Tag Archives: thơ

THANKSGIVING DAY

27 Th11

 

THANKSGIVING DAY

Ngày trôi
Dấu ấn đời đọng lại
Vết cặn trong lòng
Ray rức nỗi nhớ thương

Người là đức cha
là nghĩa mẹ
Là tình em
Là biển trời dập dềnh con sóng bạc
Bồng bềnh reo ru ngọt khúc yêu nồng

Làm dấu Thánh
Lạy chúa ba ngôi

Chắp tay niệm ngàn phương
Đất trời
Thánh Thần Tiên Phật

Tạ ơn đời
Tạ ơn người
Tạ ơn cả những yêu ma.

NH
Thanksgiving day 2016

Hoa tàn, mưa tạnh, non yên lặng…(Về hiện tượng thơ Hoàng Quang Thuận) – VHNA

24 Th8

Hoa tàn, mưa tạnh, non yên lặng…(Về hiện tượng thơ Hoàng Quang Thuận)

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Hiện tượng thiên tài thơ, siêu việt thơ, thần thánh thơ… của GSTS Hoàng Quang Thuận – Viện trưởng Viện Công nghệ Viễn thông Việt Nam – qua hai tập “Thi vân Yên Tử”“Ngọa Vân Yên Tử” mà tạp chí Nhà văn Việt Nam vừa tổ chức hội thảo với những bài tụng ca vi vút tận trời xanh, xem như “dòng thơ Thiền non thiêng Yên Tử” và người ta đã gởi đi dự giải Nobel văn học, người ta đã tặng cho đất Phật Yên Tử cuốn sách độc bản với kích thước 125cm x 80cm x 16cm nặng 120 ký đạt kỷ lục châu Á; lại nghe tin hành lang là người còn dự định cho khắc chạm “thơ Thiền này” khắp núi non Yên Tử nữa!

Hiện tượng ấy như là một cái gì cần phải “chau mày suy nghĩ” đối với nền văn học nước nhà, nhất là văn học Phật giáo. Người ta muốn quảng cáo như thế nào, đạt được kỳ vọng gì là quyền của người ta, nhưng ca tụng thái quá hai tập thơ ấy như là “thơ Thiền non thiêng Yên Tử” là một cái gì thiếu nghiêm túc, thiếu cẩn trọng cần phải được báo động:

– Thơ của Hoàng Quang Thuận có phải là “thơ thiền”  hay không?

– Một người Phật tử hay là một người mộ Phật, cảm xúc về Yên Tử có thể làm được “thơ thiền” chăng?

– Thơ “nhập đồng” hay là kiểu mượn bút viện cớ là của tiền nhân có phải là tinh thần Phật giáo không?

– Làm thơ mà “đạo văn” của người khác – dù bạn bè đã gắng gượng đính chính chỉ là “mượn văn” – cái tâm ấy có thể sáng tác ra “thơ thiền” được chăng?

Hỏi, dường như đã có câu trả lời. Một người Phật tử bình thường cũng cảm nhận, cũng ý thức được đấy là chuyện “không thể”. Thế nhưng, tại sao, thiên hạ chẳng thấy đó là chuyện “không thể”, lại làm một trò đùa hơi quá đáng để “tụng ca, tán thán ca” bằng một bè hợp xướng, một giàn đồng ca ”tươi vui xôm trò” như thế?

Cái hiện tượng thơ Thiền ấy tạo nên một cao trào “rôm rả” mà ta có thể tóm lược như sau:

– Hai tập thơ đã được in và tái bản bốn lần bằng tiếng Việt và cùng ba thứ chữ Việt-Pháp-Anh với số lượng in lên đến 25.000 bản. Và người ta đã làm đầy đủ hồ sơ hai tập thơ và dịch ra tiếng Anh gửi tham dự giải Nobel văn học.

– Có một vị giáo sư mê say ngồi dịch nó mặc dù tuổi cao sức yếu vì không thể cưỡng lại “chất Thiền” ở trong đó.

– Có một ngài nguyên Tổng giám đốc đài nghe nhìn, đọc thơ của ông Thuận đã cảm hứng thốt lên bằng một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt tuy không đúng niêm luật, lại tán thơm: “Tôi tưởng theo anh thăm Yên Tử/ Nào ngờ lạc bước chốn thi vân/ Hoàng Quang cửa Phật soi câu chữ/ Thuận dòng rửa sạch chốn bụi trần”.

– Đến nay hiện đã có hàng chục tờ báo ở trung ương và địa phương, từ báo Nhân Dân, Hà Nội mới, Sài Gòn Giải phóng đến các báo Hạ Long, Quảng Ninh, Thể thao – Văn hóa… đều đã có bài đăng tải về “hiện tượng thơ Hoàng Quang Thuận. Thậm chí có người “cho lên mây xanh” nhưng dựa trên nền thực trạng bát nháo thơ Việt hôm nay: “Giữa thời buổi thơ in ra nhan nhản, chủ yếu xoay quanh đề tài tình yêu hoặc co vào suy tưởng chiêm nghiệm cá nhân, đôi khi rối mù tắc tị… thì  Thi vân Yên Tử” Ngọa Vân Yên Tử như một áng mây lành, thoát tục, trong trẻo đến lạ lùng dắt người đọc vào chốn Bồng Lai, rũ bỏ bụi trần trở về với bản ngã thiện tâm trong mỗi con người…”

– Tập thơ đã có tiếng vang thật là “quốc tế”, có lẽ do không tiếc công quảng cáo, tiếp thị, “ưu thế quan hệ” và cả cái gì đó khó hiểu nữa – đến đổi Tổng Thống Pháp đã khen ngợi, Tổng Thống Mỹ gởi lời cảm ơn và hoàng cung Thụy Điển đánh giá là cao siêu và sâu sắc!

– Trước sự động viên cổ vũ của “giàn đồng ca”, ông Thuận đã tự mình – hay ai đó xúi giục – gửi hai tập thơ ấy đi tham dự giải Nobel văn học; và có người còn đẩy “giá trị thơ thiền” ấy đi quá xa, rằng là: “Được giải hay không chẳng quan trọng bằng việc hai tập thơ đã là sách gối đầu giường của nhiều bạn đọc hôm nay và mai sau, đặc biệt đối với những ai yêu thích dòng thơ Thiềnvới những trải nghiệm tâm linh cực kỳ thú vị”.

Còn nữa, chúng ta còn có duyên may mắn ngàn năm một thuở được nghe khúc hòa tấu vang vọng lên tận non thiêng Yên Tử, nó động đến, làm giật mình những hồn thơ cổ xưa, cổ kính của sơ tổ Trúc Lâm, tam tổ Huyền Quang và cả Nguyễn Trãi, Nguyễn Trung Ngạn nữa…

Để có thêm tư liệu dẫn chứng, tôi xin trích bài “Thi vân Yên Tử – tác phẩm và dư luận” của GD&TĐ Online đã đúc kết đại lược là: Sau Hội thảo “Hoàng Quang Thuận với Non thiêng Yên Tử” do Tạp chí Nhà văn Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 8/8/2012, có rất đông người yêu thơ phản hồi bày tỏ tình cảm quan tâm, trân trọng những vần thơ đẹp lạ, rất thanh khiết mà dung dị mang đậm chất Thiền. Đại diện cho Hội Nhà văn, ông Hữu Thỉnh nói rằng: “Thơ anh – Hoàng Quang Thuận – là một bức tranh tôn giáo trầm mặc mà sống động, thanh khiết mà run rẩy!”

Những ai quan tâm đến nội dung buổi hội thảo mà GD&TĐ đề cập để biết cái “thanh khiết mà run rẩy” của Hữu Thỉnh muốn nói là cái gì – thì có thể đọc bài của ông:  Một hồn thơ sau những bức tranh tôn giáo”. Tiếp theo, những ai muốn nghe những “vần thơ đẹp lạ, rất thanh khiết mà dung dị mạng đậm chất Thiền” ấy ra sao thì cứ nhờ chú Google dẫn đường để xem thêm một số bài khác:

– Lạc đạo tùy duyên cùng Thi Vân Yên Tử (Đỗ Ngọc Yên). Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử (Hữu Việt). Cảm hứng thiền trong thơ Hoàng Quang Thuận (Ngô Hương Giang). Dấu tích vua Phật Trần Nhân Tông ở Yên Tử trong lòng thi nhân (Đặng Hiến). Vẻ đẹp cõi Phật trong Thi Vân Yên Tử của Hoàng Quang Thuận (Nguyễn Toàn Thắng). Cảm thức tâm linh trong thơ Hoàng Quang Thuận (Dương Kỳ Anh). Thiền vị trong Thi vân  Yên Tử  của Hoàng Quang Thuận (Trần Thị Thanh). Về Yên Tử đọc thơ Hoàng Quang Thuận (Đăng Lan). Cảnh vật trong cảm thức thiền tông (Phạm Quang Trung). Không gian “Thiền” trong Thi vân Yên Tử (TS. Hà Ngọc Hòa). Yên Tử qua thơ Hoàng Quang Thuận (Thu Phong). Chữ tâm trong Thi Vân Yên Tử (Mộc Lan). GS. Hoàng Quang Thuận: “Tiền nhân mượn bút tôi viết thơ ” (Dương Tử Thành). Có một nhà thơ danh sơn Yên Tử (Trần Nhuận Minh). Thi vân Yên Tử của Hoàng Quang Thuận – Một chân dung thơ –  Phật tính hiền truyền (Hoàng Trung Hiếu). Tình yêu đất nước và chất thiền Thi Vân Yên Tử (Thế Trung). Thi vân Yên Tử của tác giả Hoàng Quang Thuận như một hiện tượng văn học (PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn).

Tuy nhiên, có điều đáng mừng là không phải ai cũng chạy theo phong trào ca tụng ấy, quả thật đã có những người đã tỏ vẻ hoài nghi thiên tài thơ thiền ấy, họ đã biết đặt những vấn đề:

– Thi vân Yên Tử “nhập đồng” hay “đạo” thơ? (SGGP Online). Trong đó nhà văn Võ Thị Xuân Hòa: “Hội Nhà văn Việt Nam sẽ làm rõ nghi án ‘đạo’ thơ”. Còn nhà phê bình Nguyễn Hòa: “Liệu nó có đúng là thơ không và có đúng với những gì mà ông Thuận nói là thơ của tiền nhân không, vì theo đánh giá của tôi, đó chỉ là văn bản thơ hạng xoàng!”

“Thi vân Yên Tử” của Hoàng Quang Thuận có phải là thơ nhập đồng? của luật sư Nguyễn Minh Tâm. Trong đó, người viết đã rất trung thực phân tích và chứng minh rõ, thơ ấy không phải là thơ nhập đồng, cũng không phải tiền nhân mượn bút – mà chính Hoàng Quang Thuận đã lấy ý từ quyển sách “Chùa Yên Tử, lịch sử – truyền thuyết, di tích và danh thắng” của tác giả Trần Trương để “biên soạn lại thành thơ”.

“Hiện tượng thơ nhập đồng” hay là trò sao chép, lừa đảo? của Mai An đăng ở báo Dân Việt, trong đó tác giả nói trong ba đêm mà sáng tác 141 (sic) bài thơ và dự giải Nobel phải chăng là “giấc mơ quá cỡ”? Rồi Mai An trích câu nói của nhà thơ Trần Trương, hội Nhà văn VN: “Đây là một hành động lừa đảo…”

– Dấu hiệu đạo văn của “nhà thơ nhập đồng” – tác giả Nguyễn Việt Chiến đăng trong tạp chí Văn học và Ngôn ngữ.

“Hiện tượng thơ nhập đồng”: Sớm làm rõ “nghi án” đạo văn;“Ai tiếp tay cho nhà thơ nhập đồng Hoàng Quang Thuận dự giải Nobel” – Lê Tâm thực hiện. Trong đó tác giả bảo có nhiều người muốn biết ai viết giấy giới thiệu? Và nổi bật ý kiến: “Dự giải Nobel là một điều khôi hài”.

– Và mới đây là bài “Cái lưỡi… đa nhân cách và những phát ngôn” của Kỳ Duyên đăng tại Báo Mới.com – trong đó tác giả sau khi phê phán khá nặng nề … và viết lơ lửng “Xấu chàng, hổ… Tạp chí Nhà văn”, đã nói là ông Thuận phải trả giá đắt cho sự nông nổi của mình chỉ vì hai chữ lợi danh tai quái; ông muốn đạt tới “ngộ” nhưng có lẽ tục lụy còn quá nhiều, tham, sân si còn quá lớn nên “ngộ nhận” chăng? 

Có lẽ liệt kê như thế cũng tạm đầy đủ.  

Đầu tiên, tôi xin góp ý một cách đúng đắn và khách quan rằng, cả hai tập thơ của Hoàng Quang Thuận là loại thờ tả cảnh, tự sự, cổ tích, sử tích, huyền thoại vào loại bình thường. Tôi nói là bình thường – chớ không dám nói thẳng thừng như nhà phê bình Nguyễn Hòa gọi là “hạng xoàng!” Đối với tôi, nếu “được gọi là thơ” thì thơ Quang Thuận chưa phải là “thơ hay” vì nó thiếu “chất thơ”, tức là thiếu vắng ngôn ngữ nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật. “Chất thơ” thì nó không nằm nơi ý nghĩa bề mặt câu chữ của văn bản mà nó phải ở ngoài hoặc ở phía sau bề mặt câu chữ của văn bản. Cố gắng đọc vài chục bài thơ của ông, tôi đã thấy chán – vì nó “chẳng có thơ” và dĩ nhiên, đích thực là “chẳng có Thiền”! Tôi thấy đâu đó chỉ là sự lắp ghép ý tứ, câu chữ, lựa dáng, tìm vần… nhưng mà cũng chưa chỉnh, chưa “giỏi”  lắm!  Và ý nghĩa của nó chỉ có một, nó nằm “chết”, nằm “bất động” nơi bề mặt câu chữ của văn bản mà thôi. Ta hãy khảo sát một số bài:

1. “Cổ thụ vươn cao xòe tán rộng

Rừng già nóng lọt đốm hoa rơi

Dây leo chằng chịt vắt cành lá

Chìm rừng líu lót với hương trời”.

2. “Viên gạch Hoa Cúc đời nhà Trần

Phù điêu sư tử sứ hoa vân

Vẫn ba gốc đại ngày xưa ấy

Bao năm xa cách vẫn thấy gần”.

3.“ Từ bỏ ngôi vua để tu hành

Từ cái nhất thời, cái hữu danh.

Vĩnh hằng vô hạn, vua tìm đến

Yên Tử trường xuân hóa đất lành”.

4. “Vòng cung uốn lượn tựa mình rồng

Vươn mình thế núi hướng biển Đông

Ẩn sâu khúc lượn trong lòng đất

Đầu rồng ngoảnh lại hướng Thăng Long”.

5. “Dựng xây cung điện đế triều nghi.

Định đế xưng vương lập thành trì.

Đại Hoàng cổ Việt Trương Yên phủ.

Hào sâu núi hiểm bất khả tri”

Cả năm bài tứ tuyệt, nếu là tứ tuyệt nghiêm túc thời trung đại thì bài nào ở đây cũng thất niêm luật cả (những chữ gạch đáy, đổi trắc thành bằng, bằng thành trắc mới đúng); và ý nghĩa của nó chẳng khác gì thông tin của một văn bản điện tử, hiểu ngay, nắm bắt được ngay! Đây là loại “văn xuôi có vần!” Rất tầm thường! Mới tập làm thơ cũng làm được. Nếu ai đó nói là có tâm thì đúng vậy, nó chỉ có tâm! Nhưng ngay cái tâm ấy cũng chưa nắm bắt căn bản tư tưởng Phật học khi nói “vĩnh hằng và trường xuân” ở nơi bài 3 – vì “vĩnh hằng” là cõi của nước Chúa, còn “trường xuân” là cảnh giới luyện tinh thành khí để đạt “trường xuân bất lão” của Đạo gia! Còn về thơ tứ tuyêt như trên thì nhà phê bình Nguyên Hòa cười mỉm: “Dù tác giả làm nhiều bài thơ tứ tuyệt hoặc ghép hai bài tứ tuyệt thành một bài thất ngôn bát cú cho có dáng dấp Đường luật thì ngay cái việc cố gắng ép thơ vần cũng đã đưa lại ý tứ khôi hài…”

Đấy là chúng ta khảo sát về cái gọi là thơ thì thơ Quang Thuận chỉ là “văn xuôi có vần!”, chưa phải là thơ thứ thiệt! Còn về cái mà người ta gọi là “thơ Thiền” của Quang Thuận, thì hãy nghe nhà phê bình Nguyên Hòa nhắc nhở: “Xin chớ nghĩ hễ trong bài thơ có hình ảnh chùa chiền, non cao, bóng núi, cây đá, mây trời, trăng treo, tiếng hạc… là bài thơ có chất Thiền! Xin hãy hiểu rành rẽ về Thiền và thơ Thiền rồi hãy viết, kẻo lại rơi vào cảnh ngộ ‘vẽ rắn thêm chân’!” Nói vậy, rõ là ông Nguyên Hòa đã rất thận trọng “về Thiền và thơ Thiền”. Thận trọng là đúng. Tuy nhiên, nếu là tôi, là một tu sĩ có học Thiền, có tu Thiền và cả dạy Thiền, tôi sẽ mạo muội xin phép viết lại mệnh đề cuối như sau:“Xin hãy tu tập Thiền, chứng nghiệm Thiền, sống Thiền rồi hãy làm thơ Thiền, kẻo lại rơi vào cảnh ngộ ‘đầu thượng trước đầu, tuyết thượng gia sương’! (1)Vì vậy, hai tập thơ của Quang Thuận viết về Yên Tử mà được mọi người gọi là thơ Thiền thì quả là hơi nóng vội, có cái gì đó thiếu chân xác, cần phải đính chính lại.

Tại sao tôi lại dám nói vậy? Vì thật sự là thơ Thiền thì phải được cảm hứng từ trực giác tâm linh của những Thiền sư đạt ngộ, của những hành giả đã từng miên mật công phu định tuệ (2) trên non cao, động thẳm, trong những tu viện xa vắng, tịch liêu. Các vị ấy đã nhảy qua hố thẳm phạm trù của lý-trí-thức-tri-nhị-nguyên-sai-biệt, đã giải quyết trọn vẹn “tử sinh đại sự”, đã cất tiếng cười lạnh giá cả sao Ngưu, sao Đẩu, đã cởi bỏ tất thảy mọi xiềng xích buộc ràng của bản ngã với những mặt nạ hư dối, đã trang bị cho mình con mắt thứ ba của “tuệ nhãn” nhìn xuyên thủng hư vô bị che chắn dập dờn bởi khói sương mê lầm, vọng huyễn. Cuộc đời các vị ấy là một chân dung mô phạm khả kính. Họ có đời sống giới luật nghiêm túc, có đạo hạnh tôn quý, có tuệ giác khinh linh siêu thoát. Họ sống thiền trong từng hơi thở, từng sát-na nên mới có thẩm quyền về thiền, nói về thiền, mới có thể “thở ra thơ thiền” được. Còn tác giả của những tập thơ Yên Tử này là ai? Một Phật tử hay đơn thuần chỉ là một người mộ Phật? Hoặc chỉ là một người kính yêu non thiêng Yên Tử? Là một con người bình thường có gia đình vợ con? Một cư sĩ trí thức hay một vị quan đang “đại ẩn” tại triều trung? Và nếu gồm tất thảy những con người ấy, với những “hành trạng” như thế thì người ta chỉ có thể làm thơ tức cảnh, tức tình, về tự sự, về cổ tích, về danh thắng hay về huyền thoại… nhưng thơ ấy không thể gọi là thơ thiền! Tôi nghe biết tác giả là một GSTS, một viện trưởng, một nhà khoa học; tuy nhiên, cho dẫu một trí thức uyên bác cũng không thể nào với tới thế giới tâm linh trực giác, là lãnh địa ở ngoài mọi kiến thức và trí năng? Có thể nào trí thức bác học hiện nay trên thế giới ai cũng có thể liễu giác, chứng nghiệm thiền, sống thiền trong một vài sát-na tư duy đốn ngộ và có thể làm được thơ thiền cả thảy? Điều này là bất khả. Điều này là vẽ lông cho rùa, chắp thừng cho thỏ.

Còn nữa. Còn một chuyện nữa. Như người ta nói, và chính tác giả cũng có nói là mình làm trong ba đêm liền tập “Thi vân Yên Tử” gồm 143 bài trong trạng thái như “nhập đồng’, do tiền nhân mượn bút nên khó lý giải được. Đầu tiên, xin được đính chính, là cái kiểu “nhập đồng, mượn bút” kia không phải là tinh thần của nhà Phật chánh tông, nó hơi “tà” rồi đấy! Có người lại suy luận, có lẽ do nhập định sâu mới làm thế được. Xin thưa, “nhập định sâu” (3) thật sự thì phải đóng hết cả sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý); trong trạng thái ấy, hành giả đâu có thể khởi tư duy mà làm thơ được?! Hàng ngàn người tu thiền định thứ thiệt họ biết rõ điều đó; nói chuyên môn một chút là phải xuống “cận hành định” mới khởi “tầm và tứ” tức là khởi ý niệm và suy nghĩ được! Riêng chuyện nhập thần, mượn bút thì có thể có – nhưng “tiền nhân” này là ai? Tiền nhân này sao lại có đọc quyển sách “ Chùa Yên Tử, lịch sử, truyền thuyết, di tích và danh thắng” của tác giả Trần Trương? Cứ dựa theo sách của người ta, đổi văn xuôi thành văn vần để biến ra cái gọi là thơ thiền? Tiền nhân này sao lại “mượn văn” của tác giả đang sống hiện nay một cách vô ngại thời gian như thế? Và nếu có thật chuyện đó thì tiền nhân này không phải là Phật, là thần, là Trần Nhân Tông, là các vị thiền sư, là các đại bút danh sĩ rồi! Tại sao? Vì Phật thần thì không có cái tâm xiêng xẹo, cong vênh như thế! Và nếu là các tác gia thời trung đại thì “đại bút” của các vị ấy đã rơi xuống “tiểu bút” rồi, thi hương cũng không đỗ đâu! Còn nếu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, các vị thiền sư giáng bút thì sao thơ quý ngài lại “xuống cấp” đến vậy, “tầm thường thơ” đến vậy, chẳng có tuệ, có thiền, có trao truyền mật chỉ tâm ấn gì cả?! Tiền nhân này là ai vậy? (4) Chúng ta phải tìm cho ra cái khuôn mặt của ông ta – để giải bớt cái oan khuất cho tất thảy thiền sư, danh sĩ thời Lý, Trần mà văn học sử thường xem như đấy là thời đại đỉnh cao của văn học, là cái “nôi” hàm tàng mọi giá trị mỹ học, thiền học cũng như tinh túy văn hóa bản sắc của cha ông. Tiền nhân nhập bút ấy là ai mà Nguyễn Hòa đã than: Nếu thực sự “tiền nhân mượn bút” của Hoàng Quang Thuận để “viết thơ” thì xem ra thơ của “tiền nhân” đã sa sút đến mức thê thảm… Với các bài thơ chưa đúng niêm luật … mà được gọi là “nghệ thuật Đường thi trác việt” thì đúng là hết thuốc chữa!

Quả đúng là hết thuốc chữa!

“trăm năm duyên kiếp” như thế này mà cũng là thiền sao:

“- Trăm năm duyên kiếp còn lưu lại

Lối cũ đường xưa ngập cỏ cây”.

Và đây cũng gọi là thơ, là thiền sao:

“- Ba tên kẻ cướp nhảy chặn đường

Vua Trần cho bạc lẫn phần cơm

Nhẹ nhàng thuyết giáo trừ tâm độc

Cả ba quỳ lạy hứa hoàn lương!”

Và đây nữa:

“- Hoa kinh thành của Đế vương

 Mây bay phủ núi luỵ biên cương

Hoàng Long dậy sóng ngàn năm ngủ

Long Mã truy phong thượng đạo đường”.

Bài nào cũng thất niêm luật, không những không phải thơ, không phải thơ thiền mà còn không hiểu tác giá đưa thông tin “bí mật” gì ở nơi chỗ “lụy biên cương” và cái “thượng đạo đường”?

Vậy là quá đủ.

Xin chư vị thức giả thẩm định cái gọi là “tiền nhân nhập thần mượn bút” ấy cho!

Tôi không tu Thiền theo thiền phái Trúc Lâm, không phải là đệ tử, thân hữu, cũng không quen biết các ngài, các Sư, Ni ở trong tông môn đó. Tôi thuộc Theravāda, chỉ là một tu sĩ yêu thơ, có nghiên cứu thơ văn của Trúc Lâm tam tổ và các danh sĩ làm thơ có ảnh hưởng thiền thời Lý, Trần. Thơ, thơ thiền, thơ có tư tưởng thiền và thơ có liên hệ đến non thiêng Yên Tử của các vị ấy, vào thời trung đại ấy… tôi nghẹn chữ, không biết nóí sao. Tôi chỉ muốn ví von – dù biết ví von nào cũng khập khễnh – là nó như là hạt tuyết trắng trinh tuyền trên non cao. Nó là đóa hoa tinh khôi, diệu vợi u hương trên đầu núi. Mà bút khí, bút lực, bút trí, bút tâm của thế gian là bút của chợ triền, ở dưới này, thường không vói tới! Nó khác, nó rất khác, nó khác xa so với tất cả thơ mạo nhận là thơ thiền hiện nay. Tảng đá tịnh định, trầm mặc trong vườn thiền hôm kia cũng toát mồ hôi. Lau cỏ quê mùa dân dã, an nhiên sáng nay bên hiên chùa cũng run lẩy bẩy. Hiện tượng phẩm bình hơi quá bút về thơ thiền của Hoàng Quang Thuận làm cho “đá cỏ trong vườn thiền” cũng phải lên tiếng đính chính một vài chỗ cần thiết. Tuy nhiên, thật may mắn thay cho Phật giáo chúng ta, và cả cho những ai yêu non thiêng Yên Tử cùng cốt cách “cam lộ lưu phương (5) của Hương Vân đầu-đà – là các nhà học giả nghiêm túc, các nhà nghiên cứu có đạo đức tri thức đã đồng loạt phản bác, phê phán nghiêm khắc, đã nhìn ra “chân tướng”, đã chỉ ra cái “bản lai diện mục” của cái trò chơi hơi “quá đà” kia rồi! Chỉ một chút xíu “quá đà” thôi, chớ không nên nói khá nặng lời như ai đó đã xem như là một hiện tượng vĩ cuồng!  

Để kết luận, tôi xin chép ra đây bài thất ngôn tứ tuyệt “Sơn phòng mạn hứng” có niêm, đối, vần, luật chỉnh chu của thiền sư thi sĩ Trần Nhân Tông:

“ Thị phi niệm trục triêu hoa lạc

Danh lợi, tâm tùy dạ vũ hàn

Hoa tận, vũ tình, sơn tịch tịch

Nhất thanh đề điểu, hựu xuân tàn”.

Tạm dịch:

“- Phải, trái niệm rơi hoa rạng sớm  

Lợi danh lòng lạnh mưa thâm đêm

Hoa tàn, mưa tạnh,  non yên lặng

Còn tiễn xuân tàn, một tiếng chim!”

Hy vọng rằng, những hiện tượng phù du như vậy rồi sẽ qua đi. Chuyện phải, chuyện trái nó rơi theo hoa buổi sớm rơi. Cái tâm về lợi danh nó lạnh ngắt giống như trận mưa lạnh ngắt đêm rồi! Và ngay cái rơi, cái lạnh ấy cũng không còn nữa, nó rụng, nó tạnh hết rồi, chỉ còn lại non yên lặng mà thôi. Và ở nơi cái “thực tại non yên lặng” ấy, một tiếng chim vừa hót lên…Cũng vậy, cái gì không phải thơ, không phải thiền thì nó sẽ rơi, sẽ rụng đi – nhưng sự an tĩnh và thanh khiết của hồn thơ, hồn thiền non thiêng Yên Tử sẽ còn mãi với thời gian. Mong vậy thay!

 Am Mây Tía 20/8/2012

Chú thích:

(1) Trên cái đầu, chồng thêm cái đầu, trên tuyết lại phủ thêm sương – tức là ý niệm chồng thêm ý niệm, che lấp cái thực!

(2) Định (Samādhi), Tuệ (Vipassanā).

(3)Tối thiểu phải sơ thiền trong bốn tầng (jhāna) thiền.

(4)Theo nhà Phật, một người tu Phật có chánh kiến, không bao giờ tin việc nhập thần, giáng bút ấy là của thánh thần tiên Phật; nếu có, chúng chỉ là ma quỷ (ngạ quỷ, dạ-xoa, a-tu-la) mà thôi. Tin ba cái chuyện mê mê hoặc hoặc ấy là tà kiến. Vậy, nếu có, thì “tiền nhân mượn bút” ấy chỉ là ma quỷ.

(5) Móc ngọt chảy mùi thơm.

Thơ, văn, con người và thời cuộc Phùng Cung – VHNA

29 Th7
Chủ nhật, 29 Tháng 7 2012 06:40
Đỗ Quyên

Tản Đà – Thi nhân số 1 của nước Nam trong thế kỷ trước – từng viết “Có văn có ích có văn chơi”. Với Phùng Cung, nhất định không phải là “văn chơi” rồi; Nhưng “có ích” tới mức nào thì phải nói rằng cho đến tận hôm nay, chúng ta vẫn có thể còn chưa thấu nổi? […]

Từ khi truyện ngắn Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh ra đời trong báo Nhân Văn số 4, tháng 10/1956, tên tuổi và văn nghiệp – vinh cùng nhục – của Phùng Cung đã khăng khít với nó. Khiến giới độc giả thưởng lãm văn chương cũng như giới quản lý muốn định hướng văn chương, dường như đều coi Phùng Cung chỉ là con-ngựa-già mà thôi. Điều đó không sai, nhưng hoàn toàn chưa đủ.

Hơn 15 năm qua, ở trong và ngoài nước, đã có nhiều cố gắng cần thiết trong việc “giải mã hồ sơ” Nhân văn Giai phẩm. […]Nhờ thế, tên tuổi Phùng Cung cùng với thơ, văn của ông cũng được dự phần soi sáng.

Bài này mong có một cái nhìn nhanh, vừa bao quát vừa cụ thể, về các sáng tác văn thơ của Phùng Cung, qua trích dẫn một số bài vở phần lớn từ các tác giả ở ngoài nước, tính đến tháng 1/2008. Nhân dịp lần đầu tiên có cuộc tọa đàm thơ Phùng Cung vào ngày 28/6 vừa qua tại Hà Nội và tập thơ Xem Đêm được in lại (Nxb Hội Nhà văn & Nhã Nam), người viết đã tu chỉnh, cập nhật một số đường dẫn tin, bài quan trọng khác.

I. Con người thời cuộc của Phùng Cung

Trước hết, hãy theo cùng lời kể của anh Phùng Hà Phủ, con trai của nhà thơ Phùng Cung:

Nhà thơ Phùng Cung sinh ngày 18 tháng 7 năm 1928 (Mậu Thìn) tại Kim Lân, Hồng Châu, Yên Lạc, Vĩnh Yên. Là con trưởng của một gia đình đông con và giàu có. (…) Khi lên chiến khu, bố tôi (…) làm công tác văn nghệ, cùng sống và làm việc với các ông Ngô Tất Tố, Phan Khôi, Nguyễn Tuân, Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài… cho đến khi hòa bình lập lại (1954) thì cùng với cơ quan Hội văn nghệ về tiếp quản thủ đô Hà Nội. (…) Ông nội tôi rất lo lắng vì gia đình sợ đang bị quy là thành phần địa chủ cường hào. (…) Trong một lần kết hợp đi công tác, bố tôi có tìm lên thăm và những mong gặp mặt để tiếp tế cho cụ. Nhưng tới nơi thì được một người bạn tù già cùng lán với cụ, chưa kịp nói câu nào vội vã dẫn bố lên khu đồi trọc phía sau trại giam và chỉ cho bố lùm đất mà ngọn sắn làm dấu mới héo lá. Quá bất ngờ trước cái chết của cụ, bố tôi quay ngay về Hà Nội, bố rất buồn, suy nghĩ nhiều và tránh mọi sự tiếp xúc với bên ngoài.

Năm 1956 (…) Ông Nguyễn Hữu Đang đến gặp và bảo bố tôi tham gia viết bài. Truyện Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh đăng trên báo Nhân Văn ngay sau đó. (…) Cũng khoảng thời gian này, bố tôi bị đình chỉ công tác để làm kiểm thảo. (…) Sau khi khám nhà và tịch thu toàn bộ sách vở, tài liệu, bố tôi bị đưa ngay vào giam ở nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội). Đó là tháng 5 năm 1961. Kể từ ngày đó mãi cho đến thời gian chuẩn bị ký hiệp định Paris (1973), tức là 12 năm sau, bố tôi mới được tha về nhà. (…) Nhớ lại theo bố tôi kể ‘khi xảy ra chuyện” (…) cảm tưởng đau xót và ngỡ ngàng nhất đối với bố tôi là những bạn thường ngày chơi thân với bố tôi như vậy đều tham gia vào việc ‘đấu tố’. (…)

Tập thơ Xem Đêm được in ra có phần cổ vũ, trợ giúp không nhỏ về tài chính của ông [Nguyễn Hữu] Đang và sự nhiệt tình của ông [Phùng] Quán. Ngoài ra cũng phải kể đến sự quý trọng và can thiệp trong khâu kiểm duyệt bài của nhà thơ Quang Huy, giám đốc nhà xuất bản đồng thời là người viết tựa cho cuốn sách này.”

(Trích lược bài Nhà thơ Phùng Cung, talawas.org 10/5/2004, trong sách Phùng Cung, truyện và thơ, Nxb Văn Nghệ, California, 2003)

Phùng Hà Phủ hoàn thành các dòng trên tại Hà Nội, vào ngày 9/5/1998 trong dịp giỗ đầu cha của mình, và tin giao cho bác sĩ Lâm Thu Vân ở Montréal vào năm 1999 khi anh tới đó tu nghiệp (Ít lâu sau, về nước anh đã qua đời!) Hồi năm 2002-2003, chúng tôi cũng có chút cơ duyên biết đến việc thu thập và biên soạn cuốn sách quý này đã khó nhọc mà kỳ diệu dường nào! Tập sách có 11 truyện ngắn được Phùng Cung viết trước ngày vào tù, trong thời kỳ bị đấu tố, và 35 bài thơ được sáng tác trong thời gian ở tù.

Nhà văn Lữ, một người bạn cũ của nhà thơ vì “không muốn anh Phùng Cung bị rơi vào quên lãng”, đã có bài ký Cây cau của Phùng Cung (talawas.org 11/9/2007):    

“Anh bạn tôi nói: ‘Tôi thường lên mạng đọc sách, cảm thấy dường như người ta đã quên nhà văn Phùng Cung.’ Đã lâu lắm, tôi không theo dõi văn học, tưởng lòng mình không còn quan tâm đến văn, thơ nữa. Bây giờ nghe anh bạn nói, thì gương mặt của anh Phùng Cung lại hiện ra trước mặt. Tôi hiểu, đây không phải là chuyện văn chương, mà là chuyện con người. Anh Phùng Cung, trong buổi nói chuyện với tôi, mấy tháng trước khi mất, là một con người cương nghị và đầy lòng nhân hậu. (…) Phải ngồi với anh, nghe anh kể chuyện tù đày, thì mới hiểu được phần nào hai chữ ‘bỏ qua’ anh vừa dùng. Anh nói: ‘Tôi sợ tù đày vô cùng.’ […]

Còn nhà báo Nguyễn Minh Cần đã nói như sau ở Lời giới thiệu mang tên Những hạt ngọc bày ra ánh sáng (shcd.de) của cuốn sách trong dịp tái bản năm 2004:

“(…) hồi đó, Phùng Cung đã đóng một vai thật khiêm tốn: anh chỉ góp vẻn vẹn một truyện ngắn Con Ngựa Già Của Chúa Trịnh (…) Sách “Phùng Cung, Truyện và Thơ Chưa Hề Xuất Bản”, do Nhà xuất bản Văn Nghệ ấn hành (…) là một sự kiện lớn đối với nền Văn học Nghệ thuật nước nhà. Người viết không nói ngoa khi dùng chữ ‘lớn’ để định tính cho sự kiện này. Vì, trong số tác phẩm chưa hề xuất bản của Phùng Cung sắp ra mắt bạn đọc, có lắm “hạt ngọc” hiếm thấy trong văn chương đương đại của nước ta..”

[…]

II. Thơ Phùng Cung

Tập thơ Xem Đêm (dcvonline.net 15/5/2005) gồm hơn 200 bài thơ lấy đối tượng thi ca là phong cảnh quê hương tù túng và tình cảm của người nông dân mộc mạc, được in ở Việt Nam ngay từ năm 1995. Nhà văn hóa Nguyễn Hữu Đang đã coi Xem Đêm là “tập thơ đáng trân trọng (…) trong đó có những bài đáng coi là kiệt tác”. Được dùng làm Lời giới thiệu cho tập thơ, Con người Phùng Cung và những bài thơ hay trong tập Xem Đêm (vannghe.free.fr) là một bài phê bình tận tình về phong cách, tận ý về học thuật của Nguyễn Hữu Đang lần đầu tiên cho văn giới thấy rằng, Phùng Cung xứng đáng là một thi sĩ độc đáo và xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại; ngay cả chưa cần đến cái danh Con ngựa già mà thời thế buộc vào ông. Bài này được bạn đọc ở ngoài nước biết đến nhiều; và vẻ như chưa được giới phê bình và dư luận yêu thơ ở Việt Nam chú ý thích đáng?

Với riêng chúng tôi, các bài thơ Bèo, Gặp thu, Mùa nước mắt, Cua đồng, Ðêm chợt nghe…đều có thể nằm trong tuyển chọn các bài thơ hay của thi ca Việt Nam.

Bài Bèo nổi tiếng nhất, như “tuyên ngôn sống” của thi sĩ:

Lênh đênh muôn dặm

nước non

Dạt vào ao cạn

Vẫn còn lênh đênh

Bởi đó là một trong các số mệnh nối dài từ Nguyễn Du:

Phận bèo bao quản nước sa

Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh. 

(Kiều; câu 2019-2020)

Nhà văn Nam Dao, […], đã viết:

“Lá súng lát mặt ao

đốm ngọc

Con sộp phàm vồ hão

Bóng hoa lay

Lá tre rụng

Nhuộm hoàng hôn đỏ gạch

Tiếng cuốc bèo da diết

Gọi Ngày Mai’

Đố con sộp là con gì? (…) Sộp: Sang, tỏ ra nhiều tiền và hào phóng. Khách sộp, Vớ được món sộp. Thế thì con sộp là cái quái gì? Từ điển im như hến. Vậy xin mách, sộp, danh từ, là một loại cá sống trong ao. Còn phàm. Dễ thôi. Con Mực phàm ăn vồ hão cục xương. Nhà thơ phàm danh vồ hão những con chữ trống trơn. (…) Đầu tiên, phải nể cái kho chữ Phùng Cung. Chữ thôn dã, nhưng anh nâng lên thành một vẻ đẹp hồn nhiên, chẳng khác cái duyên thầm không tô son điểm phấn, mà sao nét cười quanh vành nón cứ vấn víu lòng ai. (…) Quay lại cấu trúc thơ, dẫu câu có cắt ra 3 hay 4 chữ, ta vẫn dễ dàng nhận ra gốc gác Đường thi. Nhưng trong thơ Phùng Cung, ngôn ngữ và hình ảnh thuần ca dao, nâng cái đẹp chân quê lên mức hết sức trang trọng với mặt ao đốm ngọc, hoàng hôn đỏ gạch. Và không chỉ có cái đẹp hình thức, nhà thơ đột nhiên để tiếng cuốc bèo da diết gọi Ngày Mai nói thay cho lòng mình, tức là chuyển đi cái nội dung mà thơ hay văn, bất kể hình thức nào, cũng cần có để sống còn với thời gian. Anh Cung, tiếng cuốc trong thơ anh chắc cũng đau đáu cái nỗi đau con quốc quốc của Bà Huyện Thanh Quan. Nhưng chỗ tụ lửa trong tâm hồn anh, tôi đồ, vẫn là Ngày Mai anh viết hoa. Và anh vẫy gọi. Da diết gọi. Nhưng Ngày Mai ở đâu? Và bao giờ, hở anh? (…)

Đọc Xem Đêm, tôi nói với anh [Hoàng] Cầm, tôi chưa hề thấy Phùng Cung mang thù hận vào thơ. Anh buồn và xót xa. Nhưng anh vẫn nhân hậu. Anh vẫn trong trẻo. Thậm chí độ lượng. Anh Cầm giơ tay xoa mặt, mắt đờ đẫn nhìn vào khoảng không choãi về phía nơi quá khứ còn nương náu. ‘Nhưng có hoạn nạn’, anh Cầm cao giọng,’ thì Cung nó mới có thơ hay như vậy!’ Anh cười…”

Đoạn trên trích từ bài Phùng Cung, Thơ và người (amvc.free.fr) được viết vào năm 2004 để “Kính viếng Phùng Cung và Phùng Hà Phủ”.

Trong tuyển tập Phùng Cung, Truyện và Thơ Chưa Hề Xuất Bản có thêm tập thơ Trăng Ngục.  Đây là nhận xét của Nguyễn Minh Cần, cũng trong cuốn sách này:

Qua tập Trăng Ngục, bạn đọc nghe rõ tiếng khóc da diết của một con tim chan chứa tình yêu quê hương, đất nước, yêu dân tộc lầm than, xót xa trước bi kịch của quê hương. (…) Lời thơ Phùng Cung nhẹ nhàng, thanh thoát, trang nhã, ý nhị, sâu thẳm và giàu hình tượng, với những ngôn từ chắt lọc, sắc cạnh, đặt đúng nơi đúng chỗ, đem lại cho người yêu thơ nỗi xúc động bàng hoàng và nhiều khoái cảm đê mê. Bài Trăng Ngục – mà tác giả dùng làm nhan đề cho tập thơ – chỉ có hai mươi tám chữ, mà vô cùng xúc động. Bài thơ ghi lại một hoạt cảnh nhỏ của cuộc sống trong xà lim […]– giữa đêm khuya tĩnh mịch, ánh trăng lọt qua song sắt vào tận ngục thăm nhà thơ, lúc đó đang lơ mơ ngủ, bỗng anh chợt tỉnh và lặng người đi vì xúc động (…) Bài này, theo tôi, đáng coi là một tuyệt tác!

‘Trăng qua song sắt

Trăng thăm ngục

Bỗng ta chợt tỉnh – sững sờ

Trên vai áo tù

Trăng vá lụa

Ngày xưa ơi!

Xa mãi đến bao giờ.’

Còn có thể nói rất nhiều nữa về thơ Phùng Cung, nhưng thiết tưởng với chừng ấy cũng đủ để bạn đọc thấy chúng ta đang có trong tay những di sản quý báu của thi ca nước nhà. Chỉ riêng việc những vần thơ này được trân quý, bảo trọng còn lại cho đến ngày nay và tới tay bạn đọc đã là một điều kỳ diệu!”

Ngay từ năm 1996, nhà văn Lê Minh Hà đã nhận định trong bài Phùng Cung, đời người, đời chữ (talawas.org 23/7/2003) đăng lần đầu trên tạp chí Diễn Đàn (Paris):

“Trong gối vọng tiếng ru

Lắng tai mới rõ

Tiếng tóc mình chuyển bạc.’

(Ðêm chợt nghe)

Phùng Cung, ở mặt này của hiện thực, đã đạt tới độ sâu sắc chưa từng thấy trong thơ ca Việt Nam mấy chục năm đổ lại đây. Thơ ông nói rất giỏi, rất giản dị về cái nghèo, cái lam lũ, cái thanh sạch và cam chịu cho đến giờ vẫn thống trị nông thôn Việt Nam. Thật khó tìm trong diện mạo thơ hôm nay những nét thơ này nếu không phải là chỉ có ở một thơ Phùng Cung. Thơ Phùng Cung là thứ thơ kiệm chữ, phảng phất gợi nhớ Tanca, Haiku của Nhật. Thơ ấy buộc mỗi chữ phải ở thế thăng hoa. Xem Ðêm đạt tới độ ấy: tứ không lộ và chữ thì như nhập hồn. (…) Bằng phong cách đoạn tuyệt với nền thơ đương thời mà vẫn chất chứa cái hồn cốt của thơ Việt Nam muôn thuở, chắc chắn thơ Phùng Cung sẽ làm thiên hạ tốn không ít giấy mực và thời gian…”

III. Văn Phùng Cung

Thơ Phùng Cung là “người” Phùng Cung. Văn trong truyện ngắn và ký của ông còn hơn thế nữa. Nó quyện chặt đến mức không thể phân biệt đâu là con người cá nhân, đâu là con người trong thời cuộc bi tráng mà văn nghệ sĩ Việt Nam từng trải. Và khác với thơ có những bài tuyệt hay, có không ít bài chưa hay, còn hầu hết truyện ngắn Phùng Cung khá hài hòa, đạt mẫu mực giữa nghệ thuật ngôn từ và nội dung tư tưởng.

Không kể truyện ngắn Con ngựa già của chúa Trịnh đã trở thành biểu tượng, chúng tôi muốn minh họa ý trên bằng hai truyện khác: Mộ pháchVán cờ khai xuân..

Đây là đánh giá của Lữ trong bài đã dẫn:

Đối với tôi, truyện hay nhất, tài tình nhất của nhà văn Phùng Cung (…) là truyện ‘Mộ phách’. Trong truyện này, anh kể về một người con trai, con của một cặp vợ chồng nghệ sĩ, cố thuyết phục cha mẹ bỏ hẳn việc đàn phách. Anh nói: ‘Bố mẹ bình tĩnh nghĩ xem, việc làm lạc hậu ấy, nó kìm hãm bước tiến của con. Có lẽ đâu gia đình của một quân nhân cách mạng lại như vậy. Bố mẹ vẫn tự cùm mình trong thành phần tiểu tư sản nông thôn. […]Cuối cùng, vì thương con, người bố chấp nhận bỏ cây đàn đáy, nhưng không nỡ tự tay mình hủy hoại bảo vật đại diện cho nghề tổ vẫn thường được đặt trên bàn thờ. Người cha nói: ‘Thôi! Mày đập đi Thuyên ạ!’ Nhưng khi nghe tiếng cây đàn bị đập nát trước cửa bếp thì: ‘Ngoài sân, ông Chản bưng tai như nghe sét đánh, liêu xiêu bước ra ngõ – Bà Chản thoái dạ, ‘Ối!’ lên một tiếng – Trống ngực rộn rã như xẩy chân từ trên cao xuống, mắt hoa lên, mọi vật trước mắt quay cuồng, bà Chản phải chống hai tay xuống đất để giữ được thế ‘cóc vái giời’. Bà cố định thần để nhận biết việc xẩy ra đã xẩy ra. Bà cúi mặt khóc rấm rứt. Nước mắt đứt, nối, kéo dài cả một quá khứ tiêu tan trong giây lát. (…) Mong rằng những ai xem qua bài này, sẽ tìm đọc truyện ‘Mộ phách’”.

Nguyễn Minh Cần cũng cho rằng:

Truyện ngắn ‘Mộ phách’ là một trong những truyện hay. (…) Cái kết thúc bi thảm của cuộc đời bác phó Lâm hé cho người đọc thấy điều tác giả gởi gắm trong truyện là cái Tuyệt Mỹ, Lương tâm Nghề nghiệp, Nghệ thuật Chân chính khó mà tồn tại trong […] gian dối. Cả trong văn chương trào lộng, Phùng Cung cũng tỏ rõ tài nghệ của anh. Mũi nhọn châm biếm đâm thẳng vào bộ mặt giả dối […]Trong các truyện ngắn, văn chương trào phúng của Phùng Cung thật độc đáo, lắm lúc đề cập đến những đau thương của người dân bằng một giọng văn châm biếm, ngây ngô, làm người đọc phải vừa cười vừa trào nước mắt. (…) Đọc Phùng Cung, ta thấy rõ anh là một cây bút có trách nhiệm. Bút pháp của anh nhẹ nhàng, trôi chảy, nhưng nghiêm túc, giàu hình tượng, với những ngôn từ sắc cạnh, chắt lọc, cân đo, đặt đúng nơi đúng chỗ, rất đạt. (Lời giới thiệu cuốn sách)

Với Ván cờ khai xuân, Lâm Thu Vân đã viết lời dẫn khi truyện được đăng lại trên báo Văn Nghệ ở Úc châu:

“ […] Phùng Cung phải gói ghém sự chỉ trích này trong câu chuyện ông Ba Thiềng – người cha gian lận khi đánh cờ với thằng Văn, đứa con mới lên mười nhưng rất thông minh, nước cờ cao hơn bố. Ông Thiềng không chịu nhường địa vị độc tôn của mình cho ai vì thế khi bị chiếu bí và bị lật tẩy mưu mô gian lận, ông thẳng tay dập tắt bằng vũ lực sự bất phục tùng của kẻ đối thủ nguy hiểm – dù kẻ đó là con đẻ của mình, dù kẻ đó là một trẻ thơ, hằng ngày phục dịch trà, nước, đèn đóm. Ông không chấp nhận nó nói sự thật:

‘- Thằng mất dạy này! Thằng khốn kiếp này! Mày cho là bố mày ăn gian à?

– Còn gì nữa!’

(…) Chẳng những trong truyện Ván cờ khai xuân, mà trong tất cả những truyện khác của Phùng Cung, chúng ta đều thấy bút pháp độc đáo của tác giả.”

*

Để nói gọn về nhà thơ, nhà văn Phùng Cung […], có thể hiểu qua đánh giá sau của Nguyễn Minh Cần:

Văn thơ của Phùng Cung là tiếng nói của một nghệ sĩ chân chính, đệ tử trung thành của Chân, Thiện, Mỹ. Vì chuộng cái Chân, Phùng Cung không hề quay mặt trước sự thật (…) Vì trọng cái Thiện, Phùng Cung đã bộc lộ rõ ràng cái tâm trong sáng của anh, thể hiện lòng yêu nước, yêu quê, thương dân da diết, lòng nhân ái, tinh thần nhân bản sâu đậm của anh. Vì quý cái Mỹ, tác giả xót xa trước tình trạng Nghệ thuật Chân chính bị chà đạp khi sự dối trá và ngu dốt lên ngôi, tác giả đau buồn trước sự vùi dập thô bạo đối với truyền thống Nghệ thuật của dân tộc. Và ngay trong văn thơ của mình, tác giả cũng luôn luôn cố gắng tối đa để làm nổi lên cái Đẹp. (Sách đã dẫn)

PHỤ LỤC

1. Một số tin, bài về Phùng Cung với Tọa đàm thơ Phùng Cung 28/6/2012, Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace Hà Nội:

2. Nhận định mới nhất và “có thẩm quyền” về Nhân văn Giai phẩm:

  • Hữu Thỉnh [Về đổi mới văn học – Đề cương thuyết trình tại khoá tập huấn lý luận, phê bình văn học nghệ thuật; Hội đồng Lý luận Trung ương, Ninh Bình 10-13/7/2012]:

“Phục hồi sinh hoạt Hội cho một số nhà văn tham gia nhóm Nhân văn Giai phẩm; Phục hồi hội viên: Phan Khôi, Tr­ương Tửu; Phục hồi sinh hoạt cho các nhà văn bị treo bút và đình chỉ sinh hoạt có hạn định: Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Hoàng Cầm;

Cần nói rõ là việc phục hồi sinh hoạt và trao giải th­ưởng Nhà nư­ớc cho một số nhà văn nói trên là căn cứ theo Điều lệ Hội, chứ không phải là xét lại Vụ Nhân văn Giai phẩm. Vụ Nhân văn Giai phẩm không phải là ‘Vụ án văn nghệ’ mà là ‘Vụ án chính trị phản động’ theo thông báo của Ban Bí thư­ số 250-TB/TW, ngày 11/4/1991. Tại phiên toà xét xử ngày 19/1/1960 của Toà án nhân dân Hà Nội, trong bản luận tội Tòa án ghi rõ ‘đây là vụ án gián điệp phản cách mạng phá hoại hiện hành’” (tapchinhavan.vn 12/7/2012)

 

  • Lê Quang Trang [Bùi Công Thuấn – Một cái nhìn toàn diện; Ghi chép về Lớp tập huấn công tác lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật cho 31 tỉnh phía Nam; Hội đồng Lý luận Trung ương, Đồng Nai 18-21/7/2012]:

“(…) đề cập đến các hoạt động của Hội Nhà văn, như phục hồi cho Phan Khôi, Trần Dần, Lê Đạt, Trương Tửu, Phùng Quán, Hoàng Cầm, xác định lại Nhân văn Giai phẩm là vụ án chính trị gián điệp mà một số nhà văn có dính líu. (phongdiep.net 24/7/2012)

Nguyên Hải: TỈNH THỨC – (Tặng Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao)

16 Th7

TỈNH

THỨC

Kính tặng Bộ Trưởng ngoại giao:Phạm Bình Minh

Rối bời mấy sợi xót đau

Chạm ly ngọt đắng giọt sầu đu đưa

Hùng thiêng hồn nước gươm khua

Ánh trăng, đốc kiếm thề xưa hiện về

Vận nhà suy-thịnh, tỉnh-mê

Tiếng lòng Nguyễn Trải sao Khuê tỏ mờ

Núi sông máu nhuộm ngàn thơ

Trường Sơn-Đông Hải còn chờ thúc quân.

Nguyên Hải

Nhà văn Nguyễn Hiếu: Đại Phẩu Thuật Thơ – BĐX

11 Th7

Lời người thẩm :

           
 
Không hẳn Hội nhà văn Việt nam có hai vị Chánh, phó Chủ tịch là nhà thơ mà cái chính tiếng Việt ta dễ tạo ra những câu nói vần. Người bắt vần, nói vần đựơc thì dễ tưởng mình là nhà thơ. Cộng thêm với sự chuyển đổi nền kinh tế nứơc ta sang nền kinh tế thị trường gắn chặt với thực trạng bỏ tiền ra in thoải mái các ấn phẩm đựơc gọi là thơ đã vô tình trở thành sự lạm phát được định danh là thơ. Tình trạng này phải chăng đã tạo nên động lực khiến Hội nhà văn Việt nam lấy ngày rằm nguyên tiêu hàng năm thành ngày thơ Việt nam và có ngưòi đã nhìn vào sự phát triển nóng về thơ  hùng hồn, đại ngôn rằng ”nứơc ta là một cường quốc thơ”. Sự ngoa ngôn đó có tác động trở lại cho việc hàng năm có hàng nghìn tập văn vần đựơc gọi là thơ ra đời bằng tiền túi các tác giả. Kẻ mọn này được tặng, được nhân tặng, được xem tuy không đủ nhưng cũng có tới hàng trăm trong số ấn phẩm đó. Lại là kẻ tôn trọng mọi thứ quà tặng dù là mọn nhất, nên ngày dưới mặt trời, đêm chong đèn đọc gần hết thứ quà tặng cao quí này. Cộng thêm vào trí nhớ còn ít nhiều về thơ của một cựu sinh viên khoa văn nên tôi liều viết lời điểm bình qua sự thẩm những dấu ấn thơ của mọi loại thi nhân  đã tạo cho kẻ này.
Cũng xin nói để các thi nhân rơi vào tầm thẩm lẩn thẩn của tôi là tôi không căn cứ trên một tiêu chí nào, cũng chẳng câu nệ tên tuổi chư vị để xếp hạng mà sự thẩm của tôi chỉ dựa trên thơ có trên tay, thơ có trong đầu và hơn hết là sự cảm nhận của cá nhân. Lại là dân sáng tác nên tôi viết những dòng thẩm theo cảm xúc của mình. Đúng sai xin đựơc những ai trót đọc những dòng này thể tất. Khấp bái.
 

Thơ Chế lan Viên: Một tài năng vượt trội về thơ. Có khả năng viết rất hay, chân thành và có lúc cố chân thành về những điều ”phải nói thế “. Vì sự viết đó cuối đời thường ân hận một cách chân thành và tài năng bằng một nhân cách lớn. Nhưng muốn nói gì thì nói ông vẫn là một thiên tài thơ mà tôi kính trọng từ thủa mới biết đọc thơ đến khi về già.

 
 
Thơ Hoàng Trung Thông: Ông có bài thơ mà cả hai bên đối địch nhau đều phổ nhạc. Một câu thơ giản dị giống như khẩu hiệu đựơc phổ biến. Bài thơ đó, câu thơ đó đã nằm lòng nhiều thế hệ người đọc .
Thơ Phạm Tiến Duật : Cuộc chiến đã chọn, và biến ông thành người phát ngôn cho những người một bên tham gia cuộc chiến đó. Cộng thêm cánh bay của âm nhạc nên ông là một trong những nhà thơ có nhiều baì thơ, câu thơ đựơc nhớ
 
Thơ Hữu Thỉnh : Ông cũng nên cảm ơn âm nhạc đã làm hai bài thơ ông được ghi vào trí nhớ người đọc. Thế thôi.
 
Thơ Phan Thị Thanh Nhàn: Sự may mắn về một bài thơ của chị phù hợp với tâm trạng một thời của lứa tuổi đang yêu nhau chưa có Intenét, mỹ phẩm Hàn quốc, văn hoá mạng nói riêng và văn hoá chưa cao. Trường hợp này giống như bài “núi đôi “ của  Vũ Cao, “màu tím hoa sim” của Hữu Loan. Một loại thơ tự sự như hồi ức. Thơ bình dân cao cấp. Có thể kể thêm“Quê hương “ của Đỗ Trung Quân. Loại thơ này không có âm nhạc cũng khó có tiếng vang ( chỉ lạ là “núi đôi” sao chưa được các nhạc sĩ để mắt tới”).. Bài thơ tài hoa nhất của chị là “đám cưới ngày mùa” chứ không phải “hương thầm”.
 
Thơ Nguyễn Đức Mậu: Nghiêm chỉnh, gọn gàng, quan phương, nhạt nhoà thiếu cá tính như nhìn phía sau lưng những người lính xếp hàng trong đội ngũ. May trong gia tài thơ ông có bài đựơc phổ nhạc.
 
Thơ Lê Thành Nghị: Giống thơ Nguyễn Đức Mậu nhưng khô hơn vì chất lý luận nửa vời trong câu chữ và trong tư duy thơ.
 
Thơ Hồng Thành Quang: Mềm, mịn, tình, nữ tính, ít nhiều có hơi thơ trữ tình Nga. Hình như thơ ông nhằm vào đối tượng phụ nữ. Hỏi 10 ngưòi thì có đến 8 độc giả nữ biết thơ HTQ. Thế là quí rồi. Tôi là người đọc đàn ông dốt hay quên nên không thuộc câu thơ nào của ông.
 
Thơ Nguyễn Hoa: Nói dài như kí viết xuống dòng, nên chọn cách nói ngắn. Đáng tiếc sự nói ngắn của ông cũng không có sự chưng cất đặc biệt nên không ghim đựơc vào trí nhớ người đọc
 
Thơ Nguyễn Đình Chính: Một nội lực thơ lớn do zen. Viết có duyên và hấp dẫn. Hình như thơ và nói tục vênh nhau tạo nên thơ ông trở thành thứ thực phẩm trí tuệ lổn nhổn khó tiêu
 
Thơ Phạm Công Trứ : Nghĩ gì cũng kĩ càng và luôn sợ thiếu thành trường hơi. Đọc thơ ông ngửi thấy mùi bùn, mùi mạ vùng chiêm trũng nhưng cũng chỉ thỏang qua . 
 
Thơ Trần đăng Khoa : Tài năng vượt trội khi làm thơ ở thời trẻ con. Cả đời chỉ ăn và được thừa hưởng vào thành tựu trẻ con. Thế là mỹ mãn rồi.
 
Thơ Nguyễn Trọng Tạo: Ông này viết nhạc hay hơn làm thơ. Hai ca khúc được nhiều người biết có ca từ là thơ người khác. Ca khúc trọn gói của ông lại không hay. Thơ mình chưa làm mình rung động thì người khác động, rung sao được. Kể cả lúc thơ ông chuyển sang ngữ khác một cách thời thượng.
 
Thơ Trúc Thông: Làm duyên hơi lộ. Một hai bài hay lại rất có duyên. Ít ra tôi còn nhớ đến “bờ sông vẫn gió …” của ông thì phải.
 
Thơ Vi Thuỳ Linh: Như nhạc trẻ. Nói như nhạc sĩ Văn Dung là để ý đến trang phục, nhẩy nhót nhiều là giọng ca.
 
Thơ Trịnh Công Sơn: Hầu hết ca từ trong nhạc phẩm của ông là những bài, câu thơ tuyệt kĩ. Trong cái vỏ mang mang khó định bởi yếu tố thiền, tâm là kiểu mẫu của thơ hiện đại trong cách tạo từ, đặt câu. Khó cắt nghĩa nhưng in dấu không thể phải mờ trong người thưởng thức. Nhờ đôi cánh âm nhạc mà sự tưởng như vô lý trong thơ ông hấp dẫn và thành ám ảnh.
 
Thơ Lê Chức: Ông không thuộc hàng thơ chuyên nghiệp nhưng thừa hưỏng tố chất của cha – nhà thơ Lê đại Thanh- tố chất nghệ sĩ của gia đình nên ông rất có nội lực thơ. Thơ ông là sự thể hiện đài từ có tay nghề trên nền ngôn ngữ và suy gẫm về lẽ sống.
 
Thơ Lê Huy Quang: Hoạ sĩ làm thơ. Ngoài sự coi trọng hình thức thể hiện thì thơ ông đã chạm đến sự đổi mới khi đi tìm thi pháp hiện đại
 
Thơ Mv Phấn: Một ông nhà đoan thạo tiếng nước ngoài nên ít hiểu thấu tiếng và cách nghĩ của mẹ đẻ. Ông lại sáng tác trên sự hiểu biết khá thành thạo đó. Tiếc những thứ gọi là thơ của ông là sự đi không đúng hướng trong lối viết cố không giống ai ( không phải cách tân) nên tạo ra những bài xếp chữ cố ép vào thể loại thơ. Đọc kĩ thấy đó là những bài thơ như dịch, như nhại lại cách nghĩ của Tây diễn đạt tiếng Việt một cách ngô nghê.
Thơ NQ Thiều: Đàn anh của MVP. May chất quê còn sót lại trong anh chàng sành tiếng tây này ở đầu đề truyện ngắn “mùa hoa cải bên sông “. Chất liệu và cách nghĩ cố ra điều quê được nhốt trong những bài thơ phá cách loằng ngoằng câu chữ khiến như đang nhìn thấy một cô đầm da đen da thịt mưng mẩy, căng ních trong áo tứ thân, chồng chềnh nón quai thao trên mớ tóc xoăn bụt ốc. Vừa buồn cười vừa thấy sượng khi thấy con gái  ăn mặc kiểu này. 
 
Thơ Trần Ninh Hồ: Cũng như truyện ngắn, thơ ông giống như cách sống ngoài đời của ông. Từng trải, biến báo, khôn ngoan, biết giả vui khi buồn, biết giả buồn khi vui. Ai đọc cũng đựơc, ai tán cũng xong. Bình bình ở giữa bình dân và đặc sản.
 
Thơ Mai Phương: Thật đến tận cùng. Câu chữ trong thơ ông chỉ có một nghĩa. Ngay cả khi ông làm thơ về tình yêu vẫn thấy tác giả là một người hơn nửa thế kỉ chịu ảnh hưởng không cưỡng đựơc ý tứ trong những bài xã luận báo Nhân Dân. Đàn anh Mai Phương một nhà thơ quan phương .
 
Thơ Trần Trương: Một thứ thơ chỉ dừng ở mức những bài bích báo hay vì biết niêm luật, cú pháp viết thơ và đôi ba suy nghĩ ít nhiều có chất thơ. Cuối đời viết nhiều thơ thể hiện rõ chất công dân nhưng cũng chỉ đủ đăng tải trên báo mạng như một kiểu bích báo thời điện tử.
 
Thơ Trần Anh Thái: Chỉ thấy thơ Trần Anh Thái hay và “giá trị” khi nghe nhà thơ này nói về thơ mình.
 
Thơ Đồng Đức Bốn: Ở những bài lục bát tuyệt đỉnh của mình. Thơ Đồng Đức Bốn đủ sức hát cho hồn dân tộc trong thời buổi hỗn tạp này. Cũng lạ tâm hồn thơ của ông tôi cảm thấy khá rõ, khác những gì quá ít ỏi khi tôi biết về ông ngoài đời .
 
Thơ Hoàng Trần Cương: Lực lưỡng và chủ động trong thi pháp của riêng mình. Có lúc rất đắt như một ca sĩ phút thăng hoa, có lúc vừa phô vừa chênh như một người mới vào nghề, lần đầu tiên biểu diễn trong đại nhạc hội. Biết vậy thôi, nhưng IQ phải ngang Lê Quí Đôn mới nhớ nổi một câu thơ HTC.  
 
Thơ Hà Đình Cẩn: Ngưòi thạo viết kí, viết báo và kịch có tâm hồn thơ. Khổ, thơ ông lại bị tất cả mọi thể loại văn xuôi lấn át ngay cả khi ông “thơ” nhất. 
 
Thơ Lê Quang Trang: Học văn nhưng cả ngòai đời lẫn trong văn chưa bao giờ biểu hiện nổi một chút “văn” nào. Chả nhẽ học văn lại không làm thơ và viết phê bình. Nhàng nhàng mọi sự lại dễ chịu. Thơ ông chưa thành lửa đã có tro tàn .
 
Thơ Bằng Việt: Bếp ta đun bằng củi chặt từ thông Nga. Toả ra mùi thơm đểnh đoảng không đủ ấm cho kẻ Việt khát thơ. Tuy vậy thơ ông cũng được gắn một cái tên trong hộ khẩu thơ. Do sống lâu, do khôn ngoan, do chức sắc? Giá có nhạc sĩ nào phổ một bài thơ ông làm nên một ca khúc hay thì may ra thơ ông mới có ngưòi nhớ.
 
Thơ Vũ Quần Phương: Bác sĩ làm thơ tay ngang. Bài nhớ có một số câu hay nhưng cũng phải nhờ Nhạc sĩ Huy Thục ngưòi ta mới nhớ. Thế cũng đủ làm nên một giáo sư thơ. Vị giáo sư này mỗi bận lên tiếng về thơ thì chỉ thấy ông tán nhiều hơn bình. Ông không nói theo mà ông nói bằng cách của ông những gì ngưòi ta đã nói. Chưa thấy ông phát hiện cho riêng ông cái gì.
 
Thơ Bế kiến Quốc: Khôn, lành, đôn hậu có gốc là dân tổng hợp văn. Trong thơ ông có đủ mọi yếu tố này.  
 
Thơ Đỗ Sơn Cao: Một thi sĩ đích thực, hiếm hoi. Có thể liều mạng về thơ nên cũng để lại những câu thơ đầy chạt chất dân dã chết người.
 
Thơ Đỗ Hòang: Thơ minh hoạ rất thật tố chất của ngưòi. Vì thế ông có những câu thơ thật đến độ làm giật mình những kẻ muốn phủ hoa lên cuộc chiến đầy khăn tang, chết chóc và đến nay còn quá nhiều kẻ dị dạng bởi sự dã man của cuộc chiến.
 
Thơ Trần Gia Thái: Cả một đời làm báo, nhưng ông là trường hợp hiếm hoi thơ không bị ảnh hưởng phong cách báo, nhất là khi viết về kí ức xưa. Mải hoài vọng quá riêng nên hơi thiếu bài, câu đủ độ cào xước sự cảm ngưòi đọc.
 
Thơ Trần Quang Quí:  Sau những va đập của đời, ông đằm hơn. Thơ ông cũng đằm theo, vì thế mọi sự vẫn không vựơt nổi “cổng làng”. Gần đây muốn thoát ra bằng những bài thơ xuống dòng nhiều cả trong hình thức và suy nghĩ nhưng cũng chỉ thế thôi .
 
Thơ Vũ Ân Thi: Khởi thuỷ đi theo trường phái thơ Triết. Môn đệ của Chế Lan Viên. Nhưng cuộc chiến đã làm thơ ông cuộc sống hơn, bình dị hơn. Nhưng lại bình dị quá nên thơ ông không để lại dấu ấn như những vần thơ nổi loạn ông từng diễn thời mới làm thơ trong lớp văn Trường ĐHTH.
 
Thơ Đỗ Chu: Thấy thơ đang đông người làm, ông cũng làm khi xem ra hương cỏ mật đã nhạt vì nắng gió, thời gian. Thơ Đỗ Chu là thu gọn, chắt ra từ những bút kí, truyện ngắn làm nên danh ông nhưng chưa đủ sức làm nên  tên người viết thơ .
 
Thơ Nguyễn Khoa Điềm: Chia làm ba giai đoạn. Hồi ở rừng làm thơ thật. Hồi làm quan thơ khụng khượng. Trở lại nhà thơ xuông thì rặt thơ ân hận một cách kiêu ngạo ngầm.    
 
Thơ Nguyễn Hiếu( tự nhận xét):  Chế Lan Viên ghi năm 1970 bên lề bản thảo bài thơ “cho đến bao giờ anh cởi lá nguỵ trang”:  “ anh là một ngưòi làm thơ có một số ý độc đáo, sáng tạo nhưng tâm trạng anh có cái gì rối rắm…Phải giữ thật trong sáng …”. Còn từ bấy đến nay thấy, mọi thứ có trên trái đất đều rơi vào thơ gã. Từ kẹo cao su, đến nhân loại, chiến tranh và tình yêu. Mọi thể thơ, lục bát cho chí thơ văn xuôi gã đều dùng … hay dở, cao  thấp ai trót đọc thơ gã thì biết. Miễn bàn. 
 
Lời tạm kết
     
Xin các vị cứ coi đây là phần 1 của bài thẩm thơ. Hi vọng đựơc gặp lại các vị trong một dịp gần nhất khi trong tay tôi có thêm những thi phẩm để đọc.
                                                                   
Nguyễn Hiếu 

THƠ XƯỚNG HỌA – Sơn Trung

11 Th7
 
 
NGUYÊN XƯỚNG CỦA GS BÙI NGOẠN LẠC 
Màu Tang Thế Kỷ
 
Trần gian đầy dẫy chuyện bi thương,
Sinh tử, đến đi ấy lẽ thường.
Duyên tận, giã từ là tất yếu,
Tuổi già, si đắm phải soi gương.
Đông Tây danh lợi mờ chân lý,
Nam Bắc quyền uy ẩn hậu trường.
Giây phút nội tâm bừng thức tỉnh,
Mong người ác độc sớm hoàn lương.
 
 
 
TƯ NGUYÊN
 
San Jose, 30-6-2012
 
 
 
 Kính Họa 1:
 
Ý Nghĩa Cuộc Sống
 
Trên đời quí nhất ấy tình thương,
Lợi lộc, quyền uy thật quá thường!
Vật chất tiêu tan khi biến loạn,
Danh thơm tồn tại đáng noi gương.
Từ bi hỷ xả tâm an lạc,
Nghĩa trọng ân đền tuổi thọ trường.
Thấu hiểu nhân sinh là đại mộng,
Mọi người sẽ sống rất hiền lương!
Thúy Mai
San Jose, 01-7-2012
Kính họa 2:
 
Đất Nước Đau Thương
 
Ngày nay đất nước quá đau thương!
Cán bộ đánh ai cũng chuyện thường.
Dân chúng đói meo không đủ gạo,
Chính quyền tham nhũng chẳng làm gương.
Nhiều điều oan ức, nhiều đau khổ,
Lắm cảnh bất công, lắm đoạn trường.
Hy vọng một ngày không Cộng Sản,
Người dân sẽ sống hết thê lương!

CHÁNH MINH
Đồi Anaheim, 06 July 2012

 
Kính họa 3:
MỘNG THIÊN LƯƠNGCầm đàn ta khảy – xuống cung Thương !
Tích tịch tình tang… chuyện thế thường
Hạ phố mây ngừng chim luyến gót
Thu hồ sóng lặng – liễu soi gương
Bại thành một phút … hồi chung cuộc
Hưng phế đòi cơn … giấc mộng trường
Rũ áo trăm năm – hồn nhớ bóng
Dặn lòng nguyền giữ chút Thiên lương !!…
07 / 07 / 2012
Tịnh Vân

 
    Kính Hoạ 4:

 

QUÊ HƯƠNG

Nhìn quê lòng những ngậm ngùi thương
Dân chẳng an vui cuộc sống thường
Sử cũ, Diên Hồng, đau nhạt sử
Gương xưa, Quốc Toản, xót mờ gương
Ba miền sông núi nhòa xương máu
Một cõi nhân gian ngập chiến trường
Lấy mác thiên đàng che hoả ngục
Hỏi lừa dối ấy có vô lương ???
Ngô Minh Hằng

 
 

Kính họa 5:

 
CÕI TẠM
 
Đời người hạnh phúc lẫn đau thương
Nay có mai không-ấy chuyện thường
Việc thiện giúp người-nên bắt chước
Tâm lành độ thế-phải noi gương
Lụy sầu chìm nổi vòng danh lợi
Khổ ải long đong cuộc hí trường
Hiểu được trần gian là cõi tạm
Mong thay tất cả sống hiền lương .
VIRGINIA , July. 8th. 2012
Phan Ngọc
 

Đệ Nhất B1 QUỐC HỌC 58-59

 
 

Kính họa 6:

GIẤC MỘNG NGÀY MAI  
Bao nhiêu thế hệ nhuốm đau thương,
Quốc thái dân an chẳng chuyện thường.
Bầy cháu bầy con cần dẫn dắt,
Đàn anh đàn chị hãy làm gương…
Mẹ già hết trĩu vai gồng gánh,
Em nhỏ vui mang sách đến trường.
No ấm, người người trong hạnh phúc,
Không còn trông thấy cảnh thê lương…

Dương Hồng Kỳ

Kính họa 7:
Yêu Thương
 
Cuộc sống đầy vơi cõi mến thương,
Người ơi có nhớ đạo luân thường,
Gia đình tổ quốc chung nòi giống,
Giáo lý nhân gian một tấm gương.
Danh lợi có chăng phường ảo mộng,
Tiền tài không chắc cả tình trường.
Ai ơi có nhớ lòng nhân ái,
Mộng tưởng chờ xin chút cải lương.
TTT( 2012)
 
  KÍNH HỌA 8

Yêu Thương Cuộc sống đầy vơi cõi mến thương,
Người ơi có nhớ đạo luân thường,
Gia đình tổ quốc chung nòi giống,
Giáo lý nhân gian một tấm gương.
Danh lợi có chăng phường ảo mộng,
Tiền tài không chắc cả tình trường.
Ai ơi có nhớ lòng nhân ái,
Mộng tưởng chờ xin chút cải lương.

TTT( 2012)

 
 
KÍNH HỌA 9
 

TIN TƯỞNG NGÀY MAI

Trăm năm cuộc thế lắm tang thương,

Bỉ thái chuyển luân ấy chuyện thường.
Bác ái, từ hòa nên giữ đạo,
Anh hùng, hào kiệt đáng noi gương.
Dân an, quốc thái, thiên niên đại
Độc lập, tự do, vạn thế trường.
Cùng nắm tay nhau, cùng tiến bước,
Ngàn năm thơm ngát tiếng minh lương.

Sơn Trung
 
 

Thơ Ngã Du Tử: VÀNG GIEO TÂM THỨC

9 Th6

VÀNG GIEO TÂM THỨC
Treo khô trên nhánh sông già
buồn thiên thu nổi xót xa phận người

 
…đôi khi xé một tiếng cười
trào lộng chơi (khóc cuộc đời trầm luân)
về đâu cuối nẻo xa xăm
vần thơ thắm thiết trăm năm tặng đời

đầu xuân nâng chén gọi mời
nhiều năm nữa như một thời… rất xưa
trùng trùng trắng mắt giăng đưa
lẫn trong nhân thế nắng mưa thói thường

nữa mai phía cuối con đường
chong mắt đợi loé ánh dương rực màu
tìm trong dâu bể mai sau
yêu thương ơi, hãy tin nhau chữ tình

nổi buồn nào cũng lặng thinh
cứ bao dung như có mình ở trong
miên man lòng nhuộm sắc hồng
vàng gieo tâm thức thân đồng vọng bay

cuối đường bắt nhịp vỗ tay
hát lên từ lúc chân ngày hé duyên
NGàDU TỬ

%d bloggers like this: