Tag Archives: quân sự

Hoàn Cầu: Bắc Kinh sẽ vũ trang cho các thế lực chống Mỹ nếu Trump “manh động” với Đài Loan – Soha

14 Th12

Ngọc Anh | 12/12/2016 19:37

Hoàn Cầu: Bắc Kinh sẽ vũ trang cho các thế lực chống Mỹ nếu Trump "manh động" với Đài Loan

Báo chí chính thống của Trung Quốc phát đi thông điệp rằng nước này có thể dùng biện pháp quân sự để tiếp quản Đài Loan, thay vì “thống nhất hòa bình”.

Tiếp tục lên tiếng sau cuộc điện đàm với lãnh đạo Đài Loan Thái Anh Văn hôm 2/12, Tổng thống đắc cử Mỹ Donald Trump nói với Fox News rằng “không có ràng buộc” nào để phải thừa nhận chính sách “Một Trung Quốc”, và ông “không muốn bị Trung Quốc chỉ huy”.

Phía Trung Quốc đã lên tiếng phản đối các phát ngôn của Trump. Bộ Ngoại giao Trung Quốc nói “hết sức quan ngại” và chỉ ra vấn đề Đài Loan là nền tảng chính trị cho quan hệ Trung-Mỹ, đồng thời cảnh báo quan hệ song phương “không còn gì để nói” nếu chính sách “Một Trung Quốc” bị Mỹ làm tổn hại.

Trong khi đó, truyền thông nhà nước Trung Quốc đã phát đi lời đe dọa vũ trang cho các lực lượng chống Mỹ và thậm chí tấn công quân sự Đài Loan.

Tờ Thời báo Hoàn Cầu, thuộc chủ quản của báo đảng Trung Quốc Nhân dân Nhật báo, ngày 12/12 cảnh báo:

“Trung Quốc sẽ tiếp quản Đài Loan bằng vũ lực, thay vì ‘thống nhất hòa bình’, nếu Trump từ bỏ chính sách ‘Một Trung Quốc’. Các lãnh đạo Đài Loan sau đó sẽ phải hối tiếc khi trở thành một món đồ mặc cả của Trump, một viên gạch đệm để Mỹ tiến tới thay đổi chính sách. Một ngày nào đó, có lẽ chính bà Thái Anh Văn sẽ từ chối nghe điện đàm của Trump”.

Tờ báo “diều hâu” của Trung Quốc cũng dẫn lời một học giả uy tín trong nước có những lời lẽ gay gắt về cá nhân ông Trump.

“Ông ta là một doanh nhân thông minh nhưng lại mù mờ như một đứa trẻ và thiếu nhạy cảm trong vấn đề chính trị, đặc biệt rất ‘nông cạn’ trong vấn đề Đài Loan.

Ông ta không hiểu rằng ‘Một Trung Quốc’ không phải là một chính sách có thể đem ra thương lượng và mặc cả” – Giáo sư Học viện ngoại giao Trung Quốc, ông Lý Hải Đông nói.

 

theo Trí Thức Trẻ

 

TQ với lá bài quân sự trong tranh chấp hàng hải – VNN

14 Th4

TQ với lá bài quân sự trong tranh chấp hàng hải

Thế giới ngày càng thấy rõ hơn chính sách cứng rắn của lãnh đạo Trung Quốc mới.

>> Thăm Hải Nam, lãnh đạo TQ bắn ‘tín hiệu’ với Biển Đông
>> ‘Kiểu lấn chiếm biển của TQ đe dọa khu vực’

Bằng mọi tính toán, ông Tập Cận Bình đã đóng vai trò quan trọng trong việc tạo lập phản ứng của Trung Quốc với các tranh chấp hàng hải. Về tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư với Nhật, ông đã lập nhóm an ninh hàng hải vào giữa năm 2012, sau đó là “Văn phòng phản ứng khủng hoảng Điếu Ngư” vào tháng 9 do chính ông phụ trách.  

Sau khi trở thành tổng bí thư Trung Quốc, tuyên bố của ông Tập đã chính thức hóa chiến thuật phản ứng quả quyết gây hấn khi nhấn mạnh tầm quan trọng của “phát triển hòa bình” nhưng cũng khẳng định không dung thứ với ai làm tổn hại đến “chủ quyền, an ninh và phát triển các lợi ích” của Trung Quốc. Các lợi ích ấy dĩ nhiên không thể thiếu vắng lợi ích hàng hải. 

Trung Quốc, Tập Cận Bình, hàng hải, tranh chấp, chủ quyền, hải quân
Ông Tập Cận Bình thăm quân cảng ở Hải Nam, tỉnh cực nam Trung Quốc. Ảnh: THX

Khi lần lượt nắm giữ những chức vụ lãnh đạo quan trọng nhất đất nước, ông Tập Cận Bình đã liên tiếp nhắc đến cụm từ “giấc mơ Trung Hoa” như là biểu hiện mạnh mẽ cho quyết tâm tạo dựng một Trung Quốc lớn mạnh dẫn đầu thế giới, kể cả về quân sự. Chưa biết do tình cờ hay hữu ý, cụm từ được ông Tập yêu thích lại trùng lặp với tên cuốn sách của quan chức quân đội Trung Quốc (PLA). Ba năm trước, người này đã viết cuốn “Giấc mơ Trung Hoa”, trong đó chủ yếu nói về những mục tiêu mới của Trung Quốc vượt qua sức mạnh quân sự hàng đầu thế giới của Mỹ.  

Trong các tháng đầu tiên lên nắm quyền, ông Tập liên tiếp thực hiện các chuyến thăm cấp cao tại các lực lượng quân đội, không quân, các chương trình không gian và các cơ sở tên lửa, điều mà cả hai người tiền nhiệm trước đây, cả ông Giang Trạch Dân lẫn ông Hồ Cẩm Đào đã không làm.  

Mục tiêu cường quốc hàng hải 

Trước hàng nghìn đại biểu quốc hội ngày 17/3, ông Tập Cận Bình kêu gọi “nỗ lực hết sức để tiếp tục thực hiện sự phục hưng của dân tộc và giấc mơ Trung Hoa” đồng thời nêu rõ, PLA là quân đội thường trực lớn nhất thế giới và thúc giục các lực lượng vũ trang tăng cường khả năng “để chiến thắng trong các cuộc chiến cũng như bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia”.  

Không ngẫu nhiên mà gần như đi đôi với việc có đội ngũ lãnh đạo mới thì Trung Quốc cũng chẳng cần vòng vo che đậy (dùng tàu dân sự) trong nỗ lực khẳng định chủ quyền hàng hải. PLA đã công khai, thậm chí thách thức, khi tung ra lá bài quân sự (dùng tàu hải quân) ở các vùng biển tranh chấp.  

Nửa đầu tháng 12/2012, một máy bay Trung Quốc lần đầu tiên đã đi vào khu vực mà Nhật coi là không phận của họ ở quần đảo tranh chấp tại biển Hoa Đông. Leo thang hơn, tàu chiến Trung Quốc đã ít nhất một lần hướng rađa điều khiển hỏa lực vào một tàu hải quân Nhật Bản, dẫn đến tình trạng đối đầu hết sức nguy hiểm.  

Ba tháng đầu năm, nước này đã liên tục tiến hành hàng chục cuộc tập trận, diễn tập quân sự ở Biển Đông, thậm chí với sự tham gia của cả 3 hạm đội Bắc Hải, Đông Hải và Nam Hải. Ngày 30/1, Trung Quốc đã tiến hành cuộc tập trận với quy mô lớn trên vùng biển rộng lớn từ Hoàng Hải, qua biển Hoa Đông và Biển Đông đến tận Tây Thái Bình Dương. Ngày 26/3, một đội tàu 4 chiếc, dẫn đầu là tàu đổ bộ Tỉnh Cương Sơn đổ bộ đến bãi đá James – cách Malaysia khoảng 80km, cách Brunei chưa đầy 200km và cách bờ biển Trung Quốc tới 1.800km, vượt ra cả ngoài giới hạn “bản đồ 9 đoạn” mà Trung Quốc tự đưa ra với yêu sách bao trùm hầu hết Biển Đông.  

Stephanie Kleine-Ahlbrandt, giám đốc Đông Bắc Á của Nhóm Nghiên cứu khủng hoảng quốc tế nói rằng, các động thái của hải quân Trung Quốc gần đây là biểu hiện của chiến lược “chuyển từ cường quốc đất liền sang cường quốc hàng hải”.  

“Cường quốc hàng hải” cũng là mục tiêu mà Đại hội đảng 18 Trung Quốc đề ra. Đội ngũ lãnh đạo mới tại Bắc Kinh đang thể hiện rõ sự quyết đoán trong việc triển khai mục tiêu ấy với những hành động cứng rắn, thậm chí là táo tợn ở Biển Đông, Hoa Đông. 

Và, họ đã có thể thành công trong nỗ lực răn đe láng giềng nhưng lại thất bại ở một mặt trận khác. Từ lâu lãnh đạo Trung Quốc đã cố gắng thuyết phục thế giới quên đi cái gọi là “mối đe dọa Trung Quốc”. Nhưng nếu họ tiếp tục đi vào con đường hiện tại, thì chắc chắn các nước trong khu vực nói riêng và cộng đồng quốc tế nói chung sẽ coi sự trỗi dậy của Trung Quốc chính xác là một mối đe dọa

Thái An

Dùng ngoại giao quân sự để cứu lãnh hải

24 Th1

Dùng ngoại giao quân sự để cứu lãnh hải

Khái niệm “ngoại giao quân sự” phải chăng bản thân nó đã là một sự tương phản? Hoàn toàn không. Đó là nhận định của hai nhân vật nổi tiếng của Australia, những người vừa nói tới các triển vọng của các cuộc tập trận quân sự song phương và đa phương như một cách để quản lý căng thẳng an ninh tại châu Á.

Gần đây, cựu Thủ tướng Australia Kevin Rudd đã vạch ra một lộ trình cho hợp tác an ninh tại châu Á, nhất là giữa Trung Quốc và Mỹ. Ông nhấn mạnh tới sự cần thiết của các biện pháp xây dựng lòng tin và hợp tác giữa quân đội Mỹ và Trung Quốc.

Cuối tháng 12/2012, Tư lệnh các lực lượng vũ trang Australia, Tướng David Hurley, đã có một bài trả lời phỏng vấn trong đó ông nói về khả năng Australia sẽ đăng cai một cuộc tập trận chung với các lực lượng vũ trang của Trung Quốc, và có thể là ba bên với Mỹ, như một cách để tạo dựng thói quen thông tin và dự báo.

Kế hoạch này được đưa ra sau một cuộc tập trận song phương ở ngoài khơi bờ biển Sydney với ba tàu Trung Quốc đến thăm Australia, hoạt động đã từng được tiến hành vào năm 2007 và 2010.

Ý tưởng cho rằng những tương tác mang tính xây dựng như vậy có thể xây dựng lòng tin và giảm nguy cơ xung đột là một ý tưởng tốt. Australia từ lâu rất tích cực sử dụng lực lượng quốc phòng của mình, nhất là hải quân, như một công cụ để gia tăng ảnh hưởng ngoại giao, và đặc biệt phù hợp để hành động như một người triệu tập và nơi đăng cai các hoạt động như thế.

Hoạt động này không chỉ diễn ra với đồng minh Mỹ của họ, và Trung Quốc, mà còn với các đối tác khác trên biển ở châu Á mà Canberra có quan hệ tốt hoặc đang cải thiện quan hệ quốc phòng như Indonesia, Nhật Bản và Ấn Độ.

Sẽ rất quan trọng nếu các nhà hoạch định chính sách và các nhà quan sát tỏ ra thực tế hơn đối với các giới hạn của các biện pháp xây dựng lòng tin gián tiếp như thế – gián tiếp vì chúng diễn ra ở xa khu vực tranh chấp và có xu hướng tập trung vào các vấn đề không đối đầu như cứu hộ thiên tai, thay vì sử dụng vũ lực.Tuy nhiên, hiện tại các sĩ quan quân đội dày dạn kinh nghiệm không kỳ vọng khi nhiều vào các cuộc tập trận với các đối tác nước ngoài. Đối với họ, hoạt động này thiên về việc thể hiện năng lực hoặc thu thập thông tin hơn là chia sẻ các kỹ năng hay xây dựng mô hình dự báo và thông tin, dù đây chính là mục đích thực sự của các hoạt động này. Thực tế là trong thập kỷ qua, Trung Quốc đã liên tục gia tăng cường độ và chất lượng hoạt động ngoại giao quân sự gián tiếp của mình – thông qua các chuyến thăm của tàu và các cuộc tập trận nhỏ – với các nước khác trong khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương. Nhưng điều đó không có nghĩa là các hoạt động này đã được chuyển thành sự gia tăng niềm tin hay trao đổi thông tin tại biển Đông và biển Hoa Đông.

Như chuyên gia hải quân Geoffrey Till lập luận trong một cuốn sách mới về sự tăng cường hải quân của châu Á, vẫn chưa rõ liệu sự hợp tác và các phát ngôn tích cực, chẳng hạn trong các hoạt động chống hải tặc, có thể giúp “việc hiện đại hóa lực lượng hải quân không trở thành cuộc cạnh tranh hủy hoại khu vực” hay không.

Một phép thử quan trọng hơn của chiến lược thiện chí và việc ưu tiên ngoại giao quốc tế trong năm 2013 sẽ là khuyến khích hải quân và các lực lượng biển khác của Trung Quốc cam kết một cách xây dựng với các đối tác của mình dưới dạng xây dựng lòng tin một cách trực tiếp hơn. Đó là việc thiết lập các nghị định thư và đường dây thông tin liên lạc để phòng tránh hoặc quản lý các sự cố tại các vùng biển đang tranh chấp. Đây cũng là một phần khác của mô hình an ninh khu vực mà ông Kevin Rudd đề xuất trong phát biểu nói trên nhằm hạn chế nguy cơ chiến tranh trên biển ở châu Á.

Trách nhiệm giờ thuộc về những người chơi chính – Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ, Việt Nam và Philippines – hơn là các nước trung gian có thiện chí như Australia. Nhưng các tiến bộ trên mặt trận này trước tiên đòi hỏi một quyết định chính trị cơ bản của Trung Quốc – và các nước khác có tranh chấp – không sử dụng sự thành thạo trong điều khiển tàu và thủy thủ, hay các mánh lới khiêu khích trên biển như những công cụ chính sách nhằm thúc đẩy các yêu sách biển của mình. Nếu không, 2013 sẽ lại là một năm nữa các vùng biển châu Á “dậy sóng cồn”./.

Châu Giang theo Thediplomat.com

 

Báo Mỹ: TQ là mối đe dọa quân sự – Vnn

13 Th1

Báo Mỹ: TQ là mối đe dọa quân sự

Trung Quốc ngày càng quả quyết hơn tới vị trí siêu cường. Quân đội nước này đã phát triển ổn định những năm gần đây và không có dấu hiệu dừng lại – tờ IBTimes (Mỹ) viết.

Ảnh: crisisboom

 

Tuy Trung Quốc vẫn còn kém Mỹ về khả năng khuếch trương sức mạnh quân sự ở nước ngoài, nhưng họ có thể sớm trở thành đối thủ đáng ngại trong lĩnh vực không gian. Theo rất nhiều thông tin truyền thông, Trung Quốc đang dự kiến thử nghiệm hệ thống đánh chặn tên lửa quốc gia mà họ gọi là tên lửa chống vệ tinh (ASAT). Tên lửa này có thể đe dọa các vệ tinh của Mỹ, trong đó có những vệ tinh được sử dụng cho hệ thống định vị toàn cầu (GPS).

Năm 2007, Trung Quốc đã tiến hành một vụ thử nghiệm tên lửa ASAT không báo trước. Vụ thử thành công và tiêu diệt được một vệ tinh thời tiết, đồng thời tạo ra hàng chục ngàn mảnh vỡ kim loại mà các quan chức Mỹ nói sẽ đe dọa các vệ tinh và những nhà du hành vũ trụ trong 100 năm.

Các cơ quan tình báo Mỹ đã chuẩn bị sẵn sàng và theo dõi sát sao các cơ sở, động thái từ Trung Quốc, đặc biệt sau vụ việc 2007. Tên lửa chống vệ tinh mới, có tên gọi Dong Ning-2 (DN-2), được cho là hiện đại hơn, có khả năng đạt tới tầm cao hơn trong không gian so với tên lửa ASAT 2007. Nó có thể tiêu diệt các vệ tinh tại quỹ đạo tầm cao trái đất.

DN-2 còn được cho là có thể khống chế các vệ tinh phục vụ cho mục đích hàng hải, thông tin, hay tình báo của Mỹ bằng cách va chạm với chúng ở tốc độ cao. Đây là mối đe dọa đặc biệt với lực lượng tình báo Mỹ vì sự phụ thuộc lớn vào hoạt động của vệ tinh cũng như với quân đội Mỹ nói chung.

Tờ Thời báo Hoàn cầu của Trung Quốc không xác nhận cụ thể việc thử tên lửa cũng như thời điểm xảy ra, nhưng thừa nhận rằng, nó sẽ phù hợp với các mục tiêu của Trung Quốc. “Trung Quốc cần có khả năng tấn công các vệ tinh của Mỹ. Việc ngăn chặn này có thể cung cấp sự bảo vệ chiến lược cho các vệ tinh của Trung Quốc và toàn bộ hệ thống an ninh quốc gia”, tờ báo nhấn mạnh.

Những nỗ lực phát triển của Trung Quốc hướng tới một siêu cường quân sự đã gây ra quan ngại lớn trong khu vực. Nhiều quốc gia châu Á đang có không ít căng thẳng với Trung Quốc xung quanh tranh chấp lãnh thổ và những lý do khác.

Năm 2012, giữa lúc tranh chấp với Nhật về chủ quyền với quần đảo Điếu Ngư/Senkaku và Mỹ công bố chiến lược trục xoay châu Á, Trung Quốc đã không ngừng khuếch trương sức mạnh quân sự như thử nghiệm bay thành công máy bay chiến đấu J-15 – dựa trên thiết kế của Nga nhưng trang bị thêm vũ khí và công nghệ rađa.

Một cột mốc khác trong phát triển hàng không vũ trụ Trung Quốc là phóng phi thuyền có người lái thứ tư vào không gian hoàn tất trong mùa hè 2012 với sự tham gia của nữ phi hành gia đầu tiên nước này. Kể từ đó, mục tiêu có một trạm không gian năm 2020 mà Trung Quốc đặt ra dường như không nằm ngoài tầm với.

Máy bay chiến đấu J-15 cũng đã thực hiện bài tập cất và hạ cánh thành công trên boong tàu sân bay đầu tiên mang tên Liêu Ninh của nước này, đánh dấu một cột mốc quan trọng trong chương trình phát triển tàu sân bay đầy tham vọng của hải quân Trung Quốc. Theo giới phân tích, với động thái này, hải quân Trung Quốc sẽ sớm có thể chính thức đưa tàu sân bay đầu tiên vào trực chiến. Vấn đề còn lại chỉ là yêu cầu đủ số lượng máy bay trực thăng, tiêm kích hạm, máy bay cảnh báo sớm trang bị trên tàu.

Cùng với thời điểm phóng Thần Châu 9 vào vũ trụ, siêu tàu lặn Giao Long đã chinh phục độ sâu 7km ở Thái Bình Dương.

Dù có hoặc không vụ thử nghiệm tên lửa chống vệ tinh trong tháng này, sự phát triển của quân đội Trung Quốc là một thực tế. Về mặt nhân sự, họ là quân đội lớn nhất thế giới. Cùng với việc liên tục mở rộng các lực lượng hải quân, bộ binh và không quân, thì quốc gia này sẽ tiếp tục là lực lượng trỗi dậy mà không chỉ khiến duy nhất nước Mỹ phải chú tâm

Chuyên gia Nga phân tích thẳng sức mạnh quân sự Trung Quốc – ĐV

10 Th1
 
Cập nhật lúc 07:22, 10/01/2013

Chuyên gia Nga phân tích thẳng sức mạnh quân sự Trung Quốc

(ĐVO) – Trung Quốc và Nga chính thức ký “Hiệp ước về quan hệ láng giềng thân thiện, hữu nghị và hợp tác” năm 2001 sau các thời kỳ “đồng minh” từ cuối những năm 40 và các năm 50,  thời kỳ “chiến tranh lạnh” từ 1960 đến 1976 và thời kỳ cải thiện quan hệ từ 1976 đến 2001.

Từ đó đến nay mối quan hệ kinh tế giữa hai nước phát triển rất mạnh mẽ. Kim ngạch thương mai hai chiều năm 2011 đạt 80 tỷ đô la và con số này có thể lên tới 100 tỷ đô la trong năm 2015. Quan hệ hợp tác kỹ thuật – quân sự cũng có những bước phát triển. 

Chỉ trong các năm từ 1992 đến 2008, Trung Quốc đã mua vũ khí và trang bị kỹ thuật quân sự của Nga trị giá 25 tỷ đô la. Các nhà lãnh đạo Nga như D. Medvedev và Trung Quốc như Hồ Cẩm Đào đều đánh giá là mối quan hệ hai nước hiện nay (năm 2010)  “đang ở mức cao nhất trong lịch sử”.

Ngay sau khi nhậm chức vào đầu tháng 11/2012, chuyến thăm nước ngoài đầu tiên mà tân bộ trưởng quốc phòng Nga  X. Shoigu thực hiện ngay sau khi nhậm chức vào ngày 16/12 là chuyến thăm Trung Quốc với mục đích là tổng kết công tác hợp tác quân sự – kỹ thuật giữa hai nước trong các năm qua và các phương hướng phát triển trong thời gian tới.

Tuy nhiên, không phải mọi người Nga, đặc biệt là các chuyên gia chính trị – quân sự Nga đều có một cái nhìn lạc quan về mối quan hệ hai nước như trong các phát biểu và tuyên bố chính thức của các nhà lãnh đạo hai bên. A.A Khramchilin, Phó giám đốc Viện phân tích chính trị và quân sự Viện Hàn lâm khoa học Nga, một chuyên gia rất uy tín trong lĩnh vực chính trị, quân sự và quan hệ quốc tế là một người như vậy.  

 
Liêu Ninh là tầu sân bay đầu tiên của Trung Quốc

Mới đây ông đã có bài đăng trên báo “Bình luận quân sự độc lập“ với tiêu đề: “Cuộc chiến tranh của Trung Quốc chống LB Nga, chiến thắng sẽ không thuộc về chúng ta (lấy ý trong lời kêu gọi của I.Xtalin  gửi nhân dân Liên Xô khi bắt đầu Chiến tranh vệ quốc vĩ đại). Xin giới thiệu bài viết của A.A. Khramchilin để tham khảo .

Trong cuộc chiến tranh do Trung Quốc phát động chống Nga, chiến thắng không thuộc về chúng ta  

“Vấn đề đặt ra là không phải là Trung Quốc có tấn công Nga hay không, mà sẽ tấn công vào lúc nào. Nếu có một cuộc tấn công xâm lược quy mô lớn theo cách thức “cổ điển” chống lại Nga thì kẻ xâm lược đó với xác xuất 95% (nếu không phải là 99,9%) sẽ là Trung Quốc.”

Tình trạng quá tải dân số trầm trọng cộng với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh của Trung Quốc đã làm cho nước này phải đối mặt với loạt các vấn đề cực kỳ phức tạp,-  những vấn đề đó dù có mô tả một cách ngắn gọn nhất thì phải có một bài báo lớn riêng biệt.

Hơn nữa, sự tác động qua lại giữa các vấn đề đó phức tạp ở chỗ là nếu giải quyết một vấn đề này thì lại làm trầm trọng thêm một vấn đề khác. Về mặt khách quan, Trung Quốc đã không còn đủ sức sống trong các đường biên giới hiện tại của nó.

Nước này hoặc phải có không gian sống lớn hơn rất nhiều, nếu như không muốn trở thành nhỏ đi rất nhiều. Trung Quốc không thể tồn tại như hiện nay nếu không bành trướng để chiếm đoạt các nguồn tài nguyên và lãnh thổ, và đây là một thực tế.

Có thể nhắm mắt làm ngơ trước thực tế đó nhưng khồng thể trốn tránh được nó. Ngoài ra, cũng không nên nghĩ là hướng bành trướng của Trung Quốc sẽ là Đông Nam Á. Khu vực này có tương đối ít lãnh thổ và đã rất đông dân cư địa phương. Hướng ngược lại- nơi có rất nhiều lãnh thổ và hoàn toàn rất ít dân cư – đó chính là Kazakhstan và phần Châu Á của Liên Bang Nga.

Chiến đấu cơ J-20 xuất hiện trên tầu sân bay Liêu Ninh
Chiến đấu cơ J-20 xuất hiện trên tầu sân bay Liêu Ninh

Đây chính là hướng mà Trung Quốc sẽ bành trướng để mở rộng lãnh thổ. Hơn nữa, vùng Ngoại Ural chính khu vực mà Trung quốc lâu nay vẫn coi là lãnh thổ của mình.  Nếu muốn trình bày một cách tóm tắt nhất các học thuyết lịch sử của Trung Quốc về vấn đề này lại đòi hỏi một bài báo lớn nữa.

Tuy nhiên, nói một cách ngắn gọn là nếu có ai đó coi vấn đề biên giới giữa Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và Liên Bang Nga đã được giải quyết dứt điểm và không còn vấn đề gì nữa thì đó chính là những người hoàn toàn không hiểu biết Trung Quốc là gì và người Trung Quốc là những người như thế nào (Hiệp ước phân định biên giới Nga- Trung được ký năm 2001).

Tất nhiên, đối với Trung Quốc thì phương án bành trướng được ưu tiên hơn là bành trướng một cách hòa bình (bằng kinh tế và di dân). Nhưng tuyệt đối không thể loại trừ kịch bản chiến tranh.

Một điều rất đáng chú ý là trong mấy năm gần đây Quân đội Trung Quốc thường xuyên tiến hành các cuộc tập trận quy mô lớn, và những cuộc tập trận như vậy không thể có một cách giải thích nào khác ngoài việc đó là sự chuẩn bị cho các hành động xâm lược Nga, quy mô các cuộc tập trận (cả quy mô không gian và lực lượng được sử dụng) này ngày càng lớn.

Ngoài ra, có lẽ cho đến bây giờ, chúng ta (Nga) không hình dung một cách rõ ràng là đã từ lâu Nga mất ưu thế không những về số lượng mà cả về chất lượng đối với Trung quốc về mặt phương tiện kỹ thuật tác chiến.

Dưới thời Xô Viết chúng ta đã có cả hai ưu thế trên, mà cuộc chiến ở bán đảo Damanski  (trận chiến biên giới giữa Trung Quốc và Liên Xô năm 1966- Trung Quốc thất bại thảm hại dù quân sô đông hơn gấp nhiều lần) đã chứng minh rõ ràng cho ưu thế vượt trội lúc đó.

Ăn cắp công nghệ

Hình ảnh mô tả uy lực kết hợp giữa tầu sân bay Liêu Ninh và J-20 dành cho kẻ địch trên biển.
Hình ảnh mô tả uy lực kết hợp giữa tầu sân bay Liêu Ninh và J-20 dành cho kẻ địch trên biển.

Trung Quốc trong những năm 50 và đầu những năm 60 của thế kỷ trước chỉ sử dụng những gì mà Liên Xô cung cấp. Tuy nhiên, sau khi cải thiện quan hệ với Phương Tây nước này đã có thể tiếp cận với một số mẫu vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự của Mỹ và Châu Âu, và từ cuối những năm 80 bắt đầu mua các loại phương tiện kỹ thuật quân sự hiện đại nhất của Liên Xô và sau đó là Liên Bang Nga , – và cũng nhờ thế mà một số lớp vũ khí trang bị của Trung Quốc đã có bước nhảy “ vượt thế hệ” ( từ thế hệ một lên thế hệ ba). 

Ngoài ra, Trung Quốc còn sở hữu một năng lực không ai bằng là ăn cắp công nghệ. Vào những năm 80 tình báo Trung Quốc đã khai thác được bản vẽ đầu tác chiến mới nhất W-88 của tên lửa đạn đạo Trident -2 mà Mỹ chế tạo cho các tàu ngầm. Còn đối với công nghệ sản xuất các loại vũ khí thông thường thì Trung Quốc đã đánh cắp một khối lượng vô cùng lớn.

Một ví dụ khác, có lẽ ít người biết một cách chắc chắn là liệu Nga chỉ bán cho Cộng hòa nhân dân Trung  Hoa các hệ thống bắn dàn phản lực (RSZO)  “Smerch” hay là bán cả giấy phép sản xuất loại vũ khí này.

Chỉ biết rằng ngay sau đó trong Quân Đội Trung Quốc đã xuất hiện loại  RSZO A-100 cực kỳ giống RSZO “Cmerch”, và tiếp theo là RNL -03- hoàn toàn là một bản copy hoàn toàn của “Smerch”. Các tổ hợp pháo tự hành Type 88 (RLZ-05) rất giống với “ Msta” của  Nga  mặc dù chúng ta không hề bán nó cho Trung Quốc.

Nga cũng chưa  bao giờ cấp giấy phép cho Trung Quốc sản xuất hệ thống tên lửa phòng không S-300, nhưng cũng bó tay chịu  để người Trung Quốc sao chép hoàn toàn phiên bản này dưới tên gọi là HQ-9.

Không chỉ riêng đối với công nghệ  Nga, Trung Quốc cũng đã đánh cắp được công nghệ chế tạo tổ hợp tên lửa phòng không “Crotal”, tên lửa chống tàu “Exzoset”, tổ hợp tên lửa trên tàu M-68 và v.v của người Pháp.

Cùng với việc tổng hợp công nghệ nước ngoài, bổ sung thêm một chút gì đấy của riêng mình, công nghiệp quốc phòng Trung Quốc bắt đầu chế tạo các mẫu hoàn toàn nội địa: các tổ hợp pháo- tên lửa phòng không Type 95 (PGZ-04), pháo tự hành PLL-05 và PLL-02, xe chiến đấu bộ binh bọc thép ZBD-05 và v.v.

Chế tạo tại  Trung Quốc  

Nhìn chung, như đã nói ở trên, trên thực tế đối với tất cả các loại vũ khí thông thường thì ưu thế chất lượng của Nga đã thuộc về quá khứ. Đối với một số loại Trung Quốc đã vượt chúng ta- ví dụ như máy bay không người lái và vũ khí bộ binh.

Người Trung quốc dần dần thay “Kalashnhikov” (AK-47) bằng súng trường mới nhất theo sơ đồ “Bullpap” chế tạo theo mẫu của AK và của các loại súng tiểu liên Phương Tây (như FAMAS, L85). Có một số chuyên gia  (Nga) cho rằng Trung Quốc đang trong giai đoạn phụ thuộc về công nghệ đối với Nga vì Nga  là đối tác chính cung cấp vũ khí (thành thử Trung Quốc sẽ không thể tấn công Nga), nhưng những suy nghĩ như vậy là hết sức ngây thơ.

Trung Quốc chỉ mua những loại vũ khí của Nga mà họ cần cho các chiến dịch tấn công Đài Loan và Mỹ (cho đến lúc mà Trung Quốc vẫn còn có ý định nghiêm túc là chiếm Đài Loan). Và cũng rất rõ ràng là cuộc chiến tranh trên biển giữa Trung Quốc và Nga là không thể xảy ra vì không có một bên nào cho rằng đấy là cần thiết. Cuộc chiến tranh  Trung – Nga trong tương lai sẽ chỉ xảy ra trên bộ.

Để làm rõ hơn vấn đề này chỉ cần chú ý đến một chi tiết là Trung Quốc không hề mua của Nga bất kỳ loại trang bị kỹ thuật nào dùng cho Lục quân, bởi vì trong chiến tranh với Nga Trung Quốc sẽ sử dụng chính lực lượng này.

Ngay cả đối với không quân, Trung Quốc cũng không còn phụ thuộc vào Nga. Nước này đã mua một khối lượng hạn chế các máy bay tiêm kích Su-27- tất cả chỉ có 76 chiếc, trong số đó có tới 40 chiếc Su-27 UB (máy bay tác chiến- huấn luyện).

Với một tỷ lệ đáng ngạc nhiên giữa số lượng máy bay chiến đấu và máy bay huấn luyện như vậy (36/40)  không khó để nhận thấy rằng Su- 27 do Nga sản xuất mà Trung Quốc mua chỉ được sử dụng cho một mục đích là huấn luyện phi công.

Sau đó, như mọi người đã biết Trung Quốc từ chối không sản xuất theo giấy phép Su-27 bằng các chi tiết đồng bộ của Nga nữa, họ chỉ sản xuất 105 máy bay trong tổng sô 200 chiếc theo hợp đồng. 

Đồng thời, Trung Quốc bắt đầu sao chép mẫu máy bay này và sản xuất không giấy phép máy bay nhân bản từ Su-27 dưới tên gọi J-11B với động cơ, vũ khí và trang bị hàng không của mình. Hơn nữa, nếu như vào đầu những năm 60 các bản sao vũ khí Liên Xô của Trung Quốc còn vụng về  thì đối với  J-11B, – căn cứ vào các số liệu thu thập được- nó hầu như không thua kém chút nào so với Su-27.

Có thể rút ra một kết luận là, trong thời gian gần đây hợp tác kỹ thuật – quân sự Nga- Trung bị ngưng trệ. Một phần có thể giải thích là do các tổ hợp công nghiệp quồc phòng Nga đang trong giai đoạn trì trệ và không thể rao bán cho Trung Quốc những cái mà họ cần, một lý do khác và có lẽ đây là lý do quan trọng hơn là Trung Quốc đang nghiêm túc chuẩn bị tiến hành các hoạt động tác chiến chống lại Liên Bang Nga trong tương lai gần.

Vì J-11B có các tính năng kỹ – chiến thuật coi như là tương đương với Su-27 và J-10 của Trung Quốc (được chế tạo dựa theo mẫu máy bay “Lavi” của Ixrael nhưng sử dụng công nghệ Nga và công nghệ của chính Trung Quốc) hoàn toàn ngang ngửa với Mig-29 cho nên Nga hoàn toàn không có một chút ưu thế chất lượng nào trong các cuộc không chiến.

Còn ưu thế về số lượng thì rõ ràng đã thuộc về phía Trung Quốc, đặc biệt là nếu tính tới sự yếu kém của hệ thống phòng không Nga (nhất là ở khu vực Viễn Đông). Về Su-30 thì ưu thế về số lượng của Trung Quốc là áp đảo: Trung Quốc có 120 trong khi Nga chỉ có 4 chiếc (ở khu vực Viễn Đông-ND).

Nhược điểm chủ yếu của phía Trung Quốc – không có máy bay cường kích và máy bay lên thẳng tấn công, nhưng đấy cũng không phải là thảm họa đối với nước này, bởi vì trên mặt đất tình hình của phía Nga còn tệ hơn nhiều.

Hiệu ứng số đông

Các xe tăng tốt nhất của Trung Quốc – Type 96 và Type 99 ( cũng là Type 98G) – hầu như không thua kém chút nào so với các xe tăng của chúng ta( Nga) như – T-72B, T- 80U và  T-90.

Quả thật, các loại tăng trên của cả hai bên là “anh em họ hàng gần”, chính vì thế mà các tính năng kỹ- chiến thuật của chúng là tương đương nhau. Trong bối cảnh đó giới lãnh đạo Bộ quốc phòng Nga thời gian gần đây lại có những tính toán gần như giải tán Binh chủng tăng – thiết giáp với quyết định chỉ giữ lại trong Quân đội Nga 2000 chiếc (dưới thời bộ trưởng A. Serdiukov- mới bị cách chức 06/11/2012-ND).

Hiện nay số lượng tăng hiện đại của Trung Quốc cũng vào khoảng từng ấy chiếc. Còn những chiếc xe tăng cũ theo mẫu của T-54 (loại Type 59 đến Type 80) thì có số lượng lớn hơn nhiều (không dưới 6000 chiếc).

Những chiếc tăng này có thể sử dụng rất hiệu quả chống lại các xe chiến đấu bộ binh và xe bọc thép chở quân cũng như để tạo ra “hiệu ứng số đông“. Hoàn toàn rất có thể là Bộ tổng tư lệnh Quân giải phóng nhân dân Trung Hoa sẽ sử dụng chính những chiếc xe tăng tương đối cũ này để tiến hành đòn tấn công đầu tiên.

Chúng dù sao chăng nữa cũng sẽ gây cho Nga ít nhiều thiệt hại, nhưng điều quan trọng hơn- thu hút về phía mình hỏa lực chống tăng của ta (Nga), và sau đó Trung Quốc sẽ sử dụng các xe tăng hiện đại hơn tấn công tuyến phòng thủ lúc này đã bị tiêu hao và  yếu đi của Nga.

Cũng tương tự như vậy, trên không các máy bay tiêm kích kiểu cũ như J-7 và J-8 cũng sẽ tạo ra “hiệu ứng đám đông” theo đúng kịch bản trên.

Như vậy có nghĩa là trong tương quan so sánh các mẫu vũ khí hiện đại thì Nga và Trung Quốc là tương đương nhau (cả về cả chất lượng và số lượng) và đang ngày càng lệch cán cân về phía Trung Quốc.

Trong khi đó, Quân đội Trung Quốc có một khối lượng lớn các “bức rèm” làm từ các mẫu vũ khí – trang bị kỹ thuật cũ nhưng còn rất hiệu quả, hoàn toàn có thể sử dụng như là vật tư “tiêu hao” để làm cạn kiệt khả năng phòng ngự của Quân đội Nga.

Trong điều kiện hiện nay khi mà Trung Quốc đang phải đối mặt với một vấn đề nan giải là “thiếu hụt cô dâu” thì việc mất một vài trăm nghìn các chiến binh nam giới trẻ đối với giới lãnh đạo Trung Quốc không những không phải là một vấn đề mà có khi lại là một “phúc lợi”. Cũng tương tự như vậy đối với việc “thanh lý” trong chiến tranh vài nghìn đơn vị phương tiện tăng thiết giáp đã lạc hậu.

Hiện nay chỉ cần 2 trong số 7 quân khu của Quân đội Trung Quốc- Quân khu Bắc Kinh và Quân  khu  Lan Châu (đây là 02 quân khu mạnh nhất của Trung Quốc, có tới 4/9 sư đoàn tăng, 6/9 sư đoàn bộ binh cơ giới, 6/12 lữ đoàn tăng của toàn bộ Lục quân Trung Quốc) – bố trí gần biên giới với nước Nga, là đã đủ mạnh hơn toàn bộ Lực lượng vũ trang Nga (từ Kaliningrad đến Camchatka).

Và trên chiến trường tiềm năng (Ngoại Baikal và Viễn Đông) thì sức mạnh của hai bên là không tương đương một chút nào. Trung Quốc có ưu thế hơn Nga không phải vài lần mà là hàng chục lần.

Hơn nữa, việc chuyển quân từ phía Tây sang phía đông khi có chiến tranh thực sự xảy ra trên thực tế là không thể thực hiện được vì lính biệt kích Trung Quốc chắc chắn sẽ chia cắt được ngay tuyến vận tải xuyên Xibiri trên nhiều địa điểm dọc tuyến, trong khi các tuyến vận tải khác nối với phía đông chúng ta không có  (tuyến đường hàng không chỉ có thể vận tải được người chứ không vận tải được các phương tiện kỹ thuật hạng nặng).

Các xe tăng của đối phương nhanh hơn

Không những thế, về mặt huấn luyện kỹ năng tác chiến, đặc biệt là tại các đơn vị và binh đoàn được trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại thì Quân đội Trung Quốc đã vượt Quân đội Nga từ lâu.

Ví dụ, tại Tập đoàn quân xe tăng sô 38 của Quân khu Bắc Kinh, tất cả pháo binh đã được tự động hóa, nó tuy kém Mỹ về độ chính xác khi bắn nhưng đã vượt Nga. Tốc độ tấn công của Tập đoàn quân xe tăng sô 38 đạt tới 1.000 km/ tuần (tức 150 km/ ngày đêm).

Như vậy, trong một cuộc chiến tranh thông thường, Nga không hề có một cơ hội nào. Tuy rất đáng tiếc nhưng vũ khí hạt nhân cũng không phải là cứu cánh của Nga vì Trung Quốc cũng có vũ khí hạt nhân. Quả thực là Nga đang có ưu thế về lực lượng hạt nhân chiến lược nhưng ưu thế này cũng đang nhanh chóng giảm dần.

Không những thế, chúng ta không có tên lửa đạn đạo tầm trung là loại vũ khí mà Trung Quốc đang sở hữu và điều đó đã là quá đủ để bù lại sự tụt hậu của Trung Quốc trong lĩnh vực chế tạo các tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (sự tụt hậu này cũng đang giảm dần).

Các số liệu xác thực về tương quan vũ khí hạt nhân chiến thuật (giữa Trung Quốc và Nga) hiện không rõ, nhưng chỉ cần nhớ một điều là chúng ta (Nga) buộc phải sử dụng loại vũ khí này ngay trên lãnh thổ của mình.

Còn nếu hai bên sử dụng vũ khí hạt nhân chiến lược để tấn công lẫn nhau thì tiềm lực hạt nhân của Trung Quốc đủ để tiêu diệt các thành phố chủ yếu ở phần Châu Âu của nước Nga mà Trung Quốc không cần đến (vì có quá nhiều dân và quá ít tài nguyên).

Rất có thể là  phía Nga cũng hiểu điều đó nên sẽ không sử dụng vũ khí hạt nhân trước. Chính vì vậy mà việc kiềm chế hạt nhân đối với Trung Quốc – cũng là chuyện hoang đường không kém gì việc cho rằng Trung Quốc phụ thuộc vào công nghệ Nga. Tốt nhất là hãy học tiếng Tàu đi.  

(Đây là quan điểm riêng của tác giả và cũng thể hiện quan điểm của một bộ phận lớn giới phân tích chính trị- quân sự Nga và rất đáng để tham khảo).     
 

Lê Hùng

Vì sao Cổ Loa là công trình quân sự vĩ đại trong sử Việt? – Kiến thức

9 Th1

 

 
 

Vì sao Cổ Loa là công trình quân sự vĩ đại trong sử Việt?

 
 

 

Cấu trúc độc đáo của Loa Thành

Hiện tại, trên bản đồ hành chính, khu thành cũ của An Dương Vương nay thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, ngoại thành phía Bắc Hà Nội. Cổ Loa nằm giữa một vùng sông ngòi chằng chịt, phía Bắc có sông Cà Lồ, phía Nam có sông Đuống, còn sông Hoàng Giang (xưa là một chi lưu của sông Hồng) len lỏi quanh chân thành.
Thời Hùng Vương, Cổ Loa là đất thuộc bộ lạc Tây Vu. Sau khi An Dương lên trị vì nước Âu Lạc, Cổ Loa trở thành kinh đô của Nhà nước Âu Lạc.
Công trình phòng thủ vĩ đại, đồng thời cũng là kinh đô của Nhà nước Âu Lạc được xây dựng trên vùng đất Cổ Loa, không chỉ tồn tại trong niềm tự hào của nhân dân Cổ Loa, trong truyền thuyết mà còn được ghi lại trong rất nhiều bộ sử của cả hai nước Việt Nam và Trung Quốc như Hậu Hán thư, Nam Việt chí, Thủy kinh chú, Tùy thư, An Nam chí lược, Việt kiệu thư, An Nam chí nguyên. Ở Việt Nam, các bộ sách Đại Việt sử lược, Đại Việt sử ký toàn thư, Lĩnh Nam chích quái, Dư địa chí, Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí... đều nói tới tòa thành do An Dương Vương xây dựng ở Cổ Loa.
Theo truyền thuyết cũng như các thư tịch cổ mô tả, “thành cổ (Cổ Loa) rộng hơn ngàn trượng, xoắn như hình trôn ốc, cho nên gọi là Loa Thành. Thư tịch cổ Trung Hoa chép, thành Cổ Loa có 9 vòng, hình con ốc. Nhưng hiện tại, cấu trúc của thành Cổ Loa chỉ còn ba vòng: thành Nội, thành Trung và thành Ngoại theo cách gọi của người Cổ Loa.

 Dấu tích thành Cổ Loa xưa. (Ảnh tư liệu).

Các vòng tường thành Cổ Loa có các cửa khác nhau. Thành Nội chỉ mở một cửa quay về hướng nam, trông ra đình Cổ Loa. Thành Trung mở bốn cửa: cửa Nam, cửa Bắc, cửa Tây Bắc và cửa Tây Nam. Mỗi cửa có một miếu xây trên mặt tường thành-thờ quan coi cổng thành. Riêng cửa Nam, nơi hai vòng thành gặp nhau và có lẽ cũng là cửa chính được xây hai miếu ở hai bên. Thành Ngoại tuy dài và rộng nhưng cũng chỉ mở ba cửa: cửa Nam, cửa Bắc và cửa Tây Nam.

Ngoài tám cửa thành trên, còn có hai cửa ra bằng đường thủy gọi là “cửa nước”. Cửa thứ nhất mở ra hướng đông, nơi nối các dòng chảy trong thành qua cống Cửa Song ra sông Hoàng. Cửa thứ hai dưới chân gò Cột Cờ.
Rải rác trong thành còn có một số địa danh khác có liên quan tới chức năng quân sự của thành như: dọc Đống Bắn-tương truyền là nơi luyện cung nỏ của quân đội, Ngự Xạ Đài-nơi An Dương Vương ngồi xem quân lính tập bắn cung nỏ, Vườn Thuyền-là nơi thuyền bè neo đậu chuẩn bị tập luyện thủy chiến, gò Cột Cờ là nơi treo lá cờ đại của Nhà nước Âu Lạc…
Dưới chân các lũy thành đều có hào nước để ngăn cản quân địch, đồng thời là đường giao thông thủy quan trọng nối liền các khu vực trong thành và cũng là con đường thoát ra khỏi thành khi có nguy hiểm. Có thể coi hệ thống thành hào của thành Cổ Loa như những chi lưu của sông Hoàng. Vào mùa nước, khi mực nước sông Hoàng dâng cao, các lòng hào đều đầy ắp nước. Với chiều rộng từ 20-30m, thuyền bè từ sông Hoàng có thể vào, ra thành một cách dễ dàng.
Rải rác trên các cánh đồng quanh thành Cổ Loa có khá nhiều lũy và gò đống. Những lũy đất và gò đống ấy là bộ phận không thể thiếu được trong cấu trúc phòng vệ của thành Cổ Loa.
Công trình quân sự kiên cố và độc đáo
Không chỉ vĩ đại về mặt quy mô, Loa Thành còn thể hiện tri thức quân sự hết sức độc đáo của cha ông ta buổi đầu dựng nước và giữ nước.
Cuốn Lịch sử kỹ thuật quân sự Việt Nam có ghi lại, Cổ Loa là một công trình phòng vệ kiên cố trong điều kiện chưa có hỏa khí bắn xa. Nếu như kẻ địch tấn công từ bên ngoài vào, chúng sẽ gặp phải đòn đánh phủ đầu từ những lũy tiền vệ bên ngoài. Qua lũy tiền vệ này, để tiến vào tới đường thành còn phải vượt qua một khoảng trống lớn. Với tầm bắn của cung nỏ cứng, quân đứng trên tường thành Ngoại có thể ngăn chặn được bước tiến của kẻ thù. Một khi vượt qua được khoảng trống đó, trước mặt kẻ tấn công là hệ thống ngoại hào rộng từ 20-30m. Không thể dễ dàng vượt qua được hào nước này, một khi quân trên mặt tường thành bắn xuống, thủy quân với những thuyền nhỏ phục sẵn sẽ lao ra sẵn sàng phối hợp tác chiến.
Nếu vượt qua được ngoại hào thì trước mặt chúng là tường thành Ngoại kiên cố, cao từ 8-10m. Vượt qua được thành Ngoại để vào được nơi vua và hoàng tộc ở, kẻ địch còn phải vượt qua hai lớp hào và thành nữa. Đó là chưa kể đến những trận địa được bố trí ở giữa hai lớp thành.
Không chỉ là một căn cứ bộ binh hiểm yếu, Cổ Loa còn là một căn cứ thủy quân lợi hại. Sông Hoàng-ngoại hào thiên nhiên của Cổ Loa, đầu trên nối với sông Hồng, đoạn dưới nối với sông Cầu, qua cửa Lục Đầu ở Phả Lại, có thể đi thẳng ra biển. Nước của hai con sông lớn nhất trên châu thổ đã qua sông Hoàng, đổ vào hệ thống rồi chảy ra Đầm Cả mênh mông ở góc đông bắc thành. Diện tích mặt đầm có thể chứa hàng trăm thuyền bè. Với một hệ thống đường thủy được thiết kế tài tình như vậy, thuyền chiến có thể đi lại khắp nơi trong thành và khi cần, những đạo quân trong thành có thể dễ dàng ra khỏi thành bằng tiếp cứu cho thành nếu bị vây hãm.
 Cổ Loa là một công trình phòng vệ kiên cố.

Một trong những sáng tạo tuyệt vời khác người của thiết kế thành là, tác giả đã biết tận dụng triệt để các gò đất cao tự nhiên đắp nối liền chúng lại với nhau tạo nên những vòng thành khép kín, nhờ vậy đã tiết kiệm được rất nhiều sức lao động của con người và tiền của. Cũng chính vì vậy, mà thành Trung và thành Ngoại uốn lượn tự do không có hình dáng cân xứng và chặt chẽ. Yêu cầu về cái đẹp đã bị đẩy xuống hàng thứ yếu, mối quan tâm hàng đầu là tính chất kiên cố của một công trình quân sự.

Kho tàng truyền thuyết về Cổ Loa cho thấy công cuộc xây dựng thành vô cùng gian khó. Nguyên nhân là do thành xây trên vùng đất nhiều ao hồ lầy thụt và thời điểm đó những cuộc xung đột bộ lạc vẫn chưa chấm dứt. Tuy vậy, nhờ kinh nghiệm và sức mạnh của các bộ lạc vùng thấp, An Dương Vương đã chinh phục được các lực lượng chống đối và áp dụng kinh nghiệm chống lầy thụt của họ mới có thể thành công trong việc xây thành.
Kỹ thuật xây thành theo khảo sát, nghiên cứu của các nhà khảo cổ là: đầu tiên rải một lớp đá tảng hoặc cuội sỏi trên nền đất lầy thụt, bên trên lớp đá này là một lớp gốm cứng sau đó dùng đất sét có pha đất đồi feralitic đắp thành tường thành. Với kỹ thuật chống lầy lún như vậy, những bức tường thành đồ sộ của Cổ Loa đã đứng vững gần 2.000 năm qua.
Kỹ thuật xây dựng này còn được áp dụng cho một số lũy đất bên ngoài thành. Sự có mặt của kỹ thuật rải gốm dưới chân các lũy khẳng định nó được đắp cùng thời với các tường thành. Có thể nói, đây là một thành tựu kỹ thuật đặc biệt nhất trong xây dựng thành quách quân sự trong lịch sử dân tộc ta.
Với kiến trúc độc đáo và kỹ thuật xây dựng thành quách đặc biệt, Cổ Loa xứng đáng là một công trình quân sự đồ sộ, một kỳ công lao động, một sự hội tụ tài trí và thể hiện lòng yêu nước thiết tha của dân tộc trong buổi đầu dựng nước và giữ nước.

TIN BÀI LIÊN QUAN:

BÀI ĐANG ĐỌC NHIỀU:

“Xung đột quân sự Trung-Nhật là điều không thể tránh” – DT

2 Th1

“Xung đột quân sự Trung-Nhật là điều không thể tránh”

(Dân trí) – Một cơ quan phân tích của chính phủ Trung Quốc dự đoán xung đột quân sự giữa Trung Quốc và Nhật Bản là điều không thể tránh khỏi, một phần là do sự can dự của Mỹ vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

 
Cơ quan phân tích của Trung Quốc cho rằng nếu xung đột quân sự Nhật-Trung xảy ra, một phần là do “trục xoay” của Mỹ. 

 

Với Trung Quốc nổi lên là một cường quốc kinh tế dẫn đầu châu Á, một cơ quan phân tích của chính phủ Trung Quốc cho rằng xung đột của nước này với Nhật trên quần đảo Senkaku/Điếu Ngư là điều không thể tránh vào thời điểm khi mối quan hệ song phương đang thay đổi, cũng vì lý do tranh chấp biển đảo.

 

Trong báo cáo hàng năm mang tên “Báo cáo về phát triển khu vực châu Á-Thái Bình Dương”, Học viện Khoa học xã hội Trung Quốc (CASS) cũng cho biết mối quan hệ giữa hai nước sẽ bước vào một giai đoạn sóng gió lớn.

 

Một mặt cho rằng cuộc xung đột Senkaku/Điếu Ngư có thể kéo dài, Trung Quốc hiện đang theo dõi sát động thái của chính phủ mới của Nhật, do Thủ tướng Shinzo Abe lãnh đạo.

 

Báo cáo cũng chỉ rõ sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc đang gây ra những lo ngại cho các nước láng giềng, buộc họ phải có những biện pháp đề phòng và khiến họ chấp nhận “điều chỉnh lại” cán cân quyền lực.

 

Với vấn đề Senkaku/Điếu Ngư, báo cáo cho rằng các nhóm cánh hữu của Nhật, nhóm đã củng cố được sức mạnh trong suốt 2 thập niên kinh tế chậm chạp của nước này, coi chính sách chuyển hướng sang châu Á của Mỹ là cơ hội tốt nhất để quốc hữu hóa quần đảo. Hồi tháng 9 vừa qua, Nhật đã mua 3 trong số 5 hòn đảo thuộc Senkaku/Điếu Ngư từ một người chủ tư nhân.

 

“Việc Nhật quốc hữu hóa Điếu Ngư đã phá hủy khung duy trì cân bằng, khung ngăn chặn một cuộc xung đột”, một nguồn tin ngoại giao Trung Quốc cho biết.

 

Báo cáo gần đây của CSIC cũng cho rằng sự can dự mạnh mẽ của Mỹ vào khu vực từ lâu đã được dự đoán là sẽ có những hậu quả xấu, như sẽ ủng hộ cho các chính trị gia dân tộc chủ nghĩa cứng rắn ở cả hai bên. “Dấu hiệu phản ứng có thể cứng rắn đã được thấy”, báo cáo CSIS cho biết. “Trục xoay sang châu Á của Mỹ đã châm ngòi cho tâm lý chống Mỹ ở Trung Quốc, từ đó sẽ gia tăng áp lực lên các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải đứng lên trước Mỹ. Những tiếng nói dân tộc chủ nghĩa đang kêu gọi biện pháp đối phó quân sự trước sự củng cố quân sự của Mỹ ở khu vực và những chiến lược quân sự mới của Mỹ”.

 

CSIC cũng cáo buộc vai trò của Mỹ trong cuộc tranh chấp Senkaku/Điếu Ngư và các cuộc tranh chấp lãnh thổ khác ở châu Á không phải là trung lập mà là Mỹ đang theo đuổi một lập trường hiếu chiến bằng cách mở rộng sự hiện diện quân sự trong khu vực cùng tăng cường hợp tác với các nước đang có tranh chấp với Trung Quốc, nhằm ngăn chặn sự “vươn lên của Trung Quốc với tư cách cường quốc thế giới”.

 

Một nhà ngoại giao kỳ cựu của Trung Quốc hồi tháng 10 vừa qua đã cảnh báo Mỹ đang dùng Nhật làm công cụ chiến lược trong kế hoạch tăng cường quân sự của mình ở châu Á Thái Bình Dương, nhằm “kiềm tỏa” Trung Quốc và đang làm tăng cao căng thẳng Trung-Nhật. Ông Chen Jia, người từng giữ vị trí là Đại sứ Trung Quốc tại Nhật Bản, trợ lý Tổng thư ký Liên hợp quốc, cáo buộc Mỹ đang khuyến khích Nhật Bản đáp trả bằng quân sự. “Mỹ đang kêu gọi Nhật Bản đóng một vai trò lớn hơn trong khu vực về lĩnh vực an ninh chứ không chỉ là lĩnh vực kinh tế như hiện nay”, ông cho hay. Cụ thể, có hai yếu tố chính củng cố cho điều này. Thứ nhất Washington đã tái cam kết trách nhiệm của họ đối với hiệp ước bảo vệ quân sự chung với Nhật, khẳng định sẽ can thiệp quân sự trong trường hợp xảy ra xung đột. Thứ hai, Washington coi Trung Quốc là một cường quốc đang lên và đang gia tăng ảnh hưởng trong khu vực và sẽ “chiếm” vị trí thống trị của họ trên thế giới.

 

Theo giới phân tích, các nhà kỹ trị ở Washington thích gọi tất cả những điều trên là “duy trì ổn định”. Tuy nhiên, thực tế nhiều khi hoàn toàn khác so với từ ngữ được dùng. Và một điều chắc chắn là Washington sẽ không định để quyền lực của mình bị suy yếu.

 

Vũ Quý

Theo Antiwar

 
 
%d bloggers like this: