Tag Archives: PHÁT TRIỂN

Chủ nghĩa phát triển và mũi đột phá cho Việt Nam – Vnn

21 Th9

– Qua những phân tích ở bài trước ta đã thấy tại sao Việt Nam phát triển còn chậm, hiệu suất thấp, và đã thấy những thách thức rất lớn mà hiện nay Việt Nam phải trực diện. Có lẽ rất nhiều người tiếc rằng tiềm năng của Việt Nam rất lớn mà không được phát huy.

>> Những thách thức hiện nay của Việt Nam

Một nước có quy mô dân số và lao động khá đông với cơ cấu thuận lợi (dân số vàng), và lại có sự thống nhất cao về văn hóa, ngôn ngữ trên thế giới không có nhiều. Vị trí địa lý với bờ biển dài nằm giữa vùng phát triển năng động châu Á, tiếp cận dễ dàng với tri thức khoa học và công nghệ là một thuận lợi khác.

Tài nguyên thiên nhiên không quan trọng bằng nguồn nhân lực, nhưng với nông thủy khoáng sản rất đa dạng nếu biết khai thác hợp lý và chế biến, chế tác thành sản phẩm công nghiệp cũng dễ hình thành một nền công nghiệp đa dạng và bền vững.

thi tuyển quan chức, chủ nghĩa phát triển, dân số vàng, cải cách tiền lương, tinh giản bộ máy, doanh nghiệp tư nhân, xuất khẩu lao động, Trần Văn Thọ, góp ý Đại hội Đảng 12, Đại hội Đảng 12, ODA, tốt nghiệp ODA
Phải có cơ chế tuyển chọn người tài ra làm việc nước. Ảnh: 6 ứng viên dự thi tuyển chức Vụ trưởng Vụ Vận tải, Bộ GTVT, tháng 8/2014

Ở đây chưa nói đến lực lượng người Việt Nam ở nước ngoài với rất nhiều chuyên gia về mọi ngành khoa học, công nghệ và quản lý.

Để phát huy tiềm năng và đưa Việt Nam vào kỷ nguyên phát triển nhanh, bền vững, đối phó hữu hiệu với những thách thức hiện nay và tạo cho đất nước một vị thế xứng đáng tên vũ đài quốc tế, những người có trách nhiệm ở Việt Nam phải ưu tiên bắt tay vào những vấn đề gì? 

1. Trước hết lãnh đạo phải nhận thức sâu sắc và bức xúc thật sự trước 3 thách thức mà Việt Nam trực diện hiện nay và đánh giá đúng vị trí của Việt Nam trên vũ đài thế giới. Từ đó đưa ra tầm nhìn về hình ảnh quốc gia trong tương lai.

Phần trên tôi đã phân tích các thách thức. Ở đây nói thêm về vị trí của Việt Nam hiện nay trên vũ đài quốc tế, vị trí về quy mô kinh tế và các mặt về chất như uy tín, hình ảnh, thanh danh.

1a. Về quy mô và trình độ phát triển:

Trên thế giới, hiện nay Việt Nam xếp thứ 14 về quy mô dân số, nhưng GDP thì xếp thứ 57, còn GDP đầu người thì ở vị trí 116. Quy mô của GDP như vậy không thể có một ảnh hưởng nhất định đến kinh tế thế giới. GDP đầu người phản ảnh trình độ phát triển của Việt Nam còn rất thấp tuy vừa được xếp vào nhóm thu nhập trung bình (thấp).

So sánh với các nước chung quanh, quy mô kinh tế Việt Nam mới xấp xỉ bằng phân nửa Malaysia và Thái Lan, mặc dù dân số đông hơn nhiều. Theo dự báo của Ngân hàng phát triển Á châu (ADB), trong những nước có quy mô dân số tương đối lớn tại ASEAN, từ năm 2010 đến 2030 Việt Nam phát triển với tốc độ cao nhất (7%) nhưng đến năm 2030 GDP cũng chỉ bằng nửa Thái Lan và nhỏ hơn Malyasia nhiều. Nếu Việt Nam phát huy hết tiềm năng và phát triển 9-10% trong thời gian từ nay đến 2030 hay 2035 thì vị trí của Việt Nam sẽ khác hẳn.

Dĩ nhiên ở đây không có ý nói phải phát triển với tốc độ cao bằng bất cứ giá nào mà song song phải chú trọng về chất (bảo vệ môi trường, phân bổ nguồn lực hợp lý, tạo nhiều công ăn việc làm, tạo cơ hội tiếp cận bình đẳng đến các nguồn vốn, dần dần chuyển sang giai đoạn tăng trưởng dựa trên cải tiến công nghệ, cải tiến quản lý). Trừ vấn đề bảo vệ môi trường, tất cả những mặt về chất lượng vừa nói không có tính cách kiềm hãm tốc độ phát triển. Đặc biệt chú trọng phát triển có hiệu suất sẽ làm tốc độ phát triển cao hơn với cùng một đơn vị về nguồn lực.

Phát triển nhanh còn là nhu cầu thiết thân để đối phó, tuy đã rất trễ, với thách thức chưa giàu đã già. Tạo các điều kiện để phát triển nhanh, như sẽ nói dưới đây, cũng tránh được nguy cơ sa vào bẫy thu nhập trung bình thấp.     

1b. Xuất khẩu lao động và hình ảnh của Việt Nam trên thế giới:

Lao động xuất khẩu phản ảnh trình độ, vị trí và uy tín của một nước trên vũ đài quốc tế. Một nước xuất khẩu nhiều lao động giản đơn hầu hết, nếu không nói là tất cả, là những nước nghèo, và do đó hình ảnh của những nước này không mấy sáng sủa. Có kế hoạch chấm dứt tình trạng này trong thời gian càng ngắn càng tốt là trách nhiệm của những người lãnh đạo đất nước.

Không kể thời kỳ quan hệ mật thiết với các nước Đông Âu, xuất khẩu lao động của Việt Nam tăng nhanh từ cuối thập niên 1990 và chủ yếu sang các nước Đông Á. Từ năm 2001, bình quân mỗi năm có 7 vạn, gần đây là 9 vạn, lao động được đưa đi ra nước ngoài. Báo chí đã phản ảnh tình trạng khó khăn, nhiều trường hợp rất bi thảm, của người lao động đang làm việc ở nước ngoài.

Hàn Quốc và Thái Lan cũng đã từng xuất khẩu lao động nhưng chỉ trong thời gian rất ngắn và họ đã thành công trong việc chuyển dịch vị trí từ nước xuất sang nước nhập khẩu lao động. Ngược lại, Philippines là nước điển hình tiếp tục xuất khẩu lao động và cũng là nước điển hình trì trệ về kinh tế.

Do tích cực đầu tư sang Việt Nam, hiện nay (cuối năm 2014) số người Hàn Quốc sinh sống tại nước ta lên tới hơn 15 vạn. Ngược lại, tại Hàn Quốc có hơn 12 vạn người VN đang sinh sống, trong đó gần 26.000 người cư ngụ bất hợp pháp. Ngoài vài ngàn người là sinh viên du học, hầu hết người Việt tại Hàn Quốc là lao động giản đơn hoặc phụ nữ kết hôn với người bản xứ mà theo nhiều nguồn tin trong đó một số không nhỏ đi làm dâu xa vì lý do kinh tế.

Như vậy có sự tương phản trong quan hệ Việt Hàn: người Hàn Quốc đến Việt Nam là để làm chủ trong khi người Việt Nam đến Hàn Quốc là để làm thuê. Người Việt làm thuê cả ở xứ mình và xứ người. Trách nhiệm của các nhà lãnh đạo chính trị là sớm chấm dứt một tình trạng liên quan đến thể diện quốc gia này.

1c. Cần nhanh chóng hình thành doanh nghiệp tư nhân mạnh:

Một nước với số dân trên 90 triệu, có nền văn hóa lâu đời, mà lại phụ thuộc nhiều vào tư bản nước ngoài thì không thể hãnh diện với thế giới. Trong thời đại toàn cầu hóa, các nước tùy thuộc vào nhau, ngoại lực giúp các nước đi sau tiến triển nhanh nhưng nội lực (ở đây chủ yếu nói doanh nghiệp trong nước) vẫn quan trọng hơn, và nội lực mạnh mới sử dụng ngoại lực có hiệu quả.

Các nước Đông Á, điển hình là Nhật Bản, Hàn Quốc, chủ nghĩa dân tộc của giới lãnh đạo đã giúp làm cho đội ngũ doanh nhân bản xứ ngày càng mạnh. Trên thực tế, chỉ khi doanh nghiệp bản xứ mạnh lên rồi họ mới kêu gọi đầu tư nước ngoài và FDI được đưa vào từng bước theo đà phát triển của doanh nghiệp trong nước.

Theo tôi, Việt Nam hiện nay phải đặt ưu tiên việc hình thành và nuôi dưỡng doanh nghiệp tư nhân mạnh, có biện pháp cụ thể để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận vốn, đất đai, thông tin và hoạt động trong môi trường kinh doanh thông thoáng, không bị nạn tham nhũng làm thui chột tinh thần doanh nghiệp. Doanh nghiệp quốc doanh sẽ tồn tại trong một số lãnh vực nhất định nhưng phải triệt để hoạt động theo cơ chế thị trường và trên hệ thống quản trị doanh nghiệp (corporate governance) hoàn chỉnh.

1d. Cần có kế hoạch tốt nghiệp ODA:

Ngoài ra nếu không có kế hoạch sớm chấm dứt nhận viện trợ nước ngoài (tức “tốt nghiệp” ODA) thì cũng không cải thiện được hình ảnh Việt Nam trên vũ đài thế giới.

Đồng vốn ODA chưa được xem xét trong tổng thể chung với vốn trong nước. ODA thực sự chỉ cần thiết khi trong nước khả năng tiết kiệm còn hạn chế, không đủ vốn để đầu tư. Nhưng ở Việt Nam, đã có điều tra cho thấy có sự thất thoát lớn trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư công nên phí tổn xây dựng hạ tầng rất cao. Ngoài ra, ngân sách nhà nước chi tiêu cho nhiều dự án không cần thiết, không có hiệu quả kinh tế.

Hiệu quả của đồng vốn ODA phải được xem xét trong tổng thể chung với vốn trong nước. Không thể một mặt lãng phí nguồn lực trong nước và mặt khác lệ thuộc nhiều vào vốn nước ngoài. Một điểm có liên quan đến vấn đề này là báo chí đã cho thấy nhiều lãnh đạo, quan chức ở trung ương và địa phương đang có cuộc sống rất xa hoa, không tương xứng với trình độ phát triển của đất nước, không phù hợp với chính sách tiếp nhận nhiều ODA từ nước ngoài.

 
 

Việt Nam cần đặt ra kế hoạch giảm ODA trong 10 năm tới, tiến tới “tốt nghiệp ODA” trong 15-20 năm tới. Không kể thời kỳ nhận viện trợ từ Liên xô cũ và các nước Đông Âu, Việt Nam cũng đã nhận ODA hơn 20 năm rồi, bây giờ là lúc cần nghĩ đến việc giảm và tốt nghiệp ODA trong một mốc thời gian không quá xa. Có như vậy đồng vốn trong nước và vốn ODA mới được quan tâm sử dụng có hiệu quả. Việc tùy thuộc lâu dài vào ODA phải được xem như là sự thất bại của chiến lược phát triển.

Tôi nghĩ trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là phải đưa ra tầm nhìn, dự phóng về một tương lai 15 hoặc 20 năm tới, trong đó có những cam kết cụ thể về việc đưa đất nước lên hàng thượng đẳng trong đó kinh tế có một vị trí quan trọng, chẳng hạn tương đương với vị trí của quy mô dân số, không còn lao động xuất khẩu, không còn nhận viện trợ và có một đội ngũ tư bản dân tộc vững mạnh. Như vậy mới đáp ứng được kỳ vọng của dân chúng.

Không nên tiếp tục đưa ra những mục tiêu trừu tượng, không thiết thực, hoặc những mục tiêu chung chung… Việt Nam đang cần những người lãnh đạo đề cao chủ nghĩa phát triển, thoát ra những trói buộc vào ý thức hệ lỗi thời, vào những giáo điều mà thực tế đã cho thấy không còn giá trị.

Năm 2015 là năm chẵn kỷ niệm nhiều sự kiện lịch sử. Nhiều người có trách nhiệm sẽ phát biểu về tương lai Việt Nam nhưng sẽ là một thiếu sót lớn nếu không đề cập đến việc thay đổi hình ảnh của Việt Nam trên vũ đài quốc tế về trình độ phát triển, về người lao động xuất khẩu, về sự tùy thuộc tư bản và ODA nước ngoài.

2.  Những cải cách cấp bách để chuẩn bị cho giai đoạn phát triển nhanh:

Để thực hiện mục tiêu dài hạn nói trên, trong vòng 2 hoặc 3 năm tới phải làm cuộc cách mạng về hành chánh mới tạo điều kiện cho các nguồn lực được sử dụng không lãng phí, có hiệu quả, và mới tạo môi trường cho doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh, tránh được bẫy thu nhập trung bình thấp. Cụ thể:

2a. Tinh giản bộ máy nhà nước:

Cần công bố thống kê về số người ăn lương và làm việc trong bộ máy quản lý nhà nước các cấp, kể cả bộ máy của Đảng và các đoàn thể. Đảng tự nhận là người lãnh đạo duy nhất của đất nước thì phải có nghĩa vụ cho dân biết thực trạng của bộ máy. Đảng phải được xem như là một bộ phận trong cả bộ máy nhà nước đang là đối tượng cải cách.

Từ việc nắm vững thực trạng mới đưa ra các lộ trình tinh giản bộ máy để dồn nguồn lực vào lãnh vực khác và để thuận tiện cho việc giải quyết vấn đề tiền lương như sẽ nói dưới đây. Việc cải cách này chắc chắn gặp khó khăn nhưng không thể không thực hiện nếu những người ở vai trò lãnh đạo muốn đất nước phát triển. Vì khó khăn mà lại tối quan trọng nên vấn đề này lớn ngang tầm với một cuộc cách mạng.  

2b. Trách nhiệm, quyền hạn của lãnh đạo, của quan chức nhà nước phải được quy định cụ thể, quy chế đề bạt hay cách chức cũng phải rõ ràng và nhất là phải được đánh giá nghiêm túc định kỳ (chẳng hạn mỗi năm một lần).   

Thực tế ở Việt Nam hiện nay là việc đề bạt không theo những quy định rõ ràng và công khai, sau khi được đề bạt thì được giữ vị trí đó suốt trong thời gian dài, chỉ nghỉ khi hết tuổi. Nhiều bộ trưởng ở đến 2 nhiệm kỳ 10 năm trong khi chẳng có thành tích xứng đáng trong lãnh vực mình phụ trách. Điều này vừa làm mất động lực phấn đấu của chính người đó và mất cơ hội thăng tiến của những người có năng lực hơn.

Một điểm liên quan nữa là nhiều người ở cương vị lãnh đạo bộ ngành (bộ trưởng, thứ trưởng…) lại xen vào công việc ở lãnh vực khác. Điển hình là nhiều người xen vào công việc của giáo sư đại học (hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ hoặc ngồi hội đồng chấm luận án tiến sĩ). Hiện tượng rất phản khoa học này (bộ trưởng, thứ trưởng hoặc quan chức khác không thể có năng lực và thời gian cho công việc nghiên cứu và giáo dục ở đại học) không những gây tác hại cho giáo dục đào tạo mà còn tỏ ra thiếu nghiêm túc trong lãnh vực mình được giao phó. Ở hầu hết các nước khác, hành động như vậy bị phê phán nặng và thường bị cách chức ngay. Vấn đề này nhiều người, trong đó có tôi, đã nêu lên nhiều lần nhưng cho đến nay không có lãnh đạo cao cấp nào đưa ra cam kết chấn chỉnh.

Ngoài ra, như đã nói ở phần so sánh với Trung Quốc, tại Việt Nam, địa phương phát triển hay không không phải là điều kiện để lãnh đạo thăng tiến. Khoảng 10 năm gần đây trong phương châm luân chuyển cán bộ, nhiều cán bộ nguồn được gửi về địa phương để thêm kinh nghiệm thực tế và sau đó được gọi về trung ương giữ các chức vụ tương đương bộ trưởng hay thứ trưởng mà không xem xét người đó đã có thành tích như thế nào ở địa phương mình phụ trách.

2c. Cần làm ngay cuộc cách mạng về tiền lương:

Ở đây không cần bàn thêm về sự tác hại của vấn đề tiền lương hiện nay. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh là lãnh đạo Việt Nam trong vòng 2-3 năm tới phải dứt khoát giải quyết vấn đề này. Nhà nước cần lập một ban nghiên cứu có sự tham gia của những chuyên gia độc lập, được cung cấp các thông tin cần thiết về thành phần ăn lương, về các mục chi tiêu ngân sách v.v… và đưa kết quả nghiên cứu cũng như khuyến nghị cải cách ra công chúng để người dân bàn bạc. Có thể xem xét các hướng giải quyết như sau:

Thứ nhất, đưa vào lương mọi thu nhập ngoài lương của quan chức, của các cấp lãnh đạo; triệt để bãi bỏ các loại phong bì vẫn đang rất phổ biến khi các lãnh đạo, quan chức đi họp, đi dự các lễ lạt.

Thứ hai, bỏ hoặc giảm những hình thức khen thưởng (các loại huân chương, các bằng khen thưởng…) đang phổ biến tràn lan, rất tốn kém. Một cơ quan nhà nước làm việc đúng bổn phận và hoàn thành công việc được giao tại các nước khác là chuyện đương nhiên, không phải khen thưởng. Nếu không làm đủ bổn phận thì bị khiển trách, những người có trách nhiệm bị giáng chức, hoặc bị chuyển sang công việc khác. Ở các nước khác không phải tốn các phí tổn khen thưởng tràn lan như ở Việt Nam.

Thứ ba, cho đến khi việc cải cách tiền lương thực hiện thành công, không cấp ngân sách cho những dự án chưa cần thiết, như việc xây các đài tưởng niệm, các cơ sở hành chính hoành tráng.  Ngay cả các dự án hạ tầng lớn cũng có thể trì hoãn một thời gian để dành ngân sách cho việc cải cách tiền lương.

2d. Tổ chức thi tuyển quan chức:

Trong việc kiện toàn bộ máy hành chính, một vấn đề lớn nữa là phải có cơ chế tuyển chọn người tài ra làm việc nước. Ở các nước khác, quan chức ở trung ương và ở địa phương đều phải qua thi tuyển công khai và công bằng. Nội dung thi tuyển nhằm bảo đảm trình độ văn hóa, sự hiểu biết luật pháp và nghiệp vụ chuyên môn.

Ba yếu tố này hình thành nhân cách và năng lực của quan chức, bảo đảm công việc hành chánh trôi chảy. Vượt qua các kỳ thi tuyển khó khăn làm cho quan chức cảm thấy có sứ mệnh trong việc xây dựng đất nước và hun đúc lòng tự trọng. Cùng với việc giải quyết vấn đề tiền lương nói ở trên, đây là những yếu tố làm cho nạn tham những khó có đất sống.

Nhiều sự kiện gần đây cho thấy trình độ và đạo đức của nhiều quan chức Việt Nam rất có vấn đề, không tương thích với một đất nước có bề dày văn hóa và đang cần phát triển nhanh. Cần chọn một ngày trong năm làm ngày tuyển chọn nhân tài ra làm việc nước để một mặt khích lệ tài năng trẻ nỗ lực học tập, chuẩn bị để có cơ hội tham gia việc nước, và mặt khác, dần dần hình thành một đội ngũ quan chức đảm trách được quá trình phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới.

Đề cao chủ nghĩa phát triển  

Để vượt qua những thách thức hiện nay và để Việt Nam có một vị trí xứng đáng trên vũ đài thế giới, người  lãnh đạo phải có tinh thần yêu nước, có sứ mệnh và quyết tâm xây dựng dựng Việt Nam thành một quốc gia thượng đẳng. Nên chấm dứt những khẩu hiệu hay phương châm không đi vào lòng dân, thay vào đó đề cao chủ nghĩa phát triển.

Từ tinh thần đó mũi đột phá là cải cách bộ máy hành chính, cải cách việc tuyển chọn, đề bạt và đánh giá năng lực quan chức. Không giải quyết mũi đột phá này thì không thể thực hiện thành công các chiến lược, chính sách phát triển lâu dài.

GS Trần Văn Thọ(Đại học Waseda, Nhật Bản)

Đất nước muốn phát triển, con người phải được tự do – Tvn

31 Th8

Để đất nước phát triển, con người cần không gian tự do sáng tạo. Do đó, trong một xã hội dân chủ, về nguyên tắc không gian tự do cần tương đối rộng và ngược lại những hạn chế quyền tự do phải tương đối hẹp.

Tránh nguy cơ “khóa” các quyền hiến định

Hiến pháp của thời kỳ đổi mới

Những vấn đề để ngỏ trong Dự thảo Hiến pháp

Quyền con người trong Tuyên ngôn độc lập 1945…

Ngay trong những ngày đầu của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa độc lập, cụ thể ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Ngày nay, chúng ta đã xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhưng nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.

Hồ Chí Minh cũng đã thể hiện rõ tư tưởng bảo đảm quyền tự do của nhân dân trong bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945. Ngay từ những câu đầu tiên, Người đã trích dẫn những “lời bất hủ” (nguyên văn chữ dùng của Bác) trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ do Thomas Jefferson soạn thảo: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc“.

Người còn nhắc lại Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791 như một sự lên án đanh thép tội ác của thực dân Pháp đã “lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta… tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào… thi hành những luật pháp dã man”.

Tại sao Người lại nhấn mạnh trong Tuyên ngôn độc lập một tư tưởng từ tuyên ngôn độc lập và dân quyền của các quốc gia tư bản? Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời ngay trong Tuyên ngôn độc lập 1945: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Hồ Chí Minh đã phân biệt rạch ròi giữa chế độ chính trị của một quốc gia và chân lý, giá trị phổ quát của nhân loại.

Thật vậy, các quốc gia dù khác nhau về chế độ chính trị đều phải hướng tới mục tiêu bảo vệ các quyền và tự do căn bản và đem lại cuộc sống hạnh phúc cho người dân.

Ba năm sau Tuyên ngôn độc lập của VNDCCH và cũng là ba năm sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Đại Hội đồng Liên hiệp quốc, thông qua bản Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền con người 1948 (Universal Declaration of Human Rights), cũng đã nhấn mạnh ngay từ đầu: “Sự công nhận nhân phẩm của mọi người trên toàn thế giới và các quyền bình đẳng không thể tước đoạt của họ chính là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới”.

Trải qua bao xương máu của nhân loại, đặc biệt từ đau thương của Chiến tranh thế giới thứ hai, Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền con người đúc kết: “Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm đến lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn lo sợ hãi và nghèo khó, phải được coi là ước vọng cao nhất của con người”.

Đến Hiến pháp 1946…

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam đã khẳng định ngay trong lời nói đầu ba nguyên tắc căn bản của Hiến pháp là: “Đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo; Đảm bảo các quyền tự do dân chủ; Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”. Suy cho cùng, đây cũng chính là nguyên tắc “nhà nước của dân, do dân, vì dân” do Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln đúc kết (“Government of the people, by the people, for the people, shall not perish from the Earth”).

Lời nói đầu Hiến pháp 1946 cũng nhắc nhở chúng ta rằng “chủ quyền cho đất nước” và “tự do cho nhân dân” luôn song hành. Điều đó thể hiện triết lý sứ mệnh của một nhà nước có chủ quyền không gì khác nhằm “đảm bảo các quyền tự do dân chủ” cho nhân dân. Tiếp đó, Chương II đã long trọng tuyên bố sự công nhận và cam kết bảo đảm các quyền con người phổ quát. Nhìn một cách tổng thể, Hiến pháp 1946 đã thể hiện những tư tưởng chính trị-pháp lý tiến bộ và hoàn toàn có thể là điểm sáng so với các hiến pháp cùng thời trên thế giới.

Hiến pháp, quyền con người, nhân quyền, độc lập, quốc khánh
Quốc hội biểu quyết thông qua dự thảo Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam. Ảnh: An Đăng – TTXVN

…và Hiến pháp 2013

Hiến pháp hiện hành tiếp tục khẳng định “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” (khoản 1 Điều 2) và “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân” (Điều 3).

 

Như vậy, Hiến pháp 2013 đã thể hiện triết lý quyền con người không phải do nhà nước ban phát mà các quyền do “tạo hóa” sinh ra gắn với mỗi người. Theo đó, quyền con người phải được Nhà nước “công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm”.

Trong số các quyền con người được Hiến pháp ghi nhận và bảo vệ, chỉ có một số ít quyền tuyệt đối, tức không bị giới hạn trong bất kỳ trường hợp nào. Quyền được tôn trọng về nhân phẩm, trong đó bao gồm quyền không bị làm nô lệ, quyền không bị tra tấn và đối xử một cách tàn ác, được phần đông thừa nhận mang tính tuyệt đối, không thể bị hạn chế.

Ngoài những quyền tuyệt đối, các quyền còn lại đều có thể bị giới hạn ở những mức độ khác nhau. Sự giới hạn quyền là hiện tượng bình thường và phổ biến ở mọi quốc gia.

Tuy vậy, việc hạn chế này không được tùy tiện và phải tuân theo những nguyên tắc. Tuyên ngôn Phổ quát về Quyền con người 1948, văn bản được coi là kết tinh của tinh hoa và chuẩn mực toàn cầu, đã quy định nguyên tắc giới hạn quyền con người này tại Điều 29: “Trong việc thực thi các quyền và tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ”.

Tiếp thu tư tưởng này, Hiến pháp 2013 ghi nhận: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (khoản 2, Điều 14). Đây là bước tiến lớn trong tư duy lập hiến ở Việt Nam.

Nguyên tắc này đảm bảo một không gian hợp lý để công dân “tự do” thực hiện quyền của mình, miễn là không lấn vào những phần bị nhà nước “hạn chế”. Thời đại ngày nay, mọi quốc gia giống nhau ở chỗ đều công nhận các quyền và tự do cơ bản, chỉ khác nhau ở phạm vi các quyền bị giới hạn và phương pháp đặt ra vùng bị giới hạn đó.

Nhằm thực hiện khoản 2 Điều 14 Hiến pháp một cách đúng đắn, trước hết, việc nhà nước giới hạn các quyền công dân phải được quy định bằng pháp luật rõ ràng và minh bạch và có lý do chính đáng – tức nhằm bảo vệ quyền của người khác và lợi ích chung của xã hội. Đối với những quyền mà việc thực hiện nó không làm ảnh hưởng đến người khác và lợi ích chung của xã hội, các nhà nước không có lý do chính đáng để hạn chế. Chẳng hạn, nhà nước không cần can thiệp vào những việc như người dân treo tranh gì trong nhà, nhưng có quyền hạn chế số tầng của ngôi nhà nhằm đảm bảo mỹ quan đô thị hay an toàn xây dựng.

Thứ hai, việc hạn chế quyền phải phù hợp với mục tiêu. Chẳng hạn, nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông, nhà nước có thể phạt tiền người vi phạm luật chứ không thể cấm người dân sở hữu xe. Ngoài ra, việc hạn chế quyền cần vừa đủ nhằm đạt được mục tiêu. Ví dụ, nhằm răn đe người vượt đèn đỏ, việc phạt tiền nghiêm khắc là đủ mà không cần phải phạt tù; nhưng đối với người uống rượu lái xe, phạt tù ngắn hạn là phù hợp.

Thứ ba, lợi ích của việc hạn chế quyền phải lớn hơn thiệt hại do việc hạn chế đó gây ra. Có thể lấy bài học về quyền tự do kinh doanh làm thí dụ. Thời bao cấp, quyền tự do kinh doanh bị hạn chế khá lớn, đã kìm hãm nền kinh tế. Theo đó người dân chỉ có thể tham gia kinh doanh tập thể của nhà nước mà không thể thành lập doanh nghiệp tư nhân. Điều này chứng minh việc hạn chế quyền không hợp lý, trái với quy luật phát triển sẽ không đem lại lợi ích mong đợi.

Kể từ đổi mới kinh tế, người dân được mở doanh nghiệp tư. Về tổng thể, khi tự do của người dân được giải phóng, của cải xã hội được tạo ra nhiều hơn và có chất lượng tốt hơn thời tập trung quan liêu bao cấp.

Tóm lại, mỗi nhà nước muốn hạn chế quyền công dân cần tính đến tính chính đáng, tính phù hợp và tính ích lợi xã hội. Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp phải là kim chỉ nam cho việc xây dựng các luật liên quan mật thiết đến quyền và tự do cá nhân như Bộ luật hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tiếp cận thông tin, Luật lập hội, Luật biểu tình, Luật tôn giáo.

Quyền con người và nhà nước kiến tạo phát triển

Để phát triển, quốc gia cần phải phát huy tiềm lực con người. Muốn vậy, con người cần không gian tự do sáng tạo. Do đó, trong một xã hội dân chủ, về nguyên tắc không gian tự do cần tương đối rộng và ngược lại những hạn chế quyền tự do phải tương đối hẹp.

Tất nhiên, mối tương quan giữa tự do-hạn chế này khác nhau giữa các quốc gia và cũng khác nhau giữa các quyền. Nền pháp quyền hiện đại luôn đòi hỏi một “chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” (Lời nói đầu Hiến pháp 1946 nêu trên) phải viện dẫn lý do chính đáng và tính toán những lợi ích xã hội khi muốn hạn chế tự do của người dân. Thực hiện đúng đắn Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp là một chỉ số của nhà nước kiến tạo phát triển.

Bùi Tiến Đạt

(Giảng viên Khoa Luật-ĐHQGHN, NCS Đại học Macquarie, Australia)

Mất vốn văn hóa, đất nước loay hoay phát triển – TuanVietNam

29 Th12

 

Nhà báo Thu Hà:Thưa quý vị, không một quốc gia, một dân tộc nào phát triển hùng mạnh mà thiếu vắng văn hóa. Văn hóa là cốt lõi của sức mạnh mềm, là yếu tố đóng vai trò quyết định sức mạnh, vị thế, uy tín quốc gia. Gia tăng sức mạnh này là chiến lược quan trọng để hoàn thành nhiều mục tiêu lớn của dân tộc. Đây cũng là nội dung tọa đàm tổng kết các vấn đề văn hóa-xã hội cuối năm của Tuần Việt Nam.

Xin trân trọng giới thiệu hai khách mời là Nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát và nhà báo Phạm Kim Dung (Kỳ Duyên). Nếu nhìn lại các vấn đề văn hóa-xã hội của dân tộc một năm qua, điều gì khiến các chị suy nghĩ, trăn trở nhất? 

 

“Tiếng Việt còn, nước ta còn”

Nhà báo Kim Dung/Kỳ Duyên:  Có câu nói rất nổi tiếng của học giả Phạm Quỳnh “Tiếng Việt còn, nước ta còn”, chương trình Điều còn mãi của VietNamNet, khi ca sĩ Nguyên Thảo cất lên ca khúc “Tình ca” của nhạc sĩ Phạm Duy, có câu “Tôi yêu nước nước tôi, từ khi mới ra đời…” khiến tôi cảm động đến gai người. 

Tiếng Việt còn, nước ta còn. Văn hóa còn, nước ta còn. Một điểm đặc thù của văn hóa, là được tiếp nhận, được sàng lọc rất lâu qua hàng nghìn năm, hàng thế kỷ. Văn hóa là “mưa dầm thấm đất”.

Nói đến văn hóa không thể tách rời kinh tế-xã hội. Kinh tế-xã hội nào, văn hóa ấy. Văn hóa là cơ sở để bảo đảm cho nhân cách, vị thế, tầm vóc một dân tộc. Một con người, dù giàu có nhưng không quan tâm chăm chút vốn văn hóa thì xét cho cùng chỉ là trọc phú. Một dân tộc nếu chỉ giàu mà không chăm chút văn hóa chắc chắn không thể bền vững, bởi nó không thấy rõ cái bản sắc của dân tộc đó. Văn hóa là sản phẩm của cơ chế quản lý, của sự phát triển kinh tế-xã hội. Nó được điều chỉnh trong mối tương quan xã hội đó. 

Trở lại câu hỏi của Thu Hà, nhìn lại văn hóa-xã hội năm qua, tôi thấy có điểm sáng là việc Đà Nẵng, Hội An vươn lên để được chọn là nơi đáng sống nhất; trong nhóm địa danh du lịch yêu thích nhất. Đó là một cách quảng bá cho văn hóa Việt. Có những di sản văn hóa được UNESCO công nhận. Có những con người cụ thể với những việc làm cụ thể đầy tính nhân văn, văn hóa, ý nghĩa, như Nhóm Cơm có thịt của Trần Đăng Tuấn, chương trình Lục lạc vàng của Đài truyền hình VN. 

Bên cạnh đó, trong thời kinh tế thị trường này, lại có những khái niệm rất buồn, đó là “văn hóa tham nhũng”. Tham nhũng đâu phải là văn hóa, thực tế là phản văn hóa, là mặt trái của văn hóa. Vậy mà bây giờ người ta “thừa nhận” tham nhũng như một nét văn hóa thì nguy quá.

Đó là thái độ vô cảm của người Việt với nhau khi đồng loại gặp rủi ro, tai họa có thể gặp mọi nơi, mọi chỗ. Như số đông con người xông vào hôi của; cướp tiền, cướp bia…. Đó còn là chuyện đánh chửi, xúc phạm thầy cô giáo, đuổi chém thầy thuốc. Sự phản văn hóa nhiều khi chính là tội ác. Thật đau đớn khi phải đọc, phải nghe không biết bao vụ trẻ em bị xâm hại, bị bạo hành. Có gì đau đớn hơn khi những đứa trẻ tiểu học, ngay ở HN, khi đến trường, luôn phải được cảnh báo đi vệ sinh không được đi một mình.

Những mặt tối đó, những hiện trạng đó đã được chính các nhà tâm lý xã hội gọi là sự “rối loạn những giá trị”.

Nhà biên kịch Hồng Ngát: Không thể phủ nhận, những thành tựu về kinh tế của đất nước so với hơn chục năm về trước quả thực tốt hơn rất nhiều. Nhưng thật tiếc, khi những bất ổn xã hội vẫn tồn tại.

Nhớ những năm nghèo khổ, cuộc sống rất thanh bình, có trật tự xã hội. Con người sống tình nghĩa, san sẻ bao dung. 

Tôi nhớ hồi 18 tuổi, nửa đêm tôi đi bộ một mình từ Cửa Nam lên khu văn công Mai Dịch mà chẳng có vấn đề gì. Nhưng bây giờ khác lắm.

Kinh tế khá lên đáng lẽ văn hóa phải lên theo thì ngược lại những gì đang được báo chí phản ánh, các ĐBQH phản ánh lại cho thấy văn hóa ta đang xuống cấp, đang lệch chuẩn…  

Người dân rất muốn hỏi lãnh đạo các cấp là tại sao kinh tế lên mà văn hóa lại xuống? Bởi nếu tìm được câu trả lời thì sẽ tìm được lời giải đáp để chữa chạy những lệch lạc hiện nay. 

Bên cạnh những quyết sách phát triển kinh tế-văn hóa cũng cần có những quyết sách để gìn giữ và phát triển văn hóa bởi đó chính là nền tảng, là cốt lõi của mỗi xã hội. Mỗi một gia đình hạnh phúc êm ấm thì xã hội sẽ bền vững, quốc gia sẽ có nhiều cơ hội phát triển hưng thịnh.

Hiện nay, các mối quan hệ đã bị đổ vỡ rất nhiều. Những chuyện xảy ra được báo chí dẫn lại cho thấy những chuyện đau lòng như con cái không kính trọng cha mẹ, thậm chí là chửi bới, hành hạ, giết cả bậc sinh thành. Trong các quan hệ xã hội thì con người bỗng nhiên trở nên dễ giận dữ, dễ dẫm đạp lên nhau. Ngày càng thiếu vắng sự tương kính giữa người với người.

Văn hóa, người Việt xấu xí, vốn xã hội, Nhà báo Kim Dung, Kỳ Duyên, nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát, nhà báo Thu Hà, Tuần Việt Nam
Nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát (trái)

Tôi tin rằng, các vị lãnh đạo luôn mong muốn và đang có những định hướng làm sao để xã hội ngày càng tốt lên, không chỉ kinh tế mạnh lên, mà văn hóa cũng gìn giữ được. Mong là vậy, muốn là vậy nhưng tại sao chúng ta vẫn chưa làm được? 

Vừa rồi, những thông tin về vị nguyên tổng thanh tra chính phủ, người luôn lên tiếng kêu gọi chống tham nhũng vậy mà ông ấy lại là người tham nhũng; rồi còn chuyện ông cựu bí thư Huế khai man và có vấn đề về tư cách.  Vẫn biết đó chỉ là những con sâu, không phải phổ biến, nhưng một vài vị như vậy, cũng làm người dân suy nghĩ và mất mát niềm tin. 

Lòng tự trọng chính là sức mạnh, là nội lực, góp phần quan trọng đưa nước Nhật hùng mạnh như ngày nay. 

Có lòng dân, là có tất cả

Nhà báo Thu Hà:Từ những trăn trở của các chị, có thể thấy rằng những chấn thương tâm lý hiện đại đang gặm nhấm và bào mòn dần sức mạnh của đất nước mình. Vậy, theo các chị nguyên nhân là do đâu và ai phải chịu trách nhiệm?

Nhà biên kịch Hồng Ngát: Ngày xưa chúng ta có các đoàn thể chính trị xã hội và chúng tôi trưởng thành từ đó. Tuy nhiên, các đoàn thể thời chúng tôi rất nghiêm. Muốn là thành viên, cần phải chuẩn bị và phấn đấu, rèn luyện quyết liệt, chuẩn bị cho mình nhiều điểm tốt, và những điểm tốt này phải được xã hội, được tập thể công nhận. 

Tiếc rằng bây giờ đâu đó người ta phấn đấu đơn giản quá, dễ dàng quá, nhiều khi để tìm cơ hội thăng tiến, vì chức tước hơn là để đóng góp cho sự nghiệp phát triển chung, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng chung. Trong khi những người có khí tiết, có lòng tự trọng vì không chịu đi cổng sau nên thường bị thua thiệt. Năm rồi ở Hà Nội từng có người nói công khai khi họp về giá chạy việc, chạy chức. Nếu không có lửa thì làm sao có khói. 

Dân tộc mình trong chiến tranh người người đã xả thân, đùm bọc lẫn nhau không tiếc máu xương. Tại sao giờ đất nước hòa bình, cuộc sống khấm khá hơn thì bỗng đâm ra sống ích kỷ, chỉ biết thu vén, lòng tham trở nên vô đáy không biết thế nào là đủ. Con người dễ sinh nóng giận, mạt sát, dễ dẫm đạp lên nhau, chẳng ai tin ai. Đó là bởi lòng tham là sự ích kỷ nhỏ nhen, là bởi quan điểm sống và mục tiêu sống đã quá khác trước.

Tôi là người đã viết kịch bản và sản xuất bộ phim về Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là phim “Nhìn ra biển cả”. Bộ phim về thời trẻ của Chủ Tịch. Để làm bộ phim này tôi đã đọc rất nhiều tư liệu về cuộc sống bình dị, nhân ái, bao dung của Cụ. Chẳng cần nhìn đâu xa, chỉ cần nhìn tấm gương của Cụ như thế mà dọn mình. Có được lòng dân là có được tất cả. Khi mà lòng dân đã thu phục được bằng những tấm gương đạo đức chí công vô tư, bằng sự liêm khiết chính trực thì chính quyền ắt sẽ bền vững, đưa ra quyết sách gì nhân dân cũng ủng hộ. 

Chẳng phải đâu xa, ngay chuyện phim ảnh cũng có thể thấy, nhiều bộ phim mang tính nhân văn nhưng lại rất khan người xem, trong khi đó, những bộ phim khai thác nhiều, khai thác sâu về đề tài cướp, giết, hiếp… lại luôn trong tình trạng cháy vé. Sống ào ạt, làm ào ạt, sống vội, sống gấp quen rồi… Chậm lại chút, nghĩ ngợi chút dường như là một điều xa xỉ.. 

Cái lệch chuẩn còn thể hiện ở việc nhiều người đang bị rơi vào bẫy hư danh. Một đất nước hướng theo học vị thì tốt nhưng mà phải là học vị thật chứ không thể là học vị “mua” hoặc sao chép cốt lấy cái bằng làm le với thiên hạ. 

Nhà báo Kim Dung/Kỳ Duyên: Cái chấn thương tâm lý lớn nhất trong xã hội hiện nay là gì? Chính là suy giảm niềm tin. Ngay với một đứa trẻ, mất niềm tin đã là một chấn thương lớn lắm khi trẻ mới bước vào đời. Thậm chí là nỗi ám ảnh, và có khi nó đi theo suốt trong cuộc đời. Cho nên có một câu nói “mất niềm tin là mất tất cả”.

Còn với một XH như chúng ta, cách đây mấy năm tôi nghe ĐBQH Dương Trung Quốc, trong một phát biểu trên báo, ông nói đến sự u ám của niềm tin. Còn bây giờ, tôi thấy niềm tin đó không chỉ là u ám, mà là “mất mát”. Vì liệu người dân có thể có niềm tin không khi mà ngay vị cán bộ cao cấp của đất nước cũng phải nói : “Trước đây chỉ có một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ…”

Nhà báo Thu Hà: Thế hệ của các chị, cơ sở để đặt niềm tin là gì?

Nhà báo Kim Dung/ Kỳ Duyên: Thế hệ chúng tôi khi đó sống rất lý tưởng. Trong nhà trường tiểu học, thì có 05 điều Bác Hồ dạy. Những năm tháng chiến tranh, ở nơi sơ tán, là hoàn toàn hồn nhiên sống theo lẽ sống “03 sẵn sàng”. Hay là “đi bất cứ đâu khi Tổ quốc cần”. Các tác phẩm văn học , từ trong nhà trường cho đến cuộc đời cũng tác động nhiều đến từng cá nhân. Lúc đó chúng tôi sống trong một môi trường lành mạnh, XH cũng lành mạnh hơn rất nhiều.

Giờ đây, không ít người có niềm tin ở… tiền. “Có tiền mua tiên cũng được- có cả một tổng kết dân gian mang tính triết lý đáng buồn như thế. Rồi “Không thể mua được bằng tiền, nhưng có thể mua bằng… rất nhiều tiền”. Con người giờ đây tin ở sức mạnh đồng tiền thế cơ mà.

Văn hóa, người Việt xấu xí, vốn xã hội, Nhà báo Kim Dung, Kỳ Duyên, nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát, nhà báo Thu Hà, Tuần Việt Nam
Nhà báo Phạm Kim Dung/Kỳ Duyên (trái)

Dù thực ra trong xã hội, vẫn luôn tồn tại những điều tốt, vẫn luôn có những con người tốt bụng, sẵn sàng làm những điều, những việc từ thiện, nhân ái nhưng dường như đồng tiền giờ đây có sức chế ngự mạnh hơn. Người ta bảo giờ là “thời Kim Tiền”!

Có những quan chức tham lam, lạm dụng quyền chức vơ vét, dối trá cướp công đồng đội, thực chất là đã tự tha hóa. Những con sâu ấy đã làm vẩn đục môi trường sống của XH, làm người dân bất bình, phẫn nộ và hoài nghi tất cả. Nên thấy đó là nỗi hổ thẹn của một dân tộc. Bởi họ đã không coi pháp luật là gì. Họ tự cho mình quyền “ngồi trên pháp luật”. 

Hãy nhìn nguy cơ mất niềm tin thực sự là nguy hiểm, bởi nó ảnh hưởng đến tầm vóc, nhân cách và làm suy yếu dân tộc.

Nhà biên kịch Hồng Ngát: Thế hệ chúng tôi  bây giờ thuộc diện “cổ lai hy” rồi. Nhưng không phải cái gì cũ cũng đều bỏ đi. Có những cái cũ tốt thì cần giữ lại. Chả thế mà có người cứ đùa vui (nhưng cũng có sự thật trong đó) rằng “bao giờ cho đến ngày xưa?” Ngày xưa thanh bình ơi, ngày xưa trong trẻo ơi, ngày xưa tình nghĩa ơi, ngày xưa trọng đạo nghĩa hơn tiền bạc ơi… Bao nhiêu cái ơi ấy, bây giờ có gọi cũng chả thấy hay ít thấy trả lời. Thật tiếc!

Nhà báo Thu Hà:Vừa rồi bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh  có thông báo, hơn 80% gia đình Việt Nam đạt danh hiệu gia đình văn hóa. Các chị có bình luận gì về con số này và thực tế cuộc sống đang diễn ra?

Nhà báo Kim Dung/ Kỳ Duyên: Tôi chợt nhớ đến con số của Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình rằng, 99% công chức hoàn thành nhiệm vụ. Con số đó sẽ là sự.. tương hỗ tương thích hơn 80% gia đình văn hóa.

Con số đó chỉ phản chiếu thêm đó là bệnh thành tích, chưa phản ánh được sự thật là các gia đình văn hóa hay không? 

Không ai phủ nhận mục đích của cuộc vận động Xây dựng gia đình văn hóa là tốt, vì gia đình là tế bào của XH. Tuy nhiên, đất nước đã chuyển sang cơ chế thị trường, mọi thang bậc giá trị, tiêu chí văn hóa cần gắn kết với thời cuộc mới. Không thể dùng cái tiêu chí cũ để đo các thang bậc giá trị mới.

Nhà biên kịch Hồng Ngát: Khen thưởng đúng thì động viên được rất nhiều. Nhưng nếu chỉ chạy theo thành tích mà ban phát sự  khen  búa xua thì lại hỏng. 

Cạnh sự khen cũng cần biết lắng nghe. Một con người còn luôn luôn phải tu dưỡng sửa đổi mình để tốt lên huống hồ một đất nước. Cái cốt lõi là phải biết lắng nghe những lời nói phải, tránh sự qui chụp cho rằng thế là do họ không tốt với mình, là không ưa mình, ghét mình, cao hơn nữa là “phản bội” mình nên mới nói thế. 

Hãy bỏ qua hiện tượng mà nhìn vào bản chất.  Ví như có người hay nói nghịch nhĩ nhưng khi có việc khó khăn là thấy họ có mặt ghé vai  ngay. Cuộc sống muôn màu như thế đấy. Phải biết tỉnh táo mà nhìn đúng người, đúng việc. Nói là vậy nhưng chẳng phải lúc nào và bao giờ cũng minh mẫn và tỉnh táo được. Nghe khen–dù biết là khen không thật–vẫn cứ thích hơn là nghe chê… 

Trớ trêu thay!

(Còn tiếp)

Xem thêm các bài Nhìn lại năm 2014, hướng tới năm 2015:

Người Việt: Cứ mãi làm theo, sẽ luôn tụt hậu

40 năm trước hai nước ngang nhau. 40 năm sau người Hàn Quốc qua VN làm ông chủ. Còn người VN qua Hàn Quốc là làm thuê và làm dâu xứ người!

2014 bất ổn và khó đoán nhất

Dự đoán của các học giả cuối năm 2013 đều chệch hướng. 2014 là năm bất ổn, bất an và khó đoán định nhất từ trước đến nay.

Vũ khí dầu lửa của Putin bị vô hiệu hóa

Tác động rõ nét nhất là nước Nga của Putin đã bị tước đi vũ khí mạnh của mình đó là dầu lửa và con bài dầu lửa không còn hiệu quả.

Giấc mộng độc chiếm Biển Đông

Để thực hiện mục tiêu thành cường quốc biển thì ý đồ độc chiếm Biển Đông của TQ tiếp tục đặt ra thách thức nhiều mặt.

Vì lợi ích quốc gia, đừng để thua thiệt

Đặc trưng quan hệ quốc tế hiện nay là vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Lợi ích quốc gia đan xen phức tạp.  Tôi cho rằng vì lợi ích quốc gia, ta cần thực tế, nếu không sẽ dễ thua thiệt.

‘Người giỏi có cơ hội… cứ để họ đi’

“Tại sao không nghĩ đến chuyện kéo người giỏi của nước ngoài về VN làm việc và ở mặt ngược lại, những người Việt giỏi, nếu họ có cơ hội đi, hãy để họ đi”.

‘Sinh viên thất nghiệp nhiều, hiệu trưởng nên… nghỉ’

“Chúng ta có nhiều trường tệ, theo nghĩa học đại học ở đó ra cũng không làm được việc, mà chỉ lấy một cái danh đại học”.

Toàn xe siêu sang: Ai nói Việt Nam nghèo?

Người Việt đôi lúc hãnh diện khi nói về số lượng xe sang – chỉ số nói lên độ ăn chơi của giới nhà giàu Việt và không quên bình luận thêm “ai bảo VN mình nghèo?

 

  • Tuần Việt Nam – Ảnh: Lê Anh Dũng

‘Cần một loạt biện pháp để phát triển quan hệ Mỹ-Việt trong năm 2015’ – VOA

22 Th11

 

 
Tổng thống Mỹ Barack Obama bắt tay Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng trong cuộc họp tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế Myanmar, ngày 13/11/2014.

Tổng thống Mỹ Barack Obama bắt tay Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng trong cuộc họp tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế Myanmar, ngày 13/11/2014.

 
 
 
 

Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình cho biết cần thực thi một loạt biện pháp thực tiễn để tăng cường các quan hệ Mỹ-Việt trong năm 2015.

Tân Hoa Xã, cơ quan ngôn luận của nhà nước Trung Quốc, trích lời ông Lê Hải Bình nói rằng “Trong năm tới sẽ có một loạt bước thiết thực để đẩy mạnh hơn nữa quan hệ đối tác toàn diện Việt-Mỹ, vì lợi ích của nhân dân hai nước, cũng như vì hoà bình, ổn định và hợp tác trong khu vực.”

Phát biểu này được đưa ra  tại cuộc họp báo thường lệ hôm thứ Năm ở Hà nội , khi ông Lê Hải Bình trả lời câu hỏi của một nhà báo về những ưu tiên của Tân Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Ted Osius.

Ông Bình xác nhận tin Thượng Viện Mỹ đã chuẩn thuận ông Ted Osius vào chức Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, cùng lúc Tân Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, ông Phạm Quang Vinh bắt đầu nhiệm kỳ của ông tại Hoa Kỳ.

Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam nói thêm rằng ông tin rằng hai vị đại sứ sẽ có những đóng góp tích cực vào nỗ lực phát triển quan hệ toàn diện Việt Nam- Hoa Kỳ.

Quan chức ngoại giao Việt Nam nói trong thời gian qua, đã có nhiều tiến triển trong các quan hệ song phương, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế và thương mại. Ông cho biết là hai nước đang tích cực chuẩn bị đánh dấu kỷ niệm 25 năm từ ngày bình thường hoá quan hệ song phương trong năm tới.

Về vấn đề Biển Đông và quan hệ với Trung Quốc, ông Lê Hải Bình tái khẳng định rằng “mọi hoạt động của các bên ở Biển Đông cần đóng góp tích cực, xây dựng cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực.”  Ông nhắc lại rằng các bên cần tuân thủ nghiêm túc luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển 1982, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển.   

Nguồn: Xinhua, TTXVN, VietnamNet

 
 
 
Trình bày ý kiến
Mới nhất
Theo thứ tự thời gian

Bấm vào đây để góp ý trên diễn đàn này (11)

 
 
Ý kiến
     
 
 
bởi: lom chom từ: Việt nam

22.11.2014 00:22
 
Trả lời
Thực trạng Việt Nam hiện nay đang đứng trước một tình huống cực kỳ nguy hiểm trong nền kinh tế đang sa sút trầm trọng, cũng như áp lực về chủ quyền biển đảo từ phía Bắc Kinh diễn biến càng ngày càng phức tạp…! Việc tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ là chủ trương của Đảng CSVN hiện nay đang mong muốn!…
Nhưng với lập trường bảo thủ của CSVN là vẫn duy trì chế độ Đảng trị và định hướng XHCN !…thì chắc chắn ” Tây ăn trầu ” Hoa Kỳ mới hợp tác toàn diện với Đảng CSVN !
Đảng CSVN hiện nay chưa có hành động nào thiết thực để gọi là cải cách chính trị để dọn đường cho việc bang giao Việt-Mỹ .
Điễn hình qua hội nghị của quốc hội VN, không hề đá động tới quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội…chỉ toàn là đem những chuyện vớ vẫn , phân quyền, tự phong…trong nội bộ Đảng để củng cố vị thế , uy tín với dân để tiếp tục chương trình Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, dân là nô lệ…!
Thật sự mà nói, Đảng CSVN hiện nay đang bối rối trong tình hình kinh tế đang suy sụp , sợ không thu hút được vốn FDI nếu không được Hoa kỳ nới lỏng chính sách ngoại giao thì các đồng minh cũng như các đối tác kinh tế của Hoa kỳ sẽ từ bỏ thị trường đầu tư ở VN, vì không tạo được thuận lợi trong việc làm ăn của Họ…!
Nếu Đảng CSVN vẫn quyết tâm không cải cách chính trị thì người chịu thiệt thòi chính là dân Việt Nam . Trong bao năm qua, mặc dù VN sống với nền kinh tế thị trường, gia nhập WTO nhưng dân ta vẫn khổ và lao đao vì tất cả hàng hóa được làm ra do chính người dân VN không có thị trường tiêu thụ, nếu có thì bị đánh thuế rất cao nơi nước nhập khẩu ! với lý do phá giá thị trường…! Vì quốc tế chưa công nhận VN là nền kinh tế thị trường thật sự, do Đảng còn đại diện cho quyền lợi của người dân, Đảng là chủ thể của nền kinh tế VN, lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo cho việc phát triễn…Do không hòa nhập tuyệt đối nền kinh tế tư bản,cũng như không chấp nhận các các điều kiện trong thỏa ước thương mại quốc tế làm phương hại tới quyền lợi và lợi ích trong chính sách cai trị độc đảng, cho dù điều đó mang lại lợi ích cho quốc gia trong giao dịch…
Cũng chính vì thế mà trong sân chơi WTO, Việt Nam chỉ là nơi nhập khẩu và tiêu thụ hàng hóa ngoại quốc là chính…!
Đảng, nhà nước ơi!…đất nước nguy lắm rồi!, đời sống người dân cùng cực lắm rồi!…các Ông đã quá no đủ…Hãy buông tha cho dân chúng tôi và cho chúng tôi có con đường sống !…
 
 

bởi: Cao Vị Hòang từ: Đức quốc

21.11.2014 23:42
 
Trả lời
Tăng cừơng hợp tác với Hoa kỳ là con đừơng tất yếu đưa VN trở thành một Quốc gia thịnh vựơng về kinh tế ,mạnh về quốc phòng,ngòai ra chính phủ Hà nội nên đưa nền kinh tế hiện thời theo con đừơng thóat Trung quốc,để nền KT VN không phải phụ thuộc vào TQ có như vậy thì chúng ta mới chống lại đựơc mưu đồ bành chứơng của Bắc kinh
 
 

bởi: Bô câu từ: Phap

21.11.2014 23:29
 
Trả lời
Theo ngùôn bao cuã cac DLV công sãn VN cho biêt,thu tuong NTD dã ky kêt voi tông thông Obama là trong nam 2015 DCSVN se hoàn toàn giãi thê.
 
 

bởi: nam nguyen từ: usa

21.11.2014 23:19
 
Trả lời
Tai sao cu moi lan co tin tuc gi lien quan den VIIET MY thi do la tu nguon Xinua cua Tau dua ra; lieu day co phai la don do cua tau dua ra de tham do du luan VIET NAM.DUng nghe nhung gi Tau cong noi ma nhin ky nhung gi bon no lam.Da dao bon cuop nuoc va bien va khong phan
 
 

bởi: Nguyen Thien Duc từ: Germany

21.11.2014 23:05
 
Trả lời
Chi can 39 nam giai phong, thong nhat dat nuoc Thu tuong Nguyen Tan Dung da dua vi the cua mot nuoc Viet Nam len ngang hang voi De quoc dau xo Hoa Ky.
Su viec nay khong ai tren the gioi co the choi cai.
 
Trả lời

bởi: Dân từ: VN

22.11.2014 00:53
 
Trả lời
Nếu chỉ cần bắt tay với TT Mỹ là ngang hàng với Mỹ thì mỗi năm có hàng ngàn người, kể cả các em bé 3, 4 tuổi, đã đưa quốc gia mình…ngang hàng với Mỹ.
Suy nghĩ kiểu này thì chỉ ngang hàng với dân ‘cà răng, căng tai’….hehehehe!
 
 

bởi: aq từ: vn

21.11.2014 22:51
 
Trả lời
VN và HK siết chặt tay sẽ là một hòn đá tảng có sức nặng sẵn sàng đè bẹp để răn đe những cái đầu lúc nóng lúc lạnh rất bất thường dễ gây bất ổn khó lường cho an ninh khu vực và thậm chí cả loài người vì tính khí rất hung hăng .Quân đội không có kiểm soát thích khoe khoang hù họa dọa nạt rất nguy hiểm
 
 

bởi: RadioDLSN

21.11.2014 22:47
 
Trả lời
Nhà văn Xuân Vũ viết trong “Đồng Bằng Gây Gô” rằng: “Trời sinh ra cs để nói láo và làm bậy, hể nó nói là nói láo, hể nó làm là làm bậy, bất cứ ở chức vụ nào, dù là thủ tướng hay tổng bí thư” , ông Lê Hải Bình cũng không thể làm gì hơn được khi phục vụ cho csVN.
 
 

bởi: ThJia

21.11.2014 22:35
 
Trả lời
Nghị quyết H.Res-714-Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ ngày 20/11/2014, lên án mọi hành động cưỡng chế hoặc sử dụng vũ lực gây cản trở các quyền tự do tại các vùng biển và không phận quốc tế.

Theo một số chuyên gia, trước sự ủng hộ của Mỹ bởi nghị quyết trên, Việt Nam, Nhật Bản-nước đồng minh thân cận của Mỹ có thể sẽ có những động thái quyết liệt hơn đối với chủ quyền tại Biển Đông và quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

Đến thời điểm hiện tại Trung Quốc chưa đưa ra phản ứng nào, tuy nhiên, theo dự đoán sẽ có những phản ứng mạnh mẽ bởi đã nhiều lần Trung Quốc đã nhấn mạnh rằng vấn đề Biển Đông và Hoa Đông không phải là vấn đề của Mỹ.

 
 

bởi: Hồ Chính Mi & NôngThịXuân từ: Hang Cốc Bó, Cao Bằn

21.11.2014 22:25
 
Trả lời
Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ ngày 20/11/2014 đã thông qua một loạt nghị quyết, trong đó có nghị quyết tái khẳng định sự cần thiết phải tìm giải pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, cho các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông và Biển Hoa Đông.

Nghị quyết lần nữa khẳng định sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ đối với tự do hàng hải, sử dụng các vùng biển và vùng trời ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương theo luật pháp quốc tế.

Nghị quyết H.Res-714 cũng lên án mọi hành động cưỡng chế hoặc sử dụng vũ lực gây cản trở các quyền tự do tại các vùng biển và không phận quốc tế.

Chúc mừng Nghị quyết H.Res-714, đó là một trong loạt biện pháp để phát triển quan hệ Mỹ-Việt trong năm 2015!!!

 
Trả lời

bởi: Bích Chi

22.11.2014 01:00
 
Trả lời
VIVA Nghị quyết H.Res-714!!!!
Quá Vui Mừng!!!!

 

Văn hóa nhà văn và phát triển văn học – VHNA

6 Th8

 

  •   Bùi Việt Thắng
  • Thứ tư, 30 Tháng 7 2014 16:30
  •  
 

"Khi em ngẩng đầu lên'  - tranh của Nguyễn Thị Hiền, thể hiện các bút tích của Lưu Quang Vũ “Khi em ngẩng đầu lên’ – tranh của Nguyễn Thị Hiền, thể hiện các bút tích của Lưu Quang Vũ

 

Phát triển văn học cần hội đủ điều kiện, nhưng có lẽ tiên quyết là văn hóa nhà văn. Vì sao? Nhà văn là người sáng tạo ra giá trị của tác phẩm nghệ thuật (ngôn từ). Anh ta là “người cha tinh thần” của nó. Vậy nếu người cha đó ốm yếu, sao tránh khỏi sinh ra đứa con “sài đẹn”. Một nền văn học lớn phải tựa vững chắc trên một nền văn hóa lớn, một nhà văn lớn phải có “chân đế văn hóa” vững như bàn thạch. Lịch sử văn học thế giới và Việt Nam, từ cổ chí kim, đều đủ cơ sở để  chúng ta tin rằng nền tảng triết học – tư tưởng – văn hóa là gốc rễ của cái cây văn học.

I.Phẩm tính văn hóa của nhà văn

1.Sáng tạo giá trị mới: Văn học công khai Việt Nam giai đoạn 1930-1945 sở dĩ đạt tới những đỉnh cao huy hoàng của nó (Thơ mới, sáng tác của Tự lực văn đoàn, của các nhà hiện thực chủ nghĩa), chính vì đã tạo nên được giá trị mới so với quá khứ (gần và xa). Nói khái quát thì, giá trị mới mà văn học phát hiện chính là con người cá nhân, giá trị của cá nhân, của cái tôi tự do sáng tạo. Những dấu hiệu mới đã được gieo mầm từ Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách, nảy nở từ Tình già (1932) của Phan Khôi, được tổng kết trong những công trình thế kỉ Thi nhân Việt Nam (1941) của Hoài Thanh – Hoài Chân, Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan. Những đỉnh cao Thơ mới (như người ta vẫn mặc định Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Chế Lan Viên). Những nhà hiện thực xuất sắc như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài,…có thể coi là những người khai mở khám phá các giá trị mới của văn học trong quá trình hiện đại hóa – khúc xạ trong gía trị nhân văn cao cả của nghệ thuật ngôn từ : “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trang lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than” như văn tài Nam Cao đã viết trong Trăng sáng năm 1943.

Văn học thời kì cách mạng và chiến tranh (1945-1975), tuy như một vài người đã cố phủ nhận (cho là văn học phải đạo, văn học quan phương, văn học cán bộ, văn học của một nửa sự thật là giả dối,…), thì vẫn cứ khách quan giá trị của nó, như câu thơ Tố Hữu “Chúng muốn đốt ta thành tro bụi/ Ta hóa vàng nhân phẩm lương tâm/ Chúng muốn ta bán mình ô nhục/ Ta làm sen thơm ngát giữa đồng”. Giá trị làm người tự do, đồng nghĩa với giá trị thẩm mĩ, được văn học thời cách mạng và chiến tranh phát hiện và ca ngợi, theo cách diễn đạt của Nguyễn Minh Châu là tìm ra “những hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người” thời đại. Nếu có sự đề cao giá trị tình cảm cộng đồng, dân tộc thì cũng là tất yếu. Trong chiến tranh giải phóng, độc lập và tự do đồng nghĩa với giá trị lớn sống còn của cả dân tộc và mỗi cá nhân.

Văn học hậu chiến (sau 1975), đặc biệt sau đổi mới, qua một khoảng hạn ngắn bùng nổ, gàn đây có vẻ như lúng túng khi đi tìm giá trị mới. Có thể rơi vào một cực đoan khác khi cho rằng do bị cấm kị nên văn học cách mạng 1945-1975 đã tước đoạt vị thế cá nhân, nay cần trả lại tên cho nó. Vì thế có tình trạng rơi vào tuyệt đối hóa cá nhân (để đối lập với cái ta, cái tâm thức cộng đồng thời chiến), có vẻ như cần thiết phải đề cao bản cái bản năng (để đối lập với cái lí trí trước đây trong chiến tranh), có vẻ như cần thiết phải “lộn ngược” hiện thực – tức phải viết về cái ác, cái xấu (để đối lập với cái cao cả, anh hùng trong chiến tranh), có vẻ như cần quan tâm đến cái đời thường (để đối lập với cái lí tưởng trước đây). Có thể vì không xác định được một cách căn bản giá trị mới, nên đã có trường hợp 24 năm sau một tác phẩm thành công vang dội, có nhà văn dường như gác bút. Lại có nhà văn sau vài ba tác phẩm thành công làm choáng ngợp độc giả, coi việc mình “nói ngược”, nói “trắng phớ, huỵch toẹt” đã là một phép lợi thế, ỷ lại vào đó không rốt ráo phát hiện đích thực các giá trị mới của đời sống nên đã chuyển hướng viết kiếm tiền (anh ta thú nhận thẳng thắn như thế). Thật  ra thì giá trị của cá nhân không bao giờ tách rời khỏi giá trị cộng đồng dân tộc. Một bài học nhỡn tiền là với số đông hơn 4 triệu người Việt Nam định cư ở (hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ) nước ngoài, thì vấn đề quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng lại được đặt ra bức thiết hơn bao giờ hết. Những tác phẩm văn học của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sáng tác cho chúng ta thấy rõ ràng hơn thực tế đó. Tương tự cái ác cái – xấu không bao giờ tự biến mất, nó cứ tồn tại song song với cái tốt – cái đẹp. Nhưng không có nghĩa là “ngày cái ác lên ngôi” trong đời sống  cũng như trong văn học hiện nay. Văn học, trong một mức độ nào đó, có thể hỗ trợ cho công cuộc truy đuổi và xóa bỏ cái xấu, cái ác các, giữ gìn và vun trồng cái thiện, cái đẹp.

Sự lúng túng trong việc tìm tòi giá trị mới, thể hiện khá rõ với thế hệ các cây bút thế hệ 7x, 8x và cả 9x. Dường như hành động viết với họ, trong đa số trường hợp, chỉ để giải phóng ẩn ức, và đặc biệt là: viết, trước hết và sau hết chỉ cho mình!? Nếu chỉ đào bới cái tôi nhỏ bé, liệu người viết có thể thực hiện đúng thiên chức của hành động viết, theo cách diễn đạt của J.P.Sartre: “Nhưng hành động viết bao hàm hành động đọc như tương liên biện chứng của nó và hai hành vi có liên quan chặt chẽ với nhau đó cần có hai tác nhân khác nhau. Chính sự hợp lực của tác giả và độc giả sẽ làm nảy sinh ra vật thể cụ thể và tưởng tượng, là cái công trình trí tuệ. Chỉ có nghệ thuật cho người khác và bởi người khác” (J.P. Sa rtre: Văn học là gì?, Nxb Hội Nhà văn, 1999, tr.58). Không có gì lạ khi sex, hay đồng tính, hay một cái gì đó tương tự (“điếm trai” hay loạn luân, chẳng hạn) lại khiến các cây bút trẻ choáng ngợp, bị dẫn dụ và cố gắng truyền cái đam mê đó sang độc giả. Điều gì khiến cho văn trẻ nói chung như một “cánh đồng bất tận” mà mùa màng thì dễ dàng thất bát? Vấn đề giá trị sống, thiết nghĩ, đang đặt ra quan thiết với các nhà văn trẻ. Dường như tinh thần hiện sinh đang chi phối tâm thức người cầm bút trẻ, thêm vào đó ý thức về thực dụng trong lối sống cũng tạo nên những áp lực thường trực khiến họ đây đó ngả sang hướng đề cao giá trị của sự hưởng thụ, tiện lợi và tiêu dùng vật chất. Đây đó giá trị của Chân – Thiện – Mỹ có vẻ như bị khuất lấp.

                                                                        *

Trong sự viết, thường chúng ta thấy sáng tạo giá trị mới nhiều khi là tiếp thu các giá trị truyền thống một cách thông minh theo tinh thần tiếp biến văn hóa. Trong sự khước từ các giá trị chân chính thì khước từ giá trị truyền thống là nguyên nhân chính khiến cho người viết rơi vào tình trạng bị đốn lìa khỏi cội rễ. Mỹ học Folklore,cũng như lý thuyết văn học nói chung, đã chỉ ra mối quan hệ mật thiết, bền chặt giữa văn học viết và văn học dân gian. Nói cách khác Folklore là suối nguồn của văn học viết. Chúng tôi chia sẻ với nhà nghiên cứu văn hóa Trần Quốc Vượng khi ông viết : “Mất dân gian là mất hồn dân tộc” vì “Văn hóa dân gian bao giờ cũng là nền tảng của văn hóa dân tộc” (Trần Quốc Vượng: Văn hóa Vịêt Nam, tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn học, 2003, tr.183). Một câu thành ngữ “Đầu năm buôn muối cuối năm buôn vôi” cũng đủ gợi ra một cái “tứ” để nhà văn viết được một truyện ngắn (và có nhà văn đã làm được thành công theo cách đó). Dường như các nhà văn bây giờ (nhất là lớp trẻ) không mấy mặn mà với ca dao, tục ngữ, dân ca, truyện cổ tích, truyện tiếu lâm hay truyền thuyết và thần thoại. Nhà văn Nguyễn Tuân đã chỉ ra rằng nếu muốn học kĩ thuật viết truyện ngắn thì nên học trong tiếu lâm: “Đứng về nghề nghiệp mà bàn tới Tiếu Lâm thì đó là một số kinh nghiệm thành công về kĩ thuật và nghệ thuật dựng truyện ngắn rất kiệm lời, và ý ở ngoài lời thì rất nhiều” (Nguyễn Tuân: Bàn về văn học nghệ thuật, Nxb Hội nhà văn, 1999, tr.599). Những nhà thơ viết lục bát “thành thần”, như Nguyễn Bính chẳng hạn, chắc chắn là nhờ học trong nguồn suối bất tận ca dao (vì lục bát là một thể chủ lực của ca dao). Giá trị truyền thống còn nằm trong các giá trị cổ điển của dân tộc/ nhân loại. Lớp người cầm bút trẻ rất sao nhãng (một cách có ý thức) việc này. Dường như với họ Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú Xương,… là quá xa vời và đôi khi là “vô bổ” với việc viết của họ. Vì thế mà Bai-rơn, Pu-skin, hay thơ Đường (với Bạch Cư Dị, Đỗ Phủ, Lý Bạch), cũng xa xôi nốt.

Nói về căn bệnh  khước từ truyền thống của hậu thế, có lần nhà thơ Xuân Diệu đã chia sẻ: “Không khéo văn thơ của một tác giả hiện đại lại thua chiếc ao thu của Nguyễn Khuyến” (Dẫn theo Hà Minh Đức: Tài năng và danh phận, Nxb chính trị quốc gai, 2014, tr.121).

2. Ứng xử với tiếng Việt: Ứng xửlà một phạm trù quan trọng của văn hóa nói chung. Nhà nghiên cứu văn hóa Hữu Ngọc nhấn mạnh: “Định nghĩa về văn hóa mà tôi đưa ra, nhấn mạnh về “ứng xử và quan hệ” con người phù hợp với bối cảnh cộng đồng” (Hữu Ngọc: Lãng du trong văn hóa Việt Nam, Nxb Thanh niên, 2007, tr.670). Ứng xử của nhà nghệ sĩ ngôn từ với tiếng mẹ để – tiếng Việt – theo chúng tôi là một biểu hiện/ thước đo quan trọng của văn hóa nhà văn.

Nhân dịp kỉ niệm 60 năm Thơ mới, nhà thơ Huy Cận, một trong những chủ soái của phong trào này, đã tri ân : “Thơ mới tạo ra ngôn từ mới dễ biểu hiện cảm xúc mới. Tiếng Việt trẻ lại với thơ. Sự đóng góp của Thơ mới về ngôn ngữ là rất lớn. Có thể nói dòng Thơ mới như “dòng nước nặng” làm ra năng lượng mới cho mỗi từ, mỗi câu. Tiếng Việt nhờ Nguyễn Du đã đẹp hơn, trong trẻo, mượt mà hơn. Tiếng Việt đến Thơ mới đã đổi thịt thay da một lần nữa bởi vì các nhà Thơ mới đã yêu tiếng mẹ đẻ một cách tha thiết, ra sức bảo vệ tiếng nói của cha ông bằng những sáng tạo máu thịt của hồn mình” (Nhiều tác giả: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb Giáo dục, 1993, tr.12).

Nhà văn suy cho cùng là một thợ cả (cao hơn là nghệ nhân) ngôn từ. Nhà văn Nguyễn Tuân trong bài Tán về ngôn ngữ (nói “tán” nhưng thực ra rất nghiêm túc, cầu thị) đã kì khu phân tích chữnghĩa của tiếng Việt, đã viết rất hay về hiện tượng “díu ba” và “díu tư” (thực chất là những nhóm trạng từ 3 tiếng và 4 tiếng). Ông đưa ra những ví dụ rất hay như “quay cu lơ” (“díu ba”), có đến 54 trường hợp tiêu biểu tương tự. Tiếp đến ông chứng minh là nếu nó thuộc “díu ba” thì phải viết cho đủ, mới có nghĩa hay: chẳng hạn có người cho rằng chỉ cần viết “ngang phè” là đủ. Nhưng Nguyễn Tuân cho rằng phải viết “díu ba” thì mới thấm thía, vì : “Riêng chỗ tôi biết ngang phè khác với ngang phè phè. Thên một “điệp” âm “điệp” tự nữa, cái ý ngang đó nó có nặng nhẹ có khác đi. Và tôi cho đó là cái kì diệu của tiếng mình”. Một nơi khác, cũng chính Nguyễn Tuân phát hiện ra những từ mở ra bằng phụ âm  kép “KHỜ” (97 từ loại này), ông kết luận: “phụ âm KH hay nhấn vào phía tiêu cực của những biểu hiện sự sống”, chẳng hạn: khắm khú, khắt khe, khụng khiệng,… (Nguyễn Tuân: Bàn về nghệ thuật, Nxb Hội Nhà văn, 1999, tr.654-662).

Nhà văn Nguyễn Minh Châu – “người mở đường tinh anh” của phong trào đổi mới văn học Việt Nam sau năm 1975 – đã viết một tiểu luận văn học đáng chú ý, nhan đề Chăm sóc câu văn. Trong tiểu luận này ông đã cảnh báo về sự lười biếng của không ít nhà văn ta hiện nay trong lao động câu chữ, ông kêu gọi đồng nghiệp: “Hãy niềm nở nhưng hãy cũng cảnh giác với những chữ và những cách dặt câu lúc nào cũng đứng chực sẵn, lấp ló ngay đầu ngòi bút. Lâu nay xuất hiện một thứ văn thường được gọi là trần trụi bề bộn chất sống. Thật đáng hoan nghênh lắm thay. Nhưng trần trụi hay bề bộn thì cũng cần có nghệ thuật riêng của nó, và quy luật trật tự của nó, chứ không phải là sựu lủng củng và ất chấp nghệ thuật (…). Một thứ văn mộc mạc, giản dị là rất đáng khuyến khích nhưng thiết tưởng nó phải là thứ giản dị của văn học. Bên trong cái giản dị vẫn toát lên chất văn học. Cầm từng chữ thông thường và cách cấu trúc câu thông thường ấy lên tay vẫn ngửi thấy mùi hương thâm trầm của chất văn học, chứ không phải là chất mộc mạc, giản dị của cách nói năng thông thường hàng ngày, hay một bản báo cáo”. Theo Nguyễn Minh Châu, chữ không đơn thuần là hình thức. Ông khẳng định bằng kinh nghiệm sáng tác vất vả, gian nan của mình : ‘Mỗi chữ là một hạt của nội dung”; và hơn thế, chăm sóc câu chữ là nhà văn đã: “Biểu lộ lòng tự trọng nghề nghiệp, cùng cái ý hướng luôn luôn hướng tới sự hoàn thiện của người nghệ sĩ” (Nguyễn Minh Châu: Trang giấy trước đèn, Phê bình – Tiểu luận, Nxb KHXH, 1994, tr.262, 265).

Nhà văn ta bây giờ viết nhưng mấy ai yêu và hiểu tiếng Việt như Nguyễn Tuân? Đang có một xu hướng “bỗ bã hóa “ ngôn từ văn chương, không chỉ trong văn xuôi, mà cả trong thơ. Cũng chẳng cần nêu ví dụ cụ thể thì cũng đã thấy đáng báo động khi tiếng Việt đang bị “xẻ thịt” bởi các nhà văn (nhất là các nhà trẻ). Một xu hướng khá rõ là ngôn ngữ thông tấn báo chí, ngôn ngữ mạng, ngôn ngữ đời thường đang tràn vào tác phẩm như thác lũ, khó bề ngăn nổi. Cái thanh cao, tao nhã của ngôn từ văn chương đang biến mất. Viết không còn là hành động tìm kiếm sáng tạo ngôn từ nữa, mà là sự phô diễn của con chữ. Chữ nhiều mà nghĩa ít là vì vậy, thậm chí chỉ còn là xác chữ, mà hồn chữ không thấy đâu. Chưa kể đến một lối viết “lai căng” khá phổ biến theo tinh thần “nhập ngoại” (văn thơ Việt nhiều khi như là văn dịch). Không ít nhà văn trẻ cho rằng tiếng Việt của ta nghèo nàn, không đủ sức phô diễn tư trưởng, tình cảm. Có lẽ họ không đọc (hoặc đọc rất ít, đọc với tư cách học trò đi thi) Truyện Kiều, ca dao, dân ca, tục ngữ, thành ngữ Việt. Họ thường viết với tâm thế “cứ thế bước ào vào văn chương”, và văn chương chỉ là “trò chơi vô tăm tích”. Những hành xử với văn chương theo hướng ấy tất sẽ dẫn đến hệ lụy coi thường ngôn từ (vốn là “hiện thực trực tiếp của tư tưởng”).

Nhà văn nhiều khi không ý thức được dù chỉ một chữ mà câu văn/câu thơ hàm nghĩa khác hẳn. Chẳng hạn trong bài thơ Bác ơi, nhà thơ Tố Hữu viết: “Trái bưởi kia vàng ngọt với ai/ Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài/ Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm/ Quanh mặt hồ in mây trắng bay”. Có người tỏ vẻ “lo lắng” hộ tác giả: viết như thế có nghĩa là sau khi Bác mất, chẳng còn ai đáng để tin tưởng, ký thác và chia sẻ nữa! Ít ra thì còn nhiều thứ quan trọng khác chứ. Nhưng chữ ai trong trường hợp này, như chúng ta biết, hợp với tiếng khóc, vì nhan đề bài thơ là Bác ơi (tiếng khóc của những người con, cháu trước sự ra đi của người thân ruột thịt). Ai đã một lần có mặt trong một lễ tiễn đưa người chết về cõi vĩnh hằng sẽ rất thấm thía chữ ai trong tiếng kóc xé ruột xé gan của người thân mất người thân.

Đã nhiều năm nay cả xã hội đang cố gắng giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, cố gắng làm giàu có nó để trở thành một lợi khí với mỗi người trong hoạt động giao tiếp, sáng tác. Nếu ai đó nghĩ tiếng Việt nghèo nàn thì hãy đọc lại những câu ca dao kiểu: “Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”, sẽ thấy phải chăng mình vong bản?!

3. Bản sắc/ bản lĩnh  nhà văn – vấn đề cá tính sáng tạo: Bản sắc/ bản lĩnh của nhà văn không phải là cái gì khác người, dị biệt và bảo thủ, mà chính là cá tính sáng tạo. Nhà văn có dám cả đời hi sinh, chỉ đi săn tìm cái thật cái đẹp như Nguyễn Tuân (để có khi mang tiếng là “nghệ thuật vị nghệ thuật”, hay là “duy mỹ”)? Nhà văn có đủ xác tín như Thạc Lam đã tuyên ngôn: “Chỉ có những tác phẩm nào có nghệ thuật chắc chắc chắn, trong đó nhà văn biết đi qua những phong trào nhất thời, để suy xét đến những tính tình bất diệt của loài người, chỉ những tác phẩm đó mới vững bền mãi mãi” (Thạch Lam – văn và đời, Nxb Hà Nội, 1999, tr.577). Trong ý kiến của nhà văn Thạc Lam, chúng ta thấy ngụ ý của ông nói về mối quan hệ giữa cái thời sự và cái vĩnh hằng của nghệ thuật. Nhưng thi hào Đức Gơt thì lại cho rằng “Thơ nào cũng là thơ thời sự” (ý này nhà thơ Tố Hữu rất tâm đắc).

Nhà thơ Xuân Diệu là một nghệ sĩ ngôn từ rất giàu bản sắc, bản lĩnh. Trong một lần tao ngộ văn thơ vào năm 1972, hai nhà thơ “đỉnh” của Thơ mới đã đối thoại với nhau. Chế Lan Viên nói : “Thơ Xuân Diệu vận động nhưng đi ngang chứ không tiến về phía trước”. Xuân Diệu đối rằng: “Đi ngang là trấn giữ để đi về trước”. Chế Lan Viên nói : “Thơ Xuân Diệu hay lặp lại về ý tứ và vần điệu”. Xuân Diệu đối lại: “Có lặp lại mới nhấn mạnh được ý tứ và có nhạc điệu như hôn nhau, càng hôn càng hứng thú”. Xuân Diệu cũng nhiều lần nhấn mạnh đến bản lĩnh của con người, bản lĩnh của nhà thơ. Ông nói: “Mình phải hiểu mình là ai? Không nhờ cậy, không ỷ lại. Nhà thơ phải tự mình có sức suy nghĩ riêng. Ý thức về tôn giáo là ý thức về sự ban ơn và chịu ơn. Đó là công việc của tôn giáo. Trong sáng tạo nghệ thuật có thể có sự hỗ trợ của nhiều yếu tố nhưng chủ yếu là nội lực, sức sáng tạo của chủ thể” (Dẫn theo Hà Minh Đức: Tài năng và danh phận, Nxb Chính trị quốc gia, 2014, tr.130-131).

Sự đánh mất bản sắc/ bản lĩnh trong sáng tạo văn học hiện nay diễn ra theo các hướng chính sau: bị “hội chứng” bởi một nhà văn thành danh nào đó, học đòi/ nhập cảng một lối viết của một khuyunh hướng, trào lưu nào đó đã cũ rích trên thế giới (hậu hiện đại chẳng hạn), hoặc giả cố gồng mình lên về những chuyện rất “bắt mắt” hiện nay như sex, đồng tính, loạn luân,…Và cuối cùng là chạy theo thị trường, thậm chí đôi khi ai đó đã “bán mình cho quỷ dữ” chẳng hạn.

Cá tính sáng tạo là một phẩm chất đặc biệt quan trọng quyết định sự thành công trong quá tình sáng tác của người nghệ sĩ ngôn từ. Cá tính sáng tạo in dấu trong phong cách riêng của nhà văn tạo nên sự phong phú của bức tranh văn học khi tồn tại cạnh nhau. Hãy tưởng tượng văn học như một vườn hoa nhiều hương sắc, thì mỗi nhà văn là một loài hoa. Lao động nghệ thuật có đặc thù của tính cá nhân cao độ, sáng tác trong im lặng, cô đơn tuyệt đối nên càng có nhiều dấu ấn cá nhân. Có người ví von nhà văn khi viết là đối diện với “pháp trường trắng” (trang giấy). Tác phẩm văn học thành công chính là sự “trình làng” một kiểu cảm xúc mới , rất riêng của người nghệ sĩ ngôn từ  trước cuộc đời và con người. (như Xuân Diệu thể hiện cái trạng thái cảm xúc về sự trôi qua không bao giờ trở lại của thời gian, nên phải gấp gáp sống, dâng hiến và đón nhận: “Mau lên chứ vội vàng lên với chứ/ Em, em ơi tình non đã già rồi”). Sự xuất hiện của Trần Đăng Khoa chẳng hạn, chính là sự xuất hiện một lối cảm xúc đời sống theo năng lực của linh giác: “Ngoài thềm rơi cái lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” (Đêm Côn Sơn). Đó là một dạng thần thức của ngòi bút thơ Trần Đăng Khoa.

Thời đại của internet có sự sản xuất văn học mạng, có kiểu văn viết trên blog, có kiểu làm thơ trên facebook (có người một năm viết mấy trăm bài thơ trên phương tiện này). Nhưng nên nhớ là mỗi người có “vân tay” riêng của mình thì văn thơ cũng có “vân chữ” riêng của nó. Cá tính của mỗi nhà văn là từ con tim, khối óc, hoặc giả là “đốt cháy trái tim đến thành trí tuệ”, hoặc giả là “đốt cháy trí tuệ đến thành trái tim” đều là những nẻo lối khác nhau vào văn học.

Cá tính sáng tao và sự phát triển văn học luôn luôn là hai mặt của một vấn đề, cái này soi sáng, tôn tạo và khai mở cái kia. Nói hình tượng là chúng “thông linh” nhau. Một nền văn học phát triển là phải dựa trên những cá tính, và những cá tính khác nhau là bằng chứng cho một nền văn học phát triển phong phú, giàu có.  

4. Sự uyên bác của nhà văn: Phẩm tính văn hóa của một nhà văn còn nhờ vào sự uyên bác của anh ta. Chính nhờ phẩm tính này mà nhà văn như con chim đại bàng có sải cánh dũng mãnh, bay cao và bay xa trên bầu trời lồng lộng, tầm mắt của chim phóng ra thật rộng lớn. Một nhà văn kém hiểu biết khác nào tình cảnh của “ếch ngồi đáy giếng”. Đôi khi rơi vào trạng huống bi hài của “người mù xem voi”.

Nhà thơ Xuân Diệu sinh thời có viết bài Sự uyên bác với việc làm thơ (với ý định đọc trước Hội nghị toàn quốc những người viết văn trẻ năm 1985, nhưng không kịp). Ông vào bài viết của mình bằng cách nhắc đến các nhà cổ điển Việt Nam: “ Tôi nghĩ rằng trước kia Nguyễn Trãi, Nguyễn Du đã rất uyên bác, học rộng, đọc nhiều ở thời đại mình, cộng với một trái tim lớn lao, thì mới có được cái thơ sâu sắc nhân tình, đượm thấm trí tuệ như vậy – nhất là ở thời đại chúng ta, còn 15 năm nữa thì sang thế kỉ XXI – cả trái đất giao lưu của nhân loại mà chỉ tự hay tự đẹp lấy một mình dân tộc mình, phải kết hợp cái thật sâu của một dân tộc với cái rộng của nhân loại” (Xuân Diệu tác phẩm chọn lọc, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, tr.203). Ông hoàng của thơ tình yêu đã sống và viết như thế, có khi ông nói vui rằng bản thân mình là cả một viện hàn lâm. Đọc Các nhà thơ cổ điển Việt Nam của ông với hơn 800 trang viết về các nhà thơ lớn của dân tộc từ Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương đến Nguyễn Đình Chiểu, Đào Tấn, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Á Nam Trần Tuấn Khải. Riêng về đại thi hào Nguyễn Du, Xuân Diệu vung bút viết hơn 200 trang. Đó là những con số biết nói, là dấu chỉ cho thấy sự uyên bác của người làm thơ Xuân Diệu. Bây giờ có ai phá được kỉ lục ấy, (chưa kể hàng loạt tiểu luận – phê bình thơ khác)? Ông cũng thành thật chia sẻ: “ Tháng 10 năm 1981, khi nói chuyện ở Đại học Soocbon Pari: “Đề tài tình yêu trong sáng tác của Xuân Diệu”, bài thơ tình mà tôi dẫn đầu tiên là bài Yêu là chết ở trong lòng một ít, vì trong bài thơ ấy tôi đã vay mượn của ba thi sĩ Pháp; tôi muốn thính giả người Pháp thấy một thi sĩ Việt Nam chân thực đền ơn trả nghĩa và cũng uyên bác kim với cổ, Đông với Tây” (Sđd, tr.217). Có thể nói thế hệ nhà thơ vàng như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên,… đều là những “người làm vườn vĩnh cửu”. Sự uyên bác và một trái tim lớn làm nên nhà thơ lớn, đó là điều Xuân Diệu tâm đắc và đã làm được trong nghiệp văn của mình.

Nhà văn Phan Thị Vàng Anh (con gái nhà thơ Chế Lan Viên – Vũ Thị Thường), trong một tác phẩm có tính chất tự truyện, nhan đề Cha tôi đã viết về “sự học không có nấc thang cuối cùng” của người cha đáng kính: “Một ngày của cha tôi bắt đầu vào lúc bốn giờ. Cha tôi dậy sớm để nấu cơm, nấu nước, rồi sắp vào một cái khay con, một đôi đũa, một cái bát,…Xong hết mới gọi tôi dậy ăn. Cha  đã để sẵn nước sôi trong nhà tắm, dắt sẵn xe đạp ra ngoài sân,…Làm xong hết những việc ấy, cha tôi đi học bài. Cha học cho đến lúc mẹ dậy. Học thơ, thơ từ cổ chí kim, của bất cứ ai, miễn đáng gọi là thơ; học kịch, học văn, học văn chương, học cả những gì  dường như văn chương không bao giờ thèm đụng đến. Cho đến lúc gần bảy mươi, cha tôi vẫn là một học trò ngoan, bất chấp tuổi già mà len lỏi vào bất cứ góc nào của khu vườn văn hóa (…). Cha dạy chúng tôi: “Phải học, học không phải để vui, mà để không ai giết được mình” (Truyện ngắn bốn cây bút nữ, Nxb Văn học 2002, tr. 13-15).

Trên đây chỉ là hai dẫn chứng sinh động và gần gũi nhất với chúng ta. Trong chiều dài lịch sử của một dân tộc hiếu học, biết bao nhiêu tấm gương của những nhà khoa học, nghệ sĩ ngày đêm tu luyện chữ nghĩa, làm giàu kiến thức để nâng tầm vóc của mình lên ngang kịp yêu cầu của thời đại. Con đường tự học không mệt mỏi mới có thể giúp một cá nhân vươn lên chiếm lĩnh tri thức của nhân loại. Tự học chính là tự đào tạo, đó là cách thức duy nhất để không ai có thể “giết mình” như cách nói của người cha với con gái trong truyện ngắn xuất sắc vừa nhắc trên của nhà văn Phan Thị Vàng Anh. Nhà văn của chúng ta hiện nay (nhất là nhà văn trẻ) chỉ cậy vào cái vốn học vấn qua trường lớp, có bao nhiêu dùng bấy nhiêu, ít chịu khó tự bồi dưỡng, nâng cao liên tục. Thành thử đôi khi họ sử dụng vốn liếng của mình giống như tình trạng “miếng da lừa” của văn hào O. Banzac. Họ cứ viết ra một cái gì đó thì đầu óc cứ vơi cạn dần, đến hết.

II. BÀI HỌC LÍ LUẬN – THỰC TIỄN

Việt Nam đang hội nhập khu vực và quốc tế. Trình độ phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa – văn học còn thấp so với tốc độ “một ngày bằng hai mươi năm” của thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhưng với văn hóa – văn học lại không thể “đi tắt đón đầu” như trong một số lĩnh vực khác (như thông tin – truyền thông chẳng hạn). Đã là chậm nhưng chậm còn hơn không, phải đầu tư đặc biệt cho văn hóa – văn học, ở cấp độ quốc gia, và có tính chiến lược. Văn hóa – văn học không thể “ăn xổi” như cách dân gian vẫn nói, cần phải có cương lĩnh, đường hướng phát triển cho dài lâu.

Nhưng sáng tạo văn học lại mang đặc thù cá nhân, lại cần phát huy bởi cá tính người nghệ sĩ. Vì thế việc nâng cao phẩm chất văn hóa của nhà văn, đương nhiên trước hết là ở sự nỗ lực vươn lên của mỗi người. Nhưng hoạt động của một cá thể cần có điều kiện, đó là cái nền móng văn hóa chung của đất nước đang phấn đấu theo tinh thần đậm đà bẳn sắc dân tộc và giàu có tinh thần nhân văn. Cuối cùng là một thiết chế văn hóa đủ mạnh, đủ đáp ứng nhu cầu phát triển của những cá tính sáng tạo nghệ thuật.

Đã có tiếng kêu cơ chế thị trường làm phương hại đến sự phát triển văn hóa/ văn học. Thực ra vấn đề không nằm chủ yếu ở đó. Nó nằm ở tầm thấp văn hóa của nghệ sĩ/ nhà văn, đó mới là nguyên nhân chính trì níu phát triển văn hóa/ văn học. Vì thế mới cần khẳng định và gải bài toán: Văn hóa nghệ sĩ/ nhà văn quyết định sự phát triển văn hóa/ văn học./.      

           

  

 

 

 

 

 

Dân Chủ và Phát Triển – GNA

28 Th6

 

Dân chủ và Phát triển

democracy-vs-dictatorship

Theo RFA – Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa (25/6/2014)

Từ mấy năm qua, dư luận chứng kiến một nghịch lý tại nhiều nơi, như Miến Điện, Thái Lan hay Trung Quốc về mối quan hệ giữa hai phạm trù dân chủ và phát triển với một kết luận được nhiều người cho là chân lý. Đó là dân chủ chưa chắc đã có lợi cho phát triển kinh tế, ít ra tại các nước chưa qua giai đoạn công nghiệp hóa như các nước Tây phương. Mục Diễn đàn Kinh tế lần lượt phản bác “chân lý” đó qua phần trao đổi do Vũ Hoàng thực hiện sau đây cùng chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.

Chuyển hóa không dễ dàng

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, hôm Thứ Hai đầu tuần, Liên hiệp Âu châu quyết định hạn chế mối quan hệ với Thái Lan sau cuộc đảo chính của quân đội vào tháng trước. Dường như là nền quân chủ lập hiến theo thể chế dân chủ của Thái đang có vấn đề với hai cuộc đảo chính, vào Tháng Chín năm 2006 và Tháng Năm năm 2014, xen kẽ là hai cuộc bầu cử và nhiều năm hỗn loạn. Cùng giai đoạn ấy, xứ lân bang là Miến Điện cố chuyển hóa từ chế độ độc tài quân phiệt qua chế độ dân chủ mà chưa có kết quả sau ba năm vẫn đầy bất ổn. Trong khi đó, một xứ ai cũng nói là độc tài, kể cả người dân tại đặc khu kinh tế Hong Kong, là Trung Quốc lại có tiến triển vượt bậc về kinh tế. Khi thế giới bị khủng hoảng và Miến Điện bắt đầu thay đổi thì kinh tế Trung Quốc qua mặt kinh tế Nhật Bản, đến nay thì chuẩn bị vượt Mỹ để là nền kinh tế lớn nhất thế giới. Thưa ông, chúng tôi nhắc lại bối cảnh quốc tế vừa qua để hỏi ông một câu, rằng nền dân chủ có ích lợi gì cho kinh tế không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Đây là đề tài có thể giúp ta nhìn lại Việt Nam, với hai điều kiện. Thứ nhất, về không gian thì hoàn cảnh mỗi nước mỗi khác nên ta cần thận trọng khi so sánh. Thứ hai, về thời gian thì nền dân chủ không là loại cỏ cứ gieo là mọc nên ta cần tính bằng nhiều thập niên.

Tôi xin nhấn mạnh tới nhận thức sai của nhiều người ở phương Tây về ưu thế của chế độ độc tài Á Châu trong công cuộc phát triển quốc gia. Người ta cứ ngợi ca thành tích Trung Quốc sau ba chục năm cải cách kinh tế, xen kẽ với nhiều vụ tàn sát và đàn áp chính trị, trong khi nóng ruột đợi phép lạ của Miến Điện sau có ba năm chuyển hóa. Kết luận của tôi là dân chủ có ích cho kinh tế mà không là sự chuyển hóa dễ dàng. Những gì xảy ra tại Bắc Phi sau mùa Xuân Á Rập cách nay ba năm có thể cho thấy khó khăn của sự chuyển hóa, nhưng chẳng vì vậy mà mình nên duy trì chế độ độc tài.

Vũ Hoàng: Chúng ta sẽ khởi đi từ đó và xin đề nghị ông lần lượt giải thích cho ưu điểm của nền dân chủ cho công cuộc phát triển kinh tế sau khi trả lời cho một câu hỏi vì ông vừa nhắc đến. Tại sao nhiều người ở các nước dân chủ Tây phương lại cho rằng chế độ độc tài Á Châu hay tại nơi khác nữa lại có lợi cho công cuộc phát triển?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi nhắc đến hiện tượng này là để cảnh báo thính giả của chúng ta tại Việt Nam là đừng nên hiểu lầm mà mang họa.

Tại các nước dân chủ Âu-Mỹ, giới trí thức thiên tả thường cho rằng nhà nước nên can thiệp vào kinh tế để điều tiết thị trường và bảo vệ lẽ công bằng xã hội. Nếu sống trong các xã hội này thì ta hiểu ra và chấp nhận điều ấy vì xứ sở đã có quyền tự do nên tranh luận về mức độ can thiệp của nhà nước để nâng cao phẩm chất của cuộc sống ở nơi ấy. Nhưng trí thức Tây phương trở thành duy ý chí khi cho là chế độ độc tài lại có ưu điểm là lấy quyết định sáng suốt và mau lẹ về phân bố tài nguyên quốc gia. Thí dụ được họ hay nêu ra là thành tích tăng trưởng của Trung Quốc.

Cũng các nước dân chủ lại có một thành phần chuyên gia kinh tế hay tư tưởng xã hội xuất thân từ các nước nghèo. Họ đưa ra một quan điểm khác trong các đại học hay trung tâm nghiên cứu Âu-Mỹ. Đó là nền dân chủ vẫn có lợi nhất cho công cuộc phát triển. Lý do là vì họ đã sống trong thực tế lạc hậu và ý thức được cái giá của nạn độc tài mà giới trí thức sinh đẻ ở phương Tây không biết, nên mới cứ đề cao vai trò can thiệp của nhà nước trong các quốc gia đang phát triển.

Vũ Hoàng: Sau khi ông cảnh báo về hoàn cảnh khác biệt ở hai nơi, ta sẽ bắt đầu vào đề. Thưa ông, dân chủ là gì mà có lợi cho công cuộc phát triển hơn chế độc tài?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nếu thính giả để ý thì đã thấy là từ cả chục năm nay, tiết mục chuyên đề của chúng ta không đề cao dân chủ như một lý tưởng xa vời mà thần diệu như một khẩu hiệu sách động.

Trả lời cho câu hỏi “dân chủ là gì” thì thật vô ích nếu nói “dân chủ là thể chế chính trị đảm bảo quyền bình đẳng của mọi người dân trước hệ thống luật pháp do người dân góp phần xây dựng”. Định nghĩa có vẻ trừu tượng ấy thật ra lại xa vời trước mối quan tâm thiết thực của nhiều người về sinh hoạt kinh tế. Vì thế, tôi xin nói về nội dung cụ thể của dân chủ.

” Không ai có độc quyền chân lý”

Vũ Hoàng: Như vậy, ta đi vào nội dung cụ thể đó. Thưa ông, dân chủ bao hàm những gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trước hết, một xã hội chỉ có dân chủ khi được cởi mở tư tưởng.

Cởi mở là “không ai có độc quyền chân lý”, tức là đưa ra một định nghĩa mà cả nước phải nghe. Tôi không nói đến chân lý “bốn tốt” và “16 chữ vàng” trong quan hệ mờ ám giữa Việt Nam và Trung Quốc mà người dân Việt phải tuân thủ. Đấy là một hình thái độc quyền chân lý, tất nhiên là cản trở dân chủ mà còn dẫn tới nạn lệ thuộc kinh tế của Việt Nam vào Trung Quốc. Tôi xin nhắc đến một định nghĩa khác của một người có thẩm quyền.

Ông ta tốt nghiệp đại học, từng là Phó Thống đốc Ngân hàng Trung ương Bắc Kinh, hiện là Chủ tịch Ngân hàng Phát triển Trung Quốc. Đấy là một chuyên gia kinh tế, Trung ương Ủy viên, con trai một lão đồng chí của Mao Trạch Đông là Trần Vân. Ông Trần Nguyên này phát biểu như sau, tôi xin trích nguyên văn: “Chúng ta là đảng Cộng sản và sẽ quyết định rằng chủ nghĩa cộng sản là gì.”

Khi một đảng viên cao cấp mà nêu ra một chân lý như vậy thì đảng cũng có quyền định nghĩa về đà tăng trưởng, về quyền làm chủ tập thể hay về phát triển kinh tế. Với tình trạng độc quyền chân lý này thì chẳng có dân chủ mà phát triển cũng chỉ là chuyện ảo. Đó là nội hàm thứ nhất và điều kiện cần thiết của dân chủ: phải có cởi mở tư tưởng và giải trừ tình trạng độc quyền chân lý.

Vũ Hoàng: Như vậy, thưa ông, nếu có cởi mở tư tưởng thì phải có tự do thông tin và thị trường mới có dữ kiện vô tư và khả tín để lấy quyết định về kinh tế hay kinh doanh. Có phải vậy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng đúng như vậy mà còn phải hơn vậy.

Từ địa hạt tư tưởng đến pháp lý thì nền dân chủ phải đảm bảo được các quyền “tự do dân sự”. Phạm trù này là chuyện tự nhiên trong các nền dân chủ mà không hiển nhiên cho những ai sống quá lâu trong chế độ độc tài. Khái niệm “tự do dân sự” có nghĩa là người dân phải có tự do mà nhà nước không thể hạn chế dù bằng luật lệ. Quyền tự do của người dân mang ý nghĩa đối lập với nhà nước và phải hạn chế quyền lực của nhà nước. Trong các quốc gia dân chủ thì nhà nước chỉ được làm những gì mà dân cho phép, trong khi người dân được quyền xây dựng và phát triển xã hội dân sự, tồn tại song song với nhà nước, để giải quyết yêu cầu thực tế của người dân.

Từ khái niệm tự do dân sự, ta mới có xã hội dân sự và các tổ chức hay hiệp hội của người dân để giúp dân. Vì thế, tự do dân sự mở ra tự do thông tin, tự do nghiệp đoàn, tự do giáo dục và đào tạo hay các cơ quan ngoài chính phủ có chức năng yểm trợ phát triển. Một thí dụ là Bộ Kế hoạch hay Ngân hàng Nhà nước mà muốn ban bố chính sách kinh tế hay tài chính thì phải tham khảo ý dân hay khảo sát thị trường qua các hiệp hội tư nhân, từ công đoàn đến phòng thương mại, nhờ vậy mà tránh được sai lầm hay liều thuốc đổ bệnh. Nói vắn tắt thì vì có sự giám sát và phản ứng thường trực của xã hội dân sự, quốc gia dễ tránh được chính sách sai lầm. Điếu ấy có lợi cho phát triển.

Vũ Hoàng: Thế còn những định chế mà người ta thường nói là cần thiết cho phát triển, như quyền tư hữu, quyền đầu tư và kinh doanh của tư nhân?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Những chuyện ấy dĩ nhiên cần thiết, nhưng chỉ xuất hiện và tồn tại sau khi đã có cởi mở về tư tưởng và tự do về dân quyền. Nếu nhà nước giữ độc quyền chân lý về phương hướng đổi mới và nói rằng các thành phần kinh tế đều có quyền hạn như nhau mà thực tế pháp lý lại thu hẹp quyền tư doanh hoặc đề cao chế độ công hữu thì quyền tư hữu hay tự do kinh tế trở thành vô nghĩa. Cũng từ tình trạng yếu kém về định chế này, nhà nước có toàn quyền quyết định về chính sách đầu tư hay tín dụng, chỉ nâng đỡ khu vực quốc doanh và tạo điều kiện cho tay chân nhà nước trục lợi. Đấy là liều thuốc dẫn tới tệ đầu cơ, tham nhũng, ô nhiễm môi sinh, bất công xã hội và tăng trưởng thiếu quân bình. Về dài thì dẫn tới khủng hoảng.

Vũ Hoàng: Ông nói “về dài”, tức là trở lại khái niệm thời gian. Xin ông giải thích thêm cho rõ.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi xin đi dần vào kết luận vì thời lượng của chúng ta có hạn.

Người ta nghiệm thấy trong các nước đang phát triển thì xứ nào có mức tự do và dân chủ cao hơn thì cũng có trình độ tăng trưởng khá hơn và sau nhiều thập niên thì trở thành một nước đã phát triển. Bên cạnh đó, các nước chuyển hóa từ chế độ độc tài sang dân chủ thì hay gặp dăm bảy năm khó khăn, với đà tăng trưởng giảm sút. Nhưng nếu kiên định theo hướng đó thì xứ sở sẽ có tương lai khá hơn về lượng lẫn phẩm. Thí dụ ở đây là Đài Loan, Nam Hàn, rồi Philippines hay Indonesia. Trường hợp khó khăn này nay của Miến Điện nên được xét trên cái trục thời gian đó.

Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối, thưa ông, thế còn Việt Nam?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi có những đồng nghiệp là tư vấn kinh tế và tài chính tại Việt Nam lẫn nhiều nước đang cải cách để chuyển hóa, như Miến Điện hay Bangladesh. Họ đánh giá cao tinh thần cầu thị và cải sửa của người dân tại các xứ này trong khi phê phán tinh thần chủ quan tự mãn của Việt Nam. Đó là cái gì cũng làm như biết hết mà chẳng muốn cải cách, chỉ để duy trì đặc quyền và đặc lợi trong hệ thống mờ ám và thiếu trong sáng hiện nay.

Nhận xét của giới tư vấn được thực tế minh chứng khi các ngân hàng và giới đầu tư ngoại quốc đều lặng lẽ rút khỏi thị trường Việt Nam vì thất vọng với nạn thông tin thiếu minh bạch, trì hoãn cải cách và bảo vệ quyền lợi phe nhóm. Đã có kinh nghiệm làm ăn tại xứ độc tài và ít chú ý đến chính trị, họ vẫn coi ổn định chính trị tại Việt Nam chỉ là chuyện ảo! Nếu dám chuyển hóa qua dân chủ thì Việt Nam sẽ có thể phát triển – và ngay trước mắt thì còn bảo vệ được nền độc lập….

Vũ Hoàng: Thay mặt cho quý khán thính giả, xin cảm tạ ông Nghĩa về lời cảnh báo này.

Lột mặt nạ “phát triển hòa bình” – TT

7 Th6

 

07/06/2014 10:19 (GMT + 7)
 
 
TT – Việc Philippines đệ đơn kiện Trung Quốc trước Tòa án quốc tế La Haye sở dĩ “lớn chuyện” là do một bên cậy đến luật pháp quốc tế, bên kia lại cự tuyệt, nhất định “tự ý làm luật” trên biển để áp đặt cái “lưỡi bò” của mình.

>> Tòa trọng tài giục trả lời, Trung Quốc thản nhiên từ chối
>> Nguy cơ trở thành khủng hoảng toàn cầu

Giữa các quốc gia với nhau, việc kiện cáo này đã là thói quen từ hơn thế kỷ qua, qua trung gian Tòa án trọng tài thường trực (PCA) quy tụ 115 nhà nước tham gia. Tòa này, còn gọi là Tòa án quốc tế La Haye, được thành lập năm 1889, nhằm tạo thuận lợi cho việc tài phán cùng các hình thức giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia. PCA được nhìn nhận như một định chế lý tưởng vận dụng cả công pháp quốc tế và tư pháp quốc tế, đáp ứng nhu cầu ngày càng bức xúc của cộng đồng quốc tế trong việc giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia.

Hiện PCA đang thụ lý tám đơn kiện giữa các nhà nước như giữa Hà Lan và Nga, Úc và Đông Timor, Philippines và Trung Quốc, Croatia và Slovenia, Mauritius và Anh cùng Bắc Ireland, Bangladesh và Ấn Độ. Ngoài ra, PCA cũng đang thụ lý 52 đơn kiện giữa nhà nước và nhà đầu tư liên quan đến các hiệp định đầu tư song phương hoặc đa phương, hay luật đầu tư.

Có những vụ lớn cấp quốc gia như vụ giữa Pakistan và Ấn Độ nhờ đến PCA tài phán vụ tranh chấp tài nguyên nước sông Indus, hay vụ giữa Ecuador và Mỹ về việc diễn giải và áp dụng hiệp định khuyến khích đầu tư giữa hai nước này. Liên quan đến Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (UNCLOS), PCA cũng đã từng tài phán tranh chấp giữa Singapore và Malaysia về đất đai quanh eo biển Johor. Hoặc mới đây nhất là yêu cầu tu sửa điều 17 và phụ lục II của Công ước bảo tồn và quản lý tài nguyên hải sản biển xa ở Nam Thái Bình Dương (có hiệu lực năm 2012) theo yêu cầu của Nga, Chile, EU và New Zealand. Năm ngoái, một hãng tàu treo cờ Panama đã kiện Nhà nước Guinea – Bissau ra trước Tòa án quốc tế về Luật biển (ITLOS) về việc bắt giữ tàu “Virginia G” của họ khi con tàu này đang bán dầu trên biển trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này.

Hàng trăm vụ đang thụ lý hay đã tài phán xong trong thời gian gần đây cho thấy việc đưa nhau ra tòa là một thông tục văn minh của thế giới loài người có từ hàng trăm năm qua và càng quan trọng trong hiện tại. Các nước ra tòa, không vì thế mà tuyệt giao với nhau. Đơn giản là ra tòa để khỏi động binh với nhau. Sang thế kỷ 21 này, đáo tụng đình không còn là vô phúc, trái lại là biểu thị của con người – luật pháp của nhân loại văn minh. Thậm chí ở tòa này hay tòa ITLOS, còn có những khóa tu nghiệp cho thực tập sinh các nước, kể cả hỗ trợ chi phí luật sư cho các quốc gia đang phát triển.

Do vậy, việc ngư dân và tàu cá Việt Nam bấy lâu nay bị đâm chìm, đánh đập, cướp tài sản… cần đưa ra trước tòa án quốc tế, để cho cả thế giới thấy công lý thuộc về ai, mặc cho thiên hạ không “thèm” nhận trát tòa. Càng khước từ ra tòa, càng đánh rơi mặt nạ “phát triển trong hòa bình” (thay cho cụm từ “trỗi dậy hòa bình” đã được đưa ra trước đây cho có vẻ hiền hòa hơn), công khai bộ mặt chà đạp luật pháp và thông lệ quốc tế, đến nỗi bảy nền kinh tế lớn nhất thế giới vừa lên tiếng về những gây hấn trên biển, đe dọa hòa bình. Đó cũng là biện pháp bảo vệ chủ quyền và ngư dân cụ thể nhất.

DANH ĐỨC

%d bloggers like this: