Tag Archives: Tập Cận Bình

Tập Cận Bình phát điên vì Donald Trump

13 Th12
Dân Làm Báo VNThích Trang

Tập Cận Bình phát điên vì Donald Trump

Ts Nguyễn Ngọc Sẵng (#Danlambao) – Trong cuộc du hành để cám ơn một số tiểu bang Mỹ, hôm 9 tháng 12 năm 2016, Tổng Thống tân cử Donald Trump tuyên bố tại Michigan rằng “Mỹ không nhất thiết phải đi theo chính sách Một nước Trung Hoa”. Ông thắc mắc rằng Mỹ có nhất thiết phải đi theo lập trường từ trước là Đài Loan chỉ là một bộ phận của Trung Quốc.

Trong cuộc phỏng vấn ngày Chủ Nhật 11 tháng 12 dành cho đài truyền hình Fox, Ông Trump tuyên bố rằng “ông hiểu chính sách Một nước Trung Hoa, nhưng ông không hiểu tại sao Mỹ phải theo chính sách đó, trừ khi Mỹ có cuộc thương lượng với Trung cộng về nhiều việc khác, trong đó có vấn đề mậu dịch.”

Ông Trump cũng đã lên án nhiều chính sách của Tàu cộng, trong đó có chính sách tiền tệ, vấn đề biển Đông, Bắc Triều Tiên. Ông nói Bắc Kinh không can dự gì vào việc ông điện đàm với Tổng Thống Đài Loan cả.

Ông tiếp “tôi không muốn Trung cộng ra lệnh tôi và đây là cuộc điện đàm của tôi. Đó là cuộc nói chuyện rất lịch sự, ngắn ngủi. Tại sao nước khác lại có thể nói tôi không thể làm việc nầy? Tôi nghĩ rằng việc nầy thực sự không tôn trọng (người khác), và đừng nên làm thế.” Nhà báo Caren Bohan tường thuật.

Ông nhận cuộc điện đàm chúc mừng từ bà Tổng Thống Đài Loan, Thái Anh Văn, đó là cuộc điện đàm đầu tiên trong cương vị Tổng Thống tân cử, kể từ sau việc Tổng Thống Carter thừa nhận Đài Loan là bộ phận của một Trung Quốc từ 1979.

Ban đầu chính Ngoại trưởng Trung cộng Vương Nghị không thấy cuộc điện đàm này là một xúc phạm và coi đó là sự xã giao, không ảnh hưởng đến sự bang giao bấy lâu nay dựa trên chính sách Một nước Trung Hoa. Nhưng theo tiết lộ mới nhất từ những nhân vật thân cận với Trump thì đây là sự sắp xếp của những người vận động hành lang của Đài Loan, thông qua tổ hợp luật sư của cựu Thượng Nghị Sĩ Bob Dole có văn phòng ở Đài Loan sắp đặt nhiều tháng nay. Như vậy, cuộc điện đàm được sắp xếp, cân nhắc kỹ lưỡng, cả người gọi và người nhận đều theo thuyết âm mưu riêng của họ.

Trong tuần qua tờ Nhân Dân Nhật Báo của Trung cộng trên trang đầu có bài bình luận gay gắt rằng “gây khó khăn cho mối quan hệ Trung-Mỹ sẽ tự tạo sự khó khăn cho chính chính phủ Trump”, đồng thời cũng “làm giảm thiểu cơ hội để Mỹ đạt mục tiêu trở thành vĩ đại” như Trump tuyên bố trong cuộc vận động bầu cử.

Nhà báo Trọng Nghĩa viết: “Bài báo của thông tín viên Le Monde tại Bắc Kinh, Brice Pedroletti, trước hết ghi nhận “gáo nước lạnh” mà ông Donald Trump vừa đổ lên đầu Trung Quốc với hai hành động: Cuộc điện đàm với tổng thống Đài Loan ngày 02/12/2016, và sau đó là tin nhắn trên mạng Twitter cực lực đả kích Trung Quốc và nhất là đã nhắc đến việc Trung Quốc hoành hành tại Biển Đông.”

“Theo Le Monde, Bắc Kinh bắt đầu nhận ra rằng quả thực ông Trump rất bị ảnh hưởng của các học giả hay chính khách trong đảng Cộng Hòa rất có ác cảm với sự vươn lên của Trung Quốc. Một ví dụ được tờ báo Pháp nêu bật là ông Peter Navarro, cố vấn cho ông Trump về các vấn đề thương mại trong chiến dịch vận động tranh cử.

Nhân vật này là tác giả một quyển sách đả kích gay gắt chủ nghĩa quân phiệt Trung Quốc, xuất bản năm 2015 dưới tựa đề “Ngọa hổ: Chủ nghĩa quân phiệt Trung Quốc có ý nghĩa ra sao đối với thế giới – Crouching Tiger: What China’s Militarism Means for the World)”. Trong một bài biên khảo trên chuyên san The National Interest tháng Bảy vừa qua với tựa đề “Hoa Kỳ không thể bỏ rơi Đài Loan”, ông Navarro viết: “Trước các hành vi xâm lược của Trung Quốc ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, đã đến lúc Hoa Kỳ phải dấn thân mạnh hơn nữa vào việc hiện đại hóa khả năng phòng thủ của Đài Loan”. (Trọng Nghĩa).

Ông Trump chú ý đến mối bang giao với cường quốc thứ 2 của thế giới, Trung cộng. Trong một tuyên bố ngày 8 tháng 12 tại Des Moines, Iowa rằng “Hoa Kỳ cần và phải cải thiện mối bang giao với Trung cộng” nhất là chính sách kinh tế mà ông cho rằng Trung cộng chưa có một nền kinh tế thị trường tự do đích thực và không kiềm chế được Bắc Hàn.

Trong chuyến đi để cám ơn những tiểu bang quan trọng, nhưng không thuộc bên nào, giúp ông thắng cử, ông Trump liên tục kết án Trung cộng về việc ăn cắp tài sản trí tuệ (intellectual property theft), đánh thuế không công bằng với những công ty Mỹ ở Tàu, làm ngơ trước mối đe dọa từ Bắc Hàn, cố ý làm giảm giá trị đồng Quan, tung hàng thừa mứa giá rẻ mạt ra nước ngoài.

Bộ Ngân Khố Hoa Kỳ, Quỹ Tiền Tệ Thế Giới kết án Trung cộng lạm dụng trong việc điều hành tiền tệ. Tổ chức Thương Mại Quốc Tế cho biết Trung cộng áp đặt thuế xuất cao với những món hàng nhập khẩu từ Mỹ để chận bớt hàng Mỹ và để tiêu thụ hàng nội địa, trong khi đó Mỹ không đánh thuế hàng Trung cộng.

Trong khi vận động tranh cử, ông Trump nhiều lần lập đi, lập lại là “tiêu thụ hàng hóa Mỹ, thuê mướn nhân công Mỹ, áp lực công ty Mỹ không chuyển công việc ra nước ngoài, ưu tiên cho quyền lợi nước Mỹ” và sẽ đánh thuế 35 phần trăm cho những hàng hóa do công ty Mỹ sản xuất ở nước ngoài và mang ngược trở về Mỹ bán. Nếu thực hiện những lời hứa nầy, thì hàng hóa sản xuất từ Tàu, công nhân Tàu trong những xí nghiệp của Mỹ chắc chắn bị ảnh hưởng không nhỏ. Tập “bức xúc” việc này không ít.

Tờ Le Monde ngày 8 tháng 12 có bài “Trung Quốc báo động trước ý định của Donald Trump”, bài báo nêu bật sự kiện tổng thống Mỹ vừa đắc cử đã khiến Bắc Kinh hết sức bực bội khi chỉ trích việc Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông.(Trọng Nghĩa).

Từ một số tín hiệu đáng ngại trên, tờ Hoàn Cầu Thời Báo ngày 06/12, ông Thời Ân Hoằng (Shi Yin Hong) giám đốc Trung Tâm Nghiên Cứu Mỹ tại Đại Học Nhân Dân Bắc Kinh đã kêu gọi: “Hành động của ông Trump đã nhắc nhở giới truyền thông, giới nghiên cứu và người dân chúng ta là có lẽ chúng ta đã có cái nhìn quá tích cực về chính sách Trung Quốc trong tương lai của ông Trump”.(Trọng Nghĩa).

Với những tuyên bố về chính sách Hoa Kỳ trong lúc vận động tranh cử làm cho nhiều người không biết ông Trump sẽ làm gì sau khi chính thức nhận quyền lực Tổng Thống, họ biết rằng đó không phải là những tuyên bố ngẫu hứng, bốc đồng mà là chính sách tương lai của Tổng Thống Trump. Vì vậy tháng rồi Tập Cận Bình mướn một nhà ngoại giao 94 tuổi của Mỹ, Henry Kissinger, sang để giải thích về chính sách bang giao tương lai của Hoa Kỳ mà Tập Cận Bình và cả Bộ Chính trị của Trung cộng không thể giải mã nổi.

Làm được những gì? Làm như thế nào? Chúng ta có bốn năm nữa để có câu trả lời chính xác.

Để kết thúc, tôi xin mượn lời của vị Tổng Thống thứ 40 của Hoa Kỳ, Ronald Regan tuyên bố, trong bang giao quốc tế “phải có sức mạnh mới có người bạn trung thành”. Phải chăng ông Trump đang áp dụng quan niệm nầy trong khi lãnh đạo nước Mỹ?

13.12.2016

Ts Nguyễn Ngọc Sẵng
danlambaovn.blogspot.com
Nguồn: http://danlambaovn.blogspot.com/…/tap-can-binh-phat-ien-vi-…

 

TQ “nóng máu” vì ông Tập bị bà Hillary Clinton “mắng thẳng” – BS

29 Th9

Posted by adminbasam on 29/09/2015

Soha News/ TTT

28-9-2015

H1

Trung Quốc đã phản ứng sau khi bà Hillary Clinton chỉ trích việc Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chủ trì một hội nghị về quyền phụ nữ tại LHQ là hành động “không biết xấu hổ”.

Tối 27/9 (giờ địa phương), Hội nghị Lãnh đạo toàn cầu về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ đã được tổ chức do Tổng Thư ký LHQ Ban Ki Moon và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình chủ trì.

Theo trang Phượng Hoàng (Trung Quốc), ứng cử viên Tổng thống Mỹ, cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton đã chỉ trích việc ông Tập tham gia chủ trì một hội nghị của LHQ về vấn đề quyền phụ nữ là “không biết xấu hổ”.

Những lời phê bình trên được bà Hillary đăng tải trên tài khoản Twitter của mình, với lý do được bà nêu ra là vấn đề phụ nữ ở Trung Quốc còn tồn tại nhiều tiêu cực và một số nhà hoạt động đã bị bắt giữ.

H1

Thời báo Hoàn Cầu đăng bài xã luận chỉ trích bà Hillary kèm hình ảnh dòng trạng thái của bà trên Twitter.

Ngay sau những tuyên bố của cựu Ngoại trưởng Mỹ, đại diện Trung Quốc đã phản ứng trong một cuộc họp báo rằng “chỉ có người dân, đặc biệt là phụ nữ Trung Quốc, mới có quyền lên tiếng đánh giá về sự nghiệp phụ nữ của Trung Quốc”.

Vụ trưởng Vụ hợp tác quốc tế Bộ ngoại giao Trung Quốc Lý Quân Hoa tuyên bố:“Chúng tôi nhận thấy một số cá nhân, tập thể phát biểu quan điểm đối với sự nghiệp phụ nữ của Trung Quốc.

Một số ý kiến ‘ăn không nói có’, trong khi một số khác không hiểu rõ về những tiến bộ đạt được trong lĩnh vực này ở Trung Quốc.

Ví dụ, [bà Hillary Clinton] vừa đề cập tới một số nhà hoạt động thúc đẩy nữ quyền bị nhà chức trách câu lưu.

Theo tôi được biết, những người này bị tạm giữ không phải vì thúc đẩy quyền phụ nữ, mà do hành động của họ vi phạm pháp luật Trung Quốc.”

H1

Trung Quốc ngay lập tức “phản pháo” bà Hillary Clinton trong một cuộc họp báo. Ảnh: Nam Đô.

Trong bài xã luận đăng trên Thời báo Hoàn Cầu (Trung Quốc) sáng nay (28/9), tờ này gay gắt gọi những lời phê bình của bà Hillary là “thô lỗ, vô cùng thất lễ”.

Thậm chí, Hoàn Cầu còn “lôi” cả ứng viên Tổng thống của đảng Cộng hòa Donald Trump vào cuộc khi chỉ trích Hillary Clinton “từ bỏ tác phong đáng quý của một cựu Ngoại trưởng” để “học theo phong cách đao to búa lớn” của tỷ phú Trump.

Tại hội nghị trên, ông Tập tuyên bố Trung Quốc sẽ hỗ trợ thiết lập 100 dự án liên quan tới sức khỏe cho phụ nữ và trẻ em, đầu tư tài chính cho hơn 100 dự án khác để đưa các bé gái nghèo tới trường và đào tạo phụ nữ ở các nước đang phát triển.

___

VOA

29-9-2015

H1Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình phát biểu tại hội nghị thượng đỉnh LHQ ngày 26/9/2015.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã kêu gọi các nhà lãnh đạo trên thế giới tăng cường nỗ lực cải thiện quyền của phụ nữ.

Phát biểu tại hội nghị thượng đỉnh Liên hiệp quốc về bình đẳng giới, nhà lãnh đạo Trung Quốc cam kết góp 10 triệu đô la cho cơ quan Liên hiệp quốc chuyên trách nữ quyền trong khi các nhà hoạt động và các tổ chức bảo vệ nhân quyền mạnh mẽ chỉ trích Trung Quốc về việc cầm tù các nhà hoạt động nữ.

Ông Tập, người tổ chức cuộc họp, cũng cam kết sẽ xây 100 trung tâm y tế và 100 trường học cho trẻ em gái ở các nước đang phát triển trong 5 năm tới.

Nhưng sáng kiến của Tập đã gặp phải những lời khen chê cùng sự chỉ trích mạnh mẽ trên Twitter từ ứng cử viên Tổng thống Mỹ Hillary Clinton.

Bà Clinton viết “Ông Tập chủ trì một cuộc họp về nữ quyền tại Liên hiệp quốc trong khi đang đàn áp những người bênh vực cho quyền phụ nữ hay sao? Thật là không biết xấu hổ.” Bà Clinton muốn nhắc tới vụ bắt giam 5 nhà hoạt động trẻ ở Trung Quốc bênh vực cho nữ quyền trước Ngày Quốc tế Phụ nữ.

Nhóm này bị bắt tại một số thành phố khi họ phát tờ rơi báo động về nạn quấy rối tình dục trên các phương tiện công cộng. Sau đó họ được phóng thích nhưng bị giám sát tư pháp.

Một loạt các nữ lãnh đạo thế giới đã phát biểu tại cuộc họp do Chủ tịch Trung Quốc chủ trì, trong đó có Thủ tướng Đức Angela Merkel, Tổng thống Liberia Ellen Johnson Sirleaf, và Thủ tướng Bangladesh Sheikh Hasina.

Thủ tướng Đức dùng bài diễn văn của mình nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc bảo vệ phụ nữ trước nạn cưỡng hiếp, nộ lệ hóa, cùng các hành vi ngược đãi khác ở Syria, Iraq, Nigeria và các vùng xung đột khác trên toàn cầu.

Hãy thẳng thắn với ông Tập Cận Bình – BS

27 Th9

Posted by adminbasam on 26/09/2015

BBC

TS Vũ Cao Phan

26-9-2015

Lãnh đạo Việt Nam nên yêu cầu Trung Quốc đàm phán về Hoàng Sa nhân chuyến thăm dự kiến tới đây của Chủ tịch TQ Tập Cận Bình tới VN, theo tác giả.

Ông Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đang có chuyến thăm Hoa Kỳ, nơi mà ông đã được Tổng thống Barack Obama đón tiếp khá thẳng thắn.

Tổng thống Mỹ nói với ông Tập hôm 25/9: “Dù rằng hai quốc gia hợp tác với nhau, song tôi tin và biết rằng ông sẽ đồng ý việc chúng ta cần phải giải quyết các bất đồng giữa đôi bên một cách thẳng thắn” và một trong những bất đồng này được dư luận và các giới hiểu, đó chính là tham vọng và hành xử của Trung Quốc trong suốt thời gian qua cho tới hiện nay, gây quan ngại cho Hoa Kỳ và nhiều nước, trong đó có Việt Nam, trên Biển Đông.

Ông Tập Cận Bình lại sắp có chuyến thăm làm việc tại Việt Nam, trong bức thư ngỏ với tư cách một kiến nghị gửi tới Ban lãnh đạo mà nhà nước Việt Nam, tôi muốn nhấn mạnh trước hết với các vị điểm sau.

Những dịp như chuyến thăm của ông Tập, nếu diễn ra theo dự kiến, là hiếm và tôi cho rằng đó là cơ hội rất tốt để lãnh đạo cấp cao hai bên có thể trao đổi thẳng thắn, đặt lên bàn những vấn đề vốn đã và vẫn đang là nguyên nhân tạo nên sự căng thẳng giữa hai nước. Khi Việt Nam là chủ nhà, nghị trình và nội dung làm việc chắc chắn sẽ có được sự chủ động, kể cả sự kiên trì cần thiết.

Tôi tin là Ban lãnh đạo nước nhà đã và đang có sự chuẩn bị. Là một công dân, xin được đề xuất với các ông một số ý kiến.

Trước hết, vấn đề đàm phán về quần đảo Hoàng Sa. Như chúng ta đều biết, trên Biển Đông hiện nay có bốn vấn đề nổi cộm: tranh chấp chủ quyền biển, đảo; an ninh khu vực; tự do thông thương hàng hải, hàng không quốc tế và vấn đề bảo vệ tài nguyên biển. Ba vấn đề sau thu hút dư luận quốc tế, nhất là khi gần đây Trung Quốc mở rộng và xây cất ồ ạt trên các đá (rock) và các rạn san hô (coral reef), làm mờ đi một vấn đề thiết thân đến chúng ta: tranh chấp chủ quyền biển, đảo.

Ta nói, ta nghe?

Tranh chấp chủ quyền biển đảo có hai tư cách có ý nghĩa quyết định: một, đó là vấn đề khởi nguồn của mọi vấn đề; hai, và do đó nếu giải quyết được (cho dù ở một phạm vi hạn chế và dù chưa thật thỏa mãn cho tất cả các bên), nó sẽ quyết định đến sự yên tĩnh của Biển Đông. Tất cả các nước có tranh chấp trong khu vực đều coi trọng điều này, Trung Quốc càng như vậy.

Khi Đặng Tiểu Bình tuyên bố: “Chủ quyền của ta, gác tranh chấp, cùng khai thác” thì có nghĩa ông ta bảo với thiên hạ rằng vấn đề chủ quyền đã xong, nó thuộc về Trung Quốc. Gần đây, phát biểu tại Diễn đàn hòa bình thế giới được tổ chức tại Đại học Thanh Hoa, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị còn đi xa hơn. Ông nói, Trung Quốc không thể nhân nhượng trong vấn đề chủ quyền, chỉ đơn giản là nếu làm khác thì “sẽ không còn mặt mũi nào nhìn ông bà tổ tiên” (!)

Không thể đấu lại Trung Quốc bằng cả mồm miệng lẫn tay chân, Philippines quyết định đưa vấn đề ra Tòa án trọng tài quốc tế. Còn Việt Nam? Nước Việt Nam giải quyết vấn đề chủ quyền bằng sự “đồng lòng một ý chí” hướng về Biển Đông, hướng về Hoàng Sa, Trường Sa. Chúng ta triển lãm các bản đồ lịch sử khẳng định chủ quyền, chúng ta đặt tên Hoàng Sa, trồng cây Trường Sa ở nơi này nơi khác, hát những bài hát về Biển Đông và: “Đời ta không xong thì đến đời con, đời con không xong thì đến đời cháu, đời cháu không…”, đại loại là như vậy.

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã tỏ ra thẳng thắn trong cuộc tiếp Chủ tịch TQ Tập Cận Bình ở Nhà trắng hôm 25/9/2015. Photo: Getty

Tất cả những việc làm đó là cần thiết, nhưng thử ngẫm mà xem, chúng ta nói chúng ta nghe, chúng ta làm chúng ta biết như một sự an ủi, không đến được tai của thế giới, không tác động tích cực đến dư luận quốc tế. Nó cũng giống như một phép thắng lợi tinh thần.

Không thể không thấy Trung Quốc đã làm được rất nhiều về vấn đề chủ quyền, chẳng những chiếm đoạt nó bằng vũ lực (một việc không được Công ước Luật biển chấp nhận), mà còn ra sức tuyên truyền để quốc tế thấy rằng không hề có vấn đề tranh chấp ở Hoàng Sa, nơi thuộc về Trung Quốc đã cả vài ngàn năm rồi (!)

Những việc mà Trung Quốc làm ở Trường Sa hiện nay càng khiến cho vấn đề Hoàng Sa mờ đi. Có thể vấn đề này sẽ biến mất chăng, một khi các nước lớn ngoài khu vực – như Mỹ chẳng hạn – một mặt khẳng định họ đứng trung lập trong tranh chấp chủ quyền, mặt khác, sự quan tâm “chết người” của họ lại chỉ là ở chỗ quyền thông thương buôn bán, quyền hàng hải hàng không có được tự do hay bị cản trở mà thôi.

Mũi tên nhiều hướng

Và tôi muốn lưu ý việc Trung Quốc đang làm nóng lên ở Trường Sa có thể là một mũi tên bắn đi nhiều hướng. Nghĩa là Trung Quốc đang thực hiện sách lược của họ, sách lược cho Hoàng Sa nói riêng và cho Biển Đông nói chung. Nhưng xin mở ngoặc trước hết về khái niệm ‘sách lược’ ở đây, sách lược là một khái niệm gốc Hán, không có từ đồng nghĩa trong các ngôn ngữ Ấn – Âu (Anh, Nga, Pháp, Đức…). Bởi vậy khi dịch khái niệm này người ta thường lúng túng, lúc thì dịch là Strategy (chiến lược), lúc thì dịch là tactics (chiến thuật).

Hiểu đúng nghĩa, đó là việc “căn cứ vào sự phát triển của tình hình (mang tính giai đoạn) mà đề ra phương thức hành động hoặc đấu tranh thích hợp”, theo Từ điển Hán ngữ hiện đại chẳng hạn. Còn Từ điển Hán – Anh, Hán – Nga, (do Trung Quốc xuất bản) thì họ dịch là tact (sự khôn ngoan, mưu lược) và các nước cộng sản châu Á bao gồm Việt Nam rất khoái sử dụng ‘sách lược’ (Chú thích cho độc giả bản đài – TG).

Trở lại với sách lược Biển Đông và biển đảo của Trung Quốc, họ cũng quan sát rất kỹ các động thái của Việt Nam trong vấn đề này. Tạp chí “Châu Á – Thái Bình Dương đương đại” của Trung Quốc trong tháng năm có bài “Tìm kiếm mô hình giải quyết tranh chấp Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam” dẫn tuyên bố của các giới chức có thẩm quyền ở Việt Nam trong vụ giàn khoan Hải Dương – 981 năm 2014 (nhấn mạnh vị trí giàn khoan nằm trong thềm lục địa Việt Nam, mà bỏ qua khoảng cách gần hơn đến quần đảo Hoàng Sa) để cho rằng “Việt Nam đã tự loại mình khỏi việc đòi hỏi chủ quyền Hoàng Sa”.

Việc mất quyền kiểm soát thực tế quần đảo Hoàng Sa không chỉ là một tổn thất lớn của Việt Nam, cả về vật chất lẫn tâm lý. Điều đáng quan tâm nhất hiện nay, điều không thể chấp nhận được hiện nay khiến nổi sóng dư luận là: Đây vốn là vùng đánh cá truyền thống của ngư dân Việt, là nơi kiếm sống của rất nhiều hộ gia đình ngư dân dọc một dải Trung Trung Bộ.

Nhưng Trung Quốc, đặc biệt từ 2010 đã gây ra vô vàn thống khổ cho ngư dân vùng này. Những hành động cướp đoạt thành quả lao động, phá hỏng ngư cụ, đánh đập ngư dân, đánh đắm và bắt giữ thuyền bè… ngày càng gia tăng. Thậm chí tướng Hải quân Trung Quốc Doãn Trác còn tuyên bố cần phải mạnh tay hơn nữa với tàu thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam. Sự hỗ trợ về mặt vật chất của nhà nước ta là có hạn, sự can thiệp của lực lượng kiểm ngư, cảnh sát biển nhiều khi là bất khả.

Tiêu chuẩn kép TQ

H1Du khách Trung Quốc trong một chuyến du lịch tới quần đảo Hoàng Sa gần đây. Photo: AP

Trung Quốc hay nói đến lịch sử. Nếu nói về điều đó thì Trung Quốc có lẽ phải thừa nhận rằng, công việc khai thác hải sản, khoáng vật của các đội ngư thuyền Việt Nam trong vùng biển này hầu như là duy nhất và không bị tranh chấp đã hàng ngàn năm nay. Việc mất quyền đánh cá, quyền khai thác hải sản trong một ngư trường vốn là của mình và không có sự tranh chấp nào cho đến khi Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa là điều không thể chấp nhận.

Việt Nam cần phải có những hành động chính trị, pháp lý kiên quyết trong vấn đề Hoàng Sa. Điều chúng tôi muốn nói là Việt Nam phải yêu cầu Trung Quốc ngồi vào bàn đàm phán về vấn đề này.

Trên thực tế, Việt Nam đã nhiều lần yêu cầu phía Trung Quốc cùng ngồi lại, nhưng luôn bị họ khước từ một cách quyết đoán với lý do: Quần đảo Hoàng Sa không có sự tranh chấp.

Sự từ chối có tính áp đặt của Trung Quốc cộng với những căng thẳng ở Trường Sa thu hút nhiều sự quan tâm hơn nên có thể đã là nguyên nhân khiến Việt Nam lâu nay ít đề cập đến vấn đề đàm phán về Hoàng Sa và đó lại là nguyên nhân khiến Trung Quốc cho rằng Việt Nam dường như từ bỏ yêu sách về quần đảo này (đã dẫn ở trên).

Chúng tôi cho rằng, để tiến tới cuộc đàm phán về Hoàng Sa, cả hai bên Việt Nam và Trung Quốc đều cần thừa nhận sự tồn tại trên thực tế của vấn đề và vấn đề ấy là nghiêm trọng, không chỉ gây nên thống khổ cho ngư dân Việt mà còn ảnh hưởng lâu dài đến mối bang giao giữa hai nước, mọi sự bỏ qua sẽ càng làm vấn đề trầm trọng thêm.

Việt Nam cũng rất cần đặt câu hỏi, vấn đề Hoàng Sa ở Biển Đông và vấn đề quần đảo Điếu Ngư ở Hoa Đông là hoàn toàn giống nhau ở hình thức tranh chấp, tại sao Trung Quốc lại đòi hỏi tiêu chuẩn kép, tùy thuộc sự có lợi cho họ? Chẳng lẽ nước lớn thì có quyền như vậy? Và nữa, Trung Quốc từ chối tham vấn đa phương, nhưng cũng lại từ chối đàm phán về Hoàng Sa, một vấn đề chỉ có sự tranh chấp giữa hai quốc gia? Thậm chí gần đây, Trung Quốc còn tự ý đưa các quần đảo ấy của Việt Nam vào quy hoạch biển của mình?

Kiến nghị, hiến kế

Vậy xin kiến nghị: chúng ta trước hết cần phải làm cho Trung Quốc thấy rõ một thực tế là những hành động của họ đã hoàn toàn không còn có cái gọi là “bạn bè tốt”, “láng giềng tốt”, “láng giềng hữu nghị” như những khẩu hiệu hai bên vẫn thường hô lên.

Sau đó cần phải kiên trì và kiên quyết yêu cầu Trung Quốc ngồi vào đàm phán bằng cách, một mặt trong tất cả các cuộc tiếp xúc từ cấp cao đến cấp chuyên viên, trong tất cả các cơ hội làm việc từ quan hệ chính thức, quan hệ nhà nước đến quan hệ nhân dân, quan hệ học giả… vấn đề này phải được chủ động đề cập, cho dù có khiên cưỡng chăng nữa.

Mặt khác, kiên trì ba tháng hoặc sáu tháng một lần, Chính phủ (Bộ Ngoại giao) gửi công hàm đến phía Trung Quốc yêu cầu đàm phán về vấn đề Hoàng Sa. Công hàm này được công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân biết được quyết tâm của chính phủ và quan trọng hơn, để dư luận quốc tế thấy được đây là vấn đề rõ ràng có sự tranh chấp giữa các bên liên quan.

H1Chưa rõ nguyên thủ nào trong ban lãnh đạo đảng, hay nhà nước Việt Nam sẽ có thể đề nghi Trung Quốc đàm phán về Hoàng Sa, dù công khai hay không. Photo: AFP

Việc đàm phán chắc chắn không dễ dàng dẫn đến kết quả mong muốn cho cả hai bên. Nhưng có đàm phán là có bình yên. Và theo tôi, nếu giành được sự hiểu biết lẫn nhau để tối thiểu ngư dân Việt Nam có quyền đánh cá trên vùng biển truyền thống của mình thì đó cũng đã là một thắng lợi.

Liên quan đến vấn đề này, tôi cũng xin có thêm một kiến nghị. Hai bên Việt Nam và Trung Quốc thường nhắc đến “Mười sáu chữ” và “Bốn tốt”. Tuy không được nêu ra như một quy tắc ứng xử thì nó cũng giống như một sự dẫn đường cho quan hệ giữa hai nước.

Rất nên có sự chỉ đạo từ cấp cao để những cấp làm việc (như Ủy ban Hợp tác Kinh tế giữa hai bên chẳng hạn) đưa vào xem xét, kiểm điểm việc thực hiện tinh thần này trong những phiên họp thường kỳ.

Tóm lại, ý kiến của tôi là cả hai vấn đề: đàm phán về quần đảo Hoàng Sa và xem xét, kiểm điểm thường kỳ về “ các chữ ”,“ các tốt ” nếu trước đây chúng ta chưa có điều kiện đề cập thì cuộc làm việc với ông Tập Cận Bình là một cơ hội tốt để có được sự thống nhất về nguyên tắc ở cấp chỉ đạo, làm cơ sở cho việc triển khai thực hiện.

Bài viết, dưới đạng thư ngỏ, kiến nghị, thể hiện văn phong và phản ánh quan điểm riêng của tác giả, một nhà nghiên cứu chính trị và bang giao Trung – Việt, nguyên Tổng thư ký, Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt – Trung, đang sống ở Hà Nội.

Khi tình bạn Putin và Tập Cận Bình bị thử thách – Vnn

7 Th9

Họ đã gặp nhau hơn chục lần, kề vai sát cánh trong những cuộc diễu binh quân sự lớn nhất tại Nga và tuần qua là ở Bắc Kinh. Tuy nhiên, quan hệ giữa Chủ tịch TQ Tập Cận Bình và Tổng thống Nga Vladimir V. Putin đang bị thử thách khi nền kinh tế hai nước có những bất ổn.

Hai thỏa thuận năng lượng bước ngoặt được ký kết năm ngoái để cung cấp khí tự nhiên từ Nga sang TQ tới nay có rất ít tiến triển. Chúng hầu như không được đề cập đến khi hai nhà lãnh đạo gặp nhau hội đàm sau lễ diễu binh tại Quảng trường Thiên An Môn hôm thứ 5.

Thương mại song phương được dự đoán đạt hơn 100 tỉ USD năm nay nhưng thực tế mới chỉ tiến đến con số khoảng 30 tỉ trong 6 tháng đầu năm, phần lớn là vì TQ sụt giảm nhu cầu dầu của Nga.

Với việc thị trường chứng khoán TQ lao dốc, tăng trưởng kinh tế ở mức chậm nhất trong 1/4 thế kỷ, Bắc Kinh khó có thể cung cấp một đảm bảo vững chắc mà ông Putin kiếm tìm nhằm đối phó với sự trừng phạt kinh tế của phương Tây. Đó là chưa kể tới việc giá dầu giảm mạnh trên toàn cầu.

TQ, Nga, Putin, Tập Cận Bình, Mỹ
Tổng thống Putin ở thăm TQ từ 2-4/9 vừa qua. Ảnh: EPA

“Nga trông chờ vào sự tăng trưởng của TQ cũng như nhu cầu tiêu thụ hàng hóa ở nước này gồm dầu, khí, khoáng sản. Với Nga, TQ là một chọn lựa thay thế châu Âu”, Fiona Hill, chuyên gia nghiên cứu về Nga tại Viện Brookings ở Washington nhận định.

TQ có quá cần khí đốt từ Nga?

Một trong những trụ cột của mối quan hệ giữa ông Putin và ông Tập là thỏa thuận cung cấp khí tự nhiên kéo dài 30 năm cho TQ từ các mỏ khí ở Đông Siberia, trị giá 400 tỉ USD, với mẻ cung cấp đầu tiên dự kiến từ 2019 – 2021. Trong quá trình ký kết ở Thượng Hải, ông Putin đã mô tả hợp đồng này là một “sự kiện lịch sử” và bày tỏ sự tin tưởng rằng, Nga bất chấp áp lực từ cấm vận phương Tây vẫn có thể đa dạng hóa thị trường năng lượng.

Giá cả cụ thể trong hợp đồng chưa từng được chính thức công bố. Điều này khiến giáo sư Jonathan Stern – chủ tịch chương trình nghiên cứu khí tự nhiên tại Viện nghiên cứu năng lượng Oxford (Anh) nhận định có khả năng với sự lao dốc của giá năng lượng, thỏa thuận sẽ phải thương lượng lại.

Người TQ muốn khí tự nhiên cho khu vực lạnh lẽo Đông Bắc và người Nga đã bắt tay vào việc cung cấp, nhưng lại vấp phải ít nhiều khó khăn. Theo giáo sư Stern, một thỏa thuận khác, cũng là cung cấp khí tự nhiên từ Tây Siberia, được hai nhà lãnh đạo ký tắt hồi tháng 11 trước ở Bắc Kinh. Nhưng hợp đồng chính thức dự kiến ký kết ở Bắc Kinh trong chuyến thăm gần đây của ông Putin dường như đã chệch hướng.

“Đây là hợp đồng mà ông Putin có thể ký trong tuần này, nhưng lại không, một phần vì nhu cầu hiện tại của TQ thấp hơn nhiều với ước tính trước đây”, ông nói.

Phức tạp hơn là Nga không có khả năng chi trả cho việc xây dựng hệ thống ống dẫn khí sang TQ. Câu hỏi đặt ra là liệu TQ có cần khí của Nga đến mức sẵn sàng cung cấp nguồn tài chính cho việc xây dựng này ?- Edward C. Chow, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ở Washingotn đặt giả thuyết.

Cũng nhìn về góc độ giá cả, Triệu Hoa Thành, giám đốc Trung tâm nghiên cứu Nga và Trung Á, Đại học Phúc Đán Thượng Hải cho hay, “chúng tôi phải tính toán lại toàn bộ và cố gắng giảm giá’. Các cuộc thương thảo đối mặt với rất nhiều khó khăn do sự lao dốc trong giá cả khí tự nhiên”.

 
 

Sự lạc quan về việc TQ giúp Nga thoát khỏi các vấn đề kinh tế đã dần phai mờ. Alexander Gabuev, nhà phân tích về quan hệ Nga-Trung tại Trung tâm Carnegie Moscow bi quan cho rằng, “hy vọng TQ cung cấp sẽ đảm bảo con đường sống cho Nga giữa lúc đối mặt với các biện pháp trừng phạt và giá dầu sụt giảm đã không còn”.

“Đây là mối quan hệ mang tính biểu tượng – với một nền tảng kinh tế nhỏ và bất ổn”, ông nói. “Giới tinh hoa Kremlin đã thất vọng vì không thể nhanh chóng hiện thực hóa những gì người Nga hy vọng”.

Vì mục tiêu 100 tỉ USD giao dịch thương mại hai bên là bất khả thi trong năm 2015 nên các quan chức Nga cho rằng, đích đến 200 tỉ USD vào năm 2020 có thể là quá lạc quan.

Giới hạn cho những lợi ích chiến lược

Nhưng các thỏa thuận năng lượng lớn không phải là “nạn nhân” duy nhất của việc kinh tế sụt giảm ở cả hai nước.

Một tuyến đường sắt tốc độ cao mà TQ tuyên bố sẽ xây dựng nối Moscow với Bắc Kinh đang đem lại sự hoài nghi lớn bởi TQ lại đang yêu cầu Nga chi trả cho dự án. Chặng đường đầu tiên nối Moscow với Kazan, dự kiến mở cửa trước World Cup tại Nga năm 2018. Nhưng tới nay, mọi việc vẫn chưa bắt đầu, và dường như không bắt đầu.

Tình bạn giữa ông Putin và ông Tập Cận Bình đang thu hút sự chú ý của cả thế giới. Mỗi người đều thích tạo dựng hình ảnh mạnh mẽ, quyền lực, và thậm chí là táo bạo mạo hiểm.

Ở những cuộc gặp toàn cầu, họ hầu như xuất hiện cùng nhau. Trong một cuộc gặp các nhà lãnh đạo châu Á tại Bali, Indonesia năm 2013, ông Tập còn tặng Tổng thống Nga chiếc bánh sinh nhật. Tại Bắc Kinh tháng 11 năm trước, Putin đã giảng giải với ông Tập những ưu điểm về chiếc điện thoại di động của Nga…

Cả hai nhà lãnh đạo kiêu hãnh rằng, họ đã nâng tầm quan hệ hai nước trở thành mối quan hệ chiến lược; Nga và TQ gần đây đã có những cuộc tập trận hải quân quy mô lớn ở Địa Trung Hải và biển Nhật Bản. Tại LHQ, họ cùng nhau phản đối các sáng kiến Mỹ đưa ra với Libya và Syria cũng như khá tương đồng nhìn nhận về Iran.

Nhưng ở đây vẫn có những giới hạn với các lợi ích chiến lược hai nước. TQ vẫn lo lắng các động thái của Nga tại Crưm, đặc biệt là ở Ukraina, nơi Bắc Kinh có nhiều đầu tư thương mại cũng như quân sự. Họ cũng lo ngại việc sáp nhập Crưm có thể là tiền lệ cho những vùng lãnh thổ của TQ như Tây Tạng, Tân Cương.

Tại Trung Á, hai nước có nhiều cạnh tranh hơn là hợp tác hữu nghị, nhất là khi TQ mua năng lượng từ các nước vốn nằm trong không gian chịu ảnh hưởng truyền thống của Nga.

Thái An (theo Nytimes)

Tập Cận Bình ngang ngược, có thể tức nước vỡ bờ – DLB

21 Th11

 

 
Nguyễn Lộc Yên (Danlambao) – Nhìn qua lịch sử nước Tàu đã trên 2000 năm (tính từ năm 221 TCN, nhà Tần gồm thâu lục quốc thống nhất nước Tàu). Thời gian qua mấy nghìn năm, thế mà người dân Tàu nói riêng, nhân dân thế giới nói chung còn kinh hãi về hành động tàn ác của bạo chúa Tần Thủy Hoàng (259-210 TCN) tức Doanh Chính, vua Tần đã cho “đốt sách chôn nho” (chôn sống 460 nho sinh thành Hàm Dương). Hành động ác độc này đã thôi thúc: Kinh Kha, Tần Vũ Dương, Cao Tiệm Ly tìm cách hành thích vua Tần, dù biết hành thích dẫu thành công hay thất bại bản thân mình cũng bị giết sau đó. Hành động ác độc của bạo chúa Tần Thủy Hoàng, hậu thế muôn đời không thể nào tha thứ.
Ngày nay, Tập Cận Bình làm Chủ tịch nước (bắt đầu từ ngày 14-3-2013), ông cai trị trên 1,35 tỷ người với vùng đất rộng lớn, gồm: 22 tỉnh, 5 khu tự trị, 4 đô thị trực thuộc, và 2 khu hành chính đặc biệt là Hồng Kông và Ma Cao. Ông Tập đã đưa ra chính sách “đả hổ diệt ruồi”, ngày 16-3-2014, BBC News đã đưa tin: “Cho đến nay, có 40.000 quan chức chính quyền đã bị kỷ luật, 10.000 quan chức khác đã bị cách chức và chính quyền thu hồi được 65 tỷ Mỹ kim”. Thu hồi được 65 tỷ Mỹ kim cho nhà nước và nhân dân Tàu hay cho ai?! Có giống như vào ngày 30-4-1975, 16 tấn vàng (1.234 thoi, trị giá 220 triệu đô la Mỹ thời đó) là tài sản của quốc dân Miền Nam bị hàng thần (phó thủ tướng miền Nam) Nguyễn Văn Hảo cố lấy công với CSVN, Hảo cố giữ số vàng này để giao lại cho các giới chức cao cấp CSVN, oái oăm thay số vàng này lại bị họ tẩu tán tiêu tùng hết!.
Ỷ mạnh hiếp yếu:
Trong máu xâm lược sẵn có của người Tàu, đến khi Tập Cận Bình làm Chủ tịch nước Tàu, thì mưu mô xâm lược càng ngày càng lộ liễu hơn. Thế mà, vào ngày 15-5-2014, chính Tập Cận Bình phát biểu lời lẽ trơ tráo: “Trong máu người Trung Quốc không có gen xâm lược”?!
Ngày 23-11-2013, Bộ quốc phòng của Tàu cộng đã tự ý xác lập “Vùng nhận dạng phòng không” (Air Defense Identification Zone: ADIZ) trên bầu trời biển Hoa Đông bao trùm lên cả quần đảo Senkaku là vùng tranh chấp chủ quyền với Nhật Bản và đá ngầm Socotra mà Tàu cộng đang tranh chấp với Hàn Quốc.
Bãi cạn Scaborough nằm cách bờ tây đảo lớn của Philippines 230 km và cách nước Tàu hơn 800 km về phía bắc. Philippines khẳng định bãi cạn nằm gọn trong vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý của mình, đúng theo Công ước về Luật Biển của Liên Hợp Quốc. Tàu cộng lại cho rằng đây là một phần lãnh thổ của Tàu kể từ thế kỷ 13, còn đưa ra cái gọi là bản đồ cổ làm bằng chứng.
Đối với Việt Nam, quân Tàu xâm chiếm đảo Hoàng Sa ngày 19-1-1974, và đảo Gạc Ma (trong quần đảo Trường Sa) ngày 14-3-1988, thế mà chưa thỏa mãn lòng tham của chúng, vào ngày 2-5-2014, Tàu cộng đưa giàn khoan HD-981 vào vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam tại Biển Đông. Nhật báo Le Monde của Pháp, số ra ngày 8-2-2014, trong bài “Xung đột giữa Hà Nội và Bắc Kinh ở các đảo tranh chấp tại Biển Đông”, phóng viên Bruno Philip đã viết: “Việc tàu Trung Quốc tấn công tàu Cảnh sát biển của Việt Nam ra bảo vệ chủ quyền khi Trung Quốc kéo giàn khoan HD 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, một lần nữa làm tăng thêm căng thẳng tại khu vực bất ổn nơi mà thái độ hung hăng của Trung Quốc làm các nước khu vực lo ngại”.
Từ các mưu mô xâm lấn biển đảo của quân Tàu, mới đưa đến cuộc tập trận diễn ra trong hai ngày 22 và 23 tháng 10 năm 2014 ở biển Đông (ngoài khơi Philippines). Cuộc tập trận bao gồm thông tin liên lạc, luyện tập đội hình và tác xạ đạn thật, nhằm tăng cường khả năng phối hợp tác chiến. Cuộc tập trận đã phối hợp tàu khu trục BRP Gregorio del Pilar của Philippines, tàu sân bay USS George Washington của Mỹ và Tàu khu trục JS Sazanami của Nhật Bản.
Trong khi đấy, người Duy Ngô Nhĩ (Uyghur) ở Tân cương, người Tây Tạng, tín đồ Pháp Luân Công, các nhà đấu tranh dân chủ… luôn bất khuất chống lại chính quyền độc tài Tàu cộng không ngưng nghỉ.
Ngoài ra, trước khi Hồng Kông được Anh quốc giao lại cho Tàu cộng vào năm 1997 theo mô hình “một quốc gia hai chế độ” chính quyền Bắc Kinh đã cam kết và ký kết quyền tự trị và tự do chính trị tại Hồng Kông. Nhưng Bắc Kinh không tôn trọng điều đã cam kết, nên sinh viên và nhân dân Hồng Kông mới biểu tình rầm rộ từ tối thứ Sáu ngày 26-9-2014, được gọi là “Phong trào ô dù” đòi hỏi quyền dân chủ đích thực là được quyền đề cử Đặc khu trưởng Hồng Kông mà không phải thông qua quyết định của ủy ban bầu cử bởi chính quyền độc tài Bắc Kinh. Cái hạt giống tự do này không phải chỉ ngừng ở đấy mà sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến tất cả dân chúng nước Tàu kể cả khu tự trị Tân Cương, Tây Tạng… và sẽ bùng phát thời gian tới không xa, khi đấy chế độ Cộng sản phải tiêu tan thôi.
Vong ân bội nghĩa:
Nước Tàu là một đất nước tự đề cao: nhân, lễ, nghĩa… nhưng khi hành động thì ngược lại.
Đệ nhị Thế chiến (1939-1945) kết thúc chiến tranh phần lớn là nhờ Hoa Kỳ, theo lệnh của Tổng thống Harry S. Truman, ngày 6-8-1945, thả quả bom nguyên tử thứ nhất mang tên “Little Boy” xuống thành phố Hiroshima, đến ngày 9-8-1945, quả bom thứ hai mang tên “Fat Man” đã cho phát nổ trên bầu trời thành phố Nagasaki. Ngày 15-8-1945, Nhật đầu hàng Khối Đồng minh vô điều kiện và ký vào văn kiện đầu hàng ngày 2-9-1945, chính thức chấm dứt Thế chiến thứ hai. Tại nước Tàu trong 8 năm chiến tranh chống Nhật (1937-1945), cả Quốc Dân đảng và Cộng sản Tàu đã hợp tác chống Nhật, được quân đội Mỹ tận tình giúp đỡ tại Hoa lục về việc cung cấp vũ khí, huấn luyện và cứu thương. Do Mỹ mà Nhật đầu hàng, người Tàu nhờ đấy mà khỏi bị Nhật đô hộ, nên người Tàu dù muốn hay không cũng đã mang ơn rất lớn với Mỹ.
Ngày 17-2-1972, Tổng thống Nixon đến Hawaii ở lại hai ngày, rồi tới Thượng Hải. Mỹ trong vị thế một siêu cường số một, còn Tàu trong thân phận một cường quốc đông dân số nhưng yếu kém về kinh tế. Tổng thống Nixon đã ký kết thông cáo chung Thượng Hải đánh dấu bước khởi đầu bình thường hóa quan hệ giữa 2 nước. Từ đấy, Mỹ bắt đầu giúp Hoa lục. Tôi xin nêu các điều căn bản:
– Ngày 1-1-1979, Mỹ nối lại quan hệ ngoại giao với Hoa lục. Bộ Ngoại giao Mỹ chính thức thông báo với chính quyền Đài Loan rằng: “Hiệp ước phòng thủ chung Mỹ-Đài (US-Taiwan Mutual Defense Treaty) sẽ chấm dứt vào ngày 1-1-1980”. 
– Ngày 26-5-1994, Tổng thống Mỹ là Bill Clinton tuyên bố công nhận quy chế “Đãi ngộ Tối huệ quốc (Most Favoured Nation: MFN) cho Tàu cộng” là nguyên tắc pháp lý quan trọng nhất của WTO (World Trade Organization: WTO). Và cũng từ đấy các hãng xưởng của Mỹ mở ra tại Hoa lục ào ạt, nhờ đấy nền kinh tế ở Tàu cộng bắt đầu phát triển mạnh mẽ.
– Ngày 19-5-1997, Tổng thống Mỹ là Clinton quyết định gia hạn quy chế Tối huệ quốc cho Tàu cộng thêm một năm nữa. Mùa thu năm 1998, Tổng thống Mỹ là Bill Clinton công du Tàu cộng đã tạo ra mốc lịch sử trên lộ trình đối tác chiến lược giữa Washington và Bắc Kinh trong thế kỷ 21.
– Tháng 12-2001, Chính quyền George W. Bush, công nhận Trung cộng chính thức là hội viên thứ 143 của WTO, lúc ấy WTO có 155 thành viên (Việt Nam vào WTO năm 2007). Tàu cộng được Mỹ hỗ trợ nên phát triển vượt qua cả Nam Hàn và Nhật Bản, trở thành nước có nền kinh tế rất mạnh và lại bắt đầu cạnh tranh với đất nước đã giúp mình (Tàu) là Hoa Kỳ.
Người Tàu lại một lần nữa mang ơn to lớn từ Mỹ. Đáng tiếc, sự trỗi dậy của Tàu cộng không tạo ra hòa bình cho các nước láng giềng, mà họ khư khư ôm lấy chủ nghĩa dân tộc cực đoan, dùng sức mạnh để o ép các nước yếu hơn và mưu mô trong việc bang giao quốc tế đầy thủ đoạn và lừa lọc!. Điều này lộ rõ mưu mô bành trướng bá quyền của đại Hán, vì virus (mầm độc) đã đặc sệt trong dòng máu Hán từ tổ tiên đến con cháu của họ?!
Ngày nay, Tàu cộng đã thành thế lực cạnh tranh với Mỹ về sản xuất và bán ra các mặt hàng công nghiệp có trình độ công nghệ cao, như các máy điện toán, thiết bị của nhà máy… Tàu cộng, chẳng những cạnh tranh với Mỹ trên các thị trường khác trên thế giới mà còn xâm nhập mạnh vào thị trường Mỹ, đã gây cho các xí nghiệp và doanh nghiệp Mỹ gặp phải khó khăn?!
Ngoài ra, theo Đài BBC, ngày 29-5-2013, đã loan tải: “Máy bay chiến đấu F-35 cũng nằm trong danh sách bị Trung Quốc trộm bí mật thiết kế, Hacker Trung Quốc đã tiếp cận được mẫu thiết kế của hơn hai chục loại vũ khí của Mỹ, một tờ báo Mỹ đưa tin: Các mẫu thiết kế chiến cơ, chiến hạm và hệ thống phòng thủ tên lửa nằm trong số bị lộ, Washington Post dẫn báo cáo của Lầu Năm Góc cho biết”?!.
Có thể “tức nước vỡ bờ”: 
Từ khi Tập Cận Bình nắm được quyền lực tối cao tại nước Tàu: Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quân ủy Trung ương (quân đội). Ông Tập đã cho các hệ thống truyền thông trong nước loan tin tuyên truyền “đả hổ diệt ruồi” với mục đích đánh bóng chính sách của mình, đấy là cả một sách lược đầy mưu mô và tính toán, nhằm củng cố quyền lực cá nhân ông Tập. Từ đấy, dư luận quần chúng gọi ông Tập là: “Tân hoàng đế”.
Bản tin RFI vào ngày 2-10-2014, đã nêu rõ: “Thời kỳ cởi mở tương đối, sau khi Tập Cận Bình lên nắm quyền đã chấm dứt. Tự do phát biểu và nhân quyền bị chà đạp không nương tay. Hàng loạt văn nhân, trí thức, luật sư, nghệ sĩ, tu sĩ bị tống giam vì can đảm chỉ trích chế độ. Chiến dịch chống tham nhũng lộ nguyên hình là thủ đoạn sát kê dọa hầu, giết gà nhát khỉ, của tân hoàng đế Trung Quốc, theo như giới phân tích độc lập tại Bắc Kinh.
 
Sau các phiên tòa trừng trị vợ chồng cựu lãnh đạo tỉnh Trùng Khánh, ông Bạc Hy Lai bị án tù chung thân còn bà vợ Cốc Khai Khai lãnh bản án “tử hình treo”, hàng loạt quan chức cao cấp khác của Trung Quốc như Chu Vĩnh Khang và các đàn em, không kể Bạc Hy Lai, người đã vào tù kẻ nằm chờ lãnh án với tội danh tham nhũng. Chiến dịch đánh tham nhũng cũng không tha hàng tướng lãnh quân đội như Từ Tài Hậu, Cốc Tuấn Sơn, Dương Kim Sơn”.
Mới đây, vào ngày 17-11-2014, nhật báo Cali Today đăng tin: “Chính phủ Trung Quốc đã bắt 288 kẻ đào thoát ra ngoại quốc với tài sản bị nghi ngờ là do tham nhũng mà có, trong chiến dịch có tên “Săn Chồn”, theo tin của Tân Hoa Xã loan báo hôm thứ hai 17/11. Tân Hoa Xã, trích bản tin từ Bộ Công An của Trung Quốc cũng cho biết trong số bị bắt có 126 nghi can đã tình nguyện đầu thú. Ông Tập Cận Bình từng xem chuyện chống tham nhũng là chương trình hành động chủ lực của ông khi lên nắm quyền. Có tất cả 56 quốc gia đã được Trung Quốc tiến hành lục soát để tìm nghi can người Hoa bỏ trốn, kể cả Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Canada, Nam Hàn và Nam Phi, theo lời Thứ Trưởng Bộ Công An Liu Jinguo cho biết… Trung Quốc không có hiệp ước dẫn độ với Hoa Kỳ, Canada và Úc vốn được xem là các quốc gia nhắm đến nhiều nhất của các tay đào tẩu Trung Quốc, nhưng cảnh sát Úc đã bằng lòng hợp tác và giúp ngành an ninh TQ lùng bắt các nghi can”.
Vậy Tập cận Bình là ai, mà hung hăng như thế?! Tập Cận Bình (Xí Jìnpíng) sinh năm 1953 tại Bắc Kinh, Bình là con trai của cựu Phó Thủ tướng Tàu cộng là Tập Trọng Huân, Khi Bình được 10 tuổi, thì cha bị thanh trừng và đưa đi làm việc tại một hãng xưởng ở Lạc Dương, Hà Nam. Vào năm 1968, tức 5 năm sau đấy, Tập Trọng Huân bị bắt vào tù trong thời kỳ gọi là “Cách mạng Văn hóa”. Phu nhân của Tập cận Bình là ca sĩ Bành Lệ Viện, lại mang quân hàm thiếu tướng của lực lượng văn công. Hai người chỉ có một đứa con gái là Tập Minh Trạch sinh năm 1992, hiện đang theo học tại Đại học Harvard ở Massachusetts, Mỹ. Cô được một đội vệ sĩ Tàu luôn bí mật bảo vệ và các nhân viên FBI cũng quan tâm đến cô.
Tôi đang viết về “Tân hoàng đế” nước Tàu, lại nhớ đến một vài nhân vật thời xưa của Tàu:
– Ngô Khởi (440-381 TCN) là người nước Vệ, sống trong thời Chiến Quốc, từng làm tướng nước Lỗ. Ông là một nhà chính trị và quân sự nổi tiếng. Cuốn Binh pháp của Ngô Khởi rất có giá trị, là một trong Võ kinh thất thư (bảy bộ binh pháp kinh điển của Tàu) thường được giới thiệu cùng với Tôn Tử binh pháp, gọi chung là “Tôn-Ngô binh pháp”. Khi Ngô Khởi đến nước Ngụy, với tài năng của ông, được Ngụy Vũ hầu phong làm Tây Hà thú. Đến khi Công Thúc làm tể tướng, lại ganh tài năng và muốn hãm hại ông, nên ông phải bỏ đi nơi khác. Sở Điệu Vương nghe tiếng Ngô Khởi là một nhân tài, nên triệu ông đến phong làm tể tướng, ông tâu với vua Sở tiến hành cải cách: “Bỏ những chức quan không cần thiết, bỏ không chu cấp cho những người họ nhà vua đã xa đời để hậu đãi nuôi dưỡng những người chiến đấu, cốt làm cho quân ngũ hùng mạnh”. Ngô Khởi giúp nước Sở, phía nam xâm chiếm Bách Việt, phía bắc tiêu diệt nước Trần, phía tây đánh Tần. Chư hầu lo lắng vì nước Sở đang thế mạnh. Trong khi đó các người quý tộc Sở bị đụng chạm quyền lợi, họ muốn trừ Ngô Khởi. Năm 381 (TCN), Sở Điệu Vương mất, nhân đấy các đại thần, tôn thất nổi lên vây đánh Ngô Khởi để trả thù, họ dùng tên bắn và giáo đâm Ngô Khởi chết thê thảm!.
– Thời Tề Hoàn công, công tử Khương Thương Nhân có tranh đất phong với đại phu Bính Nguyên, tể tướng Quản Trọng phân xử Bính Nguyên thắng, Thương Nhân căm hận. Sau khi Tề Hoàn công mất, thế tử Khương Xá lên ngôi, Thương Nhân lập vây cánh rồi giết Khương Xá (613 TCN) lên ngôi lấy hiệu là Tề Ý công. Tề Ý công tịch thu gia sản của Bính Nguyên và Quản Trọng. Bính Nguyên đã chết, Tề Ý công cho người đào mả và chặt chân trị tội. Con của Bính Nguyên là Bính Súc theo hầu Tề Ý công luôn tỏ ra tận tụy, trung thành. Vào một dịp tết, Tề Ý công ra lệnh các phu nhân của các quan triều đình phải vào triều kiến và dự yến tiệc. Vợ của Diêm Chức duyên dáng là một quốc sắc thiên hương, nên Tề Ý công nhìn say đắm, rồi cho người giữ vợ của Diêm Chức lại và bảo Diêm Chức: “Ngươi đi tìm vợ khác, nhường giai nhân cho ta”. Diêm Chức vừa nhục vừa hận, gắng gỏi giữ tươi tỉnh ra về. Một hôm, Tề Ý công ra Thân Trì hóng mát, sai Bính Súc và Diêm Chức theo hầu. Sau khi Tề Ý công tắm mát và uốn nhiều rượu thì cảm thấy mệt mỏi, bảo Bính Súc trải giường gấm cho vua ngủ. Khi vua ngủ, Bính Súc và Diêm Chức muốn nhân dịp báo thù, nhưng người này lại ngại người kia. Bính Súc nghĩ ra một kế dùng cành cây nhỏ gõ nhẹ vào đầu Diêm Chức. Diêm Chức nổi giận mắng Bính Súc, thì Bính Súc mỉm cười nói: “Bị người ta cướp vợ không giận, chỉ gõ nhẹ sao lại nổi giận?!” Diêm Chức mắng lại: “Mất vợ nhục nhã thật, nhưng bị người ta hành hạ thi thể của cha thì việc nào nhục hơn?!” Do đấy, hiểu được lòng nhau, Diêm Chức giữ chặt Tề Ý công còn Bính Súc cắt lấy thủ cấp vứt xuống Thân Trì. Khi Cao Huynh hay tin toan đem quân đi bắt Bính Súc và Diêm Chức để trị tội giết vua; nhưng Quốc Quí Phủ khuyên: “Chúng ta cũng muốn trừ kẻ hôn quân mà chưa có dịp, bây giờ có người ra tay hộ thì bắt tội chúng làm gì”. Do vậy, triều đình không bắt tội Bính Súc và Diêm Chức. Mưu kế mà giết được Tề Ý công gọi là “Tiếu lý tàng đao” (Trong nụ cười có chứa gươm đao) là một mưu kế thâm độc của người Tàu.
Từ những mẩu chuyện xưa và nay, ngẫm nghĩ đến Chiến dịch “Đả hổ diệt ruồi” của ông Tập do hệ thống tư pháp gồm có tòa án và an ninh quyết định mục tiêu và hành động do ông Tập chủ trương, và có nguồn tin còn cho biết ông Tập đang tìm cách giảm quyền hành của Thủ tướng Lý Khắc Cường. Trong khi đó tại nước tàu, tịch thu tài sản các quan chức tham nhũng có bị ảnh hưởng đến đời sống của người dân hay không?. Các vấn đề phúc lợi xã hội, cải cách y tế, an toàn vệ sinh thực phẩm, vật giá leo thang… vẫn còn khó khăn chưa được giải quyết thỏa đáng.
Như thế, mục tiêu và hành động “săn bắt hổ”, ông Tập có bị “hổ cắn lại” hay không? Liệu rằng ông Tập có tránh được hàng trăm đối thủ của ông sẽ sử dụng “Tiếu lý tàng đao” hay không?! Có bị người ta bắn, đâm chết như Ngô Khởi hay không?! Có bị các quốc gia khác bao vây con khủng long hung hãn Tàu cộng hay không?! Hãy chờ xem!.
Song song với những thiết nghĩ trên, trong cuốn sách “The Coming Collapse of China” (Sự sụp đổ sắp tới của Trung Quốc) do học giả Gordon G. Chang viết và có đăng trên The National Interest tại Hoa Kỳ, có một câu cần ngẫm nghĩ: “cho rằng Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đang “cưỡi trên lưng hổ”, ngã xuống là bị hổ ăn thịt”.
Chắc hẳn chúng ta ai cũng biết rằng tệ nạn tham nhũng có ở nhiều quốc gia chứ không phải chỉ có ở nước Tàu và Việt Nam, nhưng Tàu và Việt Nam hay các nước Cộng sản thì tham nhũng nhiều hơn gấp trăm gấp ngàn lần so với các quốc gia khác, là do “độc đảng cai trị, tập thể lãnh đạo” ở đấy không có phân lập quyền hạn, do đấy tạo sự dễ dàng cho việc tham nhũng. Cho nên muốn trừ khử tham nhũng thì trước nhất phải trừ khử: “độc đảng cai trị, tập thể lãnh đạo” mà thôi.
Ngày 20-11-2014

 

CÓ THỂ TẬP CẬN BÌNH THÀNH CÔNG TRONG CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH ? – BS

18 Th11

 

Posted by adminbasam on 17/11/2014

Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

16-11-2014

Từ ngày lên ngôi vào tháng 11 năm 2 012, tới nay đã được 2 năm, Tập cận Bình bắt đầu một « Chương trình cải cách rộng lớn », đi đến việc thanh trừng 182 000 công chức Nhà nước, Đảng và Quân đội, trong đó có 40 người Thứ trưởng và nhiều Tướng tá.

Có người cho rằng chương trình cải cách này sẽ thành công. Nhiều ý kiến khác thì hoàn toàn ngược lại, cho rằng không thành công mà còn có thể đi đến sự sụp đổ của chế độ.

Chúng ta hãy cùng nhau xem xét vấn đề.

Tập cận Bình và chương trình cải cách của ông

Tập cận Bình sinh năm 1953, tại Bắc kinh, nhưng quê quán thực của ông ở Thiểm tây, cha là Tập trọng Huấn (1913 – 2002), là một Phó Thủ tướng trước đây. Tập cận Bình là người ít nói, ít phát biểu, có nhiều người còn cho ông là người không có lập trường rõ rệt. Ông từng làm Bí thư thành phố Thượng Hải, được Giang Trạch Dân chọn lựa và hậu thuẫn để trở thành người kế thừa của Hồ Cẩm Đào với ý định trong tương lai, khi họ Đào không còn quyền, ông lên ngôi, thì họ Giang dễ khống chế ông.

Tập cận Bình từng bước trở thành Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 15, Ủy viên Chính thức Trung ương Đảng các khoá 16, 17. Tháng 10 năm 2007, tại Đại hội 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc, được bầu làm Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư Trung ương, được phân công kiêm nhiệm Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương. Ngày 15 tháng 3 năm 2008, được Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc bầu làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Sau đó lần lượt vào năm 2010 ông được bầu vào chức Phó Chủ tịch Quân Ủy Trung ương, n ăm 2012 tr ở th ành Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Ngày 14 tháng 3 năm 2013, ông được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, kết thúc quá trình chuyển giao quyền lực của đảng cộng sàn Tàu.

Có lẽ tất cả những kế hoạch, dự đoán của họ Giang từ ngày họ Tập lên ngôi đều trở nên mây khói ?

Chương trình cải cách của Tập cận Bình

Tháng 8/2013, họ Tập ra Văn kiện được mang tên là « Văn kiện số 9 «, trong đó có 7 cái « Không «, bắt buộc đảng viên, công chức từ dưới lên trên phải tuân theo. Đó là: Không được tự do phát biểu ý kiến riêng ngoài ý kiến chính thức của đảng, không chấp nhận ảnh hưởng từ nước ngoài, không chấp nhận tư tưởng tự do, dân chủ, tính phê bình, và không chấp nhận tư tưởng độc lập.

Thêm vào đó, để ngăn cản sự trốn chạy ra nước ngoài của cán bộ, họ Tập thâu hồi tất cả những hộ chiếu của họ, thành lập ủy ban gồm 3 người, kiểm soát lẫn nhau, nếu có 1 trong 3 người xuất ngoại « Không chính đáng «, thì 2 người còn lại phải vạ lây. Họ Tập mệnh danh chương trình cải cách này là một chương trình « Trẻ trung hóa vĩ đại «, dựa trên giấc mơ của Trung quốc, niềm tự hào của dân tộc, dựa trên chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Cũng từ đó, họ Tập đã tập trung tất cả quyền hành vào trong tay mình, từ Chủ tịch nước, Tổng bí thư, Chủ tịch Quân ủy hội, Chủ tịch Hội đồng an ninh quốc gia, Chủ tịch Hội đồng kinh tế quốc gia, Chủ tịch Ủy ban thanh lọc Nhà nước v.v…

Họ Tập đã thanh trừng từ trên xuống dưới, bắt đầu phong trào « Giết hổ và đập ruồi « , loại khỏi Đảng, khỏi Nhà nước 182 000 công chức từ thấp đến cao, bắt đầu bằng vụ đưa ra tòa Bạc hy Lai, rồi khai trừ Từ tài Hậu, nhân vật thứ nhì trong Quân Ủy hội ra khỏi đảng vào ngày 30/06/2014. Ngày 29/7/2014, Đảng cộng sản Trung quốc tuyên bố điều tra Chu vĩnh Khang, nhân vật thứ ba, trong đảng.

Đó là sơ qua một vài vụ thanh trừng to lớn.

Ngoài ra họ Tập còn đàn áp dã man dân Duy ngô nhĩ, dân phần lớn theo đạo Hồi ở vùng tây bắc, trấn áp Tây Tạng, gửi thông điệp cứng rắn đối với Đài loan, dẹp tất cả những hy vọng của dân Hồng kông mong muốn có một cuộc bầu cử tự do trong tương lai, theo kiểu dân cử, dân bầu, chứ không phải là một cuộc bầu cử « Đảng cử, dân bầu «,được áp đặt từ Bắc kinh.

Nhưng thật ra bản chất của cuộc cải cách này là một cuộc cải cách giật lùi hay đúng hơn chỉ là một cuộc tranh quyền, thâu tóm quyền hành vào tay một người, trái lại nguyên tắc lãnh đạo tập thể, để lại từ hồi Đặng tiểu Bình, và tương đối được tuân thủ và áp dụng bởi Giang trạch Dân và Hồ cẩm Đào.

Độc tài từ cổ chí kim trên thế giới là một chế độ cai trị dân qua cái loa, cái còng và cái súng, nhất là với 2 chế độ độc tài phát xít và cộng sản. Cái loa có nghĩa là khai thác tối đa nghệ thuật tuyên truyền. Kiểu nói như Goebel, Bộ trường Tuyên truyền của Hitler: « Một sự việc dù không phải là sự thật, nhưng chúng ta nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Lúc đầu dân còn bán tín, bán nghi, sau đó không nghi nữa và cuối cùng cho đó là sự thật. » Bưng bít thông tin, chỉ cho dân nghe những thông tin, dù không phải sự thật, nhưng có lợi cho chế độ.

Với Hitler thì khơi dậy chủ nghĩa quốc gia cực đoan, bài trừ Do thái, đưa ra lý thuyết không có một tý gì là khoa học, theo đó « Chủng tộc Aryen là chủng tộc tinh khiết nhất, tài giỏi nhất. Đó là chủng tộc của dân Đức, xứng đáng để thống trị thế giới «. Cộng sản thì khơi dậy những bản năng xấu xa, ghen tỵ của con người, qua lý thuyết bạo động lịch sử, đấu tranh giai cấp, xóa bỏ tất cả những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp được truyền thừa hàng ngàn năm lịch sử nơi con người. Thêm vào đó cả 2 chế độ phát xít và cộng sản đều vẽ ra một thiên đàng, một bên là thế giới thiên đàng của giòng giống Aryen, dân tộc Đức. Bên kia là thiên đàng cộng sản.

Cai trị dân với cái còng và cái súng là khủng bố, bỏ tù những thành phần không cùng chính kiến, đường lối với họ, và nếu sự chống đối trở nên có ảnh hưởng mạnh mẽ thì sẽ bị vu khống, thủ tiêu và hãm hại.

Ngày nay, ở một vài nước cộng sản còn lại, vì kinh nghiệm cộng sản đã thất bại ê chề sau hơn 70 năm áp dụng, thì họ trở về chủ nghĩa dân tộc cực đoan, kiểu phát xít.

Từ đó chúng ta xét bản chất thực của chương trình cải cách Tập cận Bình: Đó là chương trình cải cách giật lùi, trở về thời quân chủ phong kiến, quyền hành tập trung vào tay một người, ngày xưa là ông vua, ngày nay là Tổng bí thư. Hiện nay họ Tập nắm hết trong tay mọi quyền hành.

Vì vậy bản chất thật cuộc cải cách của họ Tập chỉ là một cuộc tranh quyền mà ngày hôm nay người ta thấy rõ là giữa Giang trạch Dân, cựu Tổng bí Thư, được phe nhóm tài phiệt Thượng hải và Hồng kông ủng hộ và phe nhóm Tập cận Bình, được mang nhãn hiệu là chống tham nhũng, trẻ trung hóa và trong sạch hóa chế độ, thực hiện giấc mơ Trung quốc.

Người Tàu có câu châm ngôn « Giết gà để dọa khỉ «, thực chất là họ Tập giết cả gà lẫn khỉ, khi chúng không theo mình, và dung túng cả gà lẫn khỉ, khi chúng theo mình. Hỏi rằng ở nước Tàu hiện nay, trong những người đảng viên, từ cấp dưới lên đến ngay Tập cận Bình, có ai là không tham nhũng. Cũng như họ Tập ra lệnh thâu hồi tất cả những người có hộ chiếu ra nước ngoài, lập ra tổ 3 người trong cơ quan đảng và nhà nước để kiểm sóat lẫn nhau về việc xuất ngọat. Trong khi đó thì chính con gái họ Tập hiện nay đang học ở Hoa kỳ, tại trường đại học Harvard. Việc thanh trừng 182 000 nhân viên đảng và nhà nước đi đến chỗ ai cũng sợ, có những cơ quan nhà nước, người cầm đầu bị thanh trừng, người dưới không dám lên kế vị, vì ai cũng tham nhũng, sợ bị chỉa mũi dùi vào mình.

Họ Tập không những trở về thời quân chủ phong kiến, mà còn trở về thời kỳ xấu xa nhất của chế độ cộng sản Tàu, thời kỳ « Cách mạng Hồng vệ binh «, khơi dậy lòng hận thù của của những giai tầng xã hội, đề cao tinh thần dân tộc cực đoan. Tập cận Bình hiện nay là hình ảnh những tên bạo chúa tàn ác nhất trong lịch sử nhân loại, như vua Kiệt, Tần thủy Hoàng, Mao trạch Đông của Tàu, như Néron, Staline của thế giới, cho rằng: « Kẻ nào không theo Ta, thì có nghĩa là chống Ta «, « Ta chính là Nhà nước và Pháp luật « .

Ngày xưa vua cho rằng mình thay trời để trị dân, ngày hôm nay họ Tập cho rằng mình có một sứ mạng cao cả, dẫn dắt dân tộc Tàu thực hiện ước mơ của mình, trẻ trung hóa chế độ, mang lại hạnh phúc cho mọi người dân và sự kính nể đối với những nước trên thế giới.

Vẽ ra những ước mơ, cai trị dân qua cái loa, cái còng và cái súng, đây không phải là riêng của Tập cận Bình, mà là của tất cả giới lãnh đạo cộng sản. Ngày hôm nay Tập cận Bình đang trở về phương pháp này với dân Tàu. Vì vậy thực chất đây là một cuộc cải cách giật lùi.

Chương trình cải cách cuả Tập cận Bình sẽ thành công ?

Một câu hỏi đến với chúng ta là liệu chính sách cải cách của Tập cận Bình sẽ thành công hay không ?

Có nhiều người cho rằng sẽ thành công, viện những lý do: Với sức mạnh kinh tế hiện nay, theo như bản thống kê mới nhất của Quĩ Tiền tệ thế giới, tổng sản lượng kinh tế tính theo khả năng mua sắm, thì Trung cộng hiện nay là 17 632 tỷ $, đã qua mặt Hoa kỳ là 17 416 tỷ, cũng như Ấn độ, với tổng sản lượng là 7 277 tỷ, đã qua mặt Nhật, với 4 788 tỷ. ( Theo Bản Tường trình của FMI – tháng 10/2014). Tuy nhiên chúng ta cũng nên nhớ là sản lượng tính theo đầu người hàng năm của Hoa Kỳ và của Nhật là gấp 4 hay 5 lần của Trung cộng. Ngoài ra hiện nay Trung cộng có một dự trữ gần 4 000 tỷ $, hiện là nước có nền thương mại lớn nhất thế giới, hàng hóa Trung cộng có mặt trên khắp 5 châu.

Đây là một điều hay, nhưng cũng có mặt trái của nó, đó là đừng nghĩ với kinh tế, tiền bạc là có thể giải quyết được tất, nhiều khi mang hại vào thân, ngay ở cả mức độ quốc gia, vì mức độ giầu nghèo quá chênh lệch ở Trung cộng, thêm vào đó giới giầu có, quyền lực thì càng ngày càng muốn giầu có thêm, nhiều quyền lực thêm, trước sự đau khổ của dân.

Chúng ta có thể giản tiện hóa vấn đề, ví một quốc gia như một gia đình. Một gia đình giầu có, có nhiều con cái với nhiều thân thuộc, bộ hạ, vấn đề chia gia tài giữa các con, sau khi người cha chết, có thể đưa đến việc các con cấu xé lẫn nhau. Trung cộng hiện nay đang bị “ nạn “ tương tự qua việc chuyển quyền hành. Những đại gia, vừa giầu có, vừa có quyền, đang tìm cách ti êu diệt lẫn nhau như việc Giang trạch Dân, Chu vĩnh Khang, Từ tài Hậu, Bạc hy Lai v.v… tìm cách đảo chính Tập cận Bình, cũng như sau đó tìm cách ám sát nhiều lần, nhưng không thành, theo như nhiều nguồn tin đáng tin cậy.

Điều này chứng tỏ tình hình Trung cộng không ổn như người ta tưởng.

Thêm vào đó, họ Tập lại thâu tóm quyền hành một cách rất mau lẹ. Vừa mới lên ngôi, họ Tập đã gặp Obama vào năm 2 013, chính một nhân viên của Phủ Tổng thống Hoa kỳ đã tuyên bố: “ Chúng tôi rất ngạc nhiên là ông Tập cận Bình đã thâu tóm quyền hành mau lẹ như vậy “.

Chương trình cải cách của họ Tập chỉ là một chương trình bế quan tỏa cảng vào cuối thời nhà Minh, nhà Thanh, vì vậy nó sẽ không thành công, mà còn có thể đi đến chỗ làm sụp đổ chế độ cộng sản ?

Có người lại cho rằng sức mạnh của Trung cộng hiện nay chỉ là cái vỏ, chỉ là “ Một con hổ giấy “, nhãn hiệu mà Mao dùng để chỉ Hoa kỳ trước đây. Thật vậy, không nói đâu xa, ngay chính Chu dung Cơ, cựu Thủ tướng của Trung cộng cũng nói: “ Trung cộng chỉ là anh khổng lồ chân bằng đất xét.”

Lý do đầu tiên và quan trọng trong sự thất bại của Tập cận Bình là ông đã đi ngược lại đà tiến bộ của văn minh nhân loại.

Thật vậy, nhân loại đã trải qua 5 nền văn minh: văn minh trẩy hái, văn minh du mục, văn minh định cư nông nghiệp, và văn minh thương mại, rồi tới văn minh trí thức điện toán ngày hôm nay.

Mỗi một thời văn minh tương xứng với một mô hình tổ chức nhân xã. Với hai 2 nền văn minh đầu, đó là chế độ gia tộc và bộ lạc. Với văn minh định cư nông nghiệp, đó là chế độ quân chủ phong kiến; và ngày hôm nay là mô hình tổ chức dân chủ tự do và kinh tế thị trường.

Có người bảo rằng họ Tập muốn trở về thời kỳ cộng sản của Mao. Nhưng chúng ta biết, mô hình tổ chức nhân xã của cộng sản chỉ là mặt trái của mô hình quân chủ phong kiến, cũng là một chế độ cá nhân, độc đảng, độc tài, nó đã dùng khoa học, kỹ thuật và thông tin tuyên truyền để củng cố chế độ.

Lý do thứ nhì của sự thất bại, đó là như Khổng Tử đã nói:

“Để cai trị dân tốt thì phải dựa trên công lý và lòng thành tâm.”

Đằng này họ Tập không dựa trên công lý để chống tham nhũng, nhưng chỉ nhằm vào người nào tham nhũng không theo ông, còn những người theo ông thì dung túng. Họ Tập thâu hồi tất cả những chiếu kháng, hạn chế tối đa sự xuất ngoại, nhưng chính gia đình ông xuất ngoại, con gái ông đang học ở Hoa kỳ.

Lý do thứ ba của sự thất bại đó là ông đã phá hủy tất cả những luật bất thành văn, được để lại bởi Đặng tiểu Bình, nhằm thực hiện những cuộc trao quyền một cách êm thắm, tránh đổ máu. Những luật bất thành văn này đã được thực hiện bởi 2 người trước ông là Giang trạch Dân và Hồ cẩm Đào. Ngày 29/7/2014, họ Tập ra thông cáo điều tra Chu vĩnh Khang, quản thúc ông tại gia, tịch thu tài sản của những người họ hàng thân thích với ông này, lên tới 300 người, với tài sản là 14,5 tỷ $.

Ngày xưa thì có việc chu di tam tộc, quả là ác ôn và đổ máu. Nhưng ngày hôm nay, dù không đổ máu, nhưng tịch thu hết gia sản, rồi hôm nay bị thẩm vấn, ngày mai bị tra hỏi bởi công an, mặc dầu sống nhưng nhiều khi khổ hơn là chết. Chính vì vậy mà có người cho rằng lịch sử Tàu là một chuỗi dài tranh quyền, cướp nước và trả thù.

Những gia đình, gia tộc bị họ Tập thanh trừng, bằng bất cứ giá nào cũng tìm cách trả thù. Phim ảnh không nói lên tất cả, nhưng cũng nói lên một phần nào lịch sử, văn hóa của một dân tộc. Phim chưởng Tàu là một chuỗi dài những cuộc trả thù thiên thu bất tận.

Chương trình cải cách của Tập cận Bình chỉ là trở về chính sách bế quan tỏa cảng

Trở về với ý kiến cho rằng chương trình cải cách của Tập cận Bình chỉ là trở về chính sách bế quan tỏa cảng trước đậy.

Thật vậy, nước Tàu có một nền văn minh lớn và rất sớm, nhưng sau đó nước Tàu bị tụt hậu, vì rất nhiều nguyên do, nhưng trong đó có một nguyên do chính, đó là chính sách bế quan tỏa cảng vào cuối đời nhà Minh và cuối đời nhà Thanh và chính sách mở cửa nhập cảng vội vã tư tưởng Marx Lénine của đảng cộng sản, cặn bã của văn hóa, văn minh tây phương mà những nước này đã chối bỏ.

Nước Tàu là một nước lớn, dân tộc Tàu có một nền văn minh rất sớm:

Năm 105, đời nhà Hán ( 206 trước Tây Lịch – 219 sau Tây Lịch), nước Tàu đã phát minh ra giấy. Kỹ thuật ấn loát có nguồn gốc từ triều Tùy ( 581-618) do Tất Thăng phát minh ra, sau đó được người Mông Cổ truyền sang Châu Âu. Mãi sau này Johannes Gutenberg (1400 – 1468), người Đức dựa vào những phát minh trên đã phát minh ra máy in và có thể nói đây là một trong những nguyên do chính giúp Âu châu phát triển, vì nhờ máy in mà sự hiểu biết, trí thức được lan rộng, lúc đầu là ở trong nhà thờ, in kinh thánh, sau đó được quảng bá ra ngoài.

Năm 1000, đời Bắc Tống (916 – 1125), phát minh ra địa bàn và thuốc súng. ( Theo « La Formidable Histoire de l’Economie mondiale de l’Egypte antique à la Chine de 2014 – báo Capital – hors série – Juin – Juillet 2014 « )

Tuy nhiên văn minh Tàu bị khựng lại vì rất nhiều nguyên do, mà trong đó là chế độ quân chủ, kéo dài quá lâu, từ chế độ quân chủ phong kiến tản quyền sang chế độ quân chủ tập quyền, từ thời nhà Chu ( 1134 – 770 trước Tây Lịch ) cho tới ngày hôm nay với chế độ cộng sản ( 1949 – ?), chỉ là mặt trái của chế độ này. Người ta nói Mao trạch Đông, Đặng tiểu Bình và ngay Tập cận Bình là những ông hoàng đế đỏ, cũng không sai.

« Cải cách giật lùi, đi ngược lại đà tiến bộ của con người, của nhân loại « của Tập cận Bình có thể thành công ngắn hạn, nhờ kích thích tinh thần quốc gia cực đoan, tôn quân, bản tính gió chiều nào theo chiều ấy của người Tàu, như trường hợp điển hình, ông Chu Bân, con của Chu vĩnh Khang, đã đứng về phía họ Tập, tố cáo bố mình. Tuy nhiên nếu thành công cũng chỉ là ngắn hạn; nhưng dài hạn, thật dài, thì có hại cho Tàu, gương cuối đời của 2 triều đại nhà Minh và nhà Thanh còn ngay trước mắt.

Thực ra nói đến chính sách bế quan tỏa cảng của Tàu thì đã có từ lâu, có thể từ thời lập quốc, qua quan niệm nước Tàu là trung tâm của vũ trụ ( Trung hoa), Hán là dân tộc văn minh nhất, còn những dân tộc chung quanh chỉ là man di, mọi rợ. Tuy nhiên trong khuôn khổ bài này, chúng tôi không thể đi xa, đi sâu, chỉ xin nói sơ về sự thất bại của chính sách bế quan tỏa cảng cuối đời nhà Minh và cuối đời nhà Thanh:

Nhà Minh ( 1368 – 1643), do Chu nguyên Chương lập ra, sau khi đánh đuổi nhà Nguyên ( 1278 – 1368), một chế độ của người Mông cổ mà sử còn gọi là chế độ Nguyên Mông, chế độ ngoại tộc, không phải là Hán tộc. Chính vì vậy mà Chu nguyên Chương và tất cả vua quan sau này của nhà Minh có một chính sách bế quan tỏa cảng, bài ngoại rất cao, rất tàn ác với những dân tộc không phải là Hán. Đây là kinh nghiệm máu xương của dân tộc Việt nam trong vòng 20 năm bị lệ thuộc nhà Minh từ năm 1407 tới 1427. Quân đội của Trương Phụ nhà Minh không những tàn ác với dân Việt, mà còn tìm cách tiêu hủy tất cả những gì có tính chất đặc th ù dân tộc Việt, qua việc đốt sách vở, bắt tất cả những người có đầu óc mang về Tàu. Việc 2 người Việt nam, ông Nguyễn An, một trong những kiến trúc sư chính, xây lên Tử cấm Thành ( thành Bắc Kinh), một người khác, ông Hồ nguyên Trừng, con của Hồ quí Ly, bị bắt qua Tàu, làm đến chức Bộ Công, xây dựng quân cụ thời vua Minh Anh Tông, đã làm ra súng đại bác ( thần công), cũng là từ đó. Theo sử sách thì « Quân Minh khi làm lễ tế súng, đều phải tế Trừng ».

Có người nói thời Minh không có chuyện bế quan tỏa cảng, dẫn sự việc Trịnh Hòa, một hoạn quan thời Minh với lệnh của triều đình, đóng 62 chiếc thuyền, chiều dài cả 100m, chiều ngang 40m, chở 37000 hải quân, đem nhiều vàng, đồ gốm, lụa, đi từ cửa biển Lưu gia cảng, tây bắc Thượng Hải, vào năm 1405, qua Phúc kiến, có thể nói là một cuộc hành trình vòng quanh thế giới vào lúc bấy giờ, vì đã qua cả chục nước, có nhiệm vụ quảng bá sức mạnh của nhà Minh và đồng thời buôn bán, trao đổi hàng hóa. Đấy là bề ngoài của sự việc, bên trong có người cho là Trịnh Hòa còn có nhiệm vụ tìm vua Huệ đế, mà vua Minh Thành Tổ nghi là đã trốn ra nước ngoài, ở những nước chung quanh hoặc các đảo ngoài biển.

Sự việc là vua Minh thái Tổ, Chu nguyên Chương, lập người con trưởng tên là Tiêu làm thái tử, không dè Tiêu chết sớm, vua bèn lập con của Tiêu, tên là Kiến Văn, lên làm thế tôn. Khi Chu nguyên Chương chết, Kế văn lên làm vua, tức Huệ đế, được 4 năm. Không dè người chú, lúc đó đang trấn thủ ở đất Yên xưa kia, mang quân về đảo chánh, thành công, lên ngôi vua tức Minh thành Tổ. Minh thành Tổ nghi Huệ đế trốn ra nước ngoài nên làm ra đoàn tầu Trịnh Hòa, để đi kiếm. Điều này nói lên sự tranh quyền, giữ quyền ở Tàu rất là khủng khiếp, cũng chẳng khác nào như thời Tập cận Bình hiện nay. Vì nhiều lý do, trong đó có lý do là sau khi Minh thành Tổ chết, việc tìm kiếm Huệ đế không được đặt ra, nên ngân sách cho đoàn tàu Trịnh Hòa dần dần bị cắt giảm.

Ngày hôm nay, giới lãnh đạo cộng sản Tàu, nhắc nhiều đến Trịnh Hòa và đoàn tàu, nhất là trong khuôn khổ tranh chấp biển Đông, muốn nói lên sức mạnh hải quân của Tàu từ xưa, nhưng họ cố ý hay vô tình quên đi sự tranh quyền nội bộ nằm ngay sau lưng.

Triều đại nhà Minh chỉ thịnh lúc ban đầu, nhưng sau đó đi vào suy thoái ( 1436 – 1623), rồi bước sang chỗ diệt vong ( 1623 – 1660).

Trong thời gian suy thoái và diệt vong này, nhà Minh đã chủ trương chính sách bế quan tỏa cảng cao độ: Hạm đội của Trịnh hòa không còn nữa, đó là về mặt biển, về mặt đất liền thì tăng cường tu bổ Vạn lý trường thành. Bên ngoài thì bế quan tỏa cảng, bên trong thì bài xích những chủng tộc khác qua văn hóa, giáo dục, bắt đầu bằng chủng tộc Mông, triều đại đã cai trị nước Tàu trước đó. Sau này từ thời Mao thì kỳ thị, coi thường dân tộc Mãn, dân tộc đã đánh bại chính sách bế quan tỏa cảng của nhà Minh, hay nói đúng hơn là đánh bại nhà Minh, cai trị xứ Tàu sau đó, cũng như tất cả các dân tộc khác như Hồi, Mông, Tạng.

Dân tộc Mãn Thanh là một dân tộc sống ở phía đông bắc nước Tàu.

Hai người được coi là sáng lập nền tảng cho nhà Thanh chính là Nỗ nhĩ cáp Xích, Hoàng thái Cực.

Nỗ nhĩ cáp xích (1559 – 2626), ông sinh ra trong một gia đình quí tộc Mãn châu ở vùng đông bắc nước Tàu. Theo chính sách phên dậu của nhà Minh dùng những bộ tộc làm hàng rào, phên chắn cho triều đình trung ương, gia đình ông được nhà Minh phong cho chức Đô đốc vùng Kiến châu, cha truyền con nối. Ông là người dũng cảm, được viên Tổng trấn vùng đông bắc, nhà Minh, tuyển ông vào đội cận vệ. Từ đó, nhờ can đảm, nhờ những liên hệ gia đình trước đó, cùng những liên hệ mới, ông đã qui tụ những chân tay bộ hạ của bộ tộc mình trước kia, nay bị những bộ tộc khác tiêu diệt, rồi thống nhất 8 bộ lạc Mãn, để lên làm khả hãn, như Thành cát tư Hãn của bộ tộc Mông cổ trước đó. Ông đã lập ra thể chế « Bát Kỳ «, tiêu biểu bằng 8 lá cờ, từ màu vàng, sang màu trắng, màu lam, mà người ta có thể hiểu là 8 bộ tộc, 8 vùng chiến thuật, từ Hoàng kỳ, Bạch Kỳ, Lam Kỳ v.v…Tám Kỳ này lấy những quyết định quan trọng theo cách bỏ phiếu đa số, nhất là việc kế vị ngôi vua.

Nỗ nhĩ cáp xích lên ngôi Hoàng đế năm 1616, dần dần trở lên lớn mạnh, thống lãnh cả một vùng đông bắc, có lúc lên đến cả sáu bảy vạn quân. Năm 1619, vua Minh sai Binh bộ thị lang Dương Cảo, lãnh 16 vạn quân, thẳng tiến phía đông bắc nhằm tiêu diệt ông, gồm 4 cánh quân : tây lộ, bắc lộ, đông lộ và nam lộ. Bình tĩnh nhận định tình hình, phân tích sự việc, phân tích từng cánh quân của địch, ông đã cho quân Bát kỳ, chỉ có 6 vạn, nhanh chóng chiếm bờ sông Tát nhĩ Hử, chờ cánh quân chủ lực Tây lộ của quân Minh tới. Quả như điều ông tiên đoán, trong trận này ông đã phá tan quân chủ lực của nhà Minh. Những cánh quân tiếp đến, ông tiêu diệt từng cánh một.

Ông chết vào năm 1626, nhưng người ta có thể nói là ông đã gây dựng tất cả những nền móng, để nhà Thanh đánh vào trung nguyên, lập nên nghiệp lớn cho con cháu ông sau này.

Người kế thừa ông là Hoàng thái Cực (1592 – 1643), người con thứ 8 của ông. Ông kế thừa sự nghiệp và chí lớn của cha, chủ trương học hỏi tinh thần dũng mãnh, chiến lược hành quân thần tốc của người Mông cổ, sự uyên bác của người Tàu, nên các vị vua kế nghiệp ông về sau rất thông hiểu văn hóa Trung hoa. Ông cũng nhất quyết đánh xuống trung nguyên, kết thúc chế độ nhà Minh.

Một sự kiện lịch sử nhỏ chứng tỏ sự thất bại của chính sách xây Vạn lý trường thành, bế quan tỏa cảng của triều Minh : Ngày 27/10/1629, Hoàng thái Cực xuất binh, vòng qua thành tuyến Liêu đông, đốt phá Vạn lý trường thành, ở phía tây bắc, vòng đến Hà bắc, tiến vào đốt phá thành Bắc kinh.

Nước Tàu ngày hôm nay, Tập cận Bình có xây bao nhiêu bức tường lửa ( Fire wall) đi chăng nữa, cũng không thể nào cấm được những nguồn thông tin trung thực, những luồng tư tưởng Tự Do, Nhân Bản từ bên ngoài. Sẽ có ngày không xa người dân Tàu sẽ nổi dậy giành lại quyền sống, lật đổ chế độ cộng sản, như ngày xưa người Mãn đã phá Vạn lý trường thành và lật đổ nhà Minh.

Khang Hy là ông vua thứ nhì đời nhà Thanh, sau khi nhà Thanh chiếm được toàn cõi nước Tàu, được coi là một trong 10 vị Đại Hoàng đế của Tàu. Ông không những tỏ ra thao lược về chính trị và quân sự, mà ông còn giỏi cả về văn hóa, nghệ thuật. Chỉ cần người ta nói đến Tự điển Khang Hy, được làm ra thời ông, bằng Hán văn, gồm 47 035 chữ, hay người ta nói đến đồ gốm Khang hy, vừa đẹp về sắc gốm, vừa đẹp về hình tượng vẽ ở trên, cũng đủ chứng minh ông là một vị hoàng đế lớn.

Tuy nhiên cũng như nhà Minh, chỉ có ba bốn vị vua đầu thì khá, nhưng sau đó thì đi vào thoái trào.

Người ta có thể nói giống như nhà Minh, nhà Thanh đi từ chỗ suy thế (1795 – 1850), rồi tới thế diệt vong ( 1850 – 1911).

Thời nhà Minh, khi quân Minh bị Lê Lợi đánh đuổi về Tàu năm 1427, thì liền sau đó là tới thời suy thoái, bắt đầu vào năm 1436.

Với nhà Thanh, sau khi quân nhà Thanh bị Nguyễn Huệ đánh bại ở Việt Nam, năm 1789, thì nhà Thanh cũng bước vào thời kỳ suy thoái.

Thời kỳ suy thoái của nhà Thanh có thể nói là bắt đầu vào cuối đời vua Càn Long, cầm quyền 60 năm từ năm 1735 đến 1795.

Càn long vào cuối đời, có thể vì một phần già yếu, không lo triều chính như lúc còn trẻ, thêm vào đó, lại tiêu xài hoang phí, qua những cuộc du ngoạn phương nam, rất tốn kém. Bên cạnh là Tể tướng Hòa Thân, một con người tham nhũng khét tiếng; có người nói, tài sản của họ Hòa hơn cả ngân khố quốc gia.

Điều này làm chúng ta liên tưởng đến chế độ cộng sản hiện nay của Tập cận Bình: tham nhũng từ trên xuống dưới, không chỉ thủ tướng mà cả cựu và đương kim tổng bí thư, xuống đến tận hang cùng ngõ hẻm, đến một anh cán bộ đảng tầm thường cấp xã. Vào thời Càn Long, còn có những ông quan liêm khiết, chính trực, vì còn trọng Nho giáo, Khổng giáo, lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm đầu.

Ngày hôm nay tại Tàu, sau khi chạy theo lý thuyết Mác – Lê, theo duy vật chủ nghĩa, vứt bỏ mọi giá trị tốt đẹp cổ truyền, lại thực hiện lời dạy của Đặng tiểu Bình: « Mèo trắng, mèo đen không cần biết. Chỉ cần là mèo biết bắt chuột. », từ dân cho chí quan, chạy theo vật chất, không còn chút liêm sỉ, làm giàu, bằng bất cứ thủ đoạn, phương tiện gì, ngay cả giết người, lừa đảo, dối trá.

Thời kỳ diệt vong của chế độ nhà Thanh bắt đầu từ 1850, khi ông vua Hàm Phong, chồng bà Từ Hy, lên ngôi năm 1850 cho tới cuộc Cách mạng Tân Hợi 1911.

Nguyên sự kiện ông vua này chán nản trước tình hình, vận nước, bị liệt cường xâu xé, như chúng ta lấy sự kiện Hồng kông đang nổi tiếng qua những cuộc biểu tinh của sinh viên học sinh hiện này. Vùng đất này bị nhượng cho nước Anh trước đó 8 năm, 1842, rồi tới chiến tranh Nha Phiến, Liệt cường xâu xé. Ông đã cùng một thái giám, ban đêm thường lẻn ra khỏi thành, chơi bời nơi tửu điếm, lầu xanh đến nỗi bị mắc bệnh giang mai, rồi chết sớm.

Con của ông với bà Từ Hy, lên ngôi tức vua Đồng Trị, do 2 người Thái hậu nhiếp chính, Đông cung tức bà Từ An, Tây cung tức bà Từ Hy. Sau đó Từ Hy tìm cách vu khống Từ An, loại bà này, nắm toàn quyền nhiếp chính. Từ đây, nước Tàu đời nhà Thanh quả đi vào thời kỳ diệt vong : không những ngoại loạn, mà còn nội ưu. Sau vua Đồng Trị là vua Quang Tự, người cháu, con người em gái của bà, nhưng bà Từ Hy vẫn toàn quyền nhiếp chính. Ông vua này đã chống đối bà, chủ trương cải cách mạnh cùng với một số trí thức cải cách lúc bấy giờ, như Khang hữu Vi, Lương khải Siêu, cùng một người thầy của vua Quang Tự, ông Đồng Hòa, quyết định biến pháp, năm 1898 : ban hành hiến pháp và nhiều luật lệ mới, để canh tân nước Tàu theo gương nước Nhật và nước Nga. Tuy nhiên cuộc biến pháp này chỉ kéo dài 100 ngày rồi bà Từ Hy trở lại dẹp tan, mặc dầu vậy vua Quang tự vẫn ngồi vì cho tới khi chết năm 1908, rồi bà chết theo. Vua Phổ Nghi lên, ba năm sau, thì có cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911, chấm dứt triều đại nhà Thành.

Cuối đời nhà Thanh, với bà Từ Hy và phe Triều đình bảo thủ, cũng cố dựng lên những bức tường để ngăn chặn tư tưởng tự do từ bên ngoài, nhưng phòng tuyến đã bị chọc thủng qua nhân vật vua Quang Tự, ngay trong triều, để đi đến chỗ xụp đổ.

Chúng ta thấy 2 chính sách bế quan tỏa cảng của 2 triều đại cuối, nhà Minh, nhà Thanh đều thất bại, hoặc vì nội loạn ngoại ưu, hay ngoại loạn nội ưu.

Thời suy thoái và thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản Tàu

Trở về với nước Tàu hiện nay có người hỏi đâu là thời suy thoái và đâu là thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản ?

Đây là câu hỏi khó trả lời vì chế độ cộng sản chưa chấm dứt. Tuy nhiên một cách ước đoán, chúng ta có thể nói:

Thời kỳ suy thoái của chế độ cộng sản bắt đầu từ năm 1989 tới 2014, với sự đàn áp dân, sinh viên và học sinh bằng xe tăng và súng. Chắc chắn có nhiều người khó chấp nhận với nhận định này vì nhìn vào bề ngoài và thực tế thì nền kinh tế Tàu trong giai đoạn này đã tăng trưởng một cách dài hạn và vượt bực, đã đưa tổng sản lượng quốc gia của nước Tầu lên hàng nhất nhì thế giới. Nhưng theo như câu nói của Chu Dung Cơ, cựu thủ tướng dưới thời Giang Trạch Dân, thì nước Tàu chỉ là anh khổng lồ có đôi chân bằng đất sét. Sau biến cố Thiên an môn, những thành tựu ban đầu do chính sách tương đối cởi mở về tư tưởng và chính trị dưới thời Hồ diệu Bang và Triệu tử Dương, nhằm đưa nước Tàu trên con đường phát triển ổn định và quân bình đã bị hủy bỏ và hoàn toàn đi ngược lại. Vì vậy, mặc dù nước Tàu đạt được một số thành quả ngoạn mục về kinh tế qua chính sách « Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa «, nói nôm na dễ hiểu là chính sách kinh tế tư bản rừng rú kiểu mèo trắng mèo đen của Đặng tiểu Bình, kiếm tiền, làm giầu bằng mọi cách, bất chấp thủ đoạn và hậu quả. Đằng sau những cao ốc chọc trời, xa lộ thêng thang, xe lửa cao tốc là những bất công chồng chất trong một xã hội bất ổn, vô đạo đức, vô nhân tâm, người người giết nhau như bầy thú chỉ vì chút ít tiền hay tranh giành địa vị. Ngoài ra những vấn nạn: mâu thuẫn chủng tộc, Tạng, Hồi, Mông, Mãn, Hán, ô nhiễm môi trường, thay đổi khí hậu, thực phẩm độc hại đang giết hại lần mòn hàng tỷ dân Tàu. Đúng như lời ông François Mittérand, Tổng thống Pháp lúc bấy giờ, đã bình luận về vụ đàn áp Thiên an môn 1989:« Một chính quyền dùng súng bắn vào dân, học sinh, sinh viên là một chính quyền dùng súng bắn vào tương lai của mình. » Ngọn lửa Thiên an Môn vẫn âm ỉ cháy trong lòng người dân, trong tâm khảm của hàng triệu thanh thiếu niên, trong lòng của nhửng người mẹ, người cha, chỉ chờ một biến cố nhỏ là có thể bùng cháy kết thúc một chế độ gian xảo, cực ác trong lịch sử nhân loại.

Thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản bắt đầu từ năm 2014, khi xẩy ra vụ Bạc Hy Lai, bị bắt và bị đưa ra tòa, bề ngoài là vì tham nhũng, nhưng theo tin tức đáng tin cậy, thì là âm mưu đảo chính Tập cận Bình, rồi liền sau đó có những vụ ám sát nhưng không thành, khiến cho Từ tài Hậu, nhân vật thứ nhì trong Quân Ủy hội, cùng một số tướng lãnh bị khai trừ khỏi Đảng. Rồi Chu vĩnh Khang, nhân vật thứ ba trong Đảng, bị tuyên bố điều tra.

Nhưng thời kỳ diệt vong này kéo dài bao lâu, người ta chưa thể biết.

Cần lưu ý một điều là chế độ cộng sản, khác với 2 chế độ vừa kể, không chủ trương chính sách bế quan tỏa cảng lúc ban đầu từ năm 1949, khi họ cướp được chính quyền, mà phải nói là từ ngày thành lập năm 1921, đảng cộng sản Tàu đã chủ trương mở cửa, đón nhận những tư tưởng nước ngoài. Nhưng có một điều không may mắn, đáng buồn cho dân tộc và nước Tàu, đó là giới lãnh đạo này chưa đủ trình độ trí thức để biết rõ đâu là cái hay cái đở của văn hóa, văn minh đông phương, đâu là cái hay cái dở của văn hóa, văn minh tây phương, vội vứt bỏ toàn bộ văn hóa đông phương, kiểu như Mao trạch Đông tuyên bố: « Khổng tử là con chó giữ nhà cho bọn phong kiến «, vội nhập cảng lý thuyết Marx, Lenin, cặn bã của văn hóa tây phương.

Giới sĩ phu, trí thức cộng sản Tàu và Việt Nam nên suy ngẫm điều này! (1)

Trở về chính sách cải cách của Tập cận Bình, được che dấu dưới những mỹ từ, nào là chống tham nhũng, lấy lại niềm tin của dân, thực hiện giấc mơ Trung quốc; nhưng bản chất thực là sự đấm đá nội bộ, tranh quyền, trở về chính sách bế quan tỏa cảng, kiểm soát những nhà đối lập mạnh mẽ hơn, cấm dân phát biểu tự do, kiểm sóat dân truy cập Internet v.v…, đây cũng là bắt đầu thời kỳ diệt vong của chế độ cộng sản, như một số người đưa ra giả thuyết này.

Nhưng đâu là chỉ dấu của sự diệt vong ?

Chỉ dấu đầu là sự thanh trừng nội bộ một sống một còn, khi Tập cận Bình tuyên bố: « Tôi không màng đến sự sống chết, tôi không lưu tâm đến việc tiếng tăm của tôi còn hay mất, tôi quyết tâm chống tham nhũng. »

Chỉ dấu thứ nhì là sự nổi dậy của dân Hồng kông. Tất nhiên Hồng Kông không đòi độc lập, nhưng sớm muộn, dân Hồng Kông sẽ đòi tự do, dân chủ, dân cử và dân bầu, chứ không phải là đảng cử dân bầu. Một khi ước vọng này được thực hiện, thì nó sẽ là một vết dầu loang, loang ra những vùng lân cận, như Tây Tạng, Tân cương, Quảng Đông, Quảng tây và tới ngay cả Bắc Kinh.

Đến lúc đó, chế độ cộng sản còn đứng vững không ? Đảng cộng sản Tàu còn tồn tại không ?

Câu trả lời là chế độ cộng sản rất khó tồn tại và đứng vững. Nhưng đó cũng chỉ là dự đoán tương lai. Chúng ta phải kiên nhẫn chờ đợi.

                             Paris ngày 14/11/2 014

                       Chu chi Nam và Vũ văn Lâm

 

Putin – Tập Cận Bình : Cặp bài trùng cùng ý hướng bành trướng – RFI

9 Th11

 

mediaTổng thống Nga Vladimir Putin và chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình trpng lần gặp tại Bắc Kinh 5/2014 – REUTERS /Carlos Barria
 

Nhân Hội nghị Thượng đỉnh APEC diễn ra tại Bắc Kinh trong hai ngày 10-11/11/2014 tới đây, một lần nữa, Tổng thống Nga Vladimir Putin và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ lại có một cuộc hội kiến song phương. Đây là cuộc gặp thứ 10 giữa hai người, một kỷ lục hiếm hoi, cho thấy là giữa Matxcơva và Bắc Kinh, hiện đang có một sự tương đồng chiến lược rất lớn, trong đó đáng ngại nhất là ý hướng bành trướng, bất chấp chủ quyền của các láng giềng.

Theo một bài phân tích của hãng tin Pháp AFP vào hôm nay (08/11/2014), điểm chung giữa hai người đang lãnh đạo Trung Quốc và Liên Bang Nga rất nhiều, từ xu hướng cai trị độc đoán, coi nhẹ nhân quyền, cho đến tâm lý chống phương Tây nói chung và Mỹ nói riêng. Đáng ngại hơn cả hai nhân vật này không che giấu ý hướng bành trướng thế lực của nước mình, bất kể chủ quyền của các nước khác. 

Theo các nhà quan sát, đà xích lại gần nhau giữa Matxcơva và Bắc Kinh trong thời gian gần đây đã tăng tốc hẳn lên, sau khi hố ngăn cách Nga với các nước phương Tây ngày càng sâu rộng. 

Khi đơn phương sáp nhập vùng Crimée của Ukraina vào lãnh thổ của mình, rồi sau đó công khai hỗ trợ phiến quân ly khai tại miền đông của nước láng giềng, chế độ Putin đã khiến cho Hoa Kỳ và các nước Liên Hiệp Châu Âu phẫn nộ, và ban hành các biện pháp trừng phạt. 

Trái ngược hẳn với phương Tây, Bắc Kinh thì hoàn toàn không phản ứng, thậm chí còn lẳng lặng giúp Matxcơva giảm nhẹ tác động của cấm vận đến từ Liên Hiệp Châu Âu hay Hoa Kỳ. 

Thái độ của Trung Quốc rất dễ hiểu : Trong vùng Châu Á, Bắc Kinh cũng gây mâu thuẫn với các nước láng giềng, công khai biểu hiện tham vọng bành trướng trên biển : Đòi hỏi chủ quyền trên hầu như toàn bộ Biển Đông, tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư trên biển Hoa Đông đang do Nhật Bản quản lý. Trên đất liền, Trung Quốc cũng không ngần ngại tranh chấp với Ấn Độ chủ quyền trên một số vùng lãnh thổ dọc theo biên giới hai nước. 

Hành động của Trung Quốc, đặc biệt tại Biển Đông và biển Hoa Đông đã bị Hoa Kỳ chỉ trích, và Washington đã lên tiếng gián tiếp hậu thuẫn cho các láng giềng của Trung Quốc khi kêu gọi tôn trọng luật pháp quốc tế, tôn trọng quyền tự do hàng không và hàng hải, không được dùng các biện pháp hù dọa, bức hiếp để giải quyết tranh chấp lãnh thổ. 

Ý hướng bành trướng của Trung Quốc và Nga đã đặc biệt rõ nét từ ngày cả hai ông Tập Cận Bình và Vladimir Putin lên cầm quyền. 

Chuyên gia Vladimir Evsseïev, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Xã hội-Chính trị (độc lập) và khoa học thuộc Trung tâm An ninh Quốc tế ghi nhận : « Giữa Putin và Tập Cận Bình có một sự tương đồng quan điểm rất lớn, dựa trên một số cơ sở : ông Tập Cận Bình xuất thân từ giới thân cận với các tập đoàn công nghiệp quốc phòng, một con người quen thuộc với các định chế dùng sức mạnh (Nội vụ, Quốc phòng và Tình báo…) hơn là người tiền nhiệm Hồ Cẩm Đào. Tổng thống Nga Putin hiểu đồng nhiệm Trung Quốc hơn vì quan điểm của họ giống hệt nhau. Tập Cận Bình là người sẵn sàng đi đến đối đầu nếu cần thiết, và điều này rất được Putin tán đồng ».

 

 

%d bloggers like this: