hiểu nội hàm tuyên bố của hai quan chức cấp cao Mỹ như thế nào, Bộ trưởng Gazmin nêu rõ: “Tôi hiểu những phát biểu của bà Clinton có nghĩa là Mỹ sẽ bảo vệ Philippines trước các vụ tấn công ở biển Tây Philippines. Tóm lại, với những tuyên bố này, họ sẽ bảo vệ chúng ta trong trường hợp xảy ra sự vụ trên biển Tây Philippines.”
Tuyên bố của Bộ trưởng Gazmin được đưa ra ra trong bối cảnh căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines liên quan đến chủ quyền đối với bãi đá ngầm Scarborough/Hoàng Nham đã bước sang tháng thứ 2 với những dấu hiệu leo thang mới. Báo chí Philippines nói rằng các ngư dân của nước này bị 33 tàu Trung Quốc ngăn cản tiếp cận ngư trường truyền thống ở khu vực thuộc bãi đá ngầm tranh chấp, cách đảo chính Luzon của Philippines 230 km. Cụ thể, các ngư dân chỉ có thể tiến hành hoạt động đánh bắt ở khu vực phía ngoài đầm phá ở khu vực bãi đá ngầm Scarborough/Hoàng Nham vì bị các tàu Trung Quốc chặn lối vào. Thậm chí, một số tàu Trung Quốc còn chiếu đèn pha cực mạnh vào các tàu cá của Philippines, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho các ngư dân.
Sự gắn kết lợi ích Mỹ-Trung
Nếu chỉ xét riêng tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Philippines, có thể thấy giữa Mỹ và Philippines có quan hệ khá chặt chẽ, đặc biệt là về quân sự, và khả năng Mỹ bảo vệ Philippines là khá cao. Tuy nhiên, cần phải đặt mối quan hệ này trong bối cảnh Mỹ cũng có những lợi ích to lớn trong quan hệ kinh tế-thương mại với Trung Quốc, để thấy rằng khả năng Mỹ “hy sinh” Philippines trong quan hệ với Trung Quốc, cũng là điều hoàn toàn có thể xảy ra.
Ông Tung Chee-hwa, Chủ tịch sáng lập Quỹ giao lưu Trung-Mỹ cho rằng bất chấp những tranh cãi nhiều lúc làm xấu đi mối quan hệ Trung-Mỹ, song thực tế và các số liệu thống kê cho thấy cả hai nước đều được hưởng lợi lớn từ dòng chảy thương mại, dịch vụ và vốn. Từ năm 1978, GDP của Trung Quốc đã tăng lên mức hơn 7.000 tỷ USD, tức là tăng gấp 130 lần trong vòng 34 năm. Trong cùng thời kỳ này, kim ngạch thương mại quốc tế của Trung Quốc đã tăng lên mức 3.600 tỷ USD vào cuối năm 2011, với mức tăng gấp 100 lần. Điều quan trọng hơn, hàng trăm triệu người dân Trung Quốc đã thoát khỏi tình trạng đói nghèo.
Trong khi đó, Mỹ cũng được hưởng lợi. Theo tổ chức tư vấn kinh tế Oxford Economics, kể từ khi Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), những sản phẩm giá rẻ được nhập khẩu từ Trung Quốc vào Mỹ đã giữ cho lạm phát của Mỹ ở mức thấp, tiết kiệm cho mỗi hộ gia đình Mỹ trung bình 1.000 USD/năm. Bên cạnh đó, thặng dư đầu tư của Trung Quốc vào trái phiếu tài chính Mỹ cũng làm hạ lãi suất ở Mỹ.
Trong thập kỷ trước, xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc đã tăng với tốc độ đáng ngạc nhiên, với mức cứ sau khoảng 4 năm lại tăng gấp đôi. Xu hướng này có khả năng tiếp tục. Trung Quốc giờ đây thay thế Nhật Bản trở thành nước nhập khẩu hàng hóa của Mỹ nhiều thứ ba thế giới, sau Canada và Mexico. Đến năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc đạt 103,9 tỷ USD. Nếu thương mại song phương tiếp tục tăng trưởng với tốc độ như vậy, tổng kim ngạch xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc sẽ vượt mức 200 tỷ USD, tạo thêm 800.000 việc làm ở Mỹ. Thị trường tiêu dùng khổng lồ ở Trung Quốc cũng đã tạo ra những cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp Mỹ.
Đương nhiên, trong bất kỳ mối quan hệ kinh tế và thương mại lớn nào giữa hai nền kinh tế lớn và hùng mạnh, sẽ luôn xảy ra xung đột theo kiểu này hay kiểu khác. Gần đây, ở Mỹ người ta luôn biện hộ rằng tỷ lệ thất nghiệp tại nước này cao là do nhập khẩu từ Trung Quốc. Vào khoảng thời gian trước tháng 6-2008, tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ chỉ vào khoảng 5%. Nhưng đến năm 2009, con số này đã nhảy vọt lên mức 10%, không phải do Trung Quốc, mà do sự hoành hành dữ dội của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái xảy ra sau đó. Thêm vào đó, hầu hết các loại hàng hóa do Trung Quốc sản xuất và xuất khẩu sang Mỹ là thành quả của những công việc mà tầng lớp trung lưu ở Mỹ không muốn làm. Nếu Trung Quốc không sản xuất những sản phẩm này, chắc chắn chúng sẽ được sản xuất ở Indonesia, Việt Nam, Bangladesh và những nơi tương tự.
Trong 10 năm tới, công cuộc cải cách và mở cửa của Trung Quốc sẽ mở rộng hơn và sâu sắc hơn trên tất cả các lĩnh vực. Trung Quốc là đất nước của những con người tiết kiệm. Do đó, mặc dù Trung Quốc có những nhu cầu nội địa lớn, nhưng vẫn dư thừa vốn để xuất khẩu. Thông qua đầu tư vào vốn của Trung Quốc, hàng triệu việc làm có thể được tạo ra ở Mỹ. Điều này ngược lại sẽ làm gia tăng xuất khẩu của Mỹ vào Trung Quốc. Ông Tung Chee-hwa tin rằng trong 10 năm tới, sự bổ sung tự nhiên của hai nền kinh tế và đường hướng kinh tế mới ở cả hai nước sẽ tạo ra những cơ hội mới, làm gia tăng gấp bội những lợi ích to lớn mà hai nước đang hưởng hiện nay. Theo ông Tung Chee-hwa, quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc là quan hệ cộng sinh, đôi bên cùng có lợi và không thể tách rời về mặt kinh tế.
Theo PLXH

Mĩ: siêu cường trong lĩnh vực giáo dục – VHNA

14 Th5

Collinz Randall(*)

Sức mạnh chủ yếu của hệ thống giáo dục đại học Mĩ là có nhiều trường, các trường rất đa dạng và có tổ chức phức tạp và có nguồn tài chính khác nhau.

Khác với nhiều quốc gia khác, Mĩ không có các trường đại học quốc gia trực thuộc trung ương. Nhiều trường nhận được tài trợ từ chính phủ liên bang, nhưng đa số các khoản tài trợ này là dành cho các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, nhờ đó mà nhà trường được dành một phần cho công tác quản lí. Điều đó làm cho một số chuyên gia nổi tiếng có ảnh hưởng rất lớn. Và khi họ chuyển từ trường này sang trường kia, ảnh hưởng đó làm cho người ta tin rằng họ sẽ được đối xử một cách xứng đáng.
Tất cả các bang đều có trường đại học công lập, giữa những trường này cũng có sự cạnh tranh. Thường thì mỗi bang đều muốn có mấy loại hình trường đại học công lập: a) trường đại học tinh hoa, hướng vào công tác nghiên cứu – thí dụ như trường đại học của bang California, trường đại học của bang Michigan; b) những trường đại học giành cho đại chúng, không phải tinh hoa; c) mỗi trường lại có rất nhiều phân hiệu – thí dụ như đại học California ở Los-Angeles, đại học California ở Berkly, đại học California ở San-Diago; d) trường cao đẳng với chương trình học tập kéo dài hai năm, dành cho những họcsinh không đủ điểm vào những trường đại học có uy tín hơn. Tất cả những loại hình trường lớp này bảo đảm công ăn việc làm cho các giáo viên (những người thường tốt nghiệp các trường ưu tú). Như vậy là những trường đại học bình thường gián tiếp ủng hộ những trường ưu tú.
Các trường đại học tôn giáo cũng có tình hình tương tự. Vì Mĩ không có tôn giáo của nhà nước cho nên các tôn giáo khác nhau đều tìm cách mở trường đại học của riêng mình. Bang nào cũng có những trường như thế và hầu như tôn giáo nào cũng có trường riêng.
Các trường tư thục như Havard University, Yale, Princeton, Stanford, Duke University, Chicago, Pennsylvania (mặc dù gọi là trường University of Pennsylvania, nhưng đây là trường tư, còn trường đại học quốc gia ở bang này lại có tên lên Pennsylvania State University) là những trường có uy tín nhất.
Uy tín của các trường này là do đấy là những trường lâu đời nhất, khởi kì thủy là do các giai cấp trên xây dựng lên và thành phần sinh viên quyết định tính kế thừa địa vị tinh hoa của chúng. Trong suốt hàng chục năm ròng, các trường này có thể lôi kéo những giáo sư tài ba nhất đến làm việc ở đấy. Các trường này cũng thường xuyên tìm được tài trợ cho các công trình nghiên cứu và trở thành những trung tâm đầu tư từ ngân sách nhà nước.
Các trường mang tính thương mại. Đây lả những trường xuất hiện chưa lâu, uy tín không cao. Thí dụ như University of Phoenix – đây là loại trường buổi tối, giá rẻ, giành cho những sinh viên muốn có một số nghề nghiệp nhất định.
Những kiểu trường đại học khác nhau – quốc gia, tôn giáo, tư thục – thường xuyên tìm cách bắt chước nhau. Thí dụ như các trường Thiên chúa giao không quá lệ thuộc vào những vấn đề tôn giáo và có thuê các các giáo sư không phải là người Thiên chúa giáo. Nhiều trường đại học Tin lành tìm cách chuyển thành các trường thế tục.
Các trường đại học Mĩ có thể bảo đảm được quyền tự chủ là vì họ có nhiều nguồn cung cấp tài chính:.
tài trợ của nhà nước (nhà nước trực tiếp cung cấp tài chính cho các trường đại học quốc gia, cũng như tài trợ cho công tác nghiên cứu và học bổng cho sinh viên);
đóng góp của sinh viên, những khoản đóng góp này cũng góp phần bảo đảm sự tự chủ khỏi việc kiểm soát của nhà nước ;
đóng góp mang tính từ thiện – từ những người giàu có, các công ty và sinh viên đã ra trường. Cung cấp tiền cho các trường đại học là vấn đề uy tín. Những trường đại học nổi tiếng nhất thường mang tên người sáng lập  (Havard, Yale, Stanford, Duke). Đôi khi người ta tìm cách vinh danh những người bảo trợ giàu có bằng cách gắn tên tuổi của họ với một trong những tòa nhà của trường;
thể thao cũng là nguồn thu nhập đáng kể. Trong thế kỉ XX, trường đại học có thể trở thành nổi tiếng nếu có một đội bóng đá hay bóng rổ mạnh. Trường có thể có thu nhập khá lớn từ bán vé các trận đấu, bán quyền truyền hình và bán quần áo thể thao với biểu tượng của đội… Ở các nước khác, thể thao thường tách khỏi nhà trường. Vì vậy mà không ở đâu có nguồn thu như thế. Kết quả thật bất ngờ là những trường nổi tiếng nhất không phải là những trường có trình độ giáo dục cao nhất mà lại là những trường có đội thể thao thành công nhất.
* * *
Do có nhiều nguồn thu cho nên cả doanh nghiệp lẫn chính phủ đều không thể kiểm soát được hoàn toàn trường học. Đấy là bảo đảm cho sự tự chủ của nhà trường. Làm thế nào mà chuyện đó có thể nâng cao được năng suất trong lĩnh vực trí tuệ và làm cho Mĩ trở thành nước giữ thế thượng phong về mặt trí tuệ trên thế giới? Các trường đại học tìm cách mời những giáo sư nổi tiếng nhất và có năng suất cao nhất và thường thì các trường của Mĩ cũng có điều kiện trả họ mức lương cao hơn và sự tự chủ để các giáo sư có thể thực hiện được những ý tưởng của mình.
Một tác nhân quan trọng khác – cơ cấu bên trong, các trường đại học Mĩ có rất nhiều giáo sư trong từng lĩnh vực. Đấy là sự khác biệt với hệ thống giáo dục truyền thống của châu Âu – nơi “mỗi ngành chỉ có một giáo sư”. Các trường đại học Mĩ thường tìm cách thành lập những khoa lớn với nhiều giáo sư trong mỗi lĩnh vực, điều đó đã chuyển trung tâm quyền lực lãnh đạo của trường xuống các khoa. Như vậy nghĩa là các khoa trở thành trung tâm cải tiến.
Từ sau Thế chiến II, hệ thống giáo dục Mĩ đã chiếm được những vị trí đầu tầu trên thế giới. Một phần là do sự suy sụp của các trường đại học ở Đức (chiến tranh và chủ nghĩa quốc xã). Mĩ đã được lợi vì nước này thu nhận những giáo sư-nhập cư tài giỏi nhất vào các trường đại học của mình. Nhiều giáo sư hiện nay là học trò của những người di dân thuở nào.
Năm 1945 cũng là thời điểm mà giáo dục đại học Mĩ trở thành đại chúng: tỉ lệ thanh niên theo học đại học từ 10 phần trăm đã tăng dần và hiện chiếm tới lên 60 phần trăm. Điều này làm gia tăng nhu cầu số lượng trường đại học, giáo viên và kết quả là gia tăng những cơ cấu khuyến khích sáng kiến. Ở Pháp thì lại khác, các trường đại học ở nước này bị giới hạn bởi cơ cấu của trung ương. Các trường ở Anh, tuy có được khá nhiều quyền tự chủ, nhưng càng ngày càng bị chính phủ áp lực vì họ hầu như chỉ có một nguồn tài trợ duy nhất là ngân sách.
* * *
Hiện nay các trường đại học Mĩ cũng gặp một số khó khăn tạm thời. Từ khi các trường tinh hoa nhận được nhiều tiền quyên góp của các cá nhân thì họ cũng trở thành những tay chơi có máu mặt trên thị trường chứng khóan, vì vậy mà cùng với sự suy thoái kinh tế trong hai năm vừa qua, họ đã phải đưa ra những kế hoạch tài chính mang tính bảo thủ hơn. Nhưng đây chỉ là một trong những nguồn thu cho nên tôi nghĩ rằng nó cũng không có ảnh hưởng lớn đối với tính tự chủ của họ.
Trong các môn khoa học tự nhiện, có sự hợp tác gắn bó giữa giới doanh nghiệp và các trường thực hiện những dự án nghiên cứu đặc thù. Một số nhà phê bình phàn nàn rằng điều đó sẽ buộc các trường phải quên đi lí tưởng là tìm kiếm kiến thức và làm cho họ có thói hám lợi. Áp lực là có, nhưng cũng có những tác nhân cân bằng khác: tầm quan trọng của việc giữ các giáo sư nổi tiếng trong cùng một khoa, điều này sẽ thúc đẩy những hoạt động thuần túy trí thức. Tuy nhiên, phát minh vĩ đại hay lí thuyết mới vẫn là phương pháp tạo uy tín tốt nhất. Nhiều giáo sư đại học còn thể hiện sáng kiến riêng bằng cách đưa phát minh của mình ứng dụng vào lĩnh vực thương mại. Thí dụ như sự bùng nổ của công nghệ sinh học trong mấy năm gần đây. Vì vậy mà không được coi hoạt động nghiên cứu của các trường đại học hoàn toàn là do nhu cầu của doanh nghiệp. Hơn nữa, nhiều xí nghiệp công nghệ cao lại làm cho người ta liên tưởng tới khuôn viên đại học. Các xí nghiệp này bắt chước cách làm việc của trường đại học.
Nhưng cũng không nên cường điệu sự độc quyền về trí tuệ của các trường đại học Mĩ. Trong những lĩnh vực trí tuệ như triết học, văn học và xã hội học, trung tâm tri thức thế giới trong 50 năm lại đây có lẽ nằm ở Paris. Chuyện đó xảy ra là do sự kết hợp một cách tài tình những trường đại học tinh hoa, ngành in ấn và công nghệ truyền thông, trung tâm chính trị và thế giới nghệ thuật của Pháp – từ đó mới có các “nhà tư tưởng” nổi tiếng của Pháp như Satre, Levi-Stross, Budier, những người nổi tiếng cả ở bên ngoài khuôn viên đại học.
Mĩ không có cơ chế như thế – các nhà trí thức Mĩ thường phàn nàn về chuyện đó. Washington là trung tâm chính trị chứ không phải là trung tâm trí thức; New York và Los-Angeles là trung tâm truyền thông, ở đấy cũng có một số trường đại học tốt, nhưng các thành phố này không phải là thủ đô và cũng không giữ thế thượng phong trong thế giới đại học. Các trường  đại học lớn nằm ở Boston, Chicago, San-Fransisco, Filadenfia, và nhiều thành phố nhỏ hơn như Princeton hay New-Haven.
(*): Collinz Randall là nhà xã hội học, triết học khoa học người Mĩ, chủ tịch hiệp hội xã hội học Mĩ. Trong những năm 1970 ông là một trong những sáng lập viên tạp chí “Theory and Societ”. Hiện nay ông đang dạy tại trường đại học Pensivania và là thành viên ban biên tập tạp chí  “Social Evolution & History”.
Nguồn: phamnguyentruong blog
Phạm NGuyên Trường  dịch từ bản tiếng Nga tại địa chỉ http://www.russ.ru/pole/Velikaya-obrazovatel-naya-derzhava

 

NGUYÊN NHÂN KHIẾN MỸ KÍCH ĐỘNG MỘT CUỘC CHIẾN TRANH LẠNH VỚI TRUNG QUỐC – TTXVN/BS

11 Th5

THÔNG TẤN XÃ VIỆTNAM

NGUYÊN NHÂN KHIẾN MỸ KÍCH ĐỘNG MỘT CUỘC CHIẾN TRANH LẠNH VỚI TRUNG QUỐC

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ tư, ngày 9/5/2012

TTXVN (ttaoa 7/5)

Mạng tin “Nghiên cứu toàn cầu” ngày 1/5 đăng bài của Tiến sĩ Paul Craig Roberts phân tích về nguyên nhân khiến Mỹ đang kích động một cuộc chiến tranh lạnh lâu dài, khi trù tính một cuộc xung đột vi Trung Quc với nội dung sau:

 

Oasinhtơn đã không thể nêu rõ “số tiền cọc” của họ trong các tranh chấp tại Biển Hoa Nam (Biển Đông) và Biển Hoa Đông. Lý do Mỹ không thể xác định tại sao những tranh chấp chủ quyền biển của Trung Quốc với Philippin và Việt Nam lại là những nguy cơ đối với Mỹ là bởi vì chẳng có lý do gì. Tuy nhiên, nguy cơ “không xác định này” đang trở thành lý do khiến Oasinhtơn cần thêm các căn cứ hải quân tại Philippin và Hàn Quốc. Tất cả những điều trên là việc kích động một cuộc xung đột chiến tranh lạnh lâu dài với Trung Quốc, sẽ khiến cho lợi nhuận tiếp tục chảy vào tổ hợp quân sự-an ninh của Oasinhtơn. Lợi nhuận lớn đang đổ vào túi các công ty sản xuất vũ khí. Một phần của số lợi nhuận này lại chảy vào những đóng góp vận động tranh cử cho “các đại diện của người dân” tại thủ đô Oasinhtơn và các ứng cử viên tổng thống Mỹ, những người đã công khai “bán rẻ” đất nước vì các lợi ích cá nhân.

Oasinhtơn sẽ xây dựng các căn cứ hải quân mới tại Philippin và trên đảo Jeju của Hàn Quốc. Oasinhtơn sẽ phung phí thu nhập từ thuế, hoặc in thêm tiền để xây dựng hạm đội không cần thiết cho việc triển khai tại các căn cứ mới này. Oasinhtơn cũng đang kiếm được các căn cứ tại Ôxtrâylia cho lính thủy đánh bộ Mỹ để bao vệ Ôxtrâylia khỏi Trung Quốc, bất chấp việc không có những nguy cơ từ Trang Quốc chống lại Ôxtrâylia. G W.Bush và B.Obama là những hình mẫu hàng đầu của “tổng thống của người dân”, đã bán rẻ người dân, ở trong nước và nước ngoài, vì các lợi ích cá nhân.

Vậy tại sao Oasinhtơn lại muốn kích động một cuộc chiến tranh lạnh mới?

Câu trả lời bắt đầu từ cảnh báo của cựu Tổng thông Eisenhower với người dân Mỹ trong bài phát biểu cuối cùng của ông về tổ hợp quân sự-công nghiệp năm 1962. Ông Eisenhower đã chỉ ra rằng không giống như các cuộc chiến tranh trước đây, sau cuộc Chiến tranh thế giới thử Hai, mà sau đó Mỹ đã phi quân sự hóa. cuộc Chiến tranh Lạnh với Liên Xô đã giữ cho quyền lực và lợi nhuận chảy vào tổ hợp quân sự-công nghiệp, hiện nay là tổ hợp quân sự-an ninh. Theo ông Eisenhower, việc quyền lực và lợi nhuận chảy vào tổ hợp quân sự-cống nghiệp là một nguy cơ đối với sự phồn vinh kinh tế và quyền tự do của người dân Mỹ.

Không ai chú ý tới cảnh báo trên và tổ hợp quân sự-an ninh đã vui mừng thoát khỏi Tổng thống Eisenhower, vị tướng năm sao, người hùng của cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Hai khi nhiệm kỳ thứ hai của ông kết thúc. Nhờ việc thổi phồng về “mối đe dọa Liên Xô”, tổ hợp quân sự-an ninh đã thu được quyền lực và lợi nhuận ngày càng lớn khi người dân Mỹ phải hy sinh tương lai của họ cho lợi ích của những kè đã bảo vệ người Mỹ khỏi nguy cơ Liên Xô.

Thời kỳ tốt đẹp đối với các công ty sản xuất vũ khí và các cơ quan an ninh Mỹ kéo dài gần 3 thập kỷ cho đến khi cựu Tổng thổng R.Reagan và Tổng bí thư đảng Cộng sản Liên Xô M. Gorbachev đạt được thỏa thuận chấm dứt Chiến tranh Lạnh. Khi Liên Xô tan vỡ, triển vọng tương lai của quyền lực và lợi nhuận của tổ hợp quân sự-an ninh Mỹ trờ nên u ám. 1% số người giàu nhất nước Mỹ có nguy cơ bị mất sự giàu có của họ và “chính quyền bí mật” có nguy cơ bị mất quyền lực. Khi đó, tổ hợp quân sự-an ninh đã hành động để làm sống lại nhu cầu cần phải có một ngân sách “quốc phòng và an ninh lớn. Trong số các công cụ tự nguyện của tổ hợp quân sự-an ninh có những người bảo thủ mới, với tư tưởng của phái Jacobin trong cách mạng Pháp của họ, và lòng trung thành của Ixraen. Các nhà bảo thủ mới đã xác định Mỹ là “dân tộc không thể thiếu”. Một dân tộc đặc biệt như Mỹ phải thiết lập sự bá chủ đối với thế giới như siêu cường duy nhất còn lại. Vì hầu hết những người bảo thủ mới liên minh với Ixraen, Trung Đông Hồi giáo đã trở thành mục tiêu cơ hội.

Những người hồi giáo quá khác so với người phương Tây nên những người Hồi giáo có thể dễ dàng bị biến thành quỷ sứ. Tiến trình quỷ sứ hóa được bắt đầu trong những ấn phẩm của phe bảo thủ mới. Một khi cựu Phó Tổng thống Dick Cheney đã có những nhân viên là những người bảo thủ mới dưới chính quyền của George W. Bush, bước tiếp theo là tạo ra những “nguy cơ” đối với người Mỹ từ việc “nói ra rả” về trách nhiệm của Taliban trong các cuộc tấn công khủng bố tại Mỹ ngày 11/9/2001 và về “các loại vũ khí hủy diệt hàng loạt của Irắc” trong đó có các hình ảnh trong tuyên bố của Cố vấn an ninh quốc gia của ông Bush về “những dám mây hình nấm” (bị tấn công hạt nhân) trên các thành phố Mỹ.

Không ai trong Chính phủ Mỹ, hoặc phương tiện truyền thông “tự do” Mỹ hoặc giới truyền thông của các nước là con rối của Mỹ tại Anh châu Âu, Đài Loan, Canađa, Ôxtrâylia và Hàn Quốc bị “giật mình” trước tuyên bố của Mỹ rằng “siêu cường duy nhất của thế giới” đang bị các quốc gia như Irắc và Iran đe dọa. Theo các báo cáo rõ ràng của các thanh sát viên vũ khí, Iran và Irắc không hề có khả năng tấn công quân sự cũng như các vũ khí hiện đại.

Vậy Irắc và Iran đe dọa siêu cường kiểu gì? Chắc chắn là không có đe dọa thực sự nào.

Dường như không có ai để ý rằng những kẻ bị cáo buộc bắt cóc máy bay trong các vụ tấn công khủng bố ngày 11/9/2001 tại Mỹ là những người Arập Xêút, chứ không phải là những người Ápganixtan hay Irắc, trong khi Ápganixtan và Irắc đã bị dán nhãn là ”nguy cơ khủng bố”. Arập Xêút và Baranh, đang khủng bố các đối tượng của họ, lại an toàn bởi vì các nước này là những con rối của Mỹ, chứ không phải là các quốc gia độc lập. Khi nỗi lo sợ về những điều tưởng tượng ám ảnh hầu hết người dân của “siêu cường duy nhất trên thế giới”, những yêu cầu về cuộc chiến tranh chống lại những kẻ thù của nước Mỹ đã lan khắp nước Mỹ. Các ruybăng nhựa “hỗ trợ binh lính” xuất hiện trên các xe Ô tô tại Mỹ. Người Mỹ bước vào một cơn điên cuồng: “những người Hồi giáo” đang truy đuổi người Mỹ và người Mỹ phải chiến đấu vì cuộc sống của mình hoặc bị giết hại ở trên giường ngủ, các trung tâm mua sắm hoặc ghế ngồi trên máy bay.

Đó toàn bộ là một trò lừa bịp để thay thế mối đe dọa Xôviết bằng mối đe dọa Hồi giáo.

Vấn đề phát triển cùng với “nguy cơ Hồi giáo” là để giữ cho lợi nhuận và quyền lực chảy vào tổ hợp quân sự-an ninh, cuộc chiến tranh hứa hẹn chỉ kéo dài trong 6 tuần tại Irắc đã được kéo dài thành 8 năm. Cuộc chiến tại Ápganixtan chống lại vài nghìn tay súng Taliban được trang bị thô sơ đã kéo dài trong hơn một thập kỷ. Nói cách khác, vấn đề với các cuộc chiến tranh nóng là nhu cầu không phải giành chiến thắng, mà kéo dài các cuộc chiến (Triều Tiên, Việt Nam, Irắc, Ápganixtan đều là những cuộc chiến tranh lâu dài và không bao giờ chiến thắng) để khiến lợi nhuận và quyền lực tiếp tục đổ vào tổ hợp quân sự-an ninh và tạo ra ấn tượng toàn cầu rằng “siêu cường duy nhất” của thế giới không thể đánh bại, dù chỉ vài nghìn quân nổi dậy, được trang bị súng AK-47, chứ đừng nói đến một quân đội thực sự.

Tại Irắc và Ápganixtan, nhiều binh lính Mỹ đã bị thiệt mạng do chấn thương tinh thần và tự tử hơn là trong chiến đấu. Tại Irắc, Mỹ đang bị bẽ mặt vì phải kết thúc cuộc chiến bằng việc đưa những kẻ nổi dậy Hồi giáo dòng Sunni vào danh sách trả lương của quân đội Mỹ, trả tiền để họ ngừng giết hại binh lính Mỹ. Tại Triều Tiên, Mỹ đã bị ngăn chặn bởi một quân đội của một quốc gia lạc hậu thuộc thế giới thứ ba. Điều gì sẽ xảy ra ngày nay nến siêu cường Mỹ đụng độ với Trung Quốc, một đất nước có nền kinh tế mà Mỹ đang phải phụ thuộc, có quy mô tương đương kinh tế Mỹ, hoạt động trên lãnh thổ của họ? Cơ hội duy nhất đối với giới lãnh đạo tại Oasinhtơn là một cuộc chiến tranh hạt nhân, sẽ có nghĩa là phá hủy toàn bộ thế giới bằng sự ngạo mạn của Mỹ.

May mà đối với Oasinhtơn, lợi nhuận quan trọng hơn việc chấm dứt sự sống trên trái đất. Vì thế, cuộc chiến với Trung Quốc sẽ được tránh, như đã tránh cuộc chiến với Liên Xô. Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ được Oasinhtơn và các phương tiện truyền thông của họ, nhất là Thời báo Niu Yoóc và Bưu điện Oasinhtơn miêu tả là nguy cơ ngày càng tăng đối với Mỹ. Giới truyền thông sẽ chuyển tầm quan trọng của các đồng minh của Mỹ từ châu Âu sang các quốc gia giáp giới với Biển Đông. Tiền của những người đóng thuế Mỹ hoặc tiền mới được in sẽ chảy vào “các liên minh mới chống Trung Quốc”.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc là một mối lợi lớn đối với tổ hợp quân sự-an ninh Mỹ. Trung Quốc là một sự thay thế có lợi cho nguy cơ Xôviết. Trong thời gian tới, giới truyền thông phương Tây sẽ tạo ra trong tâm trí người Mỹ về một mối đe dọa Trung Quốc. Những gì còn lại ít ỏi của tiêu chuẩn sống Mỹ có thể sẽ bị hy sinh cho sự đối đầu của Oasinhtơn với Trung Quốc, với việc các khoản lương hưu và tiết kiệm cá nhân sẽ lại bị hy sinh để ngăn chặn “nguy cơ Trung Quốc”./.

 

Mỹ có thể can thiệp vũ trang ở Biển Đông? – VnMedia

10 Th5
Mỹ có thể can thiệp vũ trang ở Biển Đông?
 
Bộ trưởng Quốc phòng Philippine Voltaire Gazmin

(VnMedia) – Philippine hôm nay (9/5) cho biết, Mỹ đã cam kết sẽ bảo vệ nước này khỏi các cuộc tấn công ở Biển Đông. Thông tin này được đưa ra đúng một ngày sau khi Trung Quốc cảnh báo đã chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với bất kỳ “hành động leo thang” nào của Philippine ở Biển Đông.

Bộ trưởng Quốc phòng Philippine Voltaire Gazmin tiết lộ, ông đã nhận được lời đảm bảo trên từ phía Mỹ trong các cuộc hội đàm diễn ra hồi tuần trước giữa các quan chức quân sự và ngoại giao hàng đầu hai nước ở thủ đô Washington.

Theo lời ông Gazmin, Ngoại trưởng Hillary Clinton và Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta đã nhấn mạnh, Mỹ không đứng về bên nào trong các cuộc tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông nhưng sẽ tôn trọng những cam kết được đưa ra trong hiệp ước phòng thủ chung mà Manila và Washington ký kết với nhau năm 1951. Theo đó, Mỹ sẽ bảo vệ Philippine trước bất kỳ cuộc tấn công nào.

“Phạm vi của hiệp ước đó bao gồm cả một cuộc tấn công vũ trang vào những khu vực lãnh thổ ở Thái Bình Dương”, Bộ trưởng Quốc phòng Gazmin cho hay.

Trả lời câu hỏi của phóng viên liên quan đến tranh chấp giữa Philippine và Trung Quốc ở bãi cạn Scarborough, Bộ trưởng Gazmin cho biết, ông hiểu những lời phát biểu của Ngoại trưởng Hillary có nghĩa là Mỹ sẽ bảo vệ Philippine trước bất kỳ cuộc tấn công nào ở Biển Đông.

“Nói chung, những phát biểu của bà Hillary bao gồm cả vấn đề của chúng tôi ở Biển Đông”, ông Gazmin nhấn mạnh thêm.

Trung Quốc và Philippine từ lâu đã có tranh chấp chủ quyền ở bãi cạn Scarborough thuộc Biển Đông. Cuộc tranh chấp này đã leo thang căng thẳng từ hôm 8/4 khi tàu thuyền hai nước có vụ va chạm. Cho đến thời điểm này, sau hơn một tháng, cuộc đối đầu giữa Manila và Bắc Kinh xung quanh việc tranh chấp bãi cạn Scarborough vẫn chưa có dấu hiệu dịu đi.

Trung Quốc đòi chủ quyền hầu hết khu vực Biển Đông, thậm chí cả vùng lãnh hải gần bờ biển của các nước Châu Á khác. Trong khi đó, Philippine nhấn mạnh, nước này có chủ quyền không thể tranh cãi với bãi cạn Scarborough bởi nó nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của nước này.

Bãi cạn Scarborough nằm cách đảo chính Luzon của Philippine khoảng 230km (tương đương 140 dặm) trong khi phần lãnh thổ Trung Quốc gần nhất với bãi cạn Scarborough cũng phải cách đến 1.200km.

Bắc Kinh “chân thành” muốn giải quyết tranh chấp Biển Đông

Liên quan đến cuộc tranh chấp lãnh hải ở Biển Đông với Philippine hiện nay, một quan chức ngoại giao cấp cao của Trung Quốc hôm qua (8/5) cho biết, Bắc Kinh vẫn sẵn sàng thể hiện “sự chân thành lớn nhất” trong việc giải quyết cuộc tranh chấp này thông qua biện pháp ngoại giao.

Trả lời phỏng vấn Đài truyền hình Phoenix, ông Deng Zhonghua, Vụ trưởng Vụ Hải dương và Đường biên giới thuộc Bộ Ngoại giao Trung Quốc, khẳng định, bãi cạn Scarborough (Bắc Kinh gọi là đảo Hoàng Nham) là một phần lãnh thổ không thể tranh cãi của nước này từ thời xa xưa và nó cũng thuộc khu vực đánh bắt cá truyền thống của người Trung Quốc.

“Sự an toàn của các ngư dân và tàu thuyền của chúng tôi ở đây phải được bảo đảm và không ai được quyền xúc phạm nhân phẩm của các ngư dân đó. Cũng không ai được quyền ngăn chặn hay làm gián đoạn các hoạt động đánh bắt cá của ngư dân Trung Quốc”, ông Deng nói thêm.

Theo ông Deng, Bắc Kinh đã cảnh báo Manila không được quấy rối hay phá hoại thêm nữa các hoạt động của tàu thuyền đánh bắt cá Trung Quốc ở khu vực lãnh hải quanh đảo Hoàng Nham.

Trước đó, báo chí Philippine cho biết, các ngư dân nước này đã báo cáo với chính quyền địa phương rằng tàu thuyền của Trung Quốc đang ngăn không cho họđánh bắt cá ở bên trong khu vực bãi cạn Scarborough.

Trong cuộc đối đầu mới nhất giữa Philippine và Trung Quốc ở Biển Đông, Manila tỏ ra rất quyết liệt và không chịu lùi bước bất chấp việc Bắc Kinh liên tục đưa ra những lời đe dọa và cảnh báo sắc lạnh. Các nhà phân tích tin rằng, sở dĩ Philippine không ngại đối đầu với một nước lớn như Trung Quốc vì bên cạnh nước này có sự hậu thuẫn của đồng minh Mỹ – siêu cường quân sự số 1 thế giới.
Mặc dù Washington tuyên bố đứng trung lập trong các cuộc tranh chấp Biển Đông nhưng nước này lại hứa sẽ giúp Manila củng cố sức mạnh hải quân. Những bước đi đầu tiên của Mỹ trong việc thực hiện lới hứa này là Mỹ sẽ tăng viện trợ quân sự lên gần gấp 3 lần so với năm ngoái cho Philippine và sẽ chuyển giao chiếc tàu chiến thứ hai cho quốc gia Đông Nam Á này vào cuối tháng.

 

Kiệt Linh – (tổng hợp)

Việt-Mỹ trong thế cờ biển Đông – Tvnn

4 Th5

Trả lời hãng tin Blomberg trong một phỏng vấn năm ngoái, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh được dẫn lời: “Không ai có thể tưởng tượng được là quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam lại phát triển nhanh như thế này. Sau 16 năm bình thường hóa quan hệ, chúng ta đã tiến tới giai đoạn phát triển nó trên mọi lĩnh vực”.

Hàm ý gì từ  tác động cộng hưởng kép?

Mỹ muốn gì ở Biển Đông? Và các nước ASEAN, mà cụ thể là Việt Nam có  thể hợp tác với siêu cường này như thế  nào để đảm bảo lợi ích của mình? Các  động thái gần đây cho thấy một bức tranh mới trong mối quan hệ hai bên đang dần dần xuất hiện với nhiều gam màu khác nhau. Từ mối quan hệ ban đầu chỉ tập trung vào việc tìm kiếm quân nhân Mỹ  mất tích trong chiến tranh Việt Nam, các dấu hiệu hợp tác gần đây khiến một số nhà quan sát  đã sử dụng cụm từ “mối quan hệ chiến lược” để hình dung về tương lai song phương giữa hai nước từng đối địch. 

Trả lời hãng tin Blomberg trong một phỏng vấn năm ngoái, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh được dẫn lời: “Không ai có thể tưởng tượng được là quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam lại phát triển nhanh như thế này. Sau 16 năm bình thường hóa quan hệ, chúng ta đã tiến tới giai đoạn phát triển nó trên mọi lĩnh vực”.

Cụm từ “trong mọi lĩnh vực” của tân ngoại trưởng không quá lời, khi cách đây không lâu một hiệp ước giữa hai nước được ký kết tạo cho giới quan sát nhiều chú ý. Đó là hợp tác Quân y Việt – Mỹ. Theo báo chí đưa tin, thỏa thuận bao gồm các hoạt động trao đổi chuyên môn, hội thảo cũng như hợp tác nghiên cứu y học và là một hợp tác đầu tiên trong đó là quân sự – quốc phòng. Liệu y học có là “ngôn ngữ chung”  giúp nối liền những khoảng cách – như lời của quan chức Hải quân Mỹ ví von – thì chưa ai có  thể khẳng định.

Nhưng những bước đi “mềm”  trong lĩnh vực còn được xem là nhiều nhạy cảm này có lẽ đã khởi động trước đó một thời gian qua lời cựu đại sứ Lê Công Phụng: “Việt Nam và Mỹ đã nhất trí thiết lập cơ chế đối thoại chiến lược về an ninh – quốc phòng và cho đến nay đã tiến hành được ba vòng đối thoại. Việt Nam là một trong số rất  ít các nước ở Đông Nam Á có cơ chế  này với Mỹ”.

Bối cảnh nào thúc đẩy mối quan hệ tiến nhanh như vậy, và những viên gạch nào cần tiếp tục  được đặt nền? Vượt trên các tên gọi của giới nghiên cứu hay các nhà ngoại giao, một góc nhìn trực diện vào bản chất thật sự của quan hệ Việt – Mỹ đang cần đưa lên bàn cân đánh giá  làm tiền đề cho quá trình hoạch định chính sách. Trong đó, tác động kép từ sự thay đổi cục diện khu vực đóng vai trò tiên yếu. Một là  quá trình toàn cầu hóa. Hai là sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc kinh tế – quân sự.

Tác động cộng hưởng kép

Dẫu đa phương hay song phương, dẫu quan hệ kinh tế hay ngoại giao, dẫu trong hoàn cảnh thuận hòa hay đang tồn tại một số bất đồng trước mắt, có hai yếu tố cần được xem xét, đó là toàn cầu hóa kinh tế và trỗi dậy của Trung Quốc trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Một mặt, sự lựa chọn của Việt Nam tham gia thị trường toàn cầu đã làm thay đổi định hướng trong các quyết định về chiến lược ngoại giao.

Việc gia nhập tổ chức Thương mại Thế  giới (WTO) năm 2007 là một bước thứ hai trong quá  trình cải cách của Việt Nam, đánh dấu phương hướng đa phương hóa, đa dạng hóa trong các lựa chọn về  chính sách đối ngoại. Quá trình xích lại gần với cộng đồng chung thế giới nên được đánh giá trong bối cảnh ưu tiên về phát triển và  hiện đại hóa đất nước được đặt lên hàng đầu. Toàn cầu hóa trong mối quan hệ Việt – Mỹ, vì thế, kiến tạo một hình dung về thế giới ngày càng liên kết mà trong đó chia sẻ lợi  ích sẽ là yếu tố chủ đạo.

Tàu sân bay USS George Washington của Mỹ thường xuyên xuất hiện ở các vùng biển châu Á trong những năm qua. Ảnh: US Navy

Bên cạnh đó, sự trỗi dậy của Trung Quốc xoay quanh cuộc tranh luận rằng liệu cán cân quyền lực toàn cầu có đang chuyển đổi hay không. Với Trung Quốc, một ngôi sao đang lên, đồng nghĩa rằng đây sẽ là đầu máy tăng trưởng và thịnh vượng của nền kinh tế khu vực. Gắn kết vào nền kinh tế  có 1,34 tỉ dân này là xu thế tất yếu, để tận dụng nguồn tài nguyên, giá thành nhân công, thị trường nội địa khổng lồ và xung lực tăng trưởng dồi dào.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc như một cường quốc kinh tế – quân sự làm thay đổi tương đối cán cân quyền lực của các nước trong vùng Thái Bình Dương. Công bố về ngân sách quốc phòng từ Bắc Kinh trong năm 2011, theo phát ngôn viên chính phủ nước này, đã đạt 601 tỉ nhân dân tệ (91,5 tỉ USD), tăng 12,7%. Kế hoạch hiện đại hóa hạm đội tàu ngầm đạt bước tiến tương đối trong vòng bảy năm trở lại đây: trong năm 2002, chỉ có bảy trong 69 chiếc tàu ngầm đáp ứng tiêu chuẩn hiện đại, năm 2009 tỷ lệ này tăng lên 31 trên 65 chiếc, trong đó bao gồm 12 tàu ngầm hạng Kilo.

Một xu hướng tương tự như thế cũng có thể quan sát từ kế hoạch phát triển kho vũ khí hạt nhân với việc thiết lập các loại tên lửa xuyên lục địa Dong Feng-31 và Dong Feng-31A với phạm vi tấn công khoảng từ 7.200km đến 11.200km. Song hành với chuyển động về năng lực quốc phòng, nước này đã có nhiều hành động xác quyết chủ quyền của mình tại vùng tranh chấp ở Biển Đông mà gần đây nhất qua hai vụ cắt cáp vụ tàu Bình Minh và tàu Viking trong vùng biển thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Biển Đông: Thế  của nước yếu, thế của nước mạnh

Với Mỹ, điểm mà các nhà  phân tích chiến lược đặt câu hỏi là sự trỗi dậy của Trung Quốc (i) sẽ làm thay đổi cấu trúc  “đồng minh” của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương như thế nào, và cũng không kém phần quan trọng (ii) là sẽ ảnh hưởng đến lựa chọn chiến lược của các nước nhỏ hay các nước vẫn chưa định hình vị trí của mình trong bàn cờ khu vực. Trong bài toán biển Đông, trước những hành động mang tính thách thức từ phía Trung Quốc qua hành xử của tàu hải giám, phân chia vùng lãnh hải hay tự diễn dịch UNCLOS phục vụ tùy theo lợi ích, nước Mỹ dường như đứng trước ngã ba đường. Tín hiệu xuất phát gần đây từ Washington cho thấy Chính phủ Mỹ có nhiều tiếng nói khẳng định lợi ích và sự cam kết hiện diện lâu dài tại châu Á.

Tại Diễn đàn An ninh khu vực châu Á lần thứ 10 (Đối thoại Shangri-La 2011) Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates cá cược 100 USD đảm bảo rằng Hoa Kỳ sẽ tiếp tục hiện diện mạnh mẽ hơn trong vòng 5-10 năm tới. Hội nghị Diễn đàn ASEAN (ARF 18) ở Bali trước đấy một tuần, Ngoại trưởng Mỹ cũng đã kêu gọi các bên giải quyết vấn đề bằng pháp lý và thông báo rằng, Mỹ sẽ đóng vai trò thúc đẩy quá trình này, khuyến cáo tất cả các quốc gia liên quan cần phân định chủ quyền theo Luật Biển quốc tế 1982.

Mặt khác, Mỹ cũng đang đứng trước bài toán ngân sách và khó khăn tài chính, dẫn đến xu hướng đòi hỏi chính phủ xét lại các vấn đề quốc nội nên đặt làm ưu tiên hàng đầu. Cuộc tranh luận về nợ công giữa lưỡng đảng tại Quốc hội Mỹ chấm dứt nhưng chưa kết thúc, khiến cho bất kỳ cam kết hiện diện quân sự, hay giữa đảm nhiệm vai trò mạnh mẽ hơn tại trong hồ sơ tranh chấp Biển Đông không chỉ là bài toán địa chiến lược, mà còn cần được phân tích dưới góc nhìn kinh tế. “Biển Đông hay là tôi” (hiểu như người dân đóng thuế Mỹ), quan điểm của một phân tích gia trên tạp chí Foreign Policy tháng 6 năm ngoái có thể xem như đại diện một trường phái trong công luận Mỹ đặt dấu chấm hỏi về phí tổn nước Mỹ phải gánh chịu và nhu cầu đứng mũi chịu sào đảm bảo “ô dù an ninh chung” cho khu vực Thái Bình Dương.

Còn với các nước nhỏ trong khối ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng, thái độ của nước mạnh Trung Quốc lúc mềm mỏng, lúc cứng rắn với từng quốc gia, diễn ra trong từng diễn đàn, từng tình huống từ Bắc Kinh tạo nên những tiên đoán khác nhau từ các nước liên quan. Hoặc như chính sách của Bắc Kinh trong hồ sơ sông Mekong thời gian vừa qua cũng gây lo ngại cho những nước ở hạ nguồn. Siêu cường Mỹ vẫn giữ vai trò số một, nhưng phần nào đang suy giảm, và không trực tiếp đụng độ lợi ích từ việc tranh chấp, vì vậy giữ nguyên hiện trạng là lựa chọn khả dĩ. Các nước nhỏ ASEAN tổn thương trực tiếp từ tiếp cận sức mạnh, vì thế cần luật hơn cần nắm đấm.

Trái banh bây giờ lăn về phía cường quốc đang lên Trung Quốc thông qua một giả định và hai câu hỏi. Giả định rằng nếu Bắc Kinh tự tin vào sức mạnh của mình sẽ vượt Nhật, vượt Mỹ, thì một trật tự mới (giống như những gì xảy ra trong lịch sử) cần được phải sắp xếp lại. Trung Quốc sẽ đi con đường nào, lựa chọn sức mạnh thủy lôi, tàu chiến, xe tăng để xây mộng bá quyền hay lựa chọn thể chế chấp nhận tự giới hạn mình vào luật, chuẩn tắc giữ vai trò “vương quyền” lãnh đạo dẫn dắt? Và ở cái thế dự đoán giữa những kịch bản khó tiên đoán trước, quan hệ Việt – Mỹ cần dựa vào điểm tựa nào để hoạch định tương lai?

Nguyễn Chính Tâm

 

 

 

%d bloggers like this: