Tag Archives: Phan Bội Châu

Phan Bội Châu và công cuộc vận động đồng bào Thiên Chúa giáo ở đầu thế kỷ XX – VHNA

13 Th9

Phan Bội Châu và công cuộc vận động đồng bào Thiên Chúa giáo ở đầu thế kỷ XX

  •   Đặng Huy Vận(*)
  • Thứ tư, 11 Tháng 9 2013 11:16
 

Phan Bội Châu và công cuộc vận động đồng bào Thiên Chúa giáo ở đầu thế kỷ XX

 

LTS: Phan Bội Châu [1867 – 1940] – “Bậc anh hùng, vị thiên sứ, đấng xả thân vì độc lập, được 20 triệu con người trong vòng nô lệ tôn sùng” [Hồ Chí Minh] là nhân vật trung tâm của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đầu TK XX. Không chỉ là nhà đại ái quốc, ông còn là nhà văn hóa lớn. Trên con đường tranh đấu của mình, ông đã nhận thức sâu sắc và  khách quan về vấn đề dân tộc và tôn giáo. Tiếp thu tinh thần khoan dung văn hóa của dân tộc, ông vận động, tập hợp nhiều thành phần tôn giáo khác nhau để đồng tâm đồng chí trong công cuộc giành độc lập dân tộc. Nhiều đồng chí của ông là những người theo đạo Thiên Chúa, họ gắn bó thủy chung với ông trong sự nghiệp lớn vì dân, vì nước.

Chúng tôi đăng bài viết này của nhà sử học Đặng Huy Vận [đã quá cố] để cùng bạn đọc hiểu thêm về tầm vóc tư tưởng, nhất là quan điểm về tôn giáo và thực hành cách mạng của Cụ Phan Bội Châu và  hy vọng sẽ ngộ ra nhiều điều có ích với cuộc sống hiện tại.

Phan Bội Châu là một sĩ phu yêu nước hiếm có đã biết chú ý đến việc vận động giáo dân Thiên Chúa giáo.

Trong bài nghiên cứu nhỏ này, chúng tôi cố gắng tìm hiểu về công cuộc vận động đồng bào Thiên Chúa giáo của Phan Bội Châu, nhưng hiện nay tài liệu còn rất ít ỏi, chúng tôi cũng chỉ mới bước đầu giới thiệu một số tài liệu, hy vọng được các bạn đọc tham gia đóng góp thêm ý kiến.

1. Âm mưu chia rẽ dân tộc của bọn gián điệp đội lốt thầy tu và vấn đề đoàn kết lương giáo ở cuối thế kỷ XIX.

Khi cướp được chính quyền trong tay Tây Sơn, nhớ ơn các giáo sĩ Pháp đã có công giúp mình trong lúc gian truân, Gia Long đã cho phép họ được tự do giảng đạo khắp mọi nơi trong nước. Chế độ phong kiến Việt Nam ngày càng đi vào con đường suy đốn khủng khoảng thì việc truyền giáo lại càng có kết quả. Trong điều kiện ấy, con người một khi đau khổ ở nơi trần thế thường tìm an ủi hoặc hy vọng hạnh phúc ở nơi siêu thế gian. Cho nên ngày nay, chúng ta cũng chẳng ai còn lạ gì với thủ đoạn của các giáo sĩ ngoại quốc dùng con đường họa phúc với cái kiểu xuống địa ngục và lên thiên đường để chinh phục những người đang mong mỏi một hạnh phúc vĩnh viễn ở chốn siêu thế gian đó. Đặc biệt, gần những năm tư bản Pháp nổ súng xâm lược nước ta thì những hoạt động của bọn gián điệp đội lốt thầy tu lại càng trắng trợn. Vết chân bọn lính viễn chinh đi đến đâu thì bọn chúng lại là những người đưa đường, thu lượm tin tức, tuyển mộ ngụy binh, bày mưu tính kế giúp rập vào việc xâm lược. Đồng thời với tiếng súng của bọn thực dân tàn sát, đốt phá xóm làng miền Nam, bọn gián điệp đội lốt thầy tu cũng ra sức phá hoại miền Bắc và miền Trung. Cho nên chính sách cấm đạo ngày càng gay gắt của triều đình nhà Nguyễn không phải là không có lý do. Sự sai lầm của triều đình không phải là ở chỗ đã ngăn chặn những hoạt động của bọn gián điệp đội lốt thầy tu mà là ở chỗ không thấy được ranh giới giữa vấn đề tín ngưỡng của nhân dân với âm mưu chính trị của bọn xâm lược; Ở chỗ họ đã không phân biệt được giữa những bọn gián điệp với những người dân theo đạo. Nhiệm vụ bảo vệ đất nước đòi hỏi họ phải trấn áp bọn tay sai thực dân đang ráo riết hoạt động phá hoại miền Bắc và miền Trung, nhưng trong thực tế thì họ lại chĩa cả vào những người giáo dân vô tội, trấn át tràn lan những người theo đạo. Biện pháp cấm đạo của họ không những đã không ngăn chặn được những hoạt động gián điệp mà còn bị bọn chúng lợi dụng sai lầm đó tạo nên mâu thuẫn gay gắt giữa triều đình và giáo dân. Trên thực tế, bọn xâm lược nhân chính sách cấm đạo và diệt đạo của vua quan nhà Nguyễn hòng biến tín đồ ngoan đạo thành bạn đồng minh tự nhiên của chúng trong công cuộc xâm lược thuộc địa. Thậm chí sai lầm đó còn dẫn đến một số hậu quả tai hại rất nghiêm trọng là sự chia rẽ giữa đồng bào lương và giáo. Bọn chúng đã không từ một thủ đoạn xảo quyệt nào để khoét sâu thêm mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân khi mà những người sĩ phu yêu nước nêu lên khẩu hiểu “Bình Tây sát tả”. Âm mưu của chúng thể hiện rất rõ trong cuộc khởi nghĩa của Trần Tấn – Đặng Như Mai năm 1874. Như chúng ta đã biết, trước sự phản bội của triều đình Huế trong việc ký kết Điều ước 1874, nhân dân ta vô cùng phẫn uất, đã sôi nổi đứng lên chống Pháp và chống triều đình đầu hàng. Phong trào mạnh mẽ nhất ở Nghệ Tĩnh. Trước lực lượng của quần chúng ngày càng phát triển, bọn tay sai thực dân đội lốt tôn giáo đã hoảng sợ và điên cuồng chống lại. Chúng đã lợi dụng sai lầm của những người sĩ phu về giết đạo để dễ bề hoạt động chống lại nghĩa quân và nhân dân Nghệ Tĩnh. Chúng đã không từ một thủ đoạn tàn bạo nào để đẩy những người giáo dân đối lập lại phong trào. Chúng hô hào giáo dân nổi dậy, tổ chức họ thành những toán vũ trang độc lập, hoặc đứng bên cạnh triều đình đàn áp nghĩa quân. Bị kích động và bị mua chuộc, lại thêm căm giận vì nhà cửa bị đốt phá, những người giáo dân lương thiện ngoan đạo đã trở thành những người đối lập với phong trào. Đến khi nghĩa quân tan rã, bọn tay sai thực dân đội lốt tôn giáo lại nhân đó đẩy mạnh thêm những hoạt động phá hoại. Chúng âm mưu gây một cuộc chiến tranh giữa lương và giáo để làm tiêu mòn sinh lực của nhân dân. Chúng công khai xúi dục giáo dân vũ trang đi chém giết và đốt phá các làng lương dân làm cho mâu thuẫn giữa lương và giáo thêm sâu sắc. Khi thực dân Pháp mở rộng xâm lược nước ta, phong trào chống Pháp ngày càng phát triển mạnh mẽ, nhưng khẩu hiệu “sát tả” vẫn không được hạn chế. Những người sĩ phu kháng chiến mặc dù rất thiết tha yêu nước, nhưng họ vẫn mang nặng ý thức hệ phong kiến. Họ chỉ có thừa nhận Nho giáo là  tốt đẹp, Phan Đình Phùng cho rằng cơ sở dựng nước mấy nghìn năm nay “chỉ ở nơi luân thường, vua tôi, cha con mà thôi”. Cho nên không những họ đã coi những người Thiên Chúa giáo là những người theo tà giáo, là những người đi theo bọn xâm lược mà họ còn sợ rằng đạo Da Tô phát triển thì sẽ tổn hại đến phong tục, tập quán, đến nền văn hiến ngàn xưa.

Sai lầm của họ không những đã khiến cho những người sĩ phu kháng chiến không đoàn kết được nhân dân chống Pháp mà còn để lại những hậu quả rất tai hại cho phong trào cách mạng sau này. Tất nhiên, lúc bấy giờ không phải không có người đã nhìn thấy khía cạnh này hoặc khía cạnh khác của vấn đề. Năm 1857, hai người học trò là Lương Trợ Lý và Hoàng Hữu Phu ở Quảng Bình đã nêu rõ đạo Da Tô phát triển được là vì giàu nghèo không đều cho nên không thể cưỡng bức bắt nhân dân bỏ đạo. Trong bản điều trần gửi lên Tự Đức, hai ông đã vạch ra rằng những “người ngoại quốc” đã đem họa phúc dụ người giàu để lấy tiền thóc mua chuộc dân nghèo nên dân ngầm đi theo đạo. Hai ông đề nghị thi hành phép quân điền và chia lại ruộng để ngăn ngừa đạo giáo phát triển. Hai ông đã nhìn thấy phần nào nguồn gốc kinh tế, xã hội của vấn đề tôn giáo. Nhưng triều đình không những không chấp thuận ý kiến đúng đắn đó mà còn thẳng tay trừng trị, bắt giam tù và phạt đánh trượng hai ông(1). Nguyễn Trường Tộ, một sĩ phu theo đạo Da Tô trong bài điều trần đề là Giáo môn luận gửi lên Tự Đức đã nhấn mạnh đến tinh thần yêu nước của những người dân theo đạo Da Tô và đề nghị triều đình cho họ được tự do tín ngưỡng. Một số thủ lĩnh của phong trào Cần Vương như Tống Duy Tân, Nguyễn Xuân Ôn, Phan Đình Phùng, Cao Điền, Đốc Ngữ phần nào đã nhận thấy sai lầm của chủ trương “sát tả” nên đã chú trọng hô hào lương giáo đoàn kết. Trong tờ cáo thị kêu gọi binh lính đồn Thị Long (huyện Tĩnh Gia), đề đốc Cao Điền, một kiện tướng của Tống Duy Tân, đã nhấn mạnh: “Lương giáo chúng ta đều là thần dân một nước, không nên sát hại lẫn nhau” (2). Vương Quốc Chính cầm đầu phong trào chống Pháp trong những năm cuối thế kỷ XIX với cuộc mưu đánh úp Hà Nội năm 1898 đã chú ý vận động đồng bào Thiên Chúa giáo chống Pháp. Nhưng phải đến đầu thế kỷ XX với Phan Bội Châu, vấn đề đoàn kết lương giáo mới được đặt trong cương lĩnh đấu tranh cách mạng và hố sâu chia rẽ giữa lương và giáo mới phần nào được giải quyết.

2. Chủ trương của Phan Bội Châu về vấn đề đoàn kết lương giáo

       Sau thời kì bình định và xâm lược, thực dân Pháp ráo riết củng cố nền thống trị của chúng để tiến hành áp bức bóc lột nhân dân. Mâu thuẫn giữa bọn cướp nước và dân tộc ta là mâu thuẫn không thể nào điều hòa được. Phan Bội Châu cũng đã nhận thấy rằng, nếu nước mất thì “không một người nào trong nước ta mà không bị khốn khổ trong vòng trâu ngựa tôi đòi” (Việt Nam vong quốc sử). Cho nên theo ông, đã là người dân Việt Nam thì không kể là dân theo đạo Thiên Chúa hay là lương dân đều bị bọn thực dân Pháp áp bức bóc lột. Ông viết: “Mấy mươi năm nay, người Pháp nghiêm hình trọng phạt có một thứ nào rộng rãi cho người theo đạo Da Tô đâu; tiền sưu, tiền thuế thu nhiều không bớt một đồng nào cho người Da Tô” (Việt Nam vong quốc sử). Ông nhấn mạnh đến sự nhất trí về quyền lợi giữa những người trong cùng một nước cho nên nếu tín ngưỡng có khác nhau thì cũng không nên chia rẽ. Ông viết: “Cùng đẻ, cùng nuôi, ai là người không ăn cơm, đi đứng trên đất nước này. Đời ấy, người ấy, cố nhiên là cùng đội trời chung, đều là anh ta cả, đều là em ta cả, có hiềm gì đâu, có nghi gì đâu!”. Phan Bội Châu ở đây, tuy chưa thấy sự nhất trí về quyền lợi giai cấp giữa những người lao động cũng như đối địch về quyền lợi giữa hai giai cấp đối địch trong cùng một tôn giáo, nhưng ông đã thấy rằng sự khác nhau về tín ngưỡng không làm xa cách những người cùng chung một Tổ quốc, đều có một trách nhiệm chung với đất nước. Ông đã phân tích một cách sâu sắc rằng đối với những người dân Thiên Chúa giáo thì thiên đường của cuộc sống nào chưa rõ nhưng trước mắt là phải đấu tranh cho đời sống ở “trần thế” hiện đang hết sức đau thương vì sự tàn bạo của bọn đế quốc. Ông viết: “Sau khi chết lên thiên đường thế nào chưa biết, hiện tại hãy cầu cho hòa bình ngay trong đời sống địa ngục trần gian này thật đáng thương! Sao nỡ đứng nhìn lầm than nhường ấy!”. Trên cơ sở đó, ông nhấn mạnh đến tinh thần yêu nước của đồng bào Thiên Chúa giáo và bày tỏ lòng tin tưởng của mình đối với họ: “Dân đạo Da Tô ta là dân nước Việt Nam, tất nhiên ta không theo nước Pháp, tất nhiên ta không chịu đi giúp người Pháp để làm hại nước Việt Nam. Như thế mới là dân trong Thiên Chúa giáo, như thế mới là dân của đồng bào nước Việt Nam. Nếu có ai không chịu giết người Pháp, nhẫn tâm nhìn người Pháp làm hại người Việt tức là không phải người dân Thiên Chúa giáo, tức là trong đạo Chúa cứu thế không có thứ đạo lí ấy; hơn nữa trong đồng bào nước Việt Nam không có cái thứ giống người ấy. Một lớp người này là dân Da Tô cần diệt người Pháp để bảo vệ đồng loại mà thờ Chúa. Bằng bảo rằng dân Da Tô không có tư tưởng diệt Pháp, người nước Việt Nam ta quyết không có cái thuyết ấy” (Việt Nam vong quốc sử).

Lòng tin tưởng của Phan Bội Châu không phải không có căn cứ. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp ở cuối thế kỉ XIX, đồng bào Thiên Chúa giáo đã có những đại biểu xứng đáng của mình trong hàng ngũ những người yêu nước. Đội Vũ, một thủ lĩnh nghĩa quân theo đạo Thiên chúa ở Nam Định đã chiến đấu rất kiên cường và làm quân thù hoảng sợ. Nguyễn Phiên, một lãnh binh người công giáo, thủ lĩnh nghĩa quân xuất sắc ở Quảng Bình bị bắt sa vào tay giặc và bị tra tấn dã man. Mặc dù chúng đem cả bọn cố đạo đến lấy danh nghĩa Chúa cứu thế dụ dỗ, nhưng ông vẫn không chịu đầu hàng giặc và đã hy sinh anh dũng(4). Nguyễn Trường Tộ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Đức Thuận, những người công giáo yêu nước đã gửi nhiều điều trần đề nghị cải cách, mong muốn đất nước được giàu mạnh. Phan Bội Châu còn nhấn mạnh đến sự nhất trí giữa yêu nước và kính Chúa. Lê Khanh, một thanh niên Thiên Chúa giáo, người huyện Chân Lộc (nay là huyện Nghi Lộc) tỉnh Nghệ An, là người đã nhiệt liệt hưởng ứng và hoạt động cho phong trào Đông Du. Về sau, anh đã bị Pháp bắn chết khi định đánh giải vây cho Ngư Hải. Tác giả Việt Nam nghĩa liệt sử đã viết về anh như sau: “Hỡi ôi, tận trung báo nước là do thành tâm, gặp nguy không chịu chết, không muốn cẩu miễn như Lê thiệt là người trội của nước ta mà cũng là kiểu mẫu của tôn giáo. Đảng ta gọi là ông Hiếu Tôn… con yêu của Thượng đế là Hiếu Tôn cũng là hiếu với Tổ Quốc vậy”(5).

Như vậy, Phan Bội Châu và các đồng chí của ông quan niệm tận trung báo nước không trái với kính Chúa; hiếu với Tổ Quốc cũng là hiếu với Thượng đế. Phan Bội Châu chủ trương mọi người đều được tự do tín ngưỡng. Tuy nhận thức của ông còn đơn giản, nhưng so với quan niệm cực đoan của những người sĩ phu yêu nước ở cuối thế kỷ XIX thì đã là một tiến bộ và có lợi cho việc đoàn kết lương giáo lúc đó. Ông viết: “Người ta đều có quyền tự do tín ngưỡng. Ai muốn theo đạo Khổng thì cứ theo đạo Khổng. Ai muốn theo đạo Phật thì cứ theo đạo Phật. Ai muốn theo đạo Da Tô thì cứ theo đạo Da Tô. Nếu đạo ấy đúng đắn thì can chi phải ruồng bỏ một cách nghiêm khắc. Nếu đạo giáo ấy xằng bậy thì dù người ta có bị mê hoặc trong một thời gian chăng nữa, lâu rồi cũng phải sinh lòng chán bỏ mà thôi cần gì phải chê bai cừu địch với nhau”. Ở đây, Phan Bội Châu không thấy được cơ sở giai cấp và nguồn gốc xã hội của tôn giáo. Tuy vậy, Ông đã biết đặt vấn đề tôn giáo trong vấn đề dân tộc. Ông nhấn mạnh rằng là người dân trong một nước thì dù theo tôn giáo nào cũng phải đặt quyền lợi của tổ quốc trên hết. Theo ông, nếu nước đã mất, nòi giống đã bị tiêu diệt thì không một đạo giáo nào có thể “sáng danh” được, “cho nên các nhà tôn giáo không nên bàn tôn giáo nào phải hay trái, mà chỉ nên bàn nước mình mạnh hay yếu, không nên bàn tôn giáo nào giống nhau, khác nhau, mà chỉ nên bàn nước còn hay nước mất”. Ông nhấn mạnh rằng trước mắt hãy tập trung vào kẻ thù bên ngoài vì chúng đang thống trị nhân dân ta, đang bắt dân ta làm nô lệ: “Hãy một lòng yêu nước, yêu nòi, liều chết chống giặc. Hãy một lòng vì nghĩa. Nếu được như thế thì không phải bàn là theo đạo Khổng, đạo Phật hay đạo Da Tô. Về sau, muốn theo đạo nào thì cũng còn nòi giống để mà theo, nòi mất rồi, giống tuyệt rồi, lấy đâu mà tôn sùng làm sáng lớn tôn giáo nữa” (Tân Việt Nam). Ông cũng nói rõ thêm rằng nước đã mất thì cũng không còn tự do tín ngưỡng. Năm 1923, Phan Bội Châu viết tác phẩm Thiên hồ! Đế hồ! Trong tác phẩm này, khi nói đến cuộc hội nghị của hội Đồng minh học sinh đạo Cơ đốc thế giới họp ở Bắc Kinh, đã vạch rõ rằng những người Thiên Chúa giáo Việt Nam cũng là con Thượng đế, cũng “muốn cầu đạo đức mới, rất muốn chen vào một ghế ở giáo hội Cơ đốc thế giới”, nhưng đại biểu của họ lại là người Pháp, vì Chính phủ Pháp cấm người Việt Nam xuất dương. Ông đau xót viết: “Như thế, người mất nước thì đến việc cầu đạo đức cũng không được tự do. Nếu quả có Thượng đế thật, thì Thượng đế đối với hạng người mất nước đó nên như thế nào?” (Thiên hồ! Đế hồ!).

Nhận thức của Phan Bội Châu hoàn toàn phù hợp với tình hình đạo Thiên Chúa trên nước ta, một nước thuộc địa nửa phong kiến. Như chúng ta đã biết, sau thời kỳ bình định, thực dân Pháp tuy có ưu đãi giáo hội nhưng chỉ có một số người có quyền cao chức trọng trong giáo hội mới có những đặc quyền đặc lợi, cho nên tín đồ Thiên Chúa, mặc dù là kính Chúa, nhưng vẫn đối lập về quyền lợi với bọn thực dân và bọn nắm quyền trong giáo hội. Và ngay trong nội bộ giáo hội cũng không phải không có mâu thuẫn. Giáo hội Đông Dương phải hoàn toàn phụ thuộc vào hội truyền giáo Pháp; các chức vụ quan trong trọng giáo hội đều do giáo sĩ nước ngoài nắm giữ. Giáo hội Việt Nam là một bộ phận của giáo hội Pháp và không được coi là một giáo hội chính thức. Giữa những giáo sĩ người Âu và giáo sĩ Việt Nam có sự phân biệt đối xử. Do đó, không kể là người dân lao động theo đạo Thiên Chúa mà ngay đến các giáo sĩ Việt Nam cũng không tránh khỏi được sự nhục nhã của người dân mất nước vì chính sách thực dân được thi hành ngay cả ở trong giáo hội. Tuy nhiên, một mặt Phan Bội Châu khẳng định tinh thần yêu nước của những người giáo dân và chủ trương đoàn kết lương giáo, nhưng một mặt ông cũng thấy khá rõ giã tâm và âm mưu chính trị của bọn gián điệp đội lốt thầy tu. Ông đã vạch rõ thủ đoạn xảo quyệt của bọn thực dân tư bản chủ nghĩa trong việc sử dụng tôn giáo làm công cụ xâm lược và bành trướng thuộc địa. Trong tác phẩm Thiên Hồ! Đế hồ!, Phan Bội Châu đã dành nhiều trang nêu lên thủ đoạn trên đây của bọn thực dân Pháp trong việc xâm lược nước ta. Âm mưu của Bêhen (Pigneau de Bêhen) trong việc phục vụ của chủ nghĩa tư bản Pháp đã bị ông vạch trần như sau: “Tuy hắn lấy tư cách là người đi truyền giáo cho giáo hội, nhưng âm mưu của hắn là nhiệm vụ của đội tiền phong, cho công cuộc đi xâm lược của nước Pháp. Hắn tự xưng là con yêu của Thượng đế, là hậu thân của Da Tô Cơ đốc, nhưng cái chứa trong óc hắn lại chính là chính sách của “chủ nghĩa đế quốc” của Nã Phá Luân”. Phan Bội Châu cũng đã nêu khá rõ thủ đoạn xảo quyệt và khôn khéo của Bêhen trong việc “chụp” lấy Nguyễn Ánh khi đang lưu lạc chìm nổi ở Gia Định, để đặt nền móng cho việc xâm lược của thực dân Pháp sau này. Ông viết: “Hắn đã có dã tâm ghê tởm, những loại giáo đồ nông nổi không thể sánh kịp. Vì thế, sau khi yến kiến Nguyễn Ánh rồi, hắn liền ra sức trình bày kế hoạch phục quốc để cám dỗ Nguyễn Ánh”. Phan viết tiếp: “Theo Bêhen (Pigneau de Bêhen), kế hoạch xâm lược này là một kế hoạch lớn, không thể bỏ qua được, dù không thực hiện được ngay cũng phải lưu lại ít nhiều dấu vết để cho người sau tiếp tục làm cho được”. Và như chúng ta đã biết, sau khi lên ngôi, để trả ơn Bêhen, Gia Long đã phải để cho các giáo sĩ Pháp dễ dàng truyền đạo. Bọn gián điệp đội lốt thầy tu lợi dụng cơ hội đó đã hoạt động khá ráo riết để chuẩn bị cho mưu đồ của bọn tư bản Pháp. Phan Bội Châu đã vạch rõ ràng rằng bọn chúng “đều noi theo chính sách của Bêhen và lại còn thấm thuần rất sâu cái tinh thần của Bêhen: bên ngoài thì đeo cái mặt nạ đạo đức mà bên trong thì làm cái chức vụ nâng đỡ cho chính sách tàn ngược của chính phủ Pháp”. Ông đã tố cáo trước dư luận thế giới rằng bọn tư bản Pháp đã mượn danh nghĩa Chúa cứu thế để thống trị nhân dân Việt Nam: “Các người mang sứ mệnh Thượng đế thương con tới nước chúng tôi mà giày xéo lên đất đai chúng tôi, mà nuốt sống nhân dân chúng tôi như nuốt cá thịt, người ấy có phải ai đâu, chính là người Pháp Lan Tây đồ đệ đạo Da Tô đó”. Ông cũng đã phơi bày luận điệu lừa bịp của bọn gián điệp đội lốt thầy tu trong việc mượn danh nghĩa Chúa để ru ngủ nhân dân bị áp bức. Ông vạch rõ rằng trong khi họ nói “đạo đức là con đường hòa bình, không qua bác ái không được”; “Thượng đế là cha trời, loài người là anh em”, thì “cái mà chúng tôi đã gặp là cái độc tôn giáo tiêu diệt nước người”. Trong khi họ diễn giảng nếu “chủ nghĩa chân chính bình đẳng thân yêu” này (đạo Da Tô) được áp dụng trong toàn cầu thì mọi người đều bình đẳng, nhưng người nước chúng tôi từ 60 năm nay, có tai mà không được nghe, có mắt mà không được nhìn, có tay chân mà không được co duỗi, có đầu óc mà không được tư tưởng. Người nước tôi đã nhiều lần yêu cầu người Pháp trả lại tự do và độc lập cho nước chúng tôi nhưng họ “quyết không chịu cho chúng tôi cái hạnh phúc đó; ruộng đất chúng tôi họ chiếm cứ, quyền lợi chúng tôi họ hưởng thụ, cho đến cái hạnh phúc của tai mắt tay chân, đầu não họ cũng cắt đứt”. Đồng thời, Phan Bội Châu đã vạch trần những thủ đoạn tàn bạo của bọn thực dân Pháp trong việc nô dịch nhân dân ta. Hơn nữa, ông còn vạch ra rằng những kẻ mượn tôn giáo để đạt “mục đích cường quyền” không phải là ít. Bọn tư bản cho rằng “chuyên dùng vũ lực để chinh phục chưa phải là chính sách hay”, cho nên chúng mới “mượn đường tôn giáo” (Thiên hồ! Đế hồ!) để ngấm ngầm thi hành chính sách tiêu diệt nòi giống nước khác.

Vạch trần dã tâm của bọn đội lốt thầy tu cũng như thủ đoạn của bọn thực dân trong việc dùng tôn giáo làm công cụ xâm lược là hoàn toàn đúng.

Tôn trọng tự do tín ngưỡng hoàn toàn không có nghĩa là dung túng cho kẻ địch lợi dụng tín ngưỡng của đồng bào ta để gây chia rẽ và làm thiệt hại đến lợi ích của nhân dân ta.

Xuất phát từ nhận thức trên đây, Phan Bội Châu đã đặt vấn đề đoàn kết lương và giáo. Khi đã sang Nhật, Phan viết Hải ngoại huyết thư để gửi về nước kêu gọi nhân dân đứng lên chống Pháp. Nhưng sau khi gặp Lương Khải Siêu, được xem cuốn Ý Đại Lợi tam kiệt truyện, ông rất tán đồng chủ trương của Madini (Mazzini) về việc phải tiến hành giáo dục, tuyên truyền, giác ngộ quần chúng cứu nước đồng thời với việc chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa. Do đó, ông mới viết thêm vào cuốn Hải ngoại huyết thư sơ biên một phần kêu gọi nhân dân đoàn kết và đổi là Tục hải ngoại huyết thư do ông Lê Đại dịch. Kết thúc bài này ông kêu gọi đoàn kết chống giặc. Trong đoạn “kêu gọi sự đồng tâm của giáo đồ Thiên Chúa” ông đã tóm tắt chủ trương đoàn kết lương giáo như sau:

Từ nhà thế tộc quan cao

Từ người thân sĩ, phú hào bình dân.

Khắp đến kẻ hành nhân tẩu tốt,

Cả giáo đồ khắp suốt nơi nơi.

Đội trời, đạp đất ở đời,

Sinh ra Nam quốc là người trượng phu.

Ai cũng bụng phục thù báo quốc…

…Dẫu cùng ta là đạo bất đồng,

Nhưng cùng đất nước cùng chung,

Quyết không có nhẽ nào không vì mình.

Chớ thấy khác mà sinh hình tích,

Để cho rằng cừu địch Nam nhân.

Chữ rằng đồng loại tương thân

Giáo dân xem với lương dân khác gì!…

…Thấy quân tàn ngược bất nhân,

Dẫu cùng một giáo nhưng thân nỗi gì(6).

Lớn lên trong phong trào đấu tranh vũ trang sôi nổi của nhân dân Nghệ Tĩnh ở cuối thế kỷ XIX, Phan Bội Châu một mặt tiếp thu được truyền thống quật cường của dân tộc, nhưng mặt khá cũng được chứng kiến cái hậu quả tai hại của khẩu hiệu “sát tả”, cho nên ngay khi bước vào cuộc đời hoạt động cách mạng, ông đã rất chú đến vấn đề đoàn kết tôn giáo. Trong cuốn Trùng Quang tâm sử, tuy lấy khung cảnh của cuộc kháng chiến thời Hậu Trần nhưng ông vẫn cố đưa vấn đề đoàn kết lương giáo cũng như khẳng định tinh thần yêu nước và sự đóng góp của họ cho cuộc kháng chiến. Trong truyện đã có một đồng bào Thiên Chúa giáo rất tích cực với công cuộc cứu nước và có cả một làng công giáo đã quyên trâu bò, tiền bạc cho nghĩa quân(7).

3. Một vài tài liệu về phong trào yêu nước chống Pháp của đồng bào Thiên Chúa giáo hồi đầu thế kỷ XX.

Phong trào yêu nước chống Pháp của đồng bào Thiên Chúa giáo hồi đầu thế kỷ XX không thể tách rời với công cuộc vận động cách mạng của Phan Bội Châu. Tài liệu hiện nay còn rất thiếu, chúng tôi một mặt dựa vào những tài liệu của Phan Bội Châu, một mặt kết hợp với lời kể lại của cụ Nguyễn Hộ ở Mặt trận Tổ quốc Nghệ An, nhằm cung cấp một số tài liệu về phong trào yêu nước của đồng bào Thiên Chúa giáo hồi đầu thế kỷ XX.

Như chúng ta đã biết, năm 1904, sau khi thi  hỏng kỳ thi thứ hai khoa thi Hội, Phan Bội Châu đã lẻn đi Quảng Nam gặp ông Trần Thị ở nhà ông Tiểu La. Trần Thị đã ngoài 50 tuổi, có tinh thần yêu nước. Trước đây đã bị thực dân Pháp bắt giam, Trần mới giả dạng đi tu ở chùa Thất Sơn. Gặp Phan, Trần Thị rất mừng và dẫn ông vào Kinh để yết kiến Kỳ ngoại hầu. Sau đó, ông lại cùng Phan trở vào Quảng Nam họp với ông Trình Hiền cùng với một số đồng chí  trong nghĩa đảng để trù tính công việc. Trần Thị chịu trách nhiệm về Nam kỳ trù liệu tài chính để  chi phí cho nghĩa hội. Còn Phan Bội Châu lại ra Bắc để đi các nơi vận động đồng bào Thiên Chúa giáo, ông được Ngô Quảng giúp đỡ rất đắc lực. Ngô Quảng hiệu là Thần Sơn, nguyên là một kiện tướng của Phan Đình Phùng phụ trách Nghi thứ (quân thứ Nghi Xuân). Sau khi Phan Đình Phùng thất bại, ông phải xin đi theo đạo Thiên Chúa, ẩn nhẫn chờ thời cơ hoạt động. Ông vẫn thường đi lại với Phan Bội Châu để bàn tính kế hoạch cứu nước. Do có Ngô Quảng là người theo đạo nên Phan đã thâm nhập dễ dàng trong giáo dân. Ông đã gặp gỡ những đạo trưởng như cụ Thông ở Mộ Vĩnh, cụ Truyền ở Mĩ Dụ, cụ Thông ở Quỳnh Lưu, cụ Ngọc ở Quảng Bình. Đúng như những điều suy nghĩ của Phan, đồng bào Thiên Chúa giáo rên xiết dưới ách thống trị của bọn thực dân đã hưởng ứng nhiệt liệt phong trào cứu nước do ông đề xướng. Tháng 10 năm 1904, Phan Bội Châu lại trở vào Quảng Bình và cũng do đã ước hẹn trước với các yếu nhân trong giáo hữu như cụ Thông, cụ Thị nên Phan đã được mở một cuộc dạ hội tại nhà giáo Ba Đồn. Những người dự hội phần nhiều là dư đảng của ông Hiền, ông Hậu, họ oán ghét giặc Pháp rất là sâu sắc. Còn những người khác đều do ông Học, ông Thiện, ông Tú, ông Định vận động đồng bào đến. Đồng bào Thiên Chúa  giáo nói chung đã hưởng ứng rất sôi nổi lời kêu gọi của Phan Bội Châu. Trong Niên biều, Phan viết: “ Đấm mây đen tối chia rẽ giáo lương bây  giờ đã được quét sạch, đó cũng là việc đáng thích” (Phan Bội Châu niên biểu). Như vậy, ngay sau khi Phan chưa xuất dương, đồng bào Thiên Chúa giáo ở miền Bắc Trung bộ đã hưởng ứng khá tích cực lời kêu gọi của Phan, hố sâu ngăn cách giữa lương và giáo ở đây đã phần nào bị phá vỡ. Đặc biệt, khi Phan Bội Châu sang Nhật gửi Hải ngoại huyết thư về nước thì phong trào lại càng lên mạnh. Ở Nam bộ, phong trào phát triển có chậm hơn. Năm 1907, phái Thiên Chúa giáo ở Hương Cảng có mở một trường Cao đẳng tiểu học. Trong trường này, có anh Trần Văn Tuyết, một thiếu niên Nam kì, con Tri phủ Trần Chánh Chiếu, tức Gilbrt Chiếu theo học. Phan Bội Châu được viên thông phán ở đó giúp đỡ đã gíac ngộ được anh. Trần Văn Tuyết sau một thời gian tìm hiểu đã tán thành chủ trương của Phan. Sau đó, anh lại theo lời ông gửi những văn kiện cách mạng về cho bố đọc và vận động bố anh tham gia phong trào. Được ít lâu, Trần Chánh Chiếu sang Hương Cảng cùng với các anh Trần Văn Định, Bùi Mộng Vũ. Trần Chánh Chiếu từ khi sang Hương Cảng về đã hoạt động tích cực cho phong trào Đông du. Từ đó, thanh niên Nam kì xuất dương nhiều, trong đó có cả thanh niên Thiên Chúa giáo. Ở Bắc kì, chúng tôi chưa có tài liệu nào nói về phong trào yêu nước của đồng bào Thiên Chúa giáo và trong các tài liệu của Phan Bội Châu để lại cũng không thấy nói đến. Riêng ở Nghê Tĩnh, thì phong trào khá mạnh mẽ. Ở đây, phong trào đã lôi cuốn được nhiều linh mục tham gia và thành hình một tổ chức do Đậu Quang Lĩnh, Nguyễn Thận Đồng và Nguyễn Tường đứng đầu. Đậu Quang Lĩnh sinh năm 1867, con ông Đậu Dung, tức cố Chiên ở làng Yên Phú (Việt Yên), huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh). Ông giỏi chữ Hán và chữ Latinh. Cụ Huỳnh Thúc Kháng trong Thi tù tùng thoại viết về ông  như sau: “Đỗ quân có thông chữ Hán, về học thuyết mới cũng thông hiểu không mê tín như ai”(8). Khi còn làm việc đạo, ông thường được nhà chung giao cho dịch sách nước ngoài, do đó mà ông được đọc các tân thư, đặc biệt là các trước tác của Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu. Ngoài ra, tham gia phong trào còn có linh mục Phan ở xứ Kẻ Tùng (Đức Thọ), linh mục Minh ở xứ Kim Đôi, xứ Đông Tràng; Phan Bội Châu ở đây đã dựa vào giáo dân nhiệt tình yêu nước như Trần Văn Bỉnh, Nguyễn Hộ để bắt rễ vào đồng bào Thiên Chúa Giáo và các đạo trưởng trong giáo hội. Trần Văn Bỉnh người phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, mồ côi cha mẹ từ lúc còn nhỏ, ông rất ngèo và là một tín đồ sùng đạo. Khi thực dân Pháp đánh chiếm Nghệ An, ông nổi dậy kháng chiến nhưng bị thất bại. Ông cho rằng nước mất là vì địch có vũ khí tối tân nên từ đó ông ra sức học tập máy móc, chế tạo vũ khí. Ông vẫn đi lại với Phan Bội Châu để bàn bạc công việc cứu nước. Năm 1906-1907, Phan muốn vũ trang khởi nghĩa, ông nhận trách nhiệm xây dựng một công binh xưởng để cung cấp vũ khí cho nghĩa quân. Nguyễn Hộ quê ở Vinh, là một thanh niên Thiên Chúa giáo rất nhiệt tình yêu nước. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Nguyễn Hộ đã bị bắt nhiều lần nhưng vẫn kiên trì theo đuổi cách mạng. Ngoài ra, chúng ta còn phải kể đến Lê Khánh, một thanh niên Thiên Chúa giáo rất ưu tú đã có nhiều đóng góp cho phong trào. Ông người huyện Chân Lộc (nay là huyện Nghi Lộc). Thuở nhỏ, ông theo học ở trường dòng. Cụ thân sinh ra ông hi vọng sau này ông sẽ ra làm linh mục. Nhưng lớn lên, Lê Khánh đã thấy nỗi nhục của người dân mất nước và tìm con đường hoạt động cứu nước. Ông đau xót khi thấy nhân dân bị lầm than cực khổ dưới ách thống trị của bọn thực dân. Ông thường nghĩ rằng: “Chúa và các các môn đồ đều lấy máu rửa cái dơ của người đời, nay Tổ quốc, đồng bào bị tai ách như thế; chúng ta không biết bỏ mình cứu vớt; ngồi nhìn nước mất, chủng diệt, tương lai ta sẽ nên tuyên cái giáo gì”.(9)

Sống ở trường dòng, ông bị bọn giáo sĩ Pháp ngăn cấm nghiêm ngặt nên không dám hoạt động, nhưng mặt khác, ông càng hiểu vì sao một số gián điệp đội lốt thầy tu cố tình tìm mọi cách bưng bít tình hình chính trị và ngăn cấm học sinh trường dòng tìm hiểu các loại tân thư ở ngoài đưa vào. Nhưng sau khi ra trường, thoát khỏi sự ràng buộc của giáo sỹ Pháp, ông đã được tự do giao thiệp với bên ngoài. Nhờ đó, ông đã được Trần Văn Bỉnh giới thiệu với những người phụ trách Duy Tân hội và đã hoạt động khá tích cực cho phong trào Đông Du. Đồng bào Thiên Chúa giáo Nghệ Tĩnh thường gọi ông thân mật là già Khánh. Lúc đó, tổ chức thường lấy Xã Đoài làm nơi liên lạc đi về. Sau nhiều lần trao đổi, họ đã nhất trí với chủ trương của Phan Bội Châu và thấy rằng việc cấp thiết trước mắt là phải đoàn kết lương giáo và đào tạo cán bộ. Do đó, tổ chức những người công giáo yêu nước ở Nghệ Tĩnh đã quyết định chọn trong các chủng sinh ở tiểu chủng viện cho sang Nhật học trước sau có vài chục người trong đó có các anh như Lưu Văn Quế, Lý Trọng Mậu, Nguyễn Văn Phú tức Mẫu Đơn, Lê Kim Thanh, Lý Hồng Chung, Lê Khanh. Có người đã học thành tài như Lưu Văn Quế tức Yến Đan. Anh người Quỳnh Lưu, sang Nhật học sau đổi họ tên là Lý Trọng Hoàn, nhập tịch Trung Quốc nên được cấp học phí lưu học ở Nhật Bản. Anh tốt nghiệp trường Cao đẳng Công nghiệp sau đó lại học ở trường Bách khoa đậu kỹ sư công chính, nhưng không có điều kiện để về nước phục vụ. Nhiều người đã hoạt động tích cực cho phong trào như anh Nguyễn Văn Phú, Lê Khanh, Lê Khánh.

Đồng thời nghĩa hội đã cử Mai Lão Bạng tức Mai Châu ra nước ngoài với tư cách là đại biểu của đồng bào Thiên Chúa giáo tham gia Hội Duy Tân để cộng tác và giúp đỡ Phan trong công việc cứu nước. Phan Bội Châu đã họp toàn trường để hoan nghênh. Mai Châu rất nhiệt tình hoạt động cho phong trào. Ông đã viết Lão Bạng phổ khuyến và được Phan cho in 200 cuốn vào tháng Tám năm 1908 ở Nhật để gửi về trong nước. Tác phẩm này đã có tác dụng lớn trong công việc tuyên truyền đồng bào Thiên Chúa giáo chống Pháp. Bức ảnh của Lão Bạng chụp chung với Phan Bội Châu và Cường Để cũng đã được gửi về trong nước, coi như hình ảnh tượng trưng cho tình đoàn kết giữa lương và giáo. Cụ Nguyễn Hộ kể lại rằng hồi đó, trong khi đi tuyên truyền trong giáo dân, cụ thường mang theo bức ảnh đó.

Phong trào đang phát triển thuận lợi thì bị tên Châu gián điệp đội lốt thầy tu báo cho Pháp bắt ba ông linh mục: Lĩnh, Tường, Đồng. Chúng bất ngờ khám nhà ba ông, bắt được danh sách đồng bào Thiên Chúa giáo đóng tiền gạo và một số tân thư. Tuy chứng cớ chưa rõ ràng nhưng ba ông vẫn bị giam và bị tra tấn rất dã man ở nhà lao Vinh. Ba ông đã nêu cao tinh thần đấu tranh bất khuất và không chịu khai báo một điều gì. Chúng chất vấn Đậu Quang Lĩnh rằng” đã đi làm “cụ đạo” sao còn làm giặc”? Ông khảng khái làm câu đối trả lời chúng như sau:

“Vị bạch nhân hồ, thử sinh giảng tọa, pháp trường, nhược cam, nhược khổ, nhược lôi đình, chỉ thị công dân thường trách nhiệm.

Giai hoàng tộc giả, vô số nhơn nhân, chí sĩ, vi phối, vi đồ, vi lưu huyết, khả vô ngô bối biểu đồng tâm”.

Tạm dịch:

“Vì người da trắng ư, sống trên giảng tọa, nơi pháp trường, khi ngọt, khi cay, khi sấm sét, chỉ là phần công dân phải đền trách nhiệm.

Đều giống da vàng cả, vô số bậc nhân nhân, chí sĩ, bị đày, bị tù, bị đổ máu lẽ nào bọn chúng tôi không biểu đồng tâm”(10).

Chúng căm giận ba ông liền giao sang cho tòa án Nam triều trị tội, đồng thời bắt bớ tràn lan để khủng bố và uy hiếp tinh thần giáo dân. Nam triều định kết án tử hình ba ông nhưng các ông đã đấu tranh quyết liệt nên chúng cũng đành phải kết án tù 9 năm và đày ba ông đi Côn Đảo. Cùng với ba ông, 50 giáo dân đã bị kết án tù từ 1 năm đến 5 năm. Ở ngoài Côn Đảo, Đậu Quang Lĩnh đã làm nhiều bài thơ nói lên tinh thần yêu nước và ý chí bất khuất của mình.

Tâm sự của Đậu Quang Lĩnh đã được Huỳnh Thúc Kháng nói đến trong bài thơ chữ Hán, trong đó có câu:

Quyền nước còn hèn, quyền giáo thấp,

Trí thần chưa mở, trí dân ngây.

Làng nô lũy quyết xô nền đổ,

Chữ thập cờ toan dựng xứ này(11).

Về sau, linh mục Lĩnh được đưa về Sài Gòn và quản thúc ở Cái Mơn (Bến Tre). Linh Mục Đồng bị quản thúc ở Nhân Hòa (Nghệ An).

Vào những năm 1909-1910, mặc dù phong trào bị dập tắt, Lê Khánh tuy bị địch truy nã rất gắt gao, nhưng vẫn cố gắng hoạt động để xây dựng lại cơ sở. Ông đã cùng với Ngư Hải dự định vũ trang khởi nghĩa vì sợ rằng địch khủng bố thì dần dần phong trào cũng đi đến chỗ tan rã. Hai ông đã viết thư đề nghị Phan lo mua vũ khí ở ngoài gửi về trong nước. Nhưng kế hoạch đưa vũ khí về nước bị lộ không thực hiện được. Ở trong nước, phong trào ngày càng gặp khó khăn. Lê Khánh đã bị bắt một lần và bị giam ở nhà lao Vinh. Giặc tra tấn ông cực kỳ giã man nhưng không khai thác được tài liệu. Bị giam trong tù, ông trữ lạt gói bánh tày và về sau đã bện thành dây thừng để leo lên mái nhà, dỡ ngói trốn khỏi nhà lao. Năm 1910, ông Ngư Hải đi hoạt động về họp hội nghị ở nhà một đồng chí ở Phan Thôn. Ở đây đã tụ tập một số đồng chí trong đó có Ứng Quế Tạ Quốc Khanh. Bọn Pháp dò biết đem quân vây bắt, theo Việt Nam nghĩa liệt sử thì chúng đưa tới 500 lính. Trong người ông Ngư Hải có mang súng lục và mặc dù quân địch đông gấp bội, ông vẫn chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Theo lời cụ Nguyễn Hộ kể lại, ông đã nấp ở trên máng nước giữa hai ngôi nhà giáp nhau và dùng súng lục bắn vào quân thù. Đến khi hết đạn, ông dùng viên đạn cuối cùng tự bắn mà chết, quyết không chịu sa vào tay giặc. Lê Khánh được tin đem dân làng đến đánh giải vây cũng bị bắn chết. Theo tài liệu của địch thì chúng đã nhận bừa rằng chúng đã bắn chết Ngư Hải, nhưng không đúng; trong Niên biểu, Phan Bội Châu cũng ghi rằng Ngư Hải đã dùng viên đạn cuối cùng để tự sát và không chịu sa vào tay giặc.

Cũng như tình hình chung của phong trào cách mạng đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước của đồng bào Thiên Chúa giáo cũng bị đàn áp khốc liệt sau cuộc kháng sưu bùng nổ mãnh liệt ở miền Nam Trung kỳ, cho nên từ năm 1910, phong trào có phần nào bị sút xuống. Tuy vậy, đồng bào Thiên Chúa giáo vẫn nung nấu chí căm thù và sẵn sàng chờ thời cơ đứng lên chống Pháp.

Ở nước ngoài, Mai Lão Bạng vẫn sát cánh cùng Phan hoạt động cứu nước. Sau khi đã gặp Phan, Mai Lão Bạng định trở về nước bằng đường Xiêm. Chính phủ Pháp dò biết đã nhờ bọn cầm quyền Xiêm lúc đó bắt giam ông. Ông bị tù bốn tháng rồi bị trục xuất. Sau ông sang Hương Cảng để gặp Phan Bội Châu, lại bị bọn Anh bắt giam ba tháng. Sau khi thả ra, chúng lại trục xuất; ông phải về Quảng Đông một thời gian. Đầu năm 1912, được tin Cách mạng Tân Hợi thành công, ông từ Xiêm trở lại Trung Quốc gặp Phan Bội Châu và tham gia hội nghị thành lập Việt Nam Quang Phục Hội. Trong hội nghị này, ông được cử làm ủy viên chấp hành phụ trách kinh tế cùng với ông Đặng Tử Kính. Sau đó Phan Bội Châu lại tổ chức Hội Chấn Hoa Hưng Á nhằm tranh thủ sự viện trợ của cách mạng Trung Hoa để vũ trang bạo động đánh đuổi thực dân Pháp. Để cơ cơ sở giao thiệp đối ngoại, trong thời gian này, Phan thuê một cái nhà hai tầng mười gian chia làm ba sảnh rộng trước cửa treo biển sơn son thiếp vàng của Đông Bằng y xã. Việc y tế do một Tây y là Dương Trấn Hải người Triều Tiên phụ trách và một Đông y do Mai Lão Bạng phụ trách. Đến tháng 8 năm Nhâm Tý (1912), Phan lại cải tổ Việt Nam Quang Phục Hội để người Trung Hoa tham dự. Mai Lão Bạng giữ chức phó tổng trưởng tài chính. Lê Lộc Nam người Quảng Đông giữ chức tổng trưởng.

Tháng 3 năm Quý Sửu (1913), Phan và Mai Lão Bạng vẫn lưu trú tại Quảng Đông. Hai người trong thời kỳ này gặp rất nhiều khó khăn. Mai Lão Bạng viết bài Khuyến đồng tâm để khuyên anh em hoạt động cách mạng ngoài nước phải hết sức đoàn kết, quên hết tiểu khí tư lợi để cùng đồng lòng chung sức làm cách mạng. Vào tháng 5, tình hìnhTrung Hoa biến đổi, Long Tế Quang nắm chính quyền ở Quảng Đông và thay đổi thái độ đối với cách mạng Việt Nam, Việt Nam Quang Phục Hội phải rút lui vào bí mật. Tháng 8, viên Toàn quyền Xarô (Sarraut) thân sang Quảng Đông trực tiếp giao thiệp với tổng đốc Long Tế Quang, yêu cầu  bắt Cường Để, Phan Bội Châu và Mai Lão Bạng. Phan đã được người mật báo trước, nhưng chưa kịp rời Quảng Đông thì bị bắt. Hôm đó là ngày 24 tháng 12 (1913). Bọn quan quân Trung Hoa lấy tiền của Pháp vu cho Phan ngầm kết với Trần Quýnh Minh, bắt giam hai ông, mỗi người một nơi. Phan vận động Đoàn Kỳ Thụy giúp đỡ, nên Long Tế Quang đem giam ở núi Quan Âm và nói dối với Pháp là đã quyết nghị xử trảm rồi. Mai Lão Bạng vẫn bị giam ở sở cảnh sát mà Phan không biết . Đến tháng 3 năm Bính Thìn (1916), Long Tế Quang bị quân Hộ quốc của Thái Tùng Pha đánh bại chạy về Quỳnh Châu, Phan được tha. Lúc đó, Phan mới được Phan Bá Ngọc và Lê Dư báo cho biết tin Mai vẫn bị giam. Phan nhờ Mạc Vinh Tân cứu được Mai Lão Bạng, nhưng lại chính là mưu của Phan Bá Ngọc nhằm bắt Mai nộp cho Pháp. Vào tháng 3 năm Mậu Ngọ (1918), Mai ở nhà tù ra về đến Thượng Hải thì bị Phan Bá Ngọc bắt giải về trong nước. Ông bị giam ở nhà lao Hà Nội, rồi nhà lao Vinh. Ông bị kết án tù chung thân, nhưng đến năm 1926 thì Mai được địch thả về. Ông sống tại quê nhà ở Vinh và mất ở đó.

***

Nói tóm lại, Phan Bội Châu đã có nhiều đóng góp tích cực cho công cuộc vận động đồng bào Thiên Chúa giáo cũng như việc đoàn kết lương giáo ở đầu thế kỷ XX. Tuy nhiên, Phan chưa thấy rõ được nguồn gốc xã hội cũng như chưa thấy rõ được cơ sở giai cấp của vấn đề tôn giáo để đặt vấn đề đoàn kết tôn giáo. Nói chung ông còn chú trọng nhiều đến tầng lớp trên nên chưa khuấy động được một phong trào yêu nước rộng lớn trong đồng bào Thiên Chúa giáo. Vì vậy, phong trào còn lẻ tẻ, tự phát chưa đều trong toàn quốc và cũng chưa  có cơ sở vững chắc trong quảng đại quần chúng lao động của tín đồ Thiên Chúa giáo và phải đến khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương thì phong trào cách mạng Việt Nam nói chung, phong trào yêu nước của đồng bào Thiên Chúa giáo nói riêng mới trở thành một phong tròa quần chúng rộng lớn và có một cơ sở vững chắc.

                           (In theo: Nhà yêu nước và nhà văn Phan Bội Châu, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1970)

 

Chú thích:

(*) Đặng Huy Vận  (1930-1969): Giảng viên khoa Lịch sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội), tác giả của nhiều bài báo, công trình nghiên cứu lịch sử.

1) Đại Nam thực lục, kỷ thứ 4

(2) Daufè, La garde indigène de l’ Indochine, tome 2, Avignon – 1934, p.35.

(3)Đặng Huy Vận, Chu Thiên, Đề đốc Tạ Hiện và phong trào chống Pháp vùng Nam Định, Thái Bình cuối thế kỳ XIX, Nghiên cứu lịch sử, số 83.

(4) Delveaux, Quelques papiers du capitaine Mouteaux B.A.V.H.No 1, 1944, p, 49-90.

(5) (9) Đặng Hoàn Bằng, Việt Nam nghĩa liệt sử, Tôn Quang Phiệt dịch, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1959, tr.205.

(6) Đặng Thai Mai, dẫn trong Văn thơ Phan Bội Châu, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1958, tr.142-143.

(7) Cuốn này có bản dịch của Trần Lê Hữu với tên Hậu Trần dật sử, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1957.

(8) Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại, Nxb Nam Cường, Sài Gòn, 1951, tr.134.

(10) Bản dịch của Chu Thiên.

(11) Nguyên văn như sau:

Thần trí vị khai, dân trí ám,

Quốc quyền bất chấn, giáo quyền ti.

Lực bài nô chướng thiên trùng lũy,

Biệt thự mịnh đô thập tự kỳ.

(Bản dịch và tài liệu lấy từ, Huỳnh Thúc Kháng, Thi tù tùng thoại, sđd)

Phan Bội Châu, người đã viết về thiền sư Thiện Quảng – VHNA

23 Th9

Phan Bội Châu, người đã viết về thiền sư Thiện Quảng

Nguyên Huệ

 Sách Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam của Nguyễn Quyết Thắng – Nguyễn Bá Thế đã ghi nhận về Phan Bội Châu (1867 – 1940) như sau:

Chí sĩ, danh sĩ, nguyên tên là Phan Văn San, sau đổi tên là Phan Bội Châu, hiệu Sào Nam và nhiều biệt hiệu khác như Hải Thu, Thị Hán… Ông sinh ngày 1 tháng 12 năm Đinh Mão (26 – 12 – 1867), quê làng Đan Nhiễm, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An (nay là xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Ông nổi tiếng thông minh từ nhỏ, năm 1900 đỗ giải nguyên của trường thi Nghệ An,…Năm 1904, vận động thành lập hội Duy Tân, năm sau cùng Tăng Bạt Hổ sang Trung Quốc, rồi Nhật Bản gây dựng phong trào Đông Du…(Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam, NXB Văn Hóa, 1999, tr.772).

Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam cũng đề cập đến các tác phẩm của Phan Bội Châu. Trong đó có Tiểu truyện Tước Thái Thiền Sư (Truyện ông Thầy Rau). Tước Thái Thiền Sư tức Thiền sư Thiện Quảng (1862 – 1911) – vị thầy tu đặc biệt của Phật giáo Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX mà Phan Bội Châu đã gặp trên quãng đường Đông Du của mình.

Về một số chi tiết chính trong cuộc đời của Thiền sư Thiện Quảng, Phan Bội Châu đã viết hai truyện: Truyện đầu mang tên: Tước thái Thiền sư (Nhà sư ăn rau), viết bằng chữ Hán, đăng trên “Binh Sư Tạp Chí”, xuất bản ở Hàng Châu, Chiết Giang, Trung Quốc, số 44, tháng 12 năm 1917. (Xem bd của Chương Thâu, in trong Phan Bội Châu toàn tập, T3, Nhà xb Thuận Hóa, 1990, tr.234-249). Truyện thứ hai mang tên: Đường Tăng Nước Nam, Thiền sư Thiện Quảng, viết bằng chữ Quốc ngữ, đăng trên Tuần báo Mai xuất bản tại Sài Gòn, số 5, 6, tháng 4/1936. (Truyện này được đưa vào sách Văn Thơ Phan Bội Châu, Nhà xb Văn Học, H, 1967 tr 437-455)

Tổng hợp từ hai truyện trên, chúng ta có được chân dung của vị Thiền sư xuất chúng như sau:

Thiền sư Thiện Quảng họ Trần, không rõ tên thật, đạo hiệu là Thiện Quảng, người tỉnh Bến Tre, sinh năm 1862, gia đình vào hàng trung phú. Từ từ thời trẻ, Thiện Quảng đã có chí lớn. Tuy vậy, thuận theo lời cha, ông lập gia đình từ rất sớm và đến năm 23 tuổi, khi cha mất, ông xuất gia đầu Phật nhằm cố gắng thực hiện hạnh nguyện Bồ tát của mình.

Tu tập được 10 năm, trở thành một vị sư trụ trì, có nhiều bổn đạo, đệ tử, Thiền sư Thiện Quảng tự xét thấy mình chưa có gì gọi là thể hiện hạnh Bồ tát, nên ông phát nguyện sẽ tìm sang đất Phật để chiêm bái, học hỏi. Để thực hiện chí nguyện này, ông đã chọn phương pháp tu đặc biệt: không ăn cơm, không dùng tiền bạc, chỉ ăn rau, mỗi ngày lúc đầu ăn ba bữa, sau rút lại chỉ còn một bữa trưa, mỗi bận ăn chừng hai tô rau luộc với nước lã.

Năm 1898, khi 36 tuổi, Thiền sư Thiện Quảng lên đường tìm sang Thiên Trúc với chiếc thuyền có hai cột buồm và hai lá buồm lớn do các đệ tử ông chung sức lo liệu. Thực phẩm dành cho cuộc hành trình này là rau quả, chuối và nước uống cũng được các đệ tử chuẩn bị đầy đủ.

Sau gần hai ngày thuyền lênh đênh trên biển cả, gió càng thêm mạnh hơn và đã thổi dạt thuyền vào bờ biển Thái Lan. Tại đây, Thiền sư Thiện Quảng được người dân Thái, vốn phần đông theo đạo Phật, tôn kính, nhất là sau khi biết rõ vị sư này chỉ ăn toàn rau, không ăn cơm cũng như không sử dụng tiền bạc. Thiền sư Thiện Quảng được dẫn tới bệ kiến vua Thái Lan, Thiền sư trình bày tất cả sự thực về con người tu hành của mình nên được nhà vua tỏ lòng kính mộ, truyền chọn chùa riêng cho ông trụ trì, tu tập. Tuy vậy, công việc tìm sang Ấn Độ của Thiền sư vẫn được thực hiện sau khi ông đã hứa với nhà vua, sẽ trở lại đất Thái để tiếp tục tu trì vì đây là đất mà “duyên Phật” đã đưa ông tới.

Từ Thái Lan, cùng với ba người Miến Điện làm hướng đạo, Thiền sư Thiện Quảng đi qua Miến Điện, vào Tây Tạng rồi đến Ấn Độ xứ Phật, bấy giờ chỉ còn lại một người dẫn đường.

Chiêm bái, học hỏi trong vòng năm tháng ở đất Phật, Thiền sư Thiện Quảng từ Ấn Độ sang Trung Hoa, tìm tới chiêm bái núi Thiên Thai ở phủ Hàng Châu, tương truyền là nơi giáng tích của Phật Quan Âm. Ở Hàng Châu, Thiền sư đi Phúc Kiến, qua Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, sang Miến Điện rồi trở lại Thái Lan, chọn ngôi chùa nơi hang Kho Lẻm làm chốn tu hành. Thiền sư được người dân Thái quanh vùng dành cho sự ngưỡng mộ, cung kính hết mực qua cái tên gọi rất dân gian và thân thuộc: Ông Thầy rau.

Chính do tên gọi lạ tai ấy đã khiến Phan Bội Châu chú ý và tìm hiểu, dẫn tới sự gặp gỡ giữa hai người, có thể xem đấy là bước ngoặt thứ hai trong đời Thiền sư Thiện Quảng. Thời gian này, Phan Bội Châu và một số đồng chí đã bị trục xuất ra khỏi Nhật Bản và đang nương náu tại Thái Lan.

Chúng tôi xin trích dẫn những dòng viết rất sinh động của Phan Bội Châu về Thiền sư Thiện Quảng:

“…Sáng hôm sau, thầy dắt tôi đi chơi núi, vừa đi vừa nói chuyện, tôi kể sơ công việc cùng chí hướng của tôi. Thầy nghe giây lâu, không trả lời một tiếng… Lúc tôi từ biệt thầy rồi, ở trong hang bước ra, tôi ngảnh đầu vào cửa hang, thấy phảng phất như có vị Phật đại từ bi níu lấy áo tôi khiến cho thần hồn tôi vấn vương không đành bỏ hang đi dứt.

Tôi về Băng Cốc, tụ họp hết thảy anh em lưu lạc như tôi, thuật cho anh em nghe hết những lời thầy Thiện Quảng nói. Ai nấy đều nhiệt thành trông mong tới ngày được gặp thầy. Bởi vì chúng tôi lúc ấy có một vấn đề rất khẩn cấp. Anh em chúng tôi từ lúc bị Nhật Bản xua đuổi ra ngoài bờ cõi của họ, chúng tôi dắt nhau về Xiêm, toan tìm một phương pháp để hoạt động. Nhưng khổ quá! Tiền trong túi không có một xu mà tụ nhau ăn không ở nhàn có hàng trăm người, thật là nguy khốn. Cùng kế phải cho người về trong nước vận động với đồng bào Nam Kỳ… Tôi đem việc này bàn tính với ông Hội đồng Hiến… Hồi đó tôi hỏi ý kiến ông về việc chọn người cho về nước viện lương. Ông nói:

– Còn ai hơn Thầy Rau…

… Tôi đem vấn đề dân tình quốc kế và tình cảnh lưu lạc khốn khổ của anh em chúng tôi ở Xiêm nói hết cho Thầy nghe. Nửa giờ đồng hồ Thầy ngồi rất nghiêm trang im lặng, không mở miệng thốt ra một tiếng. Nhưng ngó thấy hai tròng nước mắt Thầy, giọt lệ ròng ròng chảy xuống ướt áo cà sa, mà hình như Thầy không tự biết. Tôi chắc Thầy cảm động lắm! Thầy cúi đầu trầm ngâm ước chừng mười lăm phút đồng hồ, thốt nhiên nói lớn rằng:

– Thế thì các ngài muốn tôi làm được việc gì để cứu được các ngài? Mà lại việc gì là việc sức tôi làm được? Tôi mấy lần đã phát nguyện làm Bồ tát mà gác việc anh hùng ra ngoài óc. Bây giờ tôi biết lấy gì giúp các ngài được đây?

Tôi đỡ ngay câu nói ấy mà tiếp theo rằng:

– Anh em tôi vẫn biết thầy phát nguyện làm Bồ tát mới dám cầu cứu với thầy. Xưa nay trong thế giới sở dĩ có Bồ tát là vì để cứu chúng sinh nhất là chúng sinh ở quê hương mình. Chúng sinh đó mà Bồ tát chẳng cứu giúp thì còn biết nhờ ai?

Thầy nghe tới đó, cảm động phi thường, vừa quẹt nước mắt vừa nói:

– Thế thì các ngài muốn tôi về Nam Kỳ sao?

Tôi thưa:

– Dạ! Thưa phải! Nam Mô A Di Đà Phật.

Thầy nói:

– Mục đích các ngài bảo tôi về Nam Kỳ là cốt ở vấn đề mưu tiền, nhưng hiềm vì tôi bổn lai phát nguyện không cầm tiền trong tay, vậy biết làm sao bây giờ?

Tôi thưa:

– Việc đó chúng tôi cũng đã tính. Chúng tôi cần ngài là muốn rước một vị Phật sống về Nam Kỳ cho đồng bào tín nhậm, nhờ Phật thuyết pháp cho một đôi lời. Còn việc tay cầm tiền bạc thì đã có tay khác cầm, chớ không dám để đồng tiền làm bận tay của Bồ tát…

Tôi với ông Hội đồng đã được thầy nhận lời, trong lòng chúng tôi thiệt mừng rỡ, như câu sách Phật: “Chúng sinh đại hoan hỉ”….

Thấm thoát sau một tháng, đã thấy Thầy Rau trở qua Băng Cốc, trong túi anh Minh Trai kéo ra hai ngàn đồng bạc giấy. Thầy Rau nói số tiền đó là số tiền của đám đồ đệ thầy chung góp, chớ chưa phải quyên thỉnh của ai. Nếu muốn kiếm số tiền cho lớn thì để Thầy về Nam Kỳ một lần nữa.

Thiệt qua năm sau, thầy lại vì anh em chúng tôi mà lên đường về Nam. Anh em khuyên thầy đi đường thủy, nhưng thầy vẫn quyết chí đi đường bộ. Rồi thầy do ngả Cao Miên xuyên đường rừng núi mà xuống Tây Ninh. Rủi cho thầy và một người đồng hành bị bại lộ hành tích nên chi cả hai thầy trò giữa đường ngộ nạn, nhuộm máu với giang sơn! Thương thay! Năm đó Thầy mới trong vòng năm mươi tuổi. Hai chữ Thầy Rau bây giờ còn ghi ở một tấm bia đá kỷ niệm trong hang Kho Lẻm..”.

(Văn Thơ Phan Bội Châu, Nhà xb Văn Học, H, 1967, tr.450-455)

Đó là những dòng cụ Phan viết bằng chữ Quốc Ngữ. Còn đây là một số dòng mang tính chất ca ngợi Thiền sư Thiện Quảng nơi truyện viết bằng chữ Hán:

“… Con người của “Nhà sư ăn rau” cũng giống như chiếc máy điện khí trong thời đại điêu tàn, như tia sáng mặt trời trong thời đại hắc ám… Như Nhà sư ăn rau của chúng ta thì thực là có đủ khí khái trác việt, xứng với câu “Trên trời dưới đất chỉ có đạo của ta là chí tôn” đó mà chính bản thân ông đã thực hành..”. (Truyện Tước Thái Thiền sư, Chương Thâu dịch, in trong Phan Bội Châu toàn tập, T3, Nhà xb Thuận Hóa, 1990, tr.236)

Và Phan Bội Châu đã liệt kê 4 điểm kỳ dị, hiểu theo nghĩa là kỳ lạ, phi thường, trong cuộc đời của Thiền sư Thiện Quảng như sau:

“Một mình một thuyền, bơi trên biển cả, ngồi nghiêm trang tụng kinh, thân thể vẫn chu toàn. Đó là việc kỳ dị thứ nhất. Bốn phương trời nam bát ngát, vạn dặm coi như gang tấc, dấn thân vào nơi nước Phật, giác ngộ đạo Phật rồi quay trở về. Đó là việc kỳ dị thứ hai. Là một người đi tu mà vẫn gánh vác việc nước, vào nơi hang hùm miệng sói, dù phải hy sinh cũng không tiếc thân mình. Đó là việc kỳ dị thứ ba. Hạt gạo không ăn, đồng tiền không lấy, nhiệt tâm yêu nước, đem thân đảm nhiệm công việc. Đó là việc kỳ dị thứ tư. Có bốn việc kỳ dị đó nên nhà sư đã trở thành một nhà sư kỳ dị”. (Truyện Tước Thái Thiền sư, Sđd, tr248)

Qua hai truyện được Phan Bội Châu kể trên (nhất là truyện được viết bằng chữ Quốc Ngữ), chúng ta nhận thấy Phan Bội Châu đã có nhiều cảm tình với Phật giáo, quan trọng hơn nữa là đã có những hiểu biết rất chính xác và đánh giá rất đúng đắn về đạo Phật, về sứ mạng của đạo Phật trong cuộc đời.

Về khía cạnh lịch sử: những truyện về Thiền sư Thiện Quảng của Phan Bội Châu, cùng với các cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Võ Trứ (ở nam Bình Định và bắc Phú Yên, năm 1898), của Vương Quốc Chính ở một số tỉnh miền Bắc (cuối năm 1898)… là những minh chứng hùng hồn cho sự gắn bó tốt đẹp giữa Phật giáo và dân tộc Việt Nam trong bất cứ hoàn cảnh nào của đất nước.

Cùng với sự việc học giả Lê Thước (1890 – 1975) đã phát hiện tác phẩm Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của Thi hào Nguyễn Du (1765 – 1820) tại ngôi chùa Diệc (Nghệ An); Tiến sĩ Đinh Văn Chấp một danh sĩ của đất Nghệ An đã mở đầu cho công việc dịch thơ Thiền thời Lý – Trần hay Hòa thượng Thích Minh Châu (tức Đinh Văn Nam, con trai Tiến sĩ Đinh Văn Chấp) – một vị danh tăng tiểu biểu của Phật Giáo Việt Nam thế kỷ XX, người mở đầu cho sự nghiệp Việt dịch ĐTK chữ Pali ( đã dịch 4 Bộ Nikàya là Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Chi Bộ) góp phần chính để hoàn thành  ĐTK Việt Nam phần Phật Giáo Nam truyền… Tất cả đã cho thấy, nhân tài, danh sĩ của xứ Nghệ, đã lưu giữ, đã đóng góp rất đáng kể cho Phật Giáo Nghệ An nói chung và Phật Giáo Việt Nam nói riêng. Do đó, văn hóa Phật Giáo xứ Nghệ cần được sưu tập, bảo tồn và phát huy, và hiện đại hóa…góp phần giúp cho Phật Giáo Nghệ An hiện tại đạt được những thành tựu, vươn tới tầm cao đã từng có trong quá khứ.

 

 

 

 
%d bloggers like this: