Tag Archives: thái bình dương

Trung Quốc muốn phối hợp với Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương – PLTP/BS

12 Th6
Tân Hoa xã (Trung Quốc) đưa tin ngày 11-6, trả lời tại cuộc họp báo ở thủ đô Bắc Kinh.

Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Thôi Thiên Khải cho biết Mỹ và Trung Quốc đang sắp xếp cuộc gặp giữa Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Tổng thống Barack Obama tại hội nghị thượng đỉnh G20 lần thứ bảy tại Mexico ngày 18 và 19-6 tới. Mục đích để thảo luận về củng cố quan hệ giữa hai nước.

Thứ trưởng Thôi Thiên Khải nói Trung Quốc mong muốn Mỹ tôn trọng quyền lợi và mối quan tâm của Trung Quốc ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Ông cho rằng hai nước có thể phối hợp trong khu vực này vì lợi ích chung. Ông nói Trung Quốc hiểu được lợi ích của Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương và hy vọng Mỹ sẽ đóng vai trò tích cực trong khu vực. Ông cũng nhấn mạnh biển Đông không phải là vấn đề trục trặc giữa Mỹ và Trung Quốc.

Khi được hỏi liệu có phải Trung Quốc và Nga hợp lực để chống lại ảnh hưởng của Mỹ, Thứ trưởng Thôi Thiên Khải nói quan hệ đối tác chiến lược giữa hai nước không nhằm vào một bên thứ ba nào cả.

Trong khi đó, Nhân Dân Nhật Báo (Trung Quốc) ngày 11-6 đã đăng bài viết khoe khoang lữ đoàn tên lửa quy ước (sư đoàn pháo binh số 2). Báo cho biết lữ đoàn được Quân ủy trung ương thành lập năm 1993 nhưng ít được công chúng biết đến. Đến tháng 7-1995, lữ đoàn mới được biết rộng rãi khi Trung Quốc bắn thử sáu tên lửa.

Theo Nhân Dân Nhật Báo, trước đây Trung Quốc chỉ có các lữ đoàn tên lửa hạt nhân. Tuy nhiên, từ cuộc chiến vùng Vịnh năm 1990, Trung Quốc nhận ra tên lửa quy ước đóng vai trò quan trọng trong chiến tranh hiện đại. Báo cho biết đến nay lữ đoàn tên lửa quy ước đã bắn thử 114 quả tên lửa và tất cả đều đánh trúng mục tiêu. Lữ đoàn dành mỗi năm bốn tháng để huấn luyện. Sau 19 năm phát triển, lữ đoàn đã đưa vào hoạt động hệ thống bệ phóng có thể phóng nhiều tên lửa cùng lúc.

Báo Philippine Star (Phippines) ngày 11-6 dẫn lời Tổng Tham mưu trưởng Philippines Jessie Dellosa nói căng thẳng ở bãi cạn Scarborough đang dần dần hạ nhiệt và Philippines củng cố quan hệ quốc phòng với Mỹ không nhằm chống Trung Quốc. Ông cho biết Bộ Ngoại giao Philippines vẫn đang tích cực đàm phán với Trung Quốc nhằm chấm dứt căng thẳng ở bãi cạn.

THẠCH ANH – ĐĂNG KHOA

Châu Á –Thái Bình Dương với bố cục “Tam cường” – tamnhin/BS

3 Th5

Châu Á –Thái Bình Dương với bố cục “Tam cường”

  (Tamnhin.net) – Trung Quốc trỗi dậy với thực lực kinh tế quân sự tăng lên mạnh mẽ đã làm thay đổi bố cục chiến lược ở Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Đây là lý do khiến Mỹ đã điều chỉnh bố trí chiến lược ở Thái Bình Dương, trong khi Nga cho rằng 80% diện tích lãnh thổ là ở Châu Á-Thái Bình Dương. Bởi vậy, khu vực này sẽ là địa bàn quan trọng của Nga.

 

Thủ tương Nhật Bản Yoshihiko Noda đã kết thúc chuyến thăm Mỹ ba ngày (29/4-1/5) với tuyên bố chung Mỹ – Nhật mang tên “Chiến lược chung hướng tới tương lai”. Đây là bản tuyên bố chung thứ ba giữa hai nước trong 16 năm qua kể từ năm 1996 tới nay. Bản tuyên bố chung thứ nhất công bố năm 1996 mang tên “Tuyên bố chung đảm bảo an ninh Nhật –Mỹ” được ký kết giữa Thủ tướng Hashimoto với Tổng thống Bill Clinton. Bản tuyến bô thứ hai ký năm 2006 mang tên “Đồng minh Nhật – Mỹ trong Thế kỷ mới” được ký kết giữa Thủ tướng Koizumi và Tổng thống Bush. Tuyến bố chung thứ ba là “Chiến lược chung hướng tới tương lai” được ký kết ngày 30/4/2012 giữa Thủ tướng Noda với Tổng thống Obama.Bản tuyên bố thứ nhất nhấn mạnh “Quan hệ Nhật – Mỹ là một trong quan hệ song phương thành công nhất trong lịch sử… Mối quan hệ vững chắc này đã phát huy vai trò then chốt trong đảm bảo hòa bình an ninh Khu vực Châu Á –Thái Bình Dương thời kỳ Chiến tranh Lạnh”. Tuyên bố này chủ yếu nhắm vào Liên Xô khi đó.

Bản tuyên bố thứ hai nhấn mạnh “Quan hệ Nhật – Mỹ là một trong mối quan hệ song phương chín muồi nhất trong lịch sử…Quan hệ Nhật – Mỹ trong thế giới ngày nay vẫn giống như trước đây phát huy vai trò mang tính xây dựng”. Bối cảnh ra đời của Tuyên bố chung này là Mỹ vừa bị “Sự kiện tấn công khủng bố ngày 11/9/2001”, nên nhấn mạnh vai trò hai nước trong thế giới chung đang có biến đổi to lớn là chống khủng bố quốc tế.

Bản tuyên bố thứ ba được Tổng thống Obama nhấn mạnh “Quan hệ đồng minh Nhật – Mỹ đã đạt tới trình độ cao mới, khẳng định mối quan hệ đồng minh Nhật – Mỹ chẳng những là cơ sở đảm bảo hòa bình hai nước mà cũng là cơ sở đảm bảo hòa bình và ổn định Khu vực”. Ông Obama nói “Tuyên bố chung này là văn kiện xác định trật tự của Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương mấy chục năm tới đây. Mỹ cần phải chủ đạo Khu vực Châu Á –Thái Bình Dương”.

Thủ tướng Noda nói sự phát triển của Trung Quốc là một cơ cơ hội đối với Nhật và cộng đồng quốc tế, nhưng phải chỉ ra rằng “Trung Quốc khi xử lý các vấn đề biển phải tôn trọng quy tắc quốc tế”.

Tuyên bố chung hai nước lần này ra đời trong bối cảnh Mỹ rút quân khỏi Irac và Apghanixtan để chuyến sang Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Tuyên bố chung đề cập tới nhiều lĩnh vực hợp tác kinh tế, quân sự, an ninh, trong đó nhấn mạnh “Kế hoạch phòng ngự chung”, nâng cao khả năng cơ động của quân đội hai nước, khẳng định chiến lược quốc phòng mới của Mỹ ở Khu vực này.

Mặc dù trong Tuyên bố chung không nhắc tới Trung Quốc, nhưng các nhà phân tích đều cho rằng mục tiêu chủ yếu của Tuyên bố chung này nhắm vào Trung Quốc. Hãng Kyodo của Nhật Bản ngày 1/5 viết: “Hai nước nhấn mạnh việc củng cố và làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Nhạt – Mỹ để duy trì ổn định và phồn vinh Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, đồng thời cũng kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc nhất là về lĩnh vực quân sự ở Khu vực này”. Hãng thông tấn Jiji của Nhật Bản viết: “Mặc dù trong Tuyên bố chung không nhắc tới Trung Quốc, nhưng xét về nội dung về cơ bản nhằm kiềm chế Trung Quốc.”

Trong khi đó Thủ tướng Putin, Người sắp làm Tổng thống Nga ngày 28/4/2012 nói với  giới doanh nghiệp Nga rằng lãnh thổ Nga chỉ có 20% ở Châu Âu, còn lại 80% ở Châu Á, bởi vậy nước Nga phải hướng sang Châu Á – Thái Bình Dương. Ông Putin đề nghị phải nhanh chóng thành lập “Công ty khai thác Viễn Đông” trụ sở đặt tại Vladivostok với sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng thống để phát triển Khu vực này. Victor Yeshaev, Trưởng ban phát triển Khu vực Viễn Đông trực thuộc Phủ Tổng thống cho biết năm 2012 Nga có kế hoạch đầu tư chừng gần 600 tỉ Rup để phát triển hơn 50 hạng mục công trình, trong đó lấy thành phố Vladivostok làm trọng điểm. Ông cho biết Nga đã có “Quy hoạch phát triển Vùng Viễn Đông” với ba nội dung chính: Một là, Tăng cường đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Tới năm 2015 đầu tư khoảng 3.300 tỉ Rup vào Khu vực  Viễn Đông, từ năm 2018 tới 2020 đầu tư khoảng 9.000 tỉ Rúp. Hai là, ra sức phát triển các ngành, giao thông, nhất là đường sắt từ Dabaican tới Amur, nâng khả năng bốc xếp cảng Vladivostok lên 145 triệu tấn vào năm 2015. Ba là, xây dựng kinh tế vùng Viễn Đông theo hướng mở cửa ra Châu Á – Thái Bình Dương, lấy APEC làm điểm tựa cho phát triển trong tương lai.

Ông Yeshaev cho biết sau khi trở lại nắm quyền, Tổng thống Putin sẽ đích thân chỉ đạo chương trình phát triển Vùng Viễn Đông hướng ra  Châu Á – Thái Bình Dương.

Các nhà phân tích cho rằng rõ rầng, trong tương lai, Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương trở lại bố cục chiến lược  “Tam cường” gồm Mỹ-Trung-Nga chi phối khu vực này.

K.Tỉnh

Tàu chiến Mỹ định hình chính trị châu Á – Thái Bình Dương? – ĐV

23 Th4
Việc chính quyền Obama quyết duy trì ưu thế vượt trội so với hải quân Trung Quốc có thể “châm ngòi” cho một cuộc chiến tranh Lạnh mới trên các đại dương.
Tại Học viện Hải quân Mỹ, trước hàng nghìn sĩ quan trẻ tuổi, Ngoại trưởng Hillary Clinton đọc bài diễn văn mang những thông điệp đầy ý nghĩa, trong đó, điểm nhấn quan trọng nhất là những lưu ý về tương lai quan hệ Trung – Mỹ.
Trước đó một ngày, bà Clinton có cuộc gặp với Ngoại trưởng Nhật Bản Kochiro Gemba, tái khẳng định cam kết của Mỹ về Liên minh Mỹ – Nhật; rằng đồng minh thân cận lâu năm của Mỹ vẫn giữ vai trò trọng yếu trên con đường trở lại châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ.
Nhiều người cho rằng bài phát biểu của Ngoại trưởng Mỹ, xếp cạnh chiến lược hướng Đông với khái niệm hợp tác hải quân có thể là dấu hiệu cho thấy Mỹ đang lên kế hoạch giành lấy vai trò “chỉ đạo” chính sách đối ngoại và quốc phòng trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Tuy nhiên, đặc biệt hơn, thông điệp xuyên suốt bài diễn văn mà Ngoại trưởng Hillary gửi đến các sĩ quan hải quân Mỹ đó là lực lượng định hình quan hệ Trung – Mỹ trong tương lai sẽ không phải ai khác mà chính là hải quân.

Ngoại trưởng Mỹ cho rằng, các sĩ quan trẻ chính là nhân tố định hình quan hệ Trung – Mỹ trong tương lai. Ảnh minh họa: zimbio.

Trong bài diễn văn này, bà Hillary báo hiệu tầm nhìn chiến lược của chính quyền Obama đang tập trung vào Chiến lược hợp tác hải lực trong thế kỷ 21 của Mỹ.

Chiến lược hợp tác hải lực trong thế kỷ 21, viết tắt là CS-21, phấn đấu cho sự ổn định của các trật tự tự do kinh tế quốc tế nhờ hợp tác đa phương của các lực lượng hải quân được dẫn đầu bởi Mỹ.
Với chiến lược này, chính quyền Obama tập trung tầm nhìn chiếc lược vào hải quân như là lực lượng đóng vai trò chính trong việc đình hình chính trị châu Á – Thái Bình Dương.

Bên cạnh đó, dự định tái cơ cấu lại hệ thống phòng thủ của Mỹ trong thập kỷ tới do Chính quyền Obama chủ trương cũng là điểm đáng chú ý trong bài diễn văn nói trên.
Lặp lại nhiều lần khái niệm chủ nghĩa quốc tế tự do, bà Hillary phản đối khái niệm về “trục châu Á của Mỹ” – cụm từ xuất hiện với tần xuất dày đặc trên các phương tiện truyền thông thời gian qua, kể từ khi chính quyền Obama công bố chiến lược mới, chuyển trọng tâm đối ngoại sang châu Á – Thái Bình Dương.
Bà Clinton cho rằng, khái niệm “trục châu Á” – một sự gợi nhớ đến thời ký chiến tranh Lạnh – sẽ khiến chiến lược mới của Mỹ mang tiếng xấu, thậm chí, tác động tiêu cực đến quan hệ Trung – Mỹ.
Thay vào đó, Ngoại trưởng Mỹ nhấn mạnh khái niệm “sự đi lên của Trung Quốc có lợi cho Mỹ cũng như sự thịnh vượng của Mỹ có lợi cho Trung Quốc”.
Tuy nhiên, trong khi  ca ngợi vai trò của Trung Quốc trong cuộc chiến chống cướp biển tại vùng Sừng châu Phi, Ngoại trưởng Mỹ cũng bày tỏ mối quan ngại về vấn đề tự do hàng hải tại biển Đông trong bối cảnh căng thẳng liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ giữa các quốc gia trong khu vực ngày càng leo thang. Trong đó, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những đòi hỏi phi lý của Trung Quốc và động thái khiêu khích, “cậy mạnh hiếp yếu” của họ.
Bài diễn văn của bà Hillary khẳng định hải quân Mỹ với sự hỗ trợ tích cực từ không quân sẽ đảm đương trọng trách chỉ đạo các chương trình nghị sự quân sự ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Theo Ngoại trưởng Mỹ, đây là trách nhiệm hiển nhiên của họ và nhấn mạnh rằng hải quân Mỹ sẽ phải nắm giữ vai trò quyết định đối với diễn biến của các cuộc xung đột chính trị tại châu Á – Thái Bình Dương.
Theo bà Hillary, mỗi năm các chiến hạm của Hải quân Mỹ, thủy thủ và Thủy quân lục chiến nước này tham gia hơn 170 cuộc tập trận quân sự song phương lẫn đa phương; ghé thăm 250 hải cảng trong khu vực. Điều này cho phép Mỹ “phối hợp nhuần nhuyễn và hiệu quả hơn khi cần hành động chung với các cộng sự trong khu vực”.
Khả năng “chỉ đạo” của Hải quân Mỹ đối với các hoạt động viện trợ đa phương ở vùng duyên hải châu Á – Thái Bình Dương (hải quân Trung Quốc còn yếu) làm nổi bật vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ. Trong bất cứ hoạt động hàng hải đa phương nào, vai trò của hải quân Mỹ là không thể thiếu. Chẳng hạn, sự hợp tác giữa hải quân Mỹ và Lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản, trong trận động đất Kobe được xem là thành quả của các chính sách đa phương.
Ngoại trưởng Mỹ nhấn mạnh rằng, chính sách đối ngoại “mềm” và các nhân tố xây dựng các quan hệ đối tác hải quân sẽ giúp giải quyết các tranh chấp đa phương hiệu quả hơn rất nhiều so với các động thái đe dọa chiến tranh, xung đột. Tuyên bố của bà Hillary cũng mang hàm ý rằng chính quyền Obama sẽ ưu ái cho hải quân hơn không quân trong quá trình áp dụng Học thuyết quân sự “Tác chiến không-biển”.
Tuy nhiên, chiến lược và mục tiêu của Mỹ cũng gặp cản trở không nhỏ bởi Trung Quốc chắc chắn không ngồi yên chứng kiến cảnh các đội tàu chiến Mỹ hiện diện sâu rộng ở “sân sau” của họ. Ngoài ra, việc Mỹ tập trung tăng cường các ưu thế cho hải quân, lặp đi lặp lại các nội dung của Chiến lược hợp tác hải lực trong thế kỷ 21, theo một số chuyên gia phân tích, có khả năng dấy lên một cuộc Chiến tranh Lạnh mới trên các đại dương.
“Tôi biết rằng có quốc gia châu Á quan ngại sự hiện diện mạnh mẽ của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương và cáo buộc các cuộc thảo luận về các quy tắc, cấu trúc, và các quan hệ hợp tác trong khu vực của chúng tôi là nhằm bảo vệ sự thống trị và lợi ích của phương Tây mà chối bỏ việc chia sẻ một cách công bằng quyền lực và các lợi ích với các cường quốc mới nổi” – bà Hilarry nhấn mạnh. Sau đó, bà kêu gọi “làm hết sức để giảm nguy cơ xuất phát từ những hiểu lầm hoặc các tính toán sai lầm giữa Trung Quốc  và Mỹ là một mục tiêu quan trọng”.
Ngoại trưởng Hillary cũng lưu ý quan hệ Trung – Mỹ có chiều sâu và nhiều ràng buộc hơn rất nhiều so với quan hệ Mỹ – Liên Xô cách đây 60 năm. Nhiều người cho rằng bài diễn văn của bà Hillary là dấu hiệu báo trước các thay đổi của Mỹ trong vấn đề quốc phòng và tương lai quan hệ Trung – Mỹ trong thập kỷ tới hoặc thậm chí, xa hơn nữa.

Đang đọc nhiều: >> Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đi bar, nhảy múa, uống bia >> Ấn Độ ‘phô diễn’ sức mạnh tên lửa đạn đạo xuyên lục địa >> Vì Triều Tiên, Trung Quốc vi phạm nghị quyết của LHQ? >> Vợ Bạc Hy Lai giết người bằng thuốc độc
>> Kim Jong-un lần đầu phát biểu trước toàn dân
>> Di chúc Cố Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong il: sự thật hay tin vịt?
>> Triều Tiên sẽ ‘phục thù’ trong hai năm tới?
>> Nga đang ‘hồi sinh’ nhờ Trung Á
Bạch Dương (theo Foreign Affairs, Defining Ideas)

Viễn cảnh Mỹ tác chiến trên Thái Bình Dương – TN

15 Th4

 

Đối với Lầu Năm Góc, học thuyết Tác chiến Không – Biển là hy vọng lớn nhất để Mỹ đối phó chiến lược “chống tiếp cận/phong tỏa khu vực” của Trung Quốc.

Tháng 11 năm ngoái, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta thông qua khái niệm Tác chiến Không – Biển (Air-Sea Battle, viết tắt ASB) và Lầu Năm Góc nhanh chóng triển khai, theo tờ The Diplomat. Tướng Norton A.Schwartz, Tham mưu trưởng Không quân Mỹ và đô đốc Jonathan W.Greenert, Tham mưu trưởng Hải quân Mỹ, cho biết nỗ lực trên nhằm giúp quân đội nước này tổ chức, huấn luyện và tự trang bị tốt. Nhờ đó, các bộ tư lệnh tác chiến có đủ khả năng duy trì tiếp cận hoạt động tại những khu vực đang bị đối phương thực thi chiến lược “chống tiếp cận/phong tỏa khu vực” (anti-access/are-denial, viết tắt A2/AD). Điều này ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng ở vùng tây Thái Bình Dương, nơi Trung Quốc đang xây dựng chiến lược A2/AD nhằm đẩy lực lượng Mỹ khỏi vùng biển trên.

Chiến tranh lạnh phiên bản 2

Suốt 6 thập niên qua, với sức mạnh quân sự vượt trội, Mỹ duy trì trạng thái khá cân bằng địa chiến lược tại châu Á – Thái Bình Dương, nhưng tình hình đang thay đổi. Mười năm qua, Trung Quốc liên tục đẩy mạnh tốc độ hiện đại hóa hải quân nhằm thay thế vị trí của Mỹ trong khu vực, theo The Diplomat. Vì thế, cuối tháng 3 năm nay, Lầu Năm Góc trình bày trước Quốc hội Mỹ về chiến lược ASB như một học thuyết đóng vai trò trung tâm để giành lại thế cân bằng tại châu Á – Thái Bình Dương.

Theo đó, học thuyết ASB nhằm tăng cường khả năng hợp tác và phối hợp giữa các lực lượng không quân và hải quân hướng đến việc tập trung sức mạnh chọc thủng chiến lược A2/AD của đối phương. Cơ quan phụ trách ASB chịu trách nhiệm định hình sáng kiến để phát triển những khả năng và sự tích hợp cần thiết nhằm đáp ứng mục tiêu trên. Theo tướng Schwartz và đô đốc Greenert, ASB tìm kiếm phương pháp tấn công chuyên sâu có tính mạng lưới và tích hợp để “phá hủy, tiêu diệt và đánh bại” (NIA-D3) địch thủ. Cụ thể hơn, lực lượng hỗn hợp gồm không quân, hải quân và lục quân sẽ được trang bị khả năng liên lạc chặt chẽ nhằm thực hiện những cuộc tấn công đồng bộ trên nhiều vị trí của đối phương. Tháng 10 năm ngoái, Bộ trưởng Panetta từng điều trần trước Ủy ban Quân vụ Hạ viện rằng quốc hội phải hết lòng ủng hộ Lầu Năm Góc nếu muốn “bảo vệ nước Mỹ”.

Thực tế, ASB là phiên bản tương tự của chiến lược Tác chiến Không – Bộ (Air-Land Battle) mà Washington từng áp dụng để đối phó Moscow trong Chiến tranh lạnh. Ngược lại, chiến lược A2/AD của Bắc Kinh tương tự điều mà Moscow đã theo đuổi vào giai đoạn trên. Theo đó, thế giằng co tại Thái Bình Dương đang là phiên bản của Chiến tranh lạnh.

Cũng như quá khứ, để triển khai hiệu quả học thuyết ASB, Mỹ cần phát triển thêm nhiều loại vũ khí tối tân phù hợp với tình thế, bên cạnh việc duy trì lực lượng cần thiết trong khu vực. Lầu Năm Góc đang tiến hành hàng loạt dự án như máy bay ném bom tầm xa (ước tính chi phí phát triển là 55 tỉ USD); máy bay không gian không người lái X-37; tàu khu trục tàng hình USS Zumwalt, tàu tấn công đổ bộ cực lớn… Mới đây, thông tin về chiếc USS Zumwalt được tiết lộ trên một số phương tiện truyền thông.

Đồ họa mô phỏng tàu khu trục USS Zumwalt – Ảnh: Chosun.com

Tàu khu trục tàng hình 7 tỉ USD

Theo đài Fox News, tàu khu trục lớn nhất lịch sử hải quân Mỹ là USS Zumwalt đang trở thành trung tâm của chiến lược châu Á – Thái Bình Dương mà Tổng thống Barack Obama tuyên bố hồi năm ngoái. Nói về chiếc tàu này, tờ Daily Mail giật tựa hoành tráng rằng: Mỹ chế tạo tàu chiến 7 tỉ USD để duy trì uy thế của hải quân đối với Trung Quốc trong thế kỷ 21.

Hiện tại, tàu USS Zumwalt đang được hình thành tại xưởng đóng tàu Bath Iron Works ở Maine. Ngoài hình dáng kỳ lạ, chiếc tàu này dài hơn 180m, nặng 14.500 tấn được trang bị khả năng tàng hình hiện đại, có thể “hô biến” thành tàu cá dân sự trên màn hình radar địch. Zumwalt mang theo đến 80 tên lửa hành trình Tomahawk, tên lửa đối hạm, súng pháo 155 mm. Được thiết kế với khả năng tấn công vào bờ bằng tên lửa dẫn đường, Zumwalt đủ sức phối hợp hiệu quả cùng lực lượng lính thủy đánh bộ.

Daily Mail dẫn lời đô đốc Greenert phát biểu trong chuyến thăm xưởng Bath Iron Works hồi tuần trước nói: “Với khả năng tàng hình cùng hệ thống định vị sóng âm, sức tấn công đáng kinh ngạc và cần ít nhân lực vận hành – đây là tương lai của chúng ta”. Ông này còn khẳng định chiếc tàu phù hợp một cách hoàn hảo với sự đổi mới chiến lược mà Tổng thống Obama đề ra cho sự hiện diện của quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương. Chiếc Zumwalt có thể hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ tàu sân bay trong trường hợp xảy ra xung đột. Tuy nhiên, do chi phí chế tạo lên đến 7 tỉ USD mỗi chiếc nên Mỹ sẽ chỉ đóng 3 tàu loại này.

Máy bay không gian X-37

Ngoài ra, Mỹ còn theo đuổi một chương trình bí mật khác trong học thuyết ASB là máy bay không gian X-37. Tờ The Washington Times dẫn lời tướng William Hselton, người đứng đầu các hoạt động không gian của không quân Mỹ, tiết lộ thông tin mới nhất về máy bay không người lái X-37: “Nó đang chạy tốt trên quỹ đạo, và chúng tôi chưa quyết định ngày quay lại mặt đất của nó. Chúng tôi rất hài lòng với sự thể hiện của X-37”. Vị tướng này còn tự hào khẳng định loại máy bay trên có khả năng thay đổi hoàn toàn thế trận, cho phép lật ngược thế cờ trong tích tắc. Mặc dù từ chối cung cấp thông tin về ngân sách chế tạo nhưng tướng Hselton cho biết Lầu Năm Góc hiện có 2 chiếc X-37 và chưa có kế hoạch tăng cường thêm.

Một quan chức quốc phòng Mỹ cũng cho biết X-37 có thể phá hủy các thiết bị cảm biến không gian, vốn đảm trách việc cung cấp dữ liệu mục tiêu cho tên lửa đối hạm của đối phương. Vì thế, dòng máy bay này trở thành khí tài chủ chốt để triệt hạ các phương tiện phong tỏa, chống tiếp cận mà địch thủ triển khai nhằm vào quân đội Mỹ. Thời gian qua, Trung Quốc nhiều lần giới thiệu loại tên lửa đối hạm DF-21D, được xem như sát thủ tàu sân bay. Tuy nhiên, Lầu Năm Góc chưa hề nêu ra chính xác đối thủ trực tiếp mà cơ quan này nhắm đến khi phát triển X-37.

 

Chiến dịch Chimichanga

Ngày 4.4, Mỹ vừa triển khai chiến dịch Chimichanga gần căn cứ Yukon ở Alaska để tập luyện các chiến thuật cần thiết của không quân nếu chạm trán với Trung Quốc tại vùng tây Thái Bình Dương, theo tạp chí Wired. Tất nhiên, Lầu Năm Góc không bao giờ công khai thừa nhận mục đích thực sự của chiến dịch này. Trong chiến dịch, đầu tiên máy bay tàng hình F-22 phá hủy radar về hệ thống phòng thủ tên lửa của đối phương bằng bom SDB.

Sau đó các phi đội F-22 tiếp tục phóng tên lửa Amraam và Sidewinder vào chiến đấu cơ đối phương. Tiếp đến, chiến đấu cơ F-16 ập tới làm nhiệm vụ hỗ trợ cho đồng đội. Khi hệ thống phòng không của đối phương bị vô hiệu hóa, máy bay ném bom B-1 xâm nhập để thả những quả bom nặng gần 1 tấn xuống các mục tiêu bên dưới. Đây cũng là lần đầu tiên không quân Mỹ thử nghiệm phi đội tấn công được cải tiến với F-22, F-16, B-1 cùng các vũ khí mới chế tạo.

 

Thụy Miên

Châu Á-TBD: Không có sự thay thế cho sức mạnh Mỹ? – vnn

12 Th4

Trong bài phát biểu tại Học viện Hải quân Mỹ ở Annapolis, Maryland, Ngoại trưởng H.Clinton khẳng định, không có sự thay thế nào cho sức mạnh của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương.

 

Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton. Ảnh: AP

 

“Khi nói đến việc đảm bảo ổn định và an ninh ở châu Á – Thái Bình Dương và xa hơn nữa, thì đơn giản là không có sự thay thế cho sức mạnh Mỹ”, lãnh đạo ngoại giao Mỹ khẳng định.

 

Bà Clinton còn thừa nhận những căng thẳng với Trung Quốc khi trích dẫn cái mà bà gọi là “các vụ xâm nhập không gian mạng”. Ngoại trưởng Mỹ bác bỏ những lo ngại tồn tại trong khu vực rằng, đề cập tới vai trò lãnh đạo của Mỹ là chủ yếu bảo vệ những đặc quyền phương Tây.

 

Khẳng định Mỹ không tìm cách hành động trong mối xung đột với một Trung Quốc trỗi dậy, Ngoại trưởng Clinton nói, nước bà đang chuẩn bị cho những thách thức an ninh mới chứ không phải Chiến tranh lạnh ở châu Á.

 

Phủ nhận rằng Mỹ muốn ngăn chặn sự gia tăng của Trung Quốc như một cường quốc trỗi dậy, bà Clinton nói, Mỹ không mất đi những người bạn cũ và không tìm kiếm những kẻ thù mới. Bà phát biểu: “Trung Quốc không phải là Liên Xô và chúng ta không ở bên bờ vực một cuộc Chiến tranh Lạnh mới tại châu Á”.

 

“Địa chính trị ngày này có thể không còn là cuộc chơi có tổng bằng 0. Một Trung Quốc thịnh vượng là tốt cho Mỹ và ngược lại, miễn là cả hai chúng tôi phát triển theo hướng đóng góp những điều tốt đẹp cho khu vực và toàn cầu.  Hãy để tôi nói rõ hơn. Chúng ta sẽ chỉ xây dựng thành công một châu Á – Thái Bình Dương hòa bình, thịnh vượng nếu chúng ta thành công trong việc xây dựng một mối quan hệ Mỹ – Trung hiệu quả”.

 

Theo Ngoại trưởng Mỹ, có một số cường quốc mới nổi ở châu Á đang hành động như những người chơi có chọn lọc. Bà cảnh báo điều này sẽ không có lợi cho họ về lâu dài. “Một số cường quốc đang trỗi dậy hôm nay ở châu Á đang hành động như những người chơi có chọn lựa, chọn lựa khi tham gia xây dựng và khi tách rời khỏi hệ thống quốc tế”. Bà nhấn mạnh, họ cần làm việc với nhau để thích nghi và tự nâng cấp mình, thậm chí tạo ra các thể chế mới nếu cần thiết.

 

Bà cho rằng, có những nguyên tắc phổ biến và cần được bảo vệ: các quyền tự do căn bản và giá trị con người; một hệ thống kinh tế mở, tự do, minh bạch và công bằng; giải pháp hòa bình cho các tranh chấp và tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia.

 

Ngoại trưởng Mỹ nói, các nước đang trỗi dậy ở châu Á – Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia – đã có thể phát triển thịnh vượng nhờ vào một hệ thống quốc tế được Mỹ hỗ trợ.

 

Mỹ sẽ “thẳng thắn”

 

Tổng thống Mỹ Barack Obama đã coi châu Á là tâm điểm trong chính sách đối ngoại của ông và mối liên quan tự nhiên trong quan hệ Mỹ – châu Á đã nhấn mạnh tầm quan trọng của chiến lược “xoay trục” mà Washington đang hướng về khu vực, bà Clinton khẳng định.

 

Theo bà, xuất khẩu sang châu Á là điều sống còn với sự phục hồi kinh tế Mỹ và tiếp cận người tiêu dùng trong tầng lớp trung lưu đang ngày một phát triển của khu vực là trọng tâm để tăng trưởng. “Định dạng kinh tế toàn cầu, sự tiến bộ trong dân chủ và nhân quyền cũng như hy vọng của chúng ta về một thế kỷ 21 ít đẫm máu hơn thế kỷ 20… tất cả xoay quanh phần lớn những gì xảy ra ở châu Á – Thái Bình Dương”, Ngoại trưởng Mỹ nói.

 

Triều Tiên và các vấn đề an ninh khác sẽ tiếp tục thúc đẩy Mỹ tham gia nhiều hơn trong khu vực. Kế hoạch phóng tên lửa tầm xa của Bình Nhưỡng nếu được thực hiện, sẽ là hành động vi phạm các nghị quyết của Hội đồng Bảo an và đặt nhiều nước láng giềng vào sự nguy hiểm, bà Clinton cho biết.

 

Chỉ vài tuần sau khi Triều Tiên nhất trí hoãn các vụ thử hạt nhân và tên lửa, bà Hillary nói, thì “tốc độ thay đổi” của họ đã đặt ra những câu hỏi về sự nghiêm túc khi Bình Nhưỡng tuyên bố muốn cải thiện quan hệ với Mỹ và láng giềng. “Lịch sử gần đây cho thấy một cách mạnh mẽ rằng, các hành động khiêu khích hơn nữa có thể tiếp tục diễn ra sau đó”, bà cảnh báo.

 

Ngoại trưởng Clinton tuyên bố, Mỹ sẽ tiếp tục “rất thẳng thắn” về các lĩnh vực còn căng thẳng, chẳng hạn tấn công mạng đe dọa kinh tế và an ninh quốc gia. Bà cho rằng: “Vì Mỹ và Trung Quốc là những nước có không gian mạng lớn nhất toàn cầu, nên việc thiết lập các thực tiễn rõ ràng và được thừa nhận trong không gian mạng là điều rất quan trọng”.

 

Ngoại trưởng Mỹ khẳng định sự cần thiết có một mạng lưới chặt chẽ trong khu vực của các tổ chức, như Thượng đỉnh Đông Á, nhằm thực thi các quy định và giải quyết tranh chấp bao gồm cả cạnh tranh tuyên bố chủ quyền ở vùng giàu tài nguyên dầu khí là Biển Đông.

 

Các thỏa thuận như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương gồm 9 thành viên cũng tạo ra một sân chơi kinh tế cho phép “một nền kinh tế Thái Bình Dương hội nhập luôn luôn cởi mở, minh bạch, công bằng”, bà nói.

 

Hệ thống kinh tế quốc tế với những quyền tự do căn bản khiến các cường quốc đang trỗi dậy như Ấn Độ và Trung Quốc sẽ phải bảo vệ khi họ có được vị thế lớn hơn, Ngoại trưởng Clinton nhấn mạnh. “Họ đã hưởng lợi từ an ninh mà nó cung cấp, những thị trường mà nó mở ra và lòng tin mà nó thúc đẩy. Kết quả là, họ có phần thực sự trong thành công của hệ thống ấy, và khi sức mạnh của họ phát triển, khả năng đóng góp mở rộng thì thế giới mong chờ sự gia tăng của họ sẽ là tốt đẹp”.

 

  • Thái An (Theo Bloomberg, Zeenews)

KHI MỸ HƯỚNG VỀ CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG – TTXVN/BS

12 Th4

Tài liệu tham khảo đặc biệt

(Báo Le Monde diplomatique tháng 3/2012)

Trong khi Chính phủ Ixraen đang đe dọa tn công Iran, Liên minh chân Âu và Mỹ đã tăng cường những biện pháp trừng phạt cứng rn chng lại nước Cộng hòa Hồi giáo nàymột chiến lược mà người ta có th nghi ngờ rằng nó sẽ dn đến một mục tiêu đã được biết đến. Tình hung này khiến Oasinhtơn còn lo lắng nhiều hơn vì nước Mỹ bị suy yếu bởi cuộc khủng hoảng và những thất bại của họ ở Irc và Ápganixtan, đang tìm cách chuyn hướng những ưu tiên của họ và sẽ tập trung vào châu Á – Thái Bình Dương.

 

“Dân tộc ta đang sống trong một thời khắc quá độ”, đó là điều mà Tổng thống Obama đã tuyên bố vào ngày 5/1 vừa qua, trước khi tiết lộ chiến lược phòng thủ tương lai của nước Mỹ. Chiến lược này dự báo sẽ thu gọn tầm vóc quân sự và sẽ chấm dứt một số sứ mệnh, đặc biệt là những trận chiến ở vùng đất cơ giới hóa ở châu Âu và các hoạt động tác chiến chống nổi loạn ở Ápganixtan và Pakixtan. Mục đích là để tập trung nhiều hơn vào những khu vực khác – đặc biệt là châu Á – Thái Bình Dương – và các mục tiêu khác: chiến tranh mạng, các hoạt động tác chiến đặc biệt và việc kiểm soát các vùng biển. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta nhận định: “Lực lượng liên minh của Mỹ sẽ bị giảm nhẹ, nhưng nó sẽ nhanh nhẹn và linh hoạt hơn, sẵn sàng triển khai một cách nhanh chóng, sáng tạo và hoàn thiện hơn về mặt kỹ thuật”.

Theo Obama và Panetta, hướmg đi mới này phản ánh một tình trạng không sáng sủa cả bên trong lẫn bên ngoài. Bị suy yếu bởi cuộc khủng hoảng kinh tế, nước Mỹ đã lâm vào tình trạng bùng nổ nợ công; căn cứ vào Đạo luật kiểm soát ngân sách được thông qua năm 2011, ngân sách của Bộ Quốc phòng sẽ bị cắt 478 tỉ USD trong vòng 10 năm tới. Và có thể còn những cắt giảm lớn nữa nếu các đảng viên Cộng hòa với Dân chủ không thể đi đến một thỏa thuận về những giải pháp kinh tế khác. Trên phương diện quốc tế, việc rút quân khỏi Irắc đã không làm giảm áp lực quân sự. Oasinhtơn đang đối mặt với những cuộc xung đột tiềm tàng mới, ví dụ cuộc chiến với Iran hay với Bắc Triều Tiên, cũng như trước sự khẳng định của Trung Quốc.

Thoạt tiên, chính sách này nhằm mục đích tạo ra một lực lượng quân sự nhỏ gọn hơn, nhưng thích nghi tốt hơn với những mối nguy hiểm tiềm tàng trong tương lai, như vậy nó có thể được coi như là một câu trả lời thực dụng trong một bối cảnh kinh tế và địa – chính trị không ổn định. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ, người ta có thể phát hiện ra những mục tiêu rộng lớn hơn.

Những đối thủ tham vọng

Đối mặt với sự xuất hiện của những đối thủ tham vọng và với nguy cơ không thể tránh khỏi là dần mất đi cương vị siêu cường duy nhất của mình, mước Mỹ tìm cách giữ vững ưu thế của họ bằng cách duy trì thế lực trong những cuộc chiến có tính quyết định và trong những khu vực then chốt của hành tinh, có nghĩa là trong những vùng ngoại vi của châu Á, dựa theo một vòng cung trải từ Vịnh Pécxích, qua Ấn Độ Dương và Biển Trung Hoa tới Tây Bắc Thái Bình Dương. Để làm được điều này, Lầu Năm Góc sẽ tìm mọi cách để bảo toàn ưu thế của mình không những trên đường không và đường biển, mà cả trong lĩnh vực chiến tranh mạng và công nghệ vũ trụ nữa. Là phương diện chính của chính sách quốc phòng Mỹ, việc chống khủng bố sẽ chủ yếu được giao phó cho các lực lượng tinh hoa, được trang bị bởi các máy bay do thám hủy diệt không người lái và bởi trang thiết bị cực kỳ hiện đại.

Quản lý việc thu hẹp sự hiện diện của mình ở nước ngoài, hay nói cách khác, quản lý sự suy sụp của một đế quốc – chưa bao giờ là một điều dễ dàng. Rất nhiều quốc gia đối mặt với thách thức này, đặc biệt là Anh và Pháp sau Chiến tranh thế giới thứ hai, hoặc Nga sau sự sụp đổ của Liên bang Xôviết, đã ghi nhận điều đó bằng kinh nghiệm xương máu của mình. Họ đã thường dấn thân vào những cuộc phiêu lưu quân sự đầy mạo hiểm, như cuộc xâm lược của Pháp và Anh vào Ai Cập năm 1956, hay cuộc xâm lược của Liên Xô vào Ápganixtan năm 1979; bấy nhiêu cuộc khởi xướng đó đã nhanh chóng dẫn đến sự suy sụp thay vì trì hoãn nó, Khi tấn công Irắc vào năm 2003, Mỹ đang ở trên đỉnh cao của quyền lực. Nhưng cuộc nổi dậy tiếp diễn sau đó kéo dài và tốn kém tới mức – theo ước tính khoảng từ 1000 đến 4000 tỉ USD – điều này dẫn tới xu hướng, và một phần nào đó khả năng Mỹ dấn thân vào một cuộc chiến lâu dài ở châu Á, Dường như từ nay trở đi có rất ít khả năng Obama hoặc bất cứ một vị tổng thống nào khác, dù thuộc Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa, sẽ lao vào một chiến dịch quân sự tương tự như những cuộc chiến tranh ở Irắc và Apganixtan.

Vì vậy, là những người hiểu biết tinh tế về lịch sử, Tổng thống Obama và những cố vấn chính của ông hiểu rằng sẽ thật là ngu ngốc – và tốn kém – nếu cứ bám vào toàn bộ những cam kết quân sự của Mỹ ở nước ngoài, nhưng không phải vì thế mà họ từ bỏ tất cả những cam kết đó, Chính sách quốc phòng mới của họ đi theo một con đường ở giữa hai điều trên: giảm bớt sự dính líu của họ ở một số khu vực, đặc biệt là châu Âu, và củng cố sự hiện diện của họ ở các khu vực khác. Ông William J Burn, Thứ trưởng ngoại giao Mỹ đã phát biểu trong một bài diễn văn ở Oasinhtơn vào tháng 11/2001: “Trong những thập kỷ tới, châu Á – Thái Bình Dương sẽ trở thành một khu vực năng động nhất, và quan trọng nhất trên thế giới đối với những lợi ích của Mỹ. Khu vực này đã tập trung hơn một nửa dân số thế giới, những đồng minh chủ chốt, những cường quốc mới nổi và một số thị trường kinh tế chính”. Để duy trì sự thịnh vượng, và để không bị suy sụp vì sự phát triển của Trung Quốc, đây chính là khu vực mà nước Mỹ cần phải tập trung sự cố gắng của mình, ông Burns giải thích: -“Để đáp ứng những thay đổi sâu sắc đang diễn ra ở châu Á, chúng ta cần phải phát triển một kiểu kiến trúc ngoại giao, kinh tế và an ninh có thể theo kịp tốc độ”.

Kiểu “kiến trúc mới” này bao gồm nhiều tầm vóc quan trọng, cả về mặt quân sự và phi quân sự. Mỹ vừa mới củng cố các mối quan hệ ngoại giao với Inđônêxia, Philippin và Việt Nam, và đã thiết lập lại những mối quan hệ chính thức với Mianma. Song song với đó, Nhà Trắng tìm mọi cách để tăng cường thương mại Mỹ ở châu Á và ủng hộ hết mình cho sự chấp thuận một hiệp định tự do trao đổi đa phương: Quan hệ đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Chiến lược này có một mục đích tiềm ẩn: chống lại sự vươn lên của Trung Quốc và ảnh hưởng của nước này đối với Đông Nam Á. Ví dụ bằng cách khôi phục các quan hệ ngoại giao với Mianma, Mỹ hy vọng thâm nhập vào một đất nước mà ở đó, cho tới nay Bắc Kinh chỉ có rất ít đối thủ cạnh tranh. Đối với TPP, đơn giản là loại trừ Trung Quốc, lấy cớ vì những lý do kỹ thuật.

Khả năng triển khai

Ý muốn vượt qua đối thủ Trung Quốc cũng đòi hỏi những phương hướng quân sự mới. Theo các nhà chiến lược của Lầu Năm Góc, sự thịnh vượng của các đồng minh của Mỹ ở châu Á phụ thuộc vào quyền tự do của họ ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, điều kiện không thể thiếu để nhập khẩu những nguyên liệu (đặc biệt là dầu mỏ) và xuất khẩu những mặt hàng ché biến công nghiệp một cách thuận lợi. Ông Burns phân tích: “Sự vươn lên của Trung Quốc đã không chỉ đổi mới những thành phố và những nền kinh tế châu Á: nó đã vẽ lại một bản đồ địa chiến lược. “Chỉ cần nêu ra một ví dụ, một nửa trọng tải hàng hóa hiện nay đi qua Biển Đông”.

Chế ngự được vùng biển này và các vùng biển kế bên, Mỹ sẽ có thể áp đặt một quyền lực ép buộc tiềm ẩn đối với Trung Quổc và một số nước khác trong khu vực, như điều mà trước đây Hải quân Anh đã làm. Các cố vấn của Lầu Năm Góc từ lâu nay đã biện hộ cho kiểu chính sách như thế này, bằng cách tuyên bố rằng lợi thế đặc biệt của Mỹ nằm trong khả năng của họ kiểm soát những đường biển chính trên thế giới, một lợi thế mà không một cường quốc nào khác có được. Dường như Chính quyền Obama cũng đã lựa chọn quan điểm này. Tổng thống Mỹ đã hứa hẹn điều này trong một bài diễn văn đọc ở Canbơrơ (Ôxtrâylia) vào ngày 17/11/2011. Ông cam đoan: bất chấp những cắt giảm ngân sách, “chúng ta sẽ cung cấp những phương tiện cần thiết để duy trì sự hiện diện quân sự của chúng ta ở khu vực này bằng cách cải thiện sự có mặt của chúng ta ở Đông Nam Á”. Vì vậy cần phải chờ đợi những hoạt động quân sự và những hoạt động triển khai tàu chiến của Mỹ trong khu vực này. Ông Obama cũng thông báo về việc thành lập một căn cứ mới ở Darwin, thuộc bờ biển phía Bắc Ôxtrâylia, và việc tăng viện trợ quân sự cho Inđônêxia.

Việc thực hiện những kế hoạch địa chính trị khổng lồ này sẽ gây ra một sự chuyển biến trong quân đội Mỹ. Một tài liệu của Lầu Năm Góc dự báo: Điều này sẽ “tăng thêm sức mạnh thể chế và tập trung vào sự hiện diện, khả năng triển khai và sức mạnh răn đe của họ ở châu Á – Thái Bình Dương”. Mặc dù tài liệu này không chỉ rõ những thành phần nào của quân đội sẽ được tạo điều kiện, nhưng rõ ràng trọng tâm chú ý sẽ rơi vào lực lượng hải quân – đặc biệt là các tàu sân bay và các hạm đội tàu chiến – và vào những máy bay và tên lửa đời mới nhất. Trên thực tế, trong khi tổng lực lượng quân đội Mỹ sẽ giảm từ 570 nghìn xuống còn 490 nghìn lính trong vòng 10 năm, thì ông Obama đã bác bỏ ý kiến giảm bớt lực lượng hải quân.

Vả lại, nước Mỹ dự kiến sẽ đầu tư một lượng tiền đáng kế để trang bị các loại vũ khí cho quân đội chống lại chiến lược “chống tiếp cận” và “chống xâm nhập khu vực” (A2/AD) của các đối thủ tiềm tàng. Kế hoạch mới của Lầu Năm Góc giải thích: “Để răn đe một cách hiệu quả những đối thủ nếu có và để khiến họ không đạt được những mục đích của họ, Mỹ phải duy trì khả năng triển khai trong các khu vực mà quyền tự do di chuyển và hoạt động của chúng ta còn đang gây tranh cãi” – một lời trích dẫn gần như, nói rõ về những vùng biển Đông và biển Hoa Đông, cũng như đối với Iran và Bắc Triều Tiên. Ở những khu vực này, tài liệu nêu rõ, những đối thủ tiềm tàng của Mỹ, “ví dụ Trung Quốc”, có nguy cơ sử dụng những

“phương pháp không đối xứng” – tàu ngầm, tên lửa chống hạm, chiến tranh mạng… -để đánh bại hoặc ngăn cản hoạt động của quân đội Mỹ. Hệ quả là “quân đội Mỹ sẽ đầu tư cần thiết để đảm bảo khả năng hoạt động của họ trong những khu vực A2/AD”. Rõ ràng, Mỹ đang muốn chế ngự khu vực ngoại vi đường biển châu Á; họ đã dành ưu tiên cho khu vực này. Sẽ chẳng có gì là quan trọng nếu Trung Quốc và các cường quốc mới nổi khác phản đối điều này.

***

TTXVN (Bắc Kinh 4/4)

Ngày 28/3, tờ “Giải phóng quân” (Trung Quốc) đăng bài viết “Bốn mâu thuẫn lớn ràng buộc tiến trình điều chỉnh chiến lược quân sự của Mỹ sang khu vực chân Á-Thái Bình Dương” của tác gi Trương Diệp, có nội dung đáng chủ ý sau:

Điều chỉnh chiến lược quân sự là bước đi chiến lược mang tính lịch sử quan trọng của Mỹ nhằm bảo vệ địa vị bá quyền đơn cực của mình, hiện nay tiến độ của trọng tâm chiến lược quân sự Mỹ chuyển dịch sang phía Đông đang được đẩy nhanh, mục tiêu đã rõ ràng, diễn biến hết sức mạnh mẽ. Tuy nhiên, tác giả cho rằng trong bối cảnh thời đại hòa bình phát triển, trước hiện thực phải co cụm chiến lược tổng thể, sự điều chỉnh chiến lược quân sự của Mỹ tồn tại nhiều mâu thuẫn nội tại, điều này sẽ làm tăng thêm những khó khăn và tính không xác định trong tiến trình điều chỉnh chiến lược, trong đó có 4 mâu thuẫn cơ bản sau:

1/ Mâu thuẫn giữa mục tiêu chiến lược bá quyền đơn cực và xu thế phát triển lịch sử đa cực hoá. Mục đích chủ yếu của điều chỉnh chiến lược quân sự của Mỹ là chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương, triệt tiêu ảnh hưởng của các “nước lớn mới nổi”, xoay chuyển cục diện bất lợi do cuộc chiến chống khủng bố khiến khả năng kiểm soát đối với khu vực châu Á-Thái Bình Dương sụt giảm, duy trì địa vị “lãnh đạo toàn cầu” của mình, trong đó ý đồ bảo vệ bá quyền đơn cực Mỹ là rất rõ ràng. Tuy nhiên, sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, tiến trình đa cực hoá thế giới nhanh chóng phát triển. Mười năm với cuộc chiến chống khủng bố và cuộc khủng hoảng kinh tế đã khiến sức mạnh tổng hợp của Mỹ bị tổn thất nghiêm trọng, điều này làm tăng cục diện chiến lược “nhất siêu đa cường”. Trong bối cảnh thời đại đa cực hoá ngày càng phát triển, các cường quốc mới nổi trỗi dậy mang tính tập thể, thực lực của Mỹ giảm sút tương đối, việc Mỹ tiếp tục kiên trì mục tiêu bá quyền thế giới đơn cực đã mâu thuẫn với trào lưu phát triển của lịch sử thế giới ngày nay và khó có thể điều hòa, giữa mục tiêu chiến lược và năng lực thực hiện của nước này cũng tồn tại khoảng cách tương đối lớn. Trong lĩnh vực chính trị quốc tê, Mỹ sẽ phải chịu nhiều kiềm chế hơn khi thông qua Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc xử lý các vấn đề quốc tế và khu vực quan trọng; trong lĩnh vực kinh tế-thương mại quốc tế, chính sách đồng đô la Mỹ “hại người lợi ta” đă trở thành mục tiêu công kích; khả năng kiểm soát đối với Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) giảm sút; tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, mức độ khó khăn của Mỹ trong việc kiểm soát và gây ảnh hưởng đối với các công việc của khu vực không ngừng tăng lên, khu vực này đã hội tụ nhiều nước lớn trên thế giới, có nhu cầu độc tập tự chủ tương đối mạnh. Mâu thuẫn nội tại giữa mục tiêu chiến lược với xu thế phát triển lịch sử là mâu thuẫn mang tính căn bản trong điều chỉnh chiến lược quân sự Mỹ, đồng thời cũng là vấn đề tự thân khó có thể khắc phục. Cùng với thời gian, vai trò ràng buộc của nó sẽ xuất hiện trên các lĩnh vực, các quyết định trong tiến trình điều chỉnh chiến lược quân sự của Mỹ sẽ đối mặt với nhiều khó khăn chồng chất.

2/ Mâu thuẫn giữa trọng tâm hành động quân sự với trọng tâm chiến lược quân sự. Trọng tâm chiến lược chuyển dịch từ khu vực Đại Trung Đông sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương đã trở thành nhận thức chung từ trên xuống dưới, từ chính quyền đến dân chúng Mỹ, Tuy nhiên, vấn đề hạt nhân Iran tiếp tục nóng lên, tình hình căng thẳng giữa Mỹ và Iran không ngừng gia tăng, cục diện Xyri tiếp tục rối ren, liên tiếp gặp phiền phức tại Ápganixtan, Irắc, đều khiến cho Mỹ không thể căng sức đối phó, khó có thể thoát ra khỏi Trung Đông trong thời gian ngắn. Khu vực châu Á-Thái Bình Dương là khu vực quan trọng nhất trong bàn cờ chiến lược toàn cầu của Mỹ hiện nay, nhưng hoàn toàn không phải là khu vực cấp thiết nhất; tầm quan trọng của cuộc chiến chống khủng bố tại Trung Đông đang giảm đi, nhưng khu vực này vẫn là khu vực trọng điểm để Mỹ triển khai hành động quân sự hiện nay. Sự không thống nhất giữa trọng tâm bành động quân Sự với trọng tâm chiến lược quân sự là mâu thuẫn hàng đầu mà quân đội Mỹ hiện cần giải quyết, ở một chừng mực nhất định điều này sẽ ràng buộc tiến độ chuyển dịch trọng tâm của chiến lược của Mỹ sang phía Đông. Hiện nay trọng tâm của chiến lược quân sự này đang ở vào giai đoạn khởi động và tăng tốc, nếu các vấn đề điểm nóng như Iran, Xyri được giải quyêt hoặc hòa dịu, quân đội Mỹ có thể thuận lợi rút ra khỏi khu vực này, thì tiến trình dịch chuyển trọng tâm chiến lược sang phía Đông của Mỹ sẽ bước vào giai đoạn thực thi toàn diện. Tuy nhiên, nếu cục diện bất ổn tại Trung Đông ngày càng nghiêm trọng hoặc bùng nổ xung đột quân sự, tất sẽ dẫn đến rối loạn, thậm chí phá vỡ tiến trình nói trên.

3/ Mâu thuẫn giữa tính rõ ràng về phương hướng chiến lược và tính mơ hồ về đối thủ chiến lược. Cùng với trọng tâm chiến lược quân sự của Mỹ từng bước chuyển dịch sang phía Đông, nhiều nhà quan sát cho rằng phương hướng chiến lược đã ngày càng rõ ràng, tức là tập trung lực lượng kiềm chế sự phát triển của Trung Quốc, duy trì địa vị chủ đạo đối với các công việc của châu Á-Thái Bình Dương. Nhưng trong vấn đề đối thủ chiến lược Mỹ lại cố ý duy trì tính mơ hồ, chưa bao giờ bày tỏ rõ ràng Trung Quốc là đối thủ chiến lược của mình, chỉ nhấn mạnh cần tập trung đối phó với các “mối đe dọa tiềm tàng tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương”, vấn bày tỏ hoan nghênh đối với sự “trỗi dậy của Trung Quốc . Mâu thuẫn giữa tính rõ ràng về phương hướng và tính mơ hồ về đối thủ trong chiến lược quân sự của Mỹ là do đặc trưng thời đại toàn cầu hoá và tính chất của quan hệ Trung-Mỹ hiện nay quyết định. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hoá, giữa các quốc gia không còn là quan hệ “không phải thù tức là bạn” của thời kỳ Chiến tranh Lạnh, quan hệ giữa các nước lớn đều xuất hiện cục diện đan xen giữa cạnh tranh và hợp tác, quan hệ Trung-Mỹ cũng có nhiều thay đổi sâu sắc. Mức độ hòa nhập kinh tế quốc tế và hệ thông chính trị thế giới của Trung Quốc không ngừng tăng lên, trở thành lực lượng quan trọng của chính trị, kinh tế quốc tế, không chỉ trong lĩnh vực an ninh phi truyên thống mà còn trên cả các vấn đề an ninh truyền thống như vấn đề hạt nhân của Bắc Triều Tiên, Iran, Trung Đông, sự nhờ cậy của Mỹ đối với Trung Quốc ngày càng lớn hơn. Đồng thời với “kiềm chế”, duy trì tiếp xúc đã trở thành cốt lõi trong sách lược của Mỹ đối với Trung Quốc. Mâu thuẫn giữa tính rõ ràng về phương hướng và tính mơ hồ về đối thủ chiến lược trong chiến lược quân sự Mỹ đã quyết định đại cục cạnh tranh và điều hòa giữa hai nước Trung-Mỹ sẽ không có những thay đổi mang tính căn bản. Trọng tâm chiến lược quân sự của Mỹ chuyển dịch sang phía Đông sẽ khiến nhân tố cạnh tranh trong quan hệ Trung-Mỹ tăng lên rõ rệt, nhưng kiểu cạnh tranh này không giống với quan hệ “một mất một còn” của Mỹ- Xô thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Quan hệ quân sự giữa hai nước Trung-Mỹ sẽ lấy đề phòng, kiềm chế là chính, đồng thời tồn tại không gian về điều hòa và hợp tác tương đối lớn, khả năng xảy ra đối kháng quân sự trực tiếp chỉ duy trì ở mức tương đối thấp, vẫn sẽ cho thấy tình hình tổng thể là kiềm chế và chống kiềm chế, thoả hiệp lẫn nhau trong đấu tranh trên nhiều bình diện.

4/ Mâu thuẫn giữa ưu thế kinh tế suy giảm với nhiệm vụ quân đội tăng lên. Bị tác động bởi khủng hoảng kinh tế và cuộc chiến chống khủng bố, địa vị ưu thế kinh tế của Mỹ rõ ràng bị giảm sút, sức ảnh hưởng và sức kiểm soát về phương diện chính trị, văn hoá cũng xuất hiện xu thế đi xuống, chỉ có lĩnh vực quân sự vẫn tiếp tục duy trì được địa vị ưu thế tuyệt đối. Trong bối cảnh đó, địa vị ưu tiên của biện pháp quân sự tăng lên, trở thành biện pháp chủ yếu để Mỹ mở rộng ảnh hưởng, thực hiện mục tiêu chiến lược về chính trị, kinh tế và văn hoá. Những năm gần đây, Mỹ lấy lực lượng quân sự làm kẻ dẫn đường, tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương không ngừng tạo ra các chủ đề an ninh, lấy việc cung cấp “sản phẩm an ninh khu vực” làm sức hút, duy trì và củng cố địa vị chủ đạo khu vực châu Á-Thái Bình Dương của Mỹ. Phạm vi, sứ mệnh, nhiệm vụ của quân đội Mỹ từng bước vươn từ lĩnh vực an ninh truyền thống sang lĩnh vực an ninh phi truyền thống, từ đối kháng quân sự trực tiếp sang mở rộng, kiến tạo phương hướng trật tự an ninh khu vực. Trong Báo cáo đánh giá chiến lược quân sự công bố năm 2012, bên cạnh việc giữ nguyên 6 nhiệm vụ cơ bản, Mỹ đã tăng thêm 4 nhiệm vụ mới trong đó lấy hành động quân sự phi chiến tranh làm cốt lõi. Tuy nhiên, trong bối cảnh sức mạnh tổng hợp giảm sút, chiến lược toàn cầu thu hẹp, dự toán ngân sách quốc phòng bị cắt giảm, nhiệm vụ của lực lượng quân sự không ngừng mở rộng tất sẽ làm trầm trọng hơn mâu thuẫn giữa đầu tư chiến lược bị giảm thiểu với nhu cầu cần phải mở rộng. Trong Báo cáo đánh giá quốc phòng, Mỹ thừa nhận “chúng ta đang đứng trước thách thức cân bằng quan hệ giữa nguồn lực hiện có với thoả mãn nhu cầu an ninh quốc gia, mức độ khó khăn này là chưa từng có trong lịch sử”. Điều chỉnh triển khai binh lực, tái tổ chức căn cứ, phát triển trang thiết bị hành động quân sự do điều chỉnh chiến lược quân sự đưa tới đều cần phải tăng thêm đầu tư kinh phí.

Khó khăn về kinh tế sẽ trở thành nhân tố ràng buộc chủ yếu gây khó khăn cho quân đội Mỹ trong một thời gian tương đối dài, đồng thời sẽ kiềm chế khả năng triển khai trọng tâm chiến lược của Mỹ sang khu vực châu Á- Thái Bình Dương trong một thời gian nhất định.

***

Nqày 19/3, mạng “Tin tức Trung Quốcđăng bài viết Đánh giá thế nào về tình hình đối đầu quân sự Mỹ-Trung hiện nay? ” của tác gi Tiết Lí Thái, chuyên gia nghiên cứu của Trung tâm an ninh và hợp tác quốc tế, Đại học Stanford (Mỹ), có nội dung như sau:

Nhìn từ động hướng quân sự của Mỹ thời gian gần đây, dường như Mỹ đang tiếp tục tăng cường trạng thái đối đầu quân sự với Trung Quốc. Ví dụ, ngày 8/3, Thứ trưởng Quốc phòng Mỹ Aston Carter tuyên bố, trong vài năm tới, số lượng tàu chiến của hải quân Mỹ được triển khai tại Thái Bình Dương sẽ tăng từ 52% hiện nay lên 60% vào năm 2013 trong tổng số tàu chiến của lực lượng hải quân Mỹ, trong đó còn bao gồm việc tăng thêm một tàu sân bay, nâng số tàu sân bay được triển khai tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương lên 6 chiếc.

Trong các quân chủng của Mỹ, hải quân là quân chủng có khả năng nhất thể hiện năng lực tác chiến toàn cầu của Mỹ. Lục quân tạm thời không nói đến, so sánh với không quân thì hải quân càng cho thấy rõ năng lực tác chiến viễn dương và năng lực tác chiến lâu dài trong điều kiện chiến tranh của quân đội Mỹ. Trong các binh chủng của hải quân Mỹ, lực lượng có khả năng tấn công viễn dương và có sức đột phá mạnh nhất cũng chính là không quân hải quân lấy tàu sân bay làm bàn đạp tấn công.

Tàu sân bay là “sân bay di động trên biển”. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, quần thể chiến đấu của tàu sân bay luôn là lực lượng nòng cốt của quân đội Mỹ trong việc thực thi triển khai can thiệp quân sự ở nước ngoài. Trong nhiều cuộc khủng hoảng quốc tế, sự lựa chọn đầu tiên của Chính phủ Mỹ nhằm phản ứng trước diễn biến tình hình chính là việc điều động tàu sân bay, đồng thời dựa vào quần thể chiến đấu của tàu sân bay để nhanh chóng chủ động giành quyền kiểm soát về hải quân và không quân tại khu vực xảy ra chiến sự. Sự lựa chọn này chủ yếu xuất phát từ thực tế, quằn thể chiến đấu của tàu sân bay luôn trong trạng thái chuẩn bị chiến tranh cao năng lực phản ứng nhanh mạnh, có sức răn đe lớn, bên cạnh đó. còn có đặc điểm như bán kính tác chiến lớn, thời gian duy trì trạng thái chiến tranh dài.

Ngoài ra, khi quy hoạch dự toán ngân sách quốc phòng tài khoá 2013, để nghiên cứu phát triển máy bay ném bom tàng hình tầm xa thế hệ mới, Lầu Năm Góc đã phân chia ngân sách riêng cho dự án này. Gần đây Tham mưu trưởng Không quân Mỹ, tướng Norton A Schwartz, cho biết sở dĩ Mỹ tăng cường khoản đầu tư lớn cho nghiên cứu phát triển máy bay ném bom tàng hình tầm xa thế hệ mới là “tính đến việc có thể xuyên thủng và phá tan mạng lưới phòng không của Trung Quốc”.                          

Phải chăng Mỹ đang tăng cường đối đầu quân sự vi Trung Quốc?

Tướng Norton A Schwartz cho rằng tại các tỉnh duyên hải miền Đông, Trung Quốc đã triển khai mạng lưới phòng không dày đặc, có tính năng tốt nhất trên thế giới; Iran cũng triển khai hệ thống phòng không nhất thể hoá tại các địa điểm trọng yếu xung quanh các cơ sở hạt nhân. Tướng Noiton A Schwartz chỉ ra rằng để đối phó với năng lực quân sự có tính thách thức của Trung Quốc đang trong quá trình phát triển hiện nay việc Lầu Năm Góc nghiên cứu phát triển máy bay ném bom tàng hình tầm xa thế hệ mới là mọt bộ phận hợp thành quan trọng của “khái niệm tác chiến nhất thể hóa không quân hải quân” đang được Mỹ quy hoạch triển khai

Trong khi Mỹ đang thu hẹp mặt trận quân sự trên phạm vi toàn cầu thi tàu sân bay của hải quân Mỹ triển khai tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương không những không giảm mà còn có xu hướng tăng lên. Để có thể xé toang mạng lưới phòng không của Trung Quốc, không quân Mỹ cũng đang gấp rút xây dựng một phi đội máy bay ném bom tàng hình tầm xa thế hệ mới. Theo những động thái trên, quân đội Mỹ đã liệt Trung Quốc vào đối tượng cần đề phòng nhất. Đánh giá chiến lược của Mỹ cho rằng Trung Quốc là quốc gia đối địch lớn nhất trong tương lai và Mỹ gần như đã và đang chuẩn bị mọi phương án cho xu hướng này. Trong suy nghĩ của các nhà chiến lược Bắc Kinh, hầu hết các dự án đầu tư vào quân sự và nghiên

cứu phát triển vũ khí của Mỹ đều có yếu tố Trung Quốc, coi Trung Quốc là ke thù giả tưởng chủ yếu nhất của Mỹ.

Ngày 5/1/2012, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc đã công bố Chiến lược quân sự mới của Mỹ trong tương lai 10 năm tới, trong đó có 3 đặc điểm nổi bật là thu hẹp quy mô, thay đổi kết cấu và quan tâm khu vục châu Á-Thái Bình Dương. Trong dự toán ngân sách quốc phòng của Mỹ năm tài khoá 2013, ngân sách chi cho lục quân bị cắt giảm nghiêm trọng, ngân sách chi cho không quân và hải quân vẫn tiếp tục được duy trì ở mức tương đối, đây chính là ý nghĩa cốt lõi trong chiến lược quân sự mới của Mỹ được thể hiện trên phương diện chi ngân sách quân sự.

Phân tích kỹ chiến lược an ninh và triển khai quân sự của Mỹ trong những năm gần đây, nhận định cho rằng Mỹ đã tăng cường trạng thái đối đầu quân sự toàn diện với Trung Quốc tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương là vẫn còn quá sớm. Nhìn chung, chính sách “quay trở lại châu Á” của Chính quyền Obama trên thực tế nội dung cốt lối là tăng cường quan hệ đối tác với các tổ chức và đồng minh khu vực, tái cân bằng trật tự ưu tiên ngoại giao, cân bằng quân sự khu vực, mở rộng thị trường thương mại với châu Á và duy trì quan hệ ổn định với Trung Quốc. Trong khi đó, Obama có thực hiện thuận lợi chính sách “quay trờ lại châu Á” hay không, mấu chốt ở chỗ có thể duy trì quan hệ ổn định với Trung Quốc hay không.

Iran làm cho Mỹ khó có thể ra tay

Đối với lợi ích cốt lõi của phương Tây, cơ sở vũ khí hạt nhân Iran là vấn đề mang tính toàn cầu. Iran là cường quốc trung bình, sức mạnh tổng hợp vượt xa so với Irắc, Ápganixan, Libi và Xyri, trong khi đó Iran lại nằm kề con đường xuất khẩu dầu mỏ chủ yếu của vịnh Pécxích, đó là eo biển Hormuz, sử dụng vũ lực đối với Iran, tất yếu sẽ khiến eo biển này bị phong tỏa, đồng nghĩa với việc huyết mạch chính của nguồn năng lượng thế giới bị cắt đứt, nhất là đối với các quốc gia châu Âu đang lâm vào cuộc khủng hoảng nợ công, việc gây ra cuộc khủng hoảng này sẽ làm tăng thêm nhiều gánh nặng và nhân tố không xác định. Tuy nhiên, hiện nay các quốc gia phương Tây vẫn đang tăng cường gây sức ép với Iran trên tất cả các mặt như ngoại giao, kinh tế, quân sự.

Cho dù Iran cương quyết không nhượng bộ trong vấn đề hạt nhân, cuối cùng sẽ khiến Mỹ, Ixraen phát động một cuộc tấn công quân sự đối với Iran, nhưng đây sẽ giống như việc chọc vào tổ ong, hậu quả ác tính đối với Mỹ, Ixraen là có thể nhìn thấy. NATO phát động chiến tranh đối với hai nước nhỏ là Irắc và Ápganixtan còn kéo dài đến 10 năm, cho dù mục tiêu tấn công của NATO lần này chỉ giới hạn bởi các cơ sở hạt nhân của Iran, không cuốn vào chiến tranh mặt đất, song Iran hoàn toàn có thể thực hiện chiến lược phản công “anh đánh theo cách của anh, tôi đánh theo cách của tôi”, chiến tranh sẽ lan rộng đến các khu vực khác. Tóm lại, chiến tranh Mỹ, Ixraen-Iran sẽ không thể kết thúc trong thời gian ngắn. Như vậy, sau khi Mỹ có thể kiểm soát được Iran, nguyên khí quốc gia sẽ hao kiệt nghiêm trọng, khả năng gây áp lực quân sự to lớn đối với Trung Quốc sẽ không còn như trước.

Tóm lại, chỉ căn cứ vào việc Mỹ tăng cường tập trung lực lượng hải quân, không quân vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đã vội vàng đưa ra nhận định Oasinhtơn đang có ý đồ tăng cường trạng thái đối đầu quân sự với Trung Quốc, sẽ là không thận trọng. Trên thực tế, khi Mỹ tập trung quân lực tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, còn có ý đồ đối phó với các thách thức đến từ Iran, Trung Á, một số quốc gia Tây Á và còn tính toán đến việc cung cấp bảo đảm quân sự cho chiến lược kinh tế toàn cầu trong thế kỷ mới của Mỹ.

***

TTXVN (Oasinhtơn 5/4)

Tăng cường hợp tác Mỹ-Phippin là chìa khóa cho sự n định ở Bin Đông. Đó là đầu đề bài viết trong tuần qua của tác giả Robert Wars haw thuộc Viện nghiên cứu chiến lược Heritage Foundation có trụ sở tại thủ đô Oasinhtơn. Sau đây là nội dung bài viết:

Năm ngoái, Mỹ và Philippin đã tăng cường mối quan hệ an ninh với việc Mỹ trang bị cho Hải quân Philippin một tàu tuần duyên cao tốc và một chiếc nữa sẽ được chuyển giao trong năm 2012 này. Mỹ cũng đã gia tăng giúp đỡ kỳ thuật cho các lực lượng vũ trang Philippin, cung cấp tình báo và giúp huấn luyện chống khủng bố, đồng thời cũng đã nâng cấp đối thoại chiến lược. Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ phụ trách các vấn đề Đông Á và Thái Bình Dương Kurt Campbell từng tuyên bố trong một cuộc điều trần tại Quốc hội Mỹ: “Chúng ta đang trên đà phục hưng mối quan hệ giữa Mỹ và Philippin”. Sự gia tăng quan hệ với đồng minh lâu đời nhất của Mỹ ở châu Á diễn ra trong bối cảnh căng thẳng ngày càng tăng ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), nơi 6 quốc gia, trong đó có Trung Quốc và Philippin, có những tuyên bố chủ quyền chồng lấn ở vùng biển được cho là giàu tài nguyên này. Trung Quốc, nước có tuyên bố chủ quyền mở rộng vào tận nơi chi cách lãnh thổ Philippin vài dặm, đã nhiều lần hù dọa các tàu của Philipin và cả tàu của Mỹ. Bảo vệ quyền tự do hàng hải ở Biển Đông rõ ràng là nằm trong lợi ích của Mỹ vì có tới 1.200 tỷ USD hàng hóa của Mỹ chuyển qua vùng biển này hàng năm. Nó cũng cực kỳ quan trọng đối với Philippin, quốc gia mà, theo báo chí, đang hoan nghênh một vai trò lớn hơn của Mỹ trong khu vực.

Mới đây, Tổng thống Philippin Benigno Aquino bày tỏ mong muốn Mỹ và Philippin gia tăng quan hệ, theo đó sẽ có nhiều chuyến thăm Philippin hơn của các tàu chiến Mỹ, có nhiều cuộc diễn tập và huấn luyện chung hơn, giống như thỏa thuận hồi tháng 11/2011 giữa Mỹ và Ôxtrâylia. Ngoại, trưởng Philippin Albert del Rosario mới đây cũng bày tỏ nguyện vọng “chúng tôi muốn có nhiều người Mỹ đến thăm thường xuyên hơn bằng việc nói tới việc mở cửa các cơ sở quân sự của Philippin để sử dụng chung với các lực lượng của Mỹ”, ông Rosario cho biết trong cuộc hội đàm 2+2 giữa ông và Bộ trưởng Quốc phòng Philippin với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton và Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta vào ngày 30/4 tới, phía Philippin sẽ đề nghị mua thêm tàu tuần duyên thứ ba và một phi đội máy bay F-16. Đây rõ ràng là những bước đi rất khích lệ và Mỹ cần sẵn sàng cung cấp cho Philippin những vật liệu và thiết bị quân sự thiết yếu cũng như những chương trình huấn luyện cần thiết. Hơn nữa, với vị trí địa chiến lược của Philippin ở Biển Đông, Oasinhtơn và Manila cũng cần đi tới một thỏa thuận về sự hợp tác Mỹ-Philíppin trong việc tiến hành các hoạt động do thám từ các căn cứ không quân của Philippin. Mỹ cũng nên hỗ trợ xây dựng lực lượng thủy quân lục chiến còn yếu kém của Philippin để lực lượng này có đủ khả năng thực thi nhiệm vụ.

Tuy nhiên, sự cam kết của Mỹ với Philippin cần mở rộng, chứ không chỉ thuần túy về quân sự. Mở rộng buôn bán, tạo thuận lợi cho Manila tham gia vòng đàm phán về Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) cũng sẽ giúp cho Philippin có một nền tảng cơ sở rộng rãi để Philippin không lệ thuộc vào Oasinhtơn và cũng không lệ thuộc vào Trung Quốc. Sự quan tâm ở cấp cao, trong đó có chuyến thăm Mỹ trong mùa Hè này của Tổng thống Aquino, cũng rất quan trọng, nhất là trong bối cảnh nước Mỹ đang bị chia rẽ do năm bầu cử.

Hơn nữa, cách tốt nhất để bảo đảm sự ốn định ở Biển Đông là bằng việc duy trì một lực lượng triển khai ở tuyến trước và luôn ở thế sẵn sàng về quân sự khắp vùng biển Tây Thái Bình Dương. Mặc dù ngân sách Lầu Năm Góc bị cắt giảm nhưng nếu không dành một khoản ngân sách để hậu thuẫn cho những cam kết trên đây thì Mỹ có nguy cơ sẽ bị mất niềm tin của khu vực, điều đó sẽ càng dẫn tới một tình trạng không chắc chắn và bất ổn tại Biển Đông.

Chuyển giao cho Philippin một vài con tàu trước mắt là để giúp đồng minh của chúng ta tự vệ, nhưng về lâu dài, hòa bình và ổn định cần được bảo vệ thông qua việc thể chế hóa sự có mặt của Mỹ trong khu vực.

Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 20 vừa diễn ra tại Campuchia, nước khá hữu hảo với Trung Quốc và vấn đề Biến Đông đã bị nước chủ nhà đưa ra khỏi, chương trình nghị sự, bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của Philippin. Tuy nhiên cũng phải nói thẳng ra rằng ASEAN không thể bảo vệ được các lợi ích an ninh và hàng hải của Mỹ trên các vùng biển. Bởi vậy, Mỹ và Philippin không có gì phải lo lắng về vấn đề Biển Đông với năm Campuchia làm Chủ tịch ASEAN. Tăng cường các liên minh truyền thống và tìm kiếm các đối tác mới sẽ là công cụ hiệu quả nhất của Mỹ để duy trì sự ổn định ở Biển Đông.

Liên quan tới sự can dự quân sự của Mỹ trong khu vực, báo “Bưu điện Oasinhtơn” ngày 27/3 đưa tin Mỹ và Ôxtrâylia đang soạn thảo một kế hoạch mở rộng hợp tác quân sự giữa hai nước, trong đó có thể bao gồm việc triển khai lực lượng máy bay do thám tại nhóm đảo san hô và tăng cường quyền tiếp cận của Hải quân Mỹ đối với các hải cảng của Ôxtrâylia. Kế hoạch này là sự mở rộng thỏa thuận đạt được tháng 11/2011 theo đó Ôxtrâylia cho phép Mỹ triển khai 2.500 lính thủy quân lục chiến tại căn cứ Darwin nằm ở bờ biển phía Bắc của nước này.

Các cuộc đàm phán về kế hoạch mở rộng hợp tác quân sự với Ôxtrâylia là dấu hiệu mới nhất cho thấy Chính quyền Obama đang rất khẩn trương chuyển hướng trọng điểm chiến lược toàn cầu của Mỹ sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chính phủ Mỹ hiện cũng đang trong giai đoạn hoàn tất thỏa thuận triển khai 4 tàu chiến tại Xinhgapo, đã và đang thương thuvểt để gia tăng sự hiện diện quân sự tại Philippin. Ở tầm mức thấp hơn, Lầu Năm Góc cũng đang tìm cách nâng cấp các mối quan hệ quân sự với Thái Lan, Việt Nam, Malaixia, Inđônêxia và Brunây.

Lầu Năm Góc hiện cũng đang xem xét lại quy mô vả bổ trí lại lực ượng ở khu vực Đông Bắc Á, theo hướng từng bước giảm bớt quy mô tại Nhật Bản và Hàn Quốc để gia tăng sự hiện diện ở khu vực Đông Nam Á, nơi án ngữ các tuyến vận tải đường biển nhộn nhịp nhất của thế giới và cũng là nơi đang có sự giành giật quốc tế ngày quyết liệt đối với nguồn dầu khí và các nguồn tài nguyên khác. Kết quả rà soát mới đây về thế bố trí binh lực của Ôxtrâylia khuyến nghị chính phủ điều chỉnh thế bổ trí quân sự, bằng việc cân nhắc các lợi ích an ninh của Mỹ. Một khuyến nghị là mở rộng căn cứ hải quân Stirling ở thành phố Perth nằm ở miền Tây Ôxtrâylia để có thể cho phép Mỹ sử dụng làm nơi triển khai quân và thực thi các hoạt động tác chiến ở khu vực Đông Nam Á và Ấn Độ Dương. Tại Ấn Độ Dương, Mỹ hiện sử dụng chung căn cứ trên đảo Diego Garcia của Anh và hợp đồng thuê sẽ hết hạn vào năm 2016. Lầu Năm Góc đang cùng với Ôxtrâylia khảo sát dãy đảo san hô Cocos Island của Ôxtrâylia ở Ấn Độ Dương VÌ coi đây là địa điểm lý tưởng để triển khai lực lượng máy bay do thám, rất thuận tiện cho việc thực thi các chuyến bay do thám thường xuyên vào khu vực Biển Đông. Ngoài ra, Lầu Năm Góc cũng đang cân nhắc đề xuất của Ôxtrâylia nâng cấp căn cứ Stirling, thậm chí cả đề nghị xây dựng một căn cứ hải quân mới ở thành phố Brisbane, nằm ở bờ biển phía Đông của Ôxtrâylia./.

Mỹ hiện diện sâu hơn ở châu Á-Thái Bình Dương – VNN

4 Th4

Nhóm quân đầu tiên trong số 2.500 lính thủy đánh bộ Mỹ sẽ được triển khai ởAustralia, đã có mặt tại Darwin hôm nay (4/4) khi Washington tăng cường sự hiện diện tại khu vực có tính chiến lược sống còn này.

Khoảng 200 lính thủy đánh bộ Mỹ đã đặt chân xuống Darwin như một phần của việc tăng cường hợp tác quốc phòng, vốn được nêu ra khi Tổng thống Mỹ Barack Obama tới Australia vào tháng 11 năm ngoái. Sự hiện diện của quân Mỹ tại Australia khiến Trung Quốc không hài lòng.

Các binh sĩ trên sẽ đóng ở căn cứ Robertson, khu Northern Territory trên cơsở quay vòng 6 tháng một lần. Trong một tuyên bố chung, Thủ tướng Australia Julia Gillard, Bộ trưởng Quốc phòng Stephen Smith và thủ hiến khu Northern Territory Paul Henderson đã hoan nghênh cái mà họ gọi là chương mới nhất trong hơn 60 năm liên minh với Mỹ

“Nó đại diện cho sự tiến triển của những cuộc diễn tập và các hoạt động mà Mỹ đã tiến hành với Lực lượng phòng vệ Australia tại Australia”, các quan chức trên nói. “Ý định của hai nước trong những năm sắp tới là thiết lập sự hiện diện quay vòng của 2.500 binh sĩ thuộc lực lượng lính thủy đánh bộ Mỹ. Mỹ không có căn cứquân sự ở Australia và những diễn biến trên cũng không làm thay đổi bất cứ điều gì”

Mỹ hiện chỉ triển khai binh sĩ có giới hạn tại nước đồng minh lâu năm là Australia và động thái mới nhất cho thấy một sự chuyển dịch địa chiến lược quan trọng. Kế hoạch đưa lính thủy đánh bộ của Mỹ tới Australia đã khiến Bắc Kinh không hài lòng song nó lại trấn an các nước châu Á khác, những quốc gia vốn coi tuyên bố đó tương đương với việc Washington có ý định đứng về phía các đồng minh trong khu vực vào thời điểm Trung Quốc ngày càng quyết đoán.

Trong tuyên bố đưa ra, Thủ tướng Gillard nói, việc triển khai quân trên là một phần trong kế hoạch xem xét lại việc bố trí lực lượng trên toàn cầu của Mỹvà là động thái nhằm làm giảm bất cứ lo ngại nào của khu vực.

Tuần trước, Australia nói, có thể cho phép Mỹ dùng lãnh thổ nước này để tiến hành các chuyến bay do thám tầm xa. Ngoài ra, Washington cũng triển khai tàu sân bay và tàu ngầm tấn công tại thành phố Perth, tây Australia như một phần của kếhoạch mở rộng quân sự.

  • Hoài Linh (Theo Reuters, AP)
%d bloggers like this: