Tag Archives: NGOẠI GIAO

Vụ giàn khoan Trung Quốc : Việt Nam phản công ngoại giao – RFI

23 Th5

 

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng.

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng.

REUTERS/Adnan Abidi
Đức Tâm

Thủ tướng nêu khả năng kiện Trung Quốc, công khai tố cáo Bắc Kinh đe dọa hòa bình và kêu gọi quốc tế lên tiếng, Ngoại trưởng điện đàm với đồng nhiệm Hoa Kỳ về tình hình Biển Đông, cho gửi thông báo lên Liên Hiệp Quốc. Việt Nam mở chiến dịch phản công ngoại giao chống lại Trung Quốc trong vụ Bắc Kinh hạ đặt giàn khoan HD 981 trong vùng biển của Việt Nam.

 

Nhân chuyến công du Philippines, tham dự Diễn đàn kinh tế thế giới Đông Á, tại Manila, ngày hôm qua 21/05/2014, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng khai hỏa. Lần đầu tiên, kể từ chiến tranh biên giới Trung – Việt 1979, một lãnh đạo cấp cao của Việt Nam công khai tố cáo hành động của Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển Việt Nam với nhiều tàu, kể cả tàu quân sự, đi hộ tống, « đe dọa nghiêm trọng hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở Biển Đông ». Thủ tướng Việt Nam còn kêu gọi cộng đồng quốc tế « lên tiếng mạnh mẽ yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay các hành động xâm phạm, triệt để tuân thủ luật pháp quốc tế ».

Tối qua, từ Manila, trả lời Reuters, ông Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam có thể có « các hành động pháp lý », tức là kiện Trung Quốc.

Như có một sự phối hợp, cũng trong ngày hôm qua, Ngoại trưởng Việt Nam Phạm Bình Minh đã điện đàm với đồng nhiệm Mỹ John Kerry, thông báo tình hình rất căng thẳng do việc Trung Quốc gia tăng số lượng tàu, kể cả tàu hộ vệ tên lửa, tàu tuần tiễu tấn công nhanh và tàu đổ bộ đến khu vực Bắc Kinh hạ đặt giàn khoan trái phép trong vùng biển của Việt Nam.

Tại diễn đàn đa phương Liên Hiệp Quốc, ngay từ ngày 07/05, Việt Nam đã cho lưu hành công hàm phản đối Trung Quốc. Ngày 20/05, phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Liên Hiệp Quốc ở Genève, đã ra thông cáo về những diễn biến gần đây ở Biển Đông và văn bản này được gửi đến Văn phòng Liên Hiệp Quốc.

Cuộc phản công ngoại giao mạnh mẽ của Việt Nam nhắm vào láng giềng khổng lồ phương Bắc dường như chỉ bắt đầu khi Trung Quốc tận dụng một số vụ biểu tình bạo động bài Trung Quốc ở một số tỉnh của Việt Nam để bôi nhọ hình ảnh của Việt Nam, đẩy chính quyền Hà Nội vào thế bị động. Trong khi đó, trên biển, các tàu của Trung Quốc, với số lượng áp đảo, tỏ ra rất hung hăng, ngăn chặn các tàu của Việt Nam, gây ra tình hình cực kỳ nguy hiểm, có thể dẫn đến xung đột vũ trang. Mặt khác, Bắc Kinh dồn Hà Nội vào thế đường cùng. Các cuộc tiếp xúc và liên lạc giữa hai bên, khoảng hơn hai chục lần, không mang lại kết quả, mà ngược lại, Trung Quốc càng tỏ ra cứng rắn hơn, đe dọa hơn. Theo báo chí quốc tế, dường như Việt Nam muốn có gặp gỡ ở cấp cao nhất để thảo luận vấn đề giàn khoan, nhưng Trung Quốc từ chối.

Về đối nội, cuộc phản công ngoại giao của Việt Nam nhắm vào Trung Quốc giúp giải tỏa phần nào sự bức xúc của người dân, vốn bất mãn trước các phản ứng yếu ớt của chính quyền, mà lại bị cấm biểu tình bày tỏ lòng yêu nước (hay nói cho đúng là chỉ được phép bày tỏ lòng yêu nước trong các cuộc mít tinh do Nhà nước tổ chức). Trong những ngày qua, báo chí chính thức và trên internet, có nhiều bài viết kêu gọi chính quyền phải kiện Trung Quốc. Chưa thể khẳng định được là Hà Nội sẽ đi tới cùng, kiện Bắc Kinh, nhưng việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói Việt Nam đang xem xét « các hành động pháp lý », cũng phần nào đáp ứng đòi hỏi của công luận trong nước.

Trong bài trả lời phỏng vấn Reuters, ông Nguyễn Tấn Dũng khẳng định : « Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền và lợi ích chính đáng của mình bởi vì chủ quyền lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là thiêng liêng » và Việt Nam « nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó ». Với tuyên bố này, Thủ tướng Việt Nam bác bỏ thẳng thừng chủ trương quan hệ với Trung Quốc bằng mọi giá, không mơ hồ với « tinh thần 4 tốt » và phương châm « 16 chữ vàng » mà các lãnh đạo Trung Quốc và Việt Nam trước đây đã đề ra.

24h Biển Đông: Bộ trưởng Ngoại giao Việt-Mỹ điện đàm

22 Th5

 

 

– Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh điện đàm với Ngoại trưởng Mỹ, xuất hiện máy bay trinh sát TQ ở khu vực giàn khoan trái phép Hải Dương 981… Đây là những thông tin nổi bật về Biển Đông 24h qua.

 

 

Hành động ngang ngược của TQ

Theo Bộ tư lệnh Cảnh sát biển, sáng 21/5, VN phát hiện 1 máy bay trinh sát của TQ số hiệu J-9-B7175 ở độ cao 300m bay xung quanh khu vực tàu cảnh sát biển VN 8001 để quay phim, chụp ảnh các lực lượng VN đang thực hiện nhiệm vụ trên biển.

 

Trung Quốc, giàn khoan, chủ quyền, Thủ tướng, Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng, Phạm Bình Minh, Ngoại trưởng Mỹ,  Biển Đông, COC, DOC
Máy bay TQ luôn quần thảo trên bầu trời. Ảnh: Cảnh sát biển VN

 

Liên quan đến việc TQ áp đặt lệnh cấm đánh bắt thủy hải sản trên biển, ông Nguyễn Văn Trung, Phó cục trưởng Cục Kiểm ngư (Bộ NN&PTNT) cho biết: “Việc TQ đơn phương tuyên bố lệnh cấm đánh bắt trên toàn bộ vùng biển tính theo đường lưỡi bò là tham vọng của TQ. Lệnh cấm của TQ không có giá trị với ngư dân hoạt động đánh bắt trên vùng biển của VN”.

Đọc tin tại đây

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao điện đàm với Ngoại trưởng Mỹ

Ngày 21/5, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã cùng Ngoại trưởng Mỹ John Kerry trao đổi những thông tin liên quan đến những vấn đề đang diễn ra phức tạp tại Biển Đông.

Phó Thủ tướng cho biết, VN đã hết sức kiềm chế, kiên trì thông qua đối thoại, tránh xung đột, đồng thời kiên quyết yêu cầu TQ rút giàn khoan và các tàu hộ tống ra khỏi khu vực.

Bày tỏ quan ngại sâu sắc về những diễn biến gần đây tại Biển Đông, Ngoại trưởng Kerry cũng tái khẳng định lập trường của Hoa Kỳ về việc giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông một cách hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982.

Đọc tin tại đây

VN-Philippines chia sẻ quan ngại

Gặp gỡ báo chí sau hội đàm chiều 21/5 với Tổng thống Philippines Aquino ở Manila, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết hai nhà lãnh đạo đã chia sẻ quan ngại sâu sắc về tình hình đặc biệt nguy hiểm hiện nay ở Biển Đông.

“Hai bên kiên quyết phản đối và kêu gọi các nước, cộng đồng quốc tế tiếp tục lên tiếng mạnh mẽ yêu cầu TQ chấm dứt ngay các hành động xâm phạm nêu trên, triệt để tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), và phấn đấu sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC)”, Thủ tướng nói.

Đọc tin tại đây

Hồng Nhìtổng hợp

Crưm và ngoại giao Biển Đông – Vnn

5 Th4

 

Động thái của Nga tại Crưm cho thấy sự hạn chế và cả tầm quan trọng của ngoại giao trong các tranh chấp lãnh thổ.Tin bài liên quan:


Tag: Biển Đông, Trung Quốc, Crưm, Nga, chủ quyền

Tàu phòng vệ bờ biển Trung Quốc gần đây đã chặn tàu tiếp tế của Philippines ở vùng tranh chấp Biển Đông. Ảnh: Straitstimes

 

Ngày 18/3, Trung Quốc và ASEAN đã gặp gỡ tại Singapore để xem xét việc tham vấn về Bộ quy tắc ứng xử (COC) cùng với các cuộc đàm phán thực thi Tuyên bố ứng xử (DOC) ở Biển Đông.

Cuộc gặp diễn ra trong bối cảnh khu vực ngày càng lo lắng trước sự quả quyết của Trung Quốc khi theo đuổi các tuyên bố chủ quyền hàng hải. Chỉ một tuần trước đó, Manila và Bắc Kinh lại xảy ra tranh cãi ngoại giao sau khi các tàu phòng vệ bờ biển Trung Quốc chặn tàu tiếp tế của Philippines ở khu vực tranh chấp Biển Đông.

Ở phương diện rộng hơn, Trung Quốc đang không ngừng gia tăng các khả năng hàng hải: sáp nhập các cơ quan hàng hải thành một lực lượng thống nhất (phòng vệ bờ biển); đơn phương tuyên bố thành lập Vùng xác định Phòng không (ADIZ) ở Hoa Đông gồm cả quần đảo tranh chấp với Nhật…

Tất cả động thái trên của Trung Quốc đã khiến Biển Đông trở thành “vạc dầu châu Á”. Hình ảnh các thuỷ thủ Trung Quốc với khẩu hiệu “Giấc mơ Trung Quốc, giấc mơ của một đội quân mạnh mẽ” trên boong tàu Liêu Ninh lại càng khiến căng thẳng trong khu vực gia tăng về những ý đồ và chiến lược của Trung Quốc trong khu vực.

Thời điểm Trung Quốc – ASEAN thảo luận diễn ra trùng khớp với tình hình căng thẳng ở Đông Âu xung quanh số phận của Crưm. Bán đảo này đã tổ chức trưng cầu dân ý về việc gia nhập Nga. Những căn cứ quân sự của Ukraina tại Crưm nhanh chóng bị áp đảo bởi lực lượng ủng hộ Nga.

Rõ ràng, Nga có lợi thế hơn ở Crưm. Họ thành công trong việc thúc đẩy các lợi ích của mình thông qua việc kết hợp giữa sự quả quyết với việc chỉ trích châu Âu và Mỹ. Hậu quả của chiến lược này với quan hệ giữa châu Âu và người Nga cũng như sự ổn định tại Đông Âu vẫn chưa rõ ràng. Nhưng dù sao, cuộc khủng hoảng tại Ukraina cũng đã cho thấy vũ lực đang thắng thế ngoại giao.

Điểm chung

Động thái của Nga, phản ứng của phương Tây hiện đang được Bắc Kinh và Đông Nam Á theo dõi sát sao. Liệu vấn đề Crưm sẽ có ảnh hưởng tại Đông Nam Á trong bối cảnh tranh chấp lãnh thổ hay không? Câu trả lời không thể rõ ràng. Nhưng dù sao, Crưm và vấn đề Biển Đông vẫn có một số điểm chung. Nổi bật nhất là sự phức tạp trong việc quản lý – tiến tới giải quyết – các tranh chấp lãnh thổ, đặc biệt là khi câu chuyện liên quan đến một cường quốc đang trỗi dậy.

Điểm thứ hai, cả hai trường hợp đều nhấn mạnh đến tính cần thiết nhưng hiệu quả lại hạn chế của ngoại giao.

Đối mặt với một Trung Quốc phức tạp và mâu thuẫn, các quốc gia Đông Nam Á có thể cảm nhận được sự cấp bách từ diễn biến ở Crưm. Với ASEAN và các thành viên, câu hỏi cốt yếu đặt ra là liệu họ có thể thành công trong việc thuyết phục Trung Quốc về lợi ích lâu dài của ngoại giao hơn là sử dụng vũ lực.

Ngoại giao là quan trọng. Nó là kênh để các bên bất đồng hay khác biệt có thể giải thích rõ ràng lập trường, nhận thức về các lợi ích của họ, trao đổi, đàm phán và cuối cùng là tạo ra một con đường tháo gỡ căng thẳng, hướng tới ổn định vì lợi ích chung trong tương lai.

Tuy nhiên, nó cũng có hạn chế khi phụ thuộc vào cơ cấu và chức năng quyền lực trong hàng loạt công ước, hiệp ước có thể tạo điều kiện hay hạn chế thương thảo.

Trong trường hợp của Crưm và Biển Đông, thuận lợi đàm phán là thực tế các bên liên quan kết nối với nhau thông qua hàng loạt lợi ích mạnh mẽ về kinh tế, chính trị và thể chế. Còn tin xấu đó là mạng lưới lợi ích khá mong manh khi lịch sử trở thành sự tự tôn, cảm xúc và lập luận. Đó là chưa kể những khác biệt nội bộ trong EU và ASEAN có thể che mờ tầm nhìn chung mà các thành viên tìm cách thúc đẩy, làm suy yếu vị thế đàm phán và hạn chế những chọn lựa ngoại giao sẵn có.

Vòng tham vấn tại Singapore về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông không có tiến bộ nào đáng kể. Nó cũng không gây ngạc nhiên với nhiều chuyên gia khi lập luận rằng, Trung Quốc sẽ không từ bỏ yêu sách chủ quyền của họ, cũng sẽ không thúc đẩy tiến trình COC một cách nhanh chóng khi nghĩ nó sẽ tổn hại đến lợi ích quốc gia.

Crưm ở xa Biển Đông, và hai trường hợp chắc chắn rất khác nhau ở nhiều khía cạnh. Nhưng động thái táo bạo của Nga cho thấy, vận dụng luật pháp quốc tế để kiềm chế quyết tâm của một cường quốc không phải luôn luôn hiệu quả. Dù sự kiện ở Crưm khiến các nhà ngoại giao Trung Quốc và ASEAN rút ra bài học thế nào tới nay vẫn chưa rõ.

Chỉ biết rằng sự ra đời Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông là rất cấp thiết. Thành công của bộ quy tắc ấy sẽ thể hiện tuyên bố “trỗi dậy hoà bình” của Trung Quốc cũng như khả năng ngoại giao của ASEAN. Nỗ lực của cả hai bên nhằm tạo ra sự ổn định và an ninh cũng sẽ là tin tức đáng hoan nghênh với một cộng đồng quốc tế đang đối mặt với nhiều thách thức.

Thái An(theo Diplomat)

Debug: ADS tracking link http://vietnamnet.vn/chinh-tri

// // //
// // //

// // //

‘Ngoại giao dự café nhân quyền ở Hà Nội’ – BBC

22 Th3
Cập nhật: 11:40 GMT – thứ sáu, 21 tháng 3, 2014
Buổi cà phê nhân quyền tại Hà Nội hôm 20/3/2014Một số nhà ngoại giao từ sứ quán Úc, Đức, Thụy Điển, EU tham dự sự kiện.

Một số nhà ngoại giao từ các sứ quán Úc, Đức, Thụy Điển và Liên minh châu Âu đã tham dự một cuộc thảo luận không chính thức, được gọi là ‘cà phê nhân quyền’ do tổ chức Mạng lưới Blogger Việt Nam tổ chức ở Hà Nội với chủ đề ‘Quyền tự do đi lại của công dân’, hôm thứ Năm, theo Ban tổ chức sự kiện.

Những người tổ chức cho hay đây là lần thứ hai Mạng lưới Blogger tiến hành công khai một cuộc thảo luận về quyền tự do đi lại của công dân, sau khi cuộc thảo luận lần thứ nhất được tổ chức ở Sài Gòn hôm 01/3/2014.

 

Khoảng ba mươi người đã tham dự sự kiện ở một quán cà-phê tại Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, trong đó, ngoài các nhà ngoại giao, có một số nhân sỹ, trí thức như GS Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ, TS Nguyễn Quang A, ông Trần Tiến Đức, nguyên Vụ trưởng Ủy Ban Dân số & Kế hoạch hóa Gia đình…

“Và họ nói rằng nếu diễn biến mà cấm liên lục như ở Việt Nam thì nó rất mơ hồ và nó không cụ thể, điều đó khiến họ quan ngại, sau khi thảo luận và nói ra những vấn đề bất cập đó, thì họ nói họ sẽ bắt đầu, họ sẽ có cách phản đối và họ sẽ có khuyến nghị với chính phủ Việt Nam.”

Khách mời là các nhà ngoại giao từ các sứ quán phương Tây và phái đoàn EU tại Việt Nam và họ đã bày tỏ ‘quan ngại’ về việc nhiều nhà hoạt động, bloggers của Việt Nam bị hạn chế quyền đi lại, theo đại diện Ban tổ chức.

“Người ta nói thực ra lý do an ninh ở bất cứ quốc gia nào cũng có, nhưng lý do ở (nước) họ, nếu một người bị cấm xuất cảnh, trừ khi đó là một tội phạm thực sự, có hình thành bản án, thông qua tòa án và những người bị cấm xuất cảnh ở quốc gia như Đức, Mỹ, Úc này kia, là vấn đề vi phạm nghiêm trọng và có phán quyết của tòa án thì mới bị cấm,” blogger Paulo Thành Nguyễn, thành viên Ban tổ chức buổi thảo luận nói với BBC.

“Và họ nói rằng nếu diễn biến mà cấm liên lục như ở Việt Nam thì nó rất mơ hồ và nó không cụ thể, điều đó khiến họ quan ngại, sau khi thảo luận và nói ra những vấn đề bất cập đó, thì họ nói họ sẽ bắt đầu, họ sẽ có cách phản đối và họ sẽ có khuyến nghị với chính phủ Việt Nam,” vẫn theo ông Paulo Thành Nguyễn.

‘Luật pháp mơ hồ’

‘Nhiều mật vụ theo dõi café nhân quyền’

Blogger Paulo Thành Nguyễn nói buổi cà phê nhân quyền thứ hai do Mạng lưới Blogger Việt Nam tổ chức ở Hà Nội bị ‘mật vụ’ VN theo dõi chặt chẽ.

Nghemp3

Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.

Bấm vào đây để tải Flash Player mới nhất

Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

Giáo sư Chu Hảo, Giám đốc Nhà xuất Bản Tri thức, được Ban tổ chức tường thuật lại quan điểm cho rằng có thể xem lại luật pháp, khi có vấn đề, đồng thời, ông đã đánh giá cao chất lượng của cuộc thảo luận dù không có tính chất chính thức này.

“Một đất nước luôn có một cái Hiến pháp, luật pháp điều chỉnh và luật pháp sinh ra nhằm thực thi hiến pháp đó, và khi luật pháp có vấn đề, thì phải soi chiếu lại,” đại diện Ban tổ chức thuật lại lời của ông,

“Và Giáo sư Chu Hảo nói rằng buổi thảo luận ngày hôm nay rất là hay và nó là một buổi cà-phê thôi, nhưng nó diễn ra rất nghiêm túc và mọi người lắng nghe, thì Giáo sư nói nếu đã tổ chức như vậy và nhiều người đã là nạn nhân của vấn đề luật pháp mơ hồ đó, thì chính phủ Việt Nam phải lưu ý và điều chỉnh lại.”

Theo đại diện Ban tổ chức, có một số diễn biến bất thường đã xảy ra trước, trong quá trình và sau khi cuộc thảo luận diễn ra, theo đó, có nhiều người được cho là ‘mật vụ’, ‘an ninh’, thậm chí đại diện của cơ quan xuất nhập cảnh đã có mặt ‘lảng vảng’ ở trong quán cà phê.

Giáo sư Chu Hảo dự cà phê nhân quyền (phải ngoài cùng)GS Chu Hảo (phải, ngoài cùng) đánh giá cao chất lượng cuộc thảo luận.

Tuy nhiên, không gian chính kinh doanh và tiếp đón khách của quán Joma Bakery Coffee tại 22 Lý Quốc Sư, nơi diễn ra cuộc thảo luận, đã bị đóng cửa vì lý do ‘bảo dưỡng định kỳ’ khiến các thành viên và khách mời phải tiến hành cuộc thảo luận ở các không gian bất tiện và hạn chế.

‘Cáo buộc hành hung’

Trong quá trình diễn ra thảo luận, một số ‘nhân viên an ninh’ đã tiếp cận ghi hình, chụp ảnh, trong khi nhiều lần nhà quản lý quán cà-phê đề nghị cuộc thảo luận giải tán vì chủ quán ‘bị áp lực’.

“Giáo sư Chu Hảo nói rằng buổi thảo luận ngày hôm nay rất là hay và nó là một buổi cà-phê thôi, nhưng nó diễn ra rất nghiêm túc và mọi người lắng nghe, thì Giáo sư nói nếu đã tổ chức như vậy và nhiều người đã là nạn nhân của vấn đề luật pháp mơ hồ đó, thì chính phủ Việt Nam phải lưu ý và điều chỉnh lại”

Đặc biệt, vẫn theo ban tổ chức, một thành viên tham dự sự kiện, blogger Trịnh Anh Tuấn, một thương nhân trẻ tuổi theo công giáo đã bị những người được cho là ‘an ninh’ theo đuổi, bám sát sau khi rời cuộc thảo luận và ‘hành hung, gây thương tích (đánh sưng mặt, chảy máu), đập vỡ điện thoại’ ở gần nhà ga Giáp Bát, Hà Nội.

Hôm thứ Năm, Bấm Blogger Trịnh Anh Tuấn đã xác nhận với BBC rằng mình đã bị ba nhân viên an ninh có mặt trước đó ở Quán cà-phê đi theo khi anh rời quán và anh cáo buộc những người này đã đánh đập anh.

Hôm 21/3, Blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (tức Mẹ Nấm) nói với BBC mặc dù có những khó khăn, cản trở, cuộc thảo luận cà-phê nhân quyền đã vẫn diễn ra như dự kiến.

Cũng hôm thứ Năm, ban tổ chức buổi cà-phê nói với BBC đại diện của chính quyền, trong đó có cơ quan quản lý xuất nhập cảnh đã không tham dự cuộc thảo luận, mặc dù đã được mời.

Trước đó, trong cuộc thảo luận lần thứ nhất, được tổ chức ở Sài Gòn hôm 01/3/2014, đại diện các cơ quan an ninh chính trị và cục xuất nhập cảnh cũng đã không nhận lời mời của Mạng lưới Blogger Việt Nam dự sự kiện cà-phê nhân quyền.

VỀ CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO LÁNG GIỀNG CỦA TRUNG QUỐC

30 Th12

Posted by basamnews on December 30th, 2013

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ Ba, ngày 24/12/2013

TTXVN (Hong Kong 23/12)

Tờ “Đại Công báo” (Hong Kong) dẫn nguồn tạp chí “South Reviews” có trụ sở tại Thâm Quyến (Trung Quốc) cho biết ngày 24/10/2013, Trung Quốc tổ chức Hội nghị công tác ngoại giao láng giềng với sự có mặt của toàn bộ 7 ủy viên thường vụ Bộ Chính trị. Chính sách ngoại giao với quy mô cấp cao chưa từng có và hàm ý “Nước lớn là nhân tố quyết định, láng giềng là quan trọng hàng đầu” đã có sự điều chỉnh khéo léo. Bên cạnh đó, với việc thành lập ủy ban An ninh Quốc gia, dư luận cho rằng các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã nhận thức được tính chất gay go, phức tạp của công tác đảm bảo an ninh xung quanh, trong tương lai nhiều khả năng sẽ tập trung giải quyết vấn đề hiện thực nhất của an ninh quốc gia nước này, đó là quan hệ với các nước láng giềng.

 

Hiện nay, hợp tác kinh tế Đông Á đang phát triển với tốc độ nhanh, tuy nhiên một thời gian dài trở lại đây, Mỹ đóng vai trò trung tâm trong trật tự an ninh của khu vực này, đồng thời chia rẽ quan hệ an ninh và kinh tế khu vực mà Trung Quốc đang tích cực thúc đẩy nhất thể hóa. Trong tương lai làm thế nào để hình thành và duy trì lâu dài “chuỗi giá trị châu Á Thái Bình Dương” phụ thuộc vào việc Trung Quốc liệu có thể bù đắp những khiếm khuyết về an ninh, về vấn đề này, tạp chí “South Reviews” đã có buổi phỏng vấn ông Chu Phương Ngân, Chủ nhiệm Phòng Nghiên cứu chiến lược láng giềng và toàn cầu của Trung Quốc trực thuộc Viện Nghiên cứu chiến lược châu Á-Thái Bình Dương và toàn cầu, Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc. Dưới đây là nội dung buổi phỏng vấn:

South Reviews: Hội nghị cấp cao về công tác ngoại giao láng giềng cách đây không lâu liệu có cho thấy sách lược ngoại giao đối với quan hệ láng giềng của Trung Quốc đã có sự thay đổi? Điều này có bắt nguồn từ những phán đoán thực tế về tranh chấp đảo Điếu Ngư (Nhật Bản cũng tuyên bố chủ quyền và gọi là Senkaku) cũng như Biển Đông không ngừng xảy ra trong hai năm gần đây?

Chu Phương Ngân: Trong quá khứ, chính sách ngoại giao của Trung Quốc có một cách nói đơn giản là: “Nước lớn là nhân tố quyết định, láng giềng là quan trọng hàng đầu”. Giữa nhân tố quyết định và quan trọng hàng đầu có sự khác biệt nhất định. Mặc dù “láng giềng” là quan trọng nhất, song trong cách nói trên lại đặt sau “nước lớn”. Hội nghị công tác ngoại giao láng giềng phát đi một tín hiệu rõ ràng rằng tính quan trọng của láng giềng ngày càng nổi bật. Trong một thời gian dài trở lại đây, quan điểm của rất nhiều người là phải xuất phát từ góc độ ngoại giao với nước lớn để suy xét ngoại giao láng giềng, đồng thời hi vọng thông qua việc ổn định quan hệ Trung-Mỹ để ổn định tình hình các nước xung quanh. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của tư duy này không cao, hoặc ít nhất tại thời điểm trước mắt, tình hình đã nảy sinh những thay đổi nhất định.

Quy mô và cách thức của hội nghị lần này cho thấy mức độ coi trọng của các nhà lãnh đạo Trung Quốc đối với công tác ngoại giao láng giềng. Có thể nói đây là một hội nghị về công tác láng giềng có quy mô cấp cao chưa từng thấy trong lịch sử. Từ đây phát đi một tín hiệu, ngoại giao láng giềng cần thoát ra khỏi cái bóng của ngoại giao nước lớn và cần phải có tính độc lập hơn nữa so với trước đây. Trên thực tế, quan điểm mới về ngoại giao láng giềng cũng có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đối với ngoại giao nước lớn. Nếu Mỹ muốn tiến hành các hành động tiêu cực đối với Trung Quốc, Mỹ cần phải bắt đầu với các nước láng giềng của Trung Quốc. Nếu như môi trường xung quanh ổn định, không gian hành động của Mỹ ở các nước láng giềng của Trung Quốc cũng bị thu hẹp, điều này có lợi cho việc cải thiện vị thế, tình hình của Trung Quốc so với Mỹ.

Tình hình trước mắt cho thấy quan hệ Trung-Mỹ trong tương lai gần tương đối rõ ràng: vừa không để xảy ra vấn đề lớn, vừa khó có thể đạt được cục diện tốt đẹp. Trong bối cảnh này, nếu ngoại giao láng giềng không có sự khởi sắc rõ rệt, thời gian căng thẳng trong quan hệ Trung-Mỹ có thể dài hơn; ngược lại, trong bối cảnh Mỹ cảm thấy không có nhiều biện pháp hữu hiệu đối với Trung Quốc cũng như khó có thể tiến hành thuận lợi các công việc với các nước láng giềng của Trung Quốc, Trung Quốc và Mỹ càng có khả năng thực hiện sự phân chia quyền lực một cách hòa bình.

Chính sách ngoại giao láng giềng của Trung Quốc có một sự thay đổi lớn là tiến hành phân biệt về tính chất đối với các quốc gia này, thực hiện chính sách ngoại giao có sự khác biệt nhất định. Quan điểm công tác ngoại giao trước đây của Trung Quốc là làm bạn với tất cả các nước, mong muốn cải thiện quan hệ với tất cả các quốc gia. Quan điểm này không thể nói là không hay, song, trong thực tế lại rất khó thành công. Từ cách thức của chính sách hiện nay có thể thấy thái độ của Trung Quốc đối với mỗi quốc gia Đông Nam Á có sự khác biệt.

South Reviews: Sự khác biệt cụ thể ở đây là gì?

Chu Phương Ngân: Tôi nghe được một cách nói rằng chính sách hiện nay của Trung Quốc đối với các điểm nóng xung quanh là “đối đầu với Nhật Bản, kiềm chế Philippines và lôi kéo Việt Nam”. Đương nhiên, bất kỳ cách nói nào như thế này đều khó tránh khỏi việc đơn giản hóa, vì chính sách trên thực tế phức tạp hơn rất nhiều. Song, đằng sau cách nói này là chính sách của Trung Quốc đối với Nhật Bản, Philippines và Việt Nam có sự khác biệt về mức độ, thậm chí về phương hướng chính sách cũng tồn tại sự khác biệt nhất định.

Cụ thể, hiện nay tính đối kháng của Trung Quốc đối với Nhật Bản đã dữ dội hơn một chút và Trung Quốc vẫn duy trì áp lực đối với Philippines, song nếu Philippines thay đổi thái độ, khả năng thỏa hiệp giữa Trung Quốc và Philippines sẽ lớn hơn. Trong khi đó, những suy tính của Việt Nam trong các tranh chấp có liên quan lại càng phức tạp. Thái độ của Việt Nam đối với Mỹ vừa có sự lợi dụng công khai, vừa có tâm lý đề phòng tiềm tàng. Nói chung, Việt Nam chỉ coi Mỹ như một công cụ lợi dụng, Việt Nam không giống như Nhật Bản, Philippines kiên quyết đứng về phía Mỹ và Việt Nam cũng sẽ không dễ dàng đi xa đến vậy trong việc đối kháng với Trung Quốc.

Mỹ có 5 nước đồng minh chính thức là ở xung quanh Trung Quốc là Nhật Bản, Hán Quốc, Australia, Philippines và Thái Lan. Trong đó, lập trường của Thái Lan và Hàn Quốc đã có sự thay đổi. Năm 2012, Trung Quốc và Thái Lan đã thành lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, lãnh đạo Thái Lan cũng từng bày tỏ quan hệ Thái Lan-Trung Quốc quan trọng hơn quan hệ Thái Lan-Mỹ. Đối với Hàn Quốc, sau khi Tổng thống Park Geun-hye lên nhậm chức, quan hệ giữa Hàn Quốc và Trung Quốc đã có sự phát triển nhanh chóng. Đối với Australia – một nước được bao bọc xung quanh bởi biển – xét về địa lý, đây là một quốc gia vô cùng an toàn. Australia không phải đối mặt với những uy hiếp an ninh từ bên ngoài, hơn nữa, quan hệ kinh tế giữa nước này và Trung Quốc rất mật thiết, khoảng 30% xuất khẩu của nước này là sang thị trường Trung Quốc. Do vậy, Australia không dễ dàng công khai đối đầu với Trung Quốc. Ngoài ra, Indonesia, Ấn Độ và Việt Nam – những đối tác an ninh của Mỹ ở khu vực cũng đều chú ý duy trì sự cân bằng trong quan hệ với Trung Quốc và Mỹ. Điều này có lợi cho Trung Quốc trong việc triển khai cục diện ngoại giao láng giềng.

South Reviews: Hiện nay Trung Quốc đang tích cực thúc đẩy RCEP (quan hệ đối tác kinh tế toàn diện khu vực), có bình luận cho rằng Trung Quốc cảm nhận nguy cơ từ đàm phán TPP (Hiệp định quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương), nhằm thiết lập thương mại khu vực, quy tắc đầu tư do Mỹ làm chủ đạo nên muốn thông qua việc xây dựng RCEP để cân bằng với Mỹ. Điều này có phải cho thấy sự cạnh tranh quyền chủ đạo kinh tế ở khu vực châu Á Thái Bình Dương đã bước vào giai đoạn mới, trong đó bao gồm những cạnh tranh an ninh phức tạp?

Chu Phương Ngân: Trọng tâm hợp tác kinh tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương hiện nay là sự tranh giành quyền chế định quy tắc kinh tế. Việc Mỹ thúc đẩy TPP có mục đích chính trị tương đối rõ ràng, nhằm lôi kéo các lực lượng phản đối, đối đầu với Trung Quốc, đồng thời lợi dụng ưu thế của Mỹ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, an ninh để phát động và mượn lực lượng kinh tế ở khu vực này đế sửa đổi, loại bỏ quy tắc kinh tế vốn có của khu vực châu Á-Thái Bình Dương, thiết lập lại quy tắc mới. Nhìn từ quá trình xây dựng TPP có thể thấy một số điểm không phù hợp với tính toán kinh tế. Bởi vì TPP là hiệp định kinh tế khu vực vô cùng chặt chẽ, có tiêu chuẩn cao. Nếu chỉ xuất phát từ tính toán kinh tế, Mỹ nên tìm kiếm các thực thể kinh tế tiếp cận được các yêu cầu nội hàm của TPP để đàm phán, song việc lựa chọn đối tượng kết nạp TPP hiện nay của Mỹ không căn cứ theo điều kiện kinh tế của đối tượng, mà căn cứ theo mức độ quan hệ gần gũi, hay xa cách và giá trị lợi dụng chiến lược.

Từ góc độ hợp tác khu vực, cho dù là “10+3” hay “10+6”, Trung Quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đều có sức ảnh hưởng lớn trong đó. Mỹ không bằng lòng với mô hình “10+X” đã định, nếu như để mô hình hợp tác kinh tế như thế này tự do phát triển, quan hệ giữa Trung Quốc-ASEAN sẽ ngày càng mật thiết. Đặc biệt là Khu vực thương mại tự do Trung Quốc-ASEAN phát huy vai trò thúc đẩy rất lớn trong mối liên hệ kinh tế giữa. Trung Quốc và ASEAN.

Trong mô hình hợp tác kinh tế khu vực vốn có, cùng với sự xoay chuyển của thời gian, sức ảnh hưởng của Trung Quốc đối với lĩnh vực kinh tế ở khu vực ngày càng lớn. Hiện nay, Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của đại đa số các nước láng giềng và khối ASEAN. Trong 5 nước đồng minh của Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, ngoài Philippines, đối tác thương mại lớn nhất của Mỹ cũng là Trung Quốc. Nếu xu thế này tiếp tục phát triển thì nó sẽ là cục diện Mỹ không mong đợi. Trong bối cảnh này, ý đồ của Mỹ là lôi kéo một số quốc gia ủng hộ chính trị, an ninh Mỹ; đồng thời loại Trung Quốc ra ngoài, thiết lập một bộ quy tắc kinh tế nhằm đạt được hiệu quả khiến Trung Quốc nằm ngoài lĩnh vực hợp tác kinh tế. Có thế nói, Mỹ đã đạt được thành công nhất định với cách làm này.

Trong hợp tác kinh tế khu vực, việc bị đứng ra bên ngoài, đặc biệt là hoàn toàn mất đi quyền chế định quy tắc hợp tác kinh tế khu vực là một cục diện mà Trung Quốc hết sức lo ngại. Dù vậy hiện nay, Trung Quốc không gia nhập TPP, đồng thời đang nỗ lực nâng cao tiêu chuẩn hành vi kinh tế của mình; như vậy, một khi Trung Quốc chuẩn bị gia nhập TPP thì nước này sẽ không cảm thấy khó khăn, đồng thời cái giá phải chấp nhận trong một thời gian ngắn sẽ không lớn. Ở một mức độ nhất định, khu thí điểm thương mại tự do Thượng Hải cũng có thể thúc đẩy kinh tế Trung Quốc chuyển biến trên một số phương diện, tăng cường hơn nữa khả năng thích ứng của kinh tế nước này đối với sự thay đổi tình hình kinh tế quốc tế.

Dưới áp lực của TPP, khối ASEAN cũng cảm thấy căng thẳng. Trong số 10 quốc gia khối ASEAN, một số nước đã tham gia đàm phán TPP như Singapore, Brunei, Malaysia, Việt Nam. Về mặt khách quan, tình trạng này sẽ phân chia khối ASEAN thành hai nhóm: nước thành viên TPP và nước phi thành viên TPP. Kết quả của việc này sẽ là làm suy yếu sự đoàn kết của khối ASEAN cũng như tính thống nhất về mặt kinh tế của khối này. Để nâng cao sự đoàn kết, ASEAN đã phát động RCEP và nhận được sự ủng hộ của Trung Quốc. Đối với Trung Quốc, ở một mức độ nhất định, RCEP có thể làm dịu xung đột do TPP mang lại, tránh được tình trạng Trung Quốc bị cô lập trong lĩnh vực hợp tác kinh tế khu vực. Diện mạo hợp tác kinh tế khu vực châu Á-Thái Bình Dương trong tương lai, một phương diện quan trọng được quyết định bởi các cơ chế hợp tác kinh tế khác nhau, cơ chế hợp tác nào thúc đẩy càng nhanh thì hiệu quả càng lớn. Giữa RCEP và TPP, hiệp định nào tiến triển nhanh, thì quy tắc kinh tế khu vực châu Á- Thái Bình Dương sẽ có sự khác biệt rất lớn.

Trong quá trình này, xét một cách tổng thể, tình hình của Nhật Bản tương đối có lợi. Nhật Bản là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới, là đối tượng tiềm tàng trong hợp tác kinh tế khu vực mà Mỹ, ASEAN và Trung Quốc đều muốn tranh thủ. Nhật Bản nghiêng về phía nào, phía còn lại sẽ cảm thấy áp lực. Nhưng xét về lâu dài, chỉ cần Trung Quốc duy trì được xu thế tăng trưởng kinh tế, vấn đề sẽ không nghiêm trọng.

South Reviews: Gần đây, Nhật Bản thông qua Dự thảo Đặc khu chiến lược quốc gia, nghe nói, việc xây dựng chính sách rất giống với Khu thương mại tự do Thượng Hải. Liệu có phải Nhật Bản cũng muốn đọ sức với Trung Quốc về quyền chủ đạo kinh tế?

Chu Phương Ngân: Xét về tương quan lực lượng Trung – Nhật có thể thấy Nhật Bản “dưới cơ” Trung Quốc. Năm 2010, chỉ số GDP của Trung Quốc vượt qua Nhật Bản. Chỉ trong vòng chưa đến 3 năm, chỉ số GDP năm 2013 của Trung Quốc đã gấp 1,5 lần của Nhật Bản, thậm chí còn cao hơn. Nếu thêm vài năm nữa, chỉ số này của Trung Quốc sẽ gấp 2 lần của Nhật Bản. Điều này sẽ tạo ra áp lực rất lớn đối với Nhật Bản. Dự thảo Đặc khu chiến lược quốc gia của Nhật Bản cho dù có nhằm vào Khu thương mại tự do Thượng Hải hay không đều thể hiện sự gấp rút của Tokyo. Đặc biệt là Học thuyết kinh tế “3 mũi tên” của Thủ tướng Shinzo Abe đã phóng đi 2 mũi tên, chính sách tiền tệ với trung tâm là hạ giá đồng yên Nhật và chính sách tài chính nhằm thúc đẩy chi tiêu công đã đạt được thành quả nhất định. Song mũi tên thứ ba với nội dung chủ yếu là “thành lập Đặc khu kinh tế chiến lược” liệu có đạt được hiệu quả hay không hiện rất khó nói. Quan sát phản ứng của Nhật Bản từ 2 năm trước có thể thấy chính sách của Thủ tướng Shinzo Abe đối với Trung Quốc không để lại khoảng trống xoay sở lớn. Thủ tướng Abe luôn cho rằng trong cuộc đọ sức giữa hai nước Trung – Mỹ, ưu thế vẫn nghiêng về phía Mỹ. Một năm trở lại đây, Thủ tướng Abe liên tục có các chuyến thăm đến Đông Nam Á, Ấn Độ và Nga, song lại lựa chọn thái độ đối kháng tương đối cứng rắn với Trung Quốc. Tuy nhiên, tình hình nửa cuối năm nay cho thấy cục diện không có lợi cho Nhật Bản. Sự phục hồi kinh tế Mỹ không lạc quan, cộng thêm các vấn đề như trần nợ công, Chính phủ đóng cửa nên Tổng thống Mỹ không tham dự Hội nghị thượng đỉnh Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), đồng thời hủy bỏ chuyến công du Đông Á đã khiến cho uy thế của Mỹ tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương bị suy yếu. Trong khi đó, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, Thủ tướng Quốc vụ viện Lý Khắc Cường lần lượt có chuyến công du đến Đông Nam Á, trong đó có Indonesia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam, vốn là những nền kinh tế quan trọng của khối ASEAN. Tình hình của Trung Quốc, Mỹ tại khu vực Đông Nam Á đã có sự thay đổi lớn. Điều này chắc chắn động chạm đến Nhật Bản. Do vậy, thái độ hiện nay của Nhật Bản hòa dịu hơn, lập trường về vấn đề sửa đổi Hiến pháp cũng lung lay.

South Reviews: Cho dù tốc độ phát triển nhất thể hóa kinh tế Đông Á như thế nào đi nữa cũng không thoát khỏi bối cảnh thực tế là hệ thống đồng minh quân sự do Mỹ chủ đạo tách rời với hợp tác kinh tế do Trung Quốc tích cực chủ đạo. Cục diện hai trung tâm liệu có phải là trở ngại lớn nhất trong trật tự lành mạnh của khu vực Đông Á?

Chu Phương Ngân: Mỹ là trung tâm trong trật tự an ninh Đông Á, song Mỹ không phải quốc gia châu Á. Điều này có nghĩa là trung tâm an ninh của khu vực được đặt ngoài phạm vi khu vực này, đây là một quan hệ an ninh không bình thường. Đây là kết quả hòa giải chiến lược mà giữa các quốc gia chủ đạo của khu vực Đông Á chưa thể thực hiện một cách hiệu quả và có chiều sâu. Mục đích Mỹ thống trị trật tự an ninh khu vực Đông Á không nằm ở chỗ làm thế nào để khu vực này trở nên an toàn hơn đối với tất cả các quốc gia thành viên, mà là duy trì vị thế thống trị của Mỹ, đề phòng cục diện trong khu vực xuất hiện một quốc gia nào đó nắm vai trò chủ đạo. Để duy trì vị thế của mình ở khu vực Đông Á, về khách quan, Mỹ cần duy trì “đủ nhiều” các mâu thuẫn khó giải quyết ở khu vực này. Gần 2 năm nay, sau khi tranh chấp quyền chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải đối với vấn đề đảo Điếu Ngư/Senkaku và vấn đề Biển Đông xảy ra, tác dụng phụ của

cách thức thao túng mâu thuẫn khu vực Đông Á của Mỹ ngày càng tăng. Do vậy, hai trung tâm này không thể tiếp tục duy trì.

Xét về lâu dài, chỉ khi Trung Quốc thực hiện hòa giải sâu sắc về vấn đề chính trị và an ninh với các quốc gia xung quanh, loại bỏ các hiểm họa an ninh thì mới có thể có trật tự an ninh lành mạnh và có khả năng duy trì. Ví dụ, ở châu Âu, đầu tiên thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương NATO để giải quyết vấn đề an ninh trong nội bộ khối, sau đó tiến hành nhất thể hóa kinh tế trên cơ sở này, do vậy, hợp tác kinh tế tương đối thuận lợi. Nếu như khu vực Đông Á có thể giải quyết tốt vấn đề an ninh, hợp tác kinh tế sẽ phát triển tương đối lành mạnh. Trong tương lai gần, Trung Quốc cần mang lại nhiều hơn nữa các “sản phẩm công cộng” về an ninh và kinh tế cho khu vực để giúp xây dựng môi trường hợp tác khu vực tốt đẹp hơn.

South Reviews: Trung tâm kinh tế và trung tâm an ninh trong tương lai có tồn tại tình trạng chia rẽ lâu dài không?

Chu Phương Ngân: Hai sự thật cơ bản là ưu thế an ninh lâu dài của Mỹ và ưu thế kinh tế đang lên của Trung Quốc sẽ tiếp tục duy trì trong một khoảng thời gian trong tương lai, song quan hệ giữa hai nước không nhất định sẽ phát triển theo xu hướng chia rẽ. Hiện nay, cả Trung Quốc và Mỹ đều ý thức được hậu quả của cơ cấu “nhị nguyên”. Mỹ cho rằng chỉ có ưu thế an ninh thì chưa đủ, nên đẩy nhanh các bước hình thành TPP, trong khi Trung Quốc cũng đang cải thiện quan hệ với các nước xung quanh. Xu thế hiện nay là Trung Quốc muốn xóa bỏ ưu thế an ninh của Mỹ, ngược lại Mỹ có ý đồ làm suy yếu ưu thế kinh tế của Trung Quốc. Trong tương lai, quan hệ an ninh và quan hệ kinh tế của khu vực sẽ ngày càng đan xen phức tạp. Thế hệ lãnh đạo mới của Trung Quốc đặc biệt nhấn mạnh phải bù đắp yếu điểm an ninh của nước này, ý thức rõ ràng rằng không thể phát triển lâu dài dưới ưu thế an ninh của Mỹ. Nếu như yếu điểm an ninh của Trung Quốc được bù đắp, Mỹ khó mà giữ được vị thế độc quyền trong lĩnh vực an ninh khu vực Đông Á. Nếu như Trung Quốc có được ưu thế tại “Chuỗi đảo thứ nhất”, nếu như lực lượng quân sự Mỹ có thể thực sự rút khỏi chuỗi đảo này, hai nước sẽ hình thành trạng thái tương đối cân bằng trong lĩnh vực an ninh. Trong bối cảnh này, Mỹ vẫn có ưu thế an ninh trên toàn cầu, song sự cân bằng lực lượng ở khu vực Đông Á đã có thay đổi. Sự phát triển hòa bình của Trung Quốc mang lại đảm bảo an ninh quân sự mạnh mẽ. Trung Quốc và Mỹ cũng có thể tiến hành hợp tác ở khu vực này trên cơ sở cân bằng quan hệ song phương.

South Reviews: Hội nghị trung ương 3 khóa 18 quyết định thành lập ủy ban An ninh Quốc gia, điều này có ảnh hưởng gì đối với quan hệ của Trung Quốc và các quốc gia xung quanh?

Chu Phương Ngân: Cá nhân tôi cho rằng việc thành lập ủy ban An ninh Quốc gia không thể nói là nhằm ứng phó với tình hình an ninh xung quanh mà Trung Quốc hiện đang phải đối mặt, bao gồm các vấn đề như đảo Điếu Ngư/Senkaku, Biển Đông… Trên thực tế, cách nói như vậy đã đánh giá thấp vai trò của ủy ban An ninh Quốc gia. Về chiến lược, với tư cách là một thiết kế thượng tầng, ủy ban này có thể tập trung nhận thức chung ở cấp bậc cao nhất, làm cho chiến lược trỗi dậy trong tương lai của Trung Quốc trở nên rõ ràng. Về chính sách, ủy ban này có thể tăng cường năng lực thực hiện chính sách ngoại giao xung quanh; tập trung lực lượng, thống nhất các nguồn lực khác nhau, cân đối 2 phương diện trong nước và quốc tế tốt hơn; quán triệt chính sách có liên quan đến chiến lược. Đồng thời, về mặt khách quan, việc thành lập ủy ban An ninh Quốc gia sẽ khiến cho an ninh quốc gia trở thành hạt nhân của lợi ích quốc gia và được bảo vệ có hiệu quả; đồng thời cũng sẽ thay đổi sự kỳ vọng của một số quốc gia xung quanh trong quá trình thiết lập quan hệ với Trung Quốc trong tương lai, khiến cho các nước này lĩnh hội rõ ràng hơn ý chí, năng lực cũng như quyết tâm bảo vệ lợi ích quốc tế, an ninh quốc gia của Chính phủ Trung Quốc.

* * *

Theo báo Bưu điện Hoa Nam buổi sáng (Hong Kong), một cuộc chiến tranh lạnh về mặt tâm lý bị làm trầm trọng thêm bởi sức mạnh quân sự của Trung Quốc đang ngày càng trở thành một vấn đề đáng quan ngại.

Việc công bố trên mạng Internet bộ phim tài liệu có tên “Cuộc đấu tranh lặng lẽ” do Đại học Quốc phòng thuộc Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) sản xuất, đã làm dấy lên nhiều tranh cãi. Bộ phim tài liệu này tuyên bố rằng Trung Quốc đang bị Mỹ thâm nhập và phá hoại giống như Liên Xô từng gặp phải trước khi sụp đổ.

Đây là một sự trái ngược đáng chú ý đối với những tuyên bố của Trung Quốc trên trường quốc tế, nơi các nhà lãnh đạo nước này đã nhiều lần nói rằng họ không tìm cách trở thành bá chủ thế giới. Phó Thủ tướng Trung Quốc Uông Dương thậm chí đã nói rằng mối quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ nên giống như mối quan hệ “giữa vợ và chồng”. Vậy thì có một câu hỏi là: Đâu mới là Trung Quốc thực sự? Với việc mua và sửa chữa lại tàu sân bay Varyag và đặt tên là tàu Liêu Ninh cùng những tranh chấp với Nhật Bản xung quanh chủ quyền quần đảo Điếu Ngư/Senkaku ở biển Hoa Đông, Trung Quốc dường như đang gây ra sự nghi ngờ và phản đối từ cộng đồng quốc tế.

Ba thập kỷ bùng nổ kinh tế đã đưa Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới về mặt tổng giá trị sản phấm quốc nội (GDP), và nhiều người Trung Quốc đang cảm thấy rất giàu có đồng thời muốn tiếp quản thế giới. Thế hệ lãnh đạo cấp cao mới (hầu hết là các cựu Hồng Vệ binh) đang tiếp thêm ngọn lửa chống lại “những âm mưu của nước ngoài” và “sự thâm nhập của nước ngoài”, vận dụng tốt những kỹ năng chiến đấu mà họ đã học được trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông: chỉ có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc vĩ đại mới có thể bảo vệ người dân Trung Quốc khỏi bị nước ngoài làm nhục lần nữa.

Đã đến lúc Trung Quốc thức tỉnh. Có bao nhiêu người bạn – những người bạn thực sự – mà họ có, cả xa lẫn gần?

Trong khi đó, Nhật Bản dường như áp dụng hiệu quả hơn trụ cột chính sách ngoại giao mới của họ là “vòng cung tự do và thịnh vượng”, thiết lập các mối quan hệ gần gũi với Ấn Độ, Philippines, Việt Nam, và gần đây thậm chí là với Nga, thông qua cuộc họp của các ngoại trưởng và bộ trưởng quốc phòng. Chúng ta cũng nên đề cập đến vấn đề Nhật Bản đã di chuyển trụ sở Lực lượng Phòng vệ Mặt đất đến một căn cứ quân sự của Mỹ và Mỹ đã triển khai máy bay chiến đấu Raptor F-22, máy bay trực thăng Osprey và tên lửa Patriot trên toàn lãnh thổ Nhật Bản.

Có vẻ cứ như thể là chiến tranh lạnh đã quay trở lại, chỉ khác là địch thủ đã thay đổi từ Liên Xô thành Trung Quốc.

Trung Quốc, mặt khác, dường như thay đổi ở bên trong, trở lại với tư tưởng Chủ nghĩa cộng sản Mao Trạch Đông, thẳng tay đàn áp “những người tung tin đồn” trên Internet và tổng giam những nhân vật bất đồng chính kiến, chỉ làm bạn với một số ít quốc gia bị cô lập và lạc hậu. Phải đối đầu với những tình hình nguy hiểm như vậy, đã đến lúc Trung Quốc phải chậm lại.

Một cuộc chiến tranh với Nhật Bản sẽ dẫn đến những hậu quả có thể nhìn thấy trước (trong số nhiều hậu quả) như sau: hàng tỷ USD lãng phí vào việc tăng cường mua sắm các loại vũ khí; hàng tỷ USD tiền vốn bay đến Mỹ; lực lượng quân sự nắm giữ quyền lực; giá nhà ở tại Trung Quốc và Nhật Bản không thể kiểm soát; nhiều người thiệt mạng; và các căn cứ Mỹ sẽ được duy trì ở Đông Á trong 100 năm tới.

Vậy làm thế nào để có thể tránh được một kịch bản như vậy? Trước hết, những nước như Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam cần cảm thấy rằng thật là ngu xuẩn khi tiến tới chiến tranh với “cường quốc số một ở Đông Á”, hoặc để tranh giành một số bãi đá cằn cỗi.

Trong thực tế, các quốc gia này cùng có chung đặc điểm và truyền thống văn hóa, và các chế độ của họ đều dựa trên cơ sở một chính quyền trung ương vững mạnh, về mặt kinh tế, họ là những nước phù hợp nhất để thành lập một thị trường chung và nhiều nước đã thiết lập những chuỗi sản xuất phức hợp và các mạng lưới thị trường trong khu vực.

Sự hợp tác không chỉ duy trì hòa bình, mà nó cũng có thể dẫn đến những cơ hội vô hạn cho tất cả các bên để cùng chia sẻ các thị trường, các nguồn tài nguyên tự nhiên và con người, cách quản lý và bí quyết quản trị.

Nếu như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc có thể tạo thành trụ cột của “Cộng đồng Đông Á” – giống như Hiệp định thương mại tự do giữa Liên minh châu Âu và Bắc Mỹ – không chỉ họ sẽ là người có lợi, mà thế giới cũng vậy. Những lợi ích của một cách tiếp cận như vậy là rõ ràng, nhưng các nhóm lợi ích đặc biệt, chẳng hạn như quân đội, sẽ không để điều đó xảy ra; ngược lại, họ đang tìm kiếm một cuộc chạy đua tiến tới chiến tranh.

Đặc biệt là Trung Quốc, quốc gia đang phải đối mặt với các vấn đề như tham nhũng, ô nhiễm môi trường, già hóa dân số và các xung đột ở Tân Cương, Tây Tạng. Những vấn đề này có thể đẩy Trung Quốc rơi vào bẫy thu nhập trung bình và ngừng tăng trưởng kinh tế.

Điều cấp bách hơn là tập trung vào các biện pháp chi tiết để giải quyết ngay lập tức những vấn đề này thay vì theo đuổi một “Thế kỷ Trung Quốc”. Việc thành lập cơ chế nào đó giống như một “Cộng đồng Đông Á” có thể cho phép Trung Quốc học hỏi những công nghệ tiên tiến và bí quyết sản xuất của Nhật Bản và Hàn Quốc, và có thể thoát khỏi cái bẫy đó.

Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu trong hơn 30 năm qua, phần nhiều trong số đó là nhờ sự chấm dứt thời kỳ Chiến tranh Lạnh và sự trợ giúp của một hệ thống thương mại toàn cầu mở cửa. Và đầu tư trực tiếp nước ngoài đã làm cho Trung Quốc trở thành “công xưởng thế giới” trong lĩnh vực sản xuất. Tại sao nhiều người Trung Quốc không nhìn thấy điều này và thay vào đó hãy tiếp quản thế giới.

Đúng là có sự phân phối bất bình đẳng chiếc bánh phát triển, đơn giản là bởi vì Trung Quốc là một quốc gia lớn như vậy. Trong khi các khu vực ven biển gần như theo kịp một số nước giàu, những khu vực sâu trong nội địa vẫn còn nghèo và lạc hậu. Việc hiện đại hóa toàn bộ đất nước cần phải có thời gian. Trong tiến trình lâu dài này, sẽ có sự lo lắng và đôi khi là các cuộc đấu tranh xuất phát từ bất bình đẳng khu vực và bất bình đẳng thu nhập, gây nên xung đột bên trong và xung đột bên ngoài.

Trong thời đại toàn cầu hóa ngày nay, không quốc gia nào có thể trở thành một siêu cường hoặc thậm chí là cường quốc khu vực mà không có những người ủng hộ và những người bạn. Đối với Trung Quốc, để phát triển, sự hợp tác của Nhật Bản và các nước láng giềng khác là điều quan trọng. Không có điều này, cái gọi là “Giấc mộng Trung Hoa” sẽ không bao giờ trở thành hiện thực.

Còn đối với Nhật Bản, cũng sẽ không thể có hòa bình thực sự hoặc tăng trưởng bền vững nếu không có sự hợp tác với Trung Quốc./.

 

 

“Mỹ sẽ đánh Syria nếu nỗ lực ngoại giao thất bại” – Vnn

11 Th9

“Mỹ sẽ đánh Syria nếu nỗ lực ngoại giao thất bại”

Tổng thống Mỹ Barack Obama vừa có bài phát biểu được truyền hình trực tiếp để giải thích về chính sách của Mỹ với cáo buộc Syria dùng vũ khí hóa học.

 

Syria,

Người đứng đầu nước Mỹ tuyên bố, chính phủ Syria rõ ràng là phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng vũ khí hóa học làm hơn 1.000 người thiệt mạng vào tháng trước.

Ông Obama tuyên bố Mỹ sẽ phối hợp với Nga về đề xuất thuyết phục Syria phá hủy kho vũ khí hóa học. Tuy nhiên, Mỹ vẫn duy trì đe doa sử dụng vũ lực nếu các nỗ lực ngoại giao thất bại.

Phát biểu từ Nhà Trắng, Tổng thống Obama nói, ông đã chống lại những lời kêu gọi tấn công quân sự Syria từ rất lâu vì cho rằng vũ lực không thể giải quyết nội chiến. Tuy nhiên, ông đã thay đổi suy nghĩ sau khi vụ tấn công được cho là có sử dụng vũ khí hóa học nhằm vào một khu ngoại ô của Damascus được tiến hành vào ngày 21/8.

Người đứng đầu nước Mỹ tuyên bố, ông hoan nghênh đề xuất của Nga như một giải pháp thay thế cho hành động quân sự nhưng nói thêm: “Hiện còn quá sớm để nói liệu đề nghị đó có thành công không”.

Bất cứ một thỏa thuận nào cũng phải làm rõ rằng chính quyền của Tổng thống Assad phải giữ cam kết. Tuy nhiên, sáng kiến của Nga phải có khả năng xóa bỏ mối đe dọa về vũ khí hóa học mà không cần dùng vũ lực. 

Tổng thống Obama nói, ông đã yêu cầu các nhà lãnh đạo Quốc hội trì hoãn cuộc bỏ phiếu phê chuẩn việc sử dụng vũ lực trong khi “chúng ta đang theo đuổi nỗ lực ngoại giao”.

Ông xác nhận, Ngoại trưởng John Kerry sẽ gặp gỡ người đồng nhiệm Nga Sergei Lavrov tại Geneva vào ngày mai (12/9) và cho biết thêm “Tôi sẽ tiếp tục thảo luận với Tổng thống Putin”.

Bài phát biểu trên được coi là nỗ lực cuối cùng của Tổng thống Mỹ trong việc giành sự ủng hộ của công chúng (đang hoài nghi) và Quốc hội cho kế hoạch dự kiến tấm công Syria.

Bài diễn văn toàn quốc kéo dài 15 phút của Tổng thống Obama (sáng 11/9 giờ VN, tối 10/9 giờ Mỹ) diễn ra một ngày sau khi một loạt cuộc tranh luận ngoại giao diễn ra ở Liên Hợp Quốc về đề xuất của Nga. Theo kế hoạch của Nga, vũ khí hóa học của Syria sẽ được đặt dưới sự kiểm soát của quốc tế.

Tổng thống Nga Putin nói, việc chuyển giao vũ khí hóa học của Syria chỉ có hiệu lực nếu Mỹ và các đồng minh từ bỏ việc sử dụng vũ lực chống Damascus. “Các vị không thể yêu cầu Syria hay bất cứ một quốc gia nào khác đơn phương giải trừ vũ khí trong khi hành động quân sự chống lại họ vẫn đang được thực thi”, Putin nói trong buổi trả lời phỏng vấn một mạng truyền hình Nga.

  • Hoài Linh(Theo BBC, CNN, AP)

Việt Nam trước cơ hội lớn ngoại giao đa phương

12 Th2

Việt Nam trước cơ hội lớn ngoại giao đa phương

 – Ông Ngô Quang Xuân, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội, nguyên Đại sứ, Trưởng phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam bên cạnh LHQ và WTO, phân tích với VietNamNet về sứ mệnh của Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minh vào thời điểm tổ chức này đang đối mặt với những thách thức to lớn.

 

Thưa ông, một người Việt Nam làm Tổng thư ký ASEAN có thể tác động thế nào đến thúc đẩy các ưu tiên đối ngoại của Việt Nam?

Nếu chỉ nói sự kiện vị lãnh đạo cao nhất của ASEAN lần đầu tiên đến từ Việt Nam thúc đẩy tích cực thế nào đối với các ưu tiên đối ngoại của Việt Nam thì sẽ rơi vào tình thế cục bộ mất rồi, mặc dù chúng ta mong muốn có tác dụng như vậy, bởi vì xây dựng và phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với các thành viên ASEAN đã trở thành ưu tiên đối ngoại hàng đầu của Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua.

 

Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minh. Ảnh: Reuters
 

 

Nay có một vị Tổng thư ký thấu hiểu tường tận ưu tiên đối ngoại của ta thì tốt quá đi chứ. Cũng là dân cả đời làm ngoại giao, tôi có thể nói rằng nay đã xuất hiện thêm điều kiện để kết hợp hài hòa truyền thống ngoại giao hòa hiếu láng giềng của Việt Nam trong Cộng đồng ASEAN, vì hòa bình và ổn định phát triển chung sẽ có tác dụng hết sức tích cực cho sự nghiệp chung, lợi ích chung của các nước thành viên.

Dung hòa các lợi ích quốc gia

Làm ngoại giao đa phương là phải dung hòa các lợi ích quốc gia nhiều khi trái ngược. Ông có kinh nghiệm cụ thể nào từng trải qua khi đại diện Việt Nam tại LHQ?

Ở đây có hai góc độ cách nhìn. Sứ mệnh nhà ngoại giao, đại diện nước mình trên các lĩnh vực ngoại giao đa phương, ví dụ tại LHQ hay WTO chẳng hạn, khác với sứ mệnh của chính nhà ngoại giao giao đó khi đảm trách cương vị lãnh đạo hay đại diện cho các thể chế đa phương đó, nếu chẳng may gặp phải lợi ích trái ngược thì cũng cần phải bình tĩnh và mưu lược tìm cách hòa giải.

Khi được cử làm quyền Chủ tịch Đại hội đồng LHQ khóa 52, tôi đã thay mặt LHQ tiếp một số nguyên thủ quốc gia các nước tới thăm làm việc, tôi đã đặc biệt chú ý tới các đoàn cấp cao đến từ những khu vực hết sức nhạy cảm, nhất là từ nơi vừa mới xảy ra xung đột.

Lúc đó tôi đã được cả Ban thư ký đồ sộ của LHQ cung cấp nhiều thông tin chi tiết và cần thiết, nhưng tôi vẫn nghĩ là mình phải chuẩn bị thêm một cách nghiêm túc, mặc dù có lúc phải tìm tòi “toát mồ hôi”, vì thành công hay không ăn thua ở chỗ mình thực hiện nhiệm vụ đó chuẩn mực tới mức nào với tư cách một “nhà lãnh đạo của LHQ”.

Bản lĩnh trước sức ép

Ông có ấn tượng gì đáng nhớ nhất về những nhà ngoại giao quốc tế từng đứng đầu các tổ chức đa phương?

Khi làm việc tại LHQ ở New York, sau này 6 năm làm Đại sứ tại LHQ và WTO ở Geneva, tôi may mắn được làm việc với nhiều đời lãnh đạo của các tổ chức quốc tế lớn. Họ đều là những con người xuất chúng, là những nhà hoạt động chính trị, ngoại giao xuất sắc trên trường quốc tế. Các cơ chế đa phương này, dưới sự lãnh đạo của nhiều vị, đã có nhiều đóng góp mang tính lịch sử vào quá trình bảo vệ hòa bình thế giới và phát triển hợp tác giữa các quốc gia.

Nhưng chúng ta cũng đã được chứng kiến ở một số giai đoạn nhất định trong lịch sử trước đây, có thể vì sức ép của một hoặc vài nước lớn khi họ còn thế và lực để thao túng, cũng có thể vì lợi ích nào đó, và cũng có thể vì bản lĩnh cá nhân… nên có những quyết định hoặc hành động của một vài cơ chế đa phương làm phương hại uy tín của bản thân cơ chế đó, làm phương hại đến cả lợi ích của hòa bình và phát triển chung.

Việt Nam đã từng có những thành công nào từ việc phát huy tiếng nói của các tổ chức đa phương, và cả những bài học không thành công, thưa ông?

Ngoại giao đa phương của Việt Nam ngày càng trưởng thành, đã có những bước tiến dài. Chúng ta đã hòa chung vào tiếng nói, khát vọng của các dân tộc tiến bộ trên thế giới vì hòa bình, bình đẳng, tôn trọng, hợp tác phát triển. Những kết quả đạt được chứng tỏ sự cố gắng luôn vươn lên của nền ngoại giao Việt Nam nói chung, của ngoại giao đa phương nói riêng.

Bài học lớn về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại luôn mang tính thời sự nóng hổi đối với các nhà ngoại giao tại các cơ chế đa phương, nhất là khi họ đang hoạt động trong môi trường khu vực và thế giới ngày càng đa dạng và phức tạp không hề thuyên giảm.

Khi đạt được đồng thuận hoặc đa số áp đảo về một vấn đề liên quan đến lợi ích của nhiều nước thành viên, thì đương nhiên cơ chế đa phương đó tạo được thanh thế và uy tín. Ngược lại, cũng có những kết quả đi ngược lại mong muốn của chung, của đa số thành viên làm suy yếu hình ảnh và vị thế của cơ chế đa phương.

Vấn đề chúng ta đã gặp phải là tiếng nói chung của ASEAN về vấn đề Biển Đông chẳng hạn. Tôi đã cảm thấy rất buồn và xấu hổ khi đọc tin tức bình luận phê phán của thế giới về một số diễn biến về vấn đề này tại diễn đàn của ASEAN, kể cả tại phiên họp cấp cao ở Phnom Penh năm ngoái. Cũng may là trong trường hợp này, nguyên tắc đồng thuận của ASEAN đã phát huy được tác dụng, kịp thời làm rõ và cản trở được một số ý đồ không khách quan.

“Hướng tới trở thành một “Cộng đồng chung vào năm 2015”, ASEAN đang đứng trước nhiều vận hội, nhưng cũng không ít thách thức mới. Nhưng tôi tin rằng là một nhà ngoại giao từng trải nhiều kinh nghiêm, có trí tuệ và bản lĩnh vững vàng, luôn đam mê tâm huyết với công việc, Đai sứ Lê Lương Minh sẽ thực thi thành công sứ mệnh Tổng thư ký của ASEAN.

Xuân Linh

 

%d bloggers like this: