Tag Archives: NGUYÊN HẢI

Tòa quốc tế xử Philippines thắng kiện Trung Quốc – NĐT

13 Th11

10/11/2015 – 16:50 PM

Thắng lợi ban đầu của Philippines trong vụ kiện Trung Quốc mở ra hướng mới trong giải quyết tranh chấp trên Biển Đông.

Ngày 29.10.2015, Tòa Trọng tài Thường trực quốc tế (PCA) đóng tại Hague, Hà Lan (PCA) đưa ra phán quyết đầu tiên về vụ Philippines kiện Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền trái phép ở Biển Đông.

Phán quyết của PCA nêu rõ, cả Philippines và Trung Quốc đều là các bên tham gia Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) và vì thế phải có trách nhiệm giải quyết tranh chấp theo quy định của UNCLOS.

PCA lắng nghe luận điểm của Philippines trong phiên điều trần hồi tháng 7. Ảnh: Rappler

Phán quyết của PCA nói rằng vụ việc được tiến hành theo đúng Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982, và PCA có thẩm quyền xét xử vấn đề. Quyết định của Trung Quốc không tham gia vụ kiện sẽ không làm thay đổi quyền phán quyết của PCA và việc Philippines quyết định đơn phương tiến hành vụ kiện không hề vi phạm tiến trình giải quyết tranh chấp theo UNCLOS.

Thắng lợi của luật pháp quốc tế

Theo AFP, ngay sau khi có phán quyết của PCA, một quan chức quốc phòng cấp cao của Mỹ tại Washington đã lên tiếng hoan nghênh phán quyết của tòa án là “một thắng lợi của luật pháp quốc tế”.

AFP dẫn lời quan chức quốc phòng cấp cao nói: “Chúng tôi rất hoan nghênh phán quyết của tòa. Điều này chứng tỏ luật pháp quốc tế có vai trò trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông”.

“Điều này chứng tỏ rằng những tuyên bố chủ quyền không nhất thiết là không thể tranh cãi và việc ra phán quyết về vấn đề chủ quyền theo luật pháp và thông lệ quốc tế là con đường có thể giúp quản lý và giảm thiểu nguy cơ xảy ra xung đột. Chúng tôi rất hoan nghênh các hoạt động của tòa”.

Trả lời phỏng vấn của VOV, Tiến sĩ Phạm Lan Dung, Trưởng Ban Quốc tế, Học viện Ngoại giao của Việt Nam, cho rằng, bà cũng như nhiều chuyên gia nghiên cứu các vấn đề quốc tế khác, coi phán quyết của PCA là thắng lợi lớn của Philippines. Không những thế, thắng lợi này còn giúp cho các nước có tranh chấp thấy lạc quan, rằng từ nay có thể sử dụng Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) và đưa ra Tòa Trọng tài Quốc tế để giải quyết các khác biệt về tranh chấp lãnh thổ.

Bà Phạm Lan Dung trích dẫn UNCLOS rằng, Luật này yêu cầu các nước phải tôn trọng các biện pháp hòa bình, Không được sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong khi giải quyết các tranh chấp, Phải dùng các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp. Bà Phạm Lan Dung nói:  “Việc Tòa Trọng tài Quốc tế có thể xét xử vụ kiện chính là biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp”.

Khi vấn đề thẩm quyền của PCA được giải quyết, vụ kiện có thể chuyển hướng sang các thủ tục tiếp theo, bao gồm: thu thập, đánh giá về tính pháp lý trong các luận điểm về chủ quyền của Philippines ở Biển Đông.

Chặng đường phía trước còn dài

Tạp chí The Diplomat phân tích, Philippines mong muốn PCA xem xét và phán quyết về 4 vấn đề, trong đó vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất là yêu sách của Trung Quốc về cái gọi là “Đường 9 đoạn” (hay còn gọi là Đường lưỡi bò) ở Biển Đông. Theo đó, Manila lập luận rằng “Đường 9 đoạn” là một yêu sách “không thể chấp nhận được” và không phù hợp với quyền lợi của các quốc gia ven biển chiểu theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) mà cả Trung Quốc, Philippines cùng nhiều nước khác đã ký kết năm 1982. Cho đến nay, Trung Quốc vẫn không đưa ra được những chứng cứ pháp lý về phạm vi của “Đường 9 đoạn”.

Thứ hai, Philippines cho rằng việc Trung Quốc chiếm đóng, bồi đắp nhiều đảo nhân tạo tại quần đảo Trường Sa trên Biển Đông là bất hợp pháp. Manila đưa ra lập luận này vì cho rằng Bắc Kinh có “những yêu sách về sở hữu hoặc chủ quyền không chính đáng đối với các khu vực hoàn toàn ngập nước, hoặc quyền lịch sử không chính đáng đối với tài nguyên sinh vật và phi sinh vật, bao gồm cả quyền kiểm soát hàng hải”.

Thứ ba, đề nghị tòa án sẽ xem xét và đánh giá tính pháp lý đối với cáo buộc của Philippines rằng Trung Quốc đang khai thác trái phép tài nguyên thiên nhiên trong Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines theo UNCLOS.

Người Philippines biểu tình thổi còi bên ngoài Lãnh sự quán Trung Quốc tại thành phố Makati, Manila, ngày 10.7.2015 (Reuters)

Thứ tư, Philippines cáo buộc Trung Quốc đã can thiệp vào quyền tự do đi lại của Manila trong chính Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của quốc đảo này.

Trong một bài viết của mình, Tạp chí Wall Street Journal dẫn lời Luật sư trưởng người Mỹ, ông Paul Reichler, phụ trách hồ sơ vụ kiện của Philippines, lập luận rằng cái gọi là “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc, mà theo đó Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền đối với gần như tất cả Biển Đông, không có căn cứ theo luật quốc tế quy định trong Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển.

PCA cũng đã yêu cầu Manila làm rõ một số luận điểm và sẽ xem xét các vấn đề còn lại trong giai đoạn đánh giá tính pháp lý của các lập luận này.

Sau khi vấn đề về thẩm quyền của PCA đã được giải quyết, vụ kiện có thể tiến triển đến giai đoạn đánh giá tính pháp lý về các luận điểm Philippines đưa ra về vấn đề Biển Đông. PCA dự kiến sẽ đưa ra phán quyết sơ bộ vào năm 2016.

Theo VOV

» Ông Trần Công Trục: ‘Trung Quốc vận động thất bại trong vụ kiện đường lưỡi bò’

» Vụ kiện ‘đường lưỡi bò’ – phép thử luật pháp quốc tế của Philippines

» Tòa quốc tế đồng ý xử vụ Philippines kiện Trung Quốc về ‘đường lưỡi bò’

» Trung Quốc ráo riết vận động hành lang vụ kiện ‘đường lưỡi bò’

» Tòa mở vụ kiện ‘đường lưỡi bò’ cho Việt Nam tham dự

» Trung Quốc sẽ phớt lờ phán quyết của tòa trọng tài quốc tế

» Trung Quốc thêm chiêu ‘nham hiểm’ tuyên truyền đường lưỡi bò

» Google xóa tên Trung Quốc khỏi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam

» Google xóa tên gọi TQ với bãi cạn Scarborough

» Ông Trần Công Trục: ‘Tàu tuần tra Mỹ không phải bảo bối ở Biển Đông’

» ‘Hải đăng Trung Quốc vừa hoàn thành là bẫy pháp lý’

88 TUỔI VIẾT BỨC TÂM THƯ LĂN TAY BẰNG MÁU GỬI TẬP CẬN BÌNH – Tễu

8 Th11

 
 

BỨC TÂM THƯ GỬI CHỦ TỊCH TẬP CẨN BÌNH
VỀ “GIA PHẢ TỰ CHẾ” CÁC ĐẢO VÀ BIỂN ĐÔNG CỦA VIỆT NAM

Ba Sàm
7-11-2015

Không thể đổi tiền lấy Chủ quyền!

Bức thư ngỏ gửi Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình được lăn tay bằng máu của cụ ông 88 tuổi đã được đấu giá 300 triệu tặng Cảnh sát Biển Việt Nam.
 

Lời dẫn: Sáng sớm ngày mùng 7/11, bác Nguyễn Công Nghệ (người đã tham gia đấu giá bức tranh “Gạc Ma – Vòng Tròn Bất Tử” mức giá 730 triệu và đã tặng 350 triệu cho các cựu binh Gạc Ma bị Trung Quốc bắt ngày 14/3/1988 và 5 gia đình tử sĩ ở Hoàng Sa năm 1974 trong Đại lễ Tưởng niệm và Cầu siêu 64 liệt sĩ Gạc Ma tổ chức tại Chùa Vĩnh Nghiêm nhân ngày Thương binh – Liệt sĩ 27/7 vừa rồi, bức tranh đã được đấu giá 1 tỷ 280 triệu để tặng 64 gia đình liệt sĩ Gạc Ma) đã trân trọng mang bức tâm thư ngỏ gửi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình được dịch ra tiếng Anh và tiếng Trung đển gặp Ban Tổ Chức. (Bức tâm thư được lăn tay bằng máu của cụ này đã được công ty Mỹ Sơn ở Hà Nội đấu giá 300 triệu và vừa trao tặng cho Cảnh sát Biển Việt Nam).

Bác Nghệ xúc động chia sẻ: “Sau khi nghe bài phát biểu của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trước Quốc hội Việt Nam, bác đã cùng các con, cháu thức đến gần sáng để viết phần PS – Tái bút và dịch toàn bộ bức tâm thư ra tiếng Anh và tiếng Trung”. BTC xin trân trọng được công bố bức tâm thư đầy tâm huyết của cụ ông 88 tuổi này:

Thành phố Hồ Chí Minh, 06/11/2015 

Kính gửi: Ông Tập Cận Bình,
Chủ tịch – Tổng Bí thư Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Thưa Ông!
Tôi đã từng được cử qua Trung Quốc học và công tác vào năm 1957-1958. Tôi đã từng thật sự rất tự hào về tình hữu nghị Việt Nam – Trung Hoa. Dù đã trải qua hơn nửa thế kỷ nhưng tình cảm đó luôn ở trong trái tim tôi. Sau này tôi đã từng cùng các bạn Trung Quốc sang Việt Nam thức đêm hát vang bài ca Việt Nam – Trung Hoa (越南中国với tình cảm dạt dào tình hữu nghị, tình anh em mà tôi không thể nào quên: “Việt Nam – Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông…”
Tiếc thay nghĩa tình cao đẹp đó sớm bị phai mờ bởi nhiều thăng trầm, thử thách trong quan hệ hai nước. Cho đến khi nghe tin Ông lên lãnh đạo Trung Quốc. Tôi và mọi người trong gia đình tôi đã rất vui mừng. Tôi nghĩ Ông là người rất có tài và có tầm. Ông đã được Lý Quang Diệu, cựu Thủ tướng Singapore đánh giá: “Tôi xếp ông ấy vào mẫu người như Nelson Mandela…”
Tôi nhớ khi sang thăm Mexico vào ngày 4/6/2013, ông có lời phát biểu làm tôi rất ấn tượng: “…Thứ nhất, Trung Quốc không xuất khẩu Cách mạng; thứ 2, Trung Quốc không xuất khẩu đói nghèo; và thứ 3, Trung Quốc không đến để gây ra những cơn nhức đầu, có gì phải nói thêm hay không?”.
Và một câu nói của Ông vào ngày 15/5/2014 về tinh thần yêu chuộng hòa bình của người Trung Quốc làm lòng kính nể và tin tưởng của tôi đặt vào Ông tăng lên bội phần: “Trong máu người Trung Quốc không có gen xâm lược”.
Nếu ông đã có thể nói được những câu nói vô cùng ý nghĩa đó, thì tôi rất tin là ông sẽ lãnh đạo nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa làm đúng như những gì ông đã nói. Và đó là niềm vui mừng của nhân dân Việt Nam chúng tôi.
Sự kiện 64 người lính Hải quân Việt Nam bị Hải quân Trung Quốc giết hại một cách dã man ở đảo Gạc Ma trên bức tranh đã làm tôi và gia đình vô cùng thổn thức, đau lòng, và từng làm tổn thương sâu sắc những ký ức tốt đẹp đã có của tôi. Nhưng tôi tin là nguyên nhân sự việc đó là do người tiền nhiệm trước đây của ông, chứ không phải do ông gây ra, nên rất có thể ông không được biết. Nên nếu được phép, tôi thay mặt những người Việt Nam yêu nước muốn trao tặng Ông bức tranh ý nghĩa này.
Tôi biết ông cũng rất quí trọng tình hữu nghị giữa hai nước vốn có mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông đã dày công xây dựng. Và với tình cảm đó, tôi nghĩ Ông cũng rất yêu thương những người lính Trung Quốc và người lính Việt Nam. Tôi không biết cảm xúc của Ông sẽ như thế nào khi nhìn thấy cảnh những người lính Việt Nam trong bức tranh bị bắn bằng súng có sức hủy diệt và sát thương cao trong khi trên tay không hề có một tấc sắt tự vệ? Tôi đã tự hỏi không biết bao nhiêu lần: Sao bên Trung Quốc lại cố ý bắn và hủy diệt những người lính trẻ của chúng tôi? Để họ phải chết tức tưởi bỏ cha mẹ, bỏ vợ, bỏ con hả Ông? Tôi tin Ông chắc hẳn cũng rất đau lòng – cũng như cảm xúc của chúng tôi khi nhìn thấy những người lính Trung Quốc đang trong hoàn cảnh tương tự trong các bộ phim.
Ước nguyện của tôi và gia đình tôi cũng như của tất cả người dân Việt Nam muốn gửi tới Ông thông qua bức tranh này là mong muốn nhân dân hai nước luôn sống trong hòa thuận và tình hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau. Tôi năm nay đã 88 tuổi, vào độ tuổi mà bất kỳ ai cũng đã hạnh phúc, mãn nguyện với con cháu rồi – nhưng với tôi – vào những tháng năm cuối cùng của cuộc đời lại có mong muốn tột cùng là làm được những gì trước giờ mình chưa kịp làm, để đến khi nhắm mắt xuôi tay, tôi không còn gì phải ân hận, nuối tiếc nữa: Tôi ước nguyện với Đất Trời là từ nay và mãi mãi về sau, không có bất kỳ một người dân, người lính Việt Nam và Trung Quốc nào phải nằm lại giữa biển khơi như những người lính Gạc Ma trong bức tranh này.
Tôi rất tâm đắc câu nói của một cháu gái người Việt gốc Hoa vừa rồi khi nói về lời dạy của ông bà Tổ tiên của cô bé: “Đừng bao giờ chiếm lấy bất cứ cái gì mà vốn ban đầu không thuộc của mình, dù với bất kì lý do, mục đích gì đi nữa; và nếu đã lỡ lấy rồi, tốt hơn là hãy trả lại cùng với một lời xin lỗi”. Vì nó rất đúng với câu nói nổi tiếng của nhân loại “Cái gì của Caesar hãy trả lại cho Caesar”Vì không ai chết đi mà mang theo được bất kỳ điều gì – trừ danh tiếng con người để lại.
Tôi ước mong điều ước nguyện này trở thành hiện thực thay cho dân tộc Việt Nam vì tôi không muốn con cháu mình phải đi đòi, đi làm những gì mà cha ông chúng có thể làm được ngay bây giờ.
Kính thư và chúc Ông nhiều sức khỏe,
Ho Chi Minh city, 6th November 2015

Dear Mr. Xi Jinping,
President – General Secretary of the People’s Republic of China
Dear Sir!
I was one of the Vietnamese people who have the honor to be selected coming to China for training and working during the period of 1957 – 1958. At that time, I was proud of the friendship between Vietnam and China. It it has been through half of a century, yet those feelings are still in my heart. A very long time later, I also had a chance to stay all night and sing along with Chinese friends the song “Vietnam – China”(越南中国with the emotional feelings that I shall never forget: “Vietnam – China, mountains by mountains, rivers near rivers…”
Unfortunately, those beautiful sentimental attachments are soon faded through many vicissitudes and challenges which affect the relationship of the two countries. When I heard you to be nominated as the new President of China, together with my family, we were really glad as you are a very talented and outstanding person. We know that Lee Kwan Yew, the former Prime Minister of Singapore, gave nice words on you in his speech: “I would put him in the Nelson Madela class of persons…”
I was really impressed by your speech in your visit to Mexico on 4th June 2013 that: “…China does not export revolution, hunger, poverty, nor does China cause you and headaches. Just what else do you want?”
Especially, it was your statement about the Chinese peace – loving spirit on 15th May 2014 that has strongly increased my respect and trust on you:“There is no gene for invasion in Chinese people’s blood”.
If you could speak out those meaningful statements, then I strongly believe that you will be able to lead the People’s Republic of China to do exactly what you had stated. That will be the joy for our Vietnamese people.
The incident of brutally killing 64 Vietnamese navy soldiers by the Chinese navy in Gac Ma island as described in the painting really makes me and my family sobbing, heartbroken and deeply hurt the old good memories of mine. However, I believe the reason for that incident comes from your predecessors, not you, so you can heal by stopping this. Therefore, if permitted, on behalf on Vietnamese patriotics, I would like to give you this meaningful painting.
I know about your high esteem for the friendship between the two countries that both Presidents Ho Chi Minh and Mao Zedong have built. And with that esteem, I suppose you also have the love for Chinese and Vietnamese soldiers. How do you feel when seeing Vietnamese soldiers getting shot by destructive and lethal weapons while they are unarmed? I also have wondered many times: How can China shoot and destroy on purpose our young soldiers? Let them died in resentment, leaving their parents, wives and children? We are all heartbroken. I bet you will have such of that feeling if Chinese soldiers in the same circumstances.
With this painting, I would like to send you the desire of not only me and my family but also all Vietnamese people that the people of the two countries will be living in peace, friendship and mutual respect. I am 88 years old now, the age that people should be happy and satisfied with family – however to me – in the last years my life, my utmost desire is to complete what has not been done before passing away: I wish to God that from now and ever after, there will be no Vietnamese or Chinese civillian or soldier have to lost their life in the Vietnamese Eastern Sea like the Gac Ma soldiers in this painting.
I fully agree with the words from a Vietnamese little girl with Chinese origin about her ancestor’s teachings:“Never try to take what is not belong to you at first, for any reason or purpose; and if you have taken it, better to return with an apology”. These words really matchs with the famous saying: “Render to Caesar the things that are Caesar’s” – Because we can not bring anything with us when passing away – except our reputation.
I wish that my desire would come true on behalf of the Vietnamese people because I do not want our next generation have to ask or do what theirs ancestors can do right now.
Best regard and wishing you a perfect health,
Tái bút:

Thưa Ông,
Hôm nay nay nghe Ông phát biểu trước Quốc Hội Việt Nam, Quốc Hội đại diện cho dân, còn tôi thay mặt cho 90 triệu người Việt Nam, xin được bổ sung vào lời phúc đáp của Chủ Tịch Quốc Hội gửi đến Ông:
Ngày đầu tiên Ông đến thăm Việt Nam, Ông nói Ông rất trân trọng tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam – Trung Quốc, thế thì sao Ông không trao trả ngay các hòn đảo, các bãi đá ngầm ở Hoàng Sa, Trường Sa mà quân đội Trung Quốc đã và đang chiếm đóng và dùng vũ lực xâm chiếm trái phép của Việt Nam?     Tôi rất cảm ơn Ông và chính quyền Trung Quốc đã hỗ trợ về vật chất, tiền bạc cho Việt Nam trong lúc này – nhưng việc nào ra việc nấy. Tổ tiên dân tộc chúng tôi không cho phép chúng tôi nhận vật chất hay tiền bạc của bất kỳ ai để đánh đổi chủ quyền những hòn đảo vốn của chúng tôi đã thấm máu của những người lính Việt Nam, và 90% vùng biển Đông của dân tộc chúng tôi có từ muôn đời mà Ông đã tuyên bố thuộc về Trung Quốc trong lý luận đường lưỡi bò phi lý và trái ngược với tất cả đạo lý, luật pháp biển quốc tế.
Tôi cũng rất lo lắng và ngạc nhiên với lời Ông tuyên bố trong chuyến thăm Vương quốc Anh ngày 18/10/2015. Ông đã trả lời phỏng vấn hãng thông tấn Reuters bằng văn bản, với cả 2 ngôn ngữ, tiếng Trung và tiếng Anh, trong đó khẳng định rằng “các đảo ở Biển Đông là “lãnh thổ Trung Quốc” từ thời cổ đại, là do tổ tiên nước ông để lại?!” Ông có thể chưng ra các bằng chứng, văn bản đó của tổ tiên Ông được không? Chúng tôi cũng có tất cả bằng chứng và văn bản lịch sử khẳng định các đảo ở Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam.
Trước giờ tôi rất tin tưởng ở Ông, còn bây giờ tôi lại rất lo, khi người lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc công khai lôi “gia phả tự chế ra để nói có “chủ quyền lịch sử”, “chủ quyền từ thời cổ đại” đối với các đảo của Việt Nam ở Biển Đông trước dư luận quốc tế, bất chấp luật pháp và công lý thì sắp tới, có lẽ Biển Đông của chúng tôi sẽ ít có ngày được bình yên.
Chắc chắn Ông đã có sự nhẫm lẫn nào đó trong việc rất quan trọng này rồi. Rất mong Ông hãy thức tỉnh và suy xét cẩn trọng lại một cách thành tâm nhất. Cảm ơn Ông!
Một người Việt Nam rất kính trọng Ông,
NGUYỄN CÔNG NGHỆ
88 tuổi – 68 năm tuổi Đảng
Nguyên Giám đốc Đài phát tín đầu tiên tại Việt Nam

P/S:

Dear Sir,
I have heard your speech at the Vietnam National Assenbly today. As the National Assembly represents the people, on behalf of 90 million Vietnamese, I would like to add on the Chairman’s reply to you these points:
On the first day of your visit to Vietnam, you stated that you highly appreciated the friendship between Vietnam – China. If so, why don’t you immediately return the islands and reefs in the Vietnamese Paracel and Spratly Islands which were and are illegally occupied and invaded by the Chinese army? I would like to thank you and the Chinese government for the support in both money and material for our country at the moment – however, we should make things clear. Our ancestors will never allow us to receive money or material to exchange with the sovereignty of not only the islands which were already spilled by Vietnamese soldiers blood but also 90% of the Eastern Sea that you have announced to belong to China in the Nine – dash line argument which were unreasonable, against all ethics and United Nations Convention on Law of the Sea – UNCLOS.
Also, I am extremely worried and surprise with the declaration in your visit to the United Kingdom on 18thOct 2015. Following the interview with Reuters, in dual language – Chinese and English, you stated that: “The islands and reefs in the South China Sea are Chinese territories since ancient times. They are left to us by our ancestors”?! Would you please showing any evidence or document from your ancestors? Because we also have historical evidences and documents to prove that the Paracel and Spratly Islands belong to Vietnam.
I had strongly believed in you before. However, I am now very worried when the highest Chinese leader brings the “homemade genealogy” to talk about“historical sovereignty” or “sovereignty from the ancient time” toward Vietnamese islands in our Eastern Sea in front of the international public opinion, regardless of the Law and Justice. Maybe, the Vietnamese Eastern Sea is not going to be peaceful in the future.
You must be mistaken in this important matter. Therefore, I’m really looking forward to your awakening and honesty reconsideration. Thank you!
A Vietnamese who strongly respect you,
NGUYEN CONG NGHE
88 years old – 68 years of Vietnamese Communist Party
Former Director of the first Transmitting Station in Vietnam


胡志明市,2015年6月11日

尊敬的中华人民共和国主席习近平先生

尊敬先生!

我是阮工艺,乃一个爱国者。自1957年至 1958年,我有机会在中国念书及参加工作。当年,我为中越两国友谊感到十分骄傲,而50年后那份感情还是依然不变的。后来,每次跟中国朋友们聚集在一起的时候,我们都自豪地唱起“越南中国”__那首充满着友谊、充满着兄弟情的歌:“越南中国,山连山水连水…”

可惜,随着两国关系风云,那种珍贵的友谊也早就面对了不少困难与挑战。当我知道习先生担任中国主席的时候,我们全家人都很高兴。我自己认为先生是一位有才华,有眼光的人物,因为以前,新加坡首相李光耀先生曾经对先生有这样的评价:“我想,他应该属于纳尔逊·曼德拉级别的人物”。

我还记得,2013年6月4日当贵先生到墨西哥访问的时候,曾经说过:“中国一不输出革命,二不输出饥饿和贫困,三不去折腾你们,还有什么好说的。” 这一句话实在给我很深刻的印象。

在于2014年5月15日,贵先生对于中华人民爱和平的精神也发表过:“中华民族的血液中没有侵略他人、称霸世界的基因”。这句话使我对先生的信任与尊敬越来越大。我相信先生既然说得到那些有道理的话,一定也能够领导中国人民共和国走向正义的途径。那就是中华,越南以及是世界人民的福气了。

习先生知道吗?这幅画儿所描写的是嘎麻礁事件(1988年3月,在于嘎麻礁, 64名越南海军为了保护国家主权而被中国海军残暴地杀害)。此画儿不仅令人伤心,还大大伤害了我心中的中国印象,但是我想,其原因来自你们以前的那些领导,而不是贵先生的错误,你可能对这事件的信息也不很清楚,所以今天我请代表越南所有的爱国分子特意送给贵先生该幅画儿,请贵先生收下。

我相信贵先生也很重视中越两国友谊,珍惜胡志明与毛泽东主席的革命成果,爱惜两国人民的生命。看到了那些年轻军人手上没武器,但还是被对方疯狂地残杀,失去了生命,与家庭永不团圆,我知道贵先生也会像我一样感到心酸,因为任何牺牲都一样珍贵嘛。不论是越南军还是中国军,若为了正义而卧在沙场上,都值得我们佩服的。

如今,通过这幅画儿,我们要向贵先生表示我国人民的一个愿望,那就是中越人民互相尊重,和睦相处。我今年已经88岁了,可以说对一生所有的事情都很圆满了。在于生命最后的这段时光,我很想将这个愿望实现出来,这样,我一命归天之后也没什么后悔的。我祈祷向天,愿从此以后两国人民永远不会遇到像嘎麻礁事件的那种惨境了。

前几天,我听一位华侨女儿童说了这样一句话,乃他们祖先的道理之一:“当初不属于我们的,请不要以任何理由来抢夺”。 “凯撒的归凯撒,上帝的归上帝”,先生也许也理解。我们现在所做的事情,后代史册都会很公平地评价,那为什么不给他们留个芳名呢?

我代表越南人民希望,这个愿望很早就能够实现,因为咱们这一代人可做的事情请别让后代去做.。

致敬

祝先生身体健康

 

附笔,

尊敬先生!

今天听到先生对越南的国民大会发表, 国会代表人民, 我代表9000万人口的越南, 请加入答复的国会主席送往先生:

第一天,先生访问越南, 在今天的发表, 先生说,很珍惜越中两国人民的友谊, 那为什么没有立即归还 越南黄沙和长沙的岛屿,暗礁? 这些岛屿被中国军队占领占用和强行强行非法侵占. 我感谢先生和中国政府的支持材料和金钱在这个时候, 但每一件事必须明确.

我们的祖先不允许我们接受任何个人的材料或金钱让交换 我们的海洋主权.

我很担心并惊讶于先生在英国访问期间宣布的话。2015年10月18日接受路透社采访时,在书面采访中向路透社表示,先生用中文与英文肯定: “南海诸岛自古以来就是中国领土,这是老祖宗留下的。“ 先生可以证明的证据,文件的祖先,是不是?我们所有的证据和历史依据,确认长沙黄沙群岛属于越南.

之前,我很信任先生,但现在我很担心,当中国的最高领导人在国际舆论面前公开拖“自制族谱”说“历史主权”“主权古时” 对于越南东海岛屿, 尽管法律和正义公理. 即将到来也许我们的东海就没有什么和平的一天。

一定先生有什么错误.

我们希望先生谨慎了。

谢谢!

一个很信任贵先生的人

阮工艺 – 88岁 – 68年党龄

越南的第一个无线电发射台的前主任

Văn hóa chính trị và lòng dân – VHNA

27 Th10

  •   BÙI ĐÌNH PHONG
  • Thứ hai, 09 Tháng 12 2013 23:31
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
 

Văn hóa chính trị là điều kiện bảo đảm lòng dân và lòng dân là thước đo văn hóa chính trị

I

CHƯA CHẾT VỀ THỂ XÁC ĐÃ CHẾT VỀ ĐẠO ĐỨC

VI.Lênin có nói đại ý rằng con người có 3 cái chết: cái chết về thể xác, cái chết về chính trị và cái chết về đạo đức. Có những người chưa chết về thể xác nhưng đã chết về chính trị.

Thế giới và Việt Nam, xưa và nay đều có những con người như vậy.

Câu dẫn trên đây có liên quan đến văn hóa chính trị và lòng dân.

Bác Hồ dạy: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng/Không sợ nghèo, chỉ sự lòng dân không yên”.

Tại sao lòng dân không yên? Không phải vì GDP xuống thấp. Không phải vì nghèo (mà nước ta có còn nghèo nữa đâu, là nước thu nhập trung bình). Vì văn hóa chính trị xuống cấp.

Sự xuống cấp của  văn hóa chính trị biểu hiện ở những khía cạnh nào?

Trước hết,ở tư duy và tư tưởng, cách suy nghĩ và xem xét vấn đề.

Văn hóa chính trị phải có một tư duy biện chứng, khoa học và cách mạng. Nhưng gần đây, qua các phương tiện thông tin đại chúng, người dân nghe được nhiều phát ngôn chứa đựng kiểu tư duy phản biện chứng, phản khoa học, không có tinh thần cách mạng. Đó là những phát ngôn đổ lỗi cho khách quan, nhận lỗi tập thể và các cấp đổ lỗi cho nhau, mà không thấy trách nhiệm cá nhân. Xung quanh nhiều vụ việc nổi cộm gần đâycủa ngành y tế, nhiều phóng viên đề cập dư luận cho rằng Bộ trưởng y tế nên từ chức, chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ trả lời rằng vấn đề nghiêm khắc nhưng phải lý trí. Theo ông, “không phải việc xảy ra là nghĩ ngay từ chức”. Mà điều đầu tiên nghĩ tại sao tình hình lại như vậy, do chủ quan của ngành mình hay do khách quan, do thời kỳ mình chỉ đạo hay do nhiều thời kỳ dồn lại, quan trọng phải có một quyết tâm, lộ trình, kế hoạch làm sao tình hình tốt hơn với trách nhiệm của mình”. Ông cho rằng Bộ trưởng được Đảng phân công, Quốc hội – cơ quan quyền lực cho đại diện của nhân dân – phê chuẩn. Điều quan trọng nhất khi đứng ở cương vị của mình là làm hết trách nhiệm, tâm sức của mình. Ông khẳng định trước thông tin báo chí phản ánh đa chiều, rộng rãi, các bộ trưởng, lãnh đạo ngành đều nhận rõ trách nhiệm của mình để không phụ lòng dân”.

Dư luận ái ngại và ngơ ngác về kiểu tư duy như vậy. Bài viết này không nói cụ thể việc từ chức hay không từ chức mà bàn về cách tư duy của lãnh đạo. Ở đây không phải là một việc xảy ra mà là mộtchuỗi sự kiện chứa đựng thiếu tinh thần trách nhiệm. Vấn đề không phải là Đảng phân công và Quốc hội phê chuẩn thì không thể không nói: “Tôi xin từ chức”. Đây là vấn đề thuộc văn hóa lãnh đạo, thuộc về tự trọng cá nhân. Một người lãnh đạo được Đảng phân công và Quốc hội phê chuẩn, khi tự thấy mình nhiều lần không hoàn thành trách nhiệm Đảng phân công, nhân dân giao phó, thì nói “xin từ chức” là chuyện bình thường, rất văn hóa, rất chính trị, rất con người. Còn chuyện có được từ chức hay không lại do nhân dân có cho phép hay không. Mà cũng không nên chờ nhân dân cho phép. Nếu mình thật sự có trách nhiệm với dân, với Đảng thì nên “đi trước” Đảng và nhân dân một bước trong việc từ chức. Đó mới thật sự là lý trí. Lý trí không nằm ở chỗ “kiên quyết rút kinh nghiệm”, “kiên quyết làm hết trách nhiệm”, “lãnh đạo đều nhận rõ trách nhiệm của mình để không phụ lòng dân” hay “có văn bản chỉ đạo, chỉnh đốn, rà soát lại các quy định, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra…”.

Người dân cũng bàn đến tư duy, cách nghĩ, tầm nhìn của các đại biểu trong các cuộc sinh hoạt chính trị lớn của Đảng, Quốc hội khi một số cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng mà vẫn dành được nhiều phiếu tín nhiệm cao.

Thứ hai, văn hóa chính trị xuống cấp biểu hiện ở chỗ thiếu tinh thần trách nhiệm, buông lỏng quản lý nhà nước

 Dư luận nói nhiều về câu chuyện “con voi chui lọt lỗ kim”. Hoặc “mất bò mới lo làm chuồng”. Thật ra, chẳng phải “con voi”, “lỗ kim”; “chuồng” hay “bò” gì cả. “Chuồng” có nhiều và có từ lâu rồi nhưng có ai trông đâu và nếu có trông thì toàn là những người thiếu đạo đức. Cần phải nhấn mạnh và khẳng định rằng ở nước ta, hệ thống lãnh đạo, quản lý thuộc hệ thống chính trị là hoàn chỉnh nhất. Chúng ta buông lỏng quản lý và không có quản lý. Đến khi có vấn đề xảy ra thì lại chỉ đạo rà soát, kiểm tra, kiểm điểm…

Thứ ba, liên quan đến quản lý, sự xuống cấp của văn hóa chính trị biểu hiện ở nạn tham nhũng và vấn đề lợi ích nhóm

 Nói không quản lý hay buông lỏng quản lý là một cách nói. Còn một cách nói khác là có quản lý theo kiểu lợi ích nhóm. Những người làm công tác quản lý biết cả, nhưng bao che, thông đồng vì được hưởng về lợi ích. Một cái ụ nổi sắt vụn một mình Dương Chí  Dũng không thể nuốt trôi mà phải có cả một nhóm. Một cơ sở thẩm mỹ viện ngang nhiên tồn tại mặc dù không có giấy phép vì nó nuôi cả một nhóm…

Thứ tư, chính sách không hợp lòng dân

 Vừa qua một số chính sách đưa ra không xuất phát từ thực tế, không tôn trọng quy luật khách quan, không hợp lòng dân. Những chính sách đó xuất phát từ ý chí chủ quan, chạy theo bệnh thành tích, và không loại trừ xuất phát từ lợi ích nhóm. Vì vậy, chính sách đưa ra bị ngay sự phản ứng dữ dội của dư luận, của nhân dân và cuối cùng phải bãi bỏ. Lại có loại chủ trương, chính sách đưa ra kiểu trên trời, biết không thực hiện được vẫn ban hành. Cho đến nay, không biết chúng ta đã phạt được bao nhiêu trường hợp nghe điện thoại ở cây xăng hay hút thuốc lá nơi công cộng?

Thứ năm, văn hóa chính trị xuống cấp biểu hiện ở luật pháp không nghiêm

Người dân mong rằng việc xử lý tham nhũng và những người thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng phải noi theo tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh.  Người dạy: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào và làm nghề nghiệp gì”. Và chính Người đã y án tử hình Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục quân nhu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp vì tội tham nhũng. Tính văn minh của một nhà nước pháp quyền không thể để tình trạng như hiện nay, 70% vụ án tham nhũng lại được hưởng án treo, còn những vụ việc lặt vặt lại phải vào tù.

Sự xuống cấp về văn hóa chính trị của cá nhân nhà chính trị là cái chết về đạo đức. Văn hóa chính trị xuống cấp ở một số biểu hiện nêu trên làm cho lòng dân không yên, giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Mà mất lòng tin là mất tất cả.

II

CÁI CHẾT GIEO MẦM CHO SỰ SỐNG

Cũng như Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuộc lớp người đặc biệt, cái chết gieo mầm cho sự sống, đời đời bất diệt theo cách nói của Phiđen Caxtơrô.

Triệu người lặng lẽ xếp hàng trật tự cả ngày dưới trời nắng, thâu đêm đến viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở 30 Hoảng Diệu. Hàng vạn người đứng dọc đường tiễn biệt Đại tướng và có mặt ở Vũng Chùa – Đảo Yến đưa ông về nơi an nghỉ cuối cùng. Đó là biểu hiện của lòng dân. Hình ảnh người dân xếp hàng đã được Hồ Chí Minh nói đến gần 70 năm trước: “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”. Lòng dân với Đại tướng là biểu hiện rực rỡ nhất triết lý của Nguyễn Trãi về dân: “Chở thuyền là dân. Lật thuyền là dân. Lật thuyền mới biết dân như nước”.

Dân xếp hàng mấy ngày để được nhìn Đại tướng lần cuối cùng không chỉ là sức dân, trí dân, lòng dân, quyền của dân nói với người đã khuất mà quan trọng hơn là nói với chúng ta, những người có trách nhiệm phục vụ dân, công bộc của dân, đày tớ của  dân, những người chủ mang ý nguyện của trời.

Cũng như Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trở thành văn hóa. Mà “văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên đi tất cả; là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả” (Edouard Herriot). Văn hóa Võ Nguyên Giáp quy tụ được lòng dân, và vì vậy, mãi mãi là Đại tướng của lòng dân./.

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG: Tin tuần từ 19/10-25/10 – NCBĐ

27 Th10

Thứ hai, 19 Tháng 10 2015 09:39 dinh tuan anh

Share:

-(Tuoitre 22/10) Trung Quốc đe dọa “đáp trả” nếu Mỹ tuần tra biển Đông: Phản ứng gay gắt của Tân Hoa Xã cho thấy sự lo ngại của chính quyền Trung Quốc với quyết tâm tuần tra của Mỹ; (Dantri 22/10) Vũ lực không phải là giải pháp cho vấn đề Biển Đông

-(Thanhnien 22/10) Biển Đông trong quan hệ Mỹ, Anh, Trung Quốc: Mỹ coi Biển Đông là một trong những vấn đề quan trọng còn Anh gần như chỉ chú trọng đến lợi ích kinh tế thương mại với TQ; (BĐV 22/10) Trung Quốc nói ngang ngược về hải đăng

-(Giaoduc 22/10) Mỹ triển khai tàu khu trục mạnh nhất can dự Biển Đông, ngăn chặn Trung Quốc: Tàu khu trục tên lửa USS Benfold Mỹ đã chính thức được triển khai ở căn cứ Yokosuka Nhật Bản; (Vnplus 21/10) Trung Quốc-ASEAN tham vấn về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông

-(Nlđ 21/10) Ngoại trưởng Philippines và Việt Nam cùng lên tiếng về Biển Đông: “Chúng ta có lợi ích chung về việc giải quyết những tranh chấp trên biển dựa trên luật pháp quốc tế;” (Zing 21/10) Trung Quốc xây thêm 2 hải đăng trái phép trên Biển Đông

-(Tienphong 21/10) Mỹ cảnh báo nguy cơ xung đột vũ trang ở biển Đông, đe dọa ổn định khu vực, nền kinh tế toàn cầu và liên quan tới Mỹ; (Giaoduc 21/10) Trung Quốc bành trướng Biển Đông còn nguy hiểm hơn rất nhiều so với khủng bố

-(Dantri 20/10) Cựu ngoại trưởng Úc kêu gọi điều tàu tuần tra Biển Đông: Hiện có 3 tàu của Hải quân hoàng gia Úc đang hoạt động trong khu vực Biển Đông; (BĐV 20/10) Khả năng công-thủ toàn diện của chiến hạm Mỹ đến Biển Đông

-(Vnexpress 20/10) Đề xuất tập trận chung ở Biển Đông của Trung Quốc gây ngờ vực khi Mỹ đang lên kế hoạch điều chiến hạm để thách thức yêu sách chủ quyền của nước này; (Vietnamnet 29/10) Bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông nhiều thách thức

-(Tuoitre 20/10) Ông Tập phát biểu gây hấn về biển Đông khi thăm Anh: “Các đảo và đá trên Biển Đông là lãnh thổ Cha ông đã để lại chúng cho chúng tôi;” (Thanhnien 20/10) Mỹ sẽ ‘sập bẫy’ Trung Quốc ở Biển Đông?

-(Vnexpress 19/10) Philippines chỉ trích Trung Quốc xây hải đăng ở Biển Đông và cho rằng đây là phương tiện để Bắc Kinh hiện thực hóa yêu sách chủ quyền; (Giaoduc 20/10) Tại sao Trung Quốc lại mời Hun Sen nói về Biển Đông tại “Hương Sơn luận kiếm”?

-(Vnexpress 19/10) Trần Công Trục: ‘Tàu tuần tra Mỹ không phải bảo bối ở Biển Đông’ và khó giúp thay đổi căn bản tình hình ở đây; (Tienphong 19/10) Bắc Kinh sẽ tìm cách từ từ ‘nuốt’ biển Đông

-(Tuoitre 19/10) Báo Trung Quốc kêu gọi đối đầu với Mỹ trên biển Đông trước thực tế hải quân Mỹ đang chuẩn bị hành động; Mỹ sẽ sớm điều tàu tới Biển Đông

-(Vnexpress 18/10) Malaysia tố Trung Quốc khiêu khích ở Biển Đông tại một diễn đàn an ninh mới được tổ chức tại Bắc Kinh; Toan tính của Trung Quốc khi xây hải đăng phi pháp ở Trường Sa

-(Giaoduc 18/10) Tập Cận Bình: Biển Đông của tổ tiên để lại, dùng “gia phả tự chế” đòi chủ quyền, không thể chỉ dựa vào vũ lực; (Vnplus 18/10) Mỹ thông báo sẽ sớm điều tàu hải quân tới Biển Đông

Nguyễn Văn Vĩnh và tờ báo Nước Nam mới đã từng được giải thưởng Grand Prix năm 1932 – VHNA

19 Th10

  •   NGUYỄN LÂN BÌNH
  • Thứ tư, 14 Tháng 10 2015 15:58
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
 
Nhà văn, nhà báo Nguyễn Văn VĩnhNhà văn, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh

 

Một số tài liệu trong quá khứ, đặc biệt là nửa đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, khi nhìn nhận về Nguyễn Văn Vĩnh đã nêu những nhận định rất chủ quan, phiến diện cùng sự thành kiến, thậm chí cả những sự quy chụp do những hoạt động của Nguyễn Văn Vĩnh trong lĩnh vực văn hóa rất rộng lớn, đa dạng và hoàn toàn mới lạ. Trong những góc tối đó, thường những cá nhân và tổ chức mang trong lòng những định kiến về Nguyễn Văn Vĩnh, bị chi phối với nhận thức mang tính suy diễn thiếu biện chứng rằng: kẻ giầu có – là kẻ bóc lột, kẻ giỏi giang – là kẻ thân cận với bộ máy cai trị, kẻ nổi danh – là kẻ xu nịnh, kẻ nói khác mình – là kẻ theo giặc….

Sự mặc cảm của những nhóm người này với một người như Nguyễn Văn Vĩnh, kẻ luôn coi canh tân là lý tưởng, là động cơ để tồn tại đã đẩy họ sang thái cực của sự bài bác. Nhóm người mang mặc cảm đó chỉ nhìn thấy một Nguyễn Văn Vĩnh tác phong không truyền thống (mặc âu phục), nói tiếng Tây (như Tây), lúc nào cũng sẵn sàng thẳng băng phê phán không phải chỉ những tập tục cổ hủ trong đời sống sinh hoạt, mà cả những gương mặt được coi là thần tượng, bất khả xâm phạm trong số đông, hệ quả của lối tư duy sùng bái… Trong khi, nói như nhà sử học danh tiếng Nguyễn Đình Đầu:“Cụ Vĩnh không thích nịnh ai, cũng không thích ai nịnh mình. Cụ không sùng bái ai và cũng không thích ai sùng bái mình. Cụ chống vua quan là vì thế!”(Phát biểu trong bộ phim tài liệu lịch sử Người Man di Hiện đại-2006).

Nhóm người mang tư tưởng chỉ trích Nguyễn Văn Vĩnh gồm cả trong hệ thống quyền lực và cả một bộ phận trong tầng lớp các nho sỹ là sản phẩm của nền giáo dục cựu học. Họ lo sợ tư tưởng của ông, sợ sự phát triển của dân trí, dẫn người dân đến nhận thức đầy đủ về nhu cầu phải được thay đổi tận gốc không phải chỉ hệ thống cai trị mà cả những tập tục nhiều đời trong lối sống, trong tập quán mà đó lại chính là công cụ gặt hái lợi ích, là nguồn thu của hầu hết các thành viên của bộ máy cầm quyền. Họ biện lý rằng đó là lề…là thói dưới danh nghĩa phong tục do tổ tiên để lại. Sự thành kiến đã đưa họ đến chỗ không quan tâm, không xem xét những nội dung, lời lẽ và tư tưởng của đối tượng mà họ đã mang nặng định kiến.

Nhìn lại quá khứ qua các sử liệu và di cảo do Nguyễn Văn Vĩnh để lại, hầu như những người chỉ trích ông không hiểu được bao nhiêu những lý lẽ mộc mạc, đôi khi pha chút sống sượng nhưng thực sự nghiêm túc và hoàn toàn có ích. Đáng tiếc vì tính bảo hoàng, họ đã dựng lên một sự ngăn cách kéo dài trước những tư tưởng mới mà Nguyễn Văn Vĩnh cho rằng không thể thiếu để xây dựng một xã hội phát triển như: tư duy lô zích, khả năng phản biện (biện chứng), khoa học triết học, giáo dục nhân văn, kỹ thuật công nghệ, văn hóa văn nghệ, y tế và thể thao…

NGƯỜI NAM MỚI

Xét quan điểm và suy nghĩ của Nguyễn Văn Vĩnh qua các trang viết, không ai không đồng ý rằng cả cuộc đời ông đã tận tâm tận lực, dồn tất cả trí tuệ và tài năng vào công cuộc xây dựng con chữ tiếng Việt (bảo vật quý của nước Tổ Việt-Lời tựa Tam Quốc Chí 1909). Ông lấy đó làm nhiên liệu để cho chạy cỗ máy văn hóa nhằm cải não và gieo mầm tri thức cho những người dân chân đất mắt toét, cực kỳ lạc hậu. Cỗ máy này là loại phương tiện mới lạ và đã trở thành thứ vũ khí duy nhất mà ông có trong tay, đó là làm báo. Ông tin gần như tuyệt đối rằng, báo chí chính là thứ vũ khí tuyệt diệu cho một cuộc đấu tranh để dẫn dắt một dân tộc trở nên thực sự độc lập về văn hóa, thoát ra khỏi vòng cương tỏa của lối sống hủ Nho bế tắc. Thứ vũ khí này sẽ giúp họ đến với nhận thức thế nào là nền dân chủ và phát triển, cơ sở cho sự tồn tại của một quốc gia độc lập.

Trong lịch sử tồn tại của Nhà nước Việt Nam, tất cả các thế lực ngoại bang đều tìm cách ngăn cản sự độc lập này, nhất là sự độc lập về văn hóa! Thậm chí, chính vì cái giá trị quan trọng đặc thù đó… nó đã giết chết Nguyễn Văn Vĩnh. Tuy nhiên, chắc chắn ông không hề nuối tiếc sự trả giá đó của mình.

Cần nhìn lại một cách hệ thống những diễn biến đã trở thành dấu ấn có tính chính trị quan trọng trong cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh, từ đó sẽ giúp xác định được tư chất, bản chất và phẩm chất của một con người hiếm gặp. Từ những sự việc này, ở một mặt khác, chúng ta cũng nhận thấy tính tích cực của nền dân chủ của một nước Pháp văn minh, và nó đã tự mâu thuẫn ra sao với chính sách kinh doanh thuộc địa hà khắc của Chủ nghĩa Thực dân khi họ áp dụng ở các nước nhược tiểu.

Hiểu được bản chất này, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi Nguyễn Văn Vĩnh giành được Giải thưởng Lớn – GRAND PRIX tại Hội chợ quốc tế về Báo chí Thuộc địa, tổ chức tại Paris năm 1932.

Nước Nam Mới được vinh danh

Nước Nam Mới mới đây vinh dự đón nhận Giải Lớn của Triển Lãm thuộc địa quốc tế tại Paris.

Cùng với Nước Nam Mới, chúng tôi đã trưng bày giới thiệu “Trung Bắc” và “Học Báo”. Hai tờ báo này  đã không có vinh dự nhận giải cành cọ.

Tấm bằng Giải Lớn do Ủy Ban Quốc Tế trao cho Nước Nam Mới rất đẹp, là hình ảnh thể hiện sự thành công của chúng tôi tại Pháp cũng như ở nước ngoài.

Chúng tôi chân thành cảm ơn các nhà chức trách về giải thưởng khích lệ này, cảm ơn các cộng sự gần xa đã đóng góp công lao quý giá cho sự thành công của chúng tôi.

Editor : Pascal De Lohen

Người dịch : Hương Giang.

NHỮNG DẤU ẤN CHÍNH TRỊ ĐẶC TRƯNG

1. Chính trị trong sáng.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục tan rã, Thủ lĩnh của Phong trào là Phan Châu Trinh bị Chính quyền Thực dân bắt giam, Nguyễn Văn Vĩnh mới 25 tuổi, là người bản xứ duy nhất đã điềm nhiên ký vào bản kiến nghị đòi Chính quyền phải trả tự do cho Phan Châu Trinh vì Phan Châu Trinh vô tội! Xin nhấn mạnh: phải trả tự do vì vô tội. Có nhiều tài liệu ghi lại rằng: các nhà yêu nước đã đòi Chính quyền ân xá, là một thực tế khác hẳn với nội dung hành động của Nguyễn Văn Vĩnh. Vì hành vi này, Nguyễn Văn Vĩnh nhận được ngay lời cảnh cáo tức khắc của một vị đại quan: “Đảo Côn Lôn còn rộng chỗ lắm đấy….Chú hãy liệu lấy!” (NXB. Nhất Tâm – Sài Gòn 1957). Sự kiện chính trị này đáp trả những ghi chép ngây ngô mang tính suy diễn của một số nho sỹ đương thời rằng, Nguyễn Văn Vĩnh không bị bắt vì là kẻ thân Pháp!!!

Các nho sỹ đó đâu có biết gì rằng năm 1906 Nguyễn Văn Vĩnh đã là người Việt Nam đầu tiên là thành viên của Hội Nhân quyền Pháp. Thậm chí khái niệm nhân quyền còn là một thứ xa lạ đối với xã hội đương thời. Họ cũng không thể hình dung được, vào thời điểm đó, những người Pháp đã phát hiện ra vô vàn những tố chất quý giá mà họ khao khát sở hữu cá thể đó để phục vụ cho chính sách cai trị, thôn tính An Nam trong lĩnh vực tư tưởng và văn hóa. Họ mới đi được nửa bước trong việc thai nghén một kế hoạch dài hạn để thu phục, biến Nguyễn Văn Vĩnh thành nhân tố đắc lực, toàn tâm toàn ý phục vụ cho một nước Đại Pháp. Vậy làm sao bắt Nguyễn Văn Vĩnh được?!

2. Chính trị hồn nhiên.

Vua Khải Định (1885-1925) được tấn phong năm 1916. Theo hệ thống hành chính cai trị của Thực dân Pháp, miền Trung có cơ quan đại diện được gọi là Tòa Khâm sứ. Tuy nhiên, theo thông lệ, nhà vua phải thực hiện việc yết kiến quan Toàn quyền Đông Dương (người có trọng trách cao nhất của nước Pháp ở Việt Nam-TG) như một hoạt động bắt buộc và Thủ phủ Toàn quyền được đóng tại Hà Nội.

Năm 1917, Đức Vua đã đi từ Huế ra Hà Nội. Ngài Toàn quyền Albert Sarraut (1872-1962) tổ chức buổi lễ khánh tiết trang trọng tại Dinh Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch Hà Nội-TG). Tại buổi lễ, vị Quan Toàn quyền và Đức Vua đứng ở vị trí trung tâm để nghênh tiếp các đại diện của hệ thống cai trị cùng các đại biểu của các tầng lớp xã hội đến bái lạy cung kính (hai tay nắm vào nhau để trước ngực và cúi chào-TG) như một hình thức trình diện trước bề trên của các bề tôi dưới quyền.

Nguyễn Văn Vĩnh đi đầu trong nhóm các đại biểu của Hội đồng dân biểu Bắc kỳ (1). Khi đối diện với ngài Toàn quyền Đông dương, do đã biết nhau, quan Toàn quyền đã thản nhiên giơ tay bắt tay Nguyễn Văn Vĩnh theo nghi thức phương Tây. Chứng kiến cách hành xử của quan Toàn quyền với Nguyễn Văn Vĩnh, lại đứng sát bên ngài Toàn quyền, cộng với phong cách Âu hóa, Vua Khải Định cũng rất tự nhiên giơ tay bắt tay Nguyễn Văn Vĩnh… Nguyễn Văn Vĩnh với phản xạ bản năng, sau khi bắt tay ngài Toàn quyền cũng đưa tay bắt tay Đức Vua Khải Định.

Hành vi này của Nguyễn Văn Vĩnh là không thể được chấp nhận nhìn ở góc độ quan hệ vua tôi xét theo các quy định của triều đình phong kiến mang tính luật lệ. Việc bắt tay nhà vua là điều cấm kỵ vì đó là hành vi xâm phạm thân thể (Ngọc thể) của Đức Vua. Quy định của các triều đại phong kiến luôn luôn nghiêm cấm tuyệt đối việc đụng chạm đến thân thể Nhà Vua, mà theo cách gọi của thể chế chính trị đó được gọi là Long Thể.

Toàn bộ các quan trong triều đình có mặt tại buổi lễ đã hoảng hốt ồ to lên trong thái độ sửng sốt trước việc phải chứng kiến hành vi vi phạm luật pháp một cách trắng trợn của Nguyễn Văn Vĩnh. Ngay buổi chiều cùng ngày, cơ quan pháp luật của Triều đình Nhà Nguyễn đã dâng lên Đức Vua bản cáo trạng nghiêm khắc lên án hành vi xâm phạm Long Thể Đức Vua của Nguyễn Văn Vĩnh. Theo quy định hiện hành, việc xâm phạm Long Thể của Đức Vua là mắc trọng tội, được gọi là tội khi quân (coi thường Triều đình-TG) và chỉ có một hình thức xử phạt: Chém đầu!

Khi buổi khánh tiết kết thúc, lúc Nguyễn Văn Vĩnh đi qua trước mặt các quan trong Triều, họ đã không ngần ngại phỉ báng ông là kẻ bán nước…đồ phản quốc, đồ đi với Tây! Nguyễn Văn Vĩnh đã điềm tĩnh nói lại một cách nhẹ nhàng với các vị quan đó rằng:“Các ông bảo tôi bán Nước…Nước người ta đã bán từ bao giờ rồi còn đâu đến lượt tôi để mà bán !”.  

Đêm hôm đó, cả Hà thành lan truyền tin, Nguyễn Văn Vĩnh bị xử trảm! Tin tức bay nhanh chóng đến khắp các hang cùng ngỏ hẻm của đất Thăng Long. Gia đình Nguyễn Văn Vĩnh rơi vào cảnh hoảng loạn, sợ hãi vì lo lắng. Tuy nhiên, bản thân Nguyễn Văn Vĩnh lại có thái độ hoàn toàn bình tĩnh trước bối cảnh phức tạp này.

Thật khôi hài vì khi các quan của cơ quan luật pháp đệ trình bản tấu lên Nhà Vua với nội dung đề nghị trừng phạt thái độ khi quân của Nguyễn Văn Vĩnh bằng hình thức chém đầu, Vua Khải Định đã bật cười và nói: “Chuyện có thế mà đòi chém người ta, các vị kỳ quặc thật!”.

Những lời nói trên của Đức Vua đến tai Nguyễn Văn Vĩnh, ông thở phào nhẹ nhõm và sau sự kiện chính trị chấn động ấy, bà Nguyễn Văn Vĩnh (Đinh Thị Tính 1881-1965. TG) đã sinh hạ người con trai thứ sáu và được đặt tên là Nguyễn Kỳ (1918-2013-TG) như một sự ghi nhớ cái sự kiện đầy hoảng loạn và không thể quên này. (Theo ghi chép của Phạm Huy Lục, nhân sỹ danh tiếng Bắc kỳ – Viện Trưởng Viện Dân biểu Bắc kỳ giai đoạn 1932-1936)  

3. Chính trị mặc định.

Năm 1925, Nhà yêu nước Phan Bội Châu (1867-1940) trở lại Việt Nam từ Trung Quốc. Trong 30 năm đầu thế kỷ XX, Việt Nam thuộc địa trở thành môi trường đã sản sinh ra không ít những gương mặt có chí khí, có lý tưởng tốt đẹp hướng đến một xã hội bình đẳng và dân chủ do được nhận thức và tiếp thu từ chính kẻ đô hộ mình. Ngược lại, những gương mặt khả kính đó cũng đã trở nên bất mãn tột độ khi phải chứng kiến những phương thức cai trị cực đoan đúng bản chất thực dân, thể hiện mặt trái của một đường lối chính trị thiếu sức sống và không linh hoạt, xuất phát từ tư duy bảo thủ của một nước Đế quốc già cộng với lối nhìn miệt thị một dân tộc kém phát triển bị coi là hạ đẳng.

Thực tế trong lịch sử đô hộ của thực dân Pháp ở Đông Dương, rất nhiều những nhân vật người Việt có tấm lòng ái quốc chân chính, có trí tuệ đích thực, họ trân trọng những bản sắc và đặc điểm tiến bộ về tính nhân văn và nền khoa học phát triển của dân tộc Pháp. Họ thành thật hy vọng vào một sự tồn tại theo thuyết lý các bên cùng tồn tại, cùng phát triển và cùng hưởng lợi. Nhưng như đã lý giải, vì bản chất thực dân, họ đã khước từ khuynh hướng chính trị này. Họ chỉ chấp nhận một nguyên tắc hết sức ấu trĩ, đó là đối phương phải thuần phục một cách thuần túy theo kiểu chỉ biết nghe lời. Ở giai đoạn lịch sử này, họ đã xử sự với các nhân sỹ xuất chúng người bản xứ theo hướng con đường một chiều, trong khi họ hiểu rất rõ, rằng với cuộc sống dân chủ chỉ có đường một chiều khi đi về nghĩa địa!

Napoléon Bonaparte (1769-1821), một vị tướng danh tiếng trong lịch sử nước Pháp đã từng nói về quan điểm chỉ huy và cách nhìn người, đó là: “Một bầy cừu chỉ huy bằng một con sư tử nguy hiểm hơn một đàn sư tử dẫn đầu bằng một con cừu”.

Nhìn lại lịch sử cai trị của Chính quyền Thực dân Pháp, họ thường tỏ ra không tin vào bất kỳ một nhà yêu nước có bản lĩnh người bản xứ nào, bất chấp cả nguyện vọng thành thực về một sách lược cực kỳ quan trọng của các nhân sỹ Việt Nam thời đó hướng đến chủ trương Pháp Việt Đề Huề. Chính Thực dân Pháp đã đẩy những nhân sỹ người Việt chân chính theo chủ trương đó biến thành trò hề lịch sử dưới con mắt của hậu thế, của chính đối tượng mà họ đã bị thua trận. Biến những con người yêu nước chân chính đó thành những phần tử xấu để các lực lượng chính trị khác dè bửu, đặt những gương mặt đáng trân trọng đó vào vị thế của sự tầm thường và là những kẻ cơ hội trong lịch sử (2). Thật là sự tệ hại!

Ở đời, khi số phận đã dẫn hai chủ thể đến với nhau vì bất cứ căn nguyên nào, thì nguyên tắc cần có đầu tiên để mối quan hệ tay đôi đó tồn tại không gây phương hại cho nhau, đó là phải tôn trọng cái tối thiểu, cái quyền được sống, được tồn tại của mỗi bên. Thôn tính nhau vì sự nghi kỵ, không có lòng tin, dẫn đến việc tìm cách triệt hạ lẫn nhau là tối kỵ, vì sau đó sẽ để lại sự hằn thù dai dẳng. Làm sao người Pháp, một dân tộc gắn với Công giáo lại không biết vị thánh Francis of Assisi đã dạy bảo họ ra sao từ hàng trăm năm trước rằng: Không ai đáng để được gọi là một kẻ thù, tất cả đều là ân nhân của bạn, và không ai làm bạn bị tổn hại. Bạn không có kẻ thù, ngoại trừ chính mình.
Sự việc Nhà cầm quyền Thực dân Pháp làm mọi cách để loại bỏ những người bản xứ yêu nước chân chính như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và rất rất nhiều nhà yêu nước khác người Việt có thiện ý, thậm chí rất tin tưởng ở sự mở mang, khai sáng cùng tồn tại giữa đôi bên, đã thể hiện một chính sách hoàn toàn bế tắc và cực đoan của một thể chế chính trị trong lịch sử.

Vì thế, năm 1926, cơ quan An ninh cao nhất của Chính quyền Trung ương Chính phủ Thuộc địa đã bắt cả Nguyễn Văn Vĩnh. Họ bắt ông vì sau 20 năm, bằng những nỗ lực tổng hợp đầy tính toán và khá bền bỉ, họ đã bất lực trong việc khuất phục Nguyễn Văn Vĩnh đi theo con đường chính trị thực dân. Họ đã đánh giá rất cao năng lực và ảnh hưởng của Nguyễn Văn Vĩnh đối với xã hội An Nam (Émile Vayrac – Trưởng Phòng sách báo bản xứ), nhưng lại đánh giá thấp sự kiên định và lòng ái quốc bất tận của ông trong việc đấu tranh cho một xã hội bình đẳng, tự do, sản phẩm của những tư tưởng tiến bộ mà Nguyễn Văn Vĩnh đã học được từ chính nước Pháp.

Vào 8h30 ngày 15 tháng 5 năm 1926, cơ quan An ninh tối cao Phủ Toàn quyền Pháp tại Đông Dương đã tra vấn Nguyễn Văn Vĩnh về mối quan hệ với Phan Bội Châu (3) , về nội dung hai con người này đã bàn bạc trong kế hoạch phản đối đường lối và chính sách cai trị của Nhà cầm quyền. Họ còn hy vọng tách được mối quan hệ giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Bội Châu, họ lo sợ ảnh hưởng cách mạng của Phan Bội Châu sẽ lan tới Nguyễn Văn Vĩnh…Và đây là sự khôi hài.

Thông qua sự việc cụ thể này, một lần nữa chứng minh người Pháp thật ngây thơ trong việc hiểu Nguyễn Văn Vĩnh mà đáng ra họ phải hiểu nhiều hơn bất kỳ ai trong giai đoạn lịch sử đó. Đành rằng, không loại trừ việc họ đã rất hiểu Nguyễn Văn Vĩnh theo cái cách tư duy “một chiều” của họ.

Nguyễn Văn Vĩnh cũng như Phan Châu Trinh, họ đều giống nhau khi nhìn nhận về Phan Bội Châu (4) trong chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc. Nhưng sự khác nhau về quan điểm và khuynh hướng chính trị giữa những con người đầy chữ nghĩa đó hoàn toàn không phải là sự đối đầu để đi đến chỗ tìm cách xóa sổ lẫn nhau.

Ngược lại, họ đã thông qua đối thoại, thông qua trao đổi và gặp gỡ để hôm nay trước lịch sử của dân tộc mình, họ không hề phải ân hận và không bị hậu thế kết án là những kẻ cùng một mẹ mà đá nhau. Chỉ có loại người không hiểu biết nhưng vì huênh hoang vẫn muốn tỏ ra ta hiểu biết, nhất là khi giành được chỗ đứng quyền lực và phát ngôn để thể hiện sự làm dáng bằng cái tri thức què quặt, mới nói rằng: những nhân vật ngày xưa đó đã bêu riếu, chống đối lẫn nhau!

Kể cả ý kiến này được cho là đúng thì cũng chỉ mới đúng có 50%, trong khi tất cả mọi người đều biết câu ngạn ngữ hùng hồn và cực kỳ chí lý của người Nga: Một nửa cái bánh mỳ vẫn được gọi là bánh mỳ, nhưng một nửa sự thật là sự giả dối.

Năm 1929, Nguyễn Văn Vĩnh đã vào tận Huế để giao du với Phan Bội Châu. Hai người đã vi hành ra Cửa Thuận An (Xe nhà ông, ông cầm lấy lái..).- (Trích điếu văn của Phan Bội Châu in trên bìa 4 cuốn sách Nguyễn Văn Vĩnh là ai? NXB Tri Thức 2013) với khá nhiều những diễn biến tư tưởng được cả đôi bên bộc lộ và chứng kiến lẫn nhau thông qua các câu chuyện trong chuyến đi. Chuyến đi phải được gọi là lịch sử này giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Bội Châu đã biến thành sự ồn ào công khai ba năm sau đó (1932) trên mặt báo L’Annam Nouveau (Nước Nam mới). Nhưng cũng chính sự ồn ào có tính chính trị này mà khi Nguyễn Văn Vĩnh qua đời, Phan Bội Châu đã không dấu sự nuối tiếc, sự quý trọng và cả nỗi niềm sâu kín trong bài điếu gửi đến tang lễ Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8.5.1936 tại Hà Nội. “…Tôi đau cảm quá nên có mấy hàng chữ điếu ông…. Mây hạc sẽ về đâu ôi bạn ta ngọc báu của năm châu…”.

Chắc chắn trong lịch sử cận đại Việt Nam, mẫu hình tư tưởng chính trị như Nguyễn Văn Vĩnh khó có thể tìm thấy người thứ hai như ông. Nguyễn Văn Vĩnh dấn thân vào một cuộc đấu tranh cho sự tự do, sự bình đẳng và sự bác ái lấy điểm xuất phát từ nền tảng thứ nhất là văn hóa, là tri thức, là nghị lực của mỗi thành viên trong một xã hội cộng với việc học tập, tiếp thu những tiến bộ và thành quả của các dân tộc phát triển khác trong lịch sử tồn tại và đi lên của thế giới loài người. Điều này phải được hiểu và coi đó là sự phát huy nội lực!

Trong tất cả các di cảo mà Nguyễn Văn Vĩnh để lại, chúng ta sẽ không tìm thấy bất cứ một ý định nào, một lời cầu cạnh nào của ông hướng đến sự trông đợi ảnh hưởng hay sức mạnh của bất cứ một lực lượng ngoại bang nào.

Theo Nguyễn Văn Vĩnh, việc trao đổi trên mặt báo một cách trung thực và công khai về lý tưởng yêu nước và quan điểm chính trị phục vụ cho mục tiêu xây dựng một xã hội tiến bộ trước bàn dân thiên hạ chính là sức mạnh của một xã hội. Ông coi đó là giá trị của trí tuệ, của tính trung thực, của những con người có ý thức trách nhiệm với độc giả của mình. Tờ báo này của ông, không chỉ có những bài viết thể hiện những quan điểm của Nguyễn Văn Vĩnh về Phan Bội Châu, mà đối với cả Triều đình Huế trong đó có vua Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Phạm Quỳnh…. những chủ thể đang ở vị trí quyền lực. Ông cũng nghiêm túc đề cập đến những vấn đề liên quan trực tiếp cả hệ thống chính trị thuộc địa mà đứng đầu là ngài Toàn quyền Đông Dương Pierre Marie Antoine Pasquier (1877-1934).

Nguyễn Văn Vĩnh đã phơi bày tất cả những gì là yếu kém, là phi lý, là bất cập của toàn bộ hệ thống xã hội đương thời trên tờ báo này. Không chỉ phê phán, không chỉ vạch ra những bất công của các chính sách cai trị và cả các diễn biến xã hội ở khắp mọi mặt, Nguyễn Văn Vĩnh còn đưa ra những giải pháp khác nhau để yêu cầu khắc phục, thay đổi với mục đích để đạt đến hiệu quả tích cực nếu đem áp dụng. Đơn giản, ông chỉ muốn thấy một xã hội tiến bộ.

MỘT TỜ BÁO KHÔNG CÓ THỎA HIỆP

Ngay từ những số báo đầu của L’Annam Nouveau (Nước Nam mới), để chứng minh sự hợp lý và tính thực tiễn của học thuyết chính trị Trực trị (Anministration directe) do Nguyễn văn Vĩnh đề xướng, với mục tiêu loại bỏ bộ máy vua quan nhà Nguyễn, vì theo ông đó là một bộ máy bù nhìn, không có thực lực. Đồng thời, ông phê phán âm mưu hướng xã hội Việt Nam đến chủ trương duy trì chế độ Quân chủ Chuyên chế, mà theo Nguyễn Văn Vĩnh đó là sự cản trở đường tiến hóa của dân tộc Việt Nam, là tiếp tục nuôi dưỡng cơ hội cho tầng lớp trung gian hà hiếp và đè nén người dân lao động, lấy nền tảng chính trị theo tinh thần của bản Hòa ước Patenôtre ký giữa Triều đình Huế và Thực dân Pháp năm 1884.

Nguyễn Văn Vĩnh đã không ngần ngại cho đăng ngay bài: Những vụ áp phe chính trị (La politique des affaires). Cụ thể hơn, ông đã viết bài:Bản tường trình của ông Jules Ferry, bộ trưởng ngoại giao, chủ tịch hội đồng, về những vấn đề trong dự án luật của bản hòa ước 6/6/1884 nhân danh ông J.G tổng thống cộng hòa Pháp (Exposé des motifs du projet de loi du traité de 6 juin 1884 aux noms de M Jules Grévy Président de la RF (République Francaise) par M. Jules Ferry, Président de conseil Ministre des affaires étrangères). Hoặc để hiểu rõ hơn nhận thức chính trị của Nguyễn Văn Vĩnh, có thể đọc 3 bài liên tiếp với đầu đề là: Thể chế cho xứ Đông Dương (Le statut Indochinois) trên số báo 17, 18 và 19 tháng 4.1931.

Trên tờ báo tiếng Pháp này, một tờ báo mà dư luận xã hội thông qua những nhân vật danh tiếng thời đó đã thách đố và mỉa mai về khả năng tồn tại của Nguyễn Văn Vĩnh trước chính thể độc tài Vì sao Nguyễn Văn Vĩnh thành lập báo L’ Annam Nouveau (Nước Nam mới) 1931? ). Nhưng ông đã không lùi bước, bất chấp sự o ép gay gắt của toàn bộ hệ thống chính trị, thậm chí kèm theo cả sự đe nạt và hăm dọa ở mọi góc độ trong cuộc sống gia đình.

Các quý vị sẽ ngạc nhiên nếu có cơ hội tiếp cận với tờ báo tiếng Pháp đặc biệt này, vì về cơ bản, mọi công việc của tờ báo đều do một người lo toan, chịu trách nhiệm, đặc biệt là nội dung, số lượng cũng như chất lượng các bài viết làm sao để đảm bảo một tuần ra hai số với 8 trang khổ giấy 61cm x 45cm. Ở đây chúng ta chưa bàn đến các vấn đề nan giải khi làm một tờ báo như: vốn tài chính, xử lý các yêu cầu kỹ thuật, nguồn vật tư và các thiết bị cho công việc in và xuất bản hoặc hoạt động tiêu thụ… Nguyễn Văn Vĩnh, một “người nhà quê” đã viết hoàn toàn bằng tiếng Pháp và cho đăng, không thiếu về bất cứ một lĩnh vực nào trong xã hội đương thời, kể cả tình hình và những biến động lớn ở trong nước và trường quốc tế.

Những ví dụ về một số bài báo gây ấn tượng của Nguyễn Văn Vĩnh trên L’Annam Nouveau (Nước Nam mới):

  • Viện Dân biểu (Chambre des représentants). 3 bài liên tiếp đầu năm 1931.
  • Báo chí bản xứ tự do (La presse indigène libre). 6 bài liên tiếp.
  • Chế độ đút lót hối lộ muôn hình vạn trạng (La concussion sous ses différentes formes). 4 bài liên tiếp.
  • Bản án chế độ thuộc địa (Le procès du colonalisme). 3 bài liền.
  • Vấn đề rượu cồn (La question des alcools). 7 bài liền.
  • Hãy nói thẳng chuyện cái hiến pháp đích thực cần cho chúng ta (Parlons franc, la vraie constitution qu’il nous faut). 8 bài liền.
  • Cuộc đời mới và cuộc sống cũ (Vie moderne et vie aucienne). 12 bài liền.

Rõ ràng chúng ta khó có thể tin được rằng, một kẻ bị trị, làm Chủ bút một tờ báo viết bằng tiếng Pháp (do bị cấm viết bằng tiếng mẹ đẻ), thứ tiếng của kẻ cai trị mình, để đối chọi về chính trị với chính người Pháp, và nó lại được trao giải thưởng lớn tại chính quê hương của kẻ cai trị….là một điều hôm nay chúng ta khó hình dung. Nội dung viết của kẻ bị trị đó đã làm đau đầu nhức óc cả một bộ máy chính trị đến mức nào, nhưng đã làm hài lòng hội đồng chấm giải đến đâu? Là điều thật thú vị! Trường hợp nếu văn phong và trình độ Pháp ngữ của kẻ bị trị đó chỉ đạt đến ngưỡng thông thường theo kiểu làm báo để kiếm ăn thì chắc chắn sẽ không có chuyện nhận giải thưởng!

Lập luận trên đây nếu chỉ là suy diễn thì lý do gì mà năm 1935, Nhà cầm quyền lại phải tiếp tục “mặc cả” để Nguyễn Văn Vĩnh phải dừng bút, phải chấm dứt việc viết? Thậm chí còn cam kết sẽ xóa nợ nếu chấm dứt hoạt động.

Vậy là, con chữ, thứ mà nhân loại tìm ra khi qua đầu của một kẻ có trí tuệ nó sẽ mạnh đến mức nào?! Việc cương quyết không nhân nhượng chính quyền của Nguyễn Văn Vĩnh đã trở thành quyết tâm của Nhà Cầm quyền quyết định xiết nợ theo cách “Thỏa thuận” đi đào vàng để trả. Và họ đã thành công việc bẻ gãy một cây bút gây kinh hoàng cho chế độ cai trị vào tháng Ba năm 1936.

Những người làm báo ngày nay đâu có phải dễ cảm thông với tuyên bố ngay trên trang nhất của số báo đầu tiên của mình khi xuất bản tờ L’Annam Nouveau (Nước Nam mới) ra ngày 21.1.1931 tại Hà Nội như Nguyễn Văn Vĩnh:

“Báo L’ANNAM NOUVEAU tôn trọng chính quyền đã được lập nên, trọng con người của tất cả những đại diện của nó, nhưng không sợ ai và không nịnh ai”.

(L’ANNAM NOUVEAU Respecte l’autorite Étabelie danns la personne ces tous ses representants mais ne craint personne et neflatte personne).

Đọc lại một trong nhiều quan điểm nêu trong tuyên ngôn của Nguyễn Văn Vĩnh có thể ai đó trong chúng ta trộm nghĩ: Sao ông lại liều đến như vậy?

Không! Nguyễn Văn Vĩnh không liều, ông không hề là kẻ ấu trĩ để nhắm mắt dũng cảm, vì xét cho đến cùng, sự dũng cảm nào của con người cũng để đem đến một cái gì đó, trong khi thể chế chính trị đương thời đã quá một lần cam kết sẽ dành cho ông nhiều cái gì đó, kể cả danh và lợi. Nào Bắc đẩu Bội tinh, nào chiếc ghế quan Thượng thư (Bộ trưởng-TG), nào xóa nợ… Nguyễn Văn Vĩnh đã không hề như kẻ nào đó với lối sống hám lợi và háo danh, suy từ bụng họ ra bụng người khác để gán cho ông cái sự tầm thường vì ông chỉ mong một cuộc sống tối rượu sâm panh, sáng sữa bò!

Nguyễn Văn Vĩnh chỉ đơn giản chứng minh quyết tâm và lòng trung thực của mình dành cho việc xây dựng một nền dân chủ thực sự, một sự bình đẳng khi người ta là con người, và ngăn chặn được mức độ nào đó sự tiếp tục tha hóa của một xã hội mà đáng lý ra nó đã không phải rơi vào thảm cảnh như ông chứng kiến.

Thật bất công vì nửa thế kỷ sau, vẫn còn những người không muốn nhìn nhận và coi đó là sự hy sinh dũng cảm của Nguyễn Văn Vĩnh, họ không tin tiền nhân đã gọi Nguyễn Văn Vĩnh là người công dân vĩ đại. Điều này chỉ làm cho hậu thế thêm ngờ vực…

Còn quá nhiều điều để bàn về những lý tưởng mà Nguyễn Văn Vĩnh đã theo đuổi trong suốt một chiều dài lịch sử. Đáng tiếc và thật tệ hại khi một xã hội vì quá thực dụng, nên đã thiếu mặn mà với những lĩnh vực không đem lại những món lợi tiền bạc. Đó là còn chưa kể đến vẫn tồn tại những định kiến mơ hồ, ngấm ngầm ngăn cản cả những ai muốn tìm đến sự thật (kể cả chính hậu duệ của ông), để rồi theo thuộc tính, người ta sẽ chỉ chép miệng khi nghĩ đến đề tài Nguyễn Văn Vĩnh. Và nếu nhận thức này không sai thì chúng ta sẽ mãi mãi sống trong sự bất lực vì day dứt như đầu đề của một bài viết trên VNN ngày 4.7. 2015 rằng: Có những giá trị người đã rời bỏ thế gian…Điều này không khác gì tội lỗi!

CÁI KẾT BI THẢM NHƯNG BẤT KHUẤT

Việc tháng 12 năm 1935, Nhà Cầm quyền Thực dân vì lo sợ tư tưởng dân chủ của Nguyễn Văn Vĩnh như một sự vạch mặt chính trị, đặt hệ thống cai trị vào ghế của những kẻ tội lỗi trong việc áp bức một cách tàn nhẫn người dân Việt Nam không phải chỉ về vật chất, mà cả về cuộc sống tinh thần, đối lập với tinh thần cách mạng vĩ đại của Công xã Paris 1789 là Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Và họ đã o ép đến nhẫn tâm để Nguyễn Văn Vĩnh phải rời bỏ tờ báo yêu quý của mình với lý do rất hạ tiện: vay tiền ngân hàng phải trả gấp, đủ thấy cái đê tiện của một thể chế chính trị bế tắc và suy yếu.

Nếu ai đó biết và hiểu được vai trò ghê tởm của tổ chức SDECE, một tổ chức chuyên thực hiện việc thủ tiêu những nhân tài, những nhà chính trị danh tiếng của các nước thuộc địa của nước Pháp trong thế kỷ XX, thì lại càng thấy chua chát khi những người nhân danh bảo vệ lịch sử, bảo vệ truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đã lập lờ trong việc vinh danh những cống hiến của Nguyễn Văn Vĩnh trong lịch sử phát triển văn hóa, văn học chữ Quốc ngữ, niềm tự hào bất tận của dân tộc Việt Nam. Điều này có thể được hiểu như một sự chối bỏ hay đồng ý với cách xử thế của Chính quyền Thực dân với Nguyễn Văn Vĩnh hay không?

Xét cho đến cùng, đúng như Nguyễn Văn Vĩnh đã xác định khi trao đổi với nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) trên tờ báo định mệnh L’Annam Nouveau (Nước Nam mới) 1931-1936 về quan điểm yêu nước của Phan Bội Châu được công khai trên các số báo năm 1932, ông đã nêu:

“Cái hố sâu ngăn cách một nhà Nho chân chính như ông, người không còn tin vào những tư tưởng lẫn những phương pháp của quá khứ, với một người man di hiện đại như tôi, sản phẩm của một nền giáo dục hỗn tạp và khiếm khuyết, đang muốn tìm một vài chân lý trong cùng cái quá khứ đó, mà tôi, tất nhiên cũng không biết gì hơn ông Kháng, dù sao, cái quá khứ đó cũng hiện lên đối với tôi như một nguồn sức sống và ánh sáng chưa được biết tới. Chúng ta đã gặp nhau trên cùng một con đường, ai cũng cho là mình đi đúng hướng…chẳng qua vì con đường đó chưa có. Giống như, rốt cùng, cả hai chúng ta đều đang đi tìm chân lý, thì không nhất thiết cứ phải đi theo cùng một hướng!”

C’est la fossé séparant le vrai lettré qu’il est et qui ne croit plus aux idées ni aux méthodes du passé, du barbare moderne que je crois être, produit d’une éducation mixte et incomplète, qui essaie de trouver quelque vérité dans ce même passé qu’il ne connait certainement pas autant que M. Khang, lequel lui apparait néanmoins comme une source méconnue de vie et de lumière.

Nous nous croisons sur le chemin et chacun de nous prétend aller du bout côté précisément parce qu’il n’y est pas encore. Comme, après tout, nous allons tous deux à la recherche de la verité, il n’est pas indispensable d’aller dans la même direction.

(Người dịch từ Pháp văn Đào Hùng)

Chú thích:

1Viện Dân biểu Bắc Kỳ (tiếng Pháp: Chambre des Représentants du Peuple du Tonkin), được thành lập ngày 10 tháng 4 năm1926 theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varenne, là một cơ quan tư vấn cho chính quyền Bảo hộ của người Pháp ởBắc Kỳ. Viện Dân biểu Bắc Kỳ có nhiệm vụ góp ý kiến cho chính quyền khi được tham vấn, nhưng tuyệt đối cấm bàn về chính trị, và muốn thảo luận thêm vấn đề gì, phải được phép của Thống sứ Bắc Kỳ (Wikipedia).

 2. Văn kiện Đảng Cộng sản Đông dương giai đoạn 1929-1935. Trang 290 và 437. NXB. Sự Thật năm 1964.

 3. Tài liệu lưu trữ của Trung tâm lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp. Toàn bộ nội dung văn bản này cùng mã số quốc gia sẽ được trình bày trong bài biết tiếp theo có tựa đề: Cái đầu tiên thứ 9.

4. Phan Châu Trinh toàn tập, tập 3, trang 66-68. NXB. Đà Nẵng 2005.

  

Quan hệ Việt – Mỹ: Từ “Đối tác toàn diện” đến “Lòng tin chiến lược” – VHNA

19 Th10

 

Dưới đây là trao đổi sau Tọa đàm về “Con đường tơ lụa” của Trung Quốc tại Hà Nội ngày 20/6 và nhân chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hoa Kỳ từ 6 – 9/7. Tham gia trao đổi có: GS-TS Trần Ngọc Vương, Đại học KHXH&NV, NNC Lâm Bảo, nguyên Phó Đại sứ ta ở Anh và TS. Đinh Hoàng Thắng, nguyên Đại sứ ta tại Hà Lan và n báo Phan Văn Thắng. Cuộc nói chuyện này đã diễn ra từ tháng 7/2015.

Phan Văn Thắng:Thay mặt độc giả VHNA, cám ơn các nhà nghiên cứu đã tham gia “bàn tròn” này. Gợi ý đầu tiên, đề nghị các chuyên gia nêu bật ý nghĩa lịch sử liên quan đến chuyến thăm Washington của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng?

GS. Trần Ngọc Vương:Rõ ràng đây là chuyến thăm lịch sử, xét từ nhiều chiều kích. Về song phương, đây là thời điểm chuyển mình của quan hệ Việt-Mỹ, sau 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao, giờ đây bước sang “pha” tiếp theo, đó là giai đoạn hai nước cam kết sẽ thúc đẩy các mối quan hệ mọi mặt để thành công hơn nữa. Đặc biệt cả Mỹ lẫn Việt Nam đều nhấn mạnh đến quá trình hướng tới một chất lượng cao hơn, chất lượng của “lòng tin chiến lược” trong các mối quan hệ. Về khu vực cũng như trên toàn cầu, chuyến thăm xẩy ra vào một thời điểm then chốt, đó là lúc tất cả mọi nước: Mỹ, Trung Quốc, các cường quốc hạng trung trong khu vực, các nước ASEAN đều đang triển khai trên thực tế các chiến lược của mỗi nước đã tuyên bố mấy năm nay. Nhưng sở dĩ nói “then chốt” là vì nay là lúc Trung Quốc, một quốc gia đang trên lộ trình vươn lên thành siêu cường đã có hàng loạt các tuyên bố lẫn hành động muốn thay thế trật tự hiện hành bằng một trật tự mới, có tên là “Trật tự Trung Hoa”. Đây cũng chính là căn nguyên sâu xa của mọi căng thẳng hiện nay trong quan hệ Việt-Trung cũng như trong quan hệ giữa Trung Quốc với các nước trong khu vực.

TS. Đinh Hoàng Thắng:Nếu theo dõi một loạt bài viết trên truyền thông của Mỹ, dịp này, các bỉnh bút đều tập trung vào chủ đề “Pax Sinica replaces Pax Americana”, nghĩa là “Trật tự Trung Hoa đang thay thế trật tự Hoa Kỳ”. Hẳn nhiên, việc thay thế này sẽ không phải diễn ra trong một tháng hay một năm và cũng không phải chỉ giờ đây, báo chí Mỹ mới cảnh báo cái nguy cơ này. Đây là câu chuyện của vài ba thập kỷ tới và câu chuyện này cũng đã được dấy lên cách đây dăm bảy năm nếu như không nói là còn sớm hơn. Tuy nhiên, các cảnh báo này lại nóng lên vào thời điểm hiện nay chính là do hàng loạt các hoạt động phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông trong mùa Hè 2015 này; và không chỉ hung hăng trong hành động, họ còn “ngồi xổm” lên luật quốc tế và luật biển hiện hành khi tuyến bố việc họ bồi đắp gần chục đảo đá tại Hoàng Sa và Trường Sa (phần thuộc về chủ quyền của Việt Nam) là xây dựng trên vùng biển đảo thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Nguyên văn ông Ngoại trưởng Trung Quốc nói họ xây dựng các đảo này như là xây trong “ao nhà” của họ vậy.

Xem thế, ý nghĩa lịch sử liên quan đến chuyến thăm Washington của Tổng Bí thư còn ở chỗ: Đây là lần thứ ba, người có cương vị đứng đầu trong hệ thống chính trị ở Việt Nam, nối bước tiền nhân, thực thi một cuộc khảo nghiệm các nỗ lực để thoát khỏi “gọng kìm” định mệnh không chỉ từ “thiên triều”, mà còn từ các nước lớn khác, đè nặng lên số phận của Việt Nam. Kết quả của cuộc khảo nghiệm lịch sử này có thể chúng ta chưa thể biết ngay, vì các thỏa thuận ngoại giao cấp nguyên thủ đều mang tính “tuyệt mật”. Nhưng “đọc giữa hai dòng chữ” các Tuyên bố chung ký kết dịp này giữa Tổng Bí thư Việt Nam và Tổng thống Mỹ, chúng ta sẽ “ngộ” ra được nhiều điều.

Phan Văn Thắng:TS. Đinh Hoàng Thắng có thể nói rõ thêm về hai lần trước và những cái mà ông cho là “ngộ” ra nhiều điều qua lần này?

TS. Đinh Hoàng Thắng:Các công trình nghiên cứu lịch sử và ngoại giao đã nói khá kỹ. Tôi chỉ tóm tắt lại thôi. Lần thứ nhất là cố gắng của vua Tự Đức vào những năm 1848-1883.Trong luận văn Tiến sỹ của Giảng viên Đại học Tokyo Tsuboi, vị GS người Nhật đã phân tích những nỗ lực của vua Tự Đức nhằm cứu vãn chủ quyền đất nước nhưng không thành công. Tự Đức tin vào Thiên triều theo một lối mòn của tư duy giáo điều Nho giáo: nước lớn phải có bổn phận bênh vực, che chở nước nhỏ, mà không biết hoặc biết một cách rất lơ mơ rằng chính “Thiên triều” lúc bấy giờ đang rơi vào thảm trạng bị xâu xé, không đủ sức ngay cả việc tự vệ chứ đừng nói tới chuyện giúp cho quốc gia khác! Thay vì thoát khỏi gọng kìm, hoạt động ngoại giao của chính quyền, vừa triều cống Trung Hoa, vừa cầu hòa với Pháp đã dẫn đến các xung đột mà chiến trường lại diễn ra ngay trên đất Việt Nam. Lần thứ hai là những nỗ lực của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào giữa thập niên 1950.Cụ Hồ đã tìm cách “kết nối” với chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm, tìm cách hiệp thương giữa hai miền, nhưng rồi cả hai vẫn không tránh được cuộc chiến mà người Mỹ gọi là “chiến tranh Việt Nam”. Giờ đây thì chính người Mỹ cũng cay đắng nhận ra đấy là một cuộc chiến sai về mọi mặt, chọn thời điểm, chọn đối phương và chọn cách tiến hành đều sai lầm…

“Tuyên bố về viễn cảnh của quan hệ đối tác toàn diện” và “Tuyên bố về tầm nhìn đối với hợp tác quốc phòng” giữa Hoa Kỳ và Việt Namđều bao hàm các chất lượng chiến lược và các chiều kích về “lòng tin chiến lược” giữa hai quốc gia vốn đã xác quyết vượt lên chính “hội chứng ý thức hệ” để thúc đẩy các mối bang giao mà các nhà ngoại giao lẫn các nhà lập pháp Hoa Kỳ từng tuyên bố là “không gì không thể”trong việc kiến tạo nên mối quan hệ năng động hàng đầu này ở Đông Nam Á hiện nay. Ngoại giao Nguyên thủ mở ra ngoại giao Nguyên thủ. TBT Nguyễn Phú Trọng chưa đặt chân lên đất Mỹ nhưng phía Hoa Kỳ đã cam kết Tổng thống Obama sẽ thăm Việt Nam cuối năm 2016. “Chậm còn hơn không”. Đấy là lời an ủi cho những người bi quan. Còn những người lạc quan thì nhìn nhận, mọi chuyện liên quan đến lộ trình quan hệ Việt-Mỹ đều nằm trên một đường ray và cứ như thế tiến về phia trước, khỏi cần phụ thuộc vào “sự chống lưng” nào cả.

 Phan Văn Thắng:Nếu nói về những nỗ lực xây dựng và thúc đẩy quan hệ Việt – Mỹ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo tôi cần thiết phải nhắc lại mối liên hệ, cộng tác của Việt Minh với người Mỹ, với OSS[quan tình báo Hoa Kỳ  – U.S Office of Strategic Services] trong những năm 1945 – 1946. Thưa các ông, dựa trên sự đón đợi từ cả hai phía và các công việc chuẩn bị từ mấy tháng nay của các đoàn tiền trạm, đề nghị các ông nói cụ thể hơn về các kết quả hữu hình của chuyến thăm cấp cao này?

GS. Trần Ngọc Vương:  Nêu lên các viễn kiến về quan hệ “đối tác toàn diện” giữa hai nước nghĩa là khẳng định trên thực tế về các chất lượng chiến lược của mối bang giao. Ở đây, ngoài các thỏa thuận mới về chính trị-an ninh và kinh tế-thương mại, điều nổi bật khác trước đây là các hoạt động về ngoại giao nhân dân. Quan hệ giữa con người với con người, giữa các tầng lớp nhân dân với nhau tới đây rất quan trọng. Theo kết quả nghiên cứu của Viện PEW (ở Mỹ) công bố gần đây, 78 phần trăm người Việt Nam được khảo sát cho biết họ có cái nhìn tích cực về Hoa Kỳ, tăng 2 phần trăm so với năm 2014, trong khi chỉ có 13 phần trăm nói ngược lại. Quan điểm này tương đồng với đa số các nước mà PEW khảo sát, cho thấy Mỹ được quốc tế nhìn nhận với thái độ phần lớn là tích cực, 69 phần trăm.

Một kết quả khác, chưa hẳn đã là hữu hình, nhưng chuyến thăm của ông Trọng đã đặt ra và tôi cầu mong nó đạt được, ít nhất là một phần nếu như không nói là tất cả. Đó là tiến tới sự thay đổi trong tư duy của lãnh đạo cũng như của người dân đối với vị thế quốc tế của Việt Nam qua chuyến đi này. Yêu cầu thay đổi trở nên cấp bách đến mức, nếu chúng ta vẫn giữ não trạng cũ, vẫn suy nghĩ về Mỹ, về Trung Quốc, về các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam theo kiểu cũ, thì chúng ta lại sẽ lao vào vết xe đổ của tiền nhân. Nghĩa là chúng ta sẽ khó thoát khỏi được các “gọng kìm lịch sử” như đã nói ở trên. Và kết cục, chúng ta sẽ bị/hoặc sẽ được lịch sử ghi danh như “những anh hùng lạc thời đại”. Qua thỏa thuận về TPP và các thỏa thuận quan trọng khác, hy vọng sẽ tìm được phương thuốc hữu hiệu cho các vấn nạn về kinh tế-xã hội cũng như các đe dọa về an ninh đối với chúng ta hiện nay.

Phan Văn Thắng:Vậy câu chuyện TPP là câu chuyện của kinh tế hay an ninh là chính?

NNC Lâm Bảo:Cả hai. Đây là một thỏa thuận toàn diện bao quát tất cả các khía cạnh chính của một hiệp định thương mại tự do, bao gồm trao đổi hàng hóa, các quy định về xuất xứ, can thiệp, rào cản kỹ thuật, trao đổi dịch vụ, vấn đề sở hữu trí tuệ, các chính sách của chính quyền. Mục tiêu hàng đầu của TPP là xóa bỏ các loại thuế và rào cản cho hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên. Vì lý do này, TPP là một hiệp định mang tính bước ngoặt, sẽ làm thay đổi cuộc chơi trong nền thương mại Việt Nam và quốc tế.

GS. Trần Ngọc Vương:Khẳng định TPP là một thỏa thuận thương mại có tiêu chuẩn cao nhất từ trước đến nay trong lịch sử. Song chúng ta không được quên rằng, nhân quyền vẫn đang là một trọng tâm trong chính sách ngoại giao và thương mại của Hoa Kỳ. Tổng thống Obama từng nói, Việt Nam sẽ phải thực sự thay đổi chính sách và cải thiện tiêu chuẩn cho người lao động. Việt Nam phải thiết lập được mức lương cơ bản, phải thông qua luật về điều kiện an toàn lao động và bảo vệ công nhân.…. Điều này cũng sẽ tạo ra sự thay đổi. TPP sẽ giúp tạo ra sân chơi công bằng và mang lại lợi ích cho người lao động Việt Nam. Đó chính là sự tiến bộ.

NNC Lâm Bảo:Khi nói về TPP, đúng là có một số băn khoăn về các vấn đề liên quan đến lao động. Tại sao Mỹ lại quan tâm đến giới lao động, cả về mặt vật chất (lương tối thiểu) lẫn về tinh thần (tổ chức công đoàn). Thật ra, trên thực tế, nếu giới lao động ở Việt Nam được thụ hưởng lợi ích từ cả hai mặt này thì sẽ tốt cho sản xuất và nhà đầu tư nước ngoài có thể yên tâm. Tôi tin rằng, xuất phát từ lợi ích quốc gia của mỗi nước, Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục thương lượng để đi đến đồng thuận.

Phan Văn Thắng:Theo các chuyên gia, tại sao người ta nói làm kẻ thù của Mỹ dễ hơn làm bạn với Mỹ? Ý nghĩa của nhận xét này là gì?

GS. Trần Ngọc Vương:Đây là câu cửa miệng của các nhà phân tích chính sách từ các nước đồng minh thân cận của Mỹ. Triết lý của nhận xét này là đề cập đến tính thực tiễn và sự sòng phẳng của người Mỹ, chính xác hơn là của chính giới Mỹ. Cái gì mà phù hợp với lợi ích của nước Mỹ thì họ bảo vệ và chiến đấu đến cùng, khi không phục vụ cho lợi ích quốc gia thì họ buông bỏ một cách không thương tiếc. Có nhiều ví dụ trong thực tiễn. Chính đó cũng là một trong những thành tố làm nên thứ mà ở ta một thời chê bai là “chủ nghĩa thực dụng Mỹ”. Nước Mỹ có hai đảng thay nhau cầm quyền, nhưng đảng nào cũng đặt lợi ích quốc gia Mỹ lên hàng đầu, bởi nếu đảng nào không làm thế, chắc chắn cử tri Mỹ sẽ lập tức hạ bệ họ! Việc nước Mỹ rút khỏi VN đầu những năm 1970 là một điển hình. Cũng như bây giờ, họ tuyên bố, trở lại châu Á, trở lại để ở lại. Tất cả là xoay quanh đánh giá của họ về Trung Quốc. Trước đây họ coi nặng mặt “đối tác chiến lược” của Trung Quốc, nay họ nhấn mạnh đến khía cạnh Trung Quốc là “đối thủ cạnh tranh”. Nhưng mẫu số chung cao nhất của nước Mỹ là bảo vệ ưu thế vượt trội của mình trong khu vực châu Á-TBD cũng như trên toàn cầu. Sỡ dĩ nói làm bạn với Mỹ khó là vì quốc gia anh phải “thiết kế” chính sách như thế nào để quá trình triển khai chính sách của anh không làm hỏng tiến trình “xoay trục” hay “tái cân bằng” của chính họ.

Phan Văn Thắng:Vậy khả năng khi nào Mỹ và Việt Nam có thể trở thành “Đối tác chiến lược” của nhau?

TS. Đinh Hoàng Thắng: Việt Nam có câu “Cái gì cần đến sẽ phải đến”. Toàn bộ diễn tiến chuyến thăm của Tổng Bí thư tại Mỹ cho đến nay diễn ra thuận lợi. Theo dõi các tin tức liên quan đến hội đàm cũng như các cuộc tiếp xúc, chúng ta càng hiểu thêm tinh thần lạc quan của các nhà ngoại giao hàng đầu Việt – Mỹ. Họ là các đại sứ của Mỹ ở VN và các đại sứ của VN ở Mỹ, đều đánh giá rằng, quan hệ đối tác Việt – Mỹ hiện nay, thực chất đã đạt được nhiều tiêu chí của “Đối tác Chiến lược”. Ở đây, chúng ta hiểu giữa hai nước còn tồn tại một số nhìn nhận khác biệt về các vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền. Nhưng như chính Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói trước hôm lên đường qua Mỹ, chuyến thăm của ông là một dịp để hai bên có thể trao đổi thẳng thắn về các vấn đề mà hai bên còn có những khác biệt, nhằm góp phần vào việc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, giảm bớt khác biệt, từng bước xây dựng lòng tin giữa hai bên nhằm đưa quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ ngày càng hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

NNC Lâm Bảo:Năm 2013, Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ký Tuyên bố về “Đối tác Toàn diện”. Mới đây, Bộ trưởng Quốc phòng hai nước đã ký “Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng”. Lần này, hai nước lại ký tiếp các Tuyên bố nhằm mở rộng vaftais khẳng định các cam kết này. Những văn kiện mang tính pháp lý cao sẽ cấu thành một bộ khung cho các quan hệ song phương, trong bối cảnh Việt Nam sẽ tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12 vào đầu năm 2016, thông qua chiến lược trong 5 năm tới. Như vậy, quy chế “Đối tác Chiến lược” sẽ như một cam kết “hôn nhân vì lẽ phải”, chắc chắn sẽ diễn ra trong tương lai gần.

Phan Văn Thắng:Cảm ơn các ông đã tham gia cuộc trao đổi. Xin chúc cuộc viếng  thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ đạt nhiều kết quả tốt đẹp, mở ra một kỷ nguyên mới trong quan hệ Việt – Mỹ./.

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG: Tin tuần từ 12/10-18/10 – NCBĐ

19 Th10

Thứ hai, 12 Tháng 10 2015 08:41 dinh tuan anh

Share:

-(TP 16/10) Đi lại tại biển Đông không phải hành động khiêu khích: Reuters ngày 15/10 dẫn lời một tướng hải quân Mỹ; (Vnplus 15/10) Hoạt động của thành phố Tam Sa không có cơ sở pháp lý nào

-(Zing 15/10) Ấn Độ ủng hộ Philippines về vấn đề Biển Đông đồng thời muốn các bên giải quyết vấn đề một cách hòa bình; (Baodatviet 15/10) Tàu Mỹ tại Biển Đông: Không thể tồn tại khi thực chiến

-(RFI 15/10) Úc từ chối tuần tra Biển Đông cùng với Hoa Kỳ: Đây là tuyên bố của Bộ trưởng Thương mại Úc ông Andrew Robb trong cuộc trả lời phỏng vấn của hãng thông tấn Bloomberg; (Thanhnien 15/10) Báo Trung Quốc khoe vũ khí trên không ‘khống chế Biển Đông’

-(Dantri 14/10) Mỹ thảo luận kế hoạch tuần tra Biển Đông với Úc trong cuộc gặp kéo dài 2 ngày tại thành phố Boson – Mỹ; (Thanhnien 14/10) Hành động của Trung Quốc ở Biển Đông khiến châu Á và Mỹ xích lại gần nhau

-(PLTP 14/10) Tại sao Mỹ quyết liệt tuần tra biển Đông?: Trước một Bắc Kinh hung hăng, Mỹ đã quyết định là tăng cường “sức mạnh cơ bắp” tại biển Đông; (Vnplus 14/10) Quân đội Mỹ sẽ hoạt động bằng tàu, máy bay trong Biển Đông

-(VOA 13/10) Philippines hoan nghênh Mỹ tuần tra Biển Đông là “quan trọng cho việc bảo vệ tự do lưu thông hàng hải ở các khu vực tranh chấp;” (Vnexpress 13/10) Mỹ dùng chiến hạm ngăn Trung Quốc ‘nuốt lời hứa’ ở Biển Đông

-(BĐV 13/10) Mua gấp tiêm kích F-16 Mỹ vì tình hình Biển Đông: Sự lộng hành của Trung Quốc tại Biển Đông dường như đã khiến Indonesia không thể đứng nhìn; (Zing 13/10) Trung Quốc sẽ điều tàu gì để ngăn Mỹ trên Biển Đông?

-(ANTĐ 13/10) Mỹ sẽ kiểm tra cam kết của Trung Quốc ở Biển Đông bằng việc tiến hành tuần tra xung quanh các đảo nhân tạo của nước này; (NLĐ 13/10) Mỹ – Nhật – Ấn tập trận “chọc giận” Trung Quốc

-(Dantri 12/10) Mỹ thách thức Trung Quốc ở Biển Đông: Tư lệnh hạm đội 3 Mỹ cho hay hạm đội có thể dễ dàng hoạt động tại tây Thái Bình Dương vì có mọi loại chiến hạm; (Giaoduc 12/10) Mỹ do dự, Nhật sẽ nhảy vào Biển Đông nếu Trung Quốc gây chiến

-(Thanhnien 11/10) Trung Quốc sẽ xây thêm hải đăng phi pháp ở Biển Đông sau khi khánh thành 2 ngọn hải đăng phi pháp ở Đá Châu Viên và Đá Gạc Ma của Việt Nam; (Baodatviet 11/10) Trung Quốc ngang ngược trước mắt Mỹ

-(Thanhnien 11/10)  Trung Quốc lôi kéo học giả nước ngoài vào tranh chấp Biển Đông khi đang “bơm tiền” vàotrường đại học Nam Kinh để thực hiện một dự án nghiên cứu những vấn đề liên quan đến Biển Đông; (Dantri 11/10) “Ao làng” của Trung Quốc

BÓNG DÁNG ĐẤNG NAM NHI TRONG BÀI THƠ ĐẠI NGÔN “TỔ QUỐC GỌI TÊN” – BS

14 Th10

Posted by adminbasam on 13/10/2015

Phạm Đình Trọng

13-10-2015

Bài thơ đại ngôn, sáo ngữ tầm thường Tổ Quốc Gọi Tên bỗng trở nên nổi lềnh bềnh như phao bởi đề tài biển đảo của bài thơ là đề tài đang được bộ máy tuyên truyền tập trung khai thác.

Không dám làm phật lòng nước cộng sản đàn anh Tàu Công nên “dân chài bám biển, quân đội bám bờ”. Đẩy dân thuyền gỗ, tay không ra bám biển, đương đầu với pháo hạm của kẻ cướp Tàu Cộng hung hãn. Giặc Tàu Cộng cứ mặc sức bắn giết, bắt bớ, đánh đập, cướp bóc tài sản, đòi tiền chuộc mạng sống của người dân Việt khốn khổ. Còn quân đội cứ án binh bất động trong bờ. Sợ làm phật lòng nước cộng sản đàn anh đến mức kẻ đã bắn giết người dân Việt Nam làm ăn trên biển của ông cha, của lịch sử Việt Nam, kẻ đã bắn giết người lính Việt Nam , cướp biển, cướp đảo Việt Nam nhưng cả hệ thống truyền thông Việt Nam không dám chỉ mặt vạch tên kẻ cướp mà chỉ gọi một cách dửng dưng, mơ hồ, vô cảm: Nước lạ! Tàu lạ! Kẻ lạ!

Nhưng để yên lòng dân thì phải tỏ ý chí quyết bảo vệ độc lập toàn vẹn lãnh thổ và chỉ bảo vệ bằng ngôn từ, bằng tuyên truyền. Ngôn từ hùng hồn, đao to búa lớn của Tổ Quốc Gọi Tên rất phù hợp, rất cần thiết với tuyên truyền lúc này. Tổ Quốc Gọi Tên in sách. Tổ Quốc Gọi Tên phổ nhạc tấu lên rộn rã, thống thiết trong các chương trình ca nhạc.

Tổ Quốc Gọi Tên càng ồn ào, om sòm hơn khi có cuộc tranh chấp bản quyền giữa một cựu chiến binh dân thường, tỉnh lẻ, thấp cổ bé họng với một người đàn bà có danh có phận, có thế có lực, có vây có cánh, lại có cả bộ máy tuyên truyền chính thống, khổng lồ hỗ trợ, hậu thuẫn. Một cuộc tranh chấp quá bất cân xứng mà phần hơn, phần ưu thế, phần áp đảo nghiêng hẳn về phía người đàn bà nhiều thần thế, đa ngôn, mạnh miệng.

Cuộc tranh chấp chủ quyền bài thơ đang nghiêng hẳn về phía người đàn bà, nghiêng hẳn về phần âm tính. Nhưng tôi lại thấy bài thơ đầy dương khí, đầy cốt cách đàn ông.

Xin hãy đọc lại bài thơ

TỔ QUỐC GỌI TÊN

Đêm qua tôi nghe Tổ quốc gọi tên mình

Bằng tiếng sóng Trường Sa, Hoàng Sa dội vào ghềnh đá

Tiếng Tổ quốc vọng về từ biển cả

Nơi bão tố dập dồn, chăng lưới, bủa vây

Tổ quốc của tôi, Tổ quốc của tôi

Bốn nghìn năm chưa bao giờ ngơi nghỉ

Thắp lên ngọn đuốc Hòa bình, bao người đã ngã

Máu của người nhuộm mặn sóng biển Đông

Ngày hôm nay kẻ lạ mặt rập rình

Chúng ngang nhiên chia cắt tôi và Tổ quốc

Chúng dẫm đạp lên dáng hình đất nước

Một tấc biển cắt rời, vạn tấc đất đớn đau

Sóng chẳng còn bình yên dẫn lối những con tàu

Sóng quặn đỏ máu những người đã mất

Sóng cuồn cuộn từ Nam chí Bắc

Chín mươi triệu môi người thao thức tiếng “Việt Nam”

Chín mươi triệu người lấy thân mình chở che Tổ quốc

linh thiêng

Để giấc ngủ trẻ thơ bình yên trong bão tố

Ngọn đuốc Hòa bình trên tay rực lửa

Tôi lắng nghe

Tổ quốc

gọi tên mình

1. CẢM HỨNG NAM NHI

“Tổ quốc gọi tên” là tâm thế, là cảm hứng của đấng nam nhi, không thể là tâm thế, là cảm hứng của nữ nhi thường tình.

Tâm thế, cảm hứng, sĩ khí của kẻ làm trai là:

Làm trai cho đáng nên trai

Phú Xuân cũng trải, Đồng Nai cũng từng. (Ca dao)

Và:

Làm trai cho đáng nên trai

Xuống Đông, Đông tĩnh. Lên Đoài, Đoài yên. (Ca dao)

Tâm thế, cảm hứng của kẻ làm trai là hướng ngoại, hướng tới lí tưởng lớn lao, cao cả: Tổ quốc, Nhân dân. Kẻ làm trai có lí tưởng nào cũng cần thể hiện mình, xác định sự có mặt trong cuộc đời bằng trách nhiệm. Trách nhiệm với cuộc đời, với non sông đất nước. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” là vậy.

Còn tâm thế, cảm hứng của người đàn bà là:

Có con chăm chút cho con

Có chồng gánh vác giang san nhà chồng. (Ca dao)

Tâm tính trời phú cho người đàn bà là hướng nội, hướng vào thân phận cá thể bé mọn, hướng vào gia đình riêng tư. Nếu người đàn ông có lí tưởng luôn ý thức về trách nhiệm với đất nước, với nhân dân thì người đàn bà thảo hiền luôn canh cánh với bổn phận trong gia đình. Bổn phận con ngoan. Bổn phận vợ đảm. Bổn phận dâu thảo. Bổn phận mẹ hiền.

Giặc cướp nước rình rập ở biên cương, ở cửa biển, vận mệnh đất nước bị đe dọa thì người đàn bà trước tiên nghĩ đến sự an nguy của gia đình, sự li tán của vợ chồng, sự sống chết của người đàn ông trong gia đình phải ra trận tiền.

Tâm thế, cảm hứng đó ở người đàn bà dân dã được ca dao ghi nhận:

Trời ơi sinh giặc làm chi

Cho chồng tôi phải ra đi chiến trường

Còn người đàn bà quyền quí, có học, có chữ thì tự họ ghi lại tâm thế đó thành văn chương và trở thành áng văn bất hủ của văn chương Việt Nam:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

Khách má hồng nhiền nỗi truân chuyên.

(Đoàn Thị Điểm. Chinh Phụ Ngâm)

Phong trào “Thanh niên ba sẵn sàng, phụ nữ ba đảm đang” được phát động và hưởng ứng rộng rãi, có hiệu quả trong suốt thời chiến tranh kéo dài vừa qua chính là từ tâm thế giới tính này. Đất nước đang cơn binh lửa, thanh niên sẵn sàng lên đường ra mặt trận theo tiếng gọi của Tổ quốc, để lại việc của người đàn ông trong gia đình cho người đàn bà ở phía sau đảm đang gánh vác.

Trong khi người đàn ông có lí tưởng luôn có ý thức về trách nhiệm với cái chung, hướng ra xã hội thì người đàn bà có giáo dục cứ thường trực lo lắng về bổn phận với gia đình riêng. Tâm thế của họ, vui buồn của họ là soi vào lòng mình và soi vào gia đình mình. Vì thế, “Tổ quốc gọi tên” là tư thế, là tâm thức, là cảm hứng chỉ có ở đàn ông. Đàn bà không thể có cảm hứng “Tổ quốc gọi tên”.

2. NGÔN TỪ SÁO RỖNG, KHOA TRƯƠNG

Ngôn ngữ Tổ Quốc Gọi Tên chỉ là thứ ngôn ngữ chính trị, tuyên huấn, là vốn từ, cách tư duy của một người lính, một thanh niên sống trong hệ thống tuyên truyền giáo dục cộng sản, không phải là ngôn ngữ văn chương, càng không phải ngôn ngữ nghệ thuật.

Từ ngữ đao to búa lớn của Tổ Quốc Gọi Tên quá dễ dãi, hời hợt, và trống rỗng, đọc lên cứ thấy loảng xoảng của chiếc thùng rỗng đang bị đập mạnh hết cỡ. Hình ảnh bão tố mòn cũ sử dụng một lần đã là sự lười biếng, dễ dãi trong tư duy sáng tạo, vậy mà Tổ Quốc Gọi Tên cứ lặp đi lặp lại thứ bão tố cải lương đó. Vừa mới mang bão tố ra làm nền cho người lớn diễn tích anh hùng “Nơi bão tố dập dồn, chăng lưới, bủa vây”, lại mang bão tố ra để trẻ thơ cũng trở thành diễn viên cải lương ngủ trong bão tố cho thêm kịch tính, gay cấn “Để giấc ngủ trẻ thơ bình yên trong bão tố”.

Bão tố cải lương đã thừa thãi, lại thừa thãi cả máu nhân tạo đổ tùm lum trong Tổ Quốc Gọi Tên

Máu của người nhuộm mặn sóng biển đông

. . .

Sóng quặn đỏ máu những người đã mất

Máu người không phải nước lã. Máu của những người ngã xuống cho đất nước càng linh thiêng. Nhưng không phải cứ mang dòng máu thiêng đó ra là gây được nỗi xót xa, xúc động, là tạo được không khí bi tráng lịch sử. Giữa mớ ngôn từ khoa trương, lên gân, sáo rỗng, trong cái tình cảm hời hợt, thiếu trung thực, coi kẻ cướp bắn giết đồng bào chiến sĩ Việt Nam, cướp biển cướp đảo Việt Nam đã nhẵn mặt nhẵn tên từ trong lịch sử chỉ là “kẻ lạ mặt” vu vơ thì dòng máu kia cũng chỉ là máu đạo cụ, máu giả, tạo ra bởi phẩm màu cho xuất diễn mà thôi!

Không phải là nhà thơ chuyên nghiệp, tính nghiệp dư của người viết Tổ Quốc Gọi Tên còn nhận ra ở sự thiếu tinh tế trong sử dụng ngôn từ. Nhuộm phải đi với màu sắc. Nghiệp dư, thiếu tinh tế nên mới viết “Máu của người nhuộm mặn sóng biển đông”. “Mặn sóng biển đông” thì phải thay động từ “nhuộm” bằng động từ “pha”: Máu của người pha mặn sóng biển đông.

Ngôn ngữ lên gân, đại ngôn, khoa trương cũng rất đàn ông, một người đàn ông quen sống trong môi trường chính trị, môi trường tuyên huấn.

Cảm hứng của đấng nam nhi và ngôn ngữ đao to búa lớn của kẻ mày râu, hai điều lồ lộ trong Tổ Quốc Gọi Tên đã khẳng định rằng Tổ Quốc Gọi Tên không thể là sản phẩm của nữ nhi

3. CHỈ CÓ GIÁ TRỊ TUYÊN TRUYỀN CHỐC LÁT

Từ văn bản, từ hiện vật ngôn từ bài thơ chứng minh rằng Tổ Quốc Gọi Tên là sản phẩm của đấng nam nhi, nhưng là đấng nam nhi nghiệp dư văn chương. Tổ Quốc Gọi Tên chỉ có giá trị tuyên truyền nhất thời, hoàn toàn không có giá trị nghệ thuật.

Không có giá trị nghệ thuật thì tranh chấp làm chi hỡi đấng nam nhi!

Svetlana Alecsievich: “Để còn là người, phải có lòng can đảm” – vhna

12 Th10

 
Svetlana Alecsievich - Giải thưởng Nobel văn học 2015Svetlana Alecsievich – Giải thưởng Nobel văn học 2015

 

Buổi họp báo của Svetlana Alecsievich, nữ nhà văn vừa nhận giải thưởng Nobel văn học diễn ra tại Minsk.

TUT.BU ghi phóng sự trực tuyến từ các sự kiện hiện đang tiến hành tại trung tâm Văn Bút (PEN)

Họp báo bắt đầu vào hồi 16 giờ. Nhiều phóng viên, nhiếp ảnh gia đã tập trung tại tại Office Trung tâm văn bút. Có rất nhiều người cầm hoa. Chớm 5 giờ, ô tô chở Svetlana Alecsievich tới nơi. Mọi người vẫy hoa cúi chào, nhường lố cho bà bước vào.

– Xin chào, bà thấy thế nào? – Các nhà báo hỏi

– Người ta thấy tôi khóc nữa cơ đấy. Nhà văn trả lời ngượng ngùng. – Vâng, cảm xúc thật khó tả – Thế là tôi khóc thôi. Ai ngờ lại nhận được giải thưởng như thế? Tâm trạng rối bời. Tôi thấy bối rối quá.

– Đã có ai đại diện cho chính quyền, bộ trưởng văn hóa Belorus ấy, đến chúc mừng bà chưa?  Alecsievich trả lời rằng chưa, không có ai. “Thế còn bộ trưởng văn hóa Nga chúc mừng chưa?”. “Cũng chưa”.

– Thế còn Tổng thống?

 – Chẳng có tổng thống Nga, mà cũng chẳng có có Tổng thống Belorus nào chúc mừng cả.

– Chính quyền Belorus làm ra bộ như không có tôi, người ta không in của tôi, – Alecsievich nói.

 – Đã hai tiếng đồng hồ trôi qua, kể từ lúc trao giải. Tôi đã nhận được chừng 200 lá thư, trong số thư này, một chàng trai viết: “Hay thật! Không hiểu Lukashenko (Tổng thống Belorus – ND) sẽ hành xử thế nào: ông ấy trao danh hiệu anh hùng cho Domracheva (Darya Domracheva, vận động viên trượt tuyết bắn súng, ba lần vô đích Olempic – ND): chuyện này sẽ được cái gì?”

Svetlana Alecsievich thừa nhận, rằng Bộ trưởng thông tin Nga Grigoriev là một trong những người đầu tiên chúc mừng bà (Grigoriev Vladimir Victorovich – Phó trưởng Cơ quan Báo chí và Truyền thông đại chúng Liên bang – Ghi chú của TUT.BY).

 – Bà có căm ghét thế giới của Nga không? – Một phóng viên nêu câu hỏi.

– Khi mọi người còn có những tư tưởng cuồng tín như thế, họ tìm những tư tưởng ấy khắp mọi nơi. Một số người viết, rằng tôi căm thù cả nhân dân Belorus. Theo tôi, không mấy ai yêu sự thật. Tôi chỉ nói những điều tôi nghĩ. Tôi yêu nhân dân Nga, nhân dân Belorus. Bà con họ hàng về đằng cha của tôi là người Belorus, ông nội kính yêu của tôi. Tôi làm giáo viên làng thuộc thế hệ thứ tư . Cụ nội tôi cùng dạy học với Jakub Kolas (1882—1956, một trong những nhà văn cổ điển, người đặt nền móng cho nền văn học Belorus – ND) . Tôi luôn cảm tháy đó là đất của tôi. Trong khi đó, mẹ tôi là người Ucraina. Tôi rất yêu Ucraina. Khi ở Maidan, nhìn thấy tấm ảnh “bách nhân thần” (ảnh hơn một trăm người tử nạn trong trận chiến ở Maidan vào tháng 2 năm 2014 – ND), tôi đứng khóc lặng người. Đó không phải là sự căm thù. Vào thời ấy thật khó có thể trở thành người trung thực. Không được rơi vào chính sách thỏa hiệp của chính quyền toàn trị. Thỉnh thoảng tôi lại đọc cuốn sách Lương tâm của bon quốc xã. Nó nói về chuyện chủ nghĩa phát xít đã thấm vào đời sống của người Đức thế nào. Cỗ máy vận hành rất mạnh, xiết rất mạnh vào những cái nút thô sơ, và sau 10 năm, chúng đã tạo ra một dân tộc khác. Tôi hỏi cha, người ta chịu đựng chuyện ấy thế nào. Ông chỉ nói với tôi, rằng rất khủng khiếp. Để còn là con người, bao giờ cũng khủng khiếp và bao giờ cũng phức tạp. Cần phải có lòng can đảm. Thế mà người ta nói gì…, nào, nói gì…

– Bà thích cái thế giới Nga nào, còn thế giới nào thì không thích?

– Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu họ muốn ngụ ý điều gì. Tôi yêu thế giới Nga hào hiệp, nhân hậu, cái thế giới mà cho đến giờ cả thế giới vẫn kính cẩn nghiêng mình ngưỡng mộ.Ngưỡng mộ nền văn học, ballet, nền âm nhạc vĩ đại. Nhưng tôi không yêu thế giới của Beria, Stalin, Putin, Shoigu – đó là thế giới khác.

Trả lời câu hỏi của những người gặp ngoài phố, Svetlana Alecsievich kể lại chuyện xẩy ra với chính bà trên đường về từ Berlin. Một chàng trai chạy vội lại phía bà, nói rằng đã nhận ra bà và muốn xin chữ kí. Nhưng cậu ta chẳng có sổ tay hay một tờ giấy nào cả. Thế là cậu ta đành chìa cho nữ nhà văn vỏ bao thuốc lá và khẩn khoản: “Xin bà kí vào đây”. Nhớ lại chuyện này, Svetlana nói rằng, bà không phải là người thích hư danh và không thích xuất hiện trước công chúng.

 – Tôi không thích người ta nhận ra mình, mình cũng là con người, có thể mình mỗi lúc một khác, cũng có lúc mệt mỏi, – bà giải thích. – Có những lúc mình nghĩ: việc mình làm đang khiến người ta bận tâm. Nếu không thấy bận tâm thì anh ta đã không chạy vội lại, chìa cho mình cái vỏ bao thuốc lá.

Đáp lại câu hỏi, sách dạy người ta điều gì, nhà văn trả lời:

– Trên đời không chỉ có sách, còn có Kinh thánh, có Phanxicô thành Assisi, có Anthony Bloom. Thế mà con người có thay đổi đâu. Nhưng thiết nghĩ, cũng có một cái gì đó đang chuyển dịch. Dù các sự kiện tại Donetsk khiến bản thân tôi sợ hãi: văn hóa thì biến mất, còn quỉ dữ thì nhập vào con người, tất cả nhanh chóng làm sao! Nếu chúng ta vứt bỏ công việc của mình, thì tình hình càng tồi tệ hơn.  “Tôi sẽ thấy bất hạnh, nếu không tiếp tục rao giảng”.

Nhiều người đặt câu hỏi Svetlana Alecsievich về sự căm thù hiện hữu trong thế giới hiện đại đối với phương Tây. Bà nói:

– Về chuyện chống phương Tây, một tâm lí đặc biệt phổ biến ở Nga, tôi nghĩ nó sẽ biến mất cùng với giới cầm quyền hiện nay. Trong nhân dân, cả nhân dân Nga, lẫn nhân dân Belorus, không có sự thù hận nào cả. Đó chỉ là thứ bọt bẩn do đám làm chính trị tạo ra.

Bà lưu ý, chúng ta sẽ còn phải sống rất lâu trong thời gian quá độ này.

– Vào cuối những năm 90 chúng ta đã quá ngây thơ khi tưởng rằng chúng ta sẽ lập tức trở thành người tự do. Làm sao có được điều đó. Giống như trước đây người ta nghĩ, đọc Solzhenitsyn, thế là lập tức trở thành người trong sạch. Nhưng người ta vẫn giết nhau ngay cổng vào các tòa nhà.

Svetlana Alecsievich cho rằng di sản nặng nề nhất của chủ nghĩa xã hội là con người chấn thương, vì “trại lính đã làm cho cả đao phủ, lẫn nạn nhân trở thành đốn mạt”.

Các phóng viên còn hỏi Svetlana Alecsievich nhiều câu hỏi khác:

– Bà sẽ đi bầu tổng thống không? Bà sẽ bầu ai?

– Tôi sẽ không đi bầu, nhưng nếu đi, tôi sẽ bầu Korotkevich (Tachiana Korotkevich, sinh năm 1977, ứng cử viên tổng thống năm 2015 – ND). Chỉ là tình đoàn kết của đàn bà, vì tôi nhìn thấy một gương mặt mình thường, nghe những lời nói bình thường, điều mà tôi không nghe thấy ở đám chính khách đàn ông. Tôi không biết có tiền bạc gì, hay có ai chống lưng cho bà ấy hay không, nhưng tôi xem đó là bước ngoặt mới trong đời sống của chúng ta.   

– Thế thì tại sao bà không đi bầu?

– Tôi và các bạn đã thừa biết, ai sẽ chiến thắng. Chúng ta biết chắc Lukashenko sẽ đắc cử. Chắc là ông ấy sẽ được 76%. Ông ta quan sát tâm trạng xã hội và ước lượng sẽ có thể được bao nhiêu.

– Thế có cần tẩy chay bầu cử không?

– Dù thế nào cũng không nên tẩy chay. Nếu tẩy chay bầu cử, Lukasheko càng có nhiều triển vọng.

–  Bà có nghĩ, tiếng nói của bà sẽ có trọng lượng lớn hơn trong xã hội Belorus?

 – Tôi hi vọng người ta sẽ giải thích để chính chính quyền hiểu giải “Nobel” là cái gì, và hi vọng sẽ có một phản ứng thế nào đó, dẫu chỉ là phản ứng thận trọng. Nhưng trình độ của giới tinh hoa chính trị của chúng ta vẫn là trình độ thời xô viết. Thậm chí tệ hơn.  Thời chính quyền xô viết còn có còn có những ranh giới không được vi phạm. Ở đó phải bò rất lâu theo các bậc thang để trèo lên được chỗ nào đấy. Còn bây giờ thì rác rưởi hóa thành công tước (…).

–  Bà nghĩ thế nào về chuyện giải thưởng đầu tiên Belorus được trao lại là giải thưởng trong lĩnh vực văn học?

– Các môn vật lí, hóa học đòi hỏi đất nước phải có trình độ kĩ thuật rất cao, tiềm năng lớn. Theo tôi, tất cả những thứ đó ở nước ta giờ đã sụp đổ. Chúng ta có rất nhiều tài năng nhưng họ hoặc là phải chạy ra nước ngoài, hoặc ở lại Nga để sống cuộc sống nửa vời qua ngày đoạn tháng.

– Belorus có cần căn cứ không quân của Nga không? Bà nghĩ thế nào về tình hình ở Ucraina?

– Chúng ta không cần căn cứ không quân. Nhưng tôi sợ rồi nó sẽ có. Tôi không thấy Lukashenko có đủ sức mạnh và năng lượng để chống đỡ. Tôi cũng không nhìn thấy sức mạnh chống đỡ trong xã hội. Tiếc là xã hội ta vẫn chấp nhận tất cả những gì do chính quyền áp đặt. Tôi cho rằng việc chiếm đóng Ucraina là sự can thiệp của nước ngoài.  Mặc dù bây giờ có rất nhiều người không muốn có những thay đổi ấy. Nhưng họ không bao giờ chiến đấu. Giá mà họ tìm thấy lối thoát. Vị thế hiện nay của Lukashenko rất phức tạp. Ông ấy muốn tách ra khỏi Nga, nhưng ai cho ông ta làm như thế? Một mặt, quá khứ riêng giữ riệt ông ta lại, mặt khác là Putin. Tôi không biết các luật lệ khác của trò chơi. Ông ấy lớn lên từ các luật lệ ấy. Nhưng phải thừa nhận ông ta có bản năng chính trị rất mạnh mẽ. Có điều sẽ không ai để ông ta được tự do (…). Muốn cứu Belorus phải chuyển qua Liên minh châu Âu. Nhưng ai cho phép Belorus làm như thế.

– Bà sẽ tiêu tiền giải thưởng vào chuyện gì?

– Tôi sẽ dùng giải thưởng để mua tự do. Tôi đã viết sách rất lâu, năm đến mười năm, đó là một quãng thời gian rất dài, lúc nào cũng phải đi lại đôn đáo, phải lo xuất bản.  Bây giờ tôi có thể làm việc bình tĩnh hơn.

– Bà muốn sống ở một nước Belorus thế nào?

– Tất nhiên tôi muốn sống ở một nước giống như các nước Bắc Âu, hay ít ra như như vùng Baltic.

– Bà có nghĩ Putin có thể sẽ lặp lại những kinh nghiệm của Afghanistan ở Syria?

– Kỷ niệm Afghanistan thường niên vừa tổ chức cách đây không lâu. Tại lễ kỉ niệm, Putin huỵch toẹt: “Đúng vậy, chúng ta đã mặt ở đó. Nếu không có chúng ta, thì sẽ là người Mỹ thôi”.  Vâng, tôi cho rằng nước Nga là nước của lính tráng. Hoặc là lính tráng công khai, hoặc là lính tráng bí mật. Chúng ta sống giữa một môi trường nhà binh, trong tư duy nhà binh. Tất cả đều thế, từ trên xuống dưới, từ chính phủ tới dân thường dân. Cả nước Nga lẫn Belorus đều thế.  

 – Bà có định nói tiếng Belorus không?

– Tôi biết tiếng Belorus,nhưng không đủ giỏi để có thể viết. Ngôn ngữ tôi biết là Narkomovka (một phiên bản chính thức của tiếng Belorus được dạy trong nhà trường – ND). Người ta dạy tôi trong nhà trường, nhưng đó cũng không phải là thứ ngôn ngữ ấy.

– Bà thấy làm việc ở đâu thì tốt nhất?

– Ở nhà, ở Belorus.

Người dịch: LN

Nguồn: http://news.tut.by/culture/467758.html

CÓ NÊN !?

12 Th10

Tê pê pê đã thuận rồi đây
Biển lớn thuyền ơi sóng gió đầy
Một gánh cuốc cày nguyên liệu trữ
Dăm ngành tiểu thủ nợ nần vay
Luật chơi hội nhập nhiều ông lớn
Trận thế quần hùng lắm cuộc say
Trị thế “cái đuôi” còn ngúc ngoắc
Có nên cắt cụp để cùng bay!?.

NH

12074718_1665716163699387_7084655111891094101_n12107066_1665716247032712_6055662064837663279_n12111992_1665716323699371_8698806934068148668_n12079305_1665716483699355_3241301651639838957_n

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG: Tin tuần từ 5/10-11/10 – NCBĐ

12 Th10

EmailInPDF.

-(Dantri 9/10) Yêu cầu LHQ điều tra Trung Quốc phá hoại môi trường Biển Đông gây tác động tiêu cực đối với các nguồn tài nguyên biển; (VNN 9/10) Vùng Xám: Một giải pháp hữu hiệu trên Biển Đông

-(Vnexpress 8/10) Mỹ sắp điều chiến hạm tới Biển Đông thách thức Trung Quốc trong phạm vi 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo của nước này; ‘Trung Quốc tránh đụng độ tàu Mỹ ở Biển Đông’

-(Toquoc 8/10) Vai trò an ninh mới của Nhật Bản đối với khu vực: Thượng nghị viện Nhật Bản ngày 19/9 thông qua dự luật an ninh, dỡ bỏ lệnh cấm quyền phòng vệ tập thể, thúc đẩy vai trò an ninh mới của Nhật Bản; (TT 8/10) Phát động giải thưởng bài nghiên cứu về Biển Đông

-(Vnexpress 7/10) Đô đốc Mỹ quyết bảo vệ tự do hàng hải ở Biển Đông và ám chỉ Trung Quốc đang trắng trợn hành động trái luật quốc tế ở Biển Đông; (KT 7/10) Ảnh tàu ngầm Malaysia tập lặn trên Biển Đông

-(GD 7/10) “Chỉ còn trông vào luật pháp quốc tế ngăn Trung Quốc dùng luật rừng ở Biển Đông”: Ngoại trưởng Philippines ông Rosario trả lời Foreign Policy bằng văn bản; Nếu Nga giúp Trung Quốc chiếm Biển Đông, Bắc Kinh sẽ đưa quân sang Syria

-(VNN 6/10) Mỹ tính thời điểm tuần tra gần đảo nhân tạo của TQ để thách thức các yêu sách lãnh thổ của TQ ở Biển Đông; (Dantri 6/10) Chuyên gia Mỹ cảnh báo “bão” quân sự ở Biển Đông

-(QĐND 5/10) Pháp nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng luật pháp quốc tế ở Biển Đông nhân chuyến thăm Nhật Bản ba ngày; (RFI 5/10) Hoa Kỳ hỗ trợ Đài Loan bảo vệ Biển Đông

-(GD 5/10) Mỹ muốn Trung Quốc tuân thủ kết quả trọng tài và cam kết của Tập Cận Bình không “quân sự hóa” ở Biển Đông;’ (CAND 5/10) Philippines nêu vấn đề Biển Đông tại Liên Hợp Quốc

-(TN 4/10) Mỹ sẽ đối đầu Trung Quốc ở Biển Đông bằng việc sắp điều tàu chiến và máy bay vào phạm vi 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo của Trung Quốc; (DT 4/10) Thủ tướng Pháp mang thông điệp Paris về Biển Đông tới Nhật Bản

-(BĐV 4/10) Trung Quốc giương vây, Mỹ ‘tiếp cận rắn’: Cuộc hội đàm cấp cao giữa Tổng thống Mỹ và Chủ tịchissue39_0.jpgTrung Quốc cuối tháng 9/2015 không đạt được bước đột phá; (Infonet 4/10) Đề xuất đổi tên gọi Biển Đông thành Biển Đông Nam Á

Trung Quốc cùng Đài Loan lập mưu hợp thức hóa đường lưỡi bò

12 Th10

 

(Quốc tế) – Trước nguy cơ đường lưỡi bò sẽ bị Tòa Trọng tài Thường trực Quốc tế The Hague, Hà Lan xem là bất hợp pháp, Trung Quốc cùng Đài Loan lập mưu hợp thức hóa đường lưỡi bò bằng một cuộc hội thảo kín về Biển Đông tại Đài Bắc vào ngày 7-8.10 giữa các học giả Trung Quốc và Đài Loan.

 
 

Trung Quoc cung Dai Loan lap muu hop thuc hoa duong luoi bo

Đảo Ba Bình đang bị Đài Loan chiếm đóng trái phép

Tờ Want China Times của Đài Loan ngày 11.10 đưa tin, các học giả Trung Quốc đã sang Đài Loan để tìm cách hợp tác với các học giả đảo này trong việc “giải quyết tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông”. Nhóm học giả Trung Quốc đã tham gia một hội thảo kín về Biển Đông tại Đài Bắc vào ngày 7- 8.10 bàn về vụ kiện đường lưỡi bò do Philippines khởi xướng.

Mưu hợp tác nhằm hợp tác hợp thức hóa đường lưỡi bò

Sáng kiến cùng nhau hợp tác bàn thảo về Biển Đông của các học giả Trung Quốc và Đài Loan được đưa ra khi Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) tại The Hague, Hà Lan dự kiến sẽ đưa ra phán quyết đầu tiên của mình trong vụ kiện của Philippines chống lại các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông trong vài tuần tới.

Phán quyết của tòa án Hague có thể là một đòn giáng mạnh vào yêu sách chủ quyền vô lý và phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông.

Tòa Trọng tài Thường trực sẽ ra phán quyết về tính hợp pháp của đường chín đoạn, còn gọi là đường lưỡi bò mà Trung Quốc yêu sách ở Biển Đông theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) mà cả Philippines và Trung Quốc là thành viên đã phê chuẩn.

Hội thảo kín tại Đài Bắc có sự tham dự của một số học giả hai bờ eo biển Đài Loan và một số quốc gia khác nhằm tìm cách hợp tác giữa Bắc Kinh và Đài Bắc để đối phó với phán quyết của Tòa có thể bất lợi cho yêu sách của cả Trung Quốc lẫn Đài Loan ở Biển Đông.

Đường lưỡi bò mà Trung Quốc đưa ra nhằm khẳng định cái gọi là chủ quyền “lịch sử” phi lý và phi pháp đối với gần như toàn bộ Biển Đông và một số thực thể ở Biển Đông mà họ gọi là đảo.

Nhưng nếu tòa thấy rằng ngay cả đảo Ba Bình, một thực thể tự nhiên lớn nhất trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam, đang bị Đài Loan chiếm đóng bất hợp pháp cũng không đủ điều kiện để có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của đảo tự nhiên theo UNCLOS, thì phán quyết của tòa có thể phá vỡ cả yêu sách chủ quyền của cả Đài Bắc lẫn Bắc Kinh. Điều này khiến Trung Quốc cùng Đài Loan phải lập mưu hợp thức hóa đường lưỡi bò nhằm bảo vệ lập trường lãnh thổ phi lý của chính mình.

Tung tiền mời học giả, mưu dùng tiền đè bẹp công lý

Để kế hoạch bành trướng chiếm trọn biển Đông của mình thành công, Trung Quốc không từ một thủ đoạn nào, từ việc “giả lơ” không đáp ứngi yêu cầu của Tòa án Hague đến tăng tốc xây dựng các đảo nhân tạo phi pháp trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam mà Bắc Kinh chiếm đóng trái phép…

Bắc Kinh còn có kế hoạch tung tiền mời các học giả Đài Loan và một số quốc gia, vùng lãnh thổ khác nghiên cứu yêu sách Trung Quốc ở Biển Đông. Chính phủ Trung Quốc đã bơm rất nhiều tiền cho đại học Nam Kinh để nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến Biển Đông.

Với quỹ mới được rót, đại học Nam Kinh đã thành lập Trung tâm nghiên cứu Biển Đông mới. Chu Phong, một giáo sư từ đại học Bắc Kinh được nhắm trao cho vị trí Giám đốc Trung tâm này, Ngô Sĩ Tồn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biển Đông của tỉnh Hải Nam đã được bổ nhiệm là Phó giám đốc Trung tâm.

Đường lưỡi bò phi lý được hình thành như thế nào

Đường chữ U, còn được gọi là đường 9 đoạn hay “lưỡi bò” là đường ranh giới được Trung Quốc đơn phương đưa ra để đòi hỏi chủ quyền lãnh thổ ở vùng Biển Đông.

Tấm bản đồ với các ranh giới trên biển đã được chính quyền Quốc Dân Đảng cầm quyền tại Trung Quốc vẽ ra từ trước khi họ phải chạy tới đảo Đài Loan vào năm 1949, nhưng hầu như không được nhắc đến trong một thời gian dài. Thế nhưng, vào tháng 5.2009, trong một văn kiện chuyển cho Liên Hiệp Quốc, Bắc Kinh đã đơn phương sử dụng tấm bản đồ này để khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên hầu như toàn bộ Biển Đông.

Từ đó đến nay, tấm bản đồ hình lưỡi bò đã bị hầu hết giới nghiên cứu trên thế giới khẳng định không có cơ sở pháp lý, không phù hợp với UNCLOS mà chính Trung Quốc đã ký kết. Trước những lời phê phán kể trên, phía Trung Quốc đã không có lời giải thích thỏa đáng, mà chỉ viện dẫn “chủ quyền lịch sử” để bảo vệ quan điểm của mình.

(Theo Một Thế Giới)

Bài viết, video, hình ảnh đóng góp cho chuyên mục vui lòng gửi vềbanbientap@nguyentandung.org

‘Tôi bàng hoàng tự hỏi: Chẳng lẽ đây là người VN ta?’ – TVN

5 Th10

 – “Cái mà chúng ta chưa làm được lớn nhất, đáng lo nhất trong thời gian vừa qua không phải là ở kinh tế, mà ở việc xây dựng con người!”

LTS: TS.Lê Kiên Thành, con trai cố TBT Lê Duẩn, chia sẻ cùng Tuần Việt Nam những trăn trở của ông về vấn đề con người trong dự thảo báo cáo chính trị của BCH TW khóa XI cho Đại hội khóa XII.

Lê Kiên Thành, Lê Duẩn, Đại Hội Đảng, con người, người Việt, XHCN, đảng viên
TS. Lê Kiên Thành. Ảnh: Minh Trí/ Một thế giới

Nhà báo Duy Chiến: Thưa ông, xuất thân từ gia đình truyền thống, với tư cách là một đảng viên, một doanh nhân, chắc ông đã nghiên cứu dự thảo báo cáo chính trị của BCH TƯ Đảng  Đại hội 12. Điều ông quan tâm nhất trong báo cáo này là gì?Cái chưa làm được lớn nhất là xây dựng con người

TS. Lê Kiên Thành:  Báo cáo chính trị là sự tổng kết, đánh giá kết quả những gì chúng ta đã làm trong 5 năm qua một cách toàn diện, cả được và chưa được. Những năm vừa qua, nhìn nhận và quan sát sự vận hành của xã hội ta, cái tôi quan tâm nhất, đó là con người. Trong Chương 7 “Phát triển văn hóa và xây dựng con người”của báo cáo có 6 nhiệm vụ trọng tâm thì nhiệm vụ cuối cùng cũng nói tới phát huy nhân tố con người.

Và đây là phần tôi quan tâm, lo lắng, ưu tư nhất trong tình hình xã hội của chúng ta giai đoạn hiện nay. Bởi vì, suy cho cùng thì “nguyên nhân của mọi nguyên nhân”, thành hay bại, cũng do yếu tố nhân tố con người quyết định. Chúng ta phải hiểu rằng rất nhiều điều chúng ta chưa làm được là do chúng ta chưa xây dựng được con người cần thiết. 

Phần ghi nhận và đánh giá về con người và văn hóa trong dự thảo đã đề cập, ông thấy chưa đầy đủ và chưa thỏa đáng như thế nào?

TS Lê Kiên Thành: Nhìn vào xã hội chúng ta đang sống trong những năm vừa qua, với cách đánh giá và xác định nhiệm vụ “xây dựng con người” ở vị trí cuối cùng trong 6 nhiệm vụ quan trọng này, theo tôi, dự thảo đã đặt ở vị trí không thỏa đáng.

Trong khi đó, cái mà chúng ta chưa làm được lớn nhất, đáng lo nhất trong thời gian vừa qua không phải là ở kinh tế, mà ở việc xây dựng con người! Tôi xin nói thẳng đó là sự thất bại, chứ không phải sự sự xuống cấp, suy đồi, như trong dự thảo!

Có lẽ chưa bao giờ hình ảnh dân tộc ta đang bị xuống cấp vô cùng trầm trọng như hiện nay. Theo dõi truyền thông có thể thấy trong không ít vụ án kẻ sát nhân xuống tay với nạn nhân quá dễ dàng, đơn giản.  Một con người chưa bao giờ phạm tội ác có thể giết một lúc 4 người, có cả trẻ em, mà không có mảy may gợi nên chút sợ hãi. Hay cháu giết bà nội, con có thể giết cha…

Điều đó nói lên cái gì? Đó là, chúng ta đang hủy hoại tài nguyên lớn nhất, sức mạnh lớn nhất, quyết định nhất là con người! Đáng lo nhất là trong dự thảo báo cáo chính trị không có một hướng nào để giải quyết.

Hồi xưa Bác Hồ có nói: “Muốn xây dựng CNXH thì phải có con người XHCN”. Tuy nhiên, tôi có cảm giác như chúng ta chưa tự tin vào chính mình, chưa dám đặt ra định hướng cho dù CNXH còn lâu mới đến. Chúng ta đang xây dựng con người mà chính cái xã hội đó chưa hình thành, chưa tồn tại, vậy chúng ta có thể làm được điều đó không?

Được chứ! Cho dù CNXH chưa đến, nhưng chúng ta vẫn hình dung được những tố chất của những con người của xã hội mới đó. Muốn như thế thì những con người đó phải bảo tồn cho được những tố chất truyền thống của dân tộc đã từng tôi luyện qua bao nhiêu năm, đồng thời con người đó phải biết hấp thụ những tinh hoa của thời đó. Đó là con người gì? Trong dự thảo hoàn toàn còn thiếu định hướng đó. Chừng nào ta chưa nói được điều đó thì tất cả những mâu thuẫn xã hội hiện nay chưa giải quyết được!

Tóm lại, rõ ràng con người và những vấn đề về con người phải được đặt lên hàng đầu, chứ không phải vào vị trí cuối cùng như trong dự thảo!

Những phẩm chất cao đẹp, nhân văn đã đi đâu?

Thưa ông, con người và tài nguyên con người, sức mạnh lớn nhất của Việt Nam chúng ta theo quan điểm của ông, họ như thế nào? Ông có thể phác họa vài nét về hình hài con người đó?

 

TS Lê Kiên Thành: Có thời điểm người nước ngoài nhận định về xã hội ta là “Ra ngõ gặp anh hùng”. Đó là sự thật và không phải ta tự nói về ta. Nhà báo nổi tiếng Úc Uyn-phret Bơc-sét nhìn thấy hình ảnh cô du kích áp giải phi công Mỹ đã thốt lên: “Súng thì dài hơn người, chiến công thì nhiều hơn tuổi”! Con người VN có thời điểm lịch sử bừng sáng đến như vậy, nhờ vậy đã giải quyết được những vấn đề rất lớn mà lịch sử đặt ra cho dân tộc VN vào thế hệ đó.

Đó không phải là những con người duy ý chí, không thật. Họ hoàn toàn thật, sống vì gia đình con cái chứ không phải quên hết tất cả. Chúng ta hoàn toàn có cơ sở để tin rằng chúng ta có thể hoạch định chiến lược vừa giữ gìn vừa xây dựng được lớp con người mới VN. Cái mới này phải hoàn toàn mang tính chất của người VN cũ là yêu thương dân tộc, hàng xóm, con người và say mê lao động, có trách nhiệm với đất nước.

Lê Kiên Thành, Lê Duẩn, Đại Hội Đảng, con người, người Việt, XHCN, đảng viên
Sức mạnh lớn nhất, quyết định nhất là con người. Ảnh minh họa

Vào những năm 1970 – 1971, tôi đã từng chứng kiến cuộc giải tù bình Mỹ từ Hỏa Lò ra sân vận động Hàng Đẫy làm cuộc mít tinh. Hai bên đường nhân dân đứng rất đông. Khi đoàn tù bình đi qua không một tiếng chửi bới, không có gạch đá ném. Người ta nhìn đám tù binh đi trong im lặng. Thỉnh thoảng có người hét to: “Đả đảo đế quốc Mỹ” một cách rất tự phát.Quay lại tính nhân văn của dân tộc, tôi cứ băn khoăn mãi. Hôm trước mở báo ra tôi cứ bị ám ảnh hình ảnh hai ông già đi ăn trộm gà bị bắt, bị đánh hộc máu mồm ra, rồi bắt ngậm con gà chết. Tôi cứ bàng hoàng, tự hỏi: “Chẳng lẽ đây là người VN chúng ta?”

Sau nghĩ lại tôi thấy tự hào về dân tộc mình: Chúng nó đã giết bao nhiêu người, trong đó có nhiều người thân của những người đang đứng hai bên đường. Vậy mà chỉ nhìn chúng đi qua, vừa khinh rẻ, coi thường, nhưng vừa rộng lượng. Con người VN lúc ấy rất đàng hoàng, văn minh, nhân ái, rộng lượng, và chính trên tư thế ấy chúng ta mới thắng Mỹ được.

Thế thì những con người ấy giờ đâu rồi? Những phẩm chất cao đẹp, nhân văn với cả kẻ thù của mình giờ đã đi đâu? Chúng ta chưa làm được nhiều về vật chất thì chúng ta phải giữ được những phẩm giá tuyệt vời như thế. Và không chỉ giữ được mà còn phải nhân ra.

Đảng ta đang khẳng định sự lãnh đạo của mình thì Đảng phải xông vào việc đó, chứ không thể chỉ có vài ý kiến nhạt nhòa như trong dự thảo. Đó là tôi chưa nói về những tiêu chí liên quan đến con người cũng rất quan trọng.

Đó là tiêu chí gì, thưa ông?

TS Lê Kiên Thành: Đó là tiêu chí thất nghiệp và chỉ tiêu giải quyết công ăn việc làm cho con người.

Việc con người có việc làm ảnh hưởng sâu rộng đến con người, không chỉ đến đời sống mà ảnh hưởng tới toàn thể con người, kể cả đạo đức, tinh thần, văn hóa và quyền con người. Con người có quyền rất lớn là quyền được lao động để mà sinh sống. Cho nên đối với các đảng cầm quyền, một trong những mục tiêu của họ là sẽ đưa chỉ số thất nghiệp từ bao nhiêu xuống bao nhiêu.

Thất nghiệp nói lên cái gì?  Đó không chỉ là nhu cầu sống mà còn là an ninh xã hội. Vừa rồi tất cả các chuyện xảy ra tôi cho rằng phần lớn chúng ta chưa đáp ứng được quyền của con người, tức quyền có công ăn việc làm. Từ đó gây ra chuyện xuống cấp về con người.

Sự xuống cấp của quan chức là ở góc độ khác. Bởi họ được tiếp cận với quá nhiều quyền lợi mà không giữ bản thân. Còn xuống cấp trong xã hội nói chung vì quá nghèo khổ, không có công ăn việc làm.

Hiện nay tỷ lê thất nghiệp của VN là bao nhiêu? Chúng ta chưa có con số chính xác và chính thức, nhưng cá nhân tôi nghĩ, thất nghiệp không dưới 15 – 17%. Và chưa bao giờ tỷ lệ thất nghiệp và chỉ tiêu giải quyết công ăn việc làm được đưa báo cáo của Chính phủ hay báo cáo chính trị của Đảng như thế này. Từ cái không đúng cơ bản này sinh ra vô vàn những vấn đề khác.

Thực ra những cái đó nếu Đảng lãnh đạo được thì vai trò của Đảng mới thể hiện rõ. Từ trước đến nay chúng ta tác động rất mạnh vào con người để huy động sức người, sức của cho cuộc chiến tranh mà sự chênh lệch vật chất rất lớn giữa một bên là nước Mỹ một bên là VN. Cái gì để đẩy sức mạnh vật chất lên ngang tầm để thắng Mỹ?

Người ta đã tổng kết muôn đời rồi, không thể dùng tinh thần thắng vật chất được mà phải vật chất thắng vật chất. Vậy cái gì ở VN trong thời điểm đó đẩy cái vật chất bé nhỏ này thành vật chất lớn để chọi lại vật chất khổng lồ kia? Tinh thần chỉ nằm một phần trong khái niệm đó thôi. Để làm được điều đó thì phải cho tất cả quyện lại với nhau tạo ra lượng vật chất thật để chống chọi.

Trong công cuộc xã hội mới này nếu chúng ta làm được như vậy thì cũng có thể từ thu nhập thấp đẩy chất lượng cuộc sống lên tầm cao như chất lượng cuộc sống của những nước có thu nhập cao. Khi chúng ta đổi mới, thì việc đụng đến con người mới XHCN là tránh né, ngại đề cập, xem nó như cổ hủ, lỗi thời. Nếu chúng ta xây dựng được con người XHCN trong nền kinh tế thị trường này thì đó mới là định hướng thật, là sự khẳng định có định hướng XHCN.

Con người XHCN làm chủ kinh tế thị trường, tại sao không? Đó mới là sự khác biệt của chúng ta thật sự. Chính phủ lo về phát triển kinh tế, còn Đảng phải lo về con người, xây dựng con người. Nắm được con người là nắm được cốt lõi của vấn đề, nắm được tất cả và chi phối được điều chúng ta muốn khẳng định là định hướng XHCN. Không thể khác được!

(Còn nữa)

Duy Chiến

TS. Lê Kiên Thành sinh năm 1955, là con trai của cố TBT Lê Duẩn.Ông tham gia quân đội rất sớm, từ năm 1972, vào Đảng năm 1976. Từ năm 1990, ông đã nghỉ công tác tại cơ quan nhà nước để tham gia làm kinh tế tư nhân. Ông từng là Chủ tịch HĐQT ngân hàng Techcombank. Hiện nay ông Chủ tịch HĐQT Công ty CP xây dựng và phát triển đô thị, Tổng giám đốc công ty Thiên Minh…. 

TQ “nóng máu” vì ông Tập bị bà Hillary Clinton “mắng thẳng” – BS

29 Th9

Posted by adminbasam on 29/09/2015

Soha News/ TTT

28-9-2015

H1

Trung Quốc đã phản ứng sau khi bà Hillary Clinton chỉ trích việc Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chủ trì một hội nghị về quyền phụ nữ tại LHQ là hành động “không biết xấu hổ”.

Tối 27/9 (giờ địa phương), Hội nghị Lãnh đạo toàn cầu về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ đã được tổ chức do Tổng Thư ký LHQ Ban Ki Moon và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chủ trì.

Theo trang Phượng Hoàng (Trung Quốc), ứng cử viên Tổng thống Mỹ, cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton đã chỉ trích việc ông Tập tham gia chủ trì một hội nghị của LHQ về vấn đề quyền phụ nữ là “không biết xấu hổ”.

Những lời phê bình trên được bà Hillary đăng tải trên tài khoản Twitter của mình, với lý do được bà nêu ra là vấn đề phụ nữ ở Trung Quốc còn tồn tại nhiều tiêu cực và một số nhà hoạt động đã bị bắt giữ.

H1

Thời báo Hoàn Cầu đăng bài xã luận chỉ trích bà Hillary kèm hình ảnh dòng trạng thái của bà trên Twitter.

Ngay sau những tuyên bố của cựu Ngoại trưởng Mỹ, đại diện Trung Quốc đã phản ứng trong một cuộc họp báo rằng “chỉ có người dân, đặc biệt là phụ nữ Trung Quốc, mới có quyền lên tiếng đánh giá về sự nghiệp phụ nữ của Trung Quốc”.

Vụ trưởng Vụ hợp tác quốc tế Bộ ngoại giao Trung Quốc Lý Quân Hoa tuyên bố:“Chúng tôi nhận thấy một số cá nhân, tập thể phát biểu quan điểm đối với sự nghiệp phụ nữ của Trung Quốc.

Một số ý kiến ‘ăn không nói có’, trong khi một số khác không hiểu rõ về những tiến bộ đạt được trong lĩnh vực này ở Trung Quốc.

Ví dụ, [bà Hillary Clinton] vừa đề cập tới một số nhà hoạt động thúc đẩy nữ quyền bị nhà chức trách câu lưu.

Theo tôi được biết, những người này bị tạm giữ không phải vì thúc đẩy quyền phụ nữ, mà do hành động của họ vi phạm pháp luật Trung Quốc.”

H1

Trung Quốc ngay lập tức “phản pháo” bà Hillary Clinton trong một cuộc họp báo. Ảnh: Nam Đô.

Trong bài xã luận đăng trên Thời báo Hoàn Cầu (Trung Quốc) sáng nay (28/9), tờ này gay gắt gọi những lời phê bình của bà Hillary là “thô lỗ, vô cùng thất lễ”.

Thậm chí, Hoàn Cầu còn “lôi” cả ứng viên Tổng thống của đảng Cộng hòa Donald Trump vào cuộc khi chỉ trích Hillary Clinton “từ bỏ tác phong đáng quý của một cựu Ngoại trưởng” để “học theo phong cách đao to búa lớn” của tỷ phú Trump.

Tại hội nghị trên, ông Tập tuyên bố Trung Quốc sẽ hỗ trợ thiết lập 100 dự án liên quan tới sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em, đầu tư tài chính cho hơn 100 dự án khác để đưa các bé gái nghèo tới trường và đào tạo phụ nữ ở các nước đang phát triển.

___

VOA

29-9-2015

H1Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát biểu tại hội nghị thượng đỉnh LHQ ngày 26/9/2015.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã kêu gọi các nhà lãnh đạo trên thế giới tăng cường nỗ lực cải thiện quyền của phụ nữ.

Phát biểu tại hội nghị thượng đỉnh Liên hiệp quốc về bình đẳng giới, nhà lãnh đạo Trung Quốc cam kết góp 10 triệu đô la cho cơ quan Liên hiệp quốc chuyên trách nữ quyền trong khi các nhà hoạt động và các tổ chức bảo vệ nhân quyền mạnh mẽ chỉ trích Trung Quốc về việc cầm tù các nhà hoạt động nữ.

Ông Tập, người tổ chức cuộc họp, cũng cam kết sẽ xây 100 trung tâm y tế và 100 trường học cho trẻ em gái ở các nước đang phát triển trong 5 năm tới.

Nhưng sáng kiến của Tập đã gặp phải những lời khen chê cùng sự chỉ trích mạnh mẽ trên Twitter từ ứng cử viên Tổng thống Mỹ Hillary Clinton.

Bà Clinton viết “Ông Tập chủ trì một cuộc họp về nữ quyền tại Liên hiệp quốc trong khi đang đàn áp những người bênh vực cho quyền phụ nữ hay sao? Thật là không biết xấu hổ.” Bà Clinton muốn nhắc tới vụ bắt giam 5 nhà hoạt động trẻ ở Trung Quốc bênh vực cho nữ quyền trước Ngày Quốc tế Phụ nữ.

Nhóm này bị bắt tại một số thành phố khi họ phát tờ rơi báo động về nạn quấy rối tình dục trên các phương tiện công cộng. Sau đó họ được phóng thích nhưng bị giám sát tư pháp.

Một loạt các nữ lãnh đạo thế giới đã phát biểu tại cuộc họp do Chủ tịch Trung Quốc chủ trì, trong đó có Thủ tướng Đức Angela Merkel, Tổng thống Liberia Ellen Johnson Sirleaf, và Thủ tướng Bangladesh Sheikh Hasina.

Thủ tướng Đức dùng bài diễn văn của mình nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc bảo vệ phụ nữ trước nạn cưỡng hiếp, nộ lệ hóa, cùng các hành vi ngược đãi khác ở Syria, Iraq, Nigeria và các vùng xung đột khác trên toàn cầu.

“Con đĩ của nhân loại” đã ngự trị trái đất ra sao? – VHNA

29 Th9

  •   ĐỖ MINH TUẤN
  • Chủ nhật, 20 Tháng 9 2015 06:39
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
 

K.Marx nói “Đồng tiền là con đĩ của nhân loại”. Nhưng đây là một con đĩ có quyền lực ghê gớm nhất, có thể chi phối tất cả thế gian, từ giới trí thức, đến tôn giáo và khoa học, biến tất cả thành hàng hoá và kẻ làm thuê cho nó. Những thông tin về sự thao túng ngày càng tăng của nó trong các lãnh địa được coi là cao quý thiêng liêng nhất của nhân loại cho ta thấy đã đến lúc thế giới phải đoàn kết lại để chống lại “con đĩ siêu đẳng” này, không phải bằng bạo lực mà bằng nhân tính, bản lĩnh và trí tuệ, vì sự tồn vong của những giá trị mà nhân loại đã từng kiêu hãnh đưa tới cho hành tinh của cây xanh, khoa học, tình yêu và thi ca.

Trí thức với đồng tiền

Một học giả Nga đã nhận xét tinh tế rằng: có ba dấu hiệu của giới trí thức về mặt nguyên tắc phân biệt nó với các nhóm xã hội khác: thái độ đối với sự giàu có, với lịch sử và với nhà nước. Trong tất cả các trường hợp, ba thái độ này đều là hỗn hợp của sự khinh bỉ, nôn nóng và ganh tị. Theo ông, đây là điều đặc biệt tiêu biểu đối với giới trí thức Pháp và Nga, dù cho trong các nước Anglo-Saxon những tâm trạng tương tự ở thế kỷ vừa qua cũng tăng lên đáng kể.

Hình ảnh công tử Bạc Liêu đốt tiền làm đóm soi tìm đồng tiền rơi cho người đẹp và hình ảnh Serge Gainsbourg, một trí thức Pháp, đốt tờ 500 FR châm thuốc lá ngay trên truyền hình khá tiêu biểu cho thái độ coi khinh  tiền bạc đặc trưng cho trí thức này.

Những thái độ coi khinh tiền bạc của nhiều trí thức Pháp được bảo đảm bởi những huyền thoại về một nước Pháp văn hoá từng mang những chân lý có giá trị phổ quát toàn cầu. Nước Pháp từng được Clemenceau coi là người lính của Thượng đế trong quá khứ, người lính của văn minh trong hiện tại và người lính của lý tưởng trong tương lai. Ấy vậy mà cùng với sự phát triển của Tân lục địa, đồng tiền  đã làm lu mờ những huyền thoại của cựu lục địa và báo thù ngoạn mục với thái độ khinh miệt của trí thức nơi đây.

Từ chỗ là “con đĩ của nhân loại” (K.Marx) đồng tiền đã ngày  càng trở thành biểu tượng thiêng liêng mang ý nghĩa đời sống, mang tự hào dân tộc, mang sức mạnh tương lai. Từ chỗ coi khinh sự giàu có, các trí thức cựu lục địa đã bắt đầu quen với lý tưởng làm giàu, bắt đầu trang sức bằng các chỉ số phát triển kinh tế, bắt đầu bị cuốn theo ma lực của cuộc sống tiêu dùng và không ngại ngần làm thơ ca ngợi những con buôn và những tiện nghi.

Andre Gide, từ những năm 50 đã linh cảm thấy quyền lực tương lai của đồng tiền khi nhận xét rằng các xã hội tư bản quy mọi thứ về tiền, nhưng các xã hội khác rồi cũng thông qua quyền lực và  những con đường khác để đi đến đồng tiền. Ðồng tiền một khi đã lên ngôi lý tưởng, nó có thể mua được cả quyền lực, cả nhân cách, cả truyền thống, cả đức tin. Thậm chí, có  tỷ phú đã ngạo mạn tuyên bố: “Cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền”. Đồng tiền mua được cả ghế Tổng thống. Năm 1996, bảy nhà tư bản lớn nhất nước Nga, cũng là bảy người nắm  quyền kiểm soát với truyền thông đại chúng lúc bấy giờ đã hợp tác với nhau để đảm bảo cho Tổng thống Enxin đắc cử thêm một nhiệm kỳ. Tổng thống và các đảng cầm quyền của nhiều  cường quốc khác cũng không tránh khỏi sự chi phối của đồng tiền thông qua các tập đoàn tài chính.

Trong khi không ít trí thức cựu lục địa đang hăm hở sám hối, đi tiên phong trong thời đại toàn cầu hoá, say sưa với những khái niệm kinh tế học thời thượng vừa mới nhập vội, xin lỗi và ve vãn đồng tiền, đưa nó lên ngôi chúa tể, biến nó thành thước đo hạnh phúc và tiến bộ của một dân tộc thì lại có những trí thức ở các xứ sở giàu có phê phán thói tâng bốc đồng tiền, đòi đặt đồng tiền về đúng vị trí của nó. Thậm chí, một huyền thoại trong thế giới tài chính là G.Soros (Mỹ) đã phản đối việc lấy  lấy tổng sản phẩm quốc dân (GNP) làm thước đo phát triển vì, theo ông, làm như vậy có khác gì chấp nhận đồng tiền như một giá trị đích thực, một giá trị tự thân. Ông cho rằng, trên thực tế thì GNP cao chưa phản ánh sự tiến bộ xã hội. Trong một nước bệnh Aids đang hoành hành thì GNP tăng lên vì người ta phải tốn nhiều chi phí xử lý căn bệnh thế kỷ này.Vì thế, vận dụng thước đo đồng tiền sẽ không thể biết thế giới đang tiến lên hay đang đi giật lùi.

Theo Soros, các giá trị đích thực không thể dùng đồng tiền để đo lường, phải có những thước đo tiến bộ khác phản ánh được những chỉ số vô hình như hạnh phúc và quyền tự chủ của công dân. Nét đặc sắc riêng của các giá trị đích thực là chúng tự bản thân đã chứa đựng các giá trị nội tại, bất luận chúng đã chiếm lĩnh được vị trí chủ đạo hay chưa. Các giá trị đích thực khác xa với các  giá trị thị trường ở chỗ tự thân nó đã có giá trị, có quyền lực, không cần phải cạnh tranh để tự khẳng định như giá trị thị trường. G. Soros- Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu-NXB Khoa học xã hội năm 1999, trang 429.

Thực tế phát triển cho thấy những điều Soros nói là rất sâu sắc. Sự bành trướng của kỹ nghệ trong phạm vi toàn cầu đã làm suy giảm những điều kiện nảy sinh và dung dưỡng trí thông minh, luân lý, tình thương và những phẩm chất cần cho cuộc sống cộng đồng- từ cộng đồng nhỏ là gia đình, đến các cộng đồng lớn hơn trong xã hội. Những không gian gia đình, cộng đồng truyền thống bị phá vỡ đã làm giảm chất  lượng sống của con người một cách sâu sắc.

Người ta đã thấy cuộc sống gia đình trong các xã hội phát triển kinh tế trở nên nghèo nàn, đơn điệu, trong đó những đứa trẻ không còn được hô hấp trong bầu dinh dưỡng tình cảm, tâm linh và trí tuệ như ngày xưa. Gia đình bị chia cắt, vỡ nát không gian tình cảm, cha mẹ bị ném tới cơ quan công xưởng, trẻ em trở thành những vị “thiền sư” luôn dán mắt vào Tivi hay computer để sống với thế giới ảo đầy bạo lực và hoang tưởng. Gia đình lại dạy chúng cách hành xử giản đơn kiểu duy lý thực dụng, mọi thứ có thể quy ra luật và tiền, mọi mục đích trở nên cụ thể ở tầm gần và mọi mâu thuẫn trong đời sống được giải quyết một cách giản đơn và thô bạo, thiếu một bàn tay khéo léo, bao dung và mềm mại của tình người và của thời gian.

Khi công nghệ và nhịp sống man rợ một cách lấp lánh này được du nhập vào thế giới thứ ba, nó mang theo cả những căn bệnh xã hội nói trên nhưng ở mức trầm trọng hơn, vì các xã hội nghèo không có hệ miễn dịch từ truyền thống pháp trị và kỹ trị. Tuy nhiên, khi đánh giá về phát triển, người ta thường quên đi những sự thụt lùi hay phá sản trong các lĩnh vực vô hình như văn hoá, tình cảm, ý nghĩa, tâm linh. Đó là nơi người trí thức nhạy cảm về ý nghĩa và giá trị.

 Nếu như những luận điểm này được phát ra từ một kẻ đạo văn hay một học giả khiêm tốn chỉ nói những điều đã tiêu hoá vào trong bụng mình, ghét thói  trích dẫn khoe khoang thì hẳn là kẻ phát ngôn sẽ bị nhiều người coi là bảo thủ và gàn dở. Người ta sẽ bĩu môi cho rằng trong khi cả thế giới đua nhau làm giàu, vinh quang nhờ cạnh tranh và buôn bán thì mình vẫn cứ khư khư ôm lấy những giá trị trừu tượng cổ hủ theo kiểu các hủ nho, các ẩn sĩ tự phong là “Vua không ngai”, các thi sĩ ước mơ “Một mái nhà tranh hai trái tim vàng”! Nhưng may thay, đó lại là những ý tưởng phát ra từ miệng trùm tài chính thế giới, một phù thuỷ trong vương quốc đồng tiền. Thông tin chính xác và cập nhật về suy tư của người trí thức đương đại, khiến ta  thấy tin hơn ở tổ tiên và những giá trị nhân văn đang bị nhiều người chối bỏ để chạy theo giá trị thị trường.

Tôn giáo với đồng tiền

Vào thế kỷ thứ 7, Vua Hồi giáo đầu tiên đã lập ra một hệ thống tiền tệ quốc tế, với đồng tiền đúc mà hình dạng và quan niệm rất gần với đồng tiền hiện đại. Những đồng Dinar vàng này đã được các xứ sở Trung Ðông rất ưa thích, đến nỗi những Vương quốc Kito giáo do các đạo quân Thập tự chinh thiết lập đã phải đúc ra những đồng tiền mô phỏng đồng Dinar để kiếm lời, bất chấp đó là những đồng tiền tôn vinh Thánh Allah. Sau khi bị Giáo hoàng phát hiện, những tín đồ Thiên chúa đúc tiền theo mẫu tiền Hồi giáo đã bị rút phép thông công, nhưng người ta vẫn phải đúc một đồng tiền mới của Thiên chúa giáo giống hệt đồng Dinar, chỉ thêm vào cây Thánh giá và dòng chữ Arập tôn vinh Thiên chúa.

Trong khi Thiên Chúa giáo và một số tôn giáo khác ngày càng thế tục hoá  thì Hồi giáo vẫn kiên trì với những nguyên tắc khắt khe. Chính vì thế, cái quan niệm cho rằng Hồi giáo xung khắc với lợi nhuận đã ngự trị trong một thời gian dài hạn chế sự tham gia của các tín đồ Hồi giáo vào các lĩnh vực kinh doanh. Những người trí thức có cái  nhìn cởi mở không thoả mãn với định kiến này đã cố truy tìm trong Kinh Coran những ý tưởng khuyến khích các tín đồ Hồi giáo kinh doanh. John Nabish, nhà tương lai học người Mỹ đã phát hiện ra rằng Muhammad từng nói: “Một thương gia chân thật và đáng tin cậy sẽ được tập hợp lại vào Ngày tận thế cùng với các nhà tiên tri, những người tử vì đạo và những người công chính”( Những xu hướng lớn của Châu Á làm thay đổi thế giới, NXB Trẻ, 1998) Người ta khẳng định rằng cả Kinh Coran và bản thân Muhammad tin vào một hệ thống dựa trên tiến thủ cá nhân và phần thưởng cá nhân. Trên thực tế, ngày càng có nhiều tín đồ Hồi giáo nắm quyền lãnh đạo các công ty lớn ở Châu Á, nhất là ở Malaysia và Indonesia, họ đóng vai trò quan trọng trong việc hiện đại hoá Châu Á. Ở Malaysia, phái Hồi giáo Al alqum đã thu hút được hơn một triệu tín đồ và bành trướng thành một kiểu doanh nghiệp lớn, nhưng sau đó đã bị chính quyền đất nước này đình chỉ, buộc đóng cửa các cơ sở hoạt động tôn giáo và kinh doanh.

Trước sự thành công về kinh tế của các nước Châu Á, nhiều người cho rằng đó là do Khổng giáo với quan niệm coi trọng gia đình và cộng đồng đã tạo nên động lực cho sự phát triển thần kỳ. Nhưng có ý kiến lại cho rằng chính sự phát triển của kinh tế Ðông Á đã tạo ra danh tiếng cho Khổng giáo chứ bản thân Khổng giáo coi giàu có và điạ vị  chỉ là thứ phù vân. Max Weber và một số học giả bài bác Khổng giáo cho rằng tôn giáo này  không hợp với phương Tây, không thể thích hợp với kinh tế thị trường. Nhưng những người muốn tìm kiếm cơ sở phát triển kinh tế và hiện đại hoá trong Khổng giáo đã chủ trương sáng tạo ra một nền kinh tế thị trường kiểu luân lý phương Ðông. Các học giả cho rằng tuy có vẻ gò bó con người trong tôn ty trật tự, nhưng Khổng giáo luôn đòi trách nhiệm hai chiều. Khổng giáo không chỉ đơn thuần ủng hộ cho việc phục tùng chính quyền mà còn là trách nhiệm của chính quyền về cả đạo đức và nghĩa vụ. Khổng giáo xây dựng nên một xã hội rất trật tự từ dưới đáy lên hơn là từ trên đi xuống, nhấn mạnh đến các bổn phận đạo đức của cuộc sống gia đình như là một viên gạch cơ bản xây dựng  nên xã hội. Sự liên kết trong phạm vi  gia đình có vị trí quan trọng hơn các loại quan hệ cao hơn, kể cả các bổn phận với giới cầm quyền chính trị. Trên thực tế, chính những liên hệ gia đình dòng tộc là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho người Hoa hải ngoại trở thành những doanh nhân vĩ đại nhất thế giới, cuối thế kỷ 20 đã quản lý 541 tỷ đô-la, trở thành nền kinh tế lớn thứ ba của thế giới sau Hoa  kỳ và Nhật Bản. Bí quyết kinh doanh của người Hoa chung quy lại là con người và các mối tiếp xúc mang tính gia đình, tạo nên hàng chục ngàn mạng lưới giống như mạng Internet.

Xem ra, các tôn giáo dù nguyên gốc có vẻ xa lạ với kinh doanh và tiền bạc đến đâu cũng có thể được người thời nay lôi vào khai thác phục vụ cho công việc làm giàu. Thậm chí, ở quê hương Khổng tử  đã có tới 29 loại thức uống và 8 loại thức ăn mang tên Ngài. Những hậu duệ của Ngài còn tung ra một loại rượu mạnh mang tên Khổng tử dù Ngài không hề khuyến khích các đệ tử của mình uống rượu. Rượu Khổng tử bán rất chạy vì người ta đã dùng chính lời Khổng tử dạy về chia sẻ của cải làm khẩu hiệu tiếp thị: “Nếu con có một chai chai rượu, con cũng phải cho anh em mình một chai” (!). Thế mới hay, cơ chế thị trường có thể biến tên tuổi thánh nhân và tư tưởng của thánh nhân thành tem nhãn, bao bì và hàng hoá để bán chạy một mặt hàng đi ngược lại ý nguyện thánh nhân. Nếu tất cả các loại hàng hoá của con cháu Khổng tử đều mang tên Ngài thì e rằng sẽ đến ngày có cả nhà chứa Khổng tử, sòng bạc Khổng tử và băng đảng mafia Khổng tử.                             

Khoa học với đồng tiền

Khoa học với những phát minh sáng chế kỳ diệu của nó thực sự đã trở thành một hành trang đáng tự hào nhất của nhân loại khi bước vào thiên niên kỷ mới. Nhưng khoa học ở thế kỷ 21 không còn niềm kiêu hãnh của một sức mạnh tự do như khoa học các thế kỷ trước, vì khoa học giờ đây đã trở thành hàng hoá trên phạm vi toàn cầu, trở thành nô bộc của đồng tiền và đánh mất logic phát triển tự thân trong sứ mạng sinh lời cho các ông chủ mới vốn từ ống tay áo của khoa học kỹ thuật chui ra.

Khoa học đã từng nếm mùi nô lệ Nhà thờ từ thời Trung cổ. Phải mất bao nhiêu công sức đấu tranh, các trường Ðại học mới dược Giáo hoàng ban cho những đặc quyền tự do đầu tiên, phỏng theo các quyền tự do của tu sĩ. Trong nhiều thế kỷ, sự phát triển của khoa học được quyết định bởi lô gíc duy nhất: vì sự tiến bộ của tri thức chứ không lệ thuộc vào bất kỳ một lý do sinh lợi nào. Nhưng sự phát triển của công nghiệp với những thăng trầm của nó đã dần dần biến khoa học thành một  thứ hàng hoá, nhà khoa học thành kẻ làm thuê.

Từ đầu thập kỷ 80, trong tất cả các nước phát triển các trường Ðại học với cac trung tâm nghiên cứu lớn đã bắt đầu gắn chặt hoạt động nghiên cứu của mình với các ngành công nghiệp dưới những hình thức: đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cho công nghiệp, liên kết nghiên cứu các dự án dài hạn theo đơn đặt hàng của công nghiệp. Các nhà khoa học tìm thấy hứng thú mới trong mối duyên khoa học-công nghiệp, vì ở đó họ được bổ sung kinh phí, thiết bị và con người, họ được hưởng lợi từ các công trình nghiên cứu. Ngày càng nhiều các hãng của Mỹ, Nhật, Ðức, Pháp liên hệ hợp tác với các nhóm Ðại học ở nước ngoài. Từ năm 1987 đến 1989, riêng hãng dược phẩm Upjohu của Anh đã tung ra bảy dự án nghiên cứu của các trường Ðại học ở Anh, Ðức, Tây Ban Nha, Pháp và Thuỵ Ðiển làm các nước này lo lắng về sự thất thoát chất xám và bí mật quốc gia. Năm 1986, quỹ nghiên cứu của các trường Ðại học Mỹ đã được hưởng kinh phí từ các công ty nước ngoài là 76,2 triệu đô la. (Tạp chí  Người đưa tin UNESCO số 11, tháng 12-2001).

Ảnh hưởng của các công ty với các trường Ðại học và các trung tâm nghiên cứu ngày càng tăng dưới nhiều hình thức. Các khoa học cơ bản, nhất là các khoa học nhân văn bị bỏ rơi vì không sinh lời trực tiếp, các nhà khoa học bị định hướng vào các nhãn mác hàng hoá cụ thể mất đi quyền thể nghiệm và phiêu lưu, các phát minh không được công bố rộng rãi cho toàn nhân loại như xưa mà bị nhốt trong tủ kín của các ông bầu, các giảng đường, các cuộc hội thảo khoa học  và các phòng thí nghiệm tôn nghiêm, bị tập trung vào các hợp đồng thương mại thuân tuý và được trang hoàng bằng các logo và các biển quảng khổng lồ, sặc sỡ.

Tại Mỹ, đầu những năm 1990, Viện công nghệ Massachusetts (MIT) đã gây tai tiếng lớn khi cho phép các công ty chỉ cần chi trả 10.000-50.000USD là có thể tiếp cận và sử dụng mọi thành quả nghiên cứu  dù là bí mật của trường. Ðại học Toronto (Canada) đã ký với các Công ty những hợp đồng tài trợ  bí mật có trị giá lên tới 30 triệu đô la, đổi lại các công ty được quyền chi phối hướng nghiên cứu và khai thác các thành quả nghiên cứu của trường. Thậm chí, trường Ðại học California Berkely đã cho phép công ty này được quyền cấp bằng sáng chế cho một phần ba các công trình nghiên cứu và được quyền biên tập các công trình xem có nên cho công bố hay không! Hợp đồng này đã được coi là một vụ cướp bóc tài nguyên công cộng gây phản ứng mạnh mẽ chưa từng thấy. (Tạp chí  Người đưa tin UNESCO số 11, tháng 12-2001) Một trong những nguyên nhân của thảm trạng này là các nhà nước ngày nay đã cắt giảm nhiều ngân sách tài trợ cho các công trình nghiên cứu cơ bản khiến cho giới khoa học bị lệ thuộc vào túi tiền của các công ty. Ở một số nước, nhất là những nước kém phát triển, thì sự quan tâm tài trợ của nhà nước lại hay biến khoa học thành công cụ rửa tiền hay phương thức tham nhũng. Nhiều dự án gọi là công trình khoa học quốc  gia thực chất chỉ là một mớ kiến thức cũ rích, xào xáo để lấy tiền nhà nước chia nhau.

Sự phát triển của thị trường khoa học đã tạo nên hiện tượng Brain drain – sự thu hút trí thức từ các nước ngoại vi về các nước trung tâm. Ấn độ là nước có tỷ lệ kỷ lục về di cư của các nhà khoa học: Ðã có tới khoảng 50.000 người đến Mỹ và 10.000 người đến Anh và Canada. Do biết thu hút các trí thức từ các nước. Chỉ riêng năm 1973 nước Mỹ  đã tiết kiệm được 883 triệu đô-la chi phí giáo dục, còn các nước đang phát triển thì thiệt hại 320 triệu đô-la.

Sự di tản trí thức là một hiện tượng rất cũ, đã có từ khi Platon phục vu bạo chúa ở Syracure, Galilée đặt mình dưới sự bảo trợ của Viên, các anh em Casini được Lu-i XVI mời với giá rất cao để xây dựng Ðài Thiên văn Paris…Ðó là những lý do khiến nhiều nhà khoa học bớt áy náy về đạo đức khi đem tài năng của mình đến những nơi mà nó được thừa nhận, dù đó không phải là Tổ quốc mình (Thực trạng khoa học và kỹ thuật-NXB Khoa học xã hội, năm 1996)./.

 
 
 
 

Chuyện Ông Lãnh và 5 bà vợ nức tiếng Sài Gòn – VNE

27 Th9
Chủ nhật, 27/9/2015 | 02:00 GMT+7
Chia sẻ bài viết lên facebookChia sẻ bài viết lên twitterChia sẻ bài viết lên google+|

Chợ Bà Chiểu, Bà Hạt, Bà Điểm, Bà Quẹo, Bà Hom thân thuộc với người Sài Gòn được cho là tên của 5 người vợ vị tướng Lãnh Binh Thăng.

Chợ cầu Ông Lãnh (quận 1), Bà Hạt (quận 10), Bà Quẹo (quận Tân Bình), Bà Chiểu (Bình Thạnh), Bà Hom (Bình Tân) và Bà Điểm (huyện Hóc Môn)… là những địa danh nổi tiếng, có lịch sử hàng trăm năm gắn với nhiều thế hệ người Sài Gòn. Tuy ở những vị trí khác nhau, nhiều chợ đã đổi tên nhưng người bản địa ngày nay ai cũng rành rọt các địa danh này.

5-zpsad6dc58c.jpg

Chợ cầu ông Lãnh xưa. Ảnh: Panoramio.

Học giả Trương Vĩnh Ký (1837-1898), một trong 18 nhà bác học thế giới thế kỷ 19 cho rằng, Ông Lãnh là vị lãnh binh tên Nguyễn Ngọc Thăng (1798-1866), võ tướng nhà Nguyễn thời vua Tự Đức. Ông thuộc thế hệ tham gia chiến đấu chống Pháp đầu tiên của Nam Kỳ. Còn 5 người phụ nữ được đặt tên chợ ở Sài Gòn vốn là các bà vợ của ông. Những vị quan đa thê thời xưa thường áp dụng phương pháp kinh tế tự túc nên vị lãnh binh đã lập 5 chợ ở khu vực khác nhau, giao cho mỗi bà cai quản một cái. Việc này tránh các bà đụng mặt nhau, đồng thời chuyên tâm làm kinh tế.

Lãnh binh Thăng quê ở Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, từng tham gia các trận đánh ở đồn Cây Mai, đồn Thủ Thiêm và vùng phụ cận khi quân Pháp chiếm thành Gia Định. Ông nổi tiếng với chiến dịch Mù U gây tổn thất nặng cho địch. Về sau ông phối hợp với nghĩa quân Trương Định ở Gò Công tiếp tục chống Pháp.

Năm 1867, tướng Thăng tử trận ở Gò Công, được đưa về an táng tại quê nhà. Hiện, ông được thờ với vị Thành Hoàng và đức Trần Hưng Đạo ở đình Nhơn Hòa, đường Cô Giang (quận 1). Ngôi đình gần cây cầu và chợ mang tên ông. Ngoài ra, tên Lãnh Binh Thăng cũng được đặt cho một con đường tại quận 11.

cau-ong-Lanh-ok-9177-1442809816.jpg

Ảnh đầu tiên về cầu Ông Lãnh do Raymond Cauchetier chụp năm 1955. Ảnh bên phải chụp cầu khi kênh Tàu Hủ, Đại lộ Đông Tây chưa được xây dựng. Ảnh dưới là cầu Ông Lãnh hiện nay.

Về cây cầu mang tên Ông Lãnh, nhà bác học Trương Vĩnh Ký khẳng định “chiếc cầu gỗ do ông Lãnh binh ở gần đó cho bắc qua, chắc là ông Lãnh Binh Thăng này, chớ không phải ai khác”. Cây cầu này đầu tiên (nối đại lộ Đông Tây ngày nay) bắc qua một con rạch nhỏ. Khi rạch bị lấp, cây cầu mới nối bến Chương Dương (quận 1) và Bến Vân Đồn (quận 4).

Năm 1874, một ngôi chợ được xây ở khu vực này, mang tên chợ Cầu Ông Lãnh. Nơi đây tàu ghe tấp nập từ miền Tây theo sông Sài Gòn vào kênh Tàu Hủ buôn bán. Chợ được chia làm 3 khu vực: bán trái cây, bán cá và bán tạp hóa.

Năm 1971, chợ bị hỏa hoạn lớn thiêu rụi hoàn toàn, sau đó dần phát triển lại. 28 năm sau, chợ lại bị cháy lớn, thiêu rụi hơn 200 căn nhà. Từ đó, tiểu thương chuyển sang buôn bán nơi khác, chợ Cầu Ông Lãnh dần biến mất. Ngày nay, chợ Cầu Ông Lãnh vẫn còn buôn bán nhưng quy mô rất nhỏ nằm trên đường Nguyễn Thái Học (quận 1).

>>Ảnh: Trực thăng chữa cháy chợ cầu Ông Lãnh năm 1971

Trong các chợ do vợ của ông Lãnh quản lý, Bà Chiểu là một trong những ngôi chợ lâu đời ở Sài Gòn. Sơ khai là chợ xổm, năm 1942, chợ được xây lên với diện tích gần 8.500 m2, nằm ở trung tâm quận Bình Thạnh. Năm 1987, chợ được nâng cấp, sửa chữa. Đến nay, chợ có khoảng 800 hộ, kinh doanh khoảng 40 mặt hàng.

Cố nhà văn Sơn Nam cho rằng, Bà Chiểu là tên vùng đất, chỉ mới xuất hiện thời vua Tự Đức. Chiểu có nghĩa là ao nước thiên nhiên. Bà Chiểu là “nữ thần được thờ bên ao thiên nhiên”.

Chợ nổi tiếng thứ hai đồng thời gắn với nhiều địa danh ở Sài Gòn là Bà Điểm. Chợ thuộc xã Bà Điểm huyện Hóc Môn, nơi có 18 thôn vườn trầu nổi tiếng. Theo Trương Vĩnh Ký, chợ Bà Điểm bán nhiều mặt hàng nhưng nổi tiếng nhất là trầu cau có độ ngon nức tiếng được trồng ngay tại vùng.

Trong năm ngôi chợ, năm 1978, chợ Bà Quẹo được đổi tên thành Võ Thành Trang, nằm trên đường Trường Chinh thuộc phường 14 (quận Tân Bình). Tuy đổi tên nhưng phần lớn người dân vẫn gọi bằng cái tên dân dã “Bà Quẹo”. Đây vốn là chợ đầu mối thu mua nông sản từ Củ Chi, Hóc Môn, Long An…

cho-ba-chieu-ok.jpg

Chợ Bà Chiểu năm 1968 và hiện nay. Ảnh: Panoramio.

Tuy nhiên trong cuốn “Sài Gòn năm xưa”, học giả Vương Hồng Sển lại cho rằng nên thận trọng khi cho “Ông Lãnh” và “Bà Chiểu”, Bà Điểm”, “Bà Hom”, “Bà Hạt”, “Bà Quẹo” là vợ chồng.

Bởi theo ông, Bà Hạt, Bà Điểm, Bà Chiểu có thể là người đầu tiên buôn bán tại các chợ này, sau lấy tên đặt cho chợ. Giống như chợ Bà Hoa ở khu ngã tư Bảy Hiền (quận Tân Bình), do người đàn bà tên Hoa đã hiến đất xây chợ và là người đầu tiên buôn bán nên người ta lấy tên bà đặt cho ngôi chợ.

Lý giải về Bà Hom, có sách chép rằng do Bàu Hom (bàu ngâm hom tre) nói chệch thành. Còn tên Bà Quẹo cũng đọc chệch từ Bờ Quẹo hoặc Bàu Quẹo vì khu này có một khúc quẹo rất rõ. Từ quẹo vốn cũng được đặt cho nhiều địa danh như Cống Quẹo ở xã Phạm Văn Hai (huyện Bình Chánh) hay lộ Quẹo tại huyện Cần Giờ.

Ở Sài Gòn, còn nhiều tên người được gắn cho địa danh như ở quận Bình Thạnh có cầu, chợ và kênh mang tên Thị Nghè. Người này vốn tên Nguyễn Thị Khánh, con gái quan khâm sai Nguyễn Cửu Vân. Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí viết rằng, “do có chồng là thư ký mỗ, nên người đương thời gọi là Thị Nghè. Do bà khai hoang đất ở, bắc cầu để tiện việc đi lại, nên dân gọi là kênh, cầu Thị Nghè”.

Ngoài ra, thành phố còn nhiều tên gọi mang tên ông, bà khác như Ông Tố, Ông Bổn, Bà Lài, Bà Tàng, Bà Chiêm…

Sơn Hòa

Người làm thơ chấn động một thời ở phủ Thủ tướng – Kim Dung

26 Th9

Tác giả: 

KD: Bạn bè iu quí gửi cho mình bài viết này. Bài viết về nhà thơ Việt Phương.

Trong bài có chi tiết nhắc tới cuốn Cửa mở của ông. Chợt nhớ một chuyện này: Ông từng kể cho mình nghe, khi cuốn Cửa mở “ầm ĩ” dư luận, TT Phạm Văn Đồng (khi đó), có trách ông: Sao anh không cho tôi đọc cuốn đó trước khi đem in?  Ông trả lời: Tôi nghĩ đó là chuyện riêng của mình.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng im lặng. Có lẽ ông cũng quá hiểu tâm trạng của người Thư ký tận tụy, nhưng cũng là một nhà thơ nổi tiếng, luôn gắn bó với ông trong mọi thăng trầm, khổ đau, biến cố của đất nước.

Và ông có nói một câu- có lẽ đó là tâm sự rất thật của ông với mình: Mình làm việc cho Thủ tướng, nhưng thơ vẫn là nỗi lòng riêng. Mình muốn cái riêng đó vẫn là cái riêng của chính mình, không bị “kiểm soát”. Rồi ông mỉm cười, hiền hậu, đôi mắt hóm hỉnh…

Nhưng hiện ông đang bị đau bệnh- nằm chữa trị ở BV Việt- Xô, sau khi ra cuốn thơ thứ 10- mang tên Gió. Một sức làm việc, sáng tạo, bền bỉ và đầy cảm hứng.

Cầu mong ông vượt qua được thử thách của sức khỏe, an lành may mắn, để trở về với cuộc đời ông luôn thiết tha, cảm nhận hạnh phúc cùng không ít vị cay đắng, vui buồn…

————

Nhà thơ Việt Phương đưa cho tôi bản thảo một bài thơ của ông, có chữ viết tay của nhà thơ Tố Hữu chữa hai câu thơ của ông: “Nhưng tôi không chịu” – Ông nói. Nhiều lần, ông đưa một số bài thơ mới làm cho các đồng chí Trường Chinh, Tố Hữu đọc. “Các anh ấy góp ý rất chân tình. Có lần Bác Hồ còn sửa thơ cho tôi” – Ông kể .

Trong lúc vợ ông đang lục tìm những tấm ảnh của các con lúc còn bé, nhà thơ Việt Phương đến giá sách lấy 3 tập thơ tặng tôi, trong đó có tập “Cửa mở” cũng do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2009. Tập thơ “Cửa mở” tái bản y nguyên bản in đầu tiên, nhà thơ Việt Phương cho biết. Hai tập thơ còn lại đều là những bài thơ mà nhà thơ Việt Phương sáng tác trong nhiều năm gần đây. Tập thơ “Nắng” và tập “Lan” (Lấy tên vợ ông làm tên tập thơ) đều in năm 2013, một sức làm việc đáng kính nể.

Chuyện ít biết về tác giả ‘Cửa mở’ gây chấn động một thời

DƯƠNG KỲ ANH

Hôm kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Nhà văn Việt Nam tại Cung Văn hóa Hữu Nghị, tan buổi, tôi đứng chờ xe taxi để về nhà thì gặp nhà thơ Việt Phương. Ông bảo: “Dương Kỳ Anh ơi, lên đây cùng về với mình”. Buổi đầu, tôi cứ tưởng xe cơ quan đón ông, nhưng khi tôi lên xe ôtô mới biết đó là xe riêng của con trai ông. Thấy phong thái con trai ông lễ phép, thân tình và cởi mở, tự nhiên tôi muốn đến thăm gia đình ông, gia đình của một nhà thơ từng gây chấn động dư luận với tập thơ “Cửa mở”.

Nhà thơ Việt Phương họ Trần, Trần Việt Phương, tên thực của ông là Trần Quang Huy. Năm ông 17 tuổi, tham gia hoạt động bí mật chống thực dân Pháp, bị bắt, bị giam với một người bạn tù cũng xấp xỉ tuổi ông. Hai người ở hai xà lim nhưng cũng thường trao đổi với nhau. Lúc đó ông có bí danh là Việt Phương và người bạn tù lại lấy tên ông là Trần Quang Huy làm bí danh. Sau này, người bạn tù đó trở thành Bộ trưởng Trần Quang Huy (tên thực là Vũ Đắc Huề).

Việt Phương có hai người con trai là Trần Trung Thực sinh năm 1956 và Trần Quang Huy sinh năm 1960. Là ông lấy tên khai sinh của mình đặt tên cho con. Ông kể rằng, trong hộ khẩu của ông có hai tên Trần Quang Huy nên dạo còn bao cấp, mỗi lần đi mua gạo mua dầu… người ta vặn hỏi ông, ông nói vui rằng nhà tôi có Trần Quang Huy 3 lít dầu và Trần Quang Huy 1/5 lít dầu (người lớn được mua 3 lít, trẻ con 1/5 lít).

Nhà thơ Việt Phương sinh năm 1928, đậu tú tài thời Pháp thuộc. Ông là trợ lý của Thủ tướng Phạm Văn Đồng mấy chục năm. Đã ở tuổi 87 mà trông ông như mới ngoài 70. Ông kể nhiều chuyện vui và hài hước. Những chuyện về văn chương, gia đình, những chuyện ít ai biết về số phận những tập thơ của ông.

Vợ ông, bà Trần Tú Lan năm nay 81 tuổi, từng là cô giáo với nhiều học trò nổi tiếng như Dương Trung Quốc, Chu Hảo… Bà kể chuyện con trai đầu của ông bà là Trần Trung Thực nhiều lần được ăn cơm cùng Bác Hồ: “Có lần, Bác gắp cho cháu Thực một miếng táo, nó cứ nhìn miếng táo để trong bát… Chắc thấy lạ vì Bác Hồ thường ăn táo sau khi đã hấp chín… Bác cũng hay cho cháu Thực sách để đọc. Một lần cháu Thực cầm cuốn sách lên thưa với Bác là cuốn này cháu đã đọc rồi ạ. Bác bảo: Cháu thật thà thế là tốt. Rồi Bác đi tìm cuốn sách khác đưa cho Thực…”. Về sau Thực học chuyên toán, được giải nhì kỳ thi học sinh giỏi thành phố Hà Nội. Bây giờ Trần Trung Thực là Vụ trưởng, làm việc ở Bộ Công Thương sau nhiều năm làm tham tán công sứ ở cộng đồng châu Âu (tại Bỉ). Nhà thơ Việt Phương đã có ba cháu nội, cháu đích tôn của ông mang tên ông là Trần Việt Phương, năm nay 31 tuổi, tốt nghiệp thạc sỹ tại Anh quốc.

“Mở đài địch như mở toang cánh cửa”, “Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ/ Hình như đấy là niềm tin, ý chí và tự hào/ Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ/ Sự ngây thơ đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao”, “Ta đã thấy những chỗ lõm lồi trên mặt trăng sao/ Những vệt bùn trên tận đỉnh chín tầng cao”… Những câu thơ từng gây chấn động dư luận một thời mà bây giờ tôi mới biết nó được trích từ bài thơ “Cuộc đời yêu như vợ của ta ơi”, một trong những bài trong tập thơ “Cửa mở” của nhà thơ Việt Phương do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1970. Vào những năm 70 mà viết những câu thơ như thế, tôi khâm phục ông vô cùng. Thời đó tôi còn là sinh viên khoa văn của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chúng tôi chỉ đọc thầm cho nhau nghe, người này truyền qua người khác chứ thực tình tôi chưa nhìn thấy tập thơ “Cửa mở” bao giờ.

Tôi hỏi ông rằng, dạo đó người ta đồn thổi nhiều chuyện như ông bị cách chức, các con ông cũng bị “vạ lây”… có đúng không? Ông cười, lắc đầu “Không có chuyện đó đâu”. Ông nói, tập “Cửa mở” năm đó in 5.200 bản, chỉ trong vài tuần là hết: “Anh Huy Cận bảo tôi chỉ còn vài chục cuốn người ta giữ lại thôi”. Rất nhiều người khen, cũng nhiều người phê phán, có một nhà thơ là cán bộ cao cấp nói trong một cuộc họp: “Phủ Thủ tướng có một kẻ điên làm thơ”. Vợ ông, bà Trần tú Lan khẳng định “Các con chúng tôi không làm sao cả”. Rồi bà kể: “Tôi có đến gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Thủ tướng tưởng tôi đến có chuyện gì đó liên quan tới các con vì ông biết tôi rất chăm con. Tôi nói: Thưa chú, cháu đến vì tập thơ “Cửa mở”. Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói: “Phương có đem cho mình xem đâu”. Tôi bảo: Tập thơ “Cửa mở” hay đấy chứ ạ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng bảo tôi: “Thơ Phương thì Tú Lan khen hay là phải rồi”. 

Nhà thơ Việt Phương đưa cho tôi bản thảo một bài thơ của ông, có chữ viết tay của nhà thơ Tố Hữu chữa hai câu thơ của ông: “Nhưng tôi không chịu” – Ông nói. Nhiều lần, ông đưa một số bài thơ mới làm cho các đồng chí Trường Chinh, Tố Hữu đọc. “Các anh ấy góp ý rất chân tình. Có lần Bác Hồ còn sửa thơ cho tôi” – Ông kể .

Trong lúc vợ ông đang lục tìm những tấm ảnh của các con lúc còn bé, nhà thơ Việt Phương đến giá sách lấy 3 tập thơ tặng tôi, trong đó có tập “Cửa mở” cũng do Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2009. Tập thơ “Cửa mở” tái bản y nguyên bản in đầu tiên, nhà thơ Việt Phương cho biết. Hai tập thơ còn lại đều là những bài thơ mà nhà thơ Việt Phương sáng tác trong nhiều năm gần đây. Tập thơ “Nắng” và tập “Lan” (Lấy tên vợ ông làm tên tập thơ) đều in năm 2013, một sức làm việc đáng kính nể.

“Đời đang đón đợi để đong đầy”, tôi đang đọc câu thơ của ông in ngoài bìa tập thơ “Nắng” thì có tiếng chuông điện thoại. Cậu con trai thứ hai Trần Quang Huy hiện đang là Phó Tổng giám đốc Ngân hàng (MHB), người đã lái xe đón ông hôm tôi đi nhờ, gọi điện về nói sẽ đưa xe ôtô đến đón bố mẹ đi viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Phòng khách ở tầng một căn biệt thự bốn tầng trên đường Trần Quang Diệu bày nhiều thứ có vẻ như là đồ cổ mà theo nhà thơ Việt Phương là do cậu con trai thứ hai Trần Quang Huy mang về. Ông không dùng điện thoại di động, nên vừa tiếp khách, ông vừa xin lỗi để đi nghe điện thoại, chiếc điện thoại cố định đặt ở góc phòng.

Vợ ông, bà Trần Tú Lan kể rằng, chính bà đã bắt thăm và thật may mắn chọn được  mảnh đất để xây nhà ở vị trí này, một vị trí có thể nói là đắc địa vì có hai mặt đường lớn: “Hôm ấy, cơ quan tổ chức bắt thăm, có mấy chục người, mấy chục mẩu giấy gấp làm tư, tôi nhìn thấy một mẩu giấy như đang vẫy vẫy tôi, có lẽ do luồng gió từ quạt trần làm mẩu giấy lất phất như vậy. Tôi thấy lạ và hay hay nên nhặt lên, ai ngờ lại chọn được vị trí đẹp nhất”. Nhà thơ Việt Phương gật đầu xác nhận: “Đúng thế đấy… xây ngôi nhà này do một tay nhà tôi lo liệu”.

Ông cầm một tệp đĩa nhạc đưa cho tôi và nói: Lúc cháu Thực chưa đầy năm, ông thường để cháu nằm trên giường, bên cạnh là chiếc máy hát (máy quay đĩa) do Thủ tướng Phạm Văn Đồng tặng. Ông bật máy quay, cho con nằm nghe nhạc. Những bản nhạc du dương, êm dịu của Beethoven. Ông nói, ông rất thích nhạc sĩ thiên tài này. “Mỗi lần tôi bật máy nghe nhạc là cháu Thực và sau này là cháu Huy nằm yên trên giường nghe rất chăm chú. Có lẽ vì thế mà sau này, khi các con tôi trưởng thành, chúng cũng yêu thích âm nhạc như tôi. Tôi nghĩ, nghệ thuật giúp cho con người sống nhân văn hơn” – Ông bảo vậy.

Trò chuyện với ông, tôi không những biết nhiều cái lạ trong thơ mà còn thấy ông có nhiều cái lạ trong cuộc sống hằng ngày. Ông kể, lúc con ông bắt đầu tập nói, những buổi chiều tối, ông để con ngồi trên chiếc ghế mây buộc sau xe, lọc cọc đạp xe lên bờ đê sông Hồng. Để xe xuống vệ cỏ bờ đê, ông bế con trên tay nhìn Sông Hồng cuộn chảy rồi bắt đầu dậy con tập nói.

Ông chỉ đám mây bay là là trên mặt sông và nói “mây”, con ông cũng bập bẹ “mây”. Ông chỉ tay xuống mặt nước Sông Hồng nói “nước”, thằng bé cũng bập bẹ  “nước”. Cứ như vậy, ông chỉ lên bầu trời, chỉ dãy núi phía xa xa, chỉ đàn chim đang bay, chỉ con sóng đang lượn, bông hoa đang nở, cây lúa đang ngậm đòng… “Vợ chồng tôi muốn các con sau này lớn lên hiểu được mọi thứ trên đời cụ thể nhất, chân thật nhất” – Ông nói.

Làm trợ lý cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng mấy chục năm, nhà thơ Việt Phương đã đi nhiều nơi trên thế giới. Ấy vậy mà vợ ông bà Trần Tú Lan lại chưa bao giờ đi nước ngoài. Tôi ngạc nhiên thực sự, mới hỏi bà vì sao? Có phải vì bà sợ đi máy bay? Hay có lý do nào khác? Bà nói đã từng được cử đi học ở Nga, bà cũng rất thích đi nhưng lúc đó các con bà còn nhỏ, nên bà đã nhường suất đi học nước ngoài cho người khác. Ở đời, được cái này phải biết hy sinh cái khác… Ngay cả sau này, khi cháu Thực làm tham tán công sứ ở nhiều nước châu Âu, cháu cũng rất muốn mẹ đi một vài chuyến du lịch nước ngoài… Mình nuôi con, rồi nuôi cháu, phải hiểu được quy luật bù trừ.

Nếu mình cái gì cũng được hưởng thì sau này phần đâu cho con cháu?! Bây giờ, các con tôi, rồi các cháu được đi học nước ngoài, công tác ở nhiều nước, được đi đây đi đó là tôi mãn nguyện, là như tôi đã được đi nước ngoài rồi”. Tôi thấy bà rất vui khi nói điều này. Tôi bỗng nhớ hai câu thơ của nhà thơ Việt Phương mà tôi vừa đọc trong tập “Lan”:  “Một thời cửa mở cho tất cả; Từ trong đại họa hóa bình yên”. Thế đấy!

———–

http://lethieunhoncom.blogspot.com/2015/03/nguoi-lam-tho-chan-ong-mot-thoi-o-phu.html

Chủ nghĩa phát triển và mũi đột phá cho Việt Nam – Vnn

21 Th9

– Qua những phân tích ở bài trước ta đã thấy tại sao Việt Nam phát triển còn chậm, hiệu suất thấp, và đã thấy những thách thức rất lớn mà hiện nay Việt Nam phải trực diện. Có lẽ rất nhiều người tiếc rằng tiềm năng của Việt Nam rất lớn mà không được phát huy.

>> Những thách thức hiện nay của Việt Nam

Một nước có quy mô dân số và lao động khá đông với cơ cấu thuận lợi (dân số vàng), và lại có sự thống nhất cao về văn hóa, ngôn ngữ trên thế giới không có nhiều. Vị trí địa lý với bờ biển dài nằm giữa vùng phát triển năng động châu Á, tiếp cận dễ dàng với tri thức khoa học và công nghệ là một thuận lợi khác.

Tài nguyên thiên nhiên không quan trọng bằng nguồn nhân lực, nhưng với nông thủy khoáng sản rất đa dạng nếu biết khai thác hợp lý và chế biến, chế tác thành sản phẩm công nghiệp cũng dễ hình thành một nền công nghiệp đa dạng và bền vững.

thi tuyển quan chức, chủ nghĩa phát triển, dân số vàng, cải cách tiền lương, tinh giản bộ máy, doanh nghiệp tư nhân, xuất khẩu lao động, Trần Văn Thọ, góp ý Đại hội Đảng 12, Đại hội Đảng 12, ODA, tốt nghiệp ODA
Phải có cơ chế tuyển chọn người tài ra làm việc nước. Ảnh: 6 ứng viên dự thi tuyển chức Vụ trưởng Vụ Vận tải, Bộ GTVT, tháng 8/2014

Ở đây chưa nói đến lực lượng người Việt Nam ở nước ngoài với rất nhiều chuyên gia về mọi ngành khoa học, công nghệ và quản lý.

Để phát huy tiềm năng và đưa Việt Nam vào kỷ nguyên phát triển nhanh, bền vững, đối phó hữu hiệu với những thách thức hiện nay và tạo cho đất nước một vị thế xứng đáng tên vũ đài quốc tế, những người có trách nhiệm ở Việt Nam phải ưu tiên bắt tay vào những vấn đề gì? 

1. Trước hết lãnh đạo phải nhận thức sâu sắc và bức xúc thật sự trước 3 thách thức mà Việt Nam trực diện hiện nay và đánh giá đúng vị trí của Việt Nam trên vũ đài thế giới. Từ đó đưa ra tầm nhìn về hình ảnh quốc gia trong tương lai.

Phần trên tôi đã phân tích các thách thức. Ở đây nói thêm về vị trí của Việt Nam hiện nay trên vũ đài quốc tế, vị trí về quy mô kinh tế và các mặt về chất như uy tín, hình ảnh, thanh danh.

1a. Về quy mô và trình độ phát triển:

Trên thế giới, hiện nay Việt Nam xếp thứ 14 về quy mô dân số, nhưng GDP thì xếp thứ 57, còn GDP đầu người thì ở vị trí 116. Quy mô của GDP như vậy không thể có một ảnh hưởng nhất định đến kinh tế thế giới. GDP đầu người phản ảnh trình độ phát triển của Việt Nam còn rất thấp tuy vừa được xếp vào nhóm thu nhập trung bình (thấp).

So sánh với các nước chung quanh, quy mô kinh tế Việt Nam mới xấp xỉ bằng phân nửa Malaysia và Thái Lan, mặc dù dân số đông hơn nhiều. Theo dự báo của Ngân hàng phát triển Á châu (ADB), trong những nước có quy mô dân số tương đối lớn tại ASEAN, từ năm 2010 đến 2030 Việt Nam phát triển với tốc độ cao nhất (7%) nhưng đến năm 2030 GDP cũng chỉ bằng nửa Thái Lan và nhỏ hơn Malyasia nhiều. Nếu Việt Nam phát huy hết tiềm năng và phát triển 9-10% trong thời gian từ nay đến 2030 hay 2035 thì vị trí của Việt Nam sẽ khác hẳn.

Dĩ nhiên ở đây không có ý nói phải phát triển với tốc độ cao bằng bất cứ giá nào mà song song phải chú trọng về chất (bảo vệ môi trường, phân bổ nguồn lực hợp lý, tạo nhiều công ăn việc làm, tạo cơ hội tiếp cận bình đẳng đến các nguồn vốn, dần dần chuyển sang giai đoạn tăng trưởng dựa trên cải tiến công nghệ, cải tiến quản lý). Trừ vấn đề bảo vệ môi trường, tất cả những mặt về chất lượng vừa nói không có tính cách kiềm hãm tốc độ phát triển. Đặc biệt chú trọng phát triển có hiệu suất sẽ làm tốc độ phát triển cao hơn với cùng một đơn vị về nguồn lực.

Phát triển nhanh còn là nhu cầu thiết thân để đối phó, tuy đã rất trễ, với thách thức chưa giàu đã già. Tạo các điều kiện để phát triển nhanh, như sẽ nói dưới đây, cũng tránh được nguy cơ sa vào bẫy thu nhập trung bình thấp.     

1b. Xuất khẩu lao động và hình ảnh của Việt Nam trên thế giới:

Lao động xuất khẩu phản ảnh trình độ, vị trí và uy tín của một nước trên vũ đài quốc tế. Một nước xuất khẩu nhiều lao động giản đơn hầu hết, nếu không nói là tất cả, là những nước nghèo, và do đó hình ảnh của những nước này không mấy sáng sủa. Có kế hoạch chấm dứt tình trạng này trong thời gian càng ngắn càng tốt là trách nhiệm của những người lãnh đạo đất nước.

Không kể thời kỳ quan hệ mật thiết với các nước Đông Âu, xuất khẩu lao động của Việt Nam tăng nhanh từ cuối thập niên 1990 và chủ yếu sang các nước Đông Á. Từ năm 2001, bình quân mỗi năm có 7 vạn, gần đây là 9 vạn, lao động được đưa đi ra nước ngoài. Báo chí đã phản ảnh tình trạng khó khăn, nhiều trường hợp rất bi thảm, của người lao động đang làm việc ở nước ngoài.

Hàn Quốc và Thái Lan cũng đã từng xuất khẩu lao động nhưng chỉ trong thời gian rất ngắn và họ đã thành công trong việc chuyển dịch vị trí từ nước xuất sang nước nhập khẩu lao động. Ngược lại, Philippines là nước điển hình tiếp tục xuất khẩu lao động và cũng là nước điển hình trì trệ về kinh tế.

Do tích cực đầu tư sang Việt Nam, hiện nay (cuối năm 2014) số người Hàn Quốc sinh sống tại nước ta lên tới hơn 15 vạn. Ngược lại, tại Hàn Quốc có hơn 12 vạn người VN đang sinh sống, trong đó gần 26.000 người cư ngụ bất hợp pháp. Ngoài vài ngàn người là sinh viên du học, hầu hết người Việt tại Hàn Quốc là lao động giản đơn hoặc phụ nữ kết hôn với người bản xứ mà theo nhiều nguồn tin trong đó một số không nhỏ đi làm dâu xa vì lý do kinh tế.

Như vậy có sự tương phản trong quan hệ Việt Hàn: người Hàn Quốc đến Việt Nam là để làm chủ trong khi người Việt Nam đến Hàn Quốc là để làm thuê. Người Việt làm thuê cả ở xứ mình và xứ người. Trách nhiệm của các nhà lãnh đạo chính trị là sớm chấm dứt một tình trạng liên quan đến thể diện quốc gia này.

1c. Cần nhanh chóng hình thành doanh nghiệp tư nhân mạnh:

Một nước với số dân trên 90 triệu, có nền văn hóa lâu đời, mà lại phụ thuộc nhiều vào tư bản nước ngoài thì không thể hãnh diện với thế giới. Trong thời đại toàn cầu hóa, các nước tùy thuộc vào nhau, ngoại lực giúp các nước đi sau tiến triển nhanh nhưng nội lực (ở đây chủ yếu nói doanh nghiệp trong nước) vẫn quan trọng hơn, và nội lực mạnh mới sử dụng ngoại lực có hiệu quả.

Các nước Đông Á, điển hình là Nhật Bản, Hàn Quốc, chủ nghĩa dân tộc của giới lãnh đạo đã giúp làm cho đội ngũ doanh nhân bản xứ ngày càng mạnh. Trên thực tế, chỉ khi doanh nghiệp bản xứ mạnh lên rồi họ mới kêu gọi đầu tư nước ngoài và FDI được đưa vào từng bước theo đà phát triển của doanh nghiệp trong nước.

Theo tôi, Việt Nam hiện nay phải đặt ưu tiên việc hình thành và nuôi dưỡng doanh nghiệp tư nhân mạnh, có biện pháp cụ thể để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận vốn, đất đai, thông tin và hoạt động trong môi trường kinh doanh thông thoáng, không bị nạn tham nhũng làm thui chột tinh thần doanh nghiệp. Doanh nghiệp quốc doanh sẽ tồn tại trong một số lãnh vực nhất định nhưng phải triệt để hoạt động theo cơ chế thị trường và trên hệ thống quản trị doanh nghiệp (corporate governance) hoàn chỉnh.

1d. Cần có kế hoạch tốt nghiệp ODA:

Ngoài ra nếu không có kế hoạch sớm chấm dứt nhận viện trợ nước ngoài (tức “tốt nghiệp” ODA) thì cũng không cải thiện được hình ảnh Việt Nam trên vũ đài thế giới.

Đồng vốn ODA chưa được xem xét trong tổng thể chung với vốn trong nước. ODA thực sự chỉ cần thiết khi trong nước khả năng tiết kiệm còn hạn chế, không đủ vốn để đầu tư. Nhưng ở Việt Nam, đã có điều tra cho thấy có sự thất thoát lớn trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư công nên phí tổn xây dựng hạ tầng rất cao. Ngoài ra, ngân sách nhà nước chi tiêu cho nhiều dự án không cần thiết, không có hiệu quả kinh tế.

Hiệu quả của đồng vốn ODA phải được xem xét trong tổng thể chung với vốn trong nước. Không thể một mặt lãng phí nguồn lực trong nước và mặt khác lệ thuộc nhiều vào vốn nước ngoài. Một điểm có liên quan đến vấn đề này là báo chí đã cho thấy nhiều lãnh đạo, quan chức ở trung ương và địa phương đang có cuộc sống rất xa hoa, không tương xứng với trình độ phát triển của đất nước, không phù hợp với chính sách tiếp nhận nhiều ODA từ nước ngoài.

 
 

Việt Nam cần đặt ra kế hoạch giảm ODA trong 10 năm tới, tiến tới “tốt nghiệp ODA” trong 15-20 năm tới. Không kể thời kỳ nhận viện trợ từ Liên xô cũ và các nước Đông Âu, Việt Nam cũng đã nhận ODA hơn 20 năm rồi, bây giờ là lúc cần nghĩ đến việc giảm và tốt nghiệp ODA trong một mốc thời gian không quá xa. Có như vậy đồng vốn trong nước và vốn ODA mới được quan tâm sử dụng có hiệu quả. Việc tùy thuộc lâu dài vào ODA phải được xem như là sự thất bại của chiến lược phát triển.

Tôi nghĩ trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là phải đưa ra tầm nhìn, dự phóng về một tương lai 15 hoặc 20 năm tới, trong đó có những cam kết cụ thể về việc đưa đất nước lên hàng thượng đẳng trong đó kinh tế có một vị trí quan trọng, chẳng hạn tương đương với vị trí của quy mô dân số, không còn lao động xuất khẩu, không còn nhận viện trợ và có một đội ngũ tư bản dân tộc vững mạnh. Như vậy mới đáp ứng được kỳ vọng của dân chúng.

Không nên tiếp tục đưa ra những mục tiêu trừu tượng, không thiết thực, hoặc những mục tiêu chung chung… Việt Nam đang cần những người lãnh đạo đề cao chủ nghĩa phát triển, thoát ra những trói buộc vào ý thức hệ lỗi thời, vào những giáo điều mà thực tế đã cho thấy không còn giá trị.

Năm 2015 là năm chẵn kỷ niệm nhiều sự kiện lịch sử. Nhiều người có trách nhiệm sẽ phát biểu về tương lai Việt Nam nhưng sẽ là một thiếu sót lớn nếu không đề cập đến việc thay đổi hình ảnh của Việt Nam trên vũ đài quốc tế về trình độ phát triển, về người lao động xuất khẩu, về sự tùy thuộc tư bản và ODA nước ngoài.

2.  Những cải cách cấp bách để chuẩn bị cho giai đoạn phát triển nhanh:

Để thực hiện mục tiêu dài hạn nói trên, trong vòng 2 hoặc 3 năm tới phải làm cuộc cách mạng về hành chánh mới tạo điều kiện cho các nguồn lực được sử dụng không lãng phí, có hiệu quả, và mới tạo môi trường cho doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh, tránh được bẫy thu nhập trung bình thấp. Cụ thể:

2a. Tinh giản bộ máy nhà nước:

Cần công bố thống kê về số người ăn lương và làm việc trong bộ máy quản lý nhà nước các cấp, kể cả bộ máy của Đảng và các đoàn thể. Đảng tự nhận là người lãnh đạo duy nhất của đất nước thì phải có nghĩa vụ cho dân biết thực trạng của bộ máy. Đảng phải được xem như là một bộ phận trong cả bộ máy nhà nước đang là đối tượng cải cách.

Từ việc nắm vững thực trạng mới đưa ra các lộ trình tinh giản bộ máy để dồn nguồn lực vào lãnh vực khác và để thuận tiện cho việc giải quyết vấn đề tiền lương như sẽ nói dưới đây. Việc cải cách này chắc chắn gặp khó khăn nhưng không thể không thực hiện nếu những người ở vai trò lãnh đạo muốn đất nước phát triển. Vì khó khăn mà lại tối quan trọng nên vấn đề này lớn ngang tầm với một cuộc cách mạng.  

2b. Trách nhiệm, quyền hạn của lãnh đạo, của quan chức nhà nước phải được quy định cụ thể, quy chế đề bạt hay cách chức cũng phải rõ ràng và nhất là phải được đánh giá nghiêm túc định kỳ (chẳng hạn mỗi năm một lần).   

Thực tế ở Việt Nam hiện nay là việc đề bạt không theo những quy định rõ ràng và công khai, sau khi được đề bạt thì được giữ vị trí đó suốt trong thời gian dài, chỉ nghỉ khi hết tuổi. Nhiều bộ trưởng ở đến 2 nhiệm kỳ 10 năm trong khi chẳng có thành tích xứng đáng trong lãnh vực mình phụ trách. Điều này vừa làm mất động lực phấn đấu của chính người đó và mất cơ hội thăng tiến của những người có năng lực hơn.

Một điểm liên quan nữa là nhiều người ở cương vị lãnh đạo bộ ngành (bộ trưởng, thứ trưởng…) lại xen vào công việc ở lãnh vực khác. Điển hình là nhiều người xen vào công việc của giáo sư đại học (hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ hoặc ngồi hội đồng chấm luận án tiến sĩ). Hiện tượng rất phản khoa học này (bộ trưởng, thứ trưởng hoặc quan chức khác không thể có năng lực và thời gian cho công việc nghiên cứu và giáo dục ở đại học) không những gây tác hại cho giáo dục đào tạo mà còn tỏ ra thiếu nghiêm túc trong lãnh vực mình được giao phó. Ở hầu hết các nước khác, hành động như vậy bị phê phán nặng và thường bị cách chức ngay. Vấn đề này nhiều người, trong đó có tôi, đã nêu lên nhiều lần nhưng cho đến nay không có lãnh đạo cao cấp nào đưa ra cam kết chấn chỉnh.

Ngoài ra, như đã nói ở phần so sánh với Trung Quốc, tại Việt Nam, địa phương phát triển hay không không phải là điều kiện để lãnh đạo thăng tiến. Khoảng 10 năm gần đây trong phương châm luân chuyển cán bộ, nhiều cán bộ nguồn được gửi về địa phương để thêm kinh nghiệm thực tế và sau đó được gọi về trung ương giữ các chức vụ tương đương bộ trưởng hay thứ trưởng mà không xem xét người đó đã có thành tích như thế nào ở địa phương mình phụ trách.

2c. Cần làm ngay cuộc cách mạng về tiền lương:

Ở đây không cần bàn thêm về sự tác hại của vấn đề tiền lương hiện nay. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh là lãnh đạo Việt Nam trong vòng 2-3 năm tới phải dứt khoát giải quyết vấn đề này. Nhà nước cần lập một ban nghiên cứu có sự tham gia của những chuyên gia độc lập, được cung cấp các thông tin cần thiết về thành phần ăn lương, về các mục chi tiêu ngân sách v.v… và đưa kết quả nghiên cứu cũng như khuyến nghị cải cách ra công chúng để người dân bàn bạc. Có thể xem xét các hướng giải quyết như sau:

Thứ nhất, đưa vào lương mọi thu nhập ngoài lương của quan chức, của các cấp lãnh đạo; triệt để bãi bỏ các loại phong bì vẫn đang rất phổ biến khi các lãnh đạo, quan chức đi họp, đi dự các lễ lạt.

Thứ hai, bỏ hoặc giảm những hình thức khen thưởng (các loại huân chương, các bằng khen thưởng…) đang phổ biến tràn lan, rất tốn kém. Một cơ quan nhà nước làm việc đúng bổn phận và hoàn thành công việc được giao tại các nước khác là chuyện đương nhiên, không phải khen thưởng. Nếu không làm đủ bổn phận thì bị khiển trách, những người có trách nhiệm bị giáng chức, hoặc bị chuyển sang công việc khác. Ở các nước khác không phải tốn các phí tổn khen thưởng tràn lan như ở Việt Nam.

Thứ ba, cho đến khi việc cải cách tiền lương thực hiện thành công, không cấp ngân sách cho những dự án chưa cần thiết, như việc xây các đài tưởng niệm, các cơ sở hành chính hoành tráng.  Ngay cả các dự án hạ tầng lớn cũng có thể trì hoãn một thời gian để dành ngân sách cho việc cải cách tiền lương.

2d. Tổ chức thi tuyển quan chức:

Trong việc kiện toàn bộ máy hành chính, một vấn đề lớn nữa là phải có cơ chế tuyển chọn người tài ra làm việc nước. Ở các nước khác, quan chức ở trung ương và ở địa phương đều phải qua thi tuyển công khai và công bằng. Nội dung thi tuyển nhằm bảo đảm trình độ văn hóa, sự hiểu biết luật pháp và nghiệp vụ chuyên môn.

Ba yếu tố này hình thành nhân cách và năng lực của quan chức, bảo đảm công việc hành chánh trôi chảy. Vượt qua các kỳ thi tuyển khó khăn làm cho quan chức cảm thấy có sứ mệnh trong việc xây dựng đất nước và hun đúc lòng tự trọng. Cùng với việc giải quyết vấn đề tiền lương nói ở trên, đây là những yếu tố làm cho nạn tham những khó có đất sống.

Nhiều sự kiện gần đây cho thấy trình độ và đạo đức của nhiều quan chức Việt Nam rất có vấn đề, không tương thích với một đất nước có bề dày văn hóa và đang cần phát triển nhanh. Cần chọn một ngày trong năm làm ngày tuyển chọn nhân tài ra làm việc nước để một mặt khích lệ tài năng trẻ nỗ lực học tập, chuẩn bị để có cơ hội tham gia việc nước, và mặt khác, dần dần hình thành một đội ngũ quan chức đảm trách được quá trình phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới.

Đề cao chủ nghĩa phát triển  

Để vượt qua những thách thức hiện nay và để Việt Nam có một vị trí xứng đáng trên vũ đài thế giới, người  lãnh đạo phải có tinh thần yêu nước, có sứ mệnh và quyết tâm xây dựng dựng Việt Nam thành một quốc gia thượng đẳng. Nên chấm dứt những khẩu hiệu hay phương châm không đi vào lòng dân, thay vào đó đề cao chủ nghĩa phát triển.

Từ tinh thần đó mũi đột phá là cải cách bộ máy hành chính, cải cách việc tuyển chọn, đề bạt và đánh giá năng lực quan chức. Không giải quyết mũi đột phá này thì không thể thực hiện thành công các chiến lược, chính sách phát triển lâu dài.

GS Trần Văn Thọ(Đại học Waseda, Nhật Bản)

Đánh giá thành quả phát triển của Việt Nam từ sau Đổi mới
Mỹ làm được thì Nhật cũng làm được
Hàn Quốc: Chọn người tài làm việc nước

Tinh thần hòa giải dân tộc – VHNA

17 Th9

  •   HỒ BẠCH THẢO
  • Thứ bảy, 12 Tháng 9 2015 08:27
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
 

Phải nói ngay rằng, trong hoàn cảnh kẻ thù  chờn vờn ngoài cửa ngõ, việc hoà giải dân tộc là điều bắt buộc; lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc chứng minh rõ điều đó.

Thời nước ta mới lấy lại được độc lập, Lê Hoàn, tức vua Lê Đại Hành, dành ngôi của nhà Đinh [980]. Vị vua mới này, có đủ bản lĩnh duy trì khối đoàn kết quốc gia, tạo sức mạnh chiến thắng quânTống trên đường xâm lăng. Thay vì thông lệ“ Một phenthay dổi sơn hà” thường có chủ trương “ Nhổ cỏ, phải nhổ cho hết rễ”; vua Lê Đại Hành đã giữ mạng sống vua cũ Đinh Toàn, phong chức Vệ vương. Đinh Toàn hợp tác với chính quyền mới; mãi đến năm 1001, trong một trận chống giặctử trận. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép “Giặc bày trận hai bên bờ sông chống lại, quan quân bị hãm giữa sông, vua cũ là Vệ vương Toàn trúng tên chết tại trận. Vua [Lê Đại Hành] kêu trời 3 tiếng, rồi thúc quân đánh, giặc tan vỡ.” (1)

Đến đời  nhà Trần có cuộc khủng hoảng rất lớn, tưởng chừng có thể làm lung lay cả triều đại . Bấy giờ Chiêu Thánh Hoàng hậu [tức Lý Chiêu Hòang], chánh cung của vua Trần Thái Tông không có con. Thái sư Trần Thủ Độ rắp mưu đem Công chúa Thuận Thiên họ Lý, [vợ của An Sinhvương Liễu, anh ruột nhà vua] lúc bấy giờ đang có thai ba tháng, làm vợ vua Trần Thái Tông, để mong có con nối dõi. Việc làm loạn luân này, khiến Liễu tức giận họp quân trên sông cái nỗi loạn. Đến hai tuần sau, Liễu tự lượng thế cô khó lòng chống được, ngầm đi thuyền độc mộc, giả làm người đánh cá đến chổ vua Thái Tông xin hàng:

“Lúc ấy vua đang ở trong thuyền, anh em nhìn nhau khóc. Trần Thủ Độ nghe tin, đến thẳng thuyền vua , rút gươm thét lớn:

-Giết thằng giặc Liễu.

Vua giấu Liễu trong thuyền, vội vàng bảo Thủ Độ:

-Phụng Càn Vương [tước hiệu cũ của Liễu thời triều Lý ]đến hàng đấy.

Rồi lấy thân mình che cho Liễu.”(2)

Nhà vua lại cử Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn con An sinh vương Liễu làm tổng chỉ huy quân đội; việc làm nàybiểu lộ tinh thần hoà giải vàtấm gương can đảm, dám dùng người giỏi. Hưng Đạo vương ,lập công đầu trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, cũng là nhân vật triệt để thực hiện tình đoàn kết. Sử chép An sinh vương Liễu vẫn ôm mối thù xưa, lúc sắp mất cầm tay Trần Quốc Tuấn giối giăng rằng:

“Con mà không vì cha lấy thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.”

Quốc Tuấn ghi điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải.

Lại có lần Quốc Tuấn đem chuyện ấy vờ hỏi Hưng nhượngvương Quốc Tảng. Quốc Tảng thưa:

-Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ.

Quốc Tuấn rút gươm kể tội:

-Tên lọan thần là đứa con bất hiếu mà ra.

Định giết Quốc Tảng. Con trưởng Hưng Vũ Vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha. Rồi ông dặn Hưng Vũ Vương:

– Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng. (3)

Lúc này vua tôi, quân dân một lòng, nội bộ đoàn kết vững vàng; nên có thể đánh tan âm mưu chia rẽ của kẻ ngọai xâm, cầm đầu bởi vua Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt .

Dưới thời quân Minh cai trị, sau những cuộc phấn đấu của tôn thất nhà Trần như  Giản Định Đế, Trần Quí Khoách bị thất bại; con cháu nhà Trần gồm Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi, cháu ngoại Tư đồ Trần Nguyên Đán,lặn lội vào Thanh Hoá phò Lê Lợi. Những bậc đại trí như Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi thừa biết rằng một khi thành công, chưa hẳn nhà Lê đã dung tha cho con cháu nhà Trần cũ; nhưng vì đại nghĩa chống ngoại xâm, họ đã hợp tác nhiệt thành, dành lại độc lập cho nước nhà.

Thời Lê mạt, bậc khoa bảng nỗi tiếng Tiến sĩ Ngô Thời Nhậm hợp tác với  nhà Tây Sơn. Ông hiến kế tạm rút quân từ thành Thăng Long về Tam Điệp, như “ cho chúng tạm ngũ trọ một ít ngày”; để cuối cùng làm nên đại thắng, đánh tan đạo quân xâm lăng của Tôn Sĩ Nghị.

Ôn qua lịch sử từ các đời Tống, Trần, Lê, Nguyễn khẳng định tinh thần đoàn kết hoà giải, là yếu tố hàng đầu để giữ nước.

Tiếp đến câu hỏi quan trọng cần được đặt ra; nên làm gì để hoà giải:

Thứ nhất;  thiết tưởng cần có tinh thần rộng rãi, chấp nhận người khác có thể có cái nhìn khác mình; không nên chấp nhất hẹp hòi, kèn cựa nhau từng chi tiết vụn vặt. Ca dao cổ có câu:

Thương nhau cau sáu, bổ ba,

Ghét nhau cau sáu, bổ ra làm mười.

Các bạn trẻ ngày nay không biết ăn trầu, nên không biết đến sự trân trọng của miếng trầu ngày xưa.Tống Sử ghi lại phúc trình của viên Sứ thần Tống Cảo trình lên lên vua Tống Thái Tông về chuyến đi An Nam; dịp này Cảo được mời ăn trầu như sau “ [Lê] Hoàn gìm ngựa, cúi đầu, sau khi hỏi thăm sức khoẻ Thiên tử, buông cương cùng đi. Lúc bấy giờ đem trầu cau ra mời, nhai trên lưng ngựa; đó là phong tục hậu đãi tân khách.” (4)

Nay trở lại câu ca dao trên, ý nghĩa nằm trong bối cảnh thời xưa, hôn nhân quyết định bởi cha mẹ, tục ngữ có câu “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”; trai gái không thể biểu lộ một cách thẳng thắn “Anh yêu em, em yêu anh” như ngày nay. Bấy giờ người con gái tuy bị động, nhưng cũngkín đáo tìm cách biểu lộ tình cảm minh, qua việc têm trầu mời khách nhà trai. Trường hợp thương người con trai thì quả cau đáng bổ làm 6 miếng, thì bổ thành 3 miếng, khiến miếng cau to, xơi với trầu đặm đà hơn; nếu không bằng lòng thì tỏ thái độ khác, bằng cách bổ nhỏ trái cau thành 10 miếng. Vậy “cau sáu, bổ ba” biểu tượng sự cởi mở, hoà hợp.

Liên hệ thực tế, qua bài Tiếc Thương Trần Hạnh của anh Nguyễn Ngọc Giao đăng trên Diễn Đànngày 7/9/2015, nhắc đến cụ thân sinh anh Trần Hạnh là người tin Phật, có lẽ không muốn cho con cháu ôm lấy cái “nghiệp” quá khứ,để tư tưởng và hành động được tự do; nên đã nén lòng đốt chiếc áo vấy máu của ông nội anh Hạnh:

 “Mấy năm sau, ông qua Mỹ theo diện HO. Hạnh kể lại cái tết đầu tiên, họp mặt đầy đủ toàn thể gia đình ở California. Ông mang ra cái áo cũ, còn thấy vết máu. Đó là cái áo của cụ thân sinh bị chết tết Mậu Thân ở Huế, mà một người chú của Trần Hạnh đã gìn giữ cho con cháu dòng họ. Không một lời, ông đã đốt cái áo ấy, như người ta đốt vàng mã trong ngày tết gia đình sum họp tưởng nhớ tổ tiên.”

Sau đó trên Vietnam-issue, tôi tham gia, có bài viết của anh Hoàng Ngọc Tuấn, cũng là người bạn anh Hạnh, bảo rằng có một vài điểm anh Giao kể lại, anh Tuấn chưa được nghe, và thuật lại sự kiện trên như sau:

Mấy năm sau đó, khi gia đình đã đến định cư ở Mỹ, trong cái Tết sum họp đầu tiên ở California, cha của anh có kể cho tất cả các con một câu chuyện rằng, trước khi rời Việt Nam, ông đã thắp nhang khấn vái trước bàn thờ cha của ông và xin phép được đốt một di vật. Đó là chiếc áo vấy máu của cụ khi cụ bị  chết  trong Tết Mậu Thân mà gia đình còn giữ lại cho con cháu tưởng niệm. Ông đã khấn vái rằng nhờ phước đức tổ tiên mà bây giờ cả gia đình sắp qua Mỹ để sống một cuộc đời mới, nhưng vì quá xa xôi và chưa biết đến khi nào mới có thể trở về với quê cha đất tổ, nên ông xin đốt di vật này và cầu nguyện cho hương linh của cụ được mỉm cười nơi chín suối.”

Tôi thấy qua 2 bài, anh Giao và anh Tuấn thuật lại đại thể giống nhau; chẳng khác gì hai tấm ảnh chụp nghiêng từ hai bên trái, bên phải của một chân dung. Hai tấm hình tuy có chung mũi, nhưng lổ tai trái, phải khác nhau; chi tiết anh Giao có, chưa hẳn anh Tuấn đã có. Bởi vậy tôi tâm đắc bài của anh Hiệp, cũng trong Vietnam-issue, biểu lộ tinh thần thông cảm cởi mở, như sau:

(1) Anh H N Tuấn nói là anh “chưa bao giờ nghe Hạnh nói…” không có nghĩa là Trần Hạnh không nói câu nói của cha anh cho những người khác.

Anh H N Tuấn cũng sai khi nói là ai ở miền Nam trước 75 sẽ ngạc nhiên khi cha anh Hạnh dặn dò cố gắng học hành không nên tham gia chính trị.

Dặn dò này thật sự rất phổ thông cho những sv sắp sửa du học ở các nước phương Tây. Ngay cả tôi cũng được cha mẹ dặn dò như vậy. Vì ở miền Nam biết rằng một số sv du học đã tham gia phong trào phản chiến và gây khó khăn cho gia đình và chính phủ VNCH. Năm 1973, các sv du học ở Cộng hòa Liên bang Đức đã phản đối TT thiệu khi ông công du Âu châu với hệ quả là chinh phủ VNCH cấm không cho sv du học qua Đức nữa và không cho gia đình chuyển ngân cho sv

(2) Cũng vậy, Trần Hạnh “chưa bao giờ nói..” cho anh HN Tuấn, không có nghĩa là Trần Hạnh không nói cho Nguyễn Ngọc Giao vì tùy đối tượng anh Hạnh sẽ nói những gì cần trong bối cảnh khác nhau. Anh Giao thuộc phe phản chiến trước đây nên câu nói “Bỏ qua đi. Nếu bên mình thắng có lẽ đối xử với bên kia còn tệ hơn” thích hợp hơn khi anh Hạnh và gia đình qua Pháp gặp gia đình anh Giao chứ anh không nói cho anh HN Tuấn làm gì . Cho nên tôi nghĩ anh HN Tuấn có thể vội vã khi nói anh Giao là tưởng tượng đặt ra. A benefit of the doubt should be given here.

(3) Những lời kể về đốt chiếc áo máu của anh H N Tuấn và anh N N Giao thuật lại có chi tiết khác nhau nhưng làm sao không nghì có thể là do trí nhớ của mổi cá nhân hơi trệch. Tôi đã gặp và quen biết anh H N Tuấn và anh N N Giao và qua các cơ hôi nói chuyện và tiếp xúc tôi đề thấy cả hai đều là những người đàng hoàng, có integrity mặc dầu nhận định và chính kiến khác nhau.

Thứ hai; nên thành thật, bắt đầu từ những điểm đồng thuận, rồi từ từ khai triển ra những chỗ dị biệt. Có vài bạn cực đoan nói rằng không có gì đồng thuận với Cộng sản cả. Xin trả lời; ít ra chúng ta cũng đều ăn cơm, hãy nói về cơm trước, còn phở và hủ tíu tạm hoãn lại sau. Một khi đã thông cảm rồi, thì hiểu rằng cơm, bánh phở, bánh hủ tíu, cũng từ gạo mà ra! Về điểm này tôi có chút kinh nghiệm, xin được phép thuật lại:

Trước năm 2007, tôi gửi một số bài viết đăng trên báo Talawas của nhà văn Phạm Thị Hoài. Từ nhân duyên này, tôi được quen với anh D. tại Hà Nội. Anh là người rất thích  khảo cứu lịch sử, muốn giúp tôi in sách tại Hà Nội. Tôi gửi anh bản dịch những văn bản trongThanh Thực Lục, liên quan đến chiến tranh Thanh-Tây Sơn. Anh liên lạc với N. X. B. Hà Nội, thuộc Thành uỷ Hà Nội, để nhờ xuất bản. Khoảng năm 2008 tôi về Hà Nội, được ông Giám đốc N. X.B. Hà nội, Thạc sĩ Nguyễn Khắc Oánh mời đi ăn. Trong bữa tiệc tiệc, ngoài các anh làm việc cho N.X.B tôi quên tên, còn có nhà văn Đào Hùng con cụ Đào Duy Anh và anh D; bữa tiệc vui vẻ,  ông G.Đ hứa sẽ xuất bản sách.

Sau đó khoảng 1 năm, bộ Thanh Thực Lụcxuất bản tại Việt Nam, bộ này trước kia in tại Mỹ gọi là Cao Tông Thực Lục. Tiếp đó N.X.B. có dự định  xuất bản 1.329 văn bản Minh Thực Lục liên quan đến Việt Nam do tôi dịch và tái bản Thanh Thực Lục. Qua sự trung gian của anh D., tôi làm việc với một số chuyên viên sử học trong nước qua internet, nhưng không biết tên, biết mặt. Chúng tôi làm việc có hiệu quả, thỉnh thoảng có một vài bất đồng nhưng đã giải quyết được. Ví dụ văn bản về việc Trương Phụ được Minh Thái Tông thăng chức, tôi đã dịch, nhưng không được đưa vào; họ căn cứ vào tiêu chí chỉ in những văn bản liên quan đến Việt Nam thôi, nên tôi đành nhượng bộ. Có những đoạn bị sửa, tôi biện luận lại, thì được họ nhượng bộ.

Năm 2010 bộ Minh Thực Lục in xong và Thanh Thực Lục tái bản; tháng 11 tôi về nước, anh D. báo cho N.X.B biết. N.X.B. cho tổ chức lễ ra mắt sách tại hội trường thư viện Hà Nội. Trong buổi ra mắt sách, anh D. đảm trách điều hành, trên bàn thuyết trình ngoài ông G.Đ. Nguyễn Khắc Oánh, còn có các PGS. Tiến sĩ Nguyễn Minh Tường, PGS. Tiến sĩ Tạ Ngọc Liễn, nhà nghiên cứu Hán Nôm Phạm Hoàng Quân. Bây giờ tôi mới biết ba vị này đã từng làm việc với tôi trên internet, qua trung gian của anh D. Đến lượt trình bày, tôi chỉ nêu lên 2 ý của người xưa: Thứ nhất cụ Nguyễn Văn Tố từng có ý kiến rằng Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim tuy tạm đủ, tuy nhiên cần dịch tất cả các sử liệu nước ngoài, đặc biệt là Bắc sử, để bổ sung vào kho tàng lịch sử nước nhà. Thứ hai trong thư Phan Đình Phùng gửi Hoàng Cao Khải, nhận định lịch sử nước ta là chỗ dựa bất biến vững chắc nhất. Hội trường rất đông người, nhưng tôi chỉ nhớ một vài vị phát biểu ý kiến như: Dân biểu quốc hội Dương Trung Quốc, Cựu Lãnh sự VN tại Quảng Châu Dương Danh Di, PGS. Ngô Đức Thọ, PGS. Trần Thị Băng Thanh, nguyên Viện trưởng Hán Nôm Trần Nghĩa; nói chungkhông ai phản đối việc làm của tôi.

Phải nói rằng tôi rất muốn in sách lịch sử trong nước, vì một ám ảnh thời niên thiếu. Đó là thời Cải cách ruộng đất năm 1955; tôi sống tại huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh; thời đó xung quanh tôi, thanh thiếu niên nam nữ hát rầm ran bài hát sau đây:

Thằng phong kiến thường hay nói rằng,

Giàu nghèo hay đói no, đều do tại số,

Đừng nghe lời quân giantham,

Bần cố trung nông ta ơi!…..”

“Thằng phong kiến” tức các triều đại quân chủ nước ta từ họ Hồng Bàng cho đến nhà Nguyễn; theo tác giả bài hát này thì các triều đại này đều xấu. Cho dù tôi có viết cả trăm bài để cải chính vấn đề này cũng không tác dụng; nên chỉ lẳng lặng dịch nguyên văn các văn bản từ sử Trung Quốc về việc phấn đấu giữ nước của vua chúa nước ta thời xưa, chữ nào nghĩa nấy, có nguyên văn chữ Nho đính kèm, chắc có tác dụng hơn.

Đúng như tôi nghĩ, khoảng một năm sau một bạn trẻ trong nước gửi Email cho tôi, cho biết trong khi đọcMinh Thực Lục anh rất cảm động việc con gái vua Lê Lợi mới 9 tuổi, bị Nội quan Mã Kỳ đánh phá nhà, bắt đem về Trung Quốc. Nhưng sau khi thoả thuận với Vương Thông để quân Minh rút lui, đất nước được hoà bình; vua Lê Lợi vì việc nước, phải dằn lòng quên thù riêng, cấp thuyền cho Mã Kỳ trở vể Trung Quốc an toàn. Sau đó nhà vua tỏ ra mềm dẻo gửi thư sang Trung Quốc xin lại con (5), nhưng bị vua Tuyên Đức báo tin rằng con đã chết! (6)

Ngoài ra với những điều nhận xét sau đây, tôi cảm thấy không bị làm khó, trong việc in sách:

– Gần 3.000 trang sách trong bộ Minh Thực Lục, và 600 trang trong Thanh Thực Lục, hoàn toàn không có những từ liên quan đến hiện đại, như đảng Cộng sản v v…(7)

– Theo yêu cầu của tôi, tại trang đầu bộ Thanh Thực Lục có ghi hàng chữ sau đây “ Kính dâng hương linh Thân phụ và Thân mẫu, ông bà Hồ Lê Phồn”; mặc dù qua lý lịch ai cũng biết thân phụ và thân mẫu tôi là địa chủ, chết trong cải cách ruộng đất.

Chú thích:

1.   Đại Việt Sử Ký Tòan Thư, tập 1, trang 230.

2.  Đại Việt Sử Ký Tòan Thư, tập 2, trang 16.

3.   Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập 2, trang 80.

4. Tống Sử, quyển 488, Liệt Truyện thứ 247, Ngoại Quốc: Quyển thứ 4, Giao Chỉ.

5.Văn bản về tờ biểu của vua Lê Lợi gửi cho vua Tuyên Đức, có đoạn như sau : [805] Ngày 11 tháng 2 năm Tuyên Đức thứ 4  [ 15/3/1429]

……Nhân thần có chút tình riêng: thần trước đây bị quan quân xua đuổi, trong lúc thảng thốt để mất  con gái nhỏ mới 9 tuổi. Dò la được biết Nội quan Mã Kỳ mang về, tiến dâng làm quan nô tỳ. Thần tội to như gò núi đã được tha, nghĩ đến gia đình chỉ mong được đoàn tụ, xin sắc chỉ tha cho về để được vẹn tình cha con, Thần đáng ghi khắc vào tâm cốt, cảm ơn không bao giờ quên.”

( Minh Thực Lục v. 18, t. 1218-1219; Tuyên Tông q. 51, t. 3b-4a )

6. Văn bản vua Tuyên Đức trả lời có đoạn như sau:

[ 809 ] Ngày 28 tháng 3 năm Tuyên Đức thứ 4 [ 1/5/1429 ]

…Riêng dụ ngươi về việc ngươi tâu rằng có con 9 tuổi bị Mã Kỳ thu dưỡng đem về kinh sư, muốn được đoàn tụ. Nghe việc này động lòng trắc ẩn, Trẫm là cha mẹ của thiên hạ lai nỡ để cho một trẻ nhỏ không được gần người thân ư! Nên đã ra lệnh tìm hỏi ngay việc này. Nhưng con gái ngươi vì không hợp thủy thổ, nên bị bênh mất đã lâu. Tình thương yêu cha con người người giống nhau, nhưng phần số mỗi người thì đã định; bảo riêng để ngươi biết….( Minh Thực Lục v 18, tr. 1258-1260; Tuyên Tông q. 52, tr. 10b-11b ) 

7.Minh Thực Lục hiện có trong các thư viện Mỹ như: Library of Congress, ISBN:9786045500613; UC Berkeley Libraries, Call No. DS556.58.C5m56 2010 V.3.Thanh Thực Lục: Cornell University Library

Trung Quốc có thể “đi đêm” với Mỹ – VHNA

17 Th9
  •   QUỐC TRUNG
  • Thứ tư, 16 Tháng 9 2015 07:23
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
 

Nếu hợp tác với Cảnh sát biển Trung Quốc là thừa nhận những hoạt động phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông. Trực tiếp hay gián tiếp, vô tình hay cố ý cũng đều rơi vào bẫy của Trung Quốc. Cái bẫy ấy là, mặc nhiên thừa nhận yêu sách chủ quyền vô lý của Trung Quốc đối với hầu hết Biển Đông.

Tờ Defense News ngày 25/8 cho hay, trong cuộc hội đàm trực tuyến kéo dài 90 phút mới đây giữa Tư lệnh Hải quân Trung Quốc Ngô Thắng Lợi với Tham mưu trưởng Hải quân Hoa Kỳ Đô đốc Jonathan Greenert, hai bên đã trao đổi về Quy tắc ứng xử của chiến hạm hai nước khi gặp nhau bất ngờ trên biển (CUES), một thỏa thuận giữa 21 quốc gia Thái Bình Dương do ông Lợi và ông Greenert cùng thiết lập năm ngoái. Đô đốc Greenert cho biết, ông đã đề xuất ý tưởng áp dụng Quy tắc CUES đối với lực lượng Cảnh sát biển với Đô đốc Ngô Thắng Lợi: “Chúng tôi đề xuất ý tưởng này với Trung Quốc, bởi vì sự tương tác diễn ra ở Biển Đông chủ yếu là với tàu Cảnh sát biển Trung Quốc”. Tham mưu trưởng Hải quân Hoa Kỳ cho biết, Tư lệnh Cảnh sát biển Hoa Kỳ, Đô đốc Paul Zukunft cũng đã từng sang Trung Quốc trình bày đề xuất này với đối phương.

Hợp tác là rơi vào bẫy

Ý tưởng này cũng được Đô đốc Scott Swift, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ ủng hộ và thảo luận về khả năng áp dụng CUES cho Cảnh sát biển Trung Quốc, một lực lượng chấp pháp của Chính phủ Trung Quốc, đang hoạt động phi pháp trong hầu hết Biển Đông theo đường yêu sách “lưỡi bò” phi lý của họ. Động thái này rất đáng lưu ý khi nó diễn ra ngay trước thềm chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ đầu tiên của ông Tập Cận Bình. Mới đây, Lầu Năm Góc lại vừa công bố tài liệu cho thấy Trung Quốc đã bồi lấp, xây dựng bất hợp pháp thêm 50% diện tích đảo nhân tạo ở Biển Đông chỉ trong tháng 6 vừa qua. Trao đổi với báo giới, Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ bình luận: “Quả thật đây là một động thái hết sức đáng chú ý và rất khó hiểu”.

Khó hiểu đầu tiên, theo TS. Trục, Hoa Kỳ thừa biết rằng, về danh nghĩa pháp lý Cảnh sát biển là lực lượng chấp pháp của Chính phủ, làm nhiệm vụ quản lý nhà nước trong phạm vi các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình. Trong tình hình hiện nay để hợp thức hóa yêu sách “lưỡi bò” phi lý và đầy tham vọng của mình, Trung Quốc đã và đang đẩy lực lượng Cảnh sát biển cùng với đông đảo tàu cá trá hình ra làm “nhiệm vụ chấp pháp” trong vùng biển không thuộc các quyền hợp pháp của họ. Nếu thừa nhận những hoạt động phi pháp này, dù là trực tiếp hay gián tiếp, dù là vô tình hay cố ý, cũng đều rơi vào bẫy của Trung Quốc: Mặc nhiên thừa nhận yêu sách chủ quyền vô lý của Trung Quốc đối với hầu hết Biển Đông.

Ngoài ra, nếu Mỹ -Trung bắt tay hợp tác với nhau ở Biển Đông thì họ sẽ hợp tác trong phạm vi nào? Trong khu vực quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam? Trong vùng biển quốc tế trên Biển Đông hay trên toàn bộ Biển Đông với phạm vi đường lưỡi bò? Nếu hợp tác với cái cớ “tránh va chạm, đối đầu khi chạm trán bất ngờ” ở bất kỳ vùng biển nào Cảnh sát biển Trung Quốc xuất hiện thì dù vô tình hay hữu ý, động thái này khó tránh khỏi sự mặc nhiên thừa nhận yêu sách chủ quyền phi lý cũng như phạm vi hoạt động sai trái của Trung Quốc. Hơn nữa, trên Biển Đông, Trung Quốc có lực lượng Cảnh sát biển hùng hậu nhất khu vực với 95 tàu lớn và 110 tàu nhỏ, vượt xa Nhật Bản với 53 tàu lớn và 25 tàu nhỏ cũng như các quốc gia Đông Nam Á khác cộng lại. Phương thức hoạt động của Trung Quốc đã được chính các học giả nước này công khai đặt tên là chiến lược bắp cải, chiến lược cờ vây, hay chiến lược tằm ăn dâu.

Chiếm Biển Đông vào 2017?

Bắc Kinh đã thực hiện xong giai đoạn một trong chiến lược biến Biển Đông thành ao nhà. “Thái độ do dự của các nước liên can từ Hoa Kỳ, Úc cho đến các thành viên Đông Nam Á tạo cơ hội bằng vàng cho Tập Cận Bình tiến sang giai đoạn hai trong 2 năm tới”. Đây là nhận định của nhiều chuyên gia quân sự được Fairfax Media, nguồn tin quốc phòng cao cấp của Úc, tổng hợp và phân tích. Với các đảo nhân tạo đã được thực hiện gần xong, Trung Quốc đã chiến thắng trận thứ nhất trong chiến lược khống chế Biển Đông. Ít ai có khả năng ngăn chận Trung Quốc chiến thắng luôn giai đoạn hai. Hoa Kỳ cũng như đồng minh Úc trong khu vực, tuy lên án Bắc Kinh có “hành động phi pháp” đe dọa an ninh hàng hải, hàng không, nhưng cho đến nay hai nước này vẫn do dự, ngập ngừng. Trên đây là những nhận định mới nhất của các nguồn tin quốc phòng cao cấp của Úc.

Giới chuyên gia quân sự Úc cho rằng vào năm 2017, khi các đảo nhân tạo trong vùng Hoàng Sa và Trường Sa hoàn tất với quân cảng, phi trường thì Trung Quốc sẽ đưa ra-đa, đại bác, máy bay chiến đấu ra tận nơi để mở rộng vùng can thiệp đến tận những nơi xa xôi nhất của Biển Đông. Tháng 5 năm nay, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter tuyên bố: một là kêu gọi Trung Quốc phải chấm dứt đắp đảo lấn biển và hai là Mỹ không công nhận “không phận, hải phận” của các đảo nhân tạo này. Lập trường cứng rắn của bộ trưởng Mỹ đã được đồng nhiệm Úc Kevin Andrews ủng hộ mạnh mẽ. Hai chuyến bay được thực hiện sau đó bay ngang một số đảo đang được Trung Quốc bồi đắp. Một chuyến có phóng viên đài truyền hình CNN và một chuyến có tư lệnh hạm đội 7, đô đốc Scott Swift. Trên thực tế, theo kiểm chứng của Fairefax Media, hai chuyến bay này đều nằm ngoài khoảng cách 12 hải lý chứ không bay ngang như một số báo chí đã đưa tin.

Trong khi Hoa Kỳ và đồng minh Úc “vật lộn” với những không ảnh và bản đồ cũ, tranh luận đâu là những nơi đe dọa an ninh hàng không hàng hải, thì hàng ngày hạm đội tàu công binh của Trung Quốc gia cố, nới rộng một phi đạo thứ hai dài 3 km trên bãi đá Subi Reef cho những phi cơ vận tải lớn nhất của “Giải phóng quân” hạ cánh. Trong khi Mỹ và các đồng minh nói và làm không đi đôi với nhau thì Trung Quốc thừa sức và rộng thời gian để hoàn tất căn cứ quân sự tiền phương ở Biển Đông trước khi chủ tịch Tập Cận Bình sang gặp tổng thống Mỹ Barack Obama trong hai tuần tới đây (trung tuần tháng 9). Hình ảnh vệ tinh cho thấy 90% số tàu công binh hoạt động ở Trường Sa đã rút sau các hoạt động bồi đắp cấp tốc.

Câu hỏi đặt ra là vì sao từ nay đến ít nhất là cho hết năm 2017 là thời gian rất thuận lợi cho Trung Quốc hoàn tất kế hoạch chiếm Biển Đông, ít nhất vì hai lẽ. Lý do thứ nhất, Hoa Kỳ bước vào mùa tranh cử bầu cử tổng thống và phải chờ đến đầu năm 2017 mới có một chính phủ mới ở Washington. Lý do thứ hai, tình hình nội bộ các nước Đông Nam Á. Trong bối cảnh các thành viên không đoàn kết với nhau trước tham vọng của Trung Quốc, đặc biệt, năm 2017 là năm nước Lào, một đối tác đã bị Bắc Kinh gây ảnh hưởng, làm Chủ tịch luân phiên Hiệp hội ASEAN. Tuy nhiên, cũng có một số viên chức Mỹ và Úc lại đưa ra kết luận trái ngược với quan ngại này là Trung Quốc chỉ thắng về chiến thuật, nhưng sẽ thua to về chiến lược. Tức là trước hiểm họa chung, các quốc gia trong vùng sẽ đoàn kết chặt chẽ với nhau và với Hoa Kỳ hơn./.

Obama sẽ nói thẳng với Tập Cận Bình về gián điệp mạng? – Vnn

17 Th9

Giới phân tích đưa ra 5 chủ đề hội đàm chính mà Tổng thống Mỹ Obama có thể nêu thẳng thắn và cứng rắn trên bàn hội đàm với Chủ tịch TQ Tập Cận Bình khi đến thăm Mỹ.

Ông Tập Cận Bình thăm Mỹ: TQ mất ánh hào quang?

Gián điệp mạng

Mỹ cáo buộc các tin tặc TQ thường xuyên tấn công vào những trang mạng của Mỹ, từ các doanh nghiệp đến tổ chức phi chính phủ và chính phủ. Washington cho rằng, trong tháng 6 năm nay, tin tặc TQ đã tấn công vào hệ thống máy tính chính phủ Mỹ và có khả năng tiếp cận với thông tin cá nhân của 21 triệu nhân viên, cựu nhân viên liên bang.

Sau khi đăng các bài báo về quan chức cấp cao TQ, trang web tờ Thời báo New York cũng bị tấn công năm 2013. Phía TQ cũng cáo buộc các cơ quan an ninh Mỹ tài trợ cho hoạt động của tin tặc nhằm vào TQ. 

Năm 2014, TQ đã ngừng các hoạt động hợp tác an ninh mạng với Mỹ khi chính phủ Mỹ buộc tội 5 quan chức quân đội TQ ăn trộm những thông tin thương mại nhạy cảm bằng cách xâm nhập mạng. Bắc Kinh nói sẵn sàng khởi động đàm phán nhưng chờ động thái từ Mỹ. Cuộc gặp lần này là cơ hội để Obama ra quyết định.

TQ, Mỹ, Obama, Tập Cận Bình
Tổng thống Mỹ Obama và Chủ tịch TQ Tập Cận Bình. Ảnh: IBT

Ăn cắp tài sản trí tuệ

Phim lậu, nhái thiết kế hàng hiệu thời trang từ quần áo, đến giày dép túi xách hoặc điện thoại di động… – tất cả đều có thể mua ở TQ. Đôi khi hàng hóa từ đó có thể ra thị trường thế giới lớn hơn. Các công ty của Mỹ tổn thất hàng tỉ USD mỗi năm vì nạn trộm cắp tài sản trí tuệ ở TQ. Theo báo cáo hồi tháng 5 của một ủy ban do các cựu quan chức Mỹ đứng đầu, vấn đề này gây tổn thất cho kinh tế Mỹ khoảng 300 tỉ USD/năm

Trong tháng 6, quan chức hải quan Trung, Mỹ đã ký thỏa thuận chống lại hành vi này. Tuy nhiên, Washington cho rằng cần tăng tốc tiến trình để kiểm soát chặt chẽ nạn trộm cắp tài sản trí tuệ ở TQ.

Khủng hoảng Ukraina

TQ ngày càng gần gũi Nga. Hai bên có nhiều lần cùng nhau phản đối phương Tây bằng cách dùng quyền phủ quyết ở HĐBA. Nhiều lần thăm viếng cấp cao cùng những thỏa thuận lớn Trung-Nga khiến thế giới còn đề cập tới một liên minh hai nước hình thành.

 
 

Mỹ cáo buộc Nga gây bất ổn tại Ukraina bằng cách xâm nhập vào miền đông nước này. Quan hệ Nga – – phương Tây căng thẳng không khác gì thời chiến tranh lạnh. TQ có thể là tiếng nói hữu ích mà theo Mỹ là thuyết phục Nga rút quân khỏi Ukraina và tháo gỡ khủng hoảng, khiến phương Tây rút bỏ cấm vận kinh tế, khôi phục quan hệ ngoại giao.

Hạt nhân Triều Tiên

TQ gần như là đồng minh duy nhất của Triều Tiên. Điều Mỹ lo ngại nhất là Triều Tiên đã phát triển các khả năng hạt nhân, và thử nghiệm vũ khí nguyên tử. Hàn Quốc – thường hứng chịu sự hăm dọa từ Bình Nhưỡng – lại là đồng minh thân cận của Mỹ.

Tuy nhiên, quan hệ Trung-Triều đã suy giảm kể từ khi ông Kim Jong-Il qua đời năm 2013 và con trai ông là Kim Jong-Un lên nắm quyền. TQ vẫn có quan hệ ngoại giao tốt với Triều Tiên – có đại sứ quán ở Bình Nhưỡng – cũng như quan hệ thương mại.

Ít nhất cả Mỹ và TQ đều có điểm chung là mong muốn một Triều Tiên phi hạt nhân. Vì lợi ích của người dân trên bán đảo Triều Tiên và vì sự ổn định địa chính trị nói chung, ông Obama cần thúc đẩy vấn đề này trong cuộc gặp với ông Tập.

Phá giá đồng nhân dân tệ

TQ đã mạnh tay phá giá đồng nhân dân tệ với nỗ lực cân bằng giữa bất ổn kinh tế – từ thị trường chứng khoán lao dốc tới xuất khẩu sụt giảm – tạo ra phản ứng dây chuyền với kinh tế toàn cầu. Là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, đồng nhân dân tệ của TQ có thể trở thành đồng tiền dự trữ thế giới.

Cục Dự trữ Liên bang cho rằng, nếu thúc đẩy đồng đô la và thắt chặt các điều kiện tín dụng quá sớm sẽ làm tổn thương nền kinh tế khi họ đang cố gắng hạn chế nguồn cung tiền. Trong khi nếu để lỏng lẻo kiểm soát tạo ra sự bùng nổ tín dụng lại có những nguy cơ khác.

Ông Obama cần thẳng thắn trao đổi với ông Tập và quan chức TQ về lộ trình phát triển kinh tế nước này cũng như kế hoạch cho đồng nhân dân tệ bởi đây là yếu tố sống còn để Cục Dự trữ liên bang cân nhắc thời điểm nâng lãi suất, ‘hãm phanh’ quá trình mua trái phiếu.

TQ phần nào cũng có lợi bởi bất kỳ vấn đề bất ổn nào cũng có thể gây phản ứng dây chuyền với chính họ.

Thái An(Theo International Business Times)

Mỹ bắt tay Nhật theo dõi tàu ngầm TQ
Mỹ cấp 4 tàu tuần tra cho Philippines
5 “vũ khí bí mật” TQ dùng đối phó Mỹ
‘TQ không thắng nổi Mỹ trong trận chiến tàu sân bay’

Mỹ làm được thì Nhật cũng làm được – Vnn

16 Th9

– Từ Nhật Bản, GS Trần Văn Thọ, Đại học Waseda gửi đến VietNamNet phân tích của ông về những thành quả cũng như tồn tại của nền kinh tế VN sau 30 năm đổi mới, những thách thức mà Việt Nam phải đối diện, đồng thời nêu ý tưởng cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. VietNamNet giới thiệu bài viết này như một góp ý cho dự thảo văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12:

Đổi mới đã đưa Việt Nam thoát khỏi bẫy nghèo và trở thành nước có thu nhập trung bình thấp. Nhưng so với tiềm năng, kể cả những thời cơ thuận lợi bị bỏ lỡ và so với kinh nghiệm của các nước Đông Á thì tốc độ phát triển của Việt Nam thấp và kém hiệu suất.

Các nước Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đã phát triển nhanh đưa nền kinh tế lên giai đoạn cao trong thời gian ngắn nhờ khát vọng của lãnh đạo, của quan chức muốn đưa đất nước theo kịp các nước tiên tiến, từ đó chủ nghĩa phát triển và tinh thần dân tộc được đề cao, người tài được trọng dụng, tinh thần doanh nghiệp (DN) được phát huy. DN tư nhân là động lực đưa nền kinh tế phát triển.

Hiện nay Việt Nam trực diện ba thách thức lớn. Thứ nhất là nguy cơ chưa giàu đã già. Cơ cấu dân số vàng sắp qua đi, giai đoạn lão hóa dân số sẽ đến gần kề mà thu nhập đầu người còn rất thấp. Thứ hai là nguy cơ có sự phân hóa nền kinh tế thành hai khu vực, FDI và tư bản trong nước. Thứ ba là nguy cơ mắc vào bẫy thu nhập trung bình thấp (bẫy thu nhập trung bình đến sớm khi thu nhập đầu người còn thấp).

Kết quả phân tích ở trên đã gợi nhiều ý khi bàn về phương châm, chiến lược, chính sách cần thiết trong tương lai trung và dài hạn của Việt Nam. Xuất phát quan trọng nhất, có tính cách quyết định là khát vọng, khí khái của những người lãnh đạo trong giai đoạn sắp tới.

Đánh giá thành quả phát triển của Việt Nam từ sau Đổi mới  

Nhật Bản: Quan chức năng lực, thanh liêm

Hai giai đoạn quan trọng đã làm thay đổi nước Nhật là thời kỳ Minh Trị duy tân (1868-1911) và thời kỳ phát triển cao độ còn gọi là thời đại phát triển thần kỳ (1955-1973). Hai thời kỳ có những đặc điểm chung là tố chất yêu nước và tinh thần trách nhiệm cao độ của lãnh đạo chính trị, và năng lực, đạo đức của quan chức nhà nước.

Cuối thập niên 1950, nhà chính trị Ikeda Hayato thai nghén một ý tưởng về việc đưa nước Nhật vào thời đại phát triển mới, đáp ứng nguyện vọng của đại đa số dân chúng. Trong lúc tìm kiếm ý tưởng, ông đọc được bài viết của Giáo sư kinh tế Nakayama Ichiro về khả năng tăng gấp đôi tiền lương thực chất tức mức sống của người dân trong vòng 10 năm. Ông lập nhóm nghiên cứu qui tụ các trí thức, các nhà kinh tế tâm huyết và có năng lực để bàn bạc, nghiên cứu việc triển khai ý tưởng đó. Chính Ikeda trực tiếp tham dự nhiều buổi họp thâu đêm của nhóm này.

Cuối cùng kết luận của nhóm là hiện nay tiết kiệm trong dân đang tăng, đất nước đang mở cửa hội nhập với thế giới nên công nghệ nước ngoài sẽ được du nhập dễ dàng; đó là hai tiền đề để đầu tư tích lũy tư bản. Đầu tư có hai hiệu quả là vừa tăng tổng cầu vừa tăng khả năng cung cấp (sản xuất) của nền kinh tế. Do đó kinh tế Nhật hy vọng sẽ bước vào thời đại bột phát mạnh mẽ.

Được nhóm chuyên viên, trí thức triển khai về mặt lý luận và các chính sách cụ thể, Ikeda tự tin và đã quyết định lấy Chiến lược bội tăng thu nhập quốc dân làm cam kết chính trị trong cuộc tranh cử vào vị trí chủ tịch đảng. Ikeda thắng cử và trở thành thủ tướng vào tháng 7/1960.

chủ nghĩa phát triển, lợi thế so sánh, thu nhập quốc dân, quan chức, yêu nước, bẫy thu nhập trung bình thấp, chưa giàu đã già, dân số vàng, Đại hội Đảng 12, đổi mới, Trần Văn Thọ, bẫy nghèo, thu nhập trung bình thấp, Đông Á, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc
Công nhân kiểm tra chất lượng xe tại nhà máy Toyota Miyata ở tỉnh Fukuoka, Nhật Bản.Ảnh: Bloomberg

Cốt lõi của kế hoạch bội tăng thu nhập quốc dân (từ 1960 đến 1970) là toàn dụng lao động, làm cho dân chúng thấy cuộc sống được cải thiện rõ rệt, và đưa Nhật lên hàng các nước tiến tiến.

Phương châm cơ bản là tạo điều kiện để DN tư nhân tích cực đầu tư. Công việc của chính phủ chỉ là cố gắng tiết kiệm công quỹ để có thể giảm thuế nhằm kích thích đầu tư, đầu tư xây dựng hạ tầng, và bảo đảm an sinh xã hội. Phát triển là công nghiệp hóa, là phát triển ngành dịch vụ nên lao động phải chuyển dần từ nông nghiệp sang các khu vực phi nông. Do đó Ikeda đã nhấn mạnh phải ra sức giáo dục bậc cao đẳng và hướng nghiệp để quá trình chuyển dịch lao động không bị gián đoạn.

Ikeda đã thổi vào xã hội một không khí phấn chấn, tin tưởng vào tương lai. DN tích cực đầu tư, mọi người hăng hái làm việc. Kết quả là kinh tế đã phát triển nhanh, vượt xa kế hoạch rất nhiều. Bình quân kinh tế phát triển trên 10%, thay vì 7% như kế hoạch, chiến lược bội tăng thu nhập quốc dân đạt được mục tiêu chỉ trong 7 năm, thay vì 10 năm như kế hoạch ban đầu.

Theo giá thực tế năm 2000, tổng thu nhập quốc dân trên đầu người của Nhật vào năm 1960 là 7.700 USD, đến năm 1970 tăng lên 16.600 USD. Mức chi tiêu của một gia đình giới lao động vào năm 1960 trung bình mỗi tháng là 32.000 yen, đến năm 1970 đã tăng lên 83.000 yen. Lương tháng của công nhân trong ngành công nghiệp đã tăng từ 23.000 yen năm 1960 lên 72.000 yen năm 1970.

Trừ đi độ trượt giá mỗi năm vài phần trăm, trên thực chất thu nhập của giới lao động đã tăng gấp đôi hoặc hơn. Ngoài ra, số lao động có việc làm tăng nhiều hơn so với kế hoạch và số giờ làm việc mỗi tháng của giới lao động giảm từ 203 giờ còn 187 giờ. Thập niên 1960 cũng là giai đoạn người Nhật chứng kiến nhà nhà có tủ lạnh, quạt máy, máy giặt, TV…

Tầm nhìn chiến lược về dân tộc

Tại sao kế hoạch bội tăng thu nhập quốc dân thành công ngoài dự kiến? Một là bản lĩnh, tầm nhìn chiến lược về dân tộc, về đất nước của lãnh đạo, từ đó có khả năng qui tụ người tài chung quanh mình trong việc hoạch định chiến lược, chính sách cụ thể. Hai là đội ngũ quan chức có năng lực và thanh liêm, đầy tinh thần trách nhiệm với đất nước. Do 2 yếu tố cơ bản này, ta thấy họ đã đưa ra nhiều chính sách rất thiết thực và thực hiện các chính sách rất có hiệu quả. Đơn cử vài thí dụ:

Thứ nhất, tạo sân chơi bình đẳng cho mọi DN, yểm trợ DN nhỏ và vừa bằng chính sách tín dụng, thủ tục hành chính đơn giản, hầu như không có tham nhũng nên đầu tư tăng rất nhanh.

 
 

Tỉ lệ đầu tư trên GDP tăng từ 20% năm 1955 lên 30% năm 1960 và 35% năm 1970. Trong tổng đầu tư có tới 75% là của DN tư nhân. Những công ty tư nhân nổi tiếng sau này như Honda, Sony, Toyota, v.v. đều lớn mạnh trong giai đoạn này. DN nhỏ và vừa vay vốn đầu tư dễ dàng, thậm chí những DN có số lao động dưới 20 người vẫn dựa chủ yếu vào vốn vay ở các ngân hàng và cơ quan tín dụng hiện đại.

Thứ hai, ngoại tệ được quản lý chặt chẽ và tiết kiệm tối đa, hạn chế việc đi du lịch nước ngoài và kiểm soát gắt gao việc quan chức dùng ngoại tệ đi tham quan nước ngoài.

Thay vào đó, ngoại tệ chủ yếu để nhập thiết bị, nguyên liệu và công nghệ cần thiết cho đầu tư. DN hăng hái cách tân công nghệ, sản xuất sản phẩm đã có với giá thành và phẩm chất tốt hơn hoặc sản xuất những sản phẩm mới, cạnh tranh mạnh trên thị trường thế giới.

Do cách tân công nghệ và do việc quản lý hành chánh, quản trị doanh DN có hiệu suất, nên  kinh tế phát triển rất có hiệu suất. Tuy đầu tư nhộn nhịp như vậy nhưng độ cống hiến của tư bản trong tăng trưởng chỉ có độ 25%, trong khi cống hiến của công nghệ, của quản lý tức năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) là 65%.

Ngoài ra còn nhiều chính sách khác về giáo dục, khoa học công nghệ, về đẩy mạnh xuất khẩu, về tổ chức thị trường… Nói chung lãnh đạo và quan chức khẩn trương triển khai thực hiện các chính sách để đạt mục tiêu của kế hoạch bội tăng thu nhập quốc dân; và DN đã hưởng ứng tạo nên khí thế đầu tư mạnh mẽ.

Nói về tố chất của quan chức Nhật Bản, tôi muốn giới thiệu trí tuệ, hành động và tác phong của các quan chức Bộ Công Thương (MITI) vào giữa thập niên 1950 mà tôi gọi họ là những anh hùng trong thời đại phát triển.

Lúc đó một chiếc xe hơi nhập khẩu từ Mỹ vào giá rất đắt, tương đương 5 năm tiền lương của một quan chức trung cấp. Các quan chức ở Bộ Công Thương lúc đó mơ ước có ngày người dân bình thường cũng sẽ có xe hơi và cho rằng phải phát triển ngành xe hơi mới làm cho Nhật giàu mạnh.

Có nhiều ý kiến khác nhau về điểm này, kể cả một số lãnh đạo trong đảng cầm quyền sợ kế hoạch sản xuất xe hơi sẽ không thành công và có thể gây va chạm trong quan hệ Nhật-Mỹ. Nhưng các quan chức Bộ Công Thương đã tích cực vận động lãnh đạo chính phủ và DN để thực hiện cho được kế hoạch này vì tin sự quan trọng của ngành xe hơi đối với Nhật trong tương lai.

Nhưng ý chí là một chuyện còn khả năng có thực hiện được không và làm sao để thực hiện có hiệu quả là một chuyện khác. Lợi thế so sánh của Nhật lúc đó là các hàng công nghiệp dùng nhiều lao động giản đơn như vải vóc, giày dép… 

Đang phân vân về khả năng sản xuất của nước mình, các quan chức đọc được bài viết của giáo sư Shinohara Miyohei (1919-2013) bàn về lợi thế so sánh động (lợi thế so sánh trong tương lai) và các điều kiện để biến lợi thế so sánh động thành hiện thực. Họ vui mừng và liên lạc ngay với giáo sư Shinohara xin gặp để hỏi chi tiết hơn.

Trong hồi ký viết hồi tháng 6/2009, Shinohara kể như sau: “Hồi đó 4-5 quan chức Bộ Công Thương đến nhà tôi vào buổi tối. Chúng tôi trò chuyện mãi đến khuya vẫn còn muốn tiếp tục, cuối cùng gần 5 giờ sáng họ mới ra về”.

Còn rất nhiều câu chuyện tương tự về sự cầu thị, nhiệt tình lo việc nước của quan chức Nhật thời đó.  

Sau đó, Bộ Công Thương tự tin là Nhật có thể sản xuất xe hơi được và đã đặt ra các chính sách yểm trợ DN xúc tiến sản xuất. Những chiếc xe đầu tiên ra đời còn xấu về hình dáng nên một số người Mỹ trong ngành xe hơi có vẻ chế nhạo. Nhưng quan chức Bộ Công Thương kiên quyết với phương châm “Mỹ làm được thì Nhật cũng làm được”. Như ta đã biết, ngành xe hơi Nhật phát triển mạnh mẽ từ thập niên 1960.

Có thể nói tinh thần dân tộc là động lực đưa đến hành động của quan chức nhà nước và kết quả là nền công nghiệp Nhật đã phát triển mạnh mẽ.

GS Trần Văn Thọ(Đại học Waseda, Nhật Bản)

Ông Tập Cận Bình thăm Mỹ và trận đấu của hai ‘hổ’ – Tvn

16 Th9

Ông Tập Cận Bình vẫn cứ đi Mỹ với một tâm thế đàng hoàng để bàn “những lợi ích chung to lớn”, để rồi hai nước Trung, Mỹ lại giàn trận cho những cuộc đấu kinh tế mới, đấu cho đến khi một trong hai con hổ hoặc bị thương, hoặc kiệt sức.

Putin ‘nóng, lạnh’ với Tập Cận Bình, hòa dịu với phương Tây?
Tập Cận Bình sẽ trả lời Mỹ ra sao?
Mỹ – Trung có kình địch vì biển Đông?
‘Thủ phạm’ gây ngờ vực Mỹ – Trung

Kinh tế luôn là một đấu trường

Không phải có tiếng súng mới là chiến tranh. Trong kinh tế người ta đánh nhau cũng khốc liệt lắm.

Kinh tế thường được sử dụng như một phương tiện, phương tiện để phát triển quan hệ khi cần phát triển, phương tiện để phá bỏ quan hệ khi cần phá, phương tiện để nô dịch, để chèn ép, để bành trướng…

Thời đại hội nhập, những thuộc tính trên có thay đổi hay biến mất không? Xin thưa rằng không. Vì toàn cầu hóa kinh tế đang kết nối các nền kinh tế quốc gia lại với nhau, nhưng sự kết nối đó chưa đủ mạnh để triệt tiêu, hay bào mòn chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi và tham vọng bành trướng ở những nơi nó còn khu trú vững chắc, và do đó cuộc chiến trên mặt trận kinh tế còn phức tạp.

Quan hệ Trung – Mỹ có thể được coi là một ví dụ điển hình về quan hệ kinh tế thời hội nhập. Điển hình ở việc khai thác tối đa những lợi thế của toàn cầu hóa, và đây cũng là một cuộc đấu tranh khốc liệt và có bài bản. Điển hình ở chỗ quan hệ chính trị, kinh tế sẽ luôn ngày càng gay gắt, phức tạp, nhưng rồi bên nào có thần kinh vững hơn, giành phần thắng nhiều hơn trong kinh tế, sẽ là người chiến thắng.

Năm 1979, sau ba thập kỷ đánh nhau khốc liệt bằng loa phóng thanh, ba thập kỷ đàm phán kiên trì “giữa hai anh điếc” chỉ có người nói không có người nghe, Trung Quốc và Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao và ký Hiệp định Thương mại song phương, dành cho nhau quy chế Tối huệ quốc. Khi đó buôn bán 2 nước chỉ có 2,45 tỉ USD, và ở Trung Quốc nhiều vùng nông thôn người dân còn chết đói.

Hoa Kỳ tính chuyện thả cho Trung Quốc miếng mồi kinh tế (tức Tối huệ quốc) để lôi Trung Quốc về phía mình chống lại Liên Xô.

Có Tối huệ quốc, Trung Quốc khai thác triệt để thị trường Hoa Kỳ để phát triển kinh tế, và thị trường Hoa Kỳ trở thành bàn đạp để Trung Quốc thực hiện thành công Chương trình 4 Hiện đại hóa.

Tập Cận Bình, Trung Quốc, Mỹ, kinh tế, hội nhập, Hiệp định Thương mại , USD, sản phẩm công nghệ cao
Ông Tập Cận Bình sẽ có chuyến thăm Mỹ. Ảnh: Reuters

Cuộc đấu trên sân toàn cầu hóa

 

Tháng 12/1999, tròn 20 năm sau, trong Hiệp định về những điều kiện để Trung Quốc gia nhập WTO, lợi dụng vị thế của mình, người Mỹ đã sửa bằng hết cái họ gọi là những “sai lầm ngu xuẩn” của năm 1979, bắt Trung Quốc phải mở cửa thị trường theo những tiêu chí của WTO, mở cửa những lĩnh vực kinh tế mà Hoa Kỳ có thế mạnh. Trung Quốc chấp nhận cuộc chơi. Cuộc đấu lại tiếp tục trên một sân chơi mới, sân chơi toàn cầu hóa.

Hôm nay, kim ngạch buôn bán 2 nước đã gần đạt 600 tỉ USD, xuất siêu của Trung Quốc sang Hoa Kỳ vượt 300 tỉ USD. Hàng may mặc, giày dép, đồ chơi điện tử Trung Quốc đang tràn ngập phố phường làng xóm nước Mỹ. Đại bộ phận trong số 500 tập đoàn kinh tế lớn nhất Hoa Kỳ cùng với hàng vạn chuyên gia Mỹ đang khai thác thị trường 1,3 tỉ dân và “đưa việc làm sang Trung Quốc”. Nhiều sản phẩm công nghệ cao của Hoa Kỳ, từ cái lớn như tổ máy phát điện đến cải nhỏ li ti như linh kiện, phụ kiện chiếc máy vi tính đang sản xuất, lắp ráp tại Trung Quốc rồi đưa về bán ở Mỹ, ở khắp thế giới, ở cả Việt Nam.

Bạn muốn sang tận Mỹ để mua một chiếc máy vi tính Mỹ xịn ư? Chắc chắn bạn sẽ xách về một chiếc máy “Made in China”, và hôm nay đó là Mỹ “xịn” đấy.

Người Mỹ không hề “cay mũi” khi nhập siêu từ Trung Quốc lên tới hàng trăm tỷ USD và có thể tăng hơn nữa, vì trong hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ có nhiều thứ của người Mỹ sản xuất và gia công tại Trung Quốc.

Trung Quốc đã lên hàng thứ hai trên bản đồ kinh tế thế giới và “giấc mơ Trung Hoa” đang thành hiện thực. Trung Quốc đang cạnh tranh ngang ngửa với Hoa Kỳ, đang giành giật với Hoa Kỳ từng mảnh kinh tế, từng mảng công nghệ, từng mẩu thị trường khắp mọi nơi, mọi lúc.

Lợi ích kinh tế cột chặt quan hệ Trung – Mỹ

Nền kinh tế hai quốc gia Trung – Mỹ đang kết nối với nhau ngày một chặt, đang phụ thuộc vào nhau, và Trung Quốc đang đòi Mỹ đối xử với mình theo kiểu “quan hệ nước lớn kiểu mới”. Đó là kết quả của sự vận động tự do của hàng hóa và đồng vốn trong thời đại hội nhập, và cũng là ý đồ chiến lược của hai quốc gia, đối tác.

Hôm nay giữa hai nước vẫn gay gắt căng thẳng, vẫn còn nhiều xung đột, xung đột về ý thức hệ, xung đột về chiến lược toàn cầu, nhưng vì lợi ích kinh tế quá lớn, gắn với nhau quá chặt chẽ, không một ai trong họ tính đến chuyện làm đổ vỡ quan hệ. Cho dù Biển Hoa Đông, Biển Đông đang nóng sục và có thể nóng hơn nữa, cho dù ở cả hai bên, đạn đã chất đầy kho, súng đã giương cao nòng và ông Tập Cận Bình vẫn cứ đi Mỹ với một tâm thế đàng hoàng để bàn “những lợi ích chung to lớn”, để rồi hai nước Trung, Mỹ lại giàn trận cho những cuộc đấu kinh tế mới, đấu cho đến khi một trong hai con hổ hoặc bị thương, hoặc kiệt sức.

Nguyễn Đình Lương (Nguyên trưởng đoàn đàm phán HĐTM Việt Nam – Hoa Kỳ)

Ý nghĩa bị mất của dân chủ

15 Th9

Posted by adminbasam on 15/09/2015

Book Hunt Club

Anh Khôi chuyển ngữ, CTV Phía Trước
Richard K. Sherwin, theo Project Syndicate

15-9-2015

H1Quyết định từ bỏ hòa bình và thịnh vượng để đến với chiến tranh đẫm máu và bất ổn có vẻ vô lý. Nhưng thế hệ trẻ, sinh ra và lớn lên trong các xã hội dân chủ, đang ngày càng tán dương cho lời kêu gọi của các nhóm ưa giết chóc như Nhà nước Hồi giáo (IS), rời bỏ quê hương và gia đình của mình để gia nhập cuộc thánh chiến ở những miền đất xa xôi. Tại sao dân chủ mất sự trung thành của những tâm hồn hiếu động đó và làm sao có thể lấy lại trái tim và khối óc của những người đang chìm đắm trong tư tưởng đó?

Triết gia Friedrich Nietzsche đã từng viết rằng con người thà trở về hư vô hơn là không có lý tưởng sống. Những sự thất vọng về cái chết, sự bất lực và vô vọng dễn đến khao khát sức mạnh – ngay cả khi sức mạnh đó được tìm thấy trong bạo lực, chết chóc và phá hủy.

Ngắn hạn, đó là vấn đề của ý nghĩa, đại diện của thứ thúc đẩy chúng ta, kết nối chúng ta với nhau và tạo hướng đi cho cuộc sống của chúng ta. Nếu thiếu nó – nếu nói các ý tưởng và cơ chế dân chủ đang thất bại trong việc cung cấp một cảm giác đủ để lan truyền trong cộng đồng và xây dựng mục đích sống – con người tìm kiếm một cảm giác có ý nghĩa khác, mà trong một số trường hợp họ đi sai lối.

Đây là thử thách văn hóa mà dân chủ phải đối mặt ngày nay và những người muốn duy trì tự do và hứa hẹn của xã hội dân chủ đang bỏ qua mối nguy hiểm này. Nó là một thách thức nên được nhìn nhận không chỉ bởi thứ nó nói về điều kiện sống trong các nước dân chủ tiên tiến trên thế giới mà còn vì bất cứ khủng hoảng nào cũng là một cơ hội – trong trường hợp này, để giành lại ý nghĩa nằm trong trái tim của dân chủ.

Sự hấp dẫn của các nhóm như Nhà nước Hồi giáo tới giới trẻ được nuôi dạy trong các xã hội dân chủ làm nổi bật những bất bình đẳng đang lớn lên trong các cơ hội về kinh tế và giáo dục, điều này đang nuôi dưỡng chủ nghĩa hoài nghi , sự buông xuôi và giận dữ giữa những người thấy mình bị tách rời khỏi tầng lớp tinh hoa xã hội. Cảm giác vô vọng và tuyệt vọng tại những tâm điểm như thế kích động chủ nghĩa cực đoan.

Lãnh đạo của các nước dân chủ tiên tiến – nói, 1% những người có thu nhập cao nhất – có thể khó mà hài lòng với những điều kiện của mình. Ngay cả những người viễn du thiển cận nhất, di chuyển giữa các thị trường hay nền văn hóa cũng phải quan tâm đến con cái của mình. Chúng đã hấp thụ văn hóa gì? Từ đâu chúng sẽ tìm ra cảm giác hy vọng cho tương lai?

Những người bảo vệ cho dân chủ giờ phải xác định không chỉ tìm cách tạo việc làm và đảm bảo giàu có cho người trẻ mà còn cần nuôi dưỡng tâm hồn của những thanh niên này. Nếu họ thất bại, như chúng ta thấy, những kẻ khác sẽ lấp đầy chỗ trống, có thể với một lời kêu gọi tạo nên sự hỗn loạn nhân danh của đấng thừa sai sắp đến.

Để thắng cuộc thi khó khăn này, các xã hội dân chủ phải nhìn xa hơn chiến thắng trên chiến trường và tập trung vào thắng lợi trong trái tim và khối óc thông qua sức mạnh của những ý tưởng và hứa hẹn ý nghĩa – như là Nhà nước Hồi giáo đã làm. Quan điểm mà các nước dân chủ cho rằng có thể chống lại như các lực lượng như thế, với nguồn lực tốt và bộ máy truyền thông có hiểu biết về ý thức hệ, chỉ với súng đạn là một thất bại chắc chắn. Đây là cuộc chiến của lý tưởng và nó chỉ có thể thắng bằng các ý tưởng truyền cảm hứng hy vọng, hành động và sự gắn kết của bản thân và cộng đồng.

Nỗ lực này nên bắt đầu với một sự thành lập ủy ban công khai quốc tế bao gồm các nhà khoa học chính trị, nhân chủng học, thần học, triết học, và các nghệ sĩ, trong số những người khác, từ khắp các phe phái chính trị, triệu tập từ các trường đại học và các tổ chức tương tự trên thế giới. Trong một thời gian nhất định, họ sẽ tạo một báo cáo bằng văn bản rõ ràng, dễ hiểu cho công chúng.
Bản báo cáo này nên giải quyết, kiên trì và thành thật, các câu hỏi chủ chốt về sức sống của dân chủ ngày nay. Điều gì nằm ở suối nguồn của cuộc sống dân chủ? Cách nào để nó thể hiện, thực hành, thiết lập và duy trì tốt nhất? Điều gì là thông điệp hy vọng tốt nhất của dân chủ và lời hứa tin cậy nhất về tương lai hưng thịnh? Những thứ gì là nguồn tinh thần, trí tuệ và văn hóa sâu sắc cho tự do, khoan dung và phồn thịnh?

Chúng ta sống trong một thời đại nguy hiểm. Với các ý tưởng dân chủ nằm dưới sự đe dọa trên khắp thế giới, bao gồm cả trong các nước dân chủ, các nền tảng tư tưởng và văn hóa chung của chúng không thể bị lấy đi. Ý nghĩa và sức sống của cuộc sống dân chủ không được phép phai nhạt.

Thách thức phía trước yêu cầu một sự phản hồi phối hợp từ những nhà tư tưởng sâu sắc nhất và những nghệ sỹ sáng tạo nhất của chúng ta. Đây là mục đích của chúng ta ngày nay; chúng ta phải cam kết với bản thân để nó mạnh mẽ như những kẻ thù của dân chủ theo đuổi các mục đích của họ.

Cuộc chiến hao tốn chưa có tiền lệ của Trung Quốc

14 Th9


Sự sáng tạo vượt mọi khuôn khổ để giải cứu TTCK là chưa từng có tiền lệ đã làm hao tốn ngân khố Trung Quốc hàng trăm tỷ USD. Nhưng dường như càng chi nhiều tiền, Trung Quốc càng làm thế giới bất an. 

Trung Quốc mất 5.000 tỷ USD: Sau hoảng loạn là bế tắc?
Chiếc phao bất ổn và nỗi ám ảnh Trung Quốc
Khó nhất là bài toán kinh tế với Trung Quốc

Sáng tạo chưa có tiền lệ

Cục Quản lý Ngoại hối Nhà nước Trung Quốc (SAFE) cho biết, dự trữ ngoại tệ của nước này giảm kỷ lục 93,9 tỷ USD trong tháng 8, xuống 3.560 tỷ USD. Nguyên nhân được cho là do Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) bán ra đồng USD để hỗ trợ đồng nhân dân tệ (NDT) sau quyết định thả nổi có kiểm soát đưa ra vào ngày 11/8 khiến NDT giảm liền 4,6% trong 3 phiên.

So với con số dự trữ hàng ngàn tỷ USD, gần trăm tỷ hao hụt trong vòng một tháng không quá lớn. Tuy nhiên, đây cũng là điều khiến Trung Quốc và giới đầu tư thế giới lo lắng, bất an.

Tính từ đầu năm tới nay, dự trữ ngoại hối của TQ giảm 7 trong số 8 tháng và xa dần ngưỡng cao kỷ lục 3.990 tỷ USD ghi nhận hồi cuối tháng 6/2014.

Trung Quốc, đầu tư, chứng khoán, cổ phiếu, Bắc-Kinh, Tập-Cận-Bình, Trung-Quốc, Biển-Đông, chứng-khoán, Shanghai-Composite-Index, Hang-Seng, Nikkei, giải-cứu, xuất-khẩu, đầu-tư, tỷ-giá, nợ-nước-ngoài, chính-sách-tiền-tệ, nhân-dân-tệ

Không chỉ phải chống chọi với đà giảm giá theo quán tính của đồng NDT sau khi phá giá đồng tiền từ hôm 11/8, Trung Quốc dường như cũng chưa thoát khỏi cơn ác mộng hoảng loạn trên thị trường chứng khoán (TTCK).

Giảm tới 40%, bốc hơi khoảng 5.000 tỷ USD, TTCK vẫn đang chao đảo. Sau đợt nghỉ lễ hai ngày 3-4/9 để đảm bảo tổ chức thành công cuộc diễu binh kỷ niệm 70 chiến thắng Chiến tranh Thế giới II, chỉ số Shanghai Composite tiếp tục giảm 2,5% khi mở cửa trở lại trong ngày đầu tuần và tính tới cuối phiên giao dịch sáng 8/9 giảm tiếp 1,4%.

Nhiều biện pháp hành chính đã được đưa ra để giải cứu chứng khoán, cùng với đó là bơm tiền hỗ trợ thị trường.

Trong hai tuần nửa cuối tháng 8, PBOC đã 5-6 lần, mỗi lần bơm hàng chục tỷ USD vào thị trường tiền tệ, thông qua hoạt động thanh khoản ngắn hạn nhằm thúc đẩy nền kinh tế đất nước trong bối cảnh đồng NDT giảm giá so với USD.

Tổng cộng, sau 7 tuần tính tới 25/8, Trung Quốc đã dùng khoảng 200 tỷ USD để giải cứu chứng khoán, theo Financial Times. Trong khi đó,Business Insider cho hay cũng có khoảng 190 tỷ USD vốn ngoại rút khỏi thị trường này trong cùng thời gian trên.

Trung Quốc, đầu tư, chứng khoán, cổ phiếu, Bắc-Kinh, Tập-Cận-Bình, Trung-Quốc, Biển-Đông, chứng-khoán, Shanghai-Composite-Index, Hang-Seng, Nikkei, giải-cứu, xuất-khẩu, đầu-tư, tỷ-giá, nợ-nước-ngoài, chính-sách-tiền-tệ, nhân-dân-tệ

Trước đó, theo Bloomberg, Công ty Tài chính Chứng khoán Trung Quốc (CSF) được PBOC và các ngân hàng thương mại giao và cấp hạn mức tín dụng, tổng cộng 483 tỷ USD để sẵn sàng tung ra ứng cứu TTCK khi cần thiết.

 

Đến giờ, chưa có thống kê nào về việc Trung Quốc tung ra bao nhiêu tiền để hỗ trợ chứng khoán, nhưng con số này được cho là không nhỏ.

Tái cơ cấu kinh tế: Bế tắc?

Chứng khoán Trung Quốc vẫn đắt nhất trong tốp 10 thị trường lớn nhất thế giới. Dự trữ ngoại hối của nước này lớn nhưng PBOC không thể mãi bơm tiền ra đỡ giá đồng NDT cũng như TTCK. Một số chuyên gia trên Bloomberg cho rằng, nếu tiếp tục các động thái giải cứu như vừa qua, số tiền khả dụng trong kho dự trữ ngoại hối của Trung Quốc sẽ cạn kiệt vào 2018.

Vấn đề cốt yếu có thể giúp ổn định TTCK là sức khỏe của nền kinh tế lại đang nằm trong xu hướng tăng chậm lại và khó đoán định. Khó khăn lớn nhất là nước này dường như đang bế tắc trong nỗ lực tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng tăng trưởng bền vững hơn.

Cụ thể, đó là những bế tắc trong việc chuyển đổi nền kinh tế tăng trưởng dựa vào đầu tư và xuất khẩu sang dịch vụ và tiêu dùng trong nước; sự mất cân đối trong tăng trưởng GDP. Việc quá đam mê những con số tăng trưởng cao đã khiến từ trung ương tới địa phương ồ ạt kích cầu đầu tư, tăng chi tiêu chính phủ vào xây dựng cơ sở hạ tầng, cầu đường bến bãi, khu đô thị công nghiệp,… bất chấp nhiều “thành phố ma” và những con đường rộng lớn không biết cho ai dùng.

Trung Quốc, đầu tư, chứng khoán, cổ phiếu, Bắc-Kinh, Tập-Cận-Bình, Trung-Quốc, Biển-Đông, chứng-khoán, Shanghai-Composite-Index, Hang-Seng, Nikkei, giải-cứu, xuất-khẩu, đầu-tư, tỷ-giá, nợ-nước-ngoài, chính-sách-tiền-tệ, nhân-dân-tệ

Khối nợ nhiều ngàn tỷ USD của các địa phương và DN là gánh nặng khó giải với Trung Quốc. Do đó, bơm thổi TTCK nhờ vào dòng tiền cho vay là một giải pháp được cho là để thúc đẩy kinh tế. Giá cổ phiếu đã nhanh chóng tăng gấp 2,5 lần trong vòng một năm. 

Không có gì tăng mãi. Tăng nhiều ắt phải giảm. Sự nổ vỡ bong bóng chứng khoán Trung Quốc thực sự là một đòn giáng mạnh vào giới đầu tư. Niềm tin vào một sự hồi phục ngoạn mục của nền kinh tế dường như tiêu tan. Thậm chí, những số liệu về tăng trưởng GDP kém tích cực được đưa ra trong nửa đầu 2015 cũng bị nghi ngờ. Một số NĐT còn lo ngại, tăng trưởng không phải 7% như báo cáo mà có thể đã rơi xuống chỉ còn 2%.

Đó là hiện tại. Còn tương lai, tăng trưởng nhờ tiêu dùng và dịch vụ khó có thể thành hiện thực trong ngày một ngày hai, mà tính bằng nhiều năm. Đầu tư cũng không còn là cứu cánh bởi chính quyền địa phương thậm chí không biết rót tiền vào đâu khi mà có quá nhiều công trình không dùng đến và vay nợ đã tới mức báo động.

Sự bế tắc trong nỗ lực tái cấu trúc nền kinh tế còn ở chỗ: các động lực chính cho sự phát triển là lao động, dòng vốn và năng suất cũng đều rơi vào thế bí. Trên CNBC, Goldman Sachs dự báo, lao động Trung Quốc sẽ giảm do mô hình dân số. Vốn vào nền kinh tế cũng sẽ giảm do đã tăng quá nóng trước đó. Năng suất cũng sẽ tăng trưởng chậm lại. Tăng trưởng GDP do vậy sẽ giảm xuống còn 6,4%, 6,1% và 5,8% trong các năm 2016-2018.

Hiện tại, theo Bloomberg, chiếc phao tốt nhất là phá giá đồng NDT để thúc đẩy xuất khẩu, qua đó hỗ trợ tăng trưởng đã được sử dụng. Tuy nhiên, đổi lại là dòng vốn ngoại đang bị rút ra và niềm tin vào chính sách bị xói mòn. Hơn thế, sau chứng khoán, Trung Quốc dường như đang đối mặt với một nguy cơ đổ vỡ khác là bong bóng nợ. NDT giảm giá sẽ khiến khối nợ bằng USD, theo Nomura, vốn đã lên tới cả ngàn tỷ USD thêm phình to. Chi phí đi vay bằng ngoại tệ trở nên đắt đỏ.

M. Hà

Đại gia Sài Gòn treo cổ tự tử vì tín dụng đen
Bí mật ‘mỏ’ cá khổng lồ hàng trăm năm giữa Hà Nội
Bắt hai sếp thuộc Than – Khoáng sản ăn chia 100 tỷ
Lão nông Việt Nam chế robot khiến người Israel thán phục
Dừa xiêm ‘siêu rẻ’ tràn ngập vỉa hè Hà Nội
Mở mắt mất 200 ngàn, vàng về dưới 34 triệu
Sự thật kinh hoàng trong bát súp cua tẩm bổ
Tăng thuế gấp 3: Xăng giảm giá ít, ngân sách bội thu

VẾT NGÀY

7 Th9

VẾT NGÀY

Ngày mỗi ngày mỗi mới
người chở ngày trên mái tóc làn da

Tôi sờ da tôi
tôi nếm tóc tôi
cảm nhận vị ngày, đủ vị
đắng
chát
mặn
ngọt
chua
cay

Và có cả những mùi lạ hoắc
mốc thách
thum thủm
tanh tanh
chẳng giống chi chi trên trái đất này

Ngày miệt mài đi trên da trên tóc
vết chân ngày rần rần
nghe lạnh điếng những tim khô.

Ngày chở theo mình
những đạo hạnh
những hiền lương
thật
giả

Ngày chở theo cả ma-cô súng dao lựu đạn…
tải trên miệng người học đạo đức, giảng chuyện nhân văn

Ôi ! vết ngày
từ từ, từ từ
miết mài đi qua
vừa đi vừa cứa vào thịt da những thực vật, động vật hiện sinh.
và lần nữa giết cả những hình hài đã chết.

Những vết ngày
là lời thoại của phim truyện Hư Vinh.

NH

(ngày đầu tháng chín, hai lẻ mười lăm)

   

11921711_1652736901663980_8098304979254568512_n11923235_1652736874997316_2919076739760288652_n11933454_1652736974997306_5536217478958236588_n

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG: Tin tuần từ 31/8-6/9 – NCBĐ

7 Th9

EmailInPDF.

-(BĐV 3/9) 5 tàu quân sự Trung Quốc xuất hiện gần bờ biển Mỹ: Lầu Năm Góc xác nhận đây là lần đầu phát hiện tàu hải quân Trung Quốc có mặt tại biển Bering; (VNN 3/9) Chủ tịch nước đề nghị TQ duy trì hòa bình Biển Đông

-(Vnexpress 3/9) Úc lên án hoạt động cải tạo của Trung Quốc ở Biển Đông: Trung Quốc đã cải tạo quy mô gấp 17 lần trong 20 tháng so với các nước thực hiện trong 40 năm qua; Chuyên gia Trung Quốc: (GD 3/9) Mỹ can thiệp Biển Đông là không thể tránh khỏi

-(DT 1/9) Đối phó với Trung Quốc ở Biển Đông: Đừng đe dọa suông, hãy hành động!: Bắc Kinh thực sự vô cùng quan tâm đến việc duy trì một hình ảnh Tích Cực trên thế giới; (Vnexpress 1/9) Đài Loan đoán Trung Quốc sẽ lập ADIZ ở Biển Đông

-(Vnplus 31/8) Malaysia tăng năng lực phòng thủ ở Sabah, Sarawak và Biển Đông: Bộ trưởng Quốc phòng nước này cho biết lực lượng vũ trang đang thực hiện 9 biện pháp nhằm tăng cường an ninh biển; (KT 31/8) Tàu CSB Việt Nam và Ấn Độ diễn tập trên Biển Đông

-(Vnexpress 31/8) Công nghiệp quốc phòng Nhật – người khổng lồ thức dậy: Theo số liệu của IHS Jane’s, Nhật Bản hiện có 3.000 doanh nghiệp tư nhân tham gia sản xuất trang thiết bị và linh kiện quân sự; (VOV 31/8) Việt Nam mong nhận được sự ủng hộ của Nhật Bản về vấn đề Biển Đông

-(Toquoc 31/8) Mỹ chập chững trong đối sách với Trung Quốc tại Biển Đông: Chiến lược an ninh biển châu Á-Thái Bình Dương của Bộ Quốc phòng Mỹ bên cạnh những mặt tích cực thì có những bước lùi, nhân nhượng chiến thuật Trung Quốc; (GD 31/8) Ts Trần Công Trục: Chuyện “đi đêm” trên Biển Đông

-(DT 30/8) Trung Quốc lùa tàu ngầm hạt nhân xuống Biển Đông? Trong đó nguy hiểm nhất là tàu ngầm hạt nhân Type 094 mới nhất của nước này; (TN 30/8) Trung Quốc ‘hạ nhiệt’ vấn đề Biển Đông vì khủng hoảng tài chính?

-(Infonet 30/8) Trung Quốc có sợ lời răn đe của Mỹ trên Biển Đông?: Nếu một cuộc xung đột bùng nổ trên Biển Đông, ngành công nghiệp xuất khẩu của Trung Quốc sẽ chịu thiệt hại nặng nề; (ANTĐ 30/8) Trung Quốc thử tên lửa ở biển Hoa Đông, phản đối tàu Izumo của Nhật

2(1).gif-(CAND 30/8) Ra mắt quỹ ‘Vì chủ quyền biển đảo Việt Nam’ của Hội người Việt Nam tại Hàn Quốc; (TT 30/8) Cảnh sát biển Việt Nam đủ năng lực thực hiện mọi nhiệm vụ

-(CAND 30/8) Thái Lan cam kết thúc đẩy sớm hoàn thành COC trong chuyến công du Philippines hồi cuối tuần qua của Thủ tướng Thái Lan Prayut Chan-o-cha; (TP 30/8) Nhìn gần cuộc tập trận CARAT 2015 của Mỹ và Indonesia


Tin cũ hơn:

Khi tình bạn Putin và Tập Cận Bình bị thử thách – Vnn

7 Th9

Họ đã gặp nhau hơn chục lần, kề vai sát cánh trong những cuộc diễu binh quân sự lớn nhất tại Nga và tuần qua là ở Bắc Kinh. Tuy nhiên, quan hệ giữa Chủ tịch TQ Tập Cận Bình và Tổng thống Nga Vladimir V. Putin đang bị thử thách khi nền kinh tế hai nước có những bất ổn.

Hải quân Trung-Nga tập trận lớn chưa từng thấy
5 loại vũ khí khủng của Nga có thể đe dọa TQ

Hai thỏa thuận năng lượng bước ngoặt được ký kết năm ngoái để cung cấp khí tự nhiên từ Nga sang TQ tới nay có rất ít tiến triển. Chúng hầu như không được đề cập đến khi hai nhà lãnh đạo gặp nhau hội đàm sau lễ diễu binh tại Quảng trường Thiên An Môn hôm thứ 5.

Thương mại song phương được dự đoán đạt hơn 100 tỉ USD năm nay nhưng thực tế mới chỉ tiến đến con số khoảng 30 tỉ trong 6 tháng đầu năm, phần lớn là vì TQ sụt giảm nhu cầu dầu của Nga.

Với việc thị trường chứng khoán TQ lao dốc, tăng trưởng kinh tế ở mức chậm nhất trong 1/4 thế kỷ, Bắc Kinh khó có thể cung cấp một đảm bảo vững chắc mà ông Putin kiếm tìm nhằm đối phó với sự trừng phạt kinh tế của phương Tây. Đó là chưa kể tới việc giá dầu giảm mạnh trên toàn cầu.

TQ, Nga, Putin, Tập Cận Bình, Mỹ
Tổng thống Putin ở thăm TQ từ 2-4/9 vừa qua. Ảnh: EPA

“Nga trông chờ vào sự tăng trưởng của TQ cũng như nhu cầu tiêu thụ hàng hóa ở nước này gồm dầu, khí, khoáng sản. Với Nga, TQ là một chọn lựa thay thế châu Âu”, Fiona Hill, chuyên gia nghiên cứu về Nga tại Viện Brookings ở Washington nhận định.

TQ có quá cần khí đốt từ Nga?

Một trong những trụ cột của mối quan hệ giữa ông Putin và ông Tập là thỏa thuận cung cấp khí tự nhiên kéo dài 30 năm cho TQ từ các mỏ khí ở Đông Siberia, trị giá 400 tỉ USD, với mẻ cung cấp đầu tiên dự kiến từ 2019 – 2021. Trong quá trình ký kết ở Thượng Hải, ông Putin đã mô tả hợp đồng này là một “sự kiện lịch sử” và bày tỏ sự tin tưởng rằng, Nga bất chấp áp lực từ cấm vận phương Tây vẫn có thể đa dạng hóa thị trường năng lượng.

Giá cả cụ thể trong hợp đồng chưa từng được chính thức công bố. Điều này khiến giáo sư Jonathan Stern – chủ tịch chương trình nghiên cứu khí tự nhiên tại Viện nghiên cứu năng lượng Oxford (Anh) nhận định có khả năng với sự lao dốc của giá năng lượng, thỏa thuận sẽ phải thương lượng lại.

Người TQ muốn khí tự nhiên cho khu vực lạnh lẽo Đông Bắc và người Nga đã bắt tay vào việc cung cấp, nhưng lại vấp phải ít nhiều khó khăn. Theo giáo sư Stern, một thỏa thuận khác, cũng là cung cấp khí tự nhiên từ Tây Siberia, được hai nhà lãnh đạo ký tắt hồi tháng 11 trước ở Bắc Kinh. Nhưng hợp đồng chính thức dự kiến ký kết ở Bắc Kinh trong chuyến thăm gần đây của ông Putin dường như đã chệch hướng.

“Đây là hợp đồng mà ông Putin có thể ký trong tuần này, nhưng lại không, một phần vì nhu cầu hiện tại của TQ thấp hơn nhiều với ước tính trước đây”, ông nói.

Phức tạp hơn là Nga không có khả năng chi trả cho việc xây dựng hệ thống ống dẫn khí sang TQ. Câu hỏi đặt ra là liệu TQ có cần khí của Nga đến mức sẵn sàng cung cấp nguồn tài chính cho việc xây dựng này ?- Edward C. Chow, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ở Washingotn đặt giả thuyết.

Cũng nhìn về góc độ giá cả, Triệu Hoa Thành, giám đốc Trung tâm nghiên cứu Nga và Trung Á, Đại học Phúc Đán Thượng Hải cho hay, “chúng tôi phải tính toán lại toàn bộ và cố gắng giảm giá’. Các cuộc thương thảo đối mặt với rất nhiều khó khăn do sự lao dốc trong giá cả khí tự nhiên”.

 
 

Sự lạc quan về việc TQ giúp Nga thoát khỏi các vấn đề kinh tế đã dần phai mờ. Alexander Gabuev, nhà phân tích về quan hệ Nga-Trung tại Trung tâm Carnegie Moscow bi quan cho rằng, “hy vọng TQ cung cấp sẽ đảm bảo con đường sống cho Nga giữa lúc đối mặt với các biện pháp trừng phạt và giá dầu sụt giảm đã không còn”.

“Đây là mối quan hệ mang tính biểu tượng – với một nền tảng kinh tế nhỏ và bất ổn”, ông nói. “Giới tinh hoa Kremlin đã thất vọng vì không thể nhanh chóng hiện thực hóa những gì người Nga hy vọng”.

Vì mục tiêu 100 tỉ USD giao dịch thương mại hai bên là bất khả thi trong năm 2015 nên các quan chức Nga cho rằng, đích đến 200 tỉ USD vào năm 2020 có thể là quá lạc quan.

Giới hạn cho những lợi ích chiến lược

Nhưng các thỏa thuận năng lượng lớn không phải là “nạn nhân” duy nhất của việc kinh tế sụt giảm ở cả hai nước.

Một tuyến đường sắt tốc độ cao mà TQ tuyên bố sẽ xây dựng nối Moscow với Bắc Kinh đang đem lại sự hoài nghi lớn bởi TQ lại đang yêu cầu Nga chi trả cho dự án. Chặng đường đầu tiên nối Moscow với Kazan, dự kiến mở cửa trước World Cup tại Nga năm 2018. Nhưng tới nay, mọi việc vẫn chưa bắt đầu, và dường như không bắt đầu.

Tình bạn giữa ông Putin và ông Tập Cận Bình đang thu hút sự chú ý của cả thế giới. Mỗi người đều thích tạo dựng hình ảnh mạnh mẽ, quyền lực, và thậm chí là táo bạo mạo hiểm.

Ở những cuộc gặp toàn cầu, họ hầu như xuất hiện cùng nhau. Trong một cuộc gặp các nhà lãnh đạo châu Á tại Bali, Indonesia năm 2013, ông Tập còn tặng Tổng thống Nga chiếc bánh sinh nhật. Tại Bắc Kinh tháng 11 năm trước, Putin đã giảng giải với ông Tập những ưu điểm về chiếc điện thoại di động của Nga…

Cả hai nhà lãnh đạo kiêu hãnh rằng, họ đã nâng tầm quan hệ hai nước trở thành mối quan hệ chiến lược; Nga và TQ gần đây đã có những cuộc tập trận hải quân quy mô lớn ở Địa Trung Hải và biển Nhật Bản. Tại LHQ, họ cùng nhau phản đối các sáng kiến Mỹ đưa ra với Libya và Syria cũng như khá tương đồng nhìn nhận về Iran.

Nhưng ở đây vẫn có những giới hạn với các lợi ích chiến lược hai nước. TQ vẫn lo lắng các động thái của Nga tại Crưm, đặc biệt là ở Ukraina, nơi Bắc Kinh có nhiều đầu tư thương mại cũng như quân sự. Họ cũng lo ngại việc sáp nhập Crưm có thể là tiền lệ cho những vùng lãnh thổ của TQ như Tây Tạng, Tân Cương.

Tại Trung Á, hai nước có nhiều cạnh tranh hơn là hợp tác hữu nghị, nhất là khi TQ mua năng lượng từ các nước vốn nằm trong không gian chịu ảnh hưởng truyền thống của Nga.

Thái An (theo Nytimes)

Phép thử ‘liên minh mềm’ Nga – Trung
Nga giao VN 2 tiêm kích Su-30MK2 đầu tiên của 2015
Nga-Trung: Quan hệ chiến lược kiểu hai mặt một đồng xu

Một từ xuyên suốt mọi thành bại của nước Việt – Tvn

1 Th9

Một từ xuyên suốt mọi thành bại của nước Việt

“Có thể tóm lại trong một từ “DÂN”. Dân tin, dân theo thì thành công; dân không tin, dân không theo thì thất bại”.LTS:Nhân kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám, Quốc khánh 2/9, Tuần Việt Nam gặp gỡ và phỏng vấn GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Thẩm định tư liệu triển lãm “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam”.  

Độc lập, chủ quyền, Trường Sa, Hoàng Sa, Giàn khoan 981, biển Đông, kháng chiến, pháp quyền, lịch sử, sách giáo khoa

 GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc. Ảnh: Đoàn Bảo Châu

Cách kỷ niệm ý nghĩa nhất 

Xin bắt đầu bằng một câu hỏi ngược dòng lịch sử. Như nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra, đất nước ta mang một vận mệnh khắc nghiệt khi luôn phải gồng mình chống lại các thế lực ngoại xâm mạnh hơn nhiều lần để có thể tồn tại, độc lập. Vậy theo ông, đâu là yếu tố tiên quyết, xuyên suốt làm nên những chiến thắng của dân tộc? 

Có thể tóm lại trong một từ “DÂN”. Dân tin, dân theo thì thành công; dân không tin, dân không theo thì thất bại. Bài học của tất cả các cuộc chống ngoại xâm thất bại trong lịch sử Việt Nam là ở chỗ người tổ chức kháng chiến đã không huy động được sự đóng góp của dân.  

Hồ Quý Ly là một người anh hùng, tài ba, lỗi lạc, nhà cải cách lớn.Nguyễn Trãi từng nói về ông “Họa phúc hữu môi phi nhất nhật/ Anh hùng di hận kỷ thiên niên”. Song cũng chính Nguyễn Trãi đã chỉ ra cái yếu cốt tủy của nhà Hồ là “chính sự phiền hà, để trong nước lòng dân oán hận”. Khi đứng trước cuộc chiến tranh xâm lược đại quy mô của quân Minh mà quân đội nhà Hồ “trăm vạn người trăm vạn lòng” thì dù có trăm tay nghìn mắt, dù có tả xung hữu đột trên các phòng tuyến kiên cố, Hồ Quý Ly cũng không còn cách có thể nào ngăn cản nổi các cuộc tấn công ào ạt của quân Minh. Thất bại của cuộc kháng chiến của nhà Hồ là điều không tránh khỏi.  

Mọi chiến thắng huy hoàng của Việt Nam trước giặc ngoại xâm hung ác đều là cuộc chiến tranh nhân dân. Chiến tranh nhân dân là tinh hoa của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Vì sao? Vì các cuộc chiến tranh của chúng ta tổ chức đều là chiến tranh vệ quốc, mà kẻ thù xâm lược nước ta thường đều là các đại đế chế hùng mạnh nhất thế giới đương thời, chúng ta luôn phải “lấy yếu thắng mạnh”, “lấy ít địch nhiều”, “lấy đại nghĩa thắng hung tàn/ lấy chí nhân thay cường bạo”, trong điều kiện như thế, người lãnh đạo kháng chiến không thể không đặt cược thành công ở sự đóng góp của toàn dân.  

Giữ nước chính là giữ dân vậy. Muốn giữ dân, một chính quyền phải thực sự vì dân. 

Là người nghiên cứu sử, lại từng sống qua các cuộc chiến tranh của dân tộc, ông cảm nhận ra sao về những bước đi suốt 70 năm qua của đất nước?

Đây là dịp để nhìn nhận lại chặng đường 70 năm, những gì làm được, những gì chưa làm xong, để có thể tính tiếp con đường phát triển trong tương lai. Theo tôi, đó là cách kỷ niệm ý nghĩa nhất. 

Có thể nói Cách mạng tháng Tám là một bước thay đổi hoàn toàn, từ chế độ phong kiến thực dân chuyển sang chế độ dân chủ nhân dân. Sau Cách mạng tháng Tám, chỉ một thời gian rất ngắn, trong hoàn cảnh tròng trành giữa bão tố, chúng ta đã tập trung để xây dựng một nhà nước mới, thể chế mới trở thành nền tảng ban đầu cho toàn bộ quá trình phát triển cho đến ngày nay.   

Tiếp đến là thời kỳ 9 năm kháng chiến chống Pháp, 20 năm kháng chiến chống Mỹ… đều là những trang sử rất hào hùng.

Rồi thời kỳ phe XHCN đi vào khủng hoảng, tan rã, chúng ta ở vào một hoàn cảnh còn khó hơn các nước, vì vừa từ chiến tranh đi ra. Trong điều kiện thiếu thốn những cái sơ đẳng, đói đến “vàng mắt”, chúng ta đã tiến hành Đổi mới, và cuộc sống hồi sinh nhanh chóng. Với nông nghiệp, chỉ mấy năm sau chúng ta đủ ăn, tiếp đến có dư để xuất khẩu, thậm chí xuất khẩu gạo đứng thứ nhất, thứ nhì thế giới. 

Nhìn cả lại cả một quá trình một cách tổng thể như vậy, rõ ràng chúng ta đã có những bước tiến mà trước đây chưa bao giờ nghĩ tới.  

Độc lập, chủ quyền, Trường Sa, Hoàng Sa, Giàn khoan 981, biển Đông, kháng chiến, pháp quyền, lịch sử, sách giáo khoa
Một Nhà nước đặt yêu cầu phát triển lên hàng đầu không thể không đề cao vai trò của pháp luật, thượng tôn pháp luật. Ảnh minh họa

Đạo đức lớn nhất là chấp hành nghiêm luật pháp

Những thành quả đó là không thể phủ nhận. Song, mặt khác, Việt Nam độc lập đã 70 năm, hòa bình đã 40 năm, cùng một quãng thời gian như vậy, thế giới đã có những bước tiến dài. Đổi mới tạo ra bước ngoặt kỳ diệu, nhưng sau đó dường như chúng ta lại bỏ lỡ không ít cơ hội để phát huy hết tiềm năng những thành quả. Theo ông đâu là nguyên nhân căn cốt?

Chúng ta thường ca ngợi Việt Nam là một xã hội rất hài hòa giữa lý và tình. Trong xã hội truyền thống, điều này hay thật, quý thật. Nhưng bước sang xã hội hiện đại, tôi e rằng đó chính là vật cản lớn nhất của chúng ta trên con đường phát triển. 

Một Nhà nước do dân, vì dân, đặt yêu cầu phát triển lên hàng đầu không thể không đề cao vai trò của pháp luật, thượng tôn pháp luật. Nghĩa là tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, và đó mới là dân chủ, bình đẳng, chứ không thể vì tôi là con “ông to”, cái gì tôi cũng phải được ưu tiên.  

Chúng ta đề ra khẩu hiệu “sống và làm việc theo pháp luật” nhưng theo quan sát của tôi, không nhiều người thực hiện được, ai cũng muốn tìm ra sự hợp lý, ưu tiên cho mình, cho quyền lợi cá nhân, phe nhóm của mình.  

Thí dụ, chỉ từ chuyện nhỏ như tham gia giao thông, ai cũng muốn vượt, muốn chen ngang thì có nghĩa là chúng ta đang tự ngáng cản mình, đang tự kéo chúng ta lại. 

Cả hệ thống phải hiệu quả hóa từ khâu làm luật cho đến thi hành pháp luật, từ cấp cao nhất cho đến từng người dân thường, làm thế nào để mọi người thực sự nghiêm chỉnh chấp hành theo luật pháp và pháp luật của Nhà nước. 

Một xã hội “pháp trị” liệu có mâu thuẫn với một xã hội “đức trị”?

Tôi đi một số nước, quan sát chỉ vài hành động nhỏ cũng thấy sự chấp hành pháp luật ra sao. Chẳng hạn người hút thuốc lá mà không đúng vị trí quy định, lại vứt tàn thuốc bừa bãi thì sẽ bị phạt nặng. Nhưng cái phạt đó không đau bằng những người chứng kiến sẽ nhìn anh ta bằng con mắt khinh thường, xem anh ta như là cá thể lạc lõng trong thế giới văn minh. Nếu biết được điều ấy thì người hút thuốc lá sai quy định kia sẽ không bao giờ tái phạm nữa.  

 

Tôi không bàn về các thuật ngữ “pháp trị” hay “đức trị” phương Đông và phương Tây đời xưa, mà chỉ muốn nói quan niệm thông thường hiện nay thôi. Ta vẫn gọi “đức” là đạo đức, là tư cách, phẩm chất con người; có trường hợp cụ thể dễ hình dung, nhưng phần nhiều là trừu tượng. Nhiều khi người ta đánh giá con người có đạo đức chỉ căn cứ vào thái độ ứng xử hài hòa, nói năng lễ phép, mà lại dễ dàng bỏ qua những tiêu chí rất cơ bản về phẩm chất, lối sống, hiệu quả công việc.  

Chúng ta vẫn nhìn nhận đạo đức theo lối tư duy của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước, tính thời gian theo nhịp điệu mùa vụ, mà quên rằng trong xã hội hiện đại đòi hỏi tính chuẩn xác rất cao, nên chuẩn giờ phải trở thành một trong những tiêu chí hàng đầu của đạo đức con người.  

Vậy thì quan niệm đạo đức không phải là cái nhất thành bất biến mà cũng biến đổi trong không gian và thời gian. Tôi nghĩ, đạo đức lớn nhất ở những trường hợp tôi dẫn ra chính là chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp của nhà nước và quy định của xã hội. Trong xã hội hiện đại xem ra giữa “pháp trị” và “đức trị” càng xích lại gần nhau hơn và nhiều khi đã hòa đồng cùng nhau. 

Trước sau luôn tin ở lớp trẻ

Tôi được biết tháng 5 vừa rồi ông đã lần đầu tiên đặt chân đến Trường Sa, đánh dấu hơn 20 năm chính thức tham gia công cuộc sưu tập tư liệu chủ quyền đất nước. Đâu là điều ông tâm niệm suốt hành trình dài đó?

Tôi được phân công làm Chủ nhiệm đề tài Lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1994 và vì là nhà Sử học nên trước sau tôi chỉ chăm chú tìm kiếm các tư liệu lịch sử. Hơn 20 năm qua, tôi đã tranh thủ khảo sát hầu khắp các địa phương trong nước, nhiều trường đại học, viện nghiên cứu, trung tâm lưu trữ, thư viện của nhiều nước trên thế giới có các nguồn tư liệu liên quan đến chủ đề này.  

Tuy nhiên mãi đến tháng 5 vừa rồi tôi mới có cơ hội được đi ra Trường Sa. Thời gian chỉ có hơn chục ngày, chưa thể đi hết được các đảo, đá, bãi cạn, nhưng tôi đã thực học được nhiều hơn, biết được rõ ràng, cụ thể hơn so với tất cả những gì tôi đã tích lũy suốt hơn 20 năm nghiên cứu. 

Điều tôi luôn trăn trở là chúng ta có chủ quyền thật sự, trọn vẹn, trong hòa bình, hoàn toàn không có tranh chấp, tranh biện ít nhất từ đầu thế kỷ XVII cho đến đầu thế kỷ XX, nghĩa là chúng ta đã khai chiếm hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa theo đúng nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ của luật pháp quốc tế, thế mà dân ta còn biết chưa nhiều. 

Độc lập, chủ quyền, Trường Sa, Hoàng Sa, Giàn khoan 981, biển Đông, kháng chiến, pháp quyền, lịch sử, sách giáo khoa
Chủ quyền đất nước luôn thiêng liêng trong tâm khảm của mỗi người dân Việt. Ảnh: Lê Anh Dũng

Tôi cũng chưa hiểu vì sao sách giáo khoa lịch sử phổ thông của ta chưa thấy có mục nào viết về những trang sử bi hùng này ở Hoàng Sa, Trường Sa. Tôi đau xót thấy môn Sử đang bị đẩy vào ngõ cụt và có nguy cơ không còn tồn tại trong chương trình giáo dục phổ thông (vì chắc chắn sẽ không còn học sinh chọn học môn này) và không khỏi ngậm ngùi nghĩ đến máu xương của lớp lớp các thế hệ cha anh đã tan trong sóng biển.  

Trung Quốc mãi đến năm 1909, lợi dụng khi nước ta đang bị Pháp đô hộ, đã đưa người ra Hoàng Sa tuyên bố chủ quyền, rồi nhiều thập kỷ sau đó đã dựng lên cả một “Văn hiến các đảo Nam Hải”, ngang nhiên coi Biển Đông là lợi ích cốt lõi; khăng khăng tuyên bố cái gọi là Tây Sa, Nam Sa (Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam) là chủ quyền bất khả tranh cãi của họ. Chỗ nào họ cũng tuyên truyền, giáo dục, ở đâu họ cũng giới thiệu, giảng giải. Tôi hết sức ngạc nhiên là họ đào đâu ra lắm “hiện vật” minh chứng chủ quyền của họ đã được xác lập từ thời Hán (???) để trưng bày ở khắp các bảo tàng, các cuộc triển lãm trên toàn Trung Quốc.  

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định nguồn lực con người là nguồn lực cơ bản cho phát triển bền vững đất nước, trong đó lịch sử Việt Nam là cơ sở rất quan trọng của nguồn lực con người Việt Nam. Mong các nhà chiến lược giáo dục quan tâm trả lại vị trí vốn có của ngành Sử trong hệ thống giáo dục phổ thông và đưa lịch sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa vào chương trình sách giáo khoa Lịch sử. Được như vậy thì chắc chắn cả tiền nhân, hậu thế và cả người đời nay đều ghi nhận.  

Năm 2014, sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ảnh hưởng thế nào đến công tác sưu tập, công bố tư liệu chủ quyền cũng như một số vấn đề về quan điểm khác?

Tôi cho rằng đó là một sự kiện mang tính chất thúc đẩy rất quan trọng để chúng ta nhìn nhận, phát biểu vấn đề chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa, Trường Sa một cách bài bản, đầy đủ, rõ ràng và chuẩn xác.  

Tôi cũng rất ủng hộ cách làm của Bộ Thông tin Truyền thông, trên cơ sở tư liệu đã chuẩn bị, tổ chức các triển lãm giới thiệu bài bản tư liệu, cơ sở lịch sử và pháp lý của chủ quyền VN tại gần 40 điểm ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, nhiều tỉnh, thành phố và các huyện đảo như Cô Tô (Quảng Ninh), Lý Sơn (Quảng Ngãi), Trường Sa (Khánh Hòa), Phú Quý (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa Vũng Tàu) và Phú Quốc (Kiên Giang). Điều này đã nâng cao căn bản nhận thức về chủ quyền cũng như trách nhiệm của người VN đối với nghĩa vụ bảo vệ toàn vẹn từng tấc đất của Tổ quốc. 

Rồi cả những câu chuyện về quan điểm chính trị, như có người chưa rõ chức năng đại diện cho Việt Nam của Chính phủ Quốc gia VN (chính phủ của Bảo Đại) trong Hội nghị San Francisco (năm 1951), hoặc có người muốn có sự đánh giá về sự hy sinh của những người lính VNCH trong trận chiến Hoàng Sa 1974. Theo tôi, lúc nào chúng ta cũng phải đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên cao nhất. Chính phủ Quốc gia Việt Nam khi ấy đứng về mặt chính trị giữa các đảng phái trong nước thì đối lập với chính phủ Việt Minh, nhưng lại được thừa nhận trên trường quốc tế, và khi họ đi dự hội nghị Quốc tế San Francisco là đại diện cho Việt Nam. Và tất cả hành động hi sinh vì sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, đất nước đều thiêng liêng, đều phải được trân trọng. Tổ quốc đời đời ghi công tất cả các trường hợp chiến đấu, hy sinh vì sự toàn vẹn của quốc gia lãnh thổ, không phân biệt thời kỳ nào hay thuộc thể chế chính trị nào.  

Nhiều người cho rằng giới trẻ ngày nay sinh ra khi đất nước đã hòa bình nên tình yêu, cảm nhận của họ đối với đất nước, chủ quyền sẽ nhạt nhòa hơn so với những thế hệ đi trước. Là một người thầy, tiếp xúc nhiều với giới trẻ, ông có bi quan như vậy?

Hoàn cảnh mỗi thời mỗi khác. Chúng tôi trưởng thành trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ, khi đó yêu cầu tìm hiểu lịch sử về công cuộc chống ngoại xâm, chủ quyền quốc gia lãnh thổ luôn luôn thôi thúc mỗi người, mà nếu như bàng quan đứng ngoài thì cũng giống như kẻ có tội vậy.  

Hiện nay, chẳng hạn, khi cần tìm hiểu chủ quyền Việt Nam ở Hoàng Sa, Trường Sa, các em có thể tìm ở bất cứ nơi đâu, chỉ gõ máy tính là có thể có hàng nghìn trang (nếu như trước đây chúng tôi phải đến thư viện, tìm khắp nơi, thậm chí mất hàng tháng trời chưa chắc đã được vài trang). Như vậy, khó có thể so sánh rằng vì thế hệ trước dành nhiều thời gian hơn thì yêu Hoàng Sa, Trường Sa hơn, còn thế hệ hiện nay sử dụng ít thời gian hơn thì yêu Hoàng Sa, Trường Sa không bằng. Chúng ta phải căn cứ vào hiệu quả công việc, đánh giá thực tế hành động thể hiện nhận thức vấn đề chủ quyền…  

Tôi có cảm giác có một thời ta ít tuyên truyền, giới thiệu thì cũng có nhiều người không mấy quan tâm, nhưng sau sự kiện Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trên thềm lục địa và khu đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cả xã hội quan tâm sôi sục, trong đó đặc biệt là lớp trẻ. Họ có sự hiểu biết sâu sắc không chỉ lịch sử chủ quyền của Việt Nam, mà cả luật pháp quốc tế. Họ đã sáng tạo ra nhiều hình thức đấu tranh linh hoạt, độc đáo, hiệu quả, thể hiện tầm cao trí tuệ và bản lĩnh tuyệt vời của tuổi trẻ Việt Nam. 

Tôi trước sau vẫn rất tin ở lớp trẻ. Qua những sự kiện có tính chất kiểm nghiệm, chúng ta càng thấy rõ hơn ý thức sâu sắc về chủ quyền quốc gia lãnh thổ và nhất là tài thông minh, trí sáng tạo được thể hiện ở các hình thức đấu tranh phong phú và hiệu quả, mà tuổi trẻ chúng tôi trước đây chắc chắn chưa làm được như vậy.          

Mỹ Hòa

 

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG: Tin tuần từ 24/8-30/8 – NCBĐ

31 Th8

Tin tuần từ 24/8-30/8

Thứ hai, 24 Tháng 8 2015 11:31 dinh tuan anh

Share:

-(DT 28/8) Mỹ “dàn trận” quyết đấu Trung Quốc trên biển Đông: Mỹ cần có lực lượng không quân và hải quân mạnh, có thể vượt qua hệ thống A2/AD của TQ, can thiệp dứt khoát trong bất kỳ trường hợp nào; (VOA 28/8)Philippines từ chối lời mời dự lễ duyệt binh ở Trung Quốc

-(TT 27/8) Philippines nhờ Mỹ giúp theo dõi tình hình Biển Đông và bảo vệ tàu dân sự Philippines tiếp tế cho binh lính nước này đồn trú ở Bãi Cỏ Mây; (ANTĐ 27/8) Australia lo ngại nguy cơ bất ổn từ “điểm nóng” Biển Đông

-(Vnexpress 27/8) Trung Quốc tập trận lớn trên biển Hoa Đông: Đây là cuộc tập trận bắn đạn thật lần thứ ba trong vòng hai tháng gần đây của nước này; (Vnmedia 27/8) Lời hứa của Mỹ khiến Trung Quốc ớn lạnh

-(Vnexpress 26/8) Trung Quốc thử thiết bị lặn sâu không người lái ở Biển Đông: AUV do TQ nghiên cứu chế tạo có thể lặn liên tiếp 31 giờ đồng hồ, xuống độ sâu 4.446 m; (TP 26/8) Trung Quốc lại đưa giàn khoan Hải Dương 981 ra biển Đông

-(Infonet 26/8) Đã đến lúc Mỹ buộc TQ nhìn nhận Biển Đông như một thách thức về luật pháp và ngoại giao, chứ không chỉ đơn thuần là một đấu trường quân sự; (LĐ 26/8) Mỹ cần tuyên bố đòi hỏi đường 9 đoạn của Trung Quốc là bất hợp pháp

-(GD 26/8) Nhật Bản tăng thêm 12 tàu tuần tra để xua đuổi tàu cá Trung Quốc: Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản cho biết, có khoảng 1.000 tàu cá Trung Quốc hoạt động lâu dài ở xung quanh nhóm đảo Senkaku; (Vnplus 26/8) Mỹ sẽ tăng cường tập trận ngăn Trung Quốc bối lấn ở Biển Đông

-(VOV 25/8) Biển Đông và Trung Quốc ở đâu trong Chiến lược an ninh mới của Mỹ?: Hải quân TQ hiện sở hữu số lượng tàu lớn nhất tại châu Á với hơn 300 tàu chiến, tàu ngầm, tàu đổ bộ và tàu tuần tra; (Infonet 25/8) Sức mạnh hải quân Đài Loan nhằm đến Biển Đông

-(DT 24/8) Phương án mới chống Mỹ của Trung Quốc: Lực lượng A2/AD trên biển của Trung Quốc có thể được phát triển có cấp độ tương tự Liên Xô thời kỳ Chiến tranh Lạnh; (GD 24/8)Đường ống khổng lồ Trung Quốc bất ngờ xuất hiện ở bờ biển Philippines

(TN 24/8) Malaysia sẽ đặt tên cho các đảo của nước này ở Biển Đông: Khoảng 535 đảo đang trong tình trạng không rõ ràng, nhiều khu vực đảo không có cột mốc đánh dấu khiến nước này lo ngại sẽ bị xâm phạm; (VOA 24/8)Philippines định mở ‘Khu du lịch sinh thái’ ở biển Đông

-(Vnexpress 24/8) Hải Dương 981 khoan giếng dầu áp suất cao đầu tiên ở Biển Đông: Giếng dầu Lăng Thủy 25-1S-1 cách thành phố Tam Á, tỉnh Hải Nam khoảng 140 hải lý; (CA 24/8) Việt Nam yêu cầu Đài Loan chấm dứt xây hải đăng ở Trường Sa

-(GD 24/8) Trung Quốc sẽ coi thường Mỹ, tiếp tục bành trướng ở Biển Đông?: Washington có thể ủng hộ các nước Đông Nam Á thành lập liên minh, xây dựng Bộ quy tắc ứng xử mà không có sự tham gia của Bắc Kinh; Diễn đàn Đông Á-Mỹ Latinh; (ĐĐK  24/8)Ủng hộ UNCLOS ở Biển Đông

-(LĐ 23/8) Trung Quốc phát hiện thiết bị do thám bí mật của nước ngoài trên Biển Đông: Thiết bị này dài chừng 1m, trông giống một quả ngư lôi; (VOV 23/8) Mỹ tố Trung Quốc tăng tốc xây đường băng trên đảo nhân tạo ở Trường Sa

-(BĐV 23/8) Trung Quốc đo sức mạnh tàu tuần tra Nhật tặng Việt Nam: Đây là tàu tiên tiến nhất mà Việt Nam có được cho đến nay; (GD 23/8) Nga đơn phương muốn tập trận chung ở Biển Đông

← Older Entries

%d bloggers like this: