Tag Archives: NGUYÊN HẢI

Tòa quốc tế xử Philippines thắng kiện Trung Quốc – NĐT

13 Th11

10/11/2015 – 16:50 PM

Thắng lợi ban đầu của Philippines trong vụ kiện Trung Quốc mở ra hướng mới trong giải quyết tranh chấp trên Biển Đông.

Ngày 29.10.2015, Tòa Trọng tài Thường trực quốc tế (PCA) đóng tại Hague, Hà Lan (PCA) đưa ra phán quyết đầu tiên về vụ Philippines kiện Trung Quốc có tuyên bố chủ quyền trái phép ở Biển Đông.

Phán quyết của PCA nêu rõ, cả Philippines và Trung Quốc đều là các bên tham gia Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) và vì thế phải có trách nhiệm giải quyết tranh chấp theo quy định của UNCLOS.

PCA lắng nghe luận điểm của Philippines trong phiên điều trần hồi tháng 7. Ảnh: Rappler

Phán quyết của PCA nói rằng vụ việc được tiến hành theo đúng Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982, và PCA có thẩm quyền xét xử vấn đề. Quyết định của Trung Quốc không tham gia vụ kiện sẽ không làm thay đổi quyền phán quyết của PCA và việc Philippines quyết định đơn phương tiến hành vụ kiện không hề vi phạm tiến trình giải quyết tranh chấp theo UNCLOS.

Thắng lợi của luật pháp quốc tế

Theo AFP, ngay sau khi có phán quyết của PCA, một quan chức quốc phòng cấp cao của Mỹ tại Washington đã lên tiếng hoan nghênh phán quyết của tòa án là “một thắng lợi của luật pháp quốc tế”.

AFP dẫn lời quan chức quốc phòng cấp cao nói: “Chúng tôi rất hoan nghênh phán quyết của tòa. Điều này chứng tỏ luật pháp quốc tế có vai trò trong việc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông”.

“Điều này chứng tỏ rằng những tuyên bố chủ quyền không nhất thiết là không thể tranh cãi và việc ra phán quyết về vấn đề chủ quyền theo luật pháp và thông lệ quốc tế là con đường có thể giúp quản lý và giảm thiểu nguy cơ xảy ra xung đột. Chúng tôi rất hoan nghênh các hoạt động của tòa”.

Trả lời phỏng vấn của VOV, Tiến sĩ Phạm Lan Dung, Trưởng Ban Quốc tế, Học viện Ngoại giao của Việt Nam, cho rằng, bà cũng như nhiều chuyên gia nghiên cứu các vấn đề quốc tế khác, coi phán quyết của PCA là thắng lợi lớn của Philippines. Không những thế, thắng lợi này còn giúp cho các nước có tranh chấp thấy lạc quan, rằng từ nay có thể sử dụng Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) và đưa ra Tòa Trọng tài Quốc tế để giải quyết các khác biệt về tranh chấp lãnh thổ.

Bà Phạm Lan Dung trích dẫn UNCLOS rằng, Luật này yêu cầu các nước phải tôn trọng các biện pháp hòa bình, Không được sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong khi giải quyết các tranh chấp, Phải dùng các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp. Bà Phạm Lan Dung nói:  “Việc Tòa Trọng tài Quốc tế có thể xét xử vụ kiện chính là biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp”.

Khi vấn đề thẩm quyền của PCA được giải quyết, vụ kiện có thể chuyển hướng sang các thủ tục tiếp theo, bao gồm: thu thập, đánh giá về tính pháp lý trong các luận điểm về chủ quyền của Philippines ở Biển Đông.

Chặng đường phía trước còn dài

Tạp chí The Diplomat phân tích, Philippines mong muốn PCA xem xét và phán quyết về 4 vấn đề, trong đó vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất là yêu sách của Trung Quốc về cái gọi là “Đường 9 đoạn” (hay còn gọi là Đường lưỡi bò) ở Biển Đông. Theo đó, Manila lập luận rằng “Đường 9 đoạn” là một yêu sách “không thể chấp nhận được” và không phù hợp với quyền lợi của các quốc gia ven biển chiểu theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) mà cả Trung Quốc, Philippines cùng nhiều nước khác đã ký kết năm 1982. Cho đến nay, Trung Quốc vẫn không đưa ra được những chứng cứ pháp lý về phạm vi của “Đường 9 đoạn”.

Thứ hai, Philippines cho rằng việc Trung Quốc chiếm đóng, bồi đắp nhiều đảo nhân tạo tại quần đảo Trường Sa trên Biển Đông là bất hợp pháp. Manila đưa ra lập luận này vì cho rằng Bắc Kinh có “những yêu sách về sở hữu hoặc chủ quyền không chính đáng đối với các khu vực hoàn toàn ngập nước, hoặc quyền lịch sử không chính đáng đối với tài nguyên sinh vật và phi sinh vật, bao gồm cả quyền kiểm soát hàng hải”.

Thứ ba, đề nghị tòa án sẽ xem xét và đánh giá tính pháp lý đối với cáo buộc của Philippines rằng Trung Quốc đang khai thác trái phép tài nguyên thiên nhiên trong Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Philippines theo UNCLOS.

Người Philippines biểu tình thổi còi bên ngoài Lãnh sự quán Trung Quốc tại thành phố Makati, Manila, ngày 10.7.2015 (Reuters)

Thứ tư, Philippines cáo buộc Trung Quốc đã can thiệp vào quyền tự do đi lại của Manila trong chính Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của quốc đảo này.

Trong một bài viết của mình, Tạp chí Wall Street Journal dẫn lời Luật sư trưởng người Mỹ, ông Paul Reichler, phụ trách hồ sơ vụ kiện của Philippines, lập luận rằng cái gọi là “Đường 9 đoạn” của Trung Quốc, mà theo đó Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền đối với gần như tất cả Biển Đông, không có căn cứ theo luật quốc tế quy định trong Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển.

PCA cũng đã yêu cầu Manila làm rõ một số luận điểm và sẽ xem xét các vấn đề còn lại trong giai đoạn đánh giá tính pháp lý của các lập luận này.

Sau khi vấn đề về thẩm quyền của PCA đã được giải quyết, vụ kiện có thể tiến triển đến giai đoạn đánh giá tính pháp lý về các luận điểm Philippines đưa ra về vấn đề Biển Đông. PCA dự kiến sẽ đưa ra phán quyết sơ bộ vào năm 2016.

Theo VOV

» Ông Trần Công Trục: ‘Trung Quốc vận động thất bại trong vụ kiện đường lưỡi bò’

» Vụ kiện ‘đường lưỡi bò’ – phép thử luật pháp quốc tế của Philippines

» Tòa quốc tế đồng ý xử vụ Philippines kiện Trung Quốc về ‘đường lưỡi bò’

» Trung Quốc ráo riết vận động hành lang vụ kiện ‘đường lưỡi bò’

» Tòa mở vụ kiện ‘đường lưỡi bò’ cho Việt Nam tham dự

» Trung Quốc sẽ phớt lờ phán quyết của tòa trọng tài quốc tế

» Trung Quốc thêm chiêu ‘nham hiểm’ tuyên truyền đường lưỡi bò

» Google xóa tên Trung Quốc khỏi quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam

» Google xóa tên gọi TQ với bãi cạn Scarborough

» Ông Trần Công Trục: ‘Tàu tuần tra Mỹ không phải bảo bối ở Biển Đông’

» ‘Hải đăng Trung Quốc vừa hoàn thành là bẫy pháp lý’

88 TUỔI VIẾT BỨC TÂM THƯ LĂN TAY BẰNG MÁU GỬI TẬP CẬN BÌNH – Tễu

8 Th11

 
 

BỨC TÂM THƯ GỬI CHỦ TỊCH TẬP CẨN BÌNH
VỀ “GIA PHẢ TỰ CHẾ” CÁC ĐẢO VÀ BIỂN ĐÔNG CỦA VIỆT NAM

Ba Sàm
7-11-2015

Không thể đổi tiền lấy Chủ quyền!

Bức thư ngỏ gửi Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình được lăn tay bằng máu của cụ ông 88 tuổi đã được đấu giá 300 triệu tặng Cảnh sát Biển Việt Nam.
 

Lời dẫn: Sáng sớm ngày mùng 7/11, bác Nguyễn Công Nghệ (người đã tham gia đấu giá bức tranh “Gạc Ma – Vòng Tròn Bất Tử” mức giá 730 triệu và đã tặng 350 triệu cho các cựu binh Gạc Ma bị Trung Quốc bắt ngày 14/3/1988 và 5 gia đình tử sĩ ở Hoàng Sa năm 1974 trong Đại lễ Tưởng niệm và Cầu siêu 64 liệt sĩ Gạc Ma tổ chức tại Chùa Vĩnh Nghiêm nhân ngày Thương binh – Liệt sĩ 27/7 vừa rồi, bức tranh đã được đấu giá 1 tỷ 280 triệu để tặng 64 gia đình liệt sĩ Gạc Ma) đã trân trọng mang bức tâm thư ngỏ gửi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình được dịch ra tiếng Anh và tiếng Trung đển gặp Ban Tổ Chức. (Bức tâm thư được lăn tay bằng máu của cụ này đã được công ty Mỹ Sơn ở Hà Nội đấu giá 300 triệu và vừa trao tặng cho Cảnh sát Biển Việt Nam).

Bác Nghệ xúc động chia sẻ: “Sau khi nghe bài phát biểu của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trước Quốc hội Việt Nam, bác đã cùng các con, cháu thức đến gần sáng để viết phần PS – Tái bút và dịch toàn bộ bức tâm thư ra tiếng Anh và tiếng Trung”. BTC xin trân trọng được công bố bức tâm thư đầy tâm huyết của cụ ông 88 tuổi này:

Thành phố Hồ Chí Minh, 06/11/2015 

Kính gửi: Ông Tập Cận Bình,
Chủ tịch – Tổng Bí thư Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Thưa Ông!
Tôi đã từng được cử qua Trung Quốc học và công tác vào năm 1957-1958. Tôi đã từng thật sự rất tự hào về tình hữu nghị Việt Nam – Trung Hoa. Dù đã trải qua hơn nửa thế kỷ nhưng tình cảm đó luôn ở trong trái tim tôi. Sau này tôi đã từng cùng các bạn Trung Quốc sang Việt Nam thức đêm hát vang bài ca Việt Nam – Trung Hoa (越南中国với tình cảm dạt dào tình hữu nghị, tình anh em mà tôi không thể nào quên: “Việt Nam – Trung Hoa, núi liền núi, sông liền sông…”
Tiếc thay nghĩa tình cao đẹp đó sớm bị phai mờ bởi nhiều thăng trầm, thử thách trong quan hệ hai nước. Cho đến khi nghe tin Ông lên lãnh đạo Trung Quốc. Tôi và mọi người trong gia đình tôi đã rất vui mừng. Tôi nghĩ Ông là người rất có tài và có tầm. Ông đã được Lý Quang Diệu, cựu Thủ tướng Singapore đánh giá: “Tôi xếp ông ấy vào mẫu người như Nelson Mandela…”
Tôi nhớ khi sang thăm Mexico vào ngày 4/6/2013, ông có lời phát biểu làm tôi rất ấn tượng: “…Thứ nhất, Trung Quốc không xuất khẩu Cách mạng; thứ 2, Trung Quốc không xuất khẩu đói nghèo; và thứ 3, Trung Quốc không đến để gây ra những cơn nhức đầu, có gì phải nói thêm hay không?”.
Và một câu nói của Ông vào ngày 15/5/2014 về tinh thần yêu chuộng hòa bình của người Trung Quốc làm lòng kính nể và tin tưởng của tôi đặt vào Ông tăng lên bội phần: “Trong máu người Trung Quốc không có gen xâm lược”.
Nếu ông đã có thể nói được những câu nói vô cùng ý nghĩa đó, thì tôi rất tin là ông sẽ lãnh đạo nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa làm đúng như những gì ông đã nói. Và đó là niềm vui mừng của nhân dân Việt Nam chúng tôi.
Sự kiện 64 người lính Hải quân Việt Nam bị Hải quân Trung Quốc giết hại một cách dã man ở đảo Gạc Ma trên bức tranh đã làm tôi và gia đình vô cùng thổn thức, đau lòng, và từng làm tổn thương sâu sắc những ký ức tốt đẹp đã có của tôi. Nhưng tôi tin là nguyên nhân sự việc đó là do người tiền nhiệm trước đây của ông, chứ không phải do ông gây ra, nên rất có thể ông không được biết. Nên nếu được phép, tôi thay mặt những người Việt Nam yêu nước muốn trao tặng Ông bức tranh ý nghĩa này.
Tôi biết ông cũng rất quí trọng tình hữu nghị giữa hai nước vốn có mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông đã dày công xây dựng. Và với tình cảm đó, tôi nghĩ Ông cũng rất yêu thương những người lính Trung Quốc và người lính Việt Nam. Tôi không biết cảm xúc của Ông sẽ như thế nào khi nhìn thấy cảnh những người lính Việt Nam trong bức tranh bị bắn bằng súng có sức hủy diệt và sát thương cao trong khi trên tay không hề có một tấc sắt tự vệ? Tôi đã tự hỏi không biết bao nhiêu lần: Sao bên Trung Quốc lại cố ý bắn và hủy diệt những người lính trẻ của chúng tôi? Để họ phải chết tức tưởi bỏ cha mẹ, bỏ vợ, bỏ con hả Ông? Tôi tin Ông chắc hẳn cũng rất đau lòng – cũng như cảm xúc của chúng tôi khi nhìn thấy những người lính Trung Quốc đang trong hoàn cảnh tương tự trong các bộ phim.
Ước nguyện của tôi và gia đình tôi cũng như của tất cả người dân Việt Nam muốn gửi tới Ông thông qua bức tranh này là mong muốn nhân dân hai nước luôn sống trong hòa thuận và tình hữu nghị, tôn trọng lẫn nhau. Tôi năm nay đã 88 tuổi, vào độ tuổi mà bất kỳ ai cũng đã hạnh phúc, mãn nguyện với con cháu rồi – nhưng với tôi – vào những tháng năm cuối cùng của cuộc đời lại có mong muốn tột cùng là làm được những gì trước giờ mình chưa kịp làm, để đến khi nhắm mắt xuôi tay, tôi không còn gì phải ân hận, nuối tiếc nữa: Tôi ước nguyện với Đất Trời là từ nay và mãi mãi về sau, không có bất kỳ một người dân, người lính Việt Nam và Trung Quốc nào phải nằm lại giữa biển khơi như những người lính Gạc Ma trong bức tranh này.
Tôi rất tâm đắc câu nói của một cháu gái người Việt gốc Hoa vừa rồi khi nói về lời dạy của ông bà Tổ tiên của cô bé: “Đừng bao giờ chiếm lấy bất cứ cái gì mà vốn ban đầu không thuộc của mình, dù với bất kì lý do, mục đích gì đi nữa; và nếu đã lỡ lấy rồi, tốt hơn là hãy trả lại cùng với một lời xin lỗi”. Vì nó rất đúng với câu nói nổi tiếng của nhân loại “Cái gì của Caesar hãy trả lại cho Caesar”Vì không ai chết đi mà mang theo được bất kỳ điều gì – trừ danh tiếng con người để lại.
Tôi ước mong điều ước nguyện này trở thành hiện thực thay cho dân tộc Việt Nam vì tôi không muốn con cháu mình phải đi đòi, đi làm những gì mà cha ông chúng có thể làm được ngay bây giờ.
Kính thư và chúc Ông nhiều sức khỏe,
Ho Chi Minh city, 6th November 2015

Dear Mr. Xi Jinping,
President – General Secretary of the People’s Republic of China
Dear Sir!
I was one of the Vietnamese people who have the honor to be selected coming to China for training and working during the period of 1957 – 1958. At that time, I was proud of the friendship between Vietnam and China. It it has been through half of a century, yet those feelings are still in my heart. A very long time later, I also had a chance to stay all night and sing along with Chinese friends the song “Vietnam – China”(越南中国with the emotional feelings that I shall never forget: “Vietnam – China, mountains by mountains, rivers near rivers…”
Unfortunately, those beautiful sentimental attachments are soon faded through many vicissitudes and challenges which affect the relationship of the two countries. When I heard you to be nominated as the new President of China, together with my family, we were really glad as you are a very talented and outstanding person. We know that Lee Kwan Yew, the former Prime Minister of Singapore, gave nice words on you in his speech: “I would put him in the Nelson Madela class of persons…”
I was really impressed by your speech in your visit to Mexico on 4th June 2013 that: “…China does not export revolution, hunger, poverty, nor does China cause you and headaches. Just what else do you want?”
Especially, it was your statement about the Chinese peace – loving spirit on 15th May 2014 that has strongly increased my respect and trust on you:“There is no gene for invasion in Chinese people’s blood”.
If you could speak out those meaningful statements, then I strongly believe that you will be able to lead the People’s Republic of China to do exactly what you had stated. That will be the joy for our Vietnamese people.
The incident of brutally killing 64 Vietnamese navy soldiers by the Chinese navy in Gac Ma island as described in the painting really makes me and my family sobbing, heartbroken and deeply hurt the old good memories of mine. However, I believe the reason for that incident comes from your predecessors, not you, so you can heal by stopping this. Therefore, if permitted, on behalf on Vietnamese patriotics, I would like to give you this meaningful painting.
I know about your high esteem for the friendship between the two countries that both Presidents Ho Chi Minh and Mao Zedong have built. And with that esteem, I suppose you also have the love for Chinese and Vietnamese soldiers. How do you feel when seeing Vietnamese soldiers getting shot by destructive and lethal weapons while they are unarmed? I also have wondered many times: How can China shoot and destroy on purpose our young soldiers? Let them died in resentment, leaving their parents, wives and children? We are all heartbroken. I bet you will have such of that feeling if Chinese soldiers in the same circumstances.
With this painting, I would like to send you the desire of not only me and my family but also all Vietnamese people that the people of the two countries will be living in peace, friendship and mutual respect. I am 88 years old now, the age that people should be happy and satisfied with family – however to me – in the last years my life, my utmost desire is to complete what has not been done before passing away: I wish to God that from now and ever after, there will be no Vietnamese or Chinese civillian or soldier have to lost their life in the Vietnamese Eastern Sea like the Gac Ma soldiers in this painting.
I fully agree with the words from a Vietnamese little girl with Chinese origin about her ancestor’s teachings:“Never try to take what is not belong to you at first, for any reason or purpose; and if you have taken it, better to return with an apology”. These words really matchs with the famous saying: “Render to Caesar the things that are Caesar’s” – Because we can not bring anything with us when passing away – except our reputation.
I wish that my desire would come true on behalf of the Vietnamese people because I do not want our next generation have to ask or do what theirs ancestors can do right now.
Best regard and wishing you a perfect health,
Tái bút:

Thưa Ông,
Hôm nay nay nghe Ông phát biểu trước Quốc Hội Việt Nam, Quốc Hội đại diện cho dân, còn tôi thay mặt cho 90 triệu người Việt Nam, xin được bổ sung vào lời phúc đáp của Chủ Tịch Quốc Hội gửi đến Ông:
Ngày đầu tiên Ông đến thăm Việt Nam, Ông nói Ông rất trân trọng tình hữu nghị giữa hai dân tộc Việt Nam – Trung Quốc, thế thì sao Ông không trao trả ngay các hòn đảo, các bãi đá ngầm ở Hoàng Sa, Trường Sa mà quân đội Trung Quốc đã và đang chiếm đóng và dùng vũ lực xâm chiếm trái phép của Việt Nam?     Tôi rất cảm ơn Ông và chính quyền Trung Quốc đã hỗ trợ về vật chất, tiền bạc cho Việt Nam trong lúc này – nhưng việc nào ra việc nấy. Tổ tiên dân tộc chúng tôi không cho phép chúng tôi nhận vật chất hay tiền bạc của bất kỳ ai để đánh đổi chủ quyền những hòn đảo vốn của chúng tôi đã thấm máu của những người lính Việt Nam, và 90% vùng biển Đông của dân tộc chúng tôi có từ muôn đời mà Ông đã tuyên bố thuộc về Trung Quốc trong lý luận đường lưỡi bò phi lý và trái ngược với tất cả đạo lý, luật pháp biển quốc tế.
Tôi cũng rất lo lắng và ngạc nhiên với lời Ông tuyên bố trong chuyến thăm Vương quốc Anh ngày 18/10/2015. Ông đã trả lời phỏng vấn hãng thông tấn Reuters bằng văn bản, với cả 2 ngôn ngữ, tiếng Trung và tiếng Anh, trong đó khẳng định rằng “các đảo ở Biển Đông là “lãnh thổ Trung Quốc” từ thời cổ đại, là do tổ tiên nước ông để lại?!” Ông có thể chưng ra các bằng chứng, văn bản đó của tổ tiên Ông được không? Chúng tôi cũng có tất cả bằng chứng và văn bản lịch sử khẳng định các đảo ở Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam.
Trước giờ tôi rất tin tưởng ở Ông, còn bây giờ tôi lại rất lo, khi người lãnh đạo cao nhất của Trung Quốc công khai lôi “gia phả tự chế ra để nói có “chủ quyền lịch sử”, “chủ quyền từ thời cổ đại” đối với các đảo của Việt Nam ở Biển Đông trước dư luận quốc tế, bất chấp luật pháp và công lý thì sắp tới, có lẽ Biển Đông của chúng tôi sẽ ít có ngày được bình yên.
Chắc chắn Ông đã có sự nhẫm lẫn nào đó trong việc rất quan trọng này rồi. Rất mong Ông hãy thức tỉnh và suy xét cẩn trọng lại một cách thành tâm nhất. Cảm ơn Ông!
Một người Việt Nam rất kính trọng Ông,
NGUYỄN CÔNG NGHỆ
88 tuổi – 68 năm tuổi Đảng
Nguyên Giám đốc Đài phát tín đầu tiên tại Việt Nam

P/S:

Dear Sir,
I have heard your speech at the Vietnam National Assenbly today. As the National Assembly represents the people, on behalf of 90 million Vietnamese, I would like to add on the Chairman’s reply to you these points:
On the first day of your visit to Vietnam, you stated that you highly appreciated the friendship between Vietnam – China. If so, why don’t you immediately return the islands and reefs in the Vietnamese Paracel and Spratly Islands which were and are illegally occupied and invaded by the Chinese army? I would like to thank you and the Chinese government for the support in both money and material for our country at the moment – however, we should make things clear. Our ancestors will never allow us to receive money or material to exchange with the sovereignty of not only the islands which were already spilled by Vietnamese soldiers blood but also 90% of the Eastern Sea that you have announced to belong to China in the Nine – dash line argument which were unreasonable, against all ethics and United Nations Convention on Law of the Sea – UNCLOS.
Also, I am extremely worried and surprise with the declaration in your visit to the United Kingdom on 18thOct 2015. Following the interview with Reuters, in dual language – Chinese and English, you stated that: “The islands and reefs in the South China Sea are Chinese territories since ancient times. They are left to us by our ancestors”?! Would you please showing any evidence or document from your ancestors? Because we also have historical evidences and documents to prove that the Paracel and Spratly Islands belong to Vietnam.
I had strongly believed in you before. However, I am now very worried when the highest Chinese leader brings the “homemade genealogy” to talk about“historical sovereignty” or “sovereignty from the ancient time” toward Vietnamese islands in our Eastern Sea in front of the international public opinion, regardless of the Law and Justice. Maybe, the Vietnamese Eastern Sea is not going to be peaceful in the future.
You must be mistaken in this important matter. Therefore, I’m really looking forward to your awakening and honesty reconsideration. Thank you!
A Vietnamese who strongly respect you,
NGUYEN CONG NGHE
88 years old – 68 years of Vietnamese Communist Party
Former Director of the first Transmitting Station in Vietnam


胡志明市,2015年6月11日

尊敬的中华人民共和国主席习近平先生

尊敬先生!

我是阮工艺,乃一个爱国者。自1957年至 1958年,我有机会在中国念书及参加工作。当年,我为中越两国友谊感到十分骄傲,而50年后那份感情还是依然不变的。后来,每次跟中国朋友们聚集在一起的时候,我们都自豪地唱起“越南中国”__那首充满着友谊、充满着兄弟情的歌:“越南中国,山连山水连水…”

可惜,随着两国关系风云,那种珍贵的友谊也早就面对了不少困难与挑战。当我知道习先生担任中国主席的时候,我们全家人都很高兴。我自己认为先生是一位有才华,有眼光的人物,因为以前,新加坡首相李光耀先生曾经对先生有这样的评价:“我想,他应该属于纳尔逊·曼德拉级别的人物”。

我还记得,2013年6月4日当贵先生到墨西哥访问的时候,曾经说过:“中国一不输出革命,二不输出饥饿和贫困,三不去折腾你们,还有什么好说的。” 这一句话实在给我很深刻的印象。

在于2014年5月15日,贵先生对于中华人民爱和平的精神也发表过:“中华民族的血液中没有侵略他人、称霸世界的基因”。这句话使我对先生的信任与尊敬越来越大。我相信先生既然说得到那些有道理的话,一定也能够领导中国人民共和国走向正义的途径。那就是中华,越南以及是世界人民的福气了。

习先生知道吗?这幅画儿所描写的是嘎麻礁事件(1988年3月,在于嘎麻礁, 64名越南海军为了保护国家主权而被中国海军残暴地杀害)。此画儿不仅令人伤心,还大大伤害了我心中的中国印象,但是我想,其原因来自你们以前的那些领导,而不是贵先生的错误,你可能对这事件的信息也不很清楚,所以今天我请代表越南所有的爱国分子特意送给贵先生该幅画儿,请贵先生收下。

我相信贵先生也很重视中越两国友谊,珍惜胡志明与毛泽东主席的革命成果,爱惜两国人民的生命。看到了那些年轻军人手上没武器,但还是被对方疯狂地残杀,失去了生命,与家庭永不团圆,我知道贵先生也会像我一样感到心酸,因为任何牺牲都一样珍贵嘛。不论是越南军还是中国军,若为了正义而卧在沙场上,都值得我们佩服的。

如今,通过这幅画儿,我们要向贵先生表示我国人民的一个愿望,那就是中越人民互相尊重,和睦相处。我今年已经88岁了,可以说对一生所有的事情都很圆满了。在于生命最后的这段时光,我很想将这个愿望实现出来,这样,我一命归天之后也没什么后悔的。我祈祷向天,愿从此以后两国人民永远不会遇到像嘎麻礁事件的那种惨境了。

前几天,我听一位华侨女儿童说了这样一句话,乃他们祖先的道理之一:“当初不属于我们的,请不要以任何理由来抢夺”。 “凯撒的归凯撒,上帝的归上帝”,先生也许也理解。我们现在所做的事情,后代史册都会很公平地评价,那为什么不给他们留个芳名呢?

我代表越南人民希望,这个愿望很早就能够实现,因为咱们这一代人可做的事情请别让后代去做.。

致敬

祝先生身体健康

 

附笔,

尊敬先生!

今天听到先生对越南的国民大会发表, 国会代表人民, 我代表9000万人口的越南, 请加入答复的国会主席送往先生:

第一天,先生访问越南, 在今天的发表, 先生说,很珍惜越中两国人民的友谊, 那为什么没有立即归还 越南黄沙和长沙的岛屿,暗礁? 这些岛屿被中国军队占领占用和强行强行非法侵占. 我感谢先生和中国政府的支持材料和金钱在这个时候, 但每一件事必须明确.

我们的祖先不允许我们接受任何个人的材料或金钱让交换 我们的海洋主权.

我很担心并惊讶于先生在英国访问期间宣布的话。2015年10月18日接受路透社采访时,在书面采访中向路透社表示,先生用中文与英文肯定: “南海诸岛自古以来就是中国领土,这是老祖宗留下的。“ 先生可以证明的证据,文件的祖先,是不是?我们所有的证据和历史依据,确认长沙黄沙群岛属于越南.

之前,我很信任先生,但现在我很担心,当中国的最高领导人在国际舆论面前公开拖“自制族谱”说“历史主权”“主权古时” 对于越南东海岛屿, 尽管法律和正义公理. 即将到来也许我们的东海就没有什么和平的一天。

一定先生有什么错误.

我们希望先生谨慎了。

谢谢!

一个很信任贵先生的人

阮工艺 – 88岁 – 68年党龄

越南的第一个无线电发射台的前主任

Văn hóa chính trị và lòng dân – VHNA

27 Th10

  •   BÙI ĐÌNH PHONG
  • Thứ hai, 09 Tháng 12 2013 23:31
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
 

Văn hóa chính trị là điều kiện bảo đảm lòng dân và lòng dân là thước đo văn hóa chính trị

I

CHƯA CHẾT VỀ THỂ XÁC ĐÃ CHẾT VỀ ĐẠO ĐỨC

VI.Lênin có nói đại ý rằng con người có 3 cái chết: cái chết về thể xác, cái chết về chính trị và cái chết về đạo đức. Có những người chưa chết về thể xác nhưng đã chết về chính trị.

Thế giới và Việt Nam, xưa và nay đều có những con người như vậy.

Câu dẫn trên đây có liên quan đến văn hóa chính trị và lòng dân.

Bác Hồ dạy: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng/Không sợ nghèo, chỉ sự lòng dân không yên”.

Tại sao lòng dân không yên? Không phải vì GDP xuống thấp. Không phải vì nghèo (mà nước ta có còn nghèo nữa đâu, là nước thu nhập trung bình). Vì văn hóa chính trị xuống cấp.

Sự xuống cấp của  văn hóa chính trị biểu hiện ở những khía cạnh nào?

Trước hết,ở tư duy và tư tưởng, cách suy nghĩ và xem xét vấn đề.

Văn hóa chính trị phải có một tư duy biện chứng, khoa học và cách mạng. Nhưng gần đây, qua các phương tiện thông tin đại chúng, người dân nghe được nhiều phát ngôn chứa đựng kiểu tư duy phản biện chứng, phản khoa học, không có tinh thần cách mạng. Đó là những phát ngôn đổ lỗi cho khách quan, nhận lỗi tập thể và các cấp đổ lỗi cho nhau, mà không thấy trách nhiệm cá nhân. Xung quanh nhiều vụ việc nổi cộm gần đâycủa ngành y tế, nhiều phóng viên đề cập dư luận cho rằng Bộ trưởng y tế nên từ chức, chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ trả lời rằng vấn đề nghiêm khắc nhưng phải lý trí. Theo ông, “không phải việc xảy ra là nghĩ ngay từ chức”. Mà điều đầu tiên nghĩ tại sao tình hình lại như vậy, do chủ quan của ngành mình hay do khách quan, do thời kỳ mình chỉ đạo hay do nhiều thời kỳ dồn lại, quan trọng phải có một quyết tâm, lộ trình, kế hoạch làm sao tình hình tốt hơn với trách nhiệm của mình”. Ông cho rằng Bộ trưởng được Đảng phân công, Quốc hội – cơ quan quyền lực cho đại diện của nhân dân – phê chuẩn. Điều quan trọng nhất khi đứng ở cương vị của mình là làm hết trách nhiệm, tâm sức của mình. Ông khẳng định trước thông tin báo chí phản ánh đa chiều, rộng rãi, các bộ trưởng, lãnh đạo ngành đều nhận rõ trách nhiệm của mình để không phụ lòng dân”.

Dư luận ái ngại và ngơ ngác về kiểu tư duy như vậy. Bài viết này không nói cụ thể việc từ chức hay không từ chức mà bàn về cách tư duy của lãnh đạo. Ở đây không phải là một việc xảy ra mà là mộtchuỗi sự kiện chứa đựng thiếu tinh thần trách nhiệm. Vấn đề không phải là Đảng phân công và Quốc hội phê chuẩn thì không thể không nói: “Tôi xin từ chức”. Đây là vấn đề thuộc văn hóa lãnh đạo, thuộc về tự trọng cá nhân. Một người lãnh đạo được Đảng phân công và Quốc hội phê chuẩn, khi tự thấy mình nhiều lần không hoàn thành trách nhiệm Đảng phân công, nhân dân giao phó, thì nói “xin từ chức” là chuyện bình thường, rất văn hóa, rất chính trị, rất con người. Còn chuyện có được từ chức hay không lại do nhân dân có cho phép hay không. Mà cũng không nên chờ nhân dân cho phép. Nếu mình thật sự có trách nhiệm với dân, với Đảng thì nên “đi trước” Đảng và nhân dân một bước trong việc từ chức. Đó mới thật sự là lý trí. Lý trí không nằm ở chỗ “kiên quyết rút kinh nghiệm”, “kiên quyết làm hết trách nhiệm”, “lãnh đạo đều nhận rõ trách nhiệm của mình để không phụ lòng dân” hay “có văn bản chỉ đạo, chỉnh đốn, rà soát lại các quy định, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra…”.

Người dân cũng bàn đến tư duy, cách nghĩ, tầm nhìn của các đại biểu trong các cuộc sinh hoạt chính trị lớn của Đảng, Quốc hội khi một số cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng mà vẫn dành được nhiều phiếu tín nhiệm cao.

Thứ hai, văn hóa chính trị xuống cấp biểu hiện ở chỗ thiếu tinh thần trách nhiệm, buông lỏng quản lý nhà nước

 Dư luận nói nhiều về câu chuyện “con voi chui lọt lỗ kim”. Hoặc “mất bò mới lo làm chuồng”. Thật ra, chẳng phải “con voi”, “lỗ kim”; “chuồng” hay “bò” gì cả. “Chuồng” có nhiều và có từ lâu rồi nhưng có ai trông đâu và nếu có trông thì toàn là những người thiếu đạo đức. Cần phải nhấn mạnh và khẳng định rằng ở nước ta, hệ thống lãnh đạo, quản lý thuộc hệ thống chính trị là hoàn chỉnh nhất. Chúng ta buông lỏng quản lý và không có quản lý. Đến khi có vấn đề xảy ra thì lại chỉ đạo rà soát, kiểm tra, kiểm điểm…

Thứ ba, liên quan đến quản lý, sự xuống cấp của văn hóa chính trị biểu hiện ở nạn tham nhũng và vấn đề lợi ích nhóm

 Nói không quản lý hay buông lỏng quản lý là một cách nói. Còn một cách nói khác là có quản lý theo kiểu lợi ích nhóm. Những người làm công tác quản lý biết cả, nhưng bao che, thông đồng vì được hưởng về lợi ích. Một cái ụ nổi sắt vụn một mình Dương Chí  Dũng không thể nuốt trôi mà phải có cả một nhóm. Một cơ sở thẩm mỹ viện ngang nhiên tồn tại mặc dù không có giấy phép vì nó nuôi cả một nhóm…

Thứ tư, chính sách không hợp lòng dân

 Vừa qua một số chính sách đưa ra không xuất phát từ thực tế, không tôn trọng quy luật khách quan, không hợp lòng dân. Những chính sách đó xuất phát từ ý chí chủ quan, chạy theo bệnh thành tích, và không loại trừ xuất phát từ lợi ích nhóm. Vì vậy, chính sách đưa ra bị ngay sự phản ứng dữ dội của dư luận, của nhân dân và cuối cùng phải bãi bỏ. Lại có loại chủ trương, chính sách đưa ra kiểu trên trời, biết không thực hiện được vẫn ban hành. Cho đến nay, không biết chúng ta đã phạt được bao nhiêu trường hợp nghe điện thoại ở cây xăng hay hút thuốc lá nơi công cộng?

Thứ năm, văn hóa chính trị xuống cấp biểu hiện ở luật pháp không nghiêm

Người dân mong rằng việc xử lý tham nhũng và những người thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng phải noi theo tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh.  Người dạy: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào và làm nghề nghiệp gì”. Và chính Người đã y án tử hình Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục quân nhu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp vì tội tham nhũng. Tính văn minh của một nhà nước pháp quyền không thể để tình trạng như hiện nay, 70% vụ án tham nhũng lại được hưởng án treo, còn những vụ việc lặt vặt lại phải vào tù.

Sự xuống cấp về văn hóa chính trị của cá nhân nhà chính trị là cái chết về đạo đức. Văn hóa chính trị xuống cấp ở một số biểu hiện nêu trên làm cho lòng dân không yên, giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Mà mất lòng tin là mất tất cả.

II

CÁI CHẾT GIEO MẦM CHO SỰ SỐNG

Cũng như Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuộc lớp người đặc biệt, cái chết gieo mầm cho sự sống, đời đời bất diệt theo cách nói của Phiđen Caxtơrô.

Triệu người lặng lẽ xếp hàng trật tự cả ngày dưới trời nắng, thâu đêm đến viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở 30 Hoảng Diệu. Hàng vạn người đứng dọc đường tiễn biệt Đại tướng và có mặt ở Vũng Chùa – Đảo Yến đưa ông về nơi an nghỉ cuối cùng. Đó là biểu hiện của lòng dân. Hình ảnh người dân xếp hàng đã được Hồ Chí Minh nói đến gần 70 năm trước: “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”. Lòng dân với Đại tướng là biểu hiện rực rỡ nhất triết lý của Nguyễn Trãi về dân: “Chở thuyền là dân. Lật thuyền là dân. Lật thuyền mới biết dân như nước”.

Dân xếp hàng mấy ngày để được nhìn Đại tướng lần cuối cùng không chỉ là sức dân, trí dân, lòng dân, quyền của dân nói với người đã khuất mà quan trọng hơn là nói với chúng ta, những người có trách nhiệm phục vụ dân, công bộc của dân, đày tớ của  dân, những người chủ mang ý nguyện của trời.

Cũng như Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trở thành văn hóa. Mà “văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên đi tất cả; là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả” (Edouard Herriot). Văn hóa Võ Nguyên Giáp quy tụ được lòng dân, và vì vậy, mãi mãi là Đại tướng của lòng dân./.

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG: Tin tuần từ 19/10-25/10 – NCBĐ

27 Th10

Thứ hai, 19 Tháng 10 2015 09:39 dinh tuan anh

Share:

-(Tuoitre 22/10) Trung Quốc đe dọa “đáp trả” nếu Mỹ tuần tra biển Đông: Phản ứng gay gắt của Tân Hoa Xã cho thấy sự lo ngại của chính quyền Trung Quốc với quyết tâm tuần tra của Mỹ; (Dantri 22/10) Vũ lực không phải là giải pháp cho vấn đề Biển Đông

-(Thanhnien 22/10) Biển Đông trong quan hệ Mỹ, Anh, Trung Quốc: Mỹ coi Biển Đông là một trong những vấn đề quan trọng còn Anh gần như chỉ chú trọng đến lợi ích kinh tế thương mại với TQ; (BĐV 22/10) Trung Quốc nói ngang ngược về hải đăng

-(Giaoduc 22/10) Mỹ triển khai tàu khu trục mạnh nhất can dự Biển Đông, ngăn chặn Trung Quốc: Tàu khu trục tên lửa USS Benfold Mỹ đã chính thức được triển khai ở căn cứ Yokosuka Nhật Bản; (Vnplus 21/10) Trung Quốc-ASEAN tham vấn về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông

-(Nlđ 21/10) Ngoại trưởng Philippines và Việt Nam cùng lên tiếng về Biển Đông: “Chúng ta có lợi ích chung về việc giải quyết những tranh chấp trên biển dựa trên luật pháp quốc tế;” (Zing 21/10) Trung Quốc xây thêm 2 hải đăng trái phép trên Biển Đông

-(Tienphong 21/10) Mỹ cảnh báo nguy cơ xung đột vũ trang ở biển Đông, đe dọa ổn định khu vực, nền kinh tế toàn cầu và liên quan tới Mỹ; (Giaoduc 21/10) Trung Quốc bành trướng Biển Đông còn nguy hiểm hơn rất nhiều so với khủng bố

-(Dantri 20/10) Cựu ngoại trưởng Úc kêu gọi điều tàu tuần tra Biển Đông: Hiện có 3 tàu của Hải quân hoàng gia Úc đang hoạt động trong khu vực Biển Đông; (BĐV 20/10) Khả năng công-thủ toàn diện của chiến hạm Mỹ đến Biển Đông

-(Vnexpress 20/10) Đề xuất tập trận chung ở Biển Đông của Trung Quốc gây ngờ vực khi Mỹ đang lên kế hoạch điều chiến hạm để thách thức yêu sách chủ quyền của nước này; (Vietnamnet 29/10) Bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông nhiều thách thức

-(Tuoitre 20/10) Ông Tập phát biểu gây hấn về biển Đông khi thăm Anh: “Các đảo và đá trên Biển Đông là lãnh thổ Cha ông đã để lại chúng cho chúng tôi;” (Thanhnien 20/10) Mỹ sẽ ‘sập bẫy’ Trung Quốc ở Biển Đông?

-(Vnexpress 19/10) Philippines chỉ trích Trung Quốc xây hải đăng ở Biển Đông và cho rằng đây là phương tiện để Bắc Kinh hiện thực hóa yêu sách chủ quyền; (Giaoduc 20/10) Tại sao Trung Quốc lại mời Hun Sen nói về Biển Đông tại “Hương Sơn luận kiếm”?

-(Vnexpress 19/10) Trần Công Trục: ‘Tàu tuần tra Mỹ không phải bảo bối ở Biển Đông’ và khó giúp thay đổi căn bản tình hình ở đây; (Tienphong 19/10) Bắc Kinh sẽ tìm cách từ từ ‘nuốt’ biển Đông

-(Tuoitre 19/10) Báo Trung Quốc kêu gọi đối đầu với Mỹ trên biển Đông trước thực tế hải quân Mỹ đang chuẩn bị hành động; Mỹ sẽ sớm điều tàu tới Biển Đông

-(Vnexpress 18/10) Malaysia tố Trung Quốc khiêu khích ở Biển Đông tại một diễn đàn an ninh mới được tổ chức tại Bắc Kinh; Toan tính của Trung Quốc khi xây hải đăng phi pháp ở Trường Sa

-(Giaoduc 18/10) Tập Cận Bình: Biển Đông của tổ tiên để lại, dùng “gia phả tự chế” đòi chủ quyền, không thể chỉ dựa vào vũ lực; (Vnplus 18/10) Mỹ thông báo sẽ sớm điều tàu hải quân tới Biển Đông

Nguyễn Văn Vĩnh và tờ báo Nước Nam mới đã từng được giải thưởng Grand Prix năm 1932 – VHNA

19 Th10

  •   NGUYỄN LÂN BÌNH
  • Thứ tư, 14 Tháng 10 2015 15:58
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
 
Nhà văn, nhà báo Nguyễn Văn VĩnhNhà văn, nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh

 

Một số tài liệu trong quá khứ, đặc biệt là nửa đầu thế kỷ XX ở Việt Nam, khi nhìn nhận về Nguyễn Văn Vĩnh đã nêu những nhận định rất chủ quan, phiến diện cùng sự thành kiến, thậm chí cả những sự quy chụp do những hoạt động của Nguyễn Văn Vĩnh trong lĩnh vực văn hóa rất rộng lớn, đa dạng và hoàn toàn mới lạ. Trong những góc tối đó, thường những cá nhân và tổ chức mang trong lòng những định kiến về Nguyễn Văn Vĩnh, bị chi phối với nhận thức mang tính suy diễn thiếu biện chứng rằng: kẻ giầu có – là kẻ bóc lột, kẻ giỏi giang – là kẻ thân cận với bộ máy cai trị, kẻ nổi danh – là kẻ xu nịnh, kẻ nói khác mình – là kẻ theo giặc….

Sự mặc cảm của những nhóm người này với một người như Nguyễn Văn Vĩnh, kẻ luôn coi canh tân là lý tưởng, là động cơ để tồn tại đã đẩy họ sang thái cực của sự bài bác. Nhóm người mang mặc cảm đó chỉ nhìn thấy một Nguyễn Văn Vĩnh tác phong không truyền thống (mặc âu phục), nói tiếng Tây (như Tây), lúc nào cũng sẵn sàng thẳng băng phê phán không phải chỉ những tập tục cổ hủ trong đời sống sinh hoạt, mà cả những gương mặt được coi là thần tượng, bất khả xâm phạm trong số đông, hệ quả của lối tư duy sùng bái… Trong khi, nói như nhà sử học danh tiếng Nguyễn Đình Đầu:“Cụ Vĩnh không thích nịnh ai, cũng không thích ai nịnh mình. Cụ không sùng bái ai và cũng không thích ai sùng bái mình. Cụ chống vua quan là vì thế!”(Phát biểu trong bộ phim tài liệu lịch sử Người Man di Hiện đại-2006).

Nhóm người mang tư tưởng chỉ trích Nguyễn Văn Vĩnh gồm cả trong hệ thống quyền lực và cả một bộ phận trong tầng lớp các nho sỹ là sản phẩm của nền giáo dục cựu học. Họ lo sợ tư tưởng của ông, sợ sự phát triển của dân trí, dẫn người dân đến nhận thức đầy đủ về nhu cầu phải được thay đổi tận gốc không phải chỉ hệ thống cai trị mà cả những tập tục nhiều đời trong lối sống, trong tập quán mà đó lại chính là công cụ gặt hái lợi ích, là nguồn thu của hầu hết các thành viên của bộ máy cầm quyền. Họ biện lý rằng đó là lề…là thói dưới danh nghĩa phong tục do tổ tiên để lại. Sự thành kiến đã đưa họ đến chỗ không quan tâm, không xem xét những nội dung, lời lẽ và tư tưởng của đối tượng mà họ đã mang nặng định kiến.

Nhìn lại quá khứ qua các sử liệu và di cảo do Nguyễn Văn Vĩnh để lại, hầu như những người chỉ trích ông không hiểu được bao nhiêu những lý lẽ mộc mạc, đôi khi pha chút sống sượng nhưng thực sự nghiêm túc và hoàn toàn có ích. Đáng tiếc vì tính bảo hoàng, họ đã dựng lên một sự ngăn cách kéo dài trước những tư tưởng mới mà Nguyễn Văn Vĩnh cho rằng không thể thiếu để xây dựng một xã hội phát triển như: tư duy lô zích, khả năng phản biện (biện chứng), khoa học triết học, giáo dục nhân văn, kỹ thuật công nghệ, văn hóa văn nghệ, y tế và thể thao…

NGƯỜI NAM MỚI

Xét quan điểm và suy nghĩ của Nguyễn Văn Vĩnh qua các trang viết, không ai không đồng ý rằng cả cuộc đời ông đã tận tâm tận lực, dồn tất cả trí tuệ và tài năng vào công cuộc xây dựng con chữ tiếng Việt (bảo vật quý của nước Tổ Việt-Lời tựa Tam Quốc Chí 1909). Ông lấy đó làm nhiên liệu để cho chạy cỗ máy văn hóa nhằm cải não và gieo mầm tri thức cho những người dân chân đất mắt toét, cực kỳ lạc hậu. Cỗ máy này là loại phương tiện mới lạ và đã trở thành thứ vũ khí duy nhất mà ông có trong tay, đó là làm báo. Ông tin gần như tuyệt đối rằng, báo chí chính là thứ vũ khí tuyệt diệu cho một cuộc đấu tranh để dẫn dắt một dân tộc trở nên thực sự độc lập về văn hóa, thoát ra khỏi vòng cương tỏa của lối sống hủ Nho bế tắc. Thứ vũ khí này sẽ giúp họ đến với nhận thức thế nào là nền dân chủ và phát triển, cơ sở cho sự tồn tại của một quốc gia độc lập.

Trong lịch sử tồn tại của Nhà nước Việt Nam, tất cả các thế lực ngoại bang đều tìm cách ngăn cản sự độc lập này, nhất là sự độc lập về văn hóa! Thậm chí, chính vì cái giá trị quan trọng đặc thù đó… nó đã giết chết Nguyễn Văn Vĩnh. Tuy nhiên, chắc chắn ông không hề nuối tiếc sự trả giá đó của mình.

Cần nhìn lại một cách hệ thống những diễn biến đã trở thành dấu ấn có tính chính trị quan trọng trong cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh, từ đó sẽ giúp xác định được tư chất, bản chất và phẩm chất của một con người hiếm gặp. Từ những sự việc này, ở một mặt khác, chúng ta cũng nhận thấy tính tích cực của nền dân chủ của một nước Pháp văn minh, và nó đã tự mâu thuẫn ra sao với chính sách kinh doanh thuộc địa hà khắc của Chủ nghĩa Thực dân khi họ áp dụng ở các nước nhược tiểu.

Hiểu được bản chất này, chúng ta sẽ không ngạc nhiên khi Nguyễn Văn Vĩnh giành được Giải thưởng Lớn – GRAND PRIX tại Hội chợ quốc tế về Báo chí Thuộc địa, tổ chức tại Paris năm 1932.

Nước Nam Mới được vinh danh

Nước Nam Mới mới đây vinh dự đón nhận Giải Lớn của Triển Lãm thuộc địa quốc tế tại Paris.

Cùng với Nước Nam Mới, chúng tôi đã trưng bày giới thiệu “Trung Bắc” và “Học Báo”. Hai tờ báo này  đã không có vinh dự nhận giải cành cọ.

Tấm bằng Giải Lớn do Ủy Ban Quốc Tế trao cho Nước Nam Mới rất đẹp, là hình ảnh thể hiện sự thành công của chúng tôi tại Pháp cũng như ở nước ngoài.

Chúng tôi chân thành cảm ơn các nhà chức trách về giải thưởng khích lệ này, cảm ơn các cộng sự gần xa đã đóng góp công lao quý giá cho sự thành công của chúng tôi.

Editor : Pascal De Lohen

Người dịch : Hương Giang.

NHỮNG DẤU ẤN CHÍNH TRỊ ĐẶC TRƯNG

1. Chính trị trong sáng.

Năm 1907, Đông Kinh Nghĩa Thục tan rã, Thủ lĩnh của Phong trào là Phan Châu Trinh bị Chính quyền Thực dân bắt giam, Nguyễn Văn Vĩnh mới 25 tuổi, là người bản xứ duy nhất đã điềm nhiên ký vào bản kiến nghị đòi Chính quyền phải trả tự do cho Phan Châu Trinh vì Phan Châu Trinh vô tội! Xin nhấn mạnh: phải trả tự do vì vô tội. Có nhiều tài liệu ghi lại rằng: các nhà yêu nước đã đòi Chính quyền ân xá, là một thực tế khác hẳn với nội dung hành động của Nguyễn Văn Vĩnh. Vì hành vi này, Nguyễn Văn Vĩnh nhận được ngay lời cảnh cáo tức khắc của một vị đại quan: “Đảo Côn Lôn còn rộng chỗ lắm đấy….Chú hãy liệu lấy!” (NXB. Nhất Tâm – Sài Gòn 1957). Sự kiện chính trị này đáp trả những ghi chép ngây ngô mang tính suy diễn của một số nho sỹ đương thời rằng, Nguyễn Văn Vĩnh không bị bắt vì là kẻ thân Pháp!!!

Các nho sỹ đó đâu có biết gì rằng năm 1906 Nguyễn Văn Vĩnh đã là người Việt Nam đầu tiên là thành viên của Hội Nhân quyền Pháp. Thậm chí khái niệm nhân quyền còn là một thứ xa lạ đối với xã hội đương thời. Họ cũng không thể hình dung được, vào thời điểm đó, những người Pháp đã phát hiện ra vô vàn những tố chất quý giá mà họ khao khát sở hữu cá thể đó để phục vụ cho chính sách cai trị, thôn tính An Nam trong lĩnh vực tư tưởng và văn hóa. Họ mới đi được nửa bước trong việc thai nghén một kế hoạch dài hạn để thu phục, biến Nguyễn Văn Vĩnh thành nhân tố đắc lực, toàn tâm toàn ý phục vụ cho một nước Đại Pháp. Vậy làm sao bắt Nguyễn Văn Vĩnh được?!

2. Chính trị hồn nhiên.

Vua Khải Định (1885-1925) được tấn phong năm 1916. Theo hệ thống hành chính cai trị của Thực dân Pháp, miền Trung có cơ quan đại diện được gọi là Tòa Khâm sứ. Tuy nhiên, theo thông lệ, nhà vua phải thực hiện việc yết kiến quan Toàn quyền Đông Dương (người có trọng trách cao nhất của nước Pháp ở Việt Nam-TG) như một hoạt động bắt buộc và Thủ phủ Toàn quyền được đóng tại Hà Nội.

Năm 1917, Đức Vua đã đi từ Huế ra Hà Nội. Ngài Toàn quyền Albert Sarraut (1872-1962) tổ chức buổi lễ khánh tiết trang trọng tại Dinh Toàn quyền (nay là Phủ Chủ tịch Hà Nội-TG). Tại buổi lễ, vị Quan Toàn quyền và Đức Vua đứng ở vị trí trung tâm để nghênh tiếp các đại diện của hệ thống cai trị cùng các đại biểu của các tầng lớp xã hội đến bái lạy cung kính (hai tay nắm vào nhau để trước ngực và cúi chào-TG) như một hình thức trình diện trước bề trên của các bề tôi dưới quyền.

Nguyễn Văn Vĩnh đi đầu trong nhóm các đại biểu của Hội đồng dân biểu Bắc kỳ (1). Khi đối diện với ngài Toàn quyền Đông dương, do đã biết nhau, quan Toàn quyền đã thản nhiên giơ tay bắt tay Nguyễn Văn Vĩnh theo nghi thức phương Tây. Chứng kiến cách hành xử của quan Toàn quyền với Nguyễn Văn Vĩnh, lại đứng sát bên ngài Toàn quyền, cộng với phong cách Âu hóa, Vua Khải Định cũng rất tự nhiên giơ tay bắt tay Nguyễn Văn Vĩnh… Nguyễn Văn Vĩnh với phản xạ bản năng, sau khi bắt tay ngài Toàn quyền cũng đưa tay bắt tay Đức Vua Khải Định.

Hành vi này của Nguyễn Văn Vĩnh là không thể được chấp nhận nhìn ở góc độ quan hệ vua tôi xét theo các quy định của triều đình phong kiến mang tính luật lệ. Việc bắt tay nhà vua là điều cấm kỵ vì đó là hành vi xâm phạm thân thể (Ngọc thể) của Đức Vua. Quy định của các triều đại phong kiến luôn luôn nghiêm cấm tuyệt đối việc đụng chạm đến thân thể Nhà Vua, mà theo cách gọi của thể chế chính trị đó được gọi là Long Thể.

Toàn bộ các quan trong triều đình có mặt tại buổi lễ đã hoảng hốt ồ to lên trong thái độ sửng sốt trước việc phải chứng kiến hành vi vi phạm luật pháp một cách trắng trợn của Nguyễn Văn Vĩnh. Ngay buổi chiều cùng ngày, cơ quan pháp luật của Triều đình Nhà Nguyễn đã dâng lên Đức Vua bản cáo trạng nghiêm khắc lên án hành vi xâm phạm Long Thể Đức Vua của Nguyễn Văn Vĩnh. Theo quy định hiện hành, việc xâm phạm Long Thể của Đức Vua là mắc trọng tội, được gọi là tội khi quân (coi thường Triều đình-TG) và chỉ có một hình thức xử phạt: Chém đầu!

Khi buổi khánh tiết kết thúc, lúc Nguyễn Văn Vĩnh đi qua trước mặt các quan trong Triều, họ đã không ngần ngại phỉ báng ông là kẻ bán nước…đồ phản quốc, đồ đi với Tây! Nguyễn Văn Vĩnh đã điềm tĩnh nói lại một cách nhẹ nhàng với các vị quan đó rằng:“Các ông bảo tôi bán Nước…Nước người ta đã bán từ bao giờ rồi còn đâu đến lượt tôi để mà bán !”.  

Đêm hôm đó, cả Hà thành lan truyền tin, Nguyễn Văn Vĩnh bị xử trảm! Tin tức bay nhanh chóng đến khắp các hang cùng ngỏ hẻm của đất Thăng Long. Gia đình Nguyễn Văn Vĩnh rơi vào cảnh hoảng loạn, sợ hãi vì lo lắng. Tuy nhiên, bản thân Nguyễn Văn Vĩnh lại có thái độ hoàn toàn bình tĩnh trước bối cảnh phức tạp này.

Thật khôi hài vì khi các quan của cơ quan luật pháp đệ trình bản tấu lên Nhà Vua với nội dung đề nghị trừng phạt thái độ khi quân của Nguyễn Văn Vĩnh bằng hình thức chém đầu, Vua Khải Định đã bật cười và nói: “Chuyện có thế mà đòi chém người ta, các vị kỳ quặc thật!”.

Những lời nói trên của Đức Vua đến tai Nguyễn Văn Vĩnh, ông thở phào nhẹ nhõm và sau sự kiện chính trị chấn động ấy, bà Nguyễn Văn Vĩnh (Đinh Thị Tính 1881-1965. TG) đã sinh hạ người con trai thứ sáu và được đặt tên là Nguyễn Kỳ (1918-2013-TG) như một sự ghi nhớ cái sự kiện đầy hoảng loạn và không thể quên này. (Theo ghi chép của Phạm Huy Lục, nhân sỹ danh tiếng Bắc kỳ – Viện Trưởng Viện Dân biểu Bắc kỳ giai đoạn 1932-1936)  

3. Chính trị mặc định.

Năm 1925, Nhà yêu nước Phan Bội Châu (1867-1940) trở lại Việt Nam từ Trung Quốc. Trong 30 năm đầu thế kỷ XX, Việt Nam thuộc địa trở thành môi trường đã sản sinh ra không ít những gương mặt có chí khí, có lý tưởng tốt đẹp hướng đến một xã hội bình đẳng và dân chủ do được nhận thức và tiếp thu từ chính kẻ đô hộ mình. Ngược lại, những gương mặt khả kính đó cũng đã trở nên bất mãn tột độ khi phải chứng kiến những phương thức cai trị cực đoan đúng bản chất thực dân, thể hiện mặt trái của một đường lối chính trị thiếu sức sống và không linh hoạt, xuất phát từ tư duy bảo thủ của một nước Đế quốc già cộng với lối nhìn miệt thị một dân tộc kém phát triển bị coi là hạ đẳng.

Thực tế trong lịch sử đô hộ của thực dân Pháp ở Đông Dương, rất nhiều những nhân vật người Việt có tấm lòng ái quốc chân chính, có trí tuệ đích thực, họ trân trọng những bản sắc và đặc điểm tiến bộ về tính nhân văn và nền khoa học phát triển của dân tộc Pháp. Họ thành thật hy vọng vào một sự tồn tại theo thuyết lý các bên cùng tồn tại, cùng phát triển và cùng hưởng lợi. Nhưng như đã lý giải, vì bản chất thực dân, họ đã khước từ khuynh hướng chính trị này. Họ chỉ chấp nhận một nguyên tắc hết sức ấu trĩ, đó là đối phương phải thuần phục một cách thuần túy theo kiểu chỉ biết nghe lời. Ở giai đoạn lịch sử này, họ đã xử sự với các nhân sỹ xuất chúng người bản xứ theo hướng con đường một chiều, trong khi họ hiểu rất rõ, rằng với cuộc sống dân chủ chỉ có đường một chiều khi đi về nghĩa địa!

Napoléon Bonaparte (1769-1821), một vị tướng danh tiếng trong lịch sử nước Pháp đã từng nói về quan điểm chỉ huy và cách nhìn người, đó là: “Một bầy cừu chỉ huy bằng một con sư tử nguy hiểm hơn một đàn sư tử dẫn đầu bằng một con cừu”.

Nhìn lại lịch sử cai trị của Chính quyền Thực dân Pháp, họ thường tỏ ra không tin vào bất kỳ một nhà yêu nước có bản lĩnh người bản xứ nào, bất chấp cả nguyện vọng thành thực về một sách lược cực kỳ quan trọng của các nhân sỹ Việt Nam thời đó hướng đến chủ trương Pháp Việt Đề Huề. Chính Thực dân Pháp đã đẩy những nhân sỹ người Việt chân chính theo chủ trương đó biến thành trò hề lịch sử dưới con mắt của hậu thế, của chính đối tượng mà họ đã bị thua trận. Biến những con người yêu nước chân chính đó thành những phần tử xấu để các lực lượng chính trị khác dè bửu, đặt những gương mặt đáng trân trọng đó vào vị thế của sự tầm thường và là những kẻ cơ hội trong lịch sử (2). Thật là sự tệ hại!

Ở đời, khi số phận đã dẫn hai chủ thể đến với nhau vì bất cứ căn nguyên nào, thì nguyên tắc cần có đầu tiên để mối quan hệ tay đôi đó tồn tại không gây phương hại cho nhau, đó là phải tôn trọng cái tối thiểu, cái quyền được sống, được tồn tại của mỗi bên. Thôn tính nhau vì sự nghi kỵ, không có lòng tin, dẫn đến việc tìm cách triệt hạ lẫn nhau là tối kỵ, vì sau đó sẽ để lại sự hằn thù dai dẳng. Làm sao người Pháp, một dân tộc gắn với Công giáo lại không biết vị thánh Francis of Assisi đã dạy bảo họ ra sao từ hàng trăm năm trước rằng: Không ai đáng để được gọi là một kẻ thù, tất cả đều là ân nhân của bạn, và không ai làm bạn bị tổn hại. Bạn không có kẻ thù, ngoại trừ chính mình.
Sự việc Nhà cầm quyền Thực dân Pháp làm mọi cách để loại bỏ những người bản xứ yêu nước chân chính như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và rất rất nhiều nhà yêu nước khác người Việt có thiện ý, thậm chí rất tin tưởng ở sự mở mang, khai sáng cùng tồn tại giữa đôi bên, đã thể hiện một chính sách hoàn toàn bế tắc và cực đoan của một thể chế chính trị trong lịch sử.

Vì thế, năm 1926, cơ quan An ninh cao nhất của Chính quyền Trung ương Chính phủ Thuộc địa đã bắt cả Nguyễn Văn Vĩnh. Họ bắt ông vì sau 20 năm, bằng những nỗ lực tổng hợp đầy tính toán và khá bền bỉ, họ đã bất lực trong việc khuất phục Nguyễn Văn Vĩnh đi theo con đường chính trị thực dân. Họ đã đánh giá rất cao năng lực và ảnh hưởng của Nguyễn Văn Vĩnh đối với xã hội An Nam (Émile Vayrac – Trưởng Phòng sách báo bản xứ), nhưng lại đánh giá thấp sự kiên định và lòng ái quốc bất tận của ông trong việc đấu tranh cho một xã hội bình đẳng, tự do, sản phẩm của những tư tưởng tiến bộ mà Nguyễn Văn Vĩnh đã học được từ chính nước Pháp.

Vào 8h30 ngày 15 tháng 5 năm 1926, cơ quan An ninh tối cao Phủ Toàn quyền Pháp tại Đông Dương đã tra vấn Nguyễn Văn Vĩnh về mối quan hệ với Phan Bội Châu (3) , về nội dung hai con người này đã bàn bạc trong kế hoạch phản đối đường lối và chính sách cai trị của Nhà cầm quyền. Họ còn hy vọng tách được mối quan hệ giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Bội Châu, họ lo sợ ảnh hưởng cách mạng của Phan Bội Châu sẽ lan tới Nguyễn Văn Vĩnh…Và đây là sự khôi hài.

Thông qua sự việc cụ thể này, một lần nữa chứng minh người Pháp thật ngây thơ trong việc hiểu Nguyễn Văn Vĩnh mà đáng ra họ phải hiểu nhiều hơn bất kỳ ai trong giai đoạn lịch sử đó. Đành rằng, không loại trừ việc họ đã rất hiểu Nguyễn Văn Vĩnh theo cái cách tư duy “một chiều” của họ.

Nguyễn Văn Vĩnh cũng như Phan Châu Trinh, họ đều giống nhau khi nhìn nhận về Phan Bội Châu (4) trong chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc. Nhưng sự khác nhau về quan điểm và khuynh hướng chính trị giữa những con người đầy chữ nghĩa đó hoàn toàn không phải là sự đối đầu để đi đến chỗ tìm cách xóa sổ lẫn nhau.

Ngược lại, họ đã thông qua đối thoại, thông qua trao đổi và gặp gỡ để hôm nay trước lịch sử của dân tộc mình, họ không hề phải ân hận và không bị hậu thế kết án là những kẻ cùng một mẹ mà đá nhau. Chỉ có loại người không hiểu biết nhưng vì huênh hoang vẫn muốn tỏ ra ta hiểu biết, nhất là khi giành được chỗ đứng quyền lực và phát ngôn để thể hiện sự làm dáng bằng cái tri thức què quặt, mới nói rằng: những nhân vật ngày xưa đó đã bêu riếu, chống đối lẫn nhau!

Kể cả ý kiến này được cho là đúng thì cũng chỉ mới đúng có 50%, trong khi tất cả mọi người đều biết câu ngạn ngữ hùng hồn và cực kỳ chí lý của người Nga: Một nửa cái bánh mỳ vẫn được gọi là bánh mỳ, nhưng một nửa sự thật là sự giả dối.

Năm 1929, Nguyễn Văn Vĩnh đã vào tận Huế để giao du với Phan Bội Châu. Hai người đã vi hành ra Cửa Thuận An (Xe nhà ông, ông cầm lấy lái..).- (Trích điếu văn của Phan Bội Châu in trên bìa 4 cuốn sách Nguyễn Văn Vĩnh là ai? NXB Tri Thức 2013) với khá nhiều những diễn biến tư tưởng được cả đôi bên bộc lộ và chứng kiến lẫn nhau thông qua các câu chuyện trong chuyến đi. Chuyến đi phải được gọi là lịch sử này giữa Nguyễn Văn Vĩnh và Phan Bội Châu đã biến thành sự ồn ào công khai ba năm sau đó (1932) trên mặt báo L’Annam Nouveau (Nước Nam mới). Nhưng cũng chính sự ồn ào có tính chính trị này mà khi Nguyễn Văn Vĩnh qua đời, Phan Bội Châu đã không dấu sự nuối tiếc, sự quý trọng và cả nỗi niềm sâu kín trong bài điếu gửi đến tang lễ Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8.5.1936 tại Hà Nội. “…Tôi đau cảm quá nên có mấy hàng chữ điếu ông…. Mây hạc sẽ về đâu ôi bạn ta ngọc báu của năm châu…”.

Chắc chắn trong lịch sử cận đại Việt Nam, mẫu hình tư tưởng chính trị như Nguyễn Văn Vĩnh khó có thể tìm thấy người thứ hai như ông. Nguyễn Văn Vĩnh dấn thân vào một cuộc đấu tranh cho sự tự do, sự bình đẳng và sự bác ái lấy điểm xuất phát từ nền tảng thứ nhất là văn hóa, là tri thức, là nghị lực của mỗi thành viên trong một xã hội cộng với việc học tập, tiếp thu những tiến bộ và thành quả của các dân tộc phát triển khác trong lịch sử tồn tại và đi lên của thế giới loài người. Điều này phải được hiểu và coi đó là sự phát huy nội lực!

Trong tất cả các di cảo mà Nguyễn Văn Vĩnh để lại, chúng ta sẽ không tìm thấy bất cứ một ý định nào, một lời cầu cạnh nào của ông hướng đến sự trông đợi ảnh hưởng hay sức mạnh của bất cứ một lực lượng ngoại bang nào.

Theo Nguyễn Văn Vĩnh, việc trao đổi trên mặt báo một cách trung thực và công khai về lý tưởng yêu nước và quan điểm chính trị phục vụ cho mục tiêu xây dựng một xã hội tiến bộ trước bàn dân thiên hạ chính là sức mạnh của một xã hội. Ông coi đó là giá trị của trí tuệ, của tính trung thực, của những con người có ý thức trách nhiệm với độc giả của mình. Tờ báo này của ông, không chỉ có những bài viết thể hiện những quan điểm của Nguyễn Văn Vĩnh về Phan Bội Châu, mà đối với cả Triều đình Huế trong đó có vua Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Phạm Quỳnh…. những chủ thể đang ở vị trí quyền lực. Ông cũng nghiêm túc đề cập đến những vấn đề liên quan trực tiếp cả hệ thống chính trị thuộc địa mà đứng đầu là ngài Toàn quyền Đông Dương Pierre Marie Antoine Pasquier (1877-1934).

Nguyễn Văn Vĩnh đã phơi bày tất cả những gì là yếu kém, là phi lý, là bất cập của toàn bộ hệ thống xã hội đương thời trên tờ báo này. Không chỉ phê phán, không chỉ vạch ra những bất công của các chính sách cai trị và cả các diễn biến xã hội ở khắp mọi mặt, Nguyễn Văn Vĩnh còn đưa ra những giải pháp khác nhau để yêu cầu khắc phục, thay đổi với mục đích để đạt đến hiệu quả tích cực nếu đem áp dụng. Đơn giản, ông chỉ muốn thấy một xã hội tiến bộ.

MỘT TỜ BÁO KHÔNG CÓ THỎA HIỆP

Ngay từ những số báo đầu của L’Annam Nouveau (Nước Nam mới), để chứng minh sự hợp lý và tính thực tiễn của học thuyết chính trị Trực trị (Anministration directe) do Nguyễn văn Vĩnh đề xướng, với mục tiêu loại bỏ bộ máy vua quan nhà Nguyễn, vì theo ông đó là một bộ máy bù nhìn, không có thực lực. Đồng thời, ông phê phán âm mưu hướng xã hội Việt Nam đến chủ trương duy trì chế độ Quân chủ Chuyên chế, mà theo Nguyễn Văn Vĩnh đó là sự cản trở đường tiến hóa của dân tộc Việt Nam, là tiếp tục nuôi dưỡng cơ hội cho tầng lớp trung gian hà hiếp và đè nén người dân lao động, lấy nền tảng chính trị theo tinh thần của bản Hòa ước Patenôtre ký giữa Triều đình Huế và Thực dân Pháp năm 1884.

Nguyễn Văn Vĩnh đã không ngần ngại cho đăng ngay bài: Những vụ áp phe chính trị (La politique des affaires). Cụ thể hơn, ông đã viết bài:Bản tường trình của ông Jules Ferry, bộ trưởng ngoại giao, chủ tịch hội đồng, về những vấn đề trong dự án luật của bản hòa ước 6/6/1884 nhân danh ông J.G tổng thống cộng hòa Pháp (Exposé des motifs du projet de loi du traité de 6 juin 1884 aux noms de M Jules Grévy Président de la RF (République Francaise) par M. Jules Ferry, Président de conseil Ministre des affaires étrangères). Hoặc để hiểu rõ hơn nhận thức chính trị của Nguyễn Văn Vĩnh, có thể đọc 3 bài liên tiếp với đầu đề là: Thể chế cho xứ Đông Dương (Le statut Indochinois) trên số báo 17, 18 và 19 tháng 4.1931.

Trên tờ báo tiếng Pháp này, một tờ báo mà dư luận xã hội thông qua những nhân vật danh tiếng thời đó đã thách đố và mỉa mai về khả năng tồn tại của Nguyễn Văn Vĩnh trước chính thể độc tài Vì sao Nguyễn Văn Vĩnh thành lập báo L’ Annam Nouveau (Nước Nam mới) 1931? ). Nhưng ông đã không lùi bước, bất chấp sự o ép gay gắt của toàn bộ hệ thống chính trị, thậm chí kèm theo cả sự đe nạt và hăm dọa ở mọi góc độ trong cuộc sống gia đình.

Các quý vị sẽ ngạc nhiên nếu có cơ hội tiếp cận với tờ báo tiếng Pháp đặc biệt này, vì về cơ bản, mọi công việc của tờ báo đều do một người lo toan, chịu trách nhiệm, đặc biệt là nội dung, số lượng cũng như chất lượng các bài viết làm sao để đảm bảo một tuần ra hai số với 8 trang khổ giấy 61cm x 45cm. Ở đây chúng ta chưa bàn đến các vấn đề nan giải khi làm một tờ báo như: vốn tài chính, xử lý các yêu cầu kỹ thuật, nguồn vật tư và các thiết bị cho công việc in và xuất bản hoặc hoạt động tiêu thụ… Nguyễn Văn Vĩnh, một “người nhà quê” đã viết hoàn toàn bằng tiếng Pháp và cho đăng, không thiếu về bất cứ một lĩnh vực nào trong xã hội đương thời, kể cả tình hình và những biến động lớn ở trong nước và trường quốc tế.

Những ví dụ về một số bài báo gây ấn tượng của Nguyễn Văn Vĩnh trên L’Annam Nouveau (Nước Nam mới):

  • Viện Dân biểu (Chambre des représentants). 3 bài liên tiếp đầu năm 1931.
  • Báo chí bản xứ tự do (La presse indigène libre). 6 bài liên tiếp.
  • Chế độ đút lót hối lộ muôn hình vạn trạng (La concussion sous ses différentes formes). 4 bài liên tiếp.
  • Bản án chế độ thuộc địa (Le procès du colonalisme). 3 bài liền.
  • Vấn đề rượu cồn (La question des alcools). 7 bài liền.
  • Hãy nói thẳng chuyện cái hiến pháp đích thực cần cho chúng ta (Parlons franc, la vraie constitution qu’il nous faut). 8 bài liền.
  • Cuộc đời mới và cuộc sống cũ (Vie moderne et vie aucienne). 12 bài liền.

Rõ ràng chúng ta khó có thể tin được rằng, một kẻ bị trị, làm Chủ bút một tờ báo viết bằng tiếng Pháp (do bị cấm viết bằng tiếng mẹ đẻ), thứ tiếng của kẻ cai trị mình, để đối chọi về chính trị với chính người Pháp, và nó lại được trao giải thưởng lớn tại chính quê hương của kẻ cai trị….là một điều hôm nay chúng ta khó hình dung. Nội dung viết của kẻ bị trị đó đã làm đau đầu nhức óc cả một bộ máy chính trị đến mức nào, nhưng đã làm hài lòng hội đồng chấm giải đến đâu? Là điều thật thú vị! Trường hợp nếu văn phong và trình độ Pháp ngữ của kẻ bị trị đó chỉ đạt đến ngưỡng thông thường theo kiểu làm báo để kiếm ăn thì chắc chắn sẽ không có chuyện nhận giải thưởng!

Lập luận trên đây nếu chỉ là suy diễn thì lý do gì mà năm 1935, Nhà cầm quyền lại phải tiếp tục “mặc cả” để Nguyễn Văn Vĩnh phải dừng bút, phải chấm dứt việc viết? Thậm chí còn cam kết sẽ xóa nợ nếu chấm dứt hoạt động.

Vậy là, con chữ, thứ mà nhân loại tìm ra khi qua đầu của một kẻ có trí tuệ nó sẽ mạnh đến mức nào?! Việc cương quyết không nhân nhượng chính quyền của Nguyễn Văn Vĩnh đã trở thành quyết tâm của Nhà Cầm quyền quyết định xiết nợ theo cách “Thỏa thuận” đi đào vàng để trả. Và họ đã thành công việc bẻ gãy một cây bút gây kinh hoàng cho chế độ cai trị vào tháng Ba năm 1936.

Những người làm báo ngày nay đâu có phải dễ cảm thông với tuyên bố ngay trên trang nhất của số báo đầu tiên của mình khi xuất bản tờ L’Annam Nouveau (Nước Nam mới) ra ngày 21.1.1931 tại Hà Nội như Nguyễn Văn Vĩnh:

“Báo L’ANNAM NOUVEAU tôn trọng chính quyền đã được lập nên, trọng con người của tất cả những đại diện của nó, nhưng không sợ ai và không nịnh ai”.

(L’ANNAM NOUVEAU Respecte l’autorite Étabelie danns la personne ces tous ses representants mais ne craint personne et neflatte personne).

Đọc lại một trong nhiều quan điểm nêu trong tuyên ngôn của Nguyễn Văn Vĩnh có thể ai đó trong chúng ta trộm nghĩ: Sao ông lại liều đến như vậy?

Không! Nguyễn Văn Vĩnh không liều, ông không hề là kẻ ấu trĩ để nhắm mắt dũng cảm, vì xét cho đến cùng, sự dũng cảm nào của con người cũng để đem đến một cái gì đó, trong khi thể chế chính trị đương thời đã quá một lần cam kết sẽ dành cho ông nhiều cái gì đó, kể cả danh và lợi. Nào Bắc đẩu Bội tinh, nào chiếc ghế quan Thượng thư (Bộ trưởng-TG), nào xóa nợ… Nguyễn Văn Vĩnh đã không hề như kẻ nào đó với lối sống hám lợi và háo danh, suy từ bụng họ ra bụng người khác để gán cho ông cái sự tầm thường vì ông chỉ mong một cuộc sống tối rượu sâm panh, sáng sữa bò!

Nguyễn Văn Vĩnh chỉ đơn giản chứng minh quyết tâm và lòng trung thực của mình dành cho việc xây dựng một nền dân chủ thực sự, một sự bình đẳng khi người ta là con người, và ngăn chặn được mức độ nào đó sự tiếp tục tha hóa của một xã hội mà đáng lý ra nó đã không phải rơi vào thảm cảnh như ông chứng kiến.

Thật bất công vì nửa thế kỷ sau, vẫn còn những người không muốn nhìn nhận và coi đó là sự hy sinh dũng cảm của Nguyễn Văn Vĩnh, họ không tin tiền nhân đã gọi Nguyễn Văn Vĩnh là người công dân vĩ đại. Điều này chỉ làm cho hậu thế thêm ngờ vực…

Còn quá nhiều điều để bàn về những lý tưởng mà Nguyễn Văn Vĩnh đã theo đuổi trong suốt một chiều dài lịch sử. Đáng tiếc và thật tệ hại khi một xã hội vì quá thực dụng, nên đã thiếu mặn mà với những lĩnh vực không đem lại những món lợi tiền bạc. Đó là còn chưa kể đến vẫn tồn tại những định kiến mơ hồ, ngấm ngầm ngăn cản cả những ai muốn tìm đến sự thật (kể cả chính hậu duệ của ông), để rồi theo thuộc tính, người ta sẽ chỉ chép miệng khi nghĩ đến đề tài Nguyễn Văn Vĩnh. Và nếu nhận thức này không sai thì chúng ta sẽ mãi mãi sống trong sự bất lực vì day dứt như đầu đề của một bài viết trên VNN ngày 4.7. 2015 rằng: Có những giá trị người đã rời bỏ thế gian…Điều này không khác gì tội lỗi!

CÁI KẾT BI THẢM NHƯNG BẤT KHUẤT

Việc tháng 12 năm 1935, Nhà Cầm quyền Thực dân vì lo sợ tư tưởng dân chủ của Nguyễn Văn Vĩnh như một sự vạch mặt chính trị, đặt hệ thống cai trị vào ghế của những kẻ tội lỗi trong việc áp bức một cách tàn nhẫn người dân Việt Nam không phải chỉ về vật chất, mà cả về cuộc sống tinh thần, đối lập với tinh thần cách mạng vĩ đại của Công xã Paris 1789 là Tự do – Bình đẳng – Bác ái. Và họ đã o ép đến nhẫn tâm để Nguyễn Văn Vĩnh phải rời bỏ tờ báo yêu quý của mình với lý do rất hạ tiện: vay tiền ngân hàng phải trả gấp, đủ thấy cái đê tiện của một thể chế chính trị bế tắc và suy yếu.

Nếu ai đó biết và hiểu được vai trò ghê tởm của tổ chức SDECE, một tổ chức chuyên thực hiện việc thủ tiêu những nhân tài, những nhà chính trị danh tiếng của các nước thuộc địa của nước Pháp trong thế kỷ XX, thì lại càng thấy chua chát khi những người nhân danh bảo vệ lịch sử, bảo vệ truyền thống, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc đã lập lờ trong việc vinh danh những cống hiến của Nguyễn Văn Vĩnh trong lịch sử phát triển văn hóa, văn học chữ Quốc ngữ, niềm tự hào bất tận của dân tộc Việt Nam. Điều này có thể được hiểu như một sự chối bỏ hay đồng ý với cách xử thế của Chính quyền Thực dân với Nguyễn Văn Vĩnh hay không?

Xét cho đến cùng, đúng như Nguyễn Văn Vĩnh đã xác định khi trao đổi với nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) trên tờ báo định mệnh L’Annam Nouveau (Nước Nam mới) 1931-1936 về quan điểm yêu nước của Phan Bội Châu được công khai trên các số báo năm 1932, ông đã nêu:

“Cái hố sâu ngăn cách một nhà Nho chân chính như ông, người không còn tin vào những tư tưởng lẫn những phương pháp của quá khứ, với một người man di hiện đại như tôi, sản phẩm của một nền giáo dục hỗn tạp và khiếm khuyết, đang muốn tìm một vài chân lý trong cùng cái quá khứ đó, mà tôi, tất nhiên cũng không biết gì hơn ông Kháng, dù sao, cái quá khứ đó cũng hiện lên đối với tôi như một nguồn sức sống và ánh sáng chưa được biết tới. Chúng ta đã gặp nhau trên cùng một con đường, ai cũng cho là mình đi đúng hướng…chẳng qua vì con đường đó chưa có. Giống như, rốt cùng, cả hai chúng ta đều đang đi tìm chân lý, thì không nhất thiết cứ phải đi theo cùng một hướng!”

C’est la fossé séparant le vrai lettré qu’il est et qui ne croit plus aux idées ni aux méthodes du passé, du barbare moderne que je crois être, produit d’une éducation mixte et incomplète, qui essaie de trouver quelque vérité dans ce même passé qu’il ne connait certainement pas autant que M. Khang, lequel lui apparait néanmoins comme une source méconnue de vie et de lumière.

Nous nous croisons sur le chemin et chacun de nous prétend aller du bout côté précisément parce qu’il n’y est pas encore. Comme, après tout, nous allons tous deux à la recherche de la verité, il n’est pas indispensable d’aller dans la même direction.

(Người dịch từ Pháp văn Đào Hùng)

Chú thích:

1Viện Dân biểu Bắc Kỳ (tiếng Pháp: Chambre des Représentants du Peuple du Tonkin), được thành lập ngày 10 tháng 4 năm1926 theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương Alexandre Varenne, là một cơ quan tư vấn cho chính quyền Bảo hộ của người Pháp ởBắc Kỳ. Viện Dân biểu Bắc Kỳ có nhiệm vụ góp ý kiến cho chính quyền khi được tham vấn, nhưng tuyệt đối cấm bàn về chính trị, và muốn thảo luận thêm vấn đề gì, phải được phép của Thống sứ Bắc Kỳ (Wikipedia).

 2. Văn kiện Đảng Cộng sản Đông dương giai đoạn 1929-1935. Trang 290 và 437. NXB. Sự Thật năm 1964.

 3. Tài liệu lưu trữ của Trung tâm lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp. Toàn bộ nội dung văn bản này cùng mã số quốc gia sẽ được trình bày trong bài biết tiếp theo có tựa đề: Cái đầu tiên thứ 9.

4. Phan Châu Trinh toàn tập, tập 3, trang 66-68. NXB. Đà Nẵng 2005.

  

Quan hệ Việt – Mỹ: Từ “Đối tác toàn diện” đến “Lòng tin chiến lược” – VHNA

19 Th10

 

Dưới đây là trao đổi sau Tọa đàm về “Con đường tơ lụa” của Trung Quốc tại Hà Nội ngày 20/6 và nhân chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hoa Kỳ từ 6 – 9/7. Tham gia trao đổi có: GS-TS Trần Ngọc Vương, Đại học KHXH&NV, NNC Lâm Bảo, nguyên Phó Đại sứ ta ở Anh và TS. Đinh Hoàng Thắng, nguyên Đại sứ ta tại Hà Lan và n báo Phan Văn Thắng. Cuộc nói chuyện này đã diễn ra từ tháng 7/2015.

Phan Văn Thắng:Thay mặt độc giả VHNA, cám ơn các nhà nghiên cứu đã tham gia “bàn tròn” này. Gợi ý đầu tiên, đề nghị các chuyên gia nêu bật ý nghĩa lịch sử liên quan đến chuyến thăm Washington của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng?

GS. Trần Ngọc Vương:Rõ ràng đây là chuyến thăm lịch sử, xét từ nhiều chiều kích. Về song phương, đây là thời điểm chuyển mình của quan hệ Việt-Mỹ, sau 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao, giờ đây bước sang “pha” tiếp theo, đó là giai đoạn hai nước cam kết sẽ thúc đẩy các mối quan hệ mọi mặt để thành công hơn nữa. Đặc biệt cả Mỹ lẫn Việt Nam đều nhấn mạnh đến quá trình hướng tới một chất lượng cao hơn, chất lượng của “lòng tin chiến lược” trong các mối quan hệ. Về khu vực cũng như trên toàn cầu, chuyến thăm xẩy ra vào một thời điểm then chốt, đó là lúc tất cả mọi nước: Mỹ, Trung Quốc, các cường quốc hạng trung trong khu vực, các nước ASEAN đều đang triển khai trên thực tế các chiến lược của mỗi nước đã tuyên bố mấy năm nay. Nhưng sở dĩ nói “then chốt” là vì nay là lúc Trung Quốc, một quốc gia đang trên lộ trình vươn lên thành siêu cường đã có hàng loạt các tuyên bố lẫn hành động muốn thay thế trật tự hiện hành bằng một trật tự mới, có tên là “Trật tự Trung Hoa”. Đây cũng chính là căn nguyên sâu xa của mọi căng thẳng hiện nay trong quan hệ Việt-Trung cũng như trong quan hệ giữa Trung Quốc với các nước trong khu vực.

TS. Đinh Hoàng Thắng:Nếu theo dõi một loạt bài viết trên truyền thông của Mỹ, dịp này, các bỉnh bút đều tập trung vào chủ đề “Pax Sinica replaces Pax Americana”, nghĩa là “Trật tự Trung Hoa đang thay thế trật tự Hoa Kỳ”. Hẳn nhiên, việc thay thế này sẽ không phải diễn ra trong một tháng hay một năm và cũng không phải chỉ giờ đây, báo chí Mỹ mới cảnh báo cái nguy cơ này. Đây là câu chuyện của vài ba thập kỷ tới và câu chuyện này cũng đã được dấy lên cách đây dăm bảy năm nếu như không nói là còn sớm hơn. Tuy nhiên, các cảnh báo này lại nóng lên vào thời điểm hiện nay chính là do hàng loạt các hoạt động phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông trong mùa Hè 2015 này; và không chỉ hung hăng trong hành động, họ còn “ngồi xổm” lên luật quốc tế và luật biển hiện hành khi tuyến bố việc họ bồi đắp gần chục đảo đá tại Hoàng Sa và Trường Sa (phần thuộc về chủ quyền của Việt Nam) là xây dựng trên vùng biển đảo thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Nguyên văn ông Ngoại trưởng Trung Quốc nói họ xây dựng các đảo này như là xây trong “ao nhà” của họ vậy.

Xem thế, ý nghĩa lịch sử liên quan đến chuyến thăm Washington của Tổng Bí thư còn ở chỗ: Đây là lần thứ ba, người có cương vị đứng đầu trong hệ thống chính trị ở Việt Nam, nối bước tiền nhân, thực thi một cuộc khảo nghiệm các nỗ lực để thoát khỏi “gọng kìm” định mệnh không chỉ từ “thiên triều”, mà còn từ các nước lớn khác, đè nặng lên số phận của Việt Nam. Kết quả của cuộc khảo nghiệm lịch sử này có thể chúng ta chưa thể biết ngay, vì các thỏa thuận ngoại giao cấp nguyên thủ đều mang tính “tuyệt mật”. Nhưng “đọc giữa hai dòng chữ” các Tuyên bố chung ký kết dịp này giữa Tổng Bí thư Việt Nam và Tổng thống Mỹ, chúng ta sẽ “ngộ” ra được nhiều điều.

Phan Văn Thắng:TS. Đinh Hoàng Thắng có thể nói rõ thêm về hai lần trước và những cái mà ông cho là “ngộ” ra nhiều điều qua lần này?

TS. Đinh Hoàng Thắng:Các công trình nghiên cứu lịch sử và ngoại giao đã nói khá kỹ. Tôi chỉ tóm tắt lại thôi. Lần thứ nhất là cố gắng của vua Tự Đức vào những năm 1848-1883.Trong luận văn Tiến sỹ của Giảng viên Đại học Tokyo Tsuboi, vị GS người Nhật đã phân tích những nỗ lực của vua Tự Đức nhằm cứu vãn chủ quyền đất nước nhưng không thành công. Tự Đức tin vào Thiên triều theo một lối mòn của tư duy giáo điều Nho giáo: nước lớn phải có bổn phận bênh vực, che chở nước nhỏ, mà không biết hoặc biết một cách rất lơ mơ rằng chính “Thiên triều” lúc bấy giờ đang rơi vào thảm trạng bị xâu xé, không đủ sức ngay cả việc tự vệ chứ đừng nói tới chuyện giúp cho quốc gia khác! Thay vì thoát khỏi gọng kìm, hoạt động ngoại giao của chính quyền, vừa triều cống Trung Hoa, vừa cầu hòa với Pháp đã dẫn đến các xung đột mà chiến trường lại diễn ra ngay trên đất Việt Nam. Lần thứ hai là những nỗ lực của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào giữa thập niên 1950.Cụ Hồ đã tìm cách “kết nối” với chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm, tìm cách hiệp thương giữa hai miền, nhưng rồi cả hai vẫn không tránh được cuộc chiến mà người Mỹ gọi là “chiến tranh Việt Nam”. Giờ đây thì chính người Mỹ cũng cay đắng nhận ra đấy là một cuộc chiến sai về mọi mặt, chọn thời điểm, chọn đối phương và chọn cách tiến hành đều sai lầm…

“Tuyên bố về viễn cảnh của quan hệ đối tác toàn diện” và “Tuyên bố về tầm nhìn đối với hợp tác quốc phòng” giữa Hoa Kỳ và Việt Namđều bao hàm các chất lượng chiến lược và các chiều kích về “lòng tin chiến lược” giữa hai quốc gia vốn đã xác quyết vượt lên chính “hội chứng ý thức hệ” để thúc đẩy các mối bang giao mà các nhà ngoại giao lẫn các nhà lập pháp Hoa Kỳ từng tuyên bố là “không gì không thể”trong việc kiến tạo nên mối quan hệ năng động hàng đầu này ở Đông Nam Á hiện nay. Ngoại giao Nguyên thủ mở ra ngoại giao Nguyên thủ. TBT Nguyễn Phú Trọng chưa đặt chân lên đất Mỹ nhưng phía Hoa Kỳ đã cam kết Tổng thống Obama sẽ thăm Việt Nam cuối năm 2016. “Chậm còn hơn không”. Đấy là lời an ủi cho những người bi quan. Còn những người lạc quan thì nhìn nhận, mọi chuyện liên quan đến lộ trình quan hệ Việt-Mỹ đều nằm trên một đường ray và cứ như thế tiến về phia trước, khỏi cần phụ thuộc vào “sự chống lưng” nào cả.

 Phan Văn Thắng:Nếu nói về những nỗ lực xây dựng và thúc đẩy quan hệ Việt – Mỹ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo tôi cần thiết phải nhắc lại mối liên hệ, cộng tác của Việt Minh với người Mỹ, với OSS[quan tình báo Hoa Kỳ  – U.S Office of Strategic Services] trong những năm 1945 – 1946. Thưa các ông, dựa trên sự đón đợi từ cả hai phía và các công việc chuẩn bị từ mấy tháng nay của các đoàn tiền trạm, đề nghị các ông nói cụ thể hơn về các kết quả hữu hình của chuyến thăm cấp cao này?

GS. Trần Ngọc Vương:  Nêu lên các viễn kiến về quan hệ “đối tác toàn diện” giữa hai nước nghĩa là khẳng định trên thực tế về các chất lượng chiến lược của mối bang giao. Ở đây, ngoài các thỏa thuận mới về chính trị-an ninh và kinh tế-thương mại, điều nổi bật khác trước đây là các hoạt động về ngoại giao nhân dân. Quan hệ giữa con người với con người, giữa các tầng lớp nhân dân với nhau tới đây rất quan trọng. Theo kết quả nghiên cứu của Viện PEW (ở Mỹ) công bố gần đây, 78 phần trăm người Việt Nam được khảo sát cho biết họ có cái nhìn tích cực về Hoa Kỳ, tăng 2 phần trăm so với năm 2014, trong khi chỉ có 13 phần trăm nói ngược lại. Quan điểm này tương đồng với đa số các nước mà PEW khảo sát, cho thấy Mỹ được quốc tế nhìn nhận với thái độ phần lớn là tích cực, 69 phần trăm.

Một kết quả khác, chưa hẳn đã là hữu hình, nhưng chuyến thăm của ông Trọng đã đặt ra và tôi cầu mong nó đạt được, ít nhất là một phần nếu như không nói là tất cả. Đó là tiến tới sự thay đổi trong tư duy của lãnh đạo cũng như của người dân đối với vị thế quốc tế của Việt Nam qua chuyến đi này. Yêu cầu thay đổi trở nên cấp bách đến mức, nếu chúng ta vẫn giữ não trạng cũ, vẫn suy nghĩ về Mỹ, về Trung Quốc, về các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam theo kiểu cũ, thì chúng ta lại sẽ lao vào vết xe đổ của tiền nhân. Nghĩa là chúng ta sẽ khó thoát khỏi được các “gọng kìm lịch sử” như đã nói ở trên. Và kết cục, chúng ta sẽ bị/hoặc sẽ được lịch sử ghi danh như “những anh hùng lạc thời đại”. Qua thỏa thuận về TPP và các thỏa thuận quan trọng khác, hy vọng sẽ tìm được phương thuốc hữu hiệu cho các vấn nạn về kinh tế-xã hội cũng như các đe dọa về an ninh đối với chúng ta hiện nay.

Phan Văn Thắng:Vậy câu chuyện TPP là câu chuyện của kinh tế hay an ninh là chính?

NNC Lâm Bảo:Cả hai. Đây là một thỏa thuận toàn diện bao quát tất cả các khía cạnh chính của một hiệp định thương mại tự do, bao gồm trao đổi hàng hóa, các quy định về xuất xứ, can thiệp, rào cản kỹ thuật, trao đổi dịch vụ, vấn đề sở hữu trí tuệ, các chính sách của chính quyền. Mục tiêu hàng đầu của TPP là xóa bỏ các loại thuế và rào cản cho hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên. Vì lý do này, TPP là một hiệp định mang tính bước ngoặt, sẽ làm thay đổi cuộc chơi trong nền thương mại Việt Nam và quốc tế.

GS. Trần Ngọc Vương:Khẳng định TPP là một thỏa thuận thương mại có tiêu chuẩn cao nhất từ trước đến nay trong lịch sử. Song chúng ta không được quên rằng, nhân quyền vẫn đang là một trọng tâm trong chính sách ngoại giao và thương mại của Hoa Kỳ. Tổng thống Obama từng nói, Việt Nam sẽ phải thực sự thay đổi chính sách và cải thiện tiêu chuẩn cho người lao động. Việt Nam phải thiết lập được mức lương cơ bản, phải thông qua luật về điều kiện an toàn lao động và bảo vệ công nhân.…. Điều này cũng sẽ tạo ra sự thay đổi. TPP sẽ giúp tạo ra sân chơi công bằng và mang lại lợi ích cho người lao động Việt Nam. Đó chính là sự tiến bộ.

NNC Lâm Bảo:Khi nói về TPP, đúng là có một số băn khoăn về các vấn đề liên quan đến lao động. Tại sao Mỹ lại quan tâm đến giới lao động, cả về mặt vật chất (lương tối thiểu) lẫn về tinh thần (tổ chức công đoàn). Thật ra, trên thực tế, nếu giới lao động ở Việt Nam được thụ hưởng lợi ích từ cả hai mặt này thì sẽ tốt cho sản xuất và nhà đầu tư nước ngoài có thể yên tâm. Tôi tin rằng, xuất phát từ lợi ích quốc gia của mỗi nước, Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục thương lượng để đi đến đồng thuận.

Phan Văn Thắng:Theo các chuyên gia, tại sao người ta nói làm kẻ thù của Mỹ dễ hơn làm bạn với Mỹ? Ý nghĩa của nhận xét này là gì?

GS. Trần Ngọc Vương:Đây là câu cửa miệng của các nhà phân tích chính sách từ các nước đồng minh thân cận của Mỹ. Triết lý của nhận xét này là đề cập đến tính thực tiễn và sự sòng phẳng của người Mỹ, chính xác hơn là của chính giới Mỹ. Cái gì mà phù hợp với lợi ích của nước Mỹ thì họ bảo vệ và chiến đấu đến cùng, khi không phục vụ cho lợi ích quốc gia thì họ buông bỏ một cách không thương tiếc. Có nhiều ví dụ trong thực tiễn. Chính đó cũng là một trong những thành tố làm nên thứ mà ở ta một thời chê bai là “chủ nghĩa thực dụng Mỹ”. Nước Mỹ có hai đảng thay nhau cầm quyền, nhưng đảng nào cũng đặt lợi ích quốc gia Mỹ lên hàng đầu, bởi nếu đảng nào không làm thế, chắc chắn cử tri Mỹ sẽ lập tức hạ bệ họ! Việc nước Mỹ rút khỏi VN đầu những năm 1970 là một điển hình. Cũng như bây giờ, họ tuyên bố, trở lại châu Á, trở lại để ở lại. Tất cả là xoay quanh đánh giá của họ về Trung Quốc. Trước đây họ coi nặng mặt “đối tác chiến lược” của Trung Quốc, nay họ nhấn mạnh đến khía cạnh Trung Quốc là “đối thủ cạnh tranh”. Nhưng mẫu số chung cao nhất của nước Mỹ là bảo vệ ưu thế vượt trội của mình trong khu vực châu Á-TBD cũng như trên toàn cầu. Sỡ dĩ nói làm bạn với Mỹ khó là vì quốc gia anh phải “thiết kế” chính sách như thế nào để quá trình triển khai chính sách của anh không làm hỏng tiến trình “xoay trục” hay “tái cân bằng” của chính họ.

Phan Văn Thắng:Vậy khả năng khi nào Mỹ và Việt Nam có thể trở thành “Đối tác chiến lược” của nhau?

TS. Đinh Hoàng Thắng: Việt Nam có câu “Cái gì cần đến sẽ phải đến”. Toàn bộ diễn tiến chuyến thăm của Tổng Bí thư tại Mỹ cho đến nay diễn ra thuận lợi. Theo dõi các tin tức liên quan đến hội đàm cũng như các cuộc tiếp xúc, chúng ta càng hiểu thêm tinh thần lạc quan của các nhà ngoại giao hàng đầu Việt – Mỹ. Họ là các đại sứ của Mỹ ở VN và các đại sứ của VN ở Mỹ, đều đánh giá rằng, quan hệ đối tác Việt – Mỹ hiện nay, thực chất đã đạt được nhiều tiêu chí của “Đối tác Chiến lược”. Ở đây, chúng ta hiểu giữa hai nước còn tồn tại một số nhìn nhận khác biệt về các vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền. Nhưng như chính Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói trước hôm lên đường qua Mỹ, chuyến thăm của ông là một dịp để hai bên có thể trao đổi thẳng thắn về các vấn đề mà hai bên còn có những khác biệt, nhằm góp phần vào việc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, giảm bớt khác biệt, từng bước xây dựng lòng tin giữa hai bên nhằm đưa quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ ngày càng hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

NNC Lâm Bảo:Năm 2013, Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ký Tuyên bố về “Đối tác Toàn diện”. Mới đây, Bộ trưởng Quốc phòng hai nước đã ký “Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng”. Lần này, hai nước lại ký tiếp các Tuyên bố nhằm mở rộng vaftais khẳng định các cam kết này. Những văn kiện mang tính pháp lý cao sẽ cấu thành một bộ khung cho các quan hệ song phương, trong bối cảnh Việt Nam sẽ tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12 vào đầu năm 2016, thông qua chiến lược trong 5 năm tới. Như vậy, quy chế “Đối tác Chiến lược” sẽ như một cam kết “hôn nhân vì lẽ phải”, chắc chắn sẽ diễn ra trong tương lai gần.

Phan Văn Thắng:Cảm ơn các ông đã tham gia cuộc trao đổi. Xin chúc cuộc viếng  thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ đạt nhiều kết quả tốt đẹp, mở ra một kỷ nguyên mới trong quan hệ Việt – Mỹ./.

NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG: Tin tuần từ 12/10-18/10 – NCBĐ

19 Th10

Thứ hai, 12 Tháng 10 2015 08:41 dinh tuan anh

Share:

-(TP 16/10) Đi lại tại biển Đông không phải hành động khiêu khích: Reuters ngày 15/10 dẫn lời một tướng hải quân Mỹ; (Vnplus 15/10) Hoạt động của thành phố Tam Sa không có cơ sở pháp lý nào

-(Zing 15/10) Ấn Độ ủng hộ Philippines về vấn đề Biển Đông đồng thời muốn các bên giải quyết vấn đề một cách hòa bình; (Baodatviet 15/10) Tàu Mỹ tại Biển Đông: Không thể tồn tại khi thực chiến

-(RFI 15/10) Úc từ chối tuần tra Biển Đông cùng với Hoa Kỳ: Đây là tuyên bố của Bộ trưởng Thương mại Úc ông Andrew Robb trong cuộc trả lời phỏng vấn của hãng thông tấn Bloomberg; (Thanhnien 15/10) Báo Trung Quốc khoe vũ khí trên không ‘khống chế Biển Đông’

-(Dantri 14/10) Mỹ thảo luận kế hoạch tuần tra Biển Đông với Úc trong cuộc gặp kéo dài 2 ngày tại thành phố Boson – Mỹ; (Thanhnien 14/10) Hành động của Trung Quốc ở Biển Đông khiến châu Á và Mỹ xích lại gần nhau

-(PLTP 14/10) Tại sao Mỹ quyết liệt tuần tra biển Đông?: Trước một Bắc Kinh hung hăng, Mỹ đã quyết định là tăng cường “sức mạnh cơ bắp” tại biển Đông; (Vnplus 14/10) Quân đội Mỹ sẽ hoạt động bằng tàu, máy bay trong Biển Đông

-(VOA 13/10) Philippines hoan nghênh Mỹ tuần tra Biển Đông là “quan trọng cho việc bảo vệ tự do lưu thông hàng hải ở các khu vực tranh chấp;” (Vnexpress 13/10) Mỹ dùng chiến hạm ngăn Trung Quốc ‘nuốt lời hứa’ ở Biển Đông

-(BĐV 13/10) Mua gấp tiêm kích F-16 Mỹ vì tình hình Biển Đông: Sự lộng hành của Trung Quốc tại Biển Đông dường như đã khiến Indonesia không thể đứng nhìn; (Zing 13/10) Trung Quốc sẽ điều tàu gì để ngăn Mỹ trên Biển Đông?

-(ANTĐ 13/10) Mỹ sẽ kiểm tra cam kết của Trung Quốc ở Biển Đông bằng việc tiến hành tuần tra xung quanh các đảo nhân tạo của nước này; (NLĐ 13/10) Mỹ – Nhật – Ấn tập trận “chọc giận” Trung Quốc

-(Dantri 12/10) Mỹ thách thức Trung Quốc ở Biển Đông: Tư lệnh hạm đội 3 Mỹ cho hay hạm đội có thể dễ dàng hoạt động tại tây Thái Bình Dương vì có mọi loại chiến hạm; (Giaoduc 12/10) Mỹ do dự, Nhật sẽ nhảy vào Biển Đông nếu Trung Quốc gây chiến

-(Thanhnien 11/10) Trung Quốc sẽ xây thêm hải đăng phi pháp ở Biển Đông sau khi khánh thành 2 ngọn hải đăng phi pháp ở Đá Châu Viên và Đá Gạc Ma của Việt Nam; (Baodatviet 11/10) Trung Quốc ngang ngược trước mắt Mỹ

-(Thanhnien 11/10)  Trung Quốc lôi kéo học giả nước ngoài vào tranh chấp Biển Đông khi đang “bơm tiền” vàotrường đại học Nam Kinh để thực hiện một dự án nghiên cứu những vấn đề liên quan đến Biển Đông; (Dantri 11/10) “Ao làng” của Trung Quốc

%d bloggers like this: