Tag Archives: : TRẦN NHÂN TÔNG

Khởi động Phật hoàng Trần Nhân Tông – Vị vua tài hoa lỗi lạc trong lịch sử – TGĐA

29 Th11
 
 

 

Khởi động Phật hoàng Trần Nhân Tông – Vị vua tài hoa lỗi lạc trong lịch sử

Thứ tư, 28 Tháng 11 2012 11:01 (GMT+7)

(TGĐA) – Sau một năm triển khai bằng nguồn kinh phí xã hội hóa, bộ phim truyền hình Phật Hoàng Trần Nhân Tông dài 45 tập chính thức được khởi động. Phim do đạo diễn, NSƯT Văn Lượng, giám đốc HFS đứng ra thực hiện với sự phối hợp của Công ty Cổ phần Việt Nam Tinh Hoa, dựa trên 15 tập phim tài liệu Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã sản xuất tháng 11/2011. 45 tập phim sẽ xoay quanh cuộc đời, phẩm cách của vị vua hiền Trần Nhân Tông, khắc họa hình ảnh một trong những vị vua lỗi lạc nhất trong lịch sử Việt Nam. Nói như Phó giáo sư Trần Ngọc Vương “Trần Nhân Tông là một trong những người đẹp nhất mà lịch sử cung cấp cho chúng ta, một trong những người Việt đẹp nhất đầu tiên mà chúng ta có được”.

Theo đạo diễn, NSƯT Văn Lượng, Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã hoàn thành đề cương kịch bản chi tiết và hiện đang gấp rút hoàn thành các khâu chuẩn bị cho bộ phim đến ngày được bấm máy. Ngoài những yếu tố vất vả bình thường của một bộ phim thì Phật Hoàng Trần Nhân Tông còn mang một yếu tố “khó nhằn” khác chính là thiết kế bối cảnh, đạo cụ, phục trang cho đúng với bối cảnh lịch sử. Đây là vấn đề nặng nhọc nhất của đoàn làm phim khi sức ép từ dư luận lên những bộ phim lịch sử, cổ trang trước đó đang đè nặng lên vai ekip sản xuất. Đạo diễn, NSƯT Văn Lượng tâm sự về bộ phim chuẩn bị bấm máy của mình: “Chúng tôi không cầu mong điều gì, ngoài việc góp phần cho vẻ đẹp Việt, bản sắc Việt, con người Việt, tích tụ thành tinh hoa trong Phật Hoàng Trần Nhân Tông được lưu danh thiên cổ…”.

Non thiêng Yên Tử

Chuyển nỗi lo thành sự chuẩn bị kỹ càng, trung tuần tháng 10 vừa qua, tại khu di tích Phật giáo Yên Tử (Quảng Ninh), đạo diễn Văn Lượng cùng Công ty cổ phần Việt Nam Tinh Hoa phối hợp với xưởng phim truyền hình Hải Phòng (HFS) đã tổ chức tọa đàm “Hướng tới bộ phim về Phật hoàng Trần Nhân Tông” với sự góp mặt của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử với mong muốn tạo thành công trình nghệ thuật xứng tầm, khắc họa chân dung một trong những con người lỗi lạc  nhất của lịch sử Việt Nam. Ngoài những ý kiến đóng góp cho bộ phim, ekip làm phim còn cùng các nhà sử học, các chuyên gia, nhà báo… cùng tham quan, khảo cứu các di tích, các câu chuyện, sự tích liên quan đến vị vua Trần Nhân Tông cũng như sinh hoạt, phục trang, bối cảnh thời kỳ đó. Nói như nhà sử học Dương Trung Quốc (với vai trò Trưởng ban cố vấn Dự án sản xuất phim Phật hoàng Trần Nhân Tông) là: “Cầu thị những ý kiến tham góp của tất cả những ai yêu kính, ngưỡng mộ Ngài để chúng ta thực sự có được một công trình văn hóa xứng đáng với một trong những nhân vật lỗi lạc nhất của lịch sử dân tộc và của thế giới. Đây là một bộ phim của tất cả chúng ta chứ không phải của riêng chúng tôi!”.

Nói về lý do chọn vị vua Trần Nhân Tông làm đề tài. Đạo diễn Văn Lượng tâm sự: Về vua Trần Nhân Tông, trong những câu chuyện được ghi trong sử sách, nhiều người đặc biệt thích cuộc gặp gỡ giữa vua và Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, đại ý rằng: Năm ấy tại bến Bình Than, vua nhìn ra ngoài sông và thoáng thấy một chiếc thuyền theo dòng đổ về xuôi, trên thuyền có một người đội nón lá, mặc áo ngắn, ngộ ngộ, quen quen, vua bèn hỏi: “Người kia có phải là Nhân Huệ Vương đó không?”, rồi lập tức sai quân đuổi theo gọi. Nhưng lát sau thấy quân trở về tâu, kẻ lái than ngang bướng ấy không những không quay lại mà chỉ nói rằng: “Lão già này là người bán than, có việc gì mà vua gọi đến!”. Lẽ thường với một đấng quân vương, tội khi quân chắc là phải trảm? Nhưng nghe xong Trần Nhân Tông cười mà rằng: “Thế thì đúng là Nhân Huệ Vương rồi, người bình thường không dám trả lời ta như thế!”.

Các nhà nghiên cứu cố vấn lịch sử và đoàn làm phim tại Yên Tử

Sau cuộc gặp đó, Trần Khánh Dư trở lại việc quân, nguyện một lòng theo vua lập công chuộc tội, cùng những trận thủy chiến bất hủ đã lừng lẫy đến cỡ nào, thì lịch sử đã soi rọi. Câu chuyện nhỏ mà hiện lên hình tượng một vị vua với khả năng thu phục, biết việc hiểu người như vậy, chẳng thế mà thời đại Trần Nhân Tông, nhân tài tuấn kiệt nườm mượp kéo ra giúp nước. Ông đã quy tụ quanh mình những danh tướng như Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật…, các danh sỹ như Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Thuyên… một thế hệ những vì sao chói sáng trên đỉnh cao của niềm tự hào dân tộc Việt. Trong suốt chiều dài lịch sử, khó có một vị vua nào toàn diện về phẩm cách như Trần Nhân Tông, bao gồm cả chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế… Chỉ riêng một hội nghị Diên Hồng, đã được xem như một biểu tượng của tinh thần dân chủ, diễn ra giữa thế kỷ 13 tại một đất nước chìm sâu trong thể chế phong kiến Đông phương.

Nên thế nhà Trần mới đánh thắng giặc Nguyên Mông, để nước Việt nổi danh thành hiện tượng toàn cầu. Nhìn từ góc độ quen thuộc, Trần Hưng Đạo được tôn là thánh, nhưng liệu có vị thánh đó không nêu thiếu đi bậc vua hiền biết dụng nhân? Sự vĩ đại càng thêm vĩ đại, bởi những vĩ nhân ấy còn có trước 6 thế kỷ so với cặp đôi Aleksandri đại đế và Kutuzov của nước Nga khi chiến thắng Napoléon Bonaparte, trước 7 thế kỷ khi Stalin và Nguyên soái Zhukov của Liên Xô chiến thắng Adolf Hitle…

Đạo diễn, NSƯT Văn Lượng (bên trái)

Lý giải về cái tên “Phật hoàng” Trần Nhân Tông chứ không phải là vị vua, đạo diễn Văn Lượng cho biết, sau khi vua Trần Nhân Tông lên ngôi, thế sự đã thành, đất nước trên đỉnh cao oanh liệt đang bước sang phồn vinh thì ông lại nhường ngôi (1293) rồi chọn đường hướng Phật. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi rằng: “Tháng 7, năm Kỷ Hợi, dựng am Ngự Dược ở núi Yên Tử. Tháng 8, xuất gia tu khổ hạnh…”. Tại đây ông ngộ được niềm đạo: “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc xa hề khốn tắc miên, Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch, Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”, dịch nghĩa là: “Sống giữa phàm trần, hãy tùy duyên mà vui với đạo, đói thì ăn, mệt thì ngủ, trong nhà sẵn của báu đừng tìm đâu khác, đối diện với cảnh mà vô tâm, thì không cần hỏi thiền nữa”. Ý nghĩa giáo lý “Phật ở tại tâm” của Trúc Lâm Yên Tử do ông sáng lập dường như hiển hiện hết cả ở bài thơ Cư trần lạc đạo này. Và theo Giáo sư – Tiến sỹ Lê Mạnh Thát, người đã dành nhiều tâm huyết để nghiên cứu về vua Trần Nhân Tông, thì thuyết giảng của Trần Nhân Tông với các thiền sinh cho thấy tại nước ta, thiền đã phát triển theo một hướng hoàn toàn khác. Nó đã ra đời nhằm giải quyết một vấn đề tư tưởng, đó là tại sao tu mà không thấy Phật? Thiền ra đời nhằm trả lời câu hỏi ấy, đã đưa một quan niệm mới về Phật, rằng Phật không phải chỉ là một đức Phật lịch sử, càng không phải là một đức Phật nằm bên ngoài ta, mà Phật nằm ngay chính trong ta… Sử sách ghi rằng, khi Trần Nhân Tông viên tịch, triều đình và thần dân thương khóc vang động cả đất trời, Việc chay xong rước ngọc cốt nhập vào Đức lăng, dâng miếu hiệu là Nhân Tông. Rồi đem ngọc cốt vào trong khám báu, chia xá lợi làm hai phần, một phần đưa vào bảo tháp đặt ở Đức lăng của Long Hưng, một phần đưa vào tháp vàng đặt ở chùa Vân Yên (Yên Tử). Dâng tôn hiệu Đại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Đầu Đà Tịnh Huệ Giác Hoàng Điều Ngự Tổ Phật. Chính vì vậy, Giáo sư – TS Lê Mạnh Thát đã nhận xét rằng: “Ít có vị vua nào trong lịch sử dân tộc lại có sự ghi chép đầy đủ về sự mến mộ của người dân sau khi đã mất như thế…”. Một cuộc đời có một kết thúc hết sức bình dị nhưng lại vô cùng cao đẹp, đối với dân gian, còn gì đẹp hơn hai chữ “Phật hoàng”.

Phật hoàng Trần Nhân Tông

Ngoài việc tôn vinh một vị vua hiền tài lỗi lạc thì lý do nữa mà đoàn làm phim quyết tâm làm bằng được đó là hình tượng vị vua Trần Nhân Tông không chỉ có giá trị trong sử sách của con dân Việt mà đã vượt biên giới quốc gia, trở thành một đề tài nghiên cứu mang tầm quốc tế. Tại Trường đại học Harvard nổi tiếng của nước Mỹ, ngày 19/6/2012 đã ra đời một viện nghiên cứu mang tên Trần Nhân Tông cũng như một giải thưởng quốc tế về hòa giải và yêu thương cùng tên. Đáng tiếc cho đến thời điểm này, trong nước chưa có một công trình nghệ thuật nào thực sự tương xứng với tầm vóc của ông. Chính vì vậy, Phật hoàng Trần Nhân Tông có thể coi là viên gạch đầu tiên xây dựng hình tượng vua Trần Nhân Tông – một vị vua tài hoa, lỗi lạc trong lịch sử các vị vua Việt Nam.

Lê Minh Thắng

Vai trò của Trần Nhân Tông và hòa giải – BBC

9 Th10

Vai trò của Trần Nhân Tông và hòa giải

Bức Trúc Lâm đại sỹ xuất sơn chi đồ được cho là vẽ Vua Trần Nhân Tông

Thiền sư Lê Mạnh Thát cho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự.

Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ – Việt cũng như Việt – Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói:

 

TS. Lê Mạnh Thát: Tại Mỹ, thì sau chiến tranh Việt Nam, ông Bộ trưởng Quốc phòng McNamara có viết hồi ký. Ông nói một trong các nguyên nhân mà Mỹ thất bại ở Việt Nam là vì không hiểu Việt Nam. Tôi nghĩ có lẽ sau này những người trí thức Mỹ, đặc biệt các trường Đại học Mỹ họ quan tâm vấn đề đó, vì vấn đề đó là vấn đề lớn. Và khi họ nghiên cứu Việt Nam, thì có lẽ nhân vật tiêu biểu nhất cho Việt Nam là Trần Nhân Tông.

BBC: Nhưng trong lịch sử Việt Nam thường nói đến những vị như Lý Thường Kiệt, rồi Ngô Quyền lập quốc, hay xa nữa là Hùng Vương…sau này là Quang Trung, Nguyễn Huệ, còn Vua Trần Nhân Tông có vẻ không được nói đến nhiều. Gần đây nhờ đến chuyện bức tranh liên quan đến ông nên chuyện nó trở nên mang tính thời sự hơn. Vậy theo Tiến sỹ, vấn đề ở chỗ nào?

Tôi nhớ là tôi viết quyển sách về Trần Nhân Tông năm 2001. Hình như báo Thanh Niên nói đó là một trong 10 quyển bán chạy nhất Việt Nam. Tức là người ta đọc nhiều, có công chúng, họ rất quan tâm đến vấn đề này. Cho nên sự thực là không phải mới đây đâu, còn trong lịch sử dân tộc ta, trong sách của tôi, tôi cũng nói chuyện đó. Đối với Trần Nhân Tông thì đánh giá lịch sử chưa đúng. Ví dụ đặt tên đường chẳng hạn.

BBC: Tại sao đánh giá theo ông là chưa đúng?

Ví dụ đặt tên đường thì đường Trần Hưng Đạo rất lớn, nhưng đường Trần Nhân Tông quá bé, đặc biệt là ở vùng như vùng Huế chúng tôi chẳng hạn, đường Trần Hưng Đạo (tướng) rất lớn nhưng đường Trần Nhân Tông (Vua) rất bé. Cái này là nhận thức sai.

Thiền sư Lê Mạnh ThátThiền sư Lê Mạnh Thát từng bị tù sau 1975 khi nêu ra vấn đề hòa giải

Sau trong sách của tôi có đặt vấn đề đó, và có nhiều bài báo những người khác cũng đề cập vấn đề đó.

Sau này, ví dụ ở Hà Nội hay Nam Định chẳng hạn, đường Trần Nhân Tông rất lớn. Năm 1980 tôi ra Hà Nội, đường Trần Nhân Tông khúc ở phố Huế chỉ dài một đoạn, khoảng mấy chục mét. Rồi đến năm 1999 tôi ra thăm lại Hà Nội, đường này dài hơn cả cây số, rất đẹp.

Hòa giải giữa người Việt

“Không nói đến chuyện lý lịch nữa. Vấn đề là chúng ta đánh thắng giặc rồi, thì bây giờ chúng ta xây dựng. Xây dựng thì chúng ta đoàn kết với nhau. “

TS Lê Mạnh Thát

BBC: Ông có nói tới hòa giải giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sau thời chiến tranh và vị Vua Trần Nhân Tông có thể được nhắc lại để cổ vũ đóng một vai trò. Thế nhưng vấn đề hòa giải giữa người Việt thì Trần Nhân Tông đóng vai trò gì?

Giữa người Việt với nhau, thì (vai trò của) Vua Trần Nhân Tông rất lớn, sự thực là ngay năm 1975, một số vị lãnh đạo miền Bắc vào miền Nam, chúng tôi cũng đã đề cập điều đó. Chúng tôi nói là chúng ta không bàn chuyện đúng sai của cuộc chiến tranh. Bây giờ đất nước hòa bình, thống nhất, thì mình có sách lược rõ ràng. Dân tộc mình có một bộ phận đối lập hẳn với những người chiến thắng, cho nên mình phải có một sách lược rõ ràng.

Tôi có nhắc tới chuyện Vua Trần Nhân Tông, sau khi đánh bại quân Nguyên, thì những tài liệu liên quan tới người Việt Nam của phía Trần Nhân Tông trước đây từng đầu đơn xin theo quân Nguyên, mà những người làm công tác tình báo, an ninh lúc bấy giờ trình lên Vua, đòi phải điều tra những việc này, để xử lý, thì Vua Trần Nhân Tông đã ra lệnh là đốt hết tất cả.

Tức là không nói đến chuyện lý lịch nữa. Vấn đề là chúng ta đánh thắng giặc rồi, thì bây giờ chúng ta xây dựng. Xây dựng thì chúng ta đoàn kết với nhau. Vấn đề này, ngay từ đầu, ngay sau năm 1975, chúng tôi đã đề cập với Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Nhà Trần nêu cao lá cờ đoàn kết toàn dân để chống Nguyên

Và quan niệm của chúng tôi bây giờ vẫn như thế. Còn hôm nay, ở đây người ta nói về hòa giải quốc tế, thì có lẽ là nói đến giữa Mỹ với Việt Nam là chính. Vì chủ đề chiến tranh Việt Nam ở Mỹ vẫn còn là chủ đề hết sức nóng và chua chát.

Đây có lẽ là một cách thể hiện hai bên vẫn quan tâm đến nhau. Tôi nghĩ cái này cũng tốt. Về phía Việt Nam, tôi nghĩ những nhà lãnh đạo Việt Nam đã xóa được cấm vận, đi đến những bước đặt quan hệ bình thường. Thực sự bây giờ đối tác về kinh tế của Việt Nam là Mỹ, trong số 100 tỷ đô-la đó, riêng Mỹ chiếm một phần tư. Chứng tỏ là Mỹ rất quan tâm tới Việt Nam.

Cuộc hội thảo và giải thưởng Trần Nhân Tông này cũng rất hay để thể hiện rằng trong quá khứ, dân tộc mình cũng có những dân tộc như thế, đã cố gắng làm để xóa những hận thù, đặc biệt trong mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam lúc bấy giờ. Bởi vì anh đánh thắng xong thì phải làm được hòa giải.

Bài phỏng vấn với Thiền sư Lê Mạnh Thát được thực hiện khi ông đến dự hội thảo về Hòa giải tại Viện Trần Nhân Tông ngày 21/9/2012 tổ chức tại Đại học Harvard, Hoa Kỳ. Ông cũng nói về ý nghĩa học thuật của việc phát hiện ra tranh [Trúc Lâm Đại Sỹ Xuất Chi Đồ] về Vua Trần Nhân Tông sách của Trung Quốc thời Càn Long đã nhắc nhưng chỉ đến bây giờ người Việt Nam mới thấy bản chụp.

 

Trần Nhân Tông: Trí giả anh minh, nhà văn hóa kiệt xuất – TVN

1 Th10

Trần Nhân Tông: Trí giả anh minh, nhà văn hóa kiệt xuất

Tác giả: Trần Ngọc Vương
 
 

Nhậm ngôi cao, lập công lớn, sớm thành bậc thượng trí minh triết, Trần Nhân Tông kịp dành phần lớn cuộc đời mình để phụng sự cho cộng đồng.

Tuần Việt Nam xin giới thiệu bài trình bày của Phó Giáo sư Trần Ngọc Vương tại Hội nghị Trần Nhân Tông về Hoà giải tổ chức tại Harvard Faculty Club, ĐH Harvard,  Mỹ ngày 21/09 vừa qua.

Trong lịch sử Việt Nam từ sau thời điểm phục hưng được chủ quyền quốc gia (939), hiện tượng những người có thân phận ra đời trong hoàng gia, được quyền kế thừa ngôi vua hoặc ít nhiều có cơ hội để tranh đoạt ngôi vị đó nhưng lại thờ ơ với nó trên thực tế không phải là hiếm. Cả khi đã đăng cơ, một vài trong số họ vẫn nuôi giữ ý định rời bỏ ngôi vị. Có thể kể một số trường hợp tiêu biểu, chẳng hạn như cháu đích tôn của Ngô vương Quyền là Ngô Xương Tỷ, xuất gia tu hành ngay từ thời ông nội còn tại vị, về sau là vị Quốc sư của cả nhà Đinh và nhà Tiền Lê: Khuông Việt Đại sư Ngô Chân Lưu; Lý Nhân Tông từng hờ hững với ngôi vua để đến nỗi xảy ra vụ kỳ án Lê Văn Thịnh.

Trần Thái Tông từng bỏ ngôi vua trốn triều đình lên Yên Yử quyết chí tu hành với câu nói nổi tiếng “Ta đã trút bỏ ngôi vua như trút bỏ đôi giày rách” tuy rồi lại không từ bỏ được…

Sử gia nhà Nho các đời sau khi chép sử triều Trần đều chung hàm ý đánh giá, rằng nhà Trần “về khoan hậu thì có thừa mà về nghiêm trọng (nghiêm khắc, trang trọng) thì không đủ”.

Đương nhiên, khuynh hướng vận động chung của hệ tư tưởng xuyên suốt từ Ngô, Đinh cho tới tận triều Nguyễn vẫn là càng ngày càng thần thánh hóa, tuyệt đối hóa ngôi vua, vì thế mà nhìn chung, lịch sử càng nối dài thì sự chồng tầng theo hình kim tự tháp của kết cấu xã hội càng trở nên nặng nề, và khát vọng vươn lên địa vị tột đỉnh ở mỗi cá thể, vì thế cũng ngày càng mãnh liệt. Nhưng cuộc đời và hành trạng của Trần Nhân Tông trong thực tế lại đặt ra một số vấn đề theo một đường hướng khác.

Để hiểu Trần Nhân Tông, hẳn rằng phải trả lời một câu hỏi đặc biệt: rằng khi ai đó đã có địa vị (thậm chí từ thuở lọt lòng) là “bề trên tự nhiên”, một vị trí độc đắc, tối thượng mà bối cảnh lịch sử – cụ thể không làm xuất hiện đối thủ tranh giành, rồi người đó lại được hưởng thụ một nền giáo dục hoàn hảo bậc nhất của thời đại mình, tự giáo dục một cách ráo riết với một tư chất bẩm sinh là phi phàm, thì rốt cuộc, người ấy có thể muốn gì và có thể làm gì với đời sống và sinh mệnh của chính mình, theo yêu cầu tối ưu hóa tồn tại?

Triết lý sống xuất hiện từ xa xưa trong nền văn hóa Trung Hoa rồi phổ cập ra toàn vùng Đông Á về mục tiêu rốt ráo của đời người là làm sao để “dự” được vào một trong ba vị trí: lập đức, lập công hay lập ngôn, gọi là “tam bất hủ“.

Mẫu người cầm quyền lý tưởng theo Nho giáo là thánh vương, trên thực tế lịch sử là hiền nhân lập đức. Thánh hiền Nho gia nói chung chính là mẫu người lập đức, kết hợp nhiều ít với tiêu chí lập ngôn. Nhưng thánh hiền Nho gia không ai thực sự lập được “đại công”, hiểu theo nghĩa có một sự nghiệp chính trị nổi bật lúc sinh thời.

Pháp gia không đưa ra hình mẫu mang tính lý tưởng thực thụ, vì đó là một học thuyết cai trị theo tinh thần duy lợi, thực dụng nhưng tìm ra từ các công trình mang tính lý thuyết cơ bản của các nhà tư tưởng thuộc phái này, thì mẫu người cầm quyền đáng được đề cao nhất chính là mẫu người cầm quyền có đại công.

Trong lịch sử chính trị của Trung Quốc, một lịch sử chính trị có thực chất “nội Pháp ngoại Nho”, “thập đại đế vương” chính là những Hoàng đế được ghi nhận trên đường hướng này. Không ai trong số các đế vương nhờ lập ngôn mà trở nên hiển hách trong lịch sử. Phần lớn các “đại đế vương” Trung Hoa có khuyết tật trong nhân cách.

Với tất cả những dữ kiện lịch sử khả tín còn lại đến nay mà mình có thể biết, với tư cách nhà khoa học, cá nhân tôi không tìm thấy những bằng chứng để nhận xét rằng Trần Nhân Tông có thể có những tỳ vết nào đó về phương diện đức hạnh!

Sử thần Nho gia về sau từng đưa ra lời đại nghị, rằng Ngài “bẩm được tinh anh thánh nhân, thần khí tươi sáng, thể chất hoàn hảo“. Dường như “luật thừa trừ” (“bỉ sắc tư phong” – được cái này thì mất cái kia) đã lảng tránh, không đụng chạm tới Ngài!

Kinh nghiệm cho thấy, để hiểu một nhân vật lịch sử ở những tầng sâu kín nhất của họ, thường cần phải xâm nhập vào những trước tác hay những di ngôn, di chúc mà họ để lại. Chả thế mà S. Freud cùng các đồ đệ đã nhất trí cho rằng nghệ thuật và những giấc mơ cung cấp cho ta hình ảnh thăng hoa của những gì các “đương sự” không hoặc chưa thể thực hiện trong đời thực. Vô số khát vọng của con người, của cả các vĩ nhân, quằn quại, giãy dụa roi rói trong các con chữ, mặc cho thể xác họ đã từ lâu tuần hoàn trong hoàn vũ. Nhưng đọc hết những trước tác mà Trần Nhân Tông để lại, lại cơ hồ không tìm thấy dấu vết của những “mộng ước chưa thành” ấy. Chỉ có thể cho rằng, Ngài đã sống một cuộc đời không còn gì đáng để có thể ước mơ cao hơn, xa hơn!

Nhận chân về tính hữu hạn của đời người trên tất cả mọi bình diện, đó không phải là một phát hiện gì mới mẻ, nhất là ở các bậc được coi là đại trí xưa nay. Nhưng kể cả các bậc đại trí cũng chỉ thường nhận ra những giới hạn sau những thể nghiệm thất bại, và cũng thường phải đợi tới độ tuổi “sang nửa bên kia” của đời người. Vào một ngày “Xuân muộn” (Xuân vãn), Trần Nhân Tông cũng thể nhận điều đó:

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không

Nhất xuân tâm tại bách hoa trung

Như kim kham phá Đông hoàng diện

Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng

(Tuổi trẻ chưa từng hiểu thế nào là “sắc”, “không”

Mỗi độ xuân về lòng để giữa trăm hoa

Nay khi đã khám phá ra khuôn mặt chúa xuân

Thì ngồi thiền trên tấm bồ đoàn nhìn hồng rụng).

Nhưng dường như sự thể nhận này ở Trần Nhân Tông không xuất lộ bởi những trải nghiệm đắng cay nào đó trong đời sống của chủ thể, và cũng chỉ vào thời khắc “muộn của mùa Xuân” chứ không là “buồn tàn thu” hay “sầu đông” ảo não. Tính chất an nhiên lộ rõ trong từng chữ.

Những bậc thánh triết Đông phương thường thường chỉ bàn về mọi lẽ một khi đã “liễu sinh tử“, tức đã thông hiểu tận cùng “căn nguyên và cơ cấu của sự sống và sự chết”. Làm chủ được “lẽ tử sinh”, với cơ hồ tất cả họ, mới xác lập được tiên đề cho việc luận đàm về mọi điều còn lại. Không chỉ Phật giáo, mà các học thuyết hay tôn giáo khác trong toàn khu vực cũng khá đồng quy trong tinh thần đó. Đứng trên lằn ranh giới của cuộc sinh tồn, chính là xác lập một tọa độ lý tưởng để có thể “quán chiếu” rốt ráo đối với mọi “ỉ eo đời thường” khác.

Nhậm ngôi cao, lập công lớn, sớm thành bậc thượng trí minh triết, Trần Nhân Tông kịp dành phần lớn cuộc đời mình để phụng sự cho cộng đồng. Khác với rất nhiều những triết nhân một khi đã tự cho mình là đấng toàn tri (omniscience) thì cũng bị ám ảnh bởi một thứ chủ nghĩa bi quan triết học, Trần Nhân Tông truyền cho đời sống một cảm xúc chí ít phải được đánh giá là lạc quan, nếu không cho rằng đó là một thái độ “ngày hằng sống, ngày hằng vui”.

Tinh thần “hòa quang đồng trần“, “cư trần lạc đạo“, “tam giáo tịnh hành” … nhờ thế trở thành “phong cách sống” của rất nhiều nhân vật văn hóa – lịch sử của thời đại. Dưới triều đại của Ngài, từ quý tộc, văn nhân, võ tướng, nhân gian bách tính cho đến những người thân phận thấp kém như hoạn quan, gia nô, nô tỳ, cho cả đến tù binh, tù nhân, những nhóm dân cư do hoàn cảnh cụ thể lâm vào tình thế tha phương cầu thực hay bị hạn chế tự do, đều nhất loạt trở nên “dễ sống” hơn, vui sống hơn.

Cá nhân Trần Nhân Tông, trong khi vừa tiếp tục thực thi những bổn phận “thế tục”, “hàng ngày” của mình, vừa làm nhà cầm quyền tối cao, vừa làm nhà ngoại giao kỳ đặc (cả trong những tình huống ứng xử đối nội lẫn đối ngoại), làm vị tướng song toàn, làm con hiếu thuận, làm cha nghiêm từ, làm em, làm anh độ lượng.., lại còn vừa lo nghĩ, tính toán nhiều đại sự cho nhiều thế hệ tiếp theo.

Chỉ với những gì thư tịch còn sót lại đến nay, có thể khẳng định Trần Nhân Tông là một tác giả văn chương vừa tinh tế vừa đa phong cách. Một trong những đóng góp đặc biệt của Trần Nhân Tông với tư cách tác giả văn học thể hiện ở chỗ Ngài chính là tác giả quan trọng đầu tiên còn để lại những tác phẩm lớn bằng chữ Nôm (với hai tác phẩm Cư trần lạc đạo phúĐắc thú lâm tuyền thành đạo ca), góp phần quan trọng kiến tạo nên bộ phận văn học viết bằng ngôn ngữ ghi lại tiếng nói của dân tộc.

Như nhiều học giả đã khẳng định, Thiền phái Trúc Lâm do Ngài sáng lập và trở thành Trúc Lâm đệ nhất tổ vừa kế thừa được tinh hoa của Thiền Tông nói chung, vừa kết tinh những thành tựu tu tập và quán tưởng của các hành giả bản địa, để trở thành một Thiền phái mang đậm sắc thái dân tộc mà đặc điểm hàng đầu là tinh thần nhập thế lạc quan, lại cũng vừa là nơi thể nghiệm sự kết hợp, dung hòa thêm các thành tố có nguồn gốc tôn giáo, tín ngưỡng hay học thuyết khác.

Tinh thần “dung tam tế” của các bậc quốc sư từ nhiều triều đại trước đến đây mở rộng hết tầm vóc. Một trong những chứng tích có ý nghĩa nhiều mặt được truyền thông rộng rãi gần đây chính là việc đấu giá phiên bản của bức họa Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ mà bản gốc được coi là quốc bảo đang được bảo vệ và lưu trữ ở Trung Quốc.

Còn nữa

Phần 2: Trần Nhân Tông trên cương vị một nhà cầm quyền

Từ trí tuệ Trần Nhân Tông đến trí tuệ Việt Nam 2012 – SGTT

29 Th9

Từ trí tuệ Trần Nhân Tông đến trí tuệ Việt Nam 2012

SGTT.VN – Trong một buổi trò chuyện, một giáo sư triết học nhắc đến cuộc đối thoại của nhà văn Nguyên Ngọc với nhà báo Nam Dao. Ông Nam Dao có câu hỏi rất hay, đại ý là các văn nhân nước ta sao cứ giống Trình Giảo Kim, chém đúng ba búa rồi bỏ chạy, chẳng ai đủ sức đi đường dài mặc dù xã hội ngày càng nhiều những vấn nạn, vấn đề mới nảy sinh!

 

 
Nhà văn Nguyên Ngọc.

 

Ông Nguyên Ngọc trả lời rất rốt ráo câu hỏi này: “Muốn hiểu vì sao có tình trạng chợ chiều hôm nay cũng không có cách gì khác hơn là nhìn lại thực chất nội lực của văn học. Văn học thời Đổi mới đã bứt phá ra được vì nội lực của nó qua dồn nén lâu dài đã đến lúc trở nên mạnh hơn những lực lượng kìm hãm. Nhưng trong cuộc bứt phá đó nó đã “tiêu xài” hết nội lực có được, như chiếc xe cạn xăng, sức đuối dần đi, đến khi dừng lại hẳn như hiện nay.

Trong sự dừng lại hiện nay, có nguyên nhân của sự cản trở không? Có chứ. Nhưng thử nghĩ xem bao giờ mà không có sự cản trở. Các lực lượng kìm hãm thì thời nào, chỗ nào cũng không thiếu. Vấn đề là anh có đủ sức phá nó ra không? Vấn đề hiện nay là tự anh đã yếu đi, do đã tiêu hết nội lực có thật của mình. Tôi cho rằng những hiện tượng như Nguyễn Huy Thiệp đã dừng lại, Bảo Ninh thì hầu như không còn viết gì đáng chú ý nữa… đều có thể nói là tất yếu. Họ đã “xài” hết cái “trời cho”, tức tài năng bẩm sinh cộng với “vốn sống”, tức sự trải nghiệm của họ. Họ đã trở nên hụt hẫng.

Một nhà văn viết bằng gì? Theo tôi, có ba cái chính: tài năng “trời cho”, sự trải nghiệm hay “vốn sống”, và cái thứ ba là nền tảng văn hoá dân tộc và nhân loại mà anh ta có được, anh ta “đứng” trên đó để tiếp tục đi tới.

Lớp người trẻ cầm bút ở Việt Nam hiện nay thiếu hụt hơn cả chính là cái thứ ba này. Thử nhìn lại cha ông chúng ta, những Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương… mà xem. Khi họ cầm bút thì đằng sau lưng họ là cả một cái vốn văn hoá khổng lồ của phương Đông. Nền giáo dục thời đó đã cho phép họ chiếm lĩnh gần như toàn bộ những đỉnh cao nhất của văn hoá nhân loại (hiểu ở nghĩa đối với chúng ta thời ấy chỉ bao gồm Trung Hoa và Ấn Độ, với Nho giáo và Phật giáo). Chính trên cái nền tảng vĩ đại đó mà họ phát huy tài năng trời cho và vốn trải nghiệm sâu sắc của họ, tạo nên những tác phẩm có tầm mức kinh điển của thời đại họ. Qua đến thế hệ nhà văn thời Pháp thuộc thì nền tảng của họ là truyền thống văn hoá cũ cộng với tri thức mới do nền Tây học mang lại. Họ cũng có những đóng góp tầm cỡ, như Thơ mới, tiểu thuyết… Sự hụt hẫng của lớp người cầm bút hiện nay ở Việt Nam chính bởi toàn bộ cái vốn văn hoá dân tộc và nhân loại mà các thế hệ trước có thì đến nay họ không còn có được nữa. Ở đây đương nhiên có vấn đề của nền giáo dục trong nước suốt nhiều chục năm qua. Đó là thời gian có thể nói là chúng ta gần như không có đại học thực sự. Anh Hoàng Ngọc Hiến gọi rất đúng đại học trong nước là trường “phổ thông cấp bốn”. Chỉ xin lấy một ví dụ: trong nền giáo dục ở mọi cấp, gần như hoàn toàn không dạy triết học. Tất nhiên có môn gọi là “triết học Mác – Lênin”, nhưng môn này không được giảng như triết học mà chỉ là những khoá huấn luyện chính trị rất sơ đẳng. Thế cho nên những người cầm bút thuộc thế hệ trẻ trong nước hiện nay có thể nói là hoàn toàn không hề được tiếp cận với di sản triết học nhân loại, cả phương Đông lẫn phương Tây. Thật khó mà tưởng tượng được một nhà văn mà không có chút vốn triết học nào!”

Ông Nguyên Ngọc đã từ lĩnh vực văn chương đi thẳng vào vấn đề nền tảng của người học hiện nay, khi mà cái cần nhất thì chúng ta không học (và không được dạy), cho nên người làm nghề gì cũng thế, chứ không chỉ nghề viết, không có nền tảng, muốn tiến thêm sẽ hụt hẫng. Lỗ hổng trong nền tảng quá lớn phải chăng là nguyên nhân mà chỉ số trí tuệ Việt Nam (bậc 76) vừa rồi tụt hạng thấp nhất trong các năm, thua Thái Lan (bậc 57) và Malaysia (64,8).

Phần lớn công chúng cho rằng, để khắc phục tình trạng này, chỉ có nhờ vào hệ thống giáo dục thay đổi thực sự. Chúng ta cứ hy vọng vào điều này đi, dù rằng nếu có chỉ số hy vọng, thì có lẽ Việt Nam sẽ xếp thứ nhất, thứ nhì chăng!

Từ thế kỷ 13, nước Việt đã có truyền thống giáo dục như thế, sao đến thế kỷ 21, lại sa sút trầm trọng – câu hỏi này ai trả lời được?

Dân tộc Việt không thiếu danh nhân đáng tự hào. Như Trần Nhân Tông, một vì vua cách đây 700 năm một lần nữa được vinh danh khắp thế giới khi đại học Harvard (Mỹ) thành lập viện Trần Nhân Tông, tổ chức giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà giải hàng năm dành trao cho những con người bằng hành động và ảnh hưởng của mình có đóng góp nổi bật cho sự nghiệp hoà giải và yêu thương nhân loại… Điều gì đã khiến những nhân vật tài danh xuất phát từ ngôi trường đại học danh tiếng, nơi đào tạo hàng vạn thế hệ nhân tài cho thế giới lựa chọn Trần Nhân Tông? Điều gì nếu không phải chính là trí tuệ toả sáng của ông?

Được nuôi dạy kỹ từ lúc còn trẻ, Trần Nhân Tông “khi lớn, ngài học thông tam giáo và hiểu sâu Phật điển. Ngay cả thiên văn, lịch số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ gì là không nắm được sâu sắc. Như thế vua Trần Nhân Tông đã thừa hưởng một nền giáo dục hết sức rộng rãi, với một tinh thần cởi mở, kết hợp kiến thức khoa học với văn chương, quân sự với âm nhạc. Đây là truyền thống giáo dục Việt Nam và Phật giáo Việt Nam, mà ta đã thấy xuất hiện từ thời Mâu Tử và Khương Tăng Hội” (trích Toàn tập Trần Nhân Tông).

Từ thế kỷ 13, nước Việt đã có truyền thống giáo dục như thế, sao đến thế kỷ 21, lại sa sút trầm trọng – câu hỏi này ai trả lời được? Nếu không, ta đành phải tự trả lời bằng cách tự thân vận động thôi. Như câu Phật hoàng Trần Nhân Tông tâm đắc nhất trong những lần tranh luận cùng với Tuệ Trung Thượng Sĩ, thầy của ngài, rằng: “Quan sát lại chính mình, đó là bổn phận, không do người khác làm được”.

Mỗi ngày thấy được mình cần phải dấn thêm một bước, đó là cái tự học của người ham học, cũng là cái cầu học của những người có tầm nhìn cho một đất nước thật sự vững mạnh bằng nội lực, chứ không phải bằng việc tìm mọi cách để bán tài nguyên.

Ngân Hà

 

Viện Trần Nhân Tông (Trần Nhân Tông Academy) được thành lập bởi một nhóm nhà nghiên cứu tại trường đại học Harvard, do giáo sư Thomas Patterson làm chủ tịch.

Mục đích dài hạn mà viện đề ra gồm: tổ chức nghiên cứu về Trần Nhân Tông theo chuẩn mực quốc tế, đồng thời xuất bản các kết quả nghiên cứu, các ấn phẩm về Trần Nhân Tông bằng nhiều loại hình; thúc đẩy, ứng dụng những tư tưởng nhân ái, giàu trí tuệ của Trần Nhân Tông vào cuộc sống; quảng bá những giá trị tư tưởng và sự nghiệp vĩ đại của Trần Nhân Tông trên toàn thế giới.

Ngày 22.9, viện đã trao giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà giải lần đầu cho Tổng thống Myanmar U Thein Sein và chủ tịch đảng đối lập Aung San Suu Kyi.

 

 

 
 

Ngày hội lớn của giải thưởng quốc tế Trần Nhân Tông – trannhantong.net

26 Th9

Tác giả:

“Lãnh đạo các quốc gia khác hãy tự tin và lạc quan rằng chúng ta cũng sẽ có cơ hội để thay đổi đất nước mình như Myanmar” – Bà Ann Mc Daniel, Phó Chủ tịch Washington Post chia sẻ tại lễ trao giải thưởng quốc tế Trần Nhân Tông về Hòa giải tại Harvard, Boston, Hoa Kì vừa qua.

Lần đầu tiên trường Đại học Harvard tổ chức một giải thưởng mang tầm vóc quốc tế, giải thưởng Trần Nhân Tông về hòa giải với nhiều giáo sư, những nhân vật uy tín của nước Mỹ tham dự. Tổng thống Myanmar, ông U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập NLD – bà Aung San Suu Ky được trao tặng huân chương của Trần Nhân Tông Academy.

Đến với lễ trao giải có Giáo sư Michael Dukakis, Cựu ứng cử viên tổng thống Mỹ 1988, Cựu Thống đốc bang Massachusetts; bà Ann Mc Daniel, Phó Chủ tịch Washington Post; Ông Michael Greco, Cựu Chủ tịch Hội luật gia Mỹ; Giáo sư Stephen Walt, nhà phân tích quan hệ quốc tế danh tiếng của trường Quản lý nhà nước Kennedy, Đại học Harvard, Giáo sư Thomas Patterson, Đại học Harvard và Giáo sư Phật học danh tiếng của Đại học Harvard- Janet Gyatso…

Ảnh: Huân chương trao tặng cho ông U Thein Sein và bà Aung San Suu Ky

Đông đảo học giả của Harvard có mặt tại hội nghị. Trong số đó là nhiều nhà văn hoá có uy tín với nhiều cuốn sách văn học best seller như William Martin; nhạc sỹ danh tiếng Larry Bell; nhạc trưởng, biểu tượng cho tinh thần vượt khó của Châu Phi Armand Diangienda. Các nhà lãnh đạo truyền thông như ông Alex Jones, Giám đốc Trung tâm Báo chí, Chính trị và Chính sách công Shorenstein , Đại học Harvard; ông Phillip Balboni, Chủ tịch và Tổng giám đốc Global Post cũng đến tham dự.

Bên cạnh đó là những diễn giả có uy tín trong nước tham dự như Giáo sư, Thiền sư Lê Mạnh Thát, Phó Giáo sư Trần Ngọc Vương…

Các bài diễn văn của Phó Chủ tịch Washington Post – bà Ann Mc Daniel, ông Michael Greco, Cựu Chủ tịch Hội luật gia Mỹ, và Giáo sư Phật học Janet Gyatso, trường Harvard với thông điệp sâu sắc, thể hiện tầm cỡ của những nhà tư tưởng lớn.

Bà Ann Mc Daniel – Phó Chủ tịch Washington Post tham dự tại hội nghị đánh giá cao giá trị của giải thưởng Trần Nhân Tông về Hòa giải mang lại cho thế giới bởi bà cho rằng khi tôn vinh ông U Thein Sein và bà Aung San Suu Kyi sẽ giúp cho thế giới biết được điều gì đang diễn ra ở Myanamar. Họ đã dám nhận trách nhiệm để dẫn dắt đất nước tốt đẹp hơn.

Ảnh: Bà Ann Mc Daniel – Phó Chủ tịch Washington Post phát biểu tại hội nghị

Phó Chủ tịch Washington Post muốn nhắn nhủ đến các nhà lãnh đạo các quốc gia trên thế giới hãy tin tưởng và lạc quan rằng chúng ta cũng sẽ có cơ hội để thay đổi đất nước như Myanmar.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh cũng gửi lời chúc mừng đến hội nghị và bày tỏ sự tin tưởng rằng những nhà lãnh đạo chính trị có khả năng giữ vững lòng từ bi và hiểu biết lớn, họ sẽ thành công như Trần Nhân Tông.

Giáo sư Phật học, bà Janet Gyatso chia sẻ niềm vui tại lễ trao giải rằng đôi khi con người cần những hình tượng tốt đẹp để hướng theo. Thế giới hôm nay còn nhiều điều chưa tốt, do vậy khi có người tốt thì phải nâng đỡ và quảng bá để mọi người biết đến nhiều hơn.

Hội nghị và lễ trao giải ngày 21/09 vừa qua đã quy tụ được nhiều nhân vật danh tiếng đến từ khắp năm châu, với tinh thần hoà giải và yêu thương đã thực sự là một ngày hội lớn, một ngày trọng đại tôn vinh tinh thần Hoà Giải, tôn vinh Phật Hoàng Trần Nhân Tông.

Lan Anh

Bao giờ có hai người Việt Nam nhận Giải thưởng Trần Nhân Tông? – Hữu Nguyên

23 Th9

Bao giờ có hai người Việt Nam nhận Giải thưởng Trần Nhân Tông?

 
Một giải thưởng quốc tế đầu tiên mang tên Việt Nam và hàm chứa các giá trị Việt Nam phổ quát tới toàn nhân loại đã chính thức được trao cho hai chính khách Myanmar. Điều đáng nói là hai người này thuộc hai phe đối lập, đó là Giải thưởng Trần Nhân Tông về Hòa giải.
 
Chỉ vài năm trước đây thôi, ít có người dám nghĩ tới điều này: sự bắt tay và cùng nhau hành động vì tương lai và lợi ích quốc gia Myanmar của hai người vốn được coi như là thù địch về chính trị. Một người là thủ lĩnh quân đội, nay là tổng thống Myanmar; còn người kia là nhà đấu tranh chính trị dân sự đối lập vì mục tiêu tự do và dân chủ cho Myanmar, thường xuyên bị giam cầm trong lao tù.
 
Đây là 2 nhân vật được cả hội đồng cố vấn và xét giải thưởng cùng nhất trí cao để trao giải  trong số những gương mặt sáng giá được giới thiệu, đề cử đến Uỷ ban giải thưởng Trần Nhân Tông về Hòa giải. Hội đồng cố vấn và xét giải thưởng quyết định chọn Tổng Thống U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập – Aung San Suu Kyi với tiêu chí của giải thưởng này trao cho 2 người ở 2 phía đối lập, xung đột, bắt tay, hoà giải với nhau. Hòa giải chỉ thực sự được diễn ra khi mỗi bên sẵn sàng bước tới với sự khoan dung, với một tấm lòng cao cả và điều chỉnh để tiến tới sự tương đồng.
 
 
 
 Tổng thống Myanmar, ông U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập NLD – bà Aung San Suu Kyi chính thức được trao tặng giải thưởng Trần Nhân Tông về Hòa giải
 
Trong năm qua Tổng thống Thein Sein và bà Aung San Suu Kyi đã có những nỗ lực ban đầu để đưa đất nước Myanmar biến chuyển tốt đẹp về chính trị, được thế giới trân trọng, ghi nhận. Đồng thời, giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà giải cũng muốn gửi đến lời chúc các vị lãnh đạo Myanmar tiếp tục nỗ lực nhiều hơn nữa cho đất nước Myanmar và thế giới.
 
“Hòa giải là hành động hàn gắn, mang những phái đối lập lại với nhau. Để hòa giải thực sự được diễn ra, cả hai phía phải sẵn sàng hợp tác và nhượng bộ, mặc dù trong một số trường hợp một bên đã đàn áp bên kia. Chỉ khi mỗi bên sẵn sàng bước tới với cái ôm hôn cho bên kia, hòa giải thực sự xảy ra. Hòa giải là hành động song phương, và điều này tạo nên sự khác biệt giữa giải thưởng Trần Nhân Tông và giải thưởng Nobel”- GS Thomas Pat­ter­son – Chủ tịch giải thưởng quốc tế Trần Nhân Tông về Hòa giải nhấn mạnh. Hòa giải, ngay cả với cựu thù, là con đường để đạt được hòa bình vĩnh cữu và sự hòa hợp, cho nội tại  mỗi cá nhân và trong quan hệ giữa con người với nhau. Cuộc đời Trần Nhân Tông có sự thu nhỏ của sự hòa giải, và điều này phù hợp với giải thưởng mang tên ông.
 
Thầy Thích Nhất Hạnh trong thư chúc mừng hai vị được trao giải thưởng đầu tiên này đã tóm tắt rất cô đọng những điểm quan trọng nhất trong cuộc đời Trần Nhân Tông và cũng là cơ sở nền tảng để hình thành nên giải thưởng độc đáo này: “Cùng với việc luyện tập và trau dồi ngôn ngữ về tình yêu thương, Trần Nhân Tông đã luôn lắng nghe người dân từ tất cả các tầng lớp xã hội ở đất nước của ngài. Trần Nhân Tông đã tổ chức trưng cầu dân ý và tập hợp toàn dân tộc để đánh bại hàng trăm nghìn quân của Hốt Tất Liệt và những cận thần của hắn. Sau sự rút lui của quân xâm lược, vua Trần Nhân Tông đã phát hiện ra nhiều tài liệu bí mật tiết lộ sự hợp tác giữa một số cộng sự của ngài và quân đội Hốt Tất Liệt, nhưng ngài đã ra lệnh đốt các tài liệu dưới sự chứng kiến của tất cả mọi người. Ngài nói: “Đất nước ta cần sự hòa giải và hàn gắn chứ không cần sự trừng phạt”. Khi đất nước đã ổn định, Vua Trần Nhân Tông bàn giao ngôi cho con trai của ngài là Trần Anh Tông và trở thành một tu sĩ, tu hành trên núi Yên Tử. Ngài đi trên khắp đất nước với đôi chân trần, giảng dạy người dân của mình để tu hành Ngũ tắc và từ bỏ việc mê tín dị đoan. Ngài cũng đi đến các nước láng giềng để thúc đẩy quan hệ hòa bình giữa hai quốc gia”.
 
GS Thomas Pat­ter­son – Chủ tịch giải thưởng quốc tế Trần Nhân Tông về Hòa giải  chia sẻ thêm: “Nhiều năm trước, tôi là một người lính Mỹ tới Việt Nam và tôi đã đem lòng yêu đất nước, con người và lịch sử của các bạn. Đó là thời điểm lần đầu tiên tôi nhận biết về Trần Nhân Tông, vị Vua đã hoàn thành được điều mà nhiều người không làm được: chiến thắng quân Mông Cổ. Tuy nhiên, mãi đến năm 2010 tôi mới có được một sự hiểu biết đầy đủ về tầm vóc của ông khi tôi tới Việt Nam cùng vợ và có cơ hội thăm Yên Tử ở Quảng Ninh. Đó là nơi tôi bắt đầu ngưỡng mộ sự hy sinh không chút vị kỉ của ông đối với đất nước. Đó là sự vô tư không vị kỉ, sự khiêm tốn mà chúng ta tìm thấy ở cuộc đời Hồ Chí Minh hay George Washington”.
 
Còn nhớ cuối năm 2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng khuyên Tổng Thống U Thein Sein là Myanmar nên mở cửa với thế giới bên ngoài như “tấm gương Việt Nam”. Trên thực tế Myanmar ngày nay chỉ trong thời gian ngắn ngủi đã làm được rất nhiều điều cụ thể theo tinh thần lời khuyên đó của Thủ tướng Việt Nam. Cựu tướng quân Thein Sein đã khởi động tiến trình cải cách dân chủ, thả bà Aung San Suu Kyi và bầu cử tự do, công nhận sự hợp hiến của phe đối lập. Hàng ngàn tù nhân chính trị đã được thả. Mới đây, ông còn thay tới 16 bộ trưởng, trong đó có bộ trưởng Thông tin. Không kiểm soát báo chí và cho phép báo tư nhân ra đời. Quyền lực thứ tư sẽ giúp cho xã hội minh bạch và trong sạch hơn.
 
Tháng trước Aung San Suu Kyi thăm khắp châu Âu và được chào đón nồng nhiệt. Mấy hôm nay, cựu tù nhân lương tâm, khôi nguyên Nobel hòa bình, đang thăm Mỹ 18 ngày. Ngoài việc nhận Huy chương Vàng Quốc hội Mỹ, gặp Hillary Clinton, và các nhà lập pháp, Obama tiếp tại Nhà Trắng, rồi Tổng Thư ký UN chào đón, với lịch thăm thú dầy đặc, bà Aung San Suu Kyi được Tổng thống Thein Sein, người từng giam giữ bà hàng chục năm, giao nhiệm vụ nặng nề là đàm phán với Mỹ để nới lỏng các biện pháp trừng phạt kinh tế. Mới đây có tin cho hay, phía Mỹ đã bỏ lệnh trừng phạt cá nhân Tổng thống Thein Sein và chủ tịch Quốc hội Myanmar. Bà Aung San Suu Kyi đã nói rất rõ với phía Mỹ, cải cách chính trị tại Myanmar không thể phụ thuộc vào cấm vận của bất kỳ ai, mà phải dựa vào nội lực của chính quốc gia ấy.
 
Mới đây, nhận xét về câu chuyện hòa giải ở Myanmar qua hai nhân vật đối lập cùng các lợi ích to lớn mà đất nước này đang có được từ cộng đồng thế giới thông qua tiến trình hòa giải hữu hiệu từ bên trong nội bộ quốc gia đó, tác giả Hiệu Minh bình luận về trường hợp bà Aung San Suu Kyi đã cho rằng: “Dùng tù nhân lương tâm để giải thoát quốc gia trên thế giới đã từng xảy ra và có những ví dụ về hòa giải tuyệt vời. Nam Phi có Nelson Mandela, ngồi sau song sắt 27 năm trời và sau thành lãnh tụ yêu mến của cả da trắng lẫn da đen, bởi vị tổng thống da trắng Frederik Willem de Klerk đã biết hòa giải. Ba Lan có thủ lãnh công đoàn Đoàn kết  Lech Wałęsa bị tù, giam lỏng, rồi lên đến Tổng thống bởi vị lãnh đạo cộng sản Wojciech Jaruzelskilúc đó hiểu thời thế. Thời cách mạng văn hóa, Đặng Tiểu Bình vào tù ra tội, nhưng chính ông đưa nước Trung Hoa lên hàng thứ hai trên thế giới vì thuyết mèo đen mèo trắng. Niềm hy vọng tiếp theo, cả thế giới đang trông chờ vào sự khéo léo của người phụ nữ tưởng rằng yếu đuối như Suu Kyi. Chính nữ tù nhân lương tâm này sẽ thay đổi Myanmar”.
 
 
 
 Huân chương được trao  cho Tổng thống Myanmar, ông U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập NLD – bà Aung San Suu Kyi.
 
Giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà Giải được xác lập bởi Hội đồng cố vấn và Uỷ ban giải thưởng  là những nhà lãnh đạo, những Giáo sư, học giả có uy tín của Harvard , của nước Mỹ và thế giới như Giáo sư Michael Dukakis, Cuự Ứng viên Tổng thống Mỹ, Cựu Thống đốc bang Massachusetts, bà Ann Mc Daniel, Phó Chủ tịch Washington Post, Giáo sư Thomas Patterson, Trường Quản lý nhà nước Kennedy , Đại học Harvard, bà Robin Sproul  Phó Chủ tịch hãng truyền hình ABC News, Giáo sư Thomas Scanlon, nhà triết học lớn ở Đại học Harvard, nhà báo nổi tiếng Giáo sư Thomas Fiedler, hiệu trưởng trường truyền thông, Đại học Boston, cựu Tổng biên tập Miami Herald, ,nhà lãnh đạo danh tiếng Giáo sư Vaira Vike-Freiberga, cựu Tổng thống Latvia ….
 
Những nhà lãnh đạo, những học giả danh tiếng muốn thông qua Giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà Giải góp một tiếng nói khiêm nhường vào hành trình tìm kiếm hoà giải, yêu thương cho nhân loại, với hy vọng lòng bao dung và vị tha, sự hoà giải, giải phóng con người khỏi hận thù sẽ ngự trị trên trái đất thân yêu này.
 
Tuy nhiên, có lẽ một điều mong chờ mà cũng là niềm khao khát vô biên của mọi người Việt Nam ngày nay rằng đến bao giờ mới xuất hiện hai người Việt Nam đủ các điều kiện để nhận Giải thưởng quốc tế mang tên Trần Nhân Tông?
 
Một giải thưởng quốc tế mang tên một người Việt Nam đã làm rạng danh lịch sử dân tộc với nội hàm sâu sắc về hòa giải, yêu thương, đoàn kết để cùng phát triển các giá trị, di sản của người Việt mà biết bao thế hệ đã phải đổ xương máu giữ gìn cho tới tận hôm nay,  bao giờ sẽ được trao cho hai người Việt Nam hiện tại. Hai người sẽ thật sự chân thành bắt tay nhau và cùng nhau hành động vì tương lai, vì lợi ích quốc gia – dân tộc,  cho dù trước đó ít lâu họ có thể được coi như là thù địch về chính trị.
 
Biết tới bao giờ?
 
22 tháng 9 năm 2012
 
 

Trao Giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà giải

22 Th9

Trao Giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà giải

– Tổng thống Myanmar, ông U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập NLD – bà Aung San Suu Kyi chính thức được trao tặng giải thưởng Trần Nhân Tông về Hòa giải , buổi lễ được tổ chức tại Harvard University Faculty Club, vùng Boston – Hoa Kì vào ngày 21/9.

Đây là 2 nhân vật  được cả hội đồng cố vấn và xét giải thưởng cùng nhất trí cao để trao giải  trong số những gương mặt sáng giá được giới thiệu, đề cử đến Uỷ ban giải thưởng Trần Nhân Tông về Hòa giải.


Tổng thống Myanmar, ông U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập NLD – bà Aung San Suu Kyi chính thức được trao tặng giải thưởng Trần Nhân Tông về Hòa giải

Hội đồng cố vấn và xét giải thưởng quyết định chọn Tổng Thống U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập – Aung San Suu Kyi với tiêu chí của giải thưởng này trao cho 2 người ở 2 phía đối lập, xung đột, bắt tay, hoà giải với nhau. Hòa giải chỉ thực sự được diễn ra khi mỗi bên sẵn sàng bước tới với sự khoan dung, với một tấm lòng cao cả và điều chỉnh để tiến tới sự tương đồng. Trong năm qua Tổng thống Thein Sein và bà Aung San Suu Kyi đã có những nỗ lực cao để đưa đất nước Myanmar biến chuyển tốt đẹp về chính trị, được thế giới trân trọng, ghi nhận.

 

Huân chương duoc trao tặng cho Tổng thống Myanmar, ông U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập NLD – bà Aung San Suu Kyi

Giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà Giải được xác lập bởi Hội đồng cố vấn và Uỷ ban giải thưởng  là những nhà lãnh đạo, những Giáo sư, học giả có uy tín của Harvard , của nước Mỹ và thế giới như Giáo sư Michael Dukakis, Cựu ứng viên Tổng thống Mỹ, Cựu Thống đốc bang Massachusetts, bà Ann Mc Daniel, Phó Chủ tịch Washington Post, Giáo sư Thomas Patterson, Trường Quản lý nhà nước Kennedy , Đại học Harvard, bà Robin Sproul  Phó Chủ tịch hãng truyền hình ABC News, Giáo sư Thomas Scanlon, nhà triết học lớn ở Đại học Harvard, nhà báo nổi tiếng Giáo sư Thomas Fiedler, hiệu trưởng trường truyền thông, Đại học Boston, cựu Tổng biên tập Miami Herald, nhà lãnh đạo danh tiếng Giáo sư Vaira Vike-Freiberga, cựu Tổng thống Latvia …. 

Những nhà lãnh đạo, những học giả danh tiếng muốn thông qua Giải thưởng Trần Nhân Tông về Hoà giải góp một tiếng nói khiêm nhường vào hành trình tìm kiếm hoà giải, yêu thưong cho nhân loại, với hy vọng lòng bao dung và vị tha, sự hoà giải, giải phóng con người khỏi hận thù sẽ ngự trị trên trái đất thân yêu này.

Nhiều học giả, nhiều nhà hoạt động xã hội, nhiều nhân vật danh tiếng trên thế giới đã gửi thư chúc mừng những người được giải như Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Giáo sư Joseph Nye, Giáo sư phật học ở Harvard Janet Gyatso, nhạc trưởng Armand Diangienda …

Lan Anh

 

Thiền phái Trúc Lâm Yên tử từ luận giải Trần Nhân Tông – trannhantong.net

16 Th9
 

Phạm Văn Tuấn

Viện Nghiên cứu Hán Nôm 

Từ khoá: Nhân Tông仁宗, Trúc Lâm竹林, Phật tính佛性, lạc đạo樂道, nhập thế入世, tam giáo 三教.

Hơn trăm năm triều Trần gắn liền với sự phát triển và thống nhất lãnh thổ của dân tộc. Trải qua các cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, nhà Trần đã làm nên kì tích trong lịch sử Đại Việt. Cũng trong thời đại đó, Trần Nhân Tông nổi lên không chỉ là vị vua anh minh mà còn là một anh hùng dân tộc, một nhà tư tưởng, nhà thơ, nhà văn, nhà tu hành…đáng kính. Một ngôi sao sáng nhất trong thời Lý – Trần, gắn liền giữa vấn đề Phật giáo và vấn đề dân tộc. Nhà vua đã phát triển xã hội, đất nước từ chính tự thân với tư tưởng Phật giáo trong mối tương giao Tam giáo đồng nguyên. Trần Nhân Tông khai mở hoàn thiện thiền Trúc Lâm, mở ra tông phái Trúc Lâm Yên Tử trong sự phát triển nối kế của lịch sử Phật giáo từ thời đại nhà Lý đến nhà Trần. Tại sao Trần Nhân Tông được hậu thế sùng tôn là Trúc Lâm Đệ nhất tổ? Bài viết, hy vọng đem đến cái nhìn tiệm cận về thời Trần và người phát triển Phật giáo Trúc Lâm Yên Tử thông qua hình ảnh Trần Nhân Tông

Vương quyền tới thần quyền – Từ Trúc Lâm Yên Tử đến thiên hạ.

Trần Nhân Tông cũng như các vị vua khác trong giai đoạn Lý Trần đều tôn sùng đạo Phật. Thời Trần, từ vua đến quan lại, sĩ dân, đạo Phật đã thành nếp văn hoá, mạch sống của con người. Lên ngôi từ rất sớm, Nhân Tông không muốn kế vị mà chỉ muốn sống theo đạo tu hành[1]. Ngôi vị bậc thánh nhân cũng chính là lấy cái của muôn dân làm cái muốn của mình từ những lời tiên tổ Thái Tông đàm đạo với Quốc sư Đại sa môn Trúc Lâm trong Thiền tông chỉ nam tự[2]. Điều đó, cho thấy giữa 2 con người trong các vua Trần là vương quyền và thần quyền luôn tương trưởng. Vương quyền chính là triều đình, là cai trị xã tắc thống nhất, đánh đuổi xâm lược, mở rộng lãnh thổ về Nam…. Thần quyền là phần hồn, phần tâm linh hướng thượng trong hệ tư tưởng của con người nhà vua. Đấy cũng như sau giấc mộng của Hoàng hậu thấy thần nhân trao cho hai thanh kiếm (神人授兩劍) mà nói rằng: Thượng đế có sắc ban cho người chọn (上帝有敕聽汝自擇) rồi hoài thai mà sinh Nhân Tông[3]. Khi ngài sinh ra, hương thơm khắp nhà, ánh sáng ngập đất, thân mang sắc vàng, cho nên, Thánh Tông mới gọi Nhân Tông là Kim Phật (聖宗以金佛為名)[4]. Đến sau này, Nhân Tông lại thường mộng thấy một đoá sen lớn như bánh xe nở trên rốn, mà trên toà đó hiện hình đức Biến chiếu tôn 遍照尊[5]. Tất cả hiện lên màu sắc huyền bí nhưng hợp lý cho sự phát triển của con người trong tương quan giữa đạo pháp dân tộc của xã hội Phật giáo Đại Việt thời Lý – Trần.

Việc những giấc mộng gắn liền với vị vua cho thấy sự hợp nhất vương quyền và thần quyền trong con người Trúc Lâm Đệ nhất tổ Trần Nhân Tông. Bởi không chỉ Nhân Tông sinh ra như được báo trước từ giấc mộng hai thanh kiếm rồi đến Pháp Loa sinh ra cũng được báo mộng, khác chăng Pháp Loa được báo mộng là một thanh kiếm mà thôi[6]. Đồng thời, các vị tổ sinh ra đều hương thơm khắp chốn, ánh sáng khắp không gian mà chúng ta gặp bàng bạc trong các thần tích Việt Nam. Phải chăng, văn bản về các vị tổ có lẽ là những truyền thuyết sớm được ghi chép lại để tôn sùng sự uy linh của vương quyền và thần quyền mà biểu trưng là Đạo Phật nhập thế.

Bản thân Trần Nhân Tông nhiều lần từ chối lên ngôi làm Thái tử nhưng Thánh Tông không cho, đến khi vững ngôi báu, đánh đuổi quân Nguyên xâm lược 2 lần, rồi làm Thái Thượng hoàng điều hành đất nước và đợi cho Anh Tông trưởng thành, ngài mới xuất gia. Thực tế, thời gian trở thành một thầy tu đúng nghĩa xuất gia chỉ trong 8 năm, cho đến khi ngài nhập tịch. Tuy nhiên, trong 8 năm đó, bản thân là người nghiên cứu đạo Phật từ nhỏ, Nhân Tông đã thấm đượm tư tưởng Phật giáo, nên có thể nói thời gian xuất gia chính là giai đoạn ngài nghiền ngẫm và thấm đượm tinh thần Phật giáo nhập thế. Lấy tinh thần từ bi hỉ xả cứu độ chúng sinh bằng bỏ các dâm từ, phát triển đạo pháp dân tộc cùng hoà hợp, Nhân Tông nhiều lần xin Đại Tạng Kinh, tuyên giảng kinh kệ, ngữ lục ở chùa chiền, thuyết giảng, đăng đàn truyền giới.

Truyền thống thiền phái Trúc Lâm đã thấm nhập tinh thần nhập thế vào chính truyền thừa tông thất nhà Trần. Từ Trần Thái Tông và Viên Chứng đến các vua Thánh Tông, đến Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung…. tạo nên mạch truyền thống phái và sự phát triển bền vững của đạo Phật thời Trần. Yếu tố thời đại cũng cho thấy, đến thời Trần, các mạch phái đạo Phật ở Đại Việt cũng suy vi, như: thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông…. Đã không còn thịnh trị và phát triển nối kết tông phái được như thời Lý nữa. Nhân Tông đã nối kết từ phái Trúc Lâm để mở rộng và ổn định tông phái, tạo nên mối gắn kết mật thiết giữa dân tộc và tôn giáo, giữa chính quyền vương quyền và thần quyền, tạo nên uy lực cho sự phát triển.

Bản thân Nhân Tông khi còn đương thế, ngài tự xưng là Đại sĩ, là Trúc Lâm Đại sĩ. Tức là ngài coi mình như một vị Bồ tát tu theo hạnh Đầu đà, tiến tu đến quả Tỳ khưu mà thôi. Đến khi viên tịch, được ban tôn hiệu: Đại thánh Trần triều Trúc Lâm đầu đà Tịnh tuệ Giác Hoàng Điều ngự tổ Phật. Trong Đoạn sách lục được biên soạn sau đó, mà bia tháp Viên Thông trên chùa Thanh Mai dựng năm 1362 ghi chép về Pháp Loa đã cho biết khi Trần Nhân Tông truyền đăng cho Pháp Loa thành竹林第二代Trúc lâm đệ nhị đại[7], cùng truyền áo pháp cũng như các pháp khí truyền đăng. Như thế, rõ ràng Nhân Tông đã được coi là Đệ nhất tổ của Trúc Lâm Yên Tử chính từ thời ngài còn đương tại. Trong văn bia cũng như trong Tam tổ thực lục, Thánh Đăng lục đều ghi ngài là đức Điều Ngự cho thấy các văn bản đều tôn trọng và mang tính thống nhất trong biên soạn về con người hành trạng Nhân Tông.

Làm vua một nước, công huân đánh đuổi xâm lược, trí tuệ siêu phàm, Trần Nhân Tông là một thánh nhân lớn thời Trần. Công uy của ngài bàng bạc khắp đất trời Đại Việt. Đại Việt sử kí toàn thư sau này bình luận về Trần Nhân Tông: “Vua nhân từ hoà nhã, cố kết lòng dân, thực là bậc vua hiền của nhà Trần”. Sau gần nghìn năm, khi cho in lại Tam tổ thực lục (1897), Diệu Trạm Thiền sư đã có những lời nhận định trong phần duyên khởi cho lần Trùng san về chư tổ Trúc Lâm Yên Tử như sau:  陳家三祖同時修證者是一佛二菩薩 …一是法王御世者遜位投禪忘身為道且若禪機酬應果然明鏡不疲 – Ba vị tổ nhà Trần cùng thời tu chứng, một vị là Phật, 2 vị là Bồ Tát … Vị thứ nhất là Pháp vương chế ngự ở chốn đời, bỏ ngôi vua để theo Thiền tông, quên thân mình vì đạo. Vả lại, ngài là bậc Thiền cơ thù ứng, quả nhiên là gương sáng không tì vết… Đã cho thấy Trần Nhân Tông là một vị vua ngồi ngôi Phật giữa triều đình, điều hành đất nước trên cơ sở Vương quyền và thần quyền, định hướng tông giáo tạo nên tính ổn định và phát triển của Dân tộc Đại Việt

Trần Nhân Tông và sự ổn định pháp phái.

Yếu tố vương quyền và thần quyền tạo nên sự ổn định xã hội với uy quyền của người làm chủ đất nước và làm chủ tông phái. Theo Thiền uyển truyền đăng lục, Tam Tổ thực lục, Trúc Lâm Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục thì Nhân Tông kế nối tông chỉ từ Tuệ Trung Thượng sĩ. Tuy nhiên, cũng trong Trúc Lâm Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục[8], đã liệt kê truyền phái Trúc Lâm theo Lược dẫn thiền phái đồ, như sau:

Thông Thiền – Tức Lự – Ứng Thuận – Tiêu Dao – Tuệ Trung – Trúc Lâm – Pháp Loa – Huyền Quang.

Lại theo tờ 11a của Thiền uyển truyền đăng lục[9] quyển hạ thì truyền thừa được ghi chép như sau:

Hiện Quang – Viên Chứng – Đại Đăng – Tiêu Dao – Huệ Tuệ – Điều Ngự Trần Nhân Tông – Pháp Loa – Huyền Quang

Lịch sử đã trải qua hàng nghìn năm, đến nay kiểm chứng lại còn nhiều bất cập nên việc truyền thừa này được nhìn nhận trên lý thuyết tương đối. Thực tế, bản thân Tuệ Trung là bậc Cư sĩ, nên không thể thụ giới cho Nhân Tông. Do đó, Nhân Tông nối tông pháp chỉ có thể là từ bậc Tăng nhân Huệ Tuệ truyền trao. Vấn đề, Nhân Tông đắc chỉ dòng Trúc Lâm và đã xiển dương pháp phái, mở rộng quy mô tạo nên tông phái Trúc Lâm Yên tử. Cho nên, ngài đắc pháp và mở rộng quy mô, ổn định thanh quy tạo nên sự phát triển của tông phái và bản thân được tôn sùng thành Đệ nhất tổ.

Trước hết sự ổn định pháp phải ở bản thân Nhân Tông là vua một nước, cai quản toàn bộ xã hội từ các cao tăng, thạc đức, các cư sĩ, nho sĩ, đạo sĩ….. Tính định hướng của vị vua xuất thế hợp lí bởi bản thân ông tinh thông nội ngoại điển, nhiều lần xin Đại Tạng kinh từ nhà Nguyên, như vào năm 1295 với hơn một vạn năm trăm ngàn cuốn kinh để phát triển đạo pháp Đại Việt. Điều này được chính sử nước ta cũng như Trung Quốc ghi lại[10]. Hơn thế, Đệ nhất tổ cho khắc in lại kinh sách, ấn tống cho tăng chúng học. Việc in khắc kinh sách này không chỉ bia Thanh Mai Viên thông tháp bi ghi lại mà cả Đại Việt sử kí toàn thư cũng cho biết vào tháng 8 năm 1299: “In các sách Phật giáo pháp sư, Đạo tràng tân vănCông văn cách thức ban hành trong cả nước”.

Đồng thời, ngài làm chủ đàn giảng giải kinh kệ. Tam tổ thực lục ghi lại: “興隆己亥七年十月徑入安子山精勤修學道十二頭陀行自號香雲大頭陀立支提精舍開法度僧學侶雲湊 Tháng 10 năm Kỉ Hợi (1299) niên hiệu Hưng Long thứ 7, ngài đi theo đường nhỏ vào núi Yên Tử mà tinh cần tu đạo theo 12 hạnh Đầu đà, tự đặt tên hiệu là Hương Vân Đại đầu đà, lập Chi đề[11], tinh xá, khai mở thuyết pháp để độ chúng tăng. Người học đua nhau đến rất đông….”[12]

Có thể nói, thông qua việc đào tạo tăng tài, phát triển tông phái, in ấn kinh sách ấn tống, thỉnh Đại tạng… chính là công việc thống nhất giáo hội Phật giáo quy về một mối quản lí đạo pháp dân tộc đồng nhất. Đây cũng chính là công việc vô cùng có ý nghĩa để truyền thống Trúc Lâm cũng như các tông phái khác được phát triển dựa trên một tông phái chính là Triều đình vương quyền với Thần quyền của Trúc Lâm Yên Tử mà ngôi vị lớn nhất là Đệ nhất tổ Trần Nhân Tông. Thống nhất tăng chế, thanh quy, mở trường, khai lớp đã khiến cho Phật giáo Đại Việt đi vào quỹ đạo phát triển có định hướng. Điều này thuận lợi cho việc tuyển trạch tăng tài trong giai đoạn Lý Trần cũng như về sau mà điển trưng là truyền khoa thi Tam giáo trong giai đoạn này. Đây cũng chính là mấu chốt quan trọng trong việc định hình nên vị Thiền gia Thạch trụ Trần Nhân Tông trở thành Trúc Lâm Đệ nhất tổ của Phật giáo thời Trần nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung. 

Tính tuyến phát triển Trúc Lâm Yên Tử

Phần này chúng tôi tiến hành một giả định về tuyến tính phát triển của Thiền phái Trúc Lâm sau khi Trần Nhân Tông xuất gia và kế nối thiền dòng thiền tại Yên Tử dựa trên tuyến tính phát triển đường sông – đường núi. Thực chất của tuyến tính này gắn liền với triều đình vua Trần có nguồn gốc từ Nam Định, tổ tiên làm nghề chài lưới. Đồng thời, sự vận chuyển đi lại của thời đại phong kiến chủ yếu bằng đường sông nước, nên chùa chiền miếu mạo nói chung mang tuyến tính đường sông nước và núi non là điều dễ hiểu.

Trước tiên chúng tôi thấy rằng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử gắn liền và lấy dãy Yên Tử làm trung tâm phát triển. Núi Yên Tử có thể có cách gọi khác nhau như núi An Kì sinh, Linh Sơn, Lỗi Sơn, Phật Tích Sơn (chùa Thanh Mai)… Tuy nhiên, các phân nhánh núi này đều theo mạch kiến tạo kéo dài của dãy núi từ khu vực Quảng Ninh lên đến điểm cuối tận Lục đầu giang  nhưng vượt qua sông và gắn mạch ngầm qua Bắc Giang, Bắc Ninh, nên về sau hệ thống bia chùa Bút Tháp, chùa Tĩnh Lự còn ghi về mạch truyền của núi Yên Tử. Điều này minh chứng hệ thống chùa chiền dòng thiền Trúc Lâm đi theo tuyến tính núi Yên Tử kép dài theo mạch lên khu vực Bắc Giang, Bắc Ninh.

Thứ hai, dòng thiền Trúc Lâm gắn liền với tuyến tính các dòng sông. Có lẽ, cách đây một nghìn năm, hệ thống sông nước và đồng bằng ao hồ cũng khác bây giờ, nhưng những con sông còn lại hoặc chăng dựa trên tài liệu Hán Nôm, hoặc chăng trên căn cứ nghiên cứu thị sát.

Tuyến đầu tiên về đường sông gắn liền với các chùa theo mạch di chuyển của dòng thiền cũng như chùa chiền là chùa Siêu Loại. Điều dễ nhận ra là Trần Nhân Tông thường về chùa Siêu Loại giảng kinh, hoặc chùa Vĩnh Nghiêm, qua chùa Sùng Nghiêm ở núi Lỗi Sơn, chùa Tú Lâm ở ngọn An Kì Sinh mà nay chúng ta thường gọi là Yên Tử hoặc Am Ngoạ Vân. Tuyến tính này cho thấy ngài (có thể) đi theo sông Đuống đến chùa Siêu Loại, hoặc đi qua sông Lục Nam, hoặc đến Sông Lục Đầu rồi lên chùa Vĩnh Nghiêm. Từ sông Lục Đầu, theo sông Kinh Thầy qua phân nhánh sông nhỏ có thể về chùa Quỳnh Lâm hoặc lên núi Phật Tích chùa Thanh Mai.

Đồng thời một tuyến tính đường sông nữa mà ngài đi là từ dãy núi Yên Tử trên các tổ đình, các am, tự viện ngài có thể đến phủ Hưng Long (Thái Bình) dựa trên đường thuyền đi sông Thái Bình. Việc này cũng rất thuận tiện sang chùa Phổ Minh ở Thiên Trường giảng kinh kệ: kinh Pháp Hoa hoặc kinh Hoa nghiêm các hội. Ngoài việc đi Thái Bình, Nam Định qua sông Thái Bình khi ở Vĩnh Nghiêm hoặc Yên tử. Từ Thăng Long thì thuyền có thể đi theo dòng sông Hồng để xuống. Như thế, các tuyến tính đều có điểm nối kết.

Phân định tuyến tính đi lại cũng chính là phân định tuyến tính phát triển dòng Thiền. Đồng thời là sự kiểm soát của triều đình với Phật giáo. Nó cũng chính là sự bao trùm của Trần Nhân Tông, phát triển Trúc Lâm Yên Tử với một giáo hội đầy đủ các chức năng quản lý và phát triển tông giáo khắp cả nước. Sự ổn định không những trong không gian Đại Việt trên cơ sở tuyến tính phát triển mà con vươn rộng ra các địa phương khác như am Tri Kiến tận trại Bố Chính[13]. Tất cả cho thấy vị thế của vị Trúc Lâm Đại Đầu đà – Trúc Lâm Yên tử  Đệ nhất tổ Trần Nhân Tông.

Truyền thừa tông giáo từ Trần Nhân Tông đến các tổ.

Nhân Tông xuất gia, đi khắp nơi dẹp dâm từ, thí hành thập thiện, hướng đạo văn hoá nước nhà, cứu khổ cho muôn dân. Trong một lần du hoá, Trần Nhân Tông đã gặp Thiện Lai mà sau này đặt tên hiệu là Pháp Loa. Thấy Thiện Lai nhục cốt biểu trưng bậc có pháp khí, có khả năng truyền đèn nối lửa, thiệu đăng tông phong, Nhân Tông đã rất vui nhận làm đệ tử. Về sau, nhân duyên nhận Huyền Quang cũng thế. Huyền Quang theo làm thị giả cho Bảo Phác, Nhân Tông nhìn thấy, mới bảo Huyền Quang theo ngài. Từ đó, Huyền Quang theo thị giả cho Nhân Tông. Nhân duyên với đạo đã gắn 3 vị tổ lại thành một tuyến tính, một mối liên kết lấy Đệ nhất tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông làm trung tâm. Hai vị lại sau đều là đệ tử, mà trong rất nhiều tranh minh hoạ kinh sách Phật giáo đều vẽ khắc lại hình Nhân Tông ở giữa, hai bên là Pháp Loa và Huyền Quang[14]. Đến như việc giảng dạy, việc hướng dẫn tu tập… Nhân Tông cũng rất chăm chú chỉ dẫn cho học trò, nào đọc kinh gì, điểm nhãn để Pháp Loa chứng ngộ, vì Pháp Loa thuyết giảng Đại Tuệ ngữ lục….[15]. Sau, khi Nhân Tông thị tịch, làm lễ Vu Lan cầu siêu thoát, Pháp Loa nhắc nhở Huyền Quang: “di chúc của Điều Ngự, ngươi quên rồi ư?”, cho thấy, sự gắn kết và truyền thống nối đèn nối lửa cửa chư tổ[16]. Trước, Nhân Tông đã ban cho Pháp Loa ‘Kinh sử ngoại thư” trăm hòm cùng Đại tạng tiểu thừa gồm 20 hòm chích máu viết cùng sau này, Anh Tông lại giao tiếp cho Đại tạng kinh 500 hòm nữa[17]. Tất cả số kinh sách này cho thấy: Nội điển được các sư tham học và sử dụng rất nhiều. Đây cũng chính là cơ sở cho sự phát triển tư tưởng Phật giáo thời Trần cũng như nhiều sách Công văn – Thích điển mà đến nay tăng chúng vẫn dùng có căn nguyền từ giai đoạn này[18].

Điều đặc biệt Thanh Mai Viên Thông tháp bi còn ghi lại một cuộc truyền giao ngôi trụ trì cũng chính là truyền giao ngôi Đệ nhị tổ ở chùa Siêu Loại giữa Điều Ngự Trần Nhân Tông với Pháp Loa để chúng ta nhìn nhận về lễ nghi tôn giáo phát triển triều Trần: “Ngày 1 tháng giêng năm Hưng Long thứ 16 (1308) Sư phụng mệnh làm lễ truyền thừa Tự pháp trụ trì Cam Lộ đường chùa Siêu Loại, liệt vị các tổ, tấu đại nhạc, thiêu hương thơm, Điều Ngự dẫn sư bái tổ đường, lễ xin cháo xong, lại mệnh tấu nhạc, đánh chuông pháp, tập hợp đại chúng, lên pháp đường. Bấy giờ Anh Tông xa giá đến chùa, sắp xếp ngôi vị chủ khách. Anh Tông là một đàn việt lớn trong Phật pháp nên ngồi ngôi vị khách, ở trên pháp đường, trên quan tể tiếp đến quan thứ liêu, đều ngồi dưới sân. Điều Ngự lên toà thuyết pháp, thuyết xong thì xuống, giúp sư (Pháp Loa) lên trên toà. Điều Ngự đối diện chắp tay vấn tấn, Sư đáp lại bằng lạy tạ, nhận pháp y rồi mặc lên người, Điều Ngự bèn ra ngồi bên ghế hướng bên mà nghe sư thuyết pháp. Lấy chùa Siêu Loại thuộc sơn môn Yên Tử mệnh cho Sư kế nhiệm trụ trì làm Trúc Lâm đời thứ 2[19]. Qua hành lễ cho thấy, sự chuyển giao thế hệ không chỉ trong sơn môn pháp phái mà còn được sự minh chứng của vua Anh Tông cũng như quan lại triều đình là các bậc đàn na tín thí về vị Đệ nhị tổ Pháp Loa tại chùa Siêu Loại.

Truyền thừa các tổ Trúc Lâm từ y bát cùng thư tâm kệ giao phó lại cho Pháp Loa và giáo dạy phải hộ trì Phật pháp. Việc truyền thừa này là qua trao truyền pháp kệ của các tổ, chứ không đồng nhất với bài kệ truyền khi thị tịch. Bởi thị tịch là tiếng nói cuối cùng ở đời để rồi thiền tăng thoát li khổ hải về với chốn Phật. Các bài kệ không được nhắc đến trong các thư tịch Phật giáo như Thánh đăng lục, hoặc Tam tổ thực lục, bởi có sự biên soạn qua lại, thêm bớt về sau. Trong Kiến tính thành Phật, tờ 50 a – 50 b soạn bởi Chân Nguyên, một thiền sư kế nối tông Trúc Lâm Yên tử thời Lê, tu tập ở chùa Long Động – Hoa Yên trên núi Yên tử đã ghi chép lại các bài kệ truyền thừa. Dưới đây là bài kệ từ Trần Nhân Tông:

故越國竹林第一祖淨慧調御覺皇了一偈

我佛本無一

心法亦不二

八字直打開

一乘無巴鼻

Dịch nghĩa: Cho nên, Trúc Lâm Đệ nhất tổ Tịnh Tuệ Điều Ngự Giác Hoàng nước Việt hiểu rõ bằng một bài kệ:

Ta và Phật vốn không là một

Tâm và pháp cũng chẳng phải là hai

Tám chữ thẳng thắn mở ra

Một cỗ xe nhất thừa không sở đắc[20].

Đến bài kệ của Đệ nhị tổ Pháp Loa Phổ Tuệ Đại sư:

心法等空花

佛我如電拂

舉起遍十方

滅了無可得

Dịch nghĩa:

Tâm và pháp như hoa không

Phật và ta như điện sẹt qua

Nhìn khắp cả mười phương

Diệt hết không thể được

Bài kệ của Đệ tam tổ Huyền Quang tôn giả:

悟道無住心

見性無住佛

心佛非兩端

本來無一物

Dịch nghĩa:

Ngộ đạo không trú tâm

Thấy tính chẳng ở Phật

Tâm và Phật chẳng phải hai đầu mối

Xưa nay không một vật.

 Trong Kiến tính thành Phật, sắp xếp các bài kệ này nối liền với truyền thống kệ truyền của các tổ Phật tây phương đến 6 vị tổ Thiền tông đông độ. Việc kế nối kệ truyền mang tính chất xuyên suốt tư tưởng Tâm, Tính và Phật tính, Phật, Pháp trong mỗi thiền sư. Quán xuyến tất cả vẫn là chư tổ nối chư tổ, các bậc cổ đức đàm đạo đạo với nhau bằng vô ngôn mà thông. Truyền đèn nối lửa, tạo nên truyền thống Trúc Lâm Yên Tử bằng mạch dây kiến tính thành Phật từ Nhân Tông đến Huyền Quang và các thế hệ về sau. Đây cũng chính là điểm tạo nên truyền thống Trúc Lâm và Nhân Tông đệ nhất tổ trong lịch sử Phật giáo Trúc Lâm Yên tử nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung.

 Sơ luận tư tưởng Trần Nhân Tông

Nhân Tông, từ ngôi vị Hoàng đế đến ngôi vị Phật hoàng; từ vương quyền đến thần quyền…. Trên phương diện nào thì con người Nhân Tông vẫn hiển hiện với tư tưởng, tình cảm và con người Đại Việt, lấy vận mệnh đạo pháp và dân tộc hoà chung trong một bản trường ca là Phật giáo Nhập thế. Xét bình diện tư tưởng Phật giáo, Thiền sư Nhân Tông đã ngồi trên toà sen cửu phẩm, ngôi giữa mà hai bên là nhị và tam tổ thị giả trong truyền thống Trúc Lâm.

Tính từ kệ truyền thừa đã trích dịch ở trên, cho thấy mạch nguồn nối kết các tổ chính là vấn đề liễu rõ bản Tâm, vấn đề Tâm Tính, vấn đề tự thân và Phật là đồng dị….. Nhân Tông khi đã hiểu rõ “sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc” – 8 chữ đó thì mọi sự đã được viên thông. Khi đó Phật chính là Nhân Tông, Tính chính là Nhân Tông, Tâm pháp là Nhân tong, đều bất nhị. Từ đồng nhất thể, thân và Phật để thấy rõ Tâm pháp cũng chẳng phải là sai biệt, Nhân Tông kế nối truyền thống chư tổ thiền để luận thuật tâm tông. Một tác phẩm khác là Cư trần (lạc đạo) Nhân Tông đã viết:

了真如信般若莫尚尋佛祖西東

證實相達無為何勞問經禪南北

Rõ chân như, tin Bát-nhã, chớ còn tìm Phật Tổ Tây Ðông.

Chứng thật tướng, đạt vô vi, đâu nhọc hỏi kinh thiền Nam Bắc[21]

Sau đó Chân Nguyên thiền sư nhận định về Tâm Tính học của Trúc Lâm Đệ nhất tổ : «Khiến người người phản bản hoàn nguyên, cho kẻ kẻ hồi quang tự ngộ. Chỉ chín chắn quán xét sâu xa, rõ được tột người người là Phật, ngộ tâm tông Phật Phật là người. Xin hãy đều thẳng đó đương đảm, chớ chạy đuổi bên ngoài tìm kiếm». Đây cũng chính là tông chỉ truy tìm tự thân của Phật giáo Trúc Lâm. Vấn đề bản tâm, tâm tính. Tu là chuyển nghiệp, nhưng chuyển về đâu? Tâm là Phật, vậy an tâm thế nào? Các câu hỏi đặt ra cũng chính là câu trả lời như bài kệ «八字直打開一乘無巴鼻 nhất thừa trực đã khai, nhất thừa vô ba tị» của Trần Nhân Tông như đúc kết cho liễu giải của ngài về Tâm về Phật để quán suốt xưa nay không một vật đồng với chư Phật chư tổ!

Thực chất tâm tông đó là nối từ chư tổ Thiền tông đến người học đạo – Thiền sinh. Bản thân Nhân tông được Chân Nguyên Thiền sư trong Bát nhã chính tông ca nhận định về đạo học đấy là nhìn thẳng vào bản tâm, như sau:

Tổ Trúc Lâm chỉ thẳng tâm

Điều Ngự tông giáo xưa mà nay[22]

Vấn đề Tâm trong tư tưởng Phật giáo Trần Nhân Tông là một xuyên suốt để nhìn thấy ánh sáng giác ngộ, nhìn thấy con đường chứng đạt về cội nguồn chư Phật, cứu độ tự thân. Tâm chính là Lòng người, là tâm thể, là bản tâm. Trong Cư trần lạc đạo, Nhân Tông nhiều làn đề cập đến Tâm – lòng:

Dừng tam nghiệp mới lặng thân tâm

Đạt một lòng thì thông tổ giáo.

Đấy chính là lòng tự tại, lòng thông suốt trong veo thanh tịnh chứng đạt vô vi.  Sự chứng đạt này dựa trên nền tảng của cái bình thường Tâm  thị đạo Phật truyền Đông Độ qua Đạt Ma đến Lục tổ để thiền tông thịnh trị. Mã Tổ Đạo Nhất đề sướng bình thường tâm thị đạo tạo nên tông phong các phái y theo tu tập để giác ngộ thiền cơ. Nhân Tông hiểu rõ lẽ nhân sinh qua nhân sinh quan của bậc Thượng trí đứng đầu quốc gia dân tộc, ngài hiểu rõ lẽ thiền kế đăng Thần quyền tông giáo để nhận định vấn đề con người:

Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên

Cơ tắc san hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch

Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.

Chỉ với một chữ Tâm đã quán suốt toàn bộ tư tưởng thể hiện trên hệ thống tác phẩm cũng như hành trì vận đạo vào cuộc sống thường nhật của Trần Nhân Tông Trúc Lâm Đệ nhất tổ. Câu cuối của Cư trần lạc đạo như đúc kết tất cả: ‘đối cảnh vô tâm đừng hỏi về Thiền’ đã nói lên tông chỉ về bản thể triết học, tư tưởng Trần Nhân Tông về vấn đề Chân Như, bát nhã, Thực tướng ….tất cả đều từ Tâm mà ra.

 Tạm kết.

Phật giáo từ tự giác giác tha, đến giác hạnh viên mãn cũng như đạo Nho ban đầu phải là tự tu. Trần Nhân Tông từ vấn đề tự thân ngài đã đưa lên thành vấn đề quốc gia dân tộc. Từ vấn đề của cá nhân, đến Điều Ngự Phật Đã Thành, mang tính chất xuyên suốt, tạo nên tông phong Trúc Lâm Yên Tử. Nhân Tông đã thống nhất đạo Phật về một mối với tính chỉnh thể, gắn liền đạo – đời. Từ Vương quyền với Thần quyền để giải quyết các vấn đề quốc gia dân tộc, Nhân Tông đã nối kết lòng người không chỉ trong nước mà cả biên cương, không chỉ thời gian mà cả không gian để ngài mãi mãi là Thiền gia long tượng của người Việt.

Viết tại Thiền Phong viện

Tài liệu tham khảo:

  1. Tam tổ thực lục kí hiệu A. 786 Viện Nghiên cứu Hán Nôm (và bản Tam tổ thực lục, bản in bởi Diệu Trạm Thiền sư chùa Pháp Vũ, huyện Ninh Giang, Hải Dương năm 1897).
  2. Thiền uyển truyền đăng lục, Phúc Điền hoà thượng, kí hiệu VHV. 9, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
  3. Khoá hư lục, bản in bởi Việt Nam Phật điển tùng san, Hà Nội. 1943.
  4. Kiến tính thành Phật, Chân Nguyên thiền sư, kí hiệu A. 2570, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
  5. Thanh Mai Viên Thông tháp bi chùa Thanh Mai.
  6. Đại Việt sử kí toàn thư Nxb KHXH- 1998.
  7. Lược khảo tư tưởng Thiền Trúc Lâm Việt Nam, Nguyễn Hùng Hậu, NXB KHXH, H.1997.
  8. Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Viện Triết học, NXB KHXH, H.1988.
  9. Tam tổ Trúc Lâm giảng giải, Thích Thanh Từ, NXB Tổng hợp TPHCM, 2005.
  10. Toàn tập Trần Nhân Tông, Lê Mạnh Thát, NXB TPHCM, 2000.
  11. Toàn tập Trần Thái Tông, Lê Mạnh Thát, NXB Tổng hợp TPHCM, 2004.
  12. Lịch sử Phật giáo Việt Nam, từ Lý Thánh Tông (1054) đến Trần Thánh Tông 91278), Lê Mạnh Thát, NXB TPHCM, 2000.
  13. Việt Nam Phật giáo sử luận, Nguyễn Lang, NXB Văn học, H. 2000.
  14.  Thơ văn Lý Trần, tập II, Viện Văn học, Quyển thượng. NXB KHXH, H.1989.
 

[1] Thiền uyển truyền đăng lục, (VHV.9) cho rằng, năm Nhân Tông 16 tuổi, đã 3 lần từ chối làm Thái tử (固辞再三 cố từ tái tam) mà Thánh Tông không đồng ý.

[2] Nguyên văn: 凡為人君者以天下之欲為欲以天下之心為心 Phàm vi nhân quân giả, dĩ thiên hạ chi dục vi dục, dĩ thiên hạ chi tâm vi tâm – Phàm là bậc vua phải lấy cái muốn của thiên hạ làm cái muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm lòng mình.… (Trần Thái Tông ngự chế Khoá hư, bản in, Việt Nam Phật điển tùng san, 1943).

[3] Theo Đệ nhất tổ thực lục, tờ 1a, sách Tam tổ thực lục, bản in bởi Diệu Trạm thiền sư năm 1897. Sau này trong Thiền uyển truyền đăng lục tờ 8b, quyển hạ, Phúc Điền hoà thượng, bản in, kí hiệu VHV. 9 Viện Nghiên cứu Hán Nôm có nhắc lại.

[4] Theo Đệ nhất tổ thực lục, tờ 1b, sách đã dẫn và trong Thiền uyển truyền đăng lục tờ 8b, quyển hạ, sách đã dẫn.

[5] Theo Đệ nhất tổ thực lục, tờ 2a, sách đã dẫn và trong Thiền uyển truyền đăng lục tờ 8b, quyển hạ, sách đã dẫn.

[6] Xem Thanh Mai Viên Thông tháp bi, thác bản tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, trong Văn khắc Hán Nôm thời Trần, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

[7] Theo Thanh Mai Viên Thông tháp bi, thác bản lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

[8] Trúc Lâm Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục, bản in năm 1683, bản in lại bởi Diệu Trạm Thiền sư năm 1897 tại chùa Pháp Vũ huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương.

[9] Thiền uyển truyền đăng lục tờ 8b, quyển hạ, Phúc Điền hoà thượng, bản in, kí hiệu VHV. 9, Viện Nghiên cứu Hán Nôm sách đã dẫn.

[10] Toàn tập Trần Nhân Tông, Lê Mạnh Thát, , trang 484, nxb Tp HCM, 2006.

[11]支提 Chi đề, phạn ngữ CAITYA, còn gọi là Chế đề, chế đa : nơi tụ tập tăng chúng lại để giảng giải, tương tự với chùa, với tháp làm trung tâm,

[12] Tam tổ thực lục, tờ 3a, Đệ nhất tổ thực lục, bản in bởi Diệu Trạm năm 1897, sách đã dẫn.

[13] Tam tổ thực lục ghi: 至布政寨立知見庵以居 chí Bố Chính trại, lập Tri Kiến am dĩ cư” – Đến trại Bố Chính, lập am Tri Kiến để ở, tờ 3a, Đệ nhất tổ thực lục, sách đã dẫn.

[14] Như tranh bìa sách Tam tổ thực lục, Kiến tính thành phật, sách đã dẫn.

[15] Thanh Mai viên thông tháp bi, đã dẫn.

[16] Thanh Mai viên thông tháp bi, đã dẫn.

[17] Xem Thanh Mai viên thông tháp bi, đã dẫn.

[18] Như các sách: Thích điển biện công văn, Tạp tiếu chư khoa, Bảo Đỉnh hành trì

[19] Thanh Mai Viên Thông tháp bi, Tam tổ thực lục đều ghi lại việc này.

[20] Nguyên văn 無巴鼻Vô Ba Tị: Đại ý cái chỗ vô sở đắc như Đức Dị Đàn Kinh tự có câu: Tận đắc vô ba tị (dẫn theo Phật học Đại từ điển – Đinh Phúc Bảo).

[21] Kiến tính thành Phật, A. 2570, sách đã dẫn. Điều lạ là, trong Kiến tính thành Phật dẫn rằng: «cố Cư trần Điều Ngự tổ vân – cho nên trong Cư trần, tổ Điều Ngự nói», nhưng rõ ràng khi chúng tôi so sánh với Cư trần lạc đạo, bản in bởi Sa di ni Diệu Thuần năm Cảnh Hưng 6 (1745) thì thấy có sự dị biệt với văn bản Hán trong Kiến tính thành Phật: Biết chân như tin bát nhã, chớ còn tìm Phật tổ tây đông, Chứng thật tướng, ngỏ vô vi, nào nhọc hỏi kinh thiền nam bắc. (Cư trần lạc đạo, hội 4, câu 48, 49).

[22] Bát nhã chính tông ca, trong Kiến tính thành Phật, bản A. 2570, sách đã dẫn.

Thư ngỏ tài trợ Hội nghi và Giải thưởng̣ Quốc tế Phật hoàng Trần Nhân Tông về Hòa giải và Yêu thương – ketcau.com

13 Th9

 

Thư ngỏ tài trợ Hội nghi và Giải thưởng̣ Quốc tế Phật hoàng Trần Nhân Tông về Hòa giải và Yêu thương

KÍNH GỬI:

Phật Hoàng Trần Nhân Tông là vị anh hùng kiệt xuất, nhà tư tưởng uyên thâm, vị vua minh triết và nhân ái của dân tộc Việt Nam, người mang dòng máu vẻ vang của tổ tiên dòng họ Trần. Nhằm vinh danh Phật Hoàng Trần Nhân Tông ra trước thế giới, thể hiện lòng tự hào chính đáng khi quảng bá một nhân cách vĩ đại Việt Nam sánh ngang với tầm vóc quốc tế, vào ngày 21 / 09 / 2012 ( tức ngày mồng 6 tháng Tám năm Nhâm Thìn ) Viện Trần Nhân Tông tại Harvard Hoa Kỳ tổ chức Hội nghị Quốc tế Trần Nhân Tông về Hòa giải và Yêu thương và Lễ trao Giải thưởng Quốc tế Trần Nhân Tông về Hòa giải và Yêu thương. Giải này bắt đầu được tổ chức từ năm nay, sẽ được trao hàng năm cho các nhà hoạt động xã hội xuất sắc trên toàn thế giới tại Đại học Harvard, Hoa Kỳ.

Viện Trần Nhân Tông tại Đại học Harvard Hoa Kỳ xin trân trọng kính mời Quí Vị tham gia tài trợ sự kiện có tính lịch sử trọng đại này.

Để cùng tri ân sự đóng góp lớn lao của Phật Hoàng Trần Nhân Tông trong lịch sử dựng nước và giữ nước của Dân tộc Việt Nam, chúng tôi trân trọng mời Quí Vị chung tay tài trợ cho Hội nghị và Lễ trao Giải thưởng Quốc tế Trần Nhân Tông về Hòa giải và Yêu thương, lần đầu tiên được xác lập tại Đại học Harvard Hoa Kỳ, trong đó có một sự kiện hết sức ý nghĩa là thiết kế và chế tác Huy chương Phật Hoàng Trần Nhân Tông bằng vàng 18K, bên ngoài dát vàng 24K, có kích cỡ đường kính 68mm, để làm Giải thưởng trao tặng hàng năm tại Đại học Harvard Hoa Kỳ. Tấm huy chương này sẽ mang sứ mệnh lịch sử cao cả nhằm lan tỏa và thấm sâu tư tưởng Hòa Bình, Nhân Ái của Phật Hoàng Trần Nhân Tông ra thế giới.

Sự đóng góp của Quí Vị cho Hội nghị và Giải thưởng sẽ hết sức quí giá đối với Viện Trần Nhân Tông, và chúng tôi xin được ghi nhận, tri ân Quí Vị cùng các Đại diện với đóng góp lớn lao có ý nghĩa lịch sử này trên trang mạng toàn cầu là: http://trannhantong.net/ , TranNhanTongprize.org

Sự chung tay góp sức của Quí Vị là niềm vinh dự và sự động viên lớn lao cho Hội nghị và Lễ trao Giải thưởng Quốc tế Trần Nhân Tông về Hòa giải và Yêu thương!

Kính chúc Quí Vị Hạnh phúc, An khang và Phát triển Thịnh vượng!
Trân trọng!
ĐẠI DIỆN VIỆN TRẦN NHÂN TÔNG

GIÁM ĐỐC
NGUYỄN ANH TUẤN
Nguyên Tổng biên tập VietnamNet
Associate, Shorenstein Center on the Press, Politics, and Public Policy
John F. Kennedy School of Government,
Harvard University
Member of Global Advisory Board, Harvard Business School
Executive Director of Tran Nhan Tong Academy http://trannhantongacademy.org/
Founder and Former Editor-in-Chief of VietNamNet
Email: tuan_nguyen@trannhantongacademy.org

***
Đơn vị nhận tiền Công ty TNHH Open Minds (Công ty phi lợi nhuận)
Địa chỉ số nhà 15, 28B Phố Điện Biên Phủ Ba Đình Hà Nội.
Số tài khoản 045 1000 225 926
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam CN Thành Công ( VCB )
Người liên hệ: Nguyễn Thúy Hà – số điện thoại (84) 0983841999; email: ha.nguyen@openminds.vn
http://trannhantongprize.org/2012/09…gia-i-thuo-ng/

* Danh sách các nhà tài trợ đến hôm nay 12/09/2012 được đính kèm

__________________
toanDF@ketcau.com


thay đổi nội dung bởi: toanDF, cách đây 15 tiếng lúc 05:20 PM

toanDF vẫn chưa có mặt trong diễn đàn  

Trần Nhân Tông: Yêu đời và siêu thoát – VHNA

12 Th9

Trần Nhân Tông: Yêu đời và siêu thoát

Vũ Quần Phương

Trần Nhân tông, vị vua thứ ba đời Trần, tên thật là Trần Khâm, sinh năm 1258, mất năm 1308, thọ 50 tuổi lên ngôi năm 21 tuổi (năm 1279), nhường ngôi cho con khi mới 35 tuổi (năm 1293). Ở cương vị thái thượng hoàng, Nhân Tông dành tâm trí nghiên cứu đạo Phật. Năm 40 tuổi, ông mặc áo cà sa đi thuyết pháp, trụ trì ở chùa Báo Ân, Vĩnh Nghiêm, Quỳnh Lâm…khi mất về Yên Tử, ông là người khai sáng ra trường phái Thiền học mang nét riêng của nước ta, Thiền phái Trúc Lâm (rừng trúc) và được coi là vị tổ Thứ nhất.

Nhân Tông là vị vua văn võ toàn tài. Hai lần (1285 và 1288) cầm quân ra trận, đánh lui giặc Nguyên Mông, đem lại thái bình cho đất nước và khi chiến đấu, lúc tu hành đều có một hồn thơ triết học, vừa yêu đời, vừa siêu thoát. Ông chủ trương cư trần (mà) lạc đạo. Cứ ở cõi trần mà vui đạo, và cũng chỉ có thể vui đạo khi gắn lòng mình với mọi lo toan trần thế. Đây là quan điểm tôn giáo sâu sắc và tiến bộ vào bậc nhất, kể cả đối với bây giờ. Quan điểm này do Trần Tung – Tuệ Trung thượng sỹ (bác của Trần Nhân tông) khai sáng. Trần Nhân Tông lĩnh hội và phát triển sáng tạo, đặc biệt ông in nó vào thơ. Biến triết học thành một vấn đề tình cảm, biến tôn giáo thành một nghệ thuật sống đẹp, sâu sắc và linh thiêng.

Trong thơ Trần Nhân tông, âm vang của hai đợt kháng chiến cứu nước chống Nguyên Mông nhiều khi dội lên thành tứ thơ bất ngờ lãng mạn: Xã tắc hai phen (đến cả) ngựa đá cũng mệt nhọc, (Nhưng chính nhờ vậy mà) núi sông nghìn thuở vững chãi. Nguyên văn: “ Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã / Sơn hà thiên cổ điện kim âu.” Tương truyền hai câu thơ này viết vào năm 1288, sau chiến thắng Bạch Đằng, khi làm lễ dâng chiến thắng ở lăng vua Thái tông: Chiêu lăng (Thái Bình)- lăng này từng bị giặc Nguyên Mông tàn phá-. Thấy chân ngựa đá lấm bùn, ông vua thi sỹ đã bật ra bài thơ hai câu này. Kháng chiến toàn diện, đến ngựa đá cũng ra trận, trên vó còn lấm bùn chinh chiến. Không biết giai thoại này đúng là xuất xứ của thơ hay thơ làm nẩy sinh giai thoại. Khẩu khí thiên tử nhưng là một thiên tử anh hùng.

Hồn thơ nhà vua mà gắn với cuộc sống với dân với nước là quý lắm, gắn trong gian lao đánh giặc lại còn gắn cả trong những nét đời thường nhật. Nhà vua ngắm cảnh chiều ở Thiên Trường (Nam Định), nơi phát tích nhà Trần cũng là nơi bàn việc triều chính đương thời, cố nhiên có nhiều cung điện, nhưng trong thơ không có lầu son gác tía chỉ có cảnh quê bình đạm. Cảnh ngắm bằng mắt nhưng tả lại bằng hồn: Sau thôn trước thôn mờ như khói. Bóng chiều dường có lại dường không (Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên. Bán vô bán hữu tịch dương biên). Hai câu kết tâm hồn nhà vua nhập cùng trăm họ, nếm được vị ngọt ngào thanh bình sau chiến tranh: Mục đồng sáo vẳng trâu về hết. Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng…

Giống như nhiều nhà thơ cổ điển, Trần Nhân tông cũng là người mê đắm thiên nhiên, lấy thiên nhiên làm nơi khám phá tâm hồn. Trong lúc chim hót thư thả trong lùm dương liễu rậm và trên bóng mái nhà mây đang lướt bay, thì Khách đến chẳng bàn chi chuyện thế. Tựa lan can ngắm phía trời xa. Chủ lẫn khách vốn là những nhà chính trị, nhà tư tưởng, nhưng thiên nhiên đang đẹp thế này thì các thứ quan trọng ấy đều xếp lại, cả hai cùng lặng đi: Cộng ỷ lan can khán thuý vi (Cùng dựa lan can ngắm cái màu xanh mịt mờ phía chân trời). Tư thế tâm hồn cao đẹp, siêu thoát quá. Một lần khác ông viết Vạn sự thuỷ lưu thuỷ. Bách niên tâm ngữ tâm. Ỷ lan hoành ngọc địch. Minh nguyệt mãn hung khâm. (Muôn việc nước trôi nước. Trăm năm lòng nhủ lòng. Tựa hiên nâng sáo ngọc. Đầy ngực ánh trăng trong). Việc đời như nước chảy bàn không cùng, đời người trăm năm tự mình đã hiểu, lòng đủ nói với lòng, cái đáng kể là phút bây giờ biết sống với âm thanh ấy, ánh sáng ấy. Nghe như thơ hiện sinh, nhưng có lý và thương người, khuyên con người biết trân trọng hưởng thụ những năm tháng của đời mình. Vị tổ thứ nhất của dòng Thiền Yên Tử không hề thoát tục, ông tìm thần tiên ngay trong cõi trần gian. Tu thế thì thật sự là một nghệ thuật sống. Bỏ cả ngôi vua để tìm một lối sống. Bản lĩnh các vua Trần, cụ thể là Trần Nhân tông, cho thấy phẩm chất tư tưởng một thời đại.

Bằng thơ, rất ngắn, Trần Nhân tông cho hậu thế chúng ta thấy cả quá trình giác ngộ của ông về đời người: Lúc trẻ khi chưa hiểu lẽ sắc không, xuân đến lòng chỉ nghĩ đến hoa. Ngày nay thì khám phá được xuân rồi. Ta ngồi yên trên nệm cỏ giữa chùa nhìn hoa rụng. Thì ra xuân không chỉ có hoa nở mà hoa rụng cũng là xuân. Cái thanh thản trong thơ Trần Nhân tông là cái thanh thản của sự giác ngộ quy luật thời gian, quy luật đời người, quy luật sống. Lòng ông tĩnh để nhập vào muôn cõi vận động của việc đời. Lấy tĩnh để bao quát động không chỉ là một thủ pháp thơ mà còn là một phương pháp tìm chân lý của Trần Nhân tông (ông ảnh hưởng Trần Tung khá rõ). Không gian đốn ngộ của Trần Nhân tông thường là cảnh tĩnh Dưới bóng đa già cổng chùa im ỉm đóng hoặc Tạnh mây, im gió, lá cây đỏ thưa thớt hoặc Hoa rụng hết, mưa đã tạnh, núi non tịch mịch. Tu Phật, theo ông,  không phải để tìm giải thoát, ai trói buộc được ta mà ta phải tìm giải thoát. Tìm chân lý là một cách chinh phục tự do. Tu là để tìm tự do, tìm chủ động cho lẽ sống.

Tư chất Trần Nhân tông bộc lộ khá rõ trong một bài thơ nhật ký Đêm mười một tháng hai: Bên giường rồng, rượu quý, nhà vua lại đắm lòng với trăng, với trời, ông nằm mộng ngay trong lúc thức. Chất tâm hồn ấy cắt nghĩa hành động cởi áo triều bào vào tu Tam Bảo của ông. Tu ,với Trần Nhân tông, là đi về luân chuyển giữa mộng và thực, giữa Phật và Đời mà mục đích cũng là để thấu hiếu cõi trần và ứng xử đúng mực với nó.

Thơ Trần Nhân tông rải rác trong các tập Thơ Trần Nhân Tông, Đại hương hải ấn thi tập, Tăng già toái sự, Thạch thất mỵ ngữ. Hiện nay, theo các nhà sưu tập thơ Lý Trần, chỉ giữ lại được 31 bài thơ của ông, trong đó đến gần chục bài thơ về mùa xuân. Có thể về mùa xuân, nhà vua hay đi du ngoạn, và có nhiều hứng khởi làm thơ như bài : “Đề ở chùa Cổ Châu”: Số đời thật mờ mịt/ Mắt giấu tình bên trong/ Cai quản cung ma chặt/ Đất Phật xuân thong dong.

Trong bài: “Trên hồ Động Thiên”, nhà thơ cảm tác: “Cảnh hồ Động Thiên nọ/ Hoa cỏ giảm mầu xuân/ Thượng đế thương hiu quạnh /Tầng xanh chuông bỗng ngân. Tiếng chuông dưới tay người vang trong cõi Phật làm cảnh Phật bớt quạnh hiu. Một sáng thức giấc, tung song cửa, nhìn ra: Nào hay xuân đã sang/ Một đôi bươm bướm trắng/ Gặp hoa cánh vội vàng” . Bướm và hoa là việc của cảnh ngoài đời. Nhưng thấy được thái độ bướm vội vàng bay sấn đến hoa là sức sống, là nỗi yêu đời trong lòng ông nhà thơ ban tặng cho tạo vật. Yêu hiện thực nên luôn gắn với cái bây giờ. Khi đến thăm Chiêu Lăng thờ ông nội Trần Thái Tông thì cảm hứng thơ lại là chuyện đương thời: “Nghiêm trang nhìn cửa quân hùm/ Trăm quan bảy phẩm một vùng cân đai/ Bạc đầu, chàng lính nhắc hoài/ Chuyện Nguyên Phong cũ những ngày ruổi rong”. Thơ nhắc tới niên hiệu Nguyên Phong 1258, năm 1258  là năm Thái Tông nhường ngôi cho Thánh Tông, năm Đại Việt đánh thắng quân Nguyên Mông lần thứ Nhất.

Trần Nhân Tông, khi xuống áo đi tu đã có sứ mạng của bậc quân vương anh hùng, kiêm nhà văn hóa, nhà tư tưởng và xứng đáng là một giáo chủ Phật Việt. Thơ Thiền của Người mang tư tưởng Phật giáo linh nghiệm nhưng thấm đẫm cảm xúc hiện thực, lấy cái hồn nhiên của cõi Thực làm cái thanh thản của cõi Không: “Ở  đời vui đạo hãy tùy duyên/ Đói cứ ăn đi mệt ngủ liền/ Có báu trong nhà thôi khỏi kiếm/ Vô tâm đối cảnh hỏi chi Thiền”.Trần Nhân Tông đã gắn kết Giáo lý Phật Ngoại với Nội tín Đại Việt, gắn kết sự linh thiêng dân giã với các trải nghiệm chính trị cung đình và sau cùng là gắn kết cái có thật của đời người với sự giải thoát còn tiềm ẩn trong trời đất. Trần Nhân Tông đã thông nhất được nghịch lý: Yêu đời và siêu thoát: “Tích nhân nghì, tu đạo đức/ Ai hay này chẳng Thích Ca/ Cầm giới hạnh, đoạn xan tham/ Chỉn thực ấy là Di Lặc” – (Cư trần lạc đạo phú – Hội thứ sáu). Thơ ấy đặc tả con người tích nhân theo giới (tu) để chứng cái đức (của mình). Ai hay biết điều này mà chẳng là Thích Ca. Cầm nắm được giới hạnh thì phải bỏ được lòng tham. Chỉn chu với tất cả lẽ thực tế ấy thì sẽ thành Di Lặc.

Nhập thế và tiêu dao luôn vận động và hoán chuyển nhịp nhàng trong thơ, trong tâm Trần Nhân Tông. Con người đã lặng yên hứng trăng đầy cả ngực, đã mang đến cho thơ ca một luồng sinh khí và mở cảm xúc đến vô hạn. Chỉ bằng cách ấy, con người mới thăng hoa, mới giải thoát khỏi những ràng buộc hữu hạn của đời thường ngay chính nơi trần thế, cũng có nghĩa là sống đời trần thế ở một ngưỡng phẩm chất sâu xa. Đấy là điều tích cực mà Trần Nhân Tông luôn khao khát đi tìm để tạo ra một lối sống đẹp:  Sống trong hiện tại – với lòng yêu đời vô biên và cả sự giải thoát cũng vô biên.

Nguồn: trannhantong.net

 

Hai hiện tượng bất thường: Một, mạo danh thơ Thiền Yên Tử. Hai, mạo danh Thiền của vua Trần Nhân Tông cần phải được báo động rộng rãi. – trannhuong

6 Th9

 

Hai hiện tượng bất thường: Một, mạo danh thơ Thiền Yên Tử. Hai, mạo danh Thiền của vua Trần Nhân Tông cần phải được báo động rộng rãi.

Minh Đức Triều Tâm Ảnh
 
 
Trong thời gian gần đây có hai hiện tượng được đài báo và nhiêu tạp chí truyền thông… Một là “hiện tượng thơ Thiền non thiêng Yên Tử” của ông Hoàng Quang Thuận, và hai là hiện tượng “đạo sư” Duy Tuệ lập nhiều câu lạc bộ, nhóm, hội “ Thiền Minh Triết Trần Nhân Tông” trong và ngoài nước.

Hiện tượng nào cũng như sóng nổi ầm ào… và đúng sai, phải trái, chân ngụy – mọi người cũng đang bàn cãi, tranh luận…

Nhận thấy cả hai hiện tượng đều liên hệ đến vua Trần Nhân Tông, sơ tổ Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Cả hai đều mượn danh nghĩa ngài. Một người làm thơ về Yên Tử, rồi cổ súy, ca ngợi trở thành “Thơ thiền non thiêng Yên Tử” để dự giải Nobel văn học! Một người lấy luôn tên hội của mình là “Thiền Minh Triết Trần Nhân Tông” để rao giảng “xuyên quốc gia” có nhiều tổ chức “nâng” và “đỡ”.

Nhận thấy đây là mối nguy hại cho Phật giáo nói chung và non thiêng Yên Tử, Hương Vân đầu đà nói riêng – nên tôi, là một tu sĩ, do có nghiên cứu thơ Thiền, và Thiền của đại sĩ nên tôi muốn đóng góp một tiếng nói chính quy từ cửa Thiền, cửa Phật không phân biệt Bắc Nam cùng mọi tông hệ trên toàn thế giới – hầu cùng chư vị thức giả, trí giả suy ngẫm để biết đâu là cái thực và đâu là cái giả, đâu là cái chánh, đâu là cái tà.
Dĩ nhiên, hai bài viết của tôi phải bám tựa vững chắc trên mảnh đất Phật học và Thiền học mang tinh yếu, cốt lõi nền tảng chung của giáo pháp.
Trân trọng,
Tỳ-khưu Giới Đức
(Minh Đức Triều Tâm Ảnh)

 
 
Bài thứ nhất:
Hiện tượng “thơ Thiền” của Hoàng Quang Thuận

Hoa Tàn, Mưa Tạnh,
Non Yên Lặng

Hiện tượng thiên tài thơ, siêu việt thơ, thần thánh thơ… của GSTS Hoàng Quang Thuận – Viện trưởng Viện Công nghệ Viễn thông Việt Nam – qua hai tập “Thi vân Yên Tử” và “Ngọa Vân Yên Tử” mà hội Nhà văn Việt Nam vừa tổ chức hội thảo với những bài tụng ca vi vút tận trời xanh, xem như “dòng thơ Thiền non thiêng Yên Tử” và người ta đã gởi đi dự giải Nobel văn học, người ta đã tặng cho đất Phật Yên Tử cuốn sách độc bản với kích thước 125cm x 80cm x 16cm nặng 120 ký đạt kỷ lục châu Á; lại nghe tin hành lang là người còn dự định cho khắc chạm “thơ Thiền này” khắp núi non Yên Tử nữa!

Hiện tượng ấy như là một cái gì cần phải “chau mày suy nghĩ” đối với nền văn học nước nhà, nhất là văn học Phật giáo. Người ta muốn quảng cáo như thế nào, đạt được kỳ vọng gì là quyền của người ta, nhưng ca tụng thái quá hai tập thơ ấy như là “thơ Thiền non thiêng Yên Tử” là một cái gì thiếu nghiêm túc, thiếu cẩn trọng cần phải được báo động:
– Thơ của Hoàng Quang Thuận có phải là “thơ thiền”  hay không?
– Một người Phật tử hay là một người mộ Phật, cảm xúc về Yên Tử có thể làm được “thơ thiền” chăng?
– Thơ “nhập đồng” hay là kiểu mượn bút viện cớ là của tiền nhân có phải là tinh thần Phật giáo không?
– Làm thơ mà “đạo văn” của người khác – dù bạn bè đã gắng gượng đính chính chỉ là “mượn văn” – cái tâm ấy có thể sáng tác ra “thơ thiền” được chăng?

Hỏi, dường như đã có câu trả lời. Một người Phật tử bình thường cũng cảm nhận, cũng ý thức được đấy là chuyện “không thể”. Thế nhưng, tại sao, thiên hạ chẳng thấy đó là chuyện “không thể”, lại làm một trò đùa hơi quá đáng để “tụng ca, tán thán ca” bằng một bè hợp xướng, một giàn đồng ca ”tươi vui xôm trò” như thế?

Cái hiện tượng thơ Thiền ấy tạo nên một cao trào “rôm rả” mà ta có thể tóm lược như sau:
– Hai tập thơ đã được in và tái bản bốn lần bằng tiếng Việt và cùng ba thứ chữ Việt-Pháp-Anh với số lượng in lên đến 25.000 bản. Và người ta đã làm đầy đủ hồ sơ hai tập thơ và dịch ra tiếng Anh gửi tham dự giải Nobel văn học.
– Có một vị giáo sư mê say ngồi dịch nó mặc dù tuổi cao sức yếu vì không thể cưỡng lại “chất Thiền” ở trong đó.
– Có một ngài nguyên Tổng giám đốc đài nghe nhìn, đọc thơ của ông Thuận đã cảm hứng thốt lên bằng một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt tuy không đúng niêm luật, lại tán thơm: “Tôi tưởng theo anh thăm Yên Tử/ Nào ngờ lạc bước chốn thi vân/ Hoàng Quang cửa Phật soi câu chữ/ Thuận dòng rửa sạch chốn bụi trần”.

– Đến nay hiện đã có hàng chục tờ báo ở trung ương và địa phương, từ báo Nhân Dân, Hà Nội mới, Sài Gòn Giải phóng đến các báo Hạ Long, Quảng Ninh, Thể thao – Văn hóa… đều đã có bài đăng tải về “hiện tượng thơ Hoàng Quang Thuận”. Thậm chí có người “cho lên mây xanh” nhưng dựa trên nền thực trạng bát nháo thơ Việt hôm nay: “Giữa thời buổi thơ in ra nhan nhản, chủ yếu xoay quanh đề tài tình yêu hoặc co vào suy tưởng chiêm nghiệm cá nhân, đôi khi rối mù tắc tị… thì  “Thi vân Yên Tử” và “Ngọa Vân Yên Tử” như một áng mây lành, thoát tục, trong trẻo đến lạ lùng dắt người đọc vào chốn Bồng Lai, rũ bỏ bụi trần trở về với bản ngã thiện tâm trong mỗi con người…”

– Tập thơ đã có tiếng vang thật là “quốc tế”, có lẽ do không tiếc công quảng cáo, tiếp thị, “ưu thế quan hệ” và cả cái gì đó khó hiểu nữa – đến đổi Tổng Thống Pháp đã khen ngợi, Tổng Thống Mỹ gởi lời cảm ơn và hoàng cung Thụy Điển đánh giá là cao siêu và sâu sắc!

– Trước sự động viên cổ vũ của “giàn đồng ca”, ông Thuận đã tự mình – hay ai đó xúi giục – gửi hai tập thơ ấy đi tham dự giải Nobel văn học; và có người còn đẩy “giá trị thơ thiền” ấy đi quá xa, rằng là: “Được giải hay không chẳng quan trọng bằng việc hai tập thơ đã là sách gối đầu giường của nhiều bạn đọc hôm nay và mai sau, đặc biệt đối với những ai yêu thích ‘dòng thơ Thiền’ với những trải nghiệm tâm linh cực kỳ thú vị”.

Còn nữa, chúng ta còn có duyên may mắn ngàn năm một thuở được nghe khúc hòa tấu vang vọng lên tận non thiêng Yên Tử, nó động đến, làm giật mình những hồn thơ cổ xưa, cổ kính của sơ tổ Trúc Lâm, tam tổ Huyền Quang và cả Nguyễn Trãi, Nguyễn Trung Ngạn nữa…

Để có thêm tư liệu dẫn chứng, tôi xin nhắc đến bài “Thi vân Yên Tử – tác phẩm và dư luận” của GD&TĐ Online đã đúc kết đại lược là: Sau hội thảo “Hoàng Quang Thuận với Non thiêng Yên Tử” do Tạp chí Nhà văn – Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 8/8/2012, có rất đông người yêu thơ phản hồi bày tỏ tình cảm quan tâm, trân trọng những vần thơ đẹp lạ, rất thanh khiết mà dung dị mang đậm chất Thiền. Đại diện cho Hội Nhà văn, ông Hữu Thỉnh nói rằng: “Thơ anh – Hoàng Quang Thuận – là một bức tranh tôn giáo trầm mặc mà sống động, thanh khiết mà run rẩy!”

Những ai quan tâm đến nội dung buổi hội thảo mà GD&TĐ đề cập để biết cái “thanh khiết mà run rẩy” của Hữu Thỉnh muốn nói là cái gì – thì có thể đọc bài của ông:  “Một hồn thơ sau những bức tranh tôn giáo”. Tiếp theo, những ai muốn nghe những “vần thơ đẹp lạ, rất thanh khiết mà dung dị mang đậm chất Thiền” ấy ra sao thì cứ nhờ chú Google dẫn đường để xem thêm một số bài khác:

– Lạc đạo tùy duyên cùng Thi Vân Yên Tử (Đỗ Ngọc Yên). Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử (Hữu Việt). Cảm hứng thiền trong thơ Hoàng Quang Thuận (Ngô Hương Giang). Dấu tích vua Phật Trần Nhân Tông ở Yên Tử trong lòng thi nhân (Đặng Hiến). Vẻ đẹp cõi Phật trong Thi Vân Yên Tử của Hoàng Quang Thuận (Nguyễn Toàn Thắng). Cảm thức tâm linh trong thơ Hoàng Quang Thuận (Dương Kỳ Anh). Thiền vị trong Thi vân  Yên Tử  của Hoàng Quang Thuận (Trần Thị Thanh). Về Yên Tử đọc thơ Hoàng Quang Thuận (Đăng Lan). Cảnh vật trong cảm thức thiền tông (Phạm Quang Trung). Không gian “Thiền” trong Thi vân Yên Tử (TS. Hà Ngọc Hòa). Yên Tử qua thơ Hoàng Quang Thuận (Thu Phong). Chữ tâm trong Thi Vân Yên Tử (Mộc Lan). GS. Hoàng Quang Thuận: Tiền nhân mượn bút tôi viết thơ (Dương Tử Thành). Có một nhà thơ danh sơn Yên Tử (Trần Nhuận Minh). Thi vân Yên Tử của Hoàng Quang Thuận – Một chân dung thơ –  Phật tính hiền truyền (Hoàng Trung Hiếu). Tình yêu đất nước và chất thiền Thi Vân Yên Tử (Thế Trung). Thi vân Yên Tử của tác giả Hoàng Quang Thuận như một hiện tượng văn học (PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn).

Tuy nhiên, có điều đáng mừng là không phải ai cũng chạy theo phong trào ca tụng ấy, quả thật đã có những người đã tỏ vẻ hoài nghi thiên tài thơ thiền ấy, họ đã biết đặt những vấn đề:
– Thi vân Yên Tử “nhập đồng” hay “đạo” thơ? (SGGP Online). Trong đó nhà văn Võ Thị Xuân Hòa: “Hội Nhà văn Việt Nam sẽ làm rõ nghi án ‘đạo’ thơ”. Còn nhà phê bình Nguyễn Hòa: “Liệu nó có đúng là thơ không và có đúng với những gì mà ông Thuận nói là thơ của tiền nhân không, vì theo đánh giá của tôi, đó chỉ là văn bản thơ hạng xoàng!”

– “Thi vân Yên Tử” của Hoàng Quang Thuận có phải là thơ nhập đồng? của luật sư Nguyễn Minh Tâm. Trong đó, người viết đã rất trung thực phân tích và chứng minh rõ, thơ ấy không phải là thơ nhập đồng, cũng không phải tiền nhân mượn bút – mà chính Hoàng Quang Thuận đã lấy ý từ quyển sách “Chùa Yên Tử, lịch sử – truyền thuyết, di tích và danh thắng” của tác giả Trần Trương để “biên soạn lại thành thơ”.

– “Hiện tượng thơ nhập đồng” hay là trò sao chép, lừa đảo? của Mai An đăng ở báo Dân Việt, trong đó tác giả nói trong ba đêm mà sáng tác 141 (sic) bài thơ và dự giải Nobel phải chăng là “giấc mơ quá cỡ”? Rồi Mai An trích câu nói của nhà thơ Trần Trương, hội Nhà văn VN: “Đây là một hành động lừa đảo…”

– Dấu hiệu đạo văn của “nhà thơ nhập đồng” – tác giả Nguyễn Việt Chiến đăng trong tạp chí Văn học và Ngôn ngữ.
– “Hiện tượng thơ nhập đồng”: Sớm làm rõ “nghi án” đạo văn; và “Ai tiếp tay cho nhà thơ nhập đồng Hoàng Quang Thuận dự giải Nobel” – Lê Tâm thực hiện. Trong đó tác giả bảo có nhiều người muốn biết ai viết giấy giới thiệu? Và nổi bật ý kiến: “Dự giải Nobel là một điều khôi hài”.

– Và mới đây là bài “Cái lưỡi… đa nhân cách và những phát ngôn” của Kỳ Duyên đăng tại Báo Mới.com – trong đó tác giả sau khi phê phán khá nặng nề … và viết lơ lửng “Xấu chàng, hổ… Tạp chí Nhà văn”, đã nói là ông Thuận phải trả giá đắt cho sự nông nổi của mình chỉ vì hai chữ lợi danh tai quái; ông muốn đạt tới “ngộ” nhưng có lẽ tục lụy còn quá nhiều, tham, sân si còn quá lớn nên “ngộ nhận” chăng? 

Có lẽ liệt kê như thế cũng tạm đầy đủ. 

Đầu tiên, tôi xin góp ý một cách đúng đắn và khách quan rằng, cả hai tập thơ của Hoàng Quang Thuận là loại thờ tả cảnh, tự sự, cổ tích, sử tích, huyền thoại vào loại bình thường. Tôi nói là bình thường – chớ không dám nói thẳng thừng như nhà phê bình Nguyễn Hòa gọi là “hạng xoàng!” Đối với tôi, nếu “được gọi là thơ” thì thơ Quang Thuận chưa phải là “thơ hay” vì nó thiếu “chất thơ”, tức là thiếu vắng ngôn ngữ nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật. “Chất thơ” thì nó không nằm nơi ý nghĩa bề mặt câu chữ của văn bản mà nó phải ở ngoài hoặc ở phía sau bề mặt câu chữ của văn bản. Cố gắng đọc vài chục bài thơ của ông, tôi đã thấy chán, vì nó “chẳng có thơ” và dĩ nhiên, đích thực là “chẳng có Thiền”! Tôi thấy đâu đó chỉ là sự lắp ghép ý tứ, câu chữ, lựa dáng, tìm vần… nhưng mà cũng chưa chỉnh, chưa “giỏi”  lắm!  Và ý nghĩa của nó chỉ có một, nó nằm “chết”, nằm “bất động” nơi bề mặt câu chữ của văn bản mà thôi. Ta hãy khảo sát một số bài:

1. “Cổ thụ vươn cao xòe tán rộng
Rừng già nóng lọt đốm hoa rơi
Dây leo chằng chịt vắt cành lá
Chìm rừng líu lót với hương trời”.

2. “Viên gạch Hoa Cúc đời nhà Trần
Phù điêu sư tử sứ hoa vân
Vẫn ba gốc đại ngày xưa ấy
Bao năm xa cách vẫn thấy gần”.

3.“ Từ bỏ ngôi vua để tu hành
Từ cái nhất thời, cái hữu danh.
Vĩnh hằng vô hạn, vua tìm đến
Yên Tử trường xuân hóa đất lành”.

4. “Vòng cung uốn lượn tựa mình rồng
Vươn mình thế núi hướng biển Đông
Ẩn sâu khúc lượn trong lòng đất
Đầu rồng ngoảnh lại hướng Thăng Long”.

5. “Dựng xây cung điện đế triều nghi.
Định đế xưng vương lập thành trì.
Đại Hoàng cổ Việt Trương Yên phủ.
Hào sâu núi hiểm bất khả tri”

Cả năm bài tứ tuyệt, nếu là tứ tuyệt nghiêm túc thời trung đại thì bài nào ở đây cũng thất niêm luật cả (những chữ gạch đáy, đổi trắc thành bằng, bằng thành trắc mới đúng); và ý nghĩa của nó chẳng khác gì thông tin của một văn bản điện tử, hiểu ngay, nắm bắt được ngay! Đây là loại “văn xuôi có vần!” Rất tầm thường! Mới tập làm thơ cũng làm được. Nếu ai đó nói là có tâm thì đúng vậy, nó chỉ có tâm! Nhưng ngay cái tâm ấy cũng chưa nắm bắt căn bản tư tưởng Phật học khi nói “vĩnh hằng và trường xuân” ở nơi bài 3 – vì “vĩnh hằng” là cõi của nước Chúa, còn “trường xuân” là cảnh giới luyện tinh thành khí để đạt “trường xuân bất lão” của Đạo gia! Còn về thơ tứ tuyêt như trên thì nhà phê bình Nguyên Hòa cười mỉm: “Dù tác giả làm nhiều bài thơ tứ tuyệt hoặc ghép hai bài tứ tuyệt thành một bài thất ngôn bát cú cho có dáng dấp Đường luật thì ngay cái việc cố gắng ép thơ vần cũng đã đưa lại ý tứ khôi hài…”

Đấy là chúng ta khảo sát về cái gọi là thơ thì thơ Quang Thuận chỉ là “văn xuôi có vần!”, chưa phải là thơ thứ thiệt! Còn về cái mà người ta gọi là “thơ Thiền” của Quang Thuận, thì hãy nghe nhà phê bình Nguyên Hòa nhắc nhở: “Xin chớ nghĩ hễ trong bài thơ có hình ảnh chùa chiền, non cao, bóng núi, cây đá, mây trời, trăng treo, tiếng hạc… là bài thơ có chất Thiền! Xin hãy hiểu rành rẽ về Thiền và thơ Thiền rồi hãy viết, kẻo lại rơi vào cảnh ngộ ‘vẽ rắn thêm chân’!” Nói vậy, rõ là ông Nguyên Hòa đã rất thận trọng “về Thiền và thơ Thiền”. Thận trọng là đúng. Tuy nhiên, nếu là tôi, là một tu sĩ có học Thiền, có tu Thiền và cả dạy Thiền, tôi sẽ mạo muội xin phép viết lại mệnh đề cuối như sau:“Xin hãy tu tập Thiền, chứng nghiệm Thiền, sống Thiền rồi hãy làm thơ Thiền, kẻo lại rơi vào cảnh ngộ ‘đầu thượng trước đầu, tuyết thượng gia sương’! (1)” Vì vậy, hai tập thơ của Quang Thuận viết về Yên Tử mà được mọi người gọi là thơ Thiền thì quả là hơi nóng vội, có cái gì đó thiếu chân xác, cần phải đính chính lại.

Tại sao tôi lại dám nói vậy? Vì thật sự là thơ Thiền thì phải được cảm hứng từ trực giác tâm linh của những Thiền sư đạt ngộ, của những hành giả đã từng miên mật công phu định tuệ (2) trên non cao, động thẳm, trong những tu viện xa vắng, tịch liêu. Các vị ấy đã nhảy qua hố thẳm phạm trù của lý-trí-thức-tri-nhị-nguyên-sai-biệt, đã giải quyết trọn vẹn “tử sinh đại sự”, đã cất tiếng cười lạnh giá cả sao Ngưu, sao Đẩu, đã cởi bỏ tất thảy mọi xiềng xích buộc ràng của bản ngã với những mặt nạ hư dối, đã trang bị cho mình con mắt thứ ba của “tuệ nhãn” nhìn xuyên thủng hư vô bị che chắn dập dờn bởi khói sương mê lầm, vọng huyễn. Cuộc đời các vị ấy là một chân dung mô phạm khả kính. Họ có đời sống giới luật nghiêm túc, có đạo hạnh tôn quý, có tuệ giác khinh linh siêu thoát. Họ sống thiền trong từng hơi thở, từng sát-na nên mới có thẩm quyền về thiền, nói về thiền, mới có thể “thở ra thơ thiền” được. Còn tác giả của những tập thơ Yên Tử này là ai? Một Phật tử hay đơn thuần chỉ là một người mộ Phật? Hoặc chỉ là một người kính yêu non thiêng Yên Tử? Là một con người bình thường có gia đình vợ con? Một cư sĩ trí thức hay một vị quan đang “đại ẩn” tại triều trung? Và nếu gồm tất thảy những con người ấy, với những “hành trạng” như thế thì người ta chỉ có thể làm thơ tức cảnh, tức tình, về tự sự, về cổ tích, về danh thắng hay về huyền thoại… nhưng thơ ấy không thể gọi là thơ thiền! Tôi nghe biết tác giả là một GSTS, một viện trưởng, một nhà khoa học; tuy nhiên, cho dẫu một trí thức uyên bác cũng không thể nào với tới thế giới tâm linh trực giác, là lãnh địa ở ngoài mọi kiến thức và trí năng? Có thể nào trí thức bác học hiện nay trên thế giới ai cũng có thể liễu giác, chứng nghiệm thiền, sống thiền trong một vài sát-na tư duy đốn ngộ và có thể làm được thơ thiền cả thảy? Điều này là bất khả. Điều này là “vẽ lông cho rùa”, “chắp sừng cho thỏ” (3).

Còn nữa. Còn một chuyện nữa. Như người ta nói, và chính tác giả cũng có nói là mình làm trong ba đêm liền tập “Thi vân Yên Tử” gồm 143 bài trong trạng thái như “nhập đồng’, do tiền nhân mượn bút nên khó lý giải được. Đầu tiên, xin được đính chính, là cái kiểu “nhập đồng, mượn bút” kia không phải là tinh thần của nhà Phật chánh tông, nó hơi “tà” rồi đấy! Có người lại suy luận, có lẽ do nhập định sâu mới làm thế được. Xin thưa, “nhập định sâu” (4) thật sự thì phải đóng hết cả sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý); trong trạng thái ấy, hành giả đâu có thể khởi tư duy mà làm thơ được?! Hàng ngàn người tu thiền định thứ thiệt họ biết rõ điều đó; nói chuyên môn một chút là phải xuống “cận hành định” mới khởi “tầm và tứ” tức là khởi ý niệm và suy nghĩ được! Riêng chuyện nhập thần, mượn bút thì có thể có – nhưng “tiền nhân” này là ai? Tiền nhân này sao lại có đọc quyển sách “ Chùa Yên Tử, lịch sử, truyền thuyết, di tích và danh thắng” của tác giả Trần Trương? Cứ dựa theo sách của người ta, đổi văn xuôi thành văn vần để biến ra cái gọi là thơ thiền? Tiền nhân này sao lại “mượn văn” của tác giả đang sống hiện nay một cách vô ngại thời gian như thế? Và nếu có thật chuyện đó thì tiền nhân này không phải là Phật, là thần, là Trần Nhân Tông, là các vị thiền sư, là các đại bút danh sĩ rồi! Tại sao? Vì Phật thần thì không có cái tâm xiêng xẹo, cong vênh như thế! Và nếu là các tác gia thời trung đại thì “đại bút” của các vị ấy đã rơi xuống “tiểu bút” rồi, thi hương cũng không đỗ đâu! Còn nếu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, các vị thiền sư giáng bút thì sao thơ quý ngài lại “xuống cấp” đến vậy, “tầm thường thơ” đến vậy, chẳng có tuệ, có thiền, có trao truyền mật chỉ tâm ấn gì cả?! Tiền nhân này là ai vậy? (5) Chúng ta phải tìm cho ra cái khuôn mặt của ông ta – để giải bớt cái oan khuất cho tất thảy thiền sư, danh sĩ thời Lý, Trần mà văn học sử thường xem như đấy là thời đại đỉnh cao của văn học, là cái “nôi” hàm tàng mọi giá trị mỹ học, thiền học cũng như tinh túy văn hóa bản sắc của cha ông. Tiền nhân nhập bút ấy là ai mà Nguyễn Hòa đã than: Nếu thực sự “tiền nhân mượn bút” của Hoàng Quang Thuận để “viết thơ” thì xem ra thơ của “tiền nhân” đã sa sút đến mức thê thảm… Với các bài thơ chưa đúng niêm luật … mà được gọi là “nghệ thuật Đường thi trác việt” thì đúng là hết thuốc chữa!
Quả đúng là hết thuốc chữa!
Vì “trăm năm duyên kiếp” như thế này mà cũng là thiền sao:
“- Trăm năm duyên kiếp còn lưu lại
Lối cũ đường xưa ngập cỏ cây”.
Và đây cũng gọi là thơ, là thiền sao:
“- Ba tên kẻ cướp nhảy chặn đường
Vua Trần cho bạc lẫn phần cơm
Nhẹ nhàng thuyết giáo trừ tâm độc
Cả ba quỳ lạy hứa hoàn lương!”
Và đây nữa:
“- Hoa Lư kinh thành của Đế vương
 Mây bay phủ núi luỵ biên cương
Hoàng Long dậy sóng ngàn năm ngủ
Long Mã truy phong thượng đạo đường”.

Bài nào cũng thất niêm luật, không những không phải thơ, không phải thơ thiền mà còn không hiểu tác giá đưa thông tin “bí mật” gì ở nơi chỗ “lụy biên cương” và cái “thượng đạo đường”?
Vậy là quá đủ.
Xin chư vị thức giả thẩm định cái gọi là “tiền nhân nhập thần mượn bút” ấy cho!
Tôi không tu Thiền theo thiền phái Trúc Lâm, không phải là đệ tử, thân hữu, cũng không quen biết các ngài, các Sư, Ni ở trong tông môn đó. Tôi thuộc Theravāda, chỉ là một tu sĩ yêu thơ, có nghiên cứu thơ văn của Trúc Lâm tam tổ và các danh sĩ làm thơ có ảnh hưởng thiền thời Lý, Trần. Thơ, thơ thiền, thơ có tư tưởng thiền và thơ có liên hệ đến non thiêng Yên Tử của các vị ấy, vào thời trung đại ấy… tôi nghẹn chữ, không biết nóí sao. Tôi chỉ muốn ví von – dù biết ví von nào cũng khập khễnh – là nó như là hạt tuyết trắng trinh tuyền trên non cao. Nó là đóa hoa tinh khôi, diệu vợi u hương trên đầu núi. Mà bút khí, bút lực, bút trí, bút tâm của thế gian là bút của chợ triền, ở dưới này, thường không vói tới! Nó khác, nó rất khác, nó khác xa so với tất cả thơ mạo nhận là thơ thiền hiện nay. Tảng đá tịnh định, trầm mặc trong vườn thiền hôm kia cũng toát mồ hôi. Lau cỏ quê mùa dân dã, an nhiên sáng nay bên hiên chùa cũng run lẩy bẩy. Hiện tượng phẩm bình hơi quá bút về thơ thiền của Hoàng Quang Thuận làm cho “đá cỏ trong vườn thiền” cũng phải lên tiếng đính chính một vài chỗ cần thiết. Tuy nhiên, thật may mắn thay cho Phật giáo chúng ta, và cả cho những ai yêu non thiêng Yên Tử cùng cốt cách “cam lộ lưu phương (6)” của Hương Vân đầu-đà – là các nhà học giả nghiêm túc, các nhà nghiên cứu có đạo đức tri thức đã đồng loạt phản bác, phê phán nghiêm khắc, đã nhìn ra “chân tướng”, đã chỉ ra cái “bản lai diện mục” của cái trò chơi hơi “quá đà” kia rồi! Chỉ một chút xíu “quá đà” thôi, chớ không nên nói khá nặng lời như ai đó đã xem như là một hiện tượng vĩ cuồng! 
Để kết luận, tôi xin trích bài tứ tuyệt thứ hai trong “Sơn phòng mạn hứng” có 2 câu đầu đối, hai vận, luật bằng nghiêm túc của thiền sư thi sĩ Trần Nhân Tông:

“ Thị phi niệm trục triêu hoa lạc
Danh lợi, tâm tùy dạ vũ hàn
Hoa tận, vũ tình, sơn tịch tịch
Nhất thanh đề điểu, hựu xuân tàn”.
Tạm dịch (không lấy hết ý trong cặp đối):

“- Phải, trái niệm rơi hoa rạng sớm 
Lợi danh lòng lạnh mưa thâm đêm
Hoa tàn, mưa tạnh,  non yên lặng
Còn tiễn xuân tàn, một tiếng chim!”
 

Hy vọng rằng, những hiện tượng phù du như vậy rồi sẽ qua đi. Chuyện phải, chuyện trái nó rơi theo hoa buổi sớm rơi. Cái tâm về lợi danh nó lạnh ngắt giống như trận mưa lạnh ngắt đêm rồi! Và ngay cái rơi, cái lạnh ấy cũng không còn nữa, nó rụng, nó tạnh hết rồi, chỉ còn lại non yên lặng mà thôi. Và ở nơi cái “thực tại non yên lặng” ấy, một tiếng chim vừa hót lên…Cũng vậy, cái gì không phải thơ, không phải thiền thì nó sẽ rơi, sẽ rụng đi – nhưng sự an tĩnh và thanh khiết của hồn thơ, hồn thiền non thiêng Yên Tử sẽ còn mãi với thời gian. Mong vậy thay!

Chú thích:
(1) Trên cái đầu, chồng thêm cái đầu, trên tuyết lại phủ thêm sương – tức là ý niệm chồng thêm ý niệm, che lấp cái thực!
(2) Định (Samādhi), Tuệ (Vipassanā).
(      3) Thuật ngữ Thiền: “ Thố giác” (sừng thỏ), “mao quy” (lông rùa). Hình ảnh này nói lên ý nghĩa, là người ta đã dùng cái “không thực có” để găm cắm lên “cái thực” – tức là lấy ý niệm, khái niệm (chỉ tồn tại trong tu duy lý tính) để vẽ, để chắp lên pháp như thực tánh, bản nguyên (sabhāva dhamma – paramattha dhamma).
 4) Tối thiểu phải sơ thiền trong bốn tầng (jhāna) thiền.
 (5) Theo nhà Phật, một người tu Phật có chánh kiến, không bao giờ tin việc nhập thần, giáng bút ấy là của thánh thần tiên Phật; nếu có, chúng chỉ là ma quỷ (ngạ quỷ, dạ-xoa, a-tu-la) mà thôi. Tin ba cái chuyện mê mê hoặc hoặc ấy là tà kiến. Vậy, nếu có, thì “tiền nhân mượn bút” ấy chỉ là ma quỷ.
 (6) Móc ngọt chảy mùi thơm.

”Trần Nhân Tông Hòa giải” : Giải thưởng quốc tế mang tên Việt – RFI

6 Th9

”Trần Nhân Tông Hòa giải” : Giải thưởng quốc tế mang tên Việt

 

Logo của Open Minds, nơi thai nghén ý tưởng Giải thưởng Trần Nhân Tông Hòa giải & Yêu thương (DR)

Logo của Open Minds, nơi thai nghén ý tưởng Giải thưởng Trần Nhân Tông Hòa giải & Yêu thương (DR)
 

Ngày 22/09/2012 tới Viện Trần Nhân Tông, vừa ra đời tại Boston (Hoa Kỳ), lần đầu tiên sẽ trao một giải thưởng quốc tế mang tên « Trần Nhân Tông Hòa giải và Yêu thương » và tổ chức một hội nghị về chủ đề này. Viện Trần Nhân Tông tự đặt cho mình sứ mạng tìm hiểu về cuộc đời và ảnh hưởng của một nhân vật, được coi là thuộc hàng kiệt xuất nhất trong lịch sử Việt Nam, và hy vọng mang lại các bài học, giải pháp để ngăn ngừa và hóa giải các xung đột đương đại.

Trần Nhân Tông là một hoàng đế của vương quốc Đại Việt nửa cuối thế kỷ XIII. Nhân vật lịch sử này được biết đến cùng một lúc như là người lãnh đạo vương quốc trong thời gian hai cuộc chiến tranh vệ quốc chống xâm lược Nguyên – Mông phía bắc, người kiến lập nền hòa bình với vương quốc Chăm pa ở phía nam. Trần Nhân Tông còn đặc biệt nổi tiếng như là người sáng lập dòng thiền Phật giáo mang tên Trúc Lâm Yên Tử. Trong vài thập niên gần đây ở Việt Nam, thiền phái Trúc Lâm Yên Tử được phục hồi và có xu hướng phát triển ngày càng mạnh. Theo đánh giá của một bộ phận công luận tại Việt Nam, Trần Nhân Tông được coi như một trong các vị vua anh minh nhất trong lịch sử Việt Nam, trị vì đất nước với một phong cách gần dân và một chủ trương khoan hòa.

Sự ra đời của một viện nghiên cứu và phổ biến giá trị gắn liền với tên tuổi một danh nhân Việt Nam tại Boston, một trung tâm văn hóa khoa học lớn của nước Mỹ, là một điều gây bất ngờ đối với nhiều người Việt Nam. Để đưa tới quý thính giả một số thông tin về các hoạt động và mục tiêu của Trần Nhân Tông Academy, chúng tôi có cuộc phỏng vấn qua điện thoại với ông Nguyễn Anh Tuấn, giám đốc điều hành Viện Trần Nhân Tông tại Boston, và là người, như chúng tôi được biết, đã khơi màn cho sáng kiến thành lập viện, cũng như cho nhiều hoạt động của Trần Nhân Tông Academy.
 
Tham gia vào tạp chí hôm nay còn có nhà thơ Trần Việt Phương từ Hà Nội, bà Nguyễn Thúy Hà, giám đốc công ty phi lợi nhuận Open Minds ở Hà Nội, phụ trách phát triển các hoạt động liên quan đến Trần Nhân Tông ở Việt Nam, nhà sử học Nguyễn Duy Chính và giáo sư Phạm Cao Dương (từ California – Hoa Kỳ).

Khởi nguồn của ý tưởng về một giải thưởng mang tên Hòa giải và Yêu thương có lẽ đã bắt đầu từ sáng kiến tổ chức một « ngày Hòa giải và Yêu thương » hàng năm 9-9 tại Việt Nam, của mạng kết nối tri thức mang tên Open Mind Network, theo sáng kiến của một số học giả Trung tâm báo chí chính trị và chính sách công Shorenstein (Đại học Havard). Cùng với sự lên ngôi của ngày Hòa giải và Yêu thương tại Việt Nam là một loạt các hoạt động nhằm tôn vinh Trần Nhân Tông. Như vậy là, chỉ trong một thời gian rất ngắn, ý tưởng về một ngày Hòa giải và Yêu thương vào tháng 9 hàng năm đã được kết nối với biểu tượng « Vua Phật » Trần Nhân Tông để đưa đến “The Tran Nhan Tong Reconciliation Prize“, một trong các giải thưởng quốc tế đầu tiên mang tên một danh nhân Việt Nam, cũng được tổ chức trong tháng này.

 
Huy chương giải thưởng Trần Nhân Tông Hòa giải và Yêu thương

 

Viện Trần Nhân Tông hay Trần Nhân Tông Academy, một cơ sở nghiên cứu khoa học về một danh nhân Việt Nam, truyền bá các giá trị và tìm kiếm các giải pháp cho các xung đột xã hội đương đại trên thế giới, đã nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà hoạt động chính trị và truyền thông, các nhà nghiên cứu về khoa học chính trị, pháp lý… , các nhà hoạt động văn hóa nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới, như : bà Ann L. McDaniel, phó giám đốc tập đoàn truyền thông The Washington Post, ông Michael Dukakis, nguyên ứng cử viên tranh cử tổng thống Mỹ năm 1988, cựu thống đốc bang Massachusetts, cựu tổng thống Latvia bà Vaira Vike– Freiberga, ông Thomas Pattterson, giáo sư về Chính trị và Báo chí tại Trường Quản lý Nhà nước John F. Kennedy, thuộc Đại học Harvard, nhà toán học Hoàng Tụy, nguyên chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Văn An, nhà thơ Trần Việt Phương…
 
Nội dung các hoạt động và đường hướng của Trần Nhân Tông Academy, cũng như quá trình hình thành của Viện, sau đây xin mời quý vị nghe tiếng nói của ông Nguyễn Anh Tuấn, phụ trách Viện Trần Nhân Tông từ Boston :

 
Ông Nguyễn Anh Tuấn (Boston)

 
05/09/2012
 
 

 
 
 
 
 
 
 
RFI : Kính chào ông Nguyễn Anh Tuấn. Trước hết xin cảm ơn ông đã nhận lời nói chuyện với thính giả RFI. Xin được hỏi ông về các nội dung hoạt động chính của Viện Trần Nhân Tông/Trần Nhân Tông Academy.

Nguyễn Anh Tuấn : Xin cảm ơn anh, cảm ơn các bạn đã quan tâm theo dõi. Viện Trần Nhân Tông hoạt động như một tổ chức xã hội, có nghiên cứu, có các hoạt động xã hội. Nghiên cứu thì chúng tôi sẽ phát triển, đẩy mạnh và tổ chức các nghiên cứu, để tìm hiểu kỹ hơn về những giá trị, những di sản của Trần Nhân Tông, và từ đó có thể quảng bá và giới thiệu đến bạn bè quốc tế. Đấy là công tác nghiên cứu và triển khai ứng dụng, làm sao để ứng dụng được nhiều các giá trị đó vào trong xã hội. Giải thưởng Trần Nhân Tông Hòa giải cũng là một hoạt động quan trọng. Một trong những tiêu chí của Viện Trần Nhân Tông là làm sao thúc đẩy, làm sao đem đến những giá trị, những giải pháp cho thế giới, để vừa ngăn ngừa, vừa giảm thiểu, làm sao cho xung đột trên thế giới bớt đi, Hòa giải yêu thương trở nên chủ đạo trong cuộc sống hàng ngày.

RFI : Xin ông cho biết các hướng nghiên cứu chính về Trần Nhân Tông và di sản của Trần Nhân Tông trong tương lai gần của Viện.

Nguyễn Anh Tuấn : Chúng tôi có những định hướng, chẳng hạn như nghiên cứu một cách sâu sắc, thấu đáo, đầy đủ, những giá trị di sản của Trần Nhân Tông, vì đã hơn 7 thế kỷ, những tư liệu không còn nhiều. Có nhiều bài báo, sách nói về thân thế và sự nghiệp Trần Nhân Tông, nhưng cần những nghiên cứu thấu đáo hơn, có sở cứ hơn, thuyết phục bạn bè quốc tế hơn.

Thứ hai là, tổ chức tập hợp các tư liệu còn tản mát, rải rác của Trần Nhân Tông, tiến tới xây dựng một bảo tàng về Trần Nhân Tông. Đây là sáng kiến của giáo sư Thomas Patterson, chủ tịch Viện Trần Nhân Tông. Ở Hà Nội, cần một bảo tàng có tầm quốc tế xứng đáng với thủ đô Hà Nội, và Trần Nhân Tông là một danh nhân rất lớn của Việt Nam xứng đáng với một bảo tàng lớn, xứng tầm quốc tế. Làm sao để bảo tàng đó có chất lượng, nội dung có giá trị để xứng tầm một bảo tàng lớn, được bạn bè thế giới trân trọng. Đây là các công tác nghiên cứu của Trần Nhân Tông Academy.

Ngoài ra là việc xuất bản các ấn phẩm qua các hội nghị, ví dụ như hội nghị về Hòa giải, 21/09 ở đây, tại đại học Havard. Sẽ có những báo cáo có chiều sâu, rồi chúng tôi sẽ tổ chức các ấn phẩm, các cuốn sách. Sau này sẽ có những hội nghị bàn tròn Trần Nhân Tông bàn về những giải pháp để giải quyết xung đột, ngăn ngừa xung đột chẳng hạn.

Academy không chỉ làm một mình. Chúng tôi tập hợp, liên kết, vận động nhiều nguồn lực trí tuệ, hợp tác trong và ngoài nước, làm sao để phối hợp cùng nhau để nghiên cứu, để đưa ra được các kết quả tốt. Những công việc này không phải ngày một ngày hai, mà còn rất dài hơi, khổ công lắm, không đơn giản tí nào.

Việt Nam là khu vực cần ưu tiên, dân tộc Việt Nam cần hòa giải

RFI : Về hướng nghiên cứu ứng dụng, được coi là một đặc điểm nổi bật của Viện Trần Nhân Tông, Viện có ưu tiến một khu vực địa lý nào không, và một loại hình xung đột nào không ?

Nguyễn Anh Tuấn : Những nơi được ưu tiên là các khu vực « nóng », đang xảy ra xung đột, hoặc tiềm ẩn những nguy cơ xảy ra xung đột lớn, thì tôi nghĩ Trần Nhân Tông Academy sẽ quan tâm.

Còn về vùng ưu tiên, tôi nghĩ rằng, ngay cả Việt Nam chúng ta cũng là một vùng cần ưu tiên. Dân tộc Việt Nam cũng cần hòa giải. Trong tương lai, làm sao để những khoảng cách, những khác biệt giữa nhóm người này và nhóm người khác trong dân tộc chúng ta, làm sao có một tiếng nói chung, có một sức mạnh tổng lực để đoàn kết, làm sao cho dân tộc chúng ta có một sức mạnh to lớn, để đoàn kết yêu thương nhau, quý mến nhau, cộng hưởng với nhau. Chúng tôi rất tâm niệm, rất tâm huyết, biết điều này nhiều trở lực, nhiều trở ngại. Nhưng chúng ta có thể quan tâm, có thể làm, làm từ đơn giản, từ những việc nhỏ, những vấn đề nhỏ, rồi chúng ta sẽ ra được những con đường lớn, những công việc lớn. Nhưng mà, thôi chúng ta hãy cứ thành tâm, hãy suy nghĩ, hãy trăn trở vì nó, thì đấy là… Làm sao để hàng ngày mỗi người chúng ta sống áp dụng được những cái minh triết, những cái giá trị sống yêu thương, nhân bản, nhân ái, vị tha, hòa giải của Trần Nhân Tông. Và (ứng dụng) cho chính cuộc sống hàng ngày, tôi nghĩ sẽ mang lại hạnh phúc cho chính chúng ta.

Viện Trần Nhân Tông : kết tinh tâm huyết trí tuệ trong nước và quốc tế

RFI : Thưa ông, bản thân tôi và có thể một bộ phận công chúng, rất là ấn tượng khi được nghe đến một viện nghiên cứu mang tên một danh nhân Việt Nam mà lại được đặt tại Hoa Kỳ, một quốc gia có quan hệ thăng trầm với Việt Nam. Vậy ông có thể cho biết về quá trình thành lập viện, mà theo tôi được biết, ông là một người chủ xướng và có vai trò quan trọng trong quá trình thành lập cũng như các hoạt động bước đầu của viện.

Nguyễn Anh Tuấn : Quá trình này là một sự trăn trở, có nhiều đóng góp, hợp lực của nhiều trí tuệ và tâm huyết trong xã hội, không chỉ riêng tôi. Vào thời điểm năm 2009, chúng tôi có những suy nghĩ, có nhiều mong muốn để làm một cái gì đó về Trần Nhân Tông, vì Trần Nhân Tông là một vị vua anh minh của Việt Nam, nhưng mà phải qua trao đổi, chia sẻ với mọi người, và khi tôi có điều kiện sang Havard – Boston ở đây, tôi có điều kiện gặp gỡ và nói chuyện với các học giả ở Havard, đặc biệt là giáo sư Thomas Patterson, và các bạn bè của tôi ở đây. Tôi cũng có điều kiện nói chuyện và xin ý kiến của những người mà tôi rất quý trọng, như nhà văn hóa Việt Phương ở Hà Nội, người trước đây đã rất nặng lòng cố vấn cho Vietnamnet.

Qua các trao đổi chia sẻ như vậy, tôi thấy tự tin hơn, và đi đến quyết định : vậy là chúng ta có thể suy nghĩ làm một cái gì đó về Trần Nhân Tông để giới thiệu ra thế giới, làm sao để những giá trị của Trần Nhân Tông đi vào đời sống của người Việt Nam chúng ta. Tôi quyết định cùng nhau thành lập Trần Nhân Tông Academy ở đây. Nói tóm lại, đây là một quá trình trăn trở, học hỏi, chia sẻ, chiêm nghiệm và trao đổi với nhau. Tôi nghĩ rằng, đây là kết quả tâm huyết, trí tuệ của nhiều người Việt Nam nói chung, tôi chỉ là một người có lòng, có nhiệt tình, còn lại thì tôi nghĩ rằng, để có được ngày hôm nay, có được công việc đang triển khai thế này là kết tinh của rất nhiều tâm huyết trí tuệ trong nước, cũng như bạn bè quốc tế ở đây.

RFI : Vì sao Viện lại chọn giải thưởng Trần Nhân Tông Hòa giải như là một trọng tâm hoạt động ?

Nguyễn Anh Tuấn : Để giới thiệu Trần Nhân Tông ra nhân loại, thì giải thưởng cũng là một điểm nhấn cho mọi người biết đến và cũng là xứng đáng để trân trọng những con người có các đóng góp, hoặc là có những giá trị đồng cảm, hoặc đang đi theo những giá trị tinh thần mà Trần Nhân Tông đã theo đuổi, đã tâm nguyện. Chúng tôi nghĩ đơn giản như vậy thôi. Tức là giải thưởng Trần Nhân Tông sẽ có sức cổ vũ, có sức lan tỏa, được mọi người quan tâm nhiều hơn, cũng là một sự khích lệ đối với người Việt Nam ở trong nước, khi chúng ta có được một giải thưởng quốc tế mang tên Trần Nhân Tông được bạn bè quốc tế trân trọng.

RFI : Ông có thể cho biết những khó khăn trắc trở để có được một cơ sở như ngày hôm nay với sự tham gia của nhiều nhân vật có uy tín, nhiều học giả thuộc các ngành nghiên cứu khác nhau.

Nguyễn Anh Tuấn : Khó khăn là khởi đầu từ số 0. Mọi người bắt đầu xây dựng bằng tâm huyết, tâm nguyện của mình thôi. Đúng là khi ở Việt Nam, khi còn là tổng biên tập vietnamnet, tôi có cả bao nhiên con người, có nguồn lực để làm, kể cả khả năng tài chính, còn sang đây thì đúng là từ số 0.

Nhưng tôi nghĩ, thôi thì, cái quan trọng nhất là mình có lửa, gọi là có lửa nhiệt tình, rồi có tâm, thì chắc chắn sẽ được sự đồng cảm, đồng hành của nhiều người, chẳng hạn như giáo sư Thomas Petterson đã tham gia làm chủ tịch, rồi một số học giả khác, một số nhà hoạt động xã hội có uy tín khác, như là Michael Dukakis (nguyên ứng cử viên tổng thống Mỹ), hoặc những người như Ann L. McDaniel (phó giám đốc tập đoàn truyền thông The Washington Post)… đã nhận làm cố vấn cho giải thưởng. Đấy là những người đó đã cảm nhận được cái giá trị của hòa giải, yêu thương con người của Trần Nhân Tông. Hoặc bà cựu tổng thống Latvia Vaira Vike– Freiberga từng đến Hà Nội để tham gia hội nghị đầu tiên 16-2.

Khó khăn vẫn còn chồng chất, anh ạ. Nhưng mà tôi nghĩ điều quan trọng nhất là có những người có uy tín, có trí tuệ, có nhân cách đồng hành, cùng chia sẻ, cùng giúp, mỗi người một chút thì đã có ngày hôm nay. Tôi nghĩ rằng, lý tưởng cao đẹp vì hòa bình, lý tưởng hòa giải, hòa bình, đem những điều tốt đẹp, yêu thương cho nhân loại, đã gắn tất cả mọi người với nhau. Tôi thật sự cảm thấy rất xúc động, và đẹp nhất, vui nhất cuộc đời mình, được đi làm, làm cùng với những giá trị rất cao đẹp như vậy, với những người rất cao đẹp, cao quý, để triển khai cùng. Cái đó làm cho tôi cảm thấy hạnh phúc và tự tin. Chẳng hạn như tôi không thể nào quên được những tâm huyết, những trí tuệ, những chia sẻ, những dẫn dắt, mà nhà thơ Việt Phương đã đồng hành, giúp đỡ, đi cùng, đến giờ này cũng thế, nhà thơ Việt Phương luôn luôn dành tâm huyết, trí tuệ cho Trần Nhân Tông Academy. Nếu có tâm huyết, sẽ có những người đi cùng nữa.

Hòa giải là nền tảng cho Hòa bình ?

RFI : Như ông nói hiện nay, nhiều người và ở khắp mọi nơi có mối quan tâm đến vấn đề hòa giải và tình yêu thương, mà còn hơn cả sự quan tâm, mà có thể nói sự hòa giải trở thành một thách thức với nhân loại hiện nay, để khiến cho người ta phải đi tìm những biểu tượng mới, như hình tượng Trần Nhân Tông ở Việt Nam chẳng hạn, cho dù đã có không ít những biểu tượng cho hòa bình ?

Nguyễn Anh Tuấn : Tôi nghĩ rằng, Trần Nhân Tông là một giá trị của nhân loại chưa được giới thiệu nhiều, và nhân loại chưa biết đến nhiều. Bản thân tôi có một niềm tin là đó là một giá trị cao quý mà nhân loại trân trọng, nếu như chúng ta giới thiệu đúng lúc, đầy đủ. Tôi nghĩ rằng, có nhiều người cũng có niềm tin ấy cho nên đồng cảm với nhau.

Thứ hai, đúng là vấn đề xung đột của nhân loại luôn luôn không bao giờ dứt, khoa học, công nghệ phát triển mạnh, kinh tế phát triển mạnh, nhiều thành quả, và chúng ta đang sống trong thời đại « văn minh », thời đại thông tin internet, mobile, nhưng chưa bao giờ chúng ta có một thế giới yên bình, không có xung đột, không có bạo lực. Không có chiến tranh thì có bạo lực ở nơi này, nơi khác, giữa con người này, con người khác, nhóm này, nhóm khác. Đó là lý do khiến mọi người vẫn tiếp tục quan tâm, mặc dù có nhiều tổ chức xã hội, nhiều phong trào dấy lên ở nhiều nơi, đã làm rất nhiều, chứ không phải ngày nay chúng ta mới làm, nhưng mà có lẽ vẫn chưa đủ.

Thứ nữa là, HÒA GIẢI là một vấn đề rất đáng để quan tâm. HÒA BÌNH cũng là một giá trị, cũng là một mục tiêu, cũng là vấn đề, nhưng HÒA GIẢI cũng đặt ra nhiều vấn đề cho chúng ta làm. Phải chăng có HÒA GIẢI, có khoan dung, có lượng thứ nhau, có thông cảm, đồng cảm, chia sẻ với nhau, thì sẽ dễ dàng dẫn đến, hoặc nó là nền tảng để có được HÒA BÌNH vững chắc hay chăng ? Về sự yêu thương giữa con người với nhau, về sự chia sẻ độ lượng, để từ đó con người vượt qua được những hận thù, những đố kỵ, ganh ghét nhau, để có thể làm hạt nhân cho HÒA BÌNH, ổn định, tốt đẹp cho con người trong tương lai hay chăng ? Về cái này tôi cũng phải suy nghĩ, phải nghiên cứu thật nhiều. Tôi nghĩ về khía cạnh này, đặt vấn đề của anh cũng là chính xác, tôi cũng đồng cảm với cái nêu của anh như vậy.

RFI : Xin thay mặt RFI chúc ông và Viện Trần Nhân Tông nhiều thành công, và hy vọng có thời gian được chuyển tiếng nói của ông và các học giả trong viện tới thính giả của đài.

Nguyễn Anh Tuấn : Cảm ơn anh và qua đài, xin cảm ơn thính giả RFI. Một lần nữa tôi xin bày tỏ lòng tri ân đối với mọi nỗ lực, mọi tâm huyết, trí tuệ của mọi người trong thời gian vừa qua, đã giành cho Trần Nhân Tông Academy, rất nhiều, rất nhiều. Có thể nói đó là sự trân trọng lớn của tôi và của những người đã và đang xây dựng Trần Nhân Tông Academy và mong rằng trong thời gian tới sẽ nhận được những trí tuệ, những tâm huyết, những đóng góp ở khắp mọi nơi để xây dựng nên một viện Trần Nhân Tông có nhiều đóng góp cho nhân loại cho sự nghiệp Hòa giải và Yêu thương. Chúng tôi luôn đón nhận và trân trọng.

Cần thực sự chú ý đến các nghiên cứu cơ bản

Như quý vị đã biết, một trong các sứ mạng chính mà Trần Nhân Tông Academy tự đặt cho mình là tổ chức các nghiên cứu cơ bản về một nhân vật lịch sử cách nay đã 7 thế kỷ. Đây là một nhiệm vụ rất nặng nề như người giám đốc Viện chia sẻ, vì số lượng các tư liệu về giai đoạn này là rất ít ỏi. Đây cũng là điều được nhà thơ Việt Phương, thành viên Ban Cố vấn của viện, cũng như các khách mời khác nhấn mạnh.

Nhà sử học Nguyễn Duy Chính lưu ý đến hai điểm yếu trong các nghiên cứu về lịch sử trung đại Việt Nam, thứ nhất là các văn bản đời sau thường lái quan điểm của cổ nhân và các sự kiện trong lịch sử theo ý mình, bên cạnh đó, tại Việt Nam, ít chuyên gia có thể cùng lúc làm việc trong hai lĩnh vực sử học và lịch sử văn học, đây là một cản trở lớn đối với việc tìm hiểu hành trạng và tư tưởng của Trần Nhân Tông, cũng như đời sống xã hội giai đoạn đó.
 
Cùng với vấn đề phục dựng lịch sử đầy thách thức, ông Trần Việt Phương nhấn mạnh đến việc cần cẩn trọng trong việc đề cao các giá trị tư tưởng độc đáo của hình tượng Trần Nhân Tông, khi chưa có trong tay đầy đủ các bằng chứng cho phép làm việc này, đồng thời khuyến khích nên nghiên cứu kỹ về môn phái Thiền Trúc Lâm, để xác định được các đặc điểm riêng, nếu có, của môn phái này.
 
Giáo sư Phạm Cao Dương hoan nghênh ý tưởng về một dự án Trần Nhân Tông, cho đây là một cơ hội tốt cho việc đẩy mạnh nghiên cứu, nhưng cũng đặc biệt lưu ý đến việc cần phải chú ý đến các nghiên cứu căn bản về lịch sử, dựa trên việc đào tạo và đầu tư lâu dài cho nghiên cứu, đặc biệt cho các nhà nghiên cứu trẻ (với gợi ý có thể trao một giải thưởng riêng cho nghiên cứu), nếu không muốn dự án này sau một thời gian ngắn sẽ bị hụt hơi và để lại những hậu quả đáng tiếc. Ông cũng lưu ý về giai đoạn nhà Trần, bên cạnh Trần Nhân Tông, còn có nhiều nhân vật khác rất đáng được quan tâm. Giáo sư Phạm Cao Dương bày tỏ lo ngại rằng, nếu các hoạt động của Viện Trần Nhân Tông thiên về các mục tiêu chính trị nhất thời, thì hình tượng Trần Nhân Tông có thể bị lợi dụng. Sau khi tham khảo thành phần ban cố vấn và điều hành của Trần Nhân Tông Academy, giáo sư Phạm Cao Dương có nhận xét là, việc gần như vắng bóng các nhà nghiên cứu sử học, lịch sử tôn giáo, triết học, cũng như việc dành ít nội dung cho các nghiên cứu cơ bản có thể khiến cho viện không đạt được sứ mạng đề ra. Giáo sư Phạm Cao Dương cũng đặt vấn đề về sự không phù hợp có thể có, giữa tôn chỉ của giải thưởng với bản chất của tư tưởng Trần Nhân Tông. 
 
Tìm hiểu di sản Trần Nhân Tông :
Cơ hội thức tỉnh hướng thượng cho xã hội Việt Nam
 
Trong báo cáo tham luận tại hội thảo về Trần Nhân Tông đầu năm nay, nhà sử học Dương Trung Quốc đưa chúng ta trở lại các vấn đề đương đại, với nhận định « sau những chiến thắng to lớn với tinh thần độc lập tự do (…) (người Việt Nam) lại không kế thừa được tiếp theo những tư tưởng của Trần Nhân Tông về khoan dung, tha thứ, trong sự hòa hợp, nhất là trong nước ». Một giải thưởng quốc tế về hòa giải và yêu thương mang tên Trần Nhân Tông, như vậy, có ý nghĩa đặc biệt đối với Việt Nam, như một cơ hội hướng thượng để chính xã hội Việt Nam, đặc biệt là những người cầm quyền, đối diện với một sự thực về các đối kháng, bất công trong xã hội, và đối diện với chính mình, hầu tìm cách hóa giải.
 
Một điểm quan trọng khác trong bài phát biểu của nhà sử học Dương Trung Quốc là : « không nên tôn giáo hóa việc này để thấy giá trị phật giáo được trải nghiệm trong thực tiễn Việt Nam qua nhân vật Trần Nhân Tông là giá trị chung mà ở nhiều tôn giáo khác, ở thiên chúa giáo, ở hồi giáo đều có hạt nhân ấy. Nếu chúng ta khai thác được tất cả những hạt nhân tích cực ấy trong mọi tôn giáo, tức là bản chất văn hóa của nó chắc chắn điều ta làm sẽ góp phần vào cái chung và thức tỉnh, dù bắt đầu thức tỉnh bằng sự nhỏ bé. »

Sự thống nhất giữa hoàng đế, thi nhân và thiền gia trong một nhân cách – Trần Nhân Tông – trannhantong.net

24 Th8

Sự thống nhất giữa hoàng đế, thi nhân và thiền gia trong một nhân cách – Trần Nhân Tông

GS.Nguyễn Huệ Chi –PGS. Trần Thị Băng Thanh

Trong mười thế kỷ phong kiến Việt Nam, Trần Nhân Tông là một ông vua giỏi và tài hoa. Lịch sử đã xem ông là “vị vua hiền” thời Trần, có công lớn trong sự nghiệp trùng hưng đất nước. Văn học sẽ nhớ mãi ông bởi những vần thơ thanh nhã, sâu sắc và không kém hào hùng.

Nhân Tông sinh năm Mậu Ngọ (1258), lên ngôi năm Mậu Dần (1278), mới tròn hai mươi tuổi. Nhà Trần lúc này đã bước vào thời kỳ ổn định, đất nước hoà bình, nông nghiệp phát triển, luật pháp thi cử học hành đều đã vào nề nếp,… Một thời kỳ thịnh trị bắt đầu. Song khó khăn đối với ông vua trẻ lại là cái áp lực dồn tới từ phương Bắc. Nhà Nguyên đã diệt xong nước Tống, bắt đầu tính đến Việt Nam, thường xuyên gây sức ép và cuối cùng là hai cuộc xâm lăng năm 1285 và 1287 – 1288 ào ạt, dữ dội hiếm thấy. Trong vòng bốn năm phải đương đầu với hai trận tấn công của “giặc mạnh” có đủ quân thuỷ, quân bộ, quân kỵ và mỗi lần con số đều không dưới 50 vạn không phải là việc dễ, trong khi phần lớn các nước trên cựu lục địa đều đã bị khuất phục nhanh chóng dưới vó ngựa đạo quân Mông Cổ cực kỳ thiện chiến và hung hãn này. Song Trần Nhân Tông đã cố kết được lòng dân, phát huy được năng lực của các tướng, động viên được tài trí của cả nước đánh thắng giặc, giữ vững cương thổ, bảo vệ toàn vẹn nền độc lập cho nước nhà. Vào tháng Tám năm Nhâm Ngọ (1282), khi được tin 50 vạn quân Toa Đô lấy cớ mượn đường đi đánh Chiêm Thành sắp kéo vào bờ cõi, Trần Nhân Tông chủ động “ngự ra Bình Than” tổ chức cuộc “họp vương hầu và trăm quan bàn kế sách công thủ và chia nhau đóng giữ những nơi hiểm yếu”(1). Không chỉ thế. Hai năm sau nữa, vào tháng Chạp năm Giáp Thân, khi được tin Thoát Hoan sắp đưa đạo quân chủ lực hùng mạnh tiến xuống Đại Việt, giữa giờ phút khẩn trương căng thẳng, lại có tiếp một cuộc họp mặt “phụ lão trong nước” ở điện Diên Hồng, “ban yến và hỏi kế đánh giặc”, lần này người đứng ra điều khiển là Thái thượng hoàng Trần Thánh Tông, đã đủ sự tín nhiệm về tuổi tác để đối diện với người tuổi tác, nhưng chắc chắn ông vua trẻ vẫn ở phía sau. Có thể nói đây là hình thức hội họp đầu tiên trong lịch sử chế độ quân chủ nước ta nhằm lấy ý kiến rộng rãi về một vấn đề trọng đại của đất nước, vốn chưa có tiền lệ – mà hình như lịch sử về sau cũng không lặp lại. Quả là hai vua Trần đã có sáng kiến “không tiền tuyệt hậu”, trải lòng mình với trăm họ, khích động được tình cảm muôn dân, làm cho niềm cảm khái trong mọi tầng lớp vương hầu và dân chúng nhanh chóng dâng lên và quy tụ về một mối, từ hành vi bóp nát quả cam trong tay Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản khi không được bàn việc quân ở Bình Than vì tuổi còn quá trẻ, đến việc “các vị phụ lão có mặt [ở thềm điện Diên Hồng, trong cuộc họp sau] đều nhất loạt nói “đánh”, muôn người cùng hô một tiếng, như bật ra từ một cửa miệng”(2). Mầm mống dân chủ của xã hội nhà Trần đã khởi nguồn từ đấy mà ra chăng? Riêng Trần Nhân Tông, trong kháng chiến chống ngoại xâm, đáng được coi là một trong những anh hùng tiêu biểu – anh hùng mà không rọi hào quang ra ngoài. Công lao của vị tướng lĩnh kiệt xuất gánh vác trọng trách quân sự hàng đầu là Trần Quốc Tuấn không thể phủ nhận. Vai trò cố vấn tối cao của Thượng hoàng Trần Thánh Tông cũng khó lòng coi nhẹ. Nhưng ở vị trí một trong hai người nắm giữ quyền lực bậc nhất, lại trẻ trung xông xáo, Trần Nhân Tông mới chính là linh hồn của xã tắc giữa giờ phút cheo leo bên bờ vực thẳm. Bằng phong thái ung dung tự tại trong tầm nhìn và trong phối hợp chỉ đạo nội chính và quân sự, ông đã đem lại cho quân dân nhà Trần niềm tin sắt đá vào thắng lợi cuối cùng.

Những năm sau đó, bước vào công cuộc xây dựng lại đất nước đã bị tàn phá, Nhân Tông một mặt lo tổng kết việc đánh giặc thưởng công, ghi Trung hưng thực lục, một mặt lo tiếp tục đối phó với cuộc tấn công phục thù của địch, vận dụng một cách hoàn thiện cả hai nguyên tắc mềm dẻo và cứng rắn trong nhiều lần vất vả giải quyết các yêu sách ngang ngược của sứ bộ nhà Nguyên, đồng thời lo làm sao cho nước mạnh dân giàu. Hơn mười bốn năm làm vua của ông (1278 – 1293), cũng là suốt cả thời trai trẻ, Nhân Tông đã dành hầu hết tâm sức cho chỉ hai mục tiêu liên thông chặt chẽ với nhau: giang sơn tông miếu vững bềnnhân tâm an lạc. Thông thường, khi một giai đoạn lịch sử đã đóng lại, đời sau dễ phát hiện những ưu khuyết điểm của người xưa, dễ dàng chỉ ra những việc nên làm và không nên làm… Song, nếu nghĩ rằng Trần Nhân Tông thuở đó chỉ mới trên dưới ba mươi tuổi, đã phải gánh vác trách nhiệm quyết định những việc lớn lao liên quan đến chuyện mất còn của cả dân tộc thì mới thấy hết bản lĩnh và tầm vóc của ông. Nhất là khi đối thủ mà ông phải đương đầu chẳng phải một kẻ địch hạng xoàng! Hốt Tất Liệt vốn là một tướng cầm quân lão luyện, giặc Thát lại là một đội quân ngang dọc vẫy vùng từng bách chiến bách thắng khắp từ Âu sang Á. Và sau khi đã làm chủ mảnh đất Trung Hoa, “chúa tể Đại Nguyên” còn tập hợp được cả một đội ngũ đông đảo văn thần người Hán, nhiều người từng là nhà ngoại giao, chính khách sừng sỏ, “tận trung” bày mưu tính kế. Có xét đến những hoàn cảnh cụ thể như vậy mới hiểu hết được tính cách mạnh của Trần Nhân Tông, bộc lộ ra ở cả tư tưởng và việc ông làm, trong nhiều thời điểm có ý nghĩa bước ngoặt lịch sử, rất cần sự quyết đoán, cái nhìn sáng suốt ở một người như ông.

Vào khoảng cuối 1284 đầu 1285 sau khi cuộc chiến lần thứ nhất (tính trong cả ba cuộc là lần thứ hai) diễn ra chỉ mới chừng mươi ngày, mặt trận Khâu Cấp – Nội Bàng đã tan vỡ và đại quân Trần phải lùi về Vạn Kiếp. Trên con thuyền chạy ra Hải Đông tránh mũi dùi tấn công của giặc, giữa lúc quần thần không khỏi hoang mang, Trần Nhân Tông tuy cũng rất lo lắng nhưng khi biết tin các cánh quân của Trần Quốc Tuấn vừa kịp nhóm họp lại, thanh thế đang dần khởi sắc, ông đã viết vào đuôi thuyền hai câu:

Cối Kê cựu sự quân tu ký,    

Hoan, Diễn do tồn thập vạn binh.

(Cối Kê việc cũ ngươi nên nhớ,

Hoan Diễn còn kia mười vạn quân) (3)

Hai câu thơ, có lẽ chỉ nhằm trấn an những bề tôi nào đó cùng đi trên thuyền trong cuộc rút lui khẩn cấp, tuy vậy đã lan truyền rất nhanh như một thông điệp về tinh thần tự chủ kỳ lạ của người cột trụ Triều đình. Một nghìn quân còn lại trên núi Cối Kê của Việt Vương Câu Tiễn ở thời Chiến quốc, ngỡ bị quân Ngô dồn đến chân tường, vậy mà về sau đã lại dấy lên, đánh bại đội quân hùng mạnh của nước Ngô. Gợi một điển tích cũ để bày tỏ niềm tin vững chắc của mình vào triển vọng của đất nước lúc bấy giờ, trong tình thế nghìn cân treo sợi tóc, đồng thời Trần Nhân Tông cũng nhắc người nghe đừng quên mất thực tế là vùng hậu phương Thanh – Nghệ lực lượng hiện vẫn chưa suy suyển. Nhưng còn quan trọng hơn là cái dung lượng triết lý mà câu nói của ông chứa đựng. Với hình thức thi ca chứ không phải chiếu lệnh, Nhân Tông như muốn truyền vào người tiếp nhận cùng lúc nguồn cảm hứng lãng mạn của một thi nhân và con mắt nhìn động của một triết nhân, để họ nhận rõ xu thế chuyển hoá bên trong của cái hiện thực rối bời trước mắt. Một sự kiện Cối Kê sẽ được lặp lại trong cuộc chiến đấu tưởng như rất bất lợi nhưng lại đang diễn ra trên mảnh đất mà chính dân Nam mới đích thực là người chủ còn kẻ địch chỉ là “bất tốc chi khách” – vị khách không mời mà đến, điều ấy cả ông và Trần Quốc Tuấn đều đã lường thấy. Có điều, nếu Trần Quốc Tuấn bày tỏ sự thấy bằng cái cách của con nhà tướng, đem đầu ra đánh cược với Trần Thánh Tông, thì Trần Nhân Tông lại thể hiện nó bằng tầm bao quát tinh xác tương quan lực lượng trên khắp mọi mặt trận khi đó, cả trước mặt mình và khuất xa sau lưng mình. Chưa nói đến đức bình tĩnh hiếm có, chỉ nội dung của lời thông báo cũng đủ chứng tỏ năng lực một con người lãnh đạo kỳ tài.

Cũng với niềm xác tín phi thường như thế ta lại thấy buột thốt ra trong hai câu thơ của Trần Nhân Tông vào ngày khải hoàn, khi ông đến bái yết lăng tẩm ông nội, giữa lúc dấu tích chiến tranh để lại còn ngổn ngang. Hai câu thơ như một âm hưởng vĩ thanh hoà điệu với hai câu thơ trên con thuyền chạy giặc ngày nào mà sự đối lập độngtĩnh ở đây tưởng như ngược với trước, kỳ thực là hoàn toàn thống nhất:

Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã,

Sơn hà thiên cổ điện kim âu.

(Xã tắc hai phen bon ngựa đá,

Non sông nghìn thuở vững âu vàng) (4)

Rõ ràng, cái động nhất thời do kẻ địch gây ra dù có ghê gớm đến đâu cũng đã bị lịch sử bác bỏ. Thực tế đất nước đã vận động đúng như suy đoán tài tình của nhà vua lúc chiến tranh vừa khởi sự để trở lại thế tĩnh cân bằng.

Phải nói, niềm xác tín lịch sử của Trần Nhân Tông có được chính là xuất phát từ cái nhìn hết sức nhân bản đối với người và việc trong thời đại ông. Ông tin ở phẩm chất hướng thiện của mọi con người kinh qua thử thách thực tiễn, hay đúng hơn, ông không hề xem xét con người một cách đơn nhất hoá. Trong hội nghị tướng lĩnh ở Bình Than năm 1282 mà ông đích thân chủ trì như đã nói, khi vừa bắt gặp chiếc thuyền bán than của Trần Khánh Dư – một tướng tài nhưng cũng lắm tật – lướt qua bên đoàn thuyền chiến, Trần Nhân Tông đã có ngay lệnh chỉ tha tội cho Dư, gọi Dư đến và cho được dự vào hàng tướng soái cầm quân(5). Thái độ bao dung của vị Hoàng đế thực không uổng phí: rồi đây Phó tướng Trần Khánh Dư sẽ lập công xuất sắc ở nhiều chiến trận. Thái độ bao dung ấy còn gây được một tâm lý thoáng đạt cởi mở, giúp mọi chi phái quý tộc nhà Trần vốn không phải không có những chia rẽ ngấm ngầm, xích lại gần nhau, để toàn tâm toàn ý sống mái với giặc. Trần Nhân Tông cũng đã không hề băn khoăn hiềm nghi Trần Quốc Tuấn khi giao phó cho Quốc Tuấn trọng trách Quốc công tiết chế thống lĩnh toàn bộ quân đội, tuy ông thừa biết Quốc Tuấn là con trai người anh ruột ông nội mình, tức là dòng trưởng mà lại không được nắm ngôi báu, còn bị “xử ép” trong nhiều chuyện, nên từng khởi loạn. Lòng tin của ông ở đây một lần nữa lại được đáp đền xứng đáng: Quốc Tuấn đã biết tự vượt lên mình, dâng hiến tài năng quân sự thiên phú cho đất nước, đẩy lùi mọi chiến dịch vây ráp ác liệt của quân Nguyên, cuối cùng hất chúng trở lại phương Bắc một cách nhẹ nhàng. Sự trung hậu được đáp lại bằng sự trung hậu, thậm chí còn hơn cả sự trung hậu khi Quốc Tuấn trả lời ông thoải mái trước khí thế hung hăng của kẻ địch kéo cả đoàn thuyền chiến cùng 70 vạn thạch lương sang phục thù lần thứ ba: “Năm nay đánh giặc nhàn”(6). Đánh giặc nhàn không vì quân giặc đã giảm nhuệ khí mà vì sự gắn bó giữa nhân chủ và bề tôi đã đạt đến độ thâm sâu nhất, hoàn toàn thấu rõ bụng nhau. Cũng vậy, sau ngày khải hoàn về Thăng Long (1288), bắt được một hòm thư biểu của không ít quan lại từng vì nao núng mà xin hàng Thoát Hoan, biết tình thế muôn phần gay go của những ngày nước sôi lửa bỏng khiến có lúc xa giá Triều đình cũng phải mặc ai nấy chạy; lại cũng thừa hiểu tâm lý con người thường tục ai mà chẳng có chỗ tham sống sợ chết; nên sau khi đã định công khen thưởng(7), tuân lệnh Thượng hoàng Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông liền cho đốt ngay hòm biểu kẻ thù bỏ lại nhằm “giữ yên lòng người”. Với hành vi “xé bỏ lý lịch” kiểu đó, dám chắc đây là một thời đại nhân hậu vượt lên mọi luật lệ khuôn phép, mà tính đến tận hôm nay có dễ cũng là một thời đại có một không hai.

Chưa phải đã hết. Chính trong những tháng ngày bôn ba đánh giặc, Trần Nhân Tông còn nhận chân ra một sự thực: chỉ ở những đám người “chân đất” mới thực giàu phẩm chất trung thành tận tuỵ mà không chút tính toán so đo. Hộ vệ ông đến cùng chính là “bọn ấy” và cũng chính ông được “bọn ấy” dâng cơm hẩm trên đường rút chạy phải nhịn đói từ sáng đến chiều(8). Nhận thức về cái cao quý của người nghèo hèn đã in sâu vào trực giác của ông nên sau này, trở lại ngai vàng, hễ mỗi lần gặp gia đồng của các vương hầu ông đều ân cần thăm hỏi, “răn bảo vệ sĩ không được thét đuổi họ”(9); khi trị tội những kẻ đã cam tâm làm tay sai cho giặc, ông chủ trương “chỉ lính tráng và dân thường là được miễn tội chết”(10); ông cũng đem những điều chiêm nghiệm đã đúc thành chân lý dụ bảo bề tôi: “Ngày thường thì có thị vệ tả hữu, nhưng khi quốc gia hoạn nạn chỉ có bọn chúng là có mặt”(11). Đấy hẳn là một nhận thức cơ bản trong ý thức nhà vua, có giá trị cao hơn mọi tư tưởng cao siêu nào hết, làm nên bệ đỡ cho cả một thời đại, nói như Trần Quốc Tuấn: “vua tôi chung sức đồng lòng”.

Đối với phần cuối cuộc đời ông vua anh hùng, kể từ sau năm 1293, Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con lên giữ chức Thượng hoàng, rồi vài năm sau ông chính thức xuất gia, trở thành vị tổ thứ nhất dòng Thiền Trúc Lâm, vào tu hạnh đầu đà ở Yên Tử cho đến khi viên tịch năm Mậu Thân (1308), đã có nhiều cách lý giải khác nhau của hậu thế. Ngô sĩ Liên (thế kỷ XV) thì cho là ông đã quá “để tâm rong chơi nơi kinh Phật, tuy nói là siêu thoát, song không phải là đạo Trung dung của thánh nhân”(12). Tăng Hải Hoà tức Nguyễn Đăng Sở (thế kỷ XVIII) lại liên tưởng xa hơn, rằng thực chất Nhân Tông tìm lên Yên Tử là để chọn một vọng gác tiền tiêu bao quát vùng Đông Bắc. Bởi, mặc dầu: “trong nước vô sự nhưng ở phía Bắc vẫn có nước láng giềng mạnh mẽ, chưa được an tâm… Cho nên nhằm được ngọn Yên Tử là núi cao nhất, phía Đông nhìn về Yên Quảng, phía Bắc liếc sang hai tỉnh Lạng, dựng lên ngôi chùa, thời thường dạo chơi để xem động tĩnh, cốt để ngừa cái mối lo nước ngoài xâm phạm. Thật là một vị Vô lượng lực Đại thế chí Bồ Tát (Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh) (13) .

Thoạt nhìn, cả hai lời giải đáp trái ngược xem ra đều có những mặt hữu lý. Tuy nhiên, xét từ phương pháp tư tưởng, cả Ngô Sĩ Liên và Nguyễn Đăng Sở lại cùng chung một nhầm lẫn là chỉ thuần dựa trên những hệ quy chiếu chủ quan, không đếm xỉa gì đến tiến trình tư tưởng nội tại của vị Hoàng đế nhà Trần. Việc Trần Nhân Tông xuất gia vốn là sở nguyện của cả đời ông, phát lộ ngay từ còn trẻ. Từ thuở chưa lên ngôi, có thời gian ông đã quá mải mê với việc giữ gìn giới luật đến nỗi mặt võ mình gầy, Thánh Tông thấy vậy phải nhắc: “Trẫm nay đã già rồi, chỉ trông mong vào một mình con. Nếu con như thế thì cơ nghiệp lớn của tổ tông sẽ ra sao?”(14). Nhờ đấy ông mới hiểu ra phận sự của người con trưởng dòng dõi hoàng gia là “nối nghiệp báu”, phải đặt việc ấy lên trên, và bắt đầu chuyên tâm vào “trị quốc”. Cũng như mọi người con ưu tú của Đại Việt thông hiểu lịch sử, ông không bao giờ quên cảnh giác với mưu ma chước quỷ của “thiên triều” – trừ những kẻ bụng dạ u tối “tài nông đức mỏng” ngẫu nhiên rơi vào chiếc “ghế cầm cân nảy mực”, thời nào cũng vậy – nhưng thiết tưởng ông cần gì làm cái chuyện khoác áo cà sa vào lúc cuối đời để giấu giếm những hoạt động “tình báo” trên đất mình. Cách giải thích “chính trị hoá” của Nguyễn Đăng Sở vì thế khó có thể chấp nhận. Song Trần Nhân Tông đi tu phải chăng là đi tìm siêu thoát? Không! Nếu chỉ tìm đường siêu thoát cớ sao đã đi tu ông còn triệu tập quần thần về Thiên Trường định bàn chuyện phế lập khi bắt gặp Trần Anh Tông say rượu, bỏ bê chính sự (1299)? Hoặc giả, sau khi vân du nhiều vùng miền trong nước, ông còn sang tận Chiêm Thành trong chín tháng trời, xem xét tình hình nước Chiêm và bàn chuyện tác hợp Huyền Trân Công chúa với vua Chiêm Chế Mân (1301)? v.v và v.v.

Chỉ có thể làm sáng tỏ những mắc mớ như trên khi ta đặt Trần Nhân Tông vào trong cùng chuỗi cả một hệ phái Thiền mang nặng cảm thức nhập thế của Việt Nam. Trước Trần Nhân Tông đến hơn 300 năm, Thiền sư Pháp Thuận đã từng khuyên vua Lê Đại Hành: “Vô vi trên điện gácChốn chốn tắt đao binh”. Vô vi, trong nghĩa từ nguyên của thuật ngữ, không phải là không làm gì mà trái lại, làm bất cứ việc gì thuận theo quy luật tự nhiên, hay nói như vua Lý Nhân Tông khuyên Thiền sư Mãn Giác “Không việc gì không làm, chẳng những đắc lực về Thiền định mà cũng có công giúp đỡ nhà nước” (Thiền uyển tập anh). Kế thừa người đi trước, Trần Nhân Tông đã đề xuất phương châm “cư trần lạc đạo” – ở giữa cõi trần mà vui đạo, cũng là một khái niệm vô vi được vận dụng cụ thể hoá trong bối cảnh lịch sử phức tạp và vĩ đại buổi thịnh Trần: “Cư trần lạc đạo thả tuỳ duyên – Cơ tắc xan hề khốn tắc miên – Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch – Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền” / Cõi trần vui đạo hãy tuỳ duyên – Đói cứ ăn no mệt ngủ yên – Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm – Vô tâm trước cảnh hỏi gì Thiền (Cư trần lạc đạo phú) (15). Hãy để ý đến khái niệm  “tuỳ duyên” trong bài thơ kết thúc mười hội của phú Cư trần lạc đạo. Tuỳ duyên là người không khăng khăng giữ lấy một chủ kiến bất chấp hoàn cảnh sống, trái lại biết nắm lấy cơ duyên nó đưa đẩy mình đến những tình thế mình không thể cưỡng, và biết biến cái bị động thành cái chủ động để vẫn giữ được tự thể của mình mà vẫn sống được hết mình. Đó chính là “tuỳ duyên chân như”, là sự chuyển hoá vi diệu giữa bản thể trường tồn và vạn pháp(16). Nhìn ở một góc độ nào đấy thì việc Trần Nhân Tông đã bỏ hai phần ba cuộc đời giữ trọng trách “vỗ yên dân chúng” chính là thuận theo lẽ “tuỳ duyên” rất biện chứng của nhà Phật. Cũng như ông nội và thân phụ, trong tư cách một con người lịch sử ông ý thức được quy luật lịch sử và trách nhiệm trước lịch sử của cá nhân mình. Ông đang thực hiện vô vi ngay trên ngai vàng. Khi ông rời Triều đình lên Yên Tử, con người nhập thế tất nhiên vẫn còn (chứ làm sao triệt tiêu ngay được!). Tuy vậy, lại cũng bởi là người nắm vững hơn ai hết quy luật sinh lão bệnh tử của tự nhiên, Trần Nhân Tông đã biết cách chủ động truyền trọng trách thế sự lại cho Hoàng tử trưởng là Anh Tông kế tục, và mục tiêu vô vi giờ đây là thung dung đi tìm niềm vui của sự “giác ngộ”, cũng là tìm lời giải đáp cho những câu hỏi lớn: Con người là ai? Từ đâu đến và cuối cùng đi đâu? Thế giới có hay không? Thật hay ảo?,… Những câu hỏi ấy loài người đặt ra từ rất sớm, và cũng từ rất sớm con người đã luôn cố gắng tìm câu trả lời. Giống như Thích Ca Mâu Ni tìm ra đáp án thế giới gồm trong “ngũ uẩn”, kể cả tâm cả vật – sắc, thụ, tưởng, hành, thức, chúng ta không loại trừ ở Trần Nhân Tông – giờ đây đã mang pháp danh Trúc Lâm Đại Đầu đà – niềm khát khao được toả sáng trí tuệ theo cách riêng của ông trước những câu hỏi loại này, để từ con người vô minh của nhân thế (Chuộng công danh, lồng nhân ngã, thực ấy phàm ngu Cư trần lạc đạo phú) thật sự trở thành một người tự do, không còn bị thế giới ngoại vật hữu hình câu thúc:

Thuỳ phọc cánh tương cầu giải thoát?

Bất phàm, hà tất mịch thần tiên.

Viên nhàn, mã quyện, nhân ưng lão,

Y cựu, vân trang nhất tháp thiền.

Thị phi niêm trục triêu hoa lạc,

Danh lợi tâm tuỳ dạ vũ nhàn.

Hoa tận vũ tình, sơn tịch tịch,

Nhất thanh đề điểu hựu xuân tàn.

(Sơn phòng mạn hứng)

(Ai trói buộc chi tìm giải thoát?

Khác phàm đâu phải kiếm thần tiên.

Vượn nhàn ngựa mỏi, ta già lão,

Như trước, am mây chốn toạ thiền.

Phải trái rụng theo hoa buổi sớm,

Lợi danh lạnh với trận mưa đêm.

Hoa tàn, mưa tạnh, non im vắng,

Một tiếng chim kêu, xuân cỗi thêm) (17)

 

nhờ đó ít nhiều ông xây đắp cho Thiền phái Trúc Lâm một cơ sở triết thuyết nó là nền tảng vũ trụ quan và nhân sinh quan của xã hội thời thịnh Trần.

Kiên trì gầy dựng một hệ phái Phật giáo thống nhất trong cả nước, cả về mặt tổ chức, giáo lý, cách thức đào tạo, truyền nối, lại chủ trương tách sinh hoạt tôn giáo ra khỏi sinh hoạt chính trị, mở cho Phật giáo một không gian tâm linh khoáng đãng, tự do ở nơi rừng núi, không bị quyền lực nhà nước chi phối, lấy cả một vùng Yên Sinh – Yên Tử làm nơi quy tụ,… Về phương diện này nữa, gương mặt Trần Nhân Tông cũng phản ánh tầm vóc của một thời đại lớn trong lịch sử.

*

*    *

Theo sử sách còn ghi được, Trần nhân Tông là tác giả các tập thơ sau đây: Trần Nhân Tông thi tập, Đại Hương Hải ấn thi tập, Tăng già toái sự, Thạch thất mỵ ngữ. Tuy vậy, sau bao nhiêu phen dâu bể của chiến tranh, loạn lạc, số tác phẩm trên đều đã mất. Hiện thơ ông chỉ còn giữ được 31 bài, hai cặp câu thơ lẻ, một bài minh và một bài tán, chép trong các tuyển tập. So với nhiều nhà thơ khác thời Lý – Trần, số lượng ấy kể cũng đã không phải là nhỏ. Do điều kiện sống phải phân thân thành hai chủ thể: một con người nhập cuộc và một con người xuất thế, thơ Trần Nhân Tông cũng mang hai loại cảm hứng khác nhau: cảm hứng thế tục và cảm hứng Thiền. Tuy nhiên, do quãng đời phải chấp nhận “sống giữa cõi trần mà vui đạo” trong ông khá dài, nên ở nhiều bài thơ, cảm hứng Thiền và cảm hứng thế tục vẫn thường xoắn quyện với nhau, khó lòng tách bạch.

Thời gian xen giữa mấy cuộc chiến tranh và cả sau chiến tranh, Trần Nhân Tông trong vai nhân chủ phải gánh vác trọng trách triều chính rất nặng. Ông thường xuyên tiếp sứ Nguyên mà như ta biết đấy là một công việc hết sức vất vả, phải huy động tài năng của những bậc trưởng thượng bấy giờ cùng giúp sức để đối phó với đám chính khách sừng sỏ từ bên kia phái sang, được lệnh “thiên triều” luôn luôn gây khó dễ, đòi hỏi từ nghi lễ này đến nghi lễ kia, hoạch sách hết khoản này sang khoản khác, như Trần Quốc Tuấn tố cáo trong Dụ chư tỳ tướng hịch văn: “Lén nhìn sứ nguỵ đi lại nghênh ngang ngoài đường. Uốn tấc lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tể phụ. Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham không cùng; khoác hiệu Vân Nam vương mà hạch sách bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn”(18). Nhưng lạ thay, thơ tiếp sứ và tiễn sứ của các văn nhân thời Trần đều trong sáng, gửi gắm những ý tình sâu kín và thái độ nhũn nhặn, như thơ Trần Quang Khải. Riêng Nhân Tông, ông có đến 5 bài thơ tặng và tiễn sứ, giọng điệu thuỷ chung rất mực ân cần. Cũng có một đôi câu có chút khách sáo, nhưng đó dường như là ước lệ không tránh được của loại thơ ngoại giao mà chẳng cứ Trần Nhân Tông đều phải dùng, ngoài ra bài nào cũng mang hàm nghĩa sáng rõ, bộc lộ tình cảm đôn hậu của tác giả:

Thiều tinh lưỡng điểm chiếu thiên Nam,

Quang dẫn thai triều dạ nhiễu tam.

Thượng quốc ân thâm tình dị cảm,

Tiểu bang tục bạc lễ đa tàm.

                                (Tống Bắc sứ Ma Hợp, Kiều Nguyên Lãng)

(Trời Nam sao sứ chiếu hai ngôi,

Dẫn lối ba vòng, đêm sáng soi.

Bên ấy, ơn sâu tình cảm động,

Nơi đây lễ bạc, thẹn sơ sài)(19)

Điều đáng nói là sự đôn hậu chân tình khác với loại thơ tâng bốc. Không hề thấy một lời nào tỏ ra Trần Nhân Tông khiếp uy “thiên triều”. Năm 1291, Thượng thư Trương Hiển Khanh tức Trương Lập Đạo, sang sứ Việt Nam, vẫn với mục đích cố hữu như các vị sứ trước: dụ vua Trần sang chầu, mà nếu bị từ khước, ngay năm sau Hốt Tất Liệt sẽ động binh lần thứ tư. Nhân Tông và triều đình Trần cố nhiên phải tìm cách “hoá giải” cơn giận của vị chúa tể nước lớn để sự khước từ là một nguyên tắc bất biến không gây đổ vỡ. Trương Hiển Khanh được tiếp đón nồng hậu trong dịp ấy, được chứng kiến cái Tết mồng ba tháng Ba ở Thăng Long và được Nhân Tông tặng một mâm bánh kèm theo một bài thơ ý nhị:

Giá chi vũ bãi thí xuân sam,

Huống trị kim triêu tam nguyệt tam.

Hồng ngọc đôi bàn xuân thái bính,

Tòng lai phong tục cựu An Nam.

(Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính)

(Múa giá chi rồi, thử áo xuân,

Hôm nay hàn thực, buổi thanh thần.

Bánh rau, xuân sắc đầy mâm ngọc,

Nước Việt tục này theo cổ nhân) (20)

Lời thơ rất khiêm nhường nhưng không một câu chữ nhún nhường. Cả bài là một bức tranh rực rỡ về lễ hội, có điệu múa cổ dân gian đi liền với việc người dân nô nức mặc áo mới, có mâm cỗ đầy nhiều màu sắc thanh đạm mà tươi tắn. Câu kết như một lời nhắn gửi lễ độ đến vị khách: phong tục nước chúng tôi vốn có từ xưa như thế đấy. Trần Nhân Tông không hề đưa ra một lời bình nào nhưng bằng sự sắp xếp hình ảnh cuốn theo nhau trong một hoạt cảnh sinh sắc, đã làm hé lộ cả một chiều sâu văn hoá. Quả nhiên, Trương Hiển Khanh ít nhiều bị thuyết phục. An Nam chí lược quyển XVII, chép được một bài thơ ông ta làm hoạ đáp nhà vua trong dịp này: “An Nam tuy tiểu văn chương tạiVị khả khinh đàm tỉnh để oa” (Nước An Nam tuy nhỏ nhưng có văn chương – Chưa thể nói một cách nông cạn họ là ếch ngồi đáy giếng) (21)  

Trần Nhân Tông là người đã đi hầu khắp đất nước. Trước khi đến với Yên Tử ông đã sống cuộc đời thật sự sôi động và vương giả. Trong thơ ông còn dấu ấn của những chặng đường đời ấy. Có những vần thơ hào hùng về những ngày ruổi rong đánh giặc, cũng có những vần thơ “chinh Tây” ngay sau khi vừa đuổi xong giặc Bắc, không đừng được phải ra đi mà lòng cứ trăn trở về hiệu quả đích thực của hành động chinh phạt do mình chủ xướng, bất giác thấy rầu rĩ, nhớ về nơi cung điện, đâm ra quý cuộc sống nhàn nhã, không bị luẩn quẩn vì chiến tranh. Âm hưởng bài thơ dõng dạc ở phần đầu nhưng phần cuối lại chùng xuống, từ hướng ngoại chuyển sang hướng nội:

Cẩm phàm khinh sấn lãng hoa khai,

Bồng để yêm yêm thủ bất đài.

Tam giáp mộ vân vô nhạn đáo,

Cửu Than minh nguyệt hữu long lai.

Thê lương hành sắc thiêm cung mộng,

Liêu loạn nhàn sầu đáo tửu bôi.

Hán Vũ phiên chiêu cùng độc báng,

Nam nhi cấp cấp nhược vi tai.

(Tây chinh đạo trung)

(Buồm gấm vèo bay hoa sóng tung,

Đầu nghe mỏi mệt dưới mui bồng.

Mây chiều Tam Giáp trông: không nhạn,

Trăng sáng Cửu Than thấy: có rồng.

Quạnh quẽ dặm xa mơ điện cũ

Vấn vương sầu lắng thấm ly nồng.

Hán hoàng mang tiếng say chinh chiến,

Lật đật nam nhi có uổng công?) (22)

Thơ Trần Nhân Tông ngôn từ giản dị và súc tích, đặc biệt cách tạo dựng hình ảnh làm toát lên cái không khí của cảnh tượng khiến mình cảm xúc thì ít nhà thơ nào có thể sánh. Về thăm lăng tổ phụ ở Long Hưng, cái vẻ tôn nghiêm của đế miếu gây phấn khích nơi ông. Ông liền vẽ lên bằng vài nét: nghìn quân lính đứng vác giáo nghiêm mật và trăm quan dàn hàng trước lăng, áo mũ đồng đều. Tuy nhiên, giá thử không có thêm một mái đầu bạc trắng của người lính già say sưa nói về trận chiến oanh liệt mà mình từng theo Thượng hoàng Trần Thái Tông trực tiếp xông pha đầu mũi tên ngọn giáo từ mấy chục năm về trước, thì không khí tôn nghiêm kia vẫn chưa thật có hồn, mới là cái vẻ hình thức bề ngoài mà chưa phải là “uy linh” từ xưa vẫn còn hiển hiện. Nhà thơ đã biết dồn bút lực cho một điểm xuyết thần tình ấy:

Tỳ hổ thiên môn túc,

Y quan thất phẩm chung.

Bạch đầu quân sĩ tại,

Vãng vãng thuyết Nguyên Phong.

(Xuân nhật yết Chiêu lăng)

(Giáo đòng nghìn cửa mật,

Áo mũ, bảy phẩm chung.

Người lính già đầu bạc,

Kể mãi chuyện Nguyên Phong) (23)

Cũng có những chuyến đi mang lại cho nhà thơ ấn tượng tinh tế mà ấm áp, chẳng hạn một buổi chiều thanh bình ở phủ Thiên Trường, nó cho ta cảm giác về một vùng quê an lạc rất đỗi quen thuộc, song không phải lúc nào cũng có được:

Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên,

Bán vô bán hữu tịch dương biên.

Mục đồng địch lý quy ngưu tận,

Bạch lộ nhất song phi hạ điền.

(Thiên Trường vãn vọng)

(Xóm trước, thôn sau tựa khói lồng,

Bóng chiều dường có lại dường không.

Mục đồng sáo vẳng trâu về hết,

Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng)(24)

Ta để ý bài thơ tả cảnh một buổi chiều ở thôn quê nhưng dường như cũng là cách giải đáp một câu hỏi đã vấn vương rất lâu trong lòng tác giả về cái “hữu” và cái “vô“ của cuộc đời trước mắt. Hai câu đầu, buổi chiều hiện ra trong trạng thái “tĩnh” và mờ mờ ảo ảo bởi một làn khói bao phủ khiến người ngắm cảnh giằng mắc rất lâu trong cái cảm giác lẫn lộn giữa “không” và “có”. Nhưng chợt từ xa hình ảnh một chú bé chăn trâu đi gần lại với tiếng sáo véo von, đánh thức tri giác rõ rệt về cái “có” – sự hiện hữu muôn đời của làng quê Việt Nam. Thêm vào đấy lại là một đàn cò trắng lấp loáng bay xuống giữa cánh đồng. Cái “hữu” lần lượt đánh bạt cái “vô“ thì cũng chính là trước mắt người ngắm cảnh, cái “động” đang thay thế cho cái “tĩnh”. Sự kết hợp tài tình của màu sắc, thanh âm xen kẽ, nối tiếp nhau, đưa nhà thơ từ không gian hư ảo đến không gian hiện thực. Cảm quan Thiền mới nhú ra trong lòng ông đã sớm được cảm quan thế tục thức tỉnh(25).

Nhưng Trần Nhân Tông sẽ trở lại với những trầm tư Phật giáo trong nhiều lần ngao du khác. Vào một dịp đi chơi động Vũ Lâm cuối mùa thu, ông viết:

Hoạ kiều đảo ảnh, bán khê hoành,

Nhất mạt tà dương thuỷ ngoại sinh.

\Tịch tịch thiên sơn hồng lạc diệp,

Thấp vân như mộng, viễn chung thanh.

(Vũ Lâm thu vãn)

(Lòng khe in ngược bóng cầu hoa,

Hắt sáng bờ khe, vệt nắng tà.

Lặng lẽ nghìn non rơi lá đỏ,

Mây giăng như mộng, tiếng chuông xa)(26)

Lần này, khung cảnh buổi chiều mùa thu không bị ngăn che bằng một làn khói nào nhưng lại được nhà thơ quan sát từ góc nhìn phản chiếu qua một con khe, ở đó cái gì cũng đảo ngược: bóng cầu, vệt nắng,… rất đẹp nhưng đều có vẻ là ảo ảnh. Điểm thêm vào đó còn bóng mây từ trên cao sà xuống khiến người xem mất cảm giác về thực tại mà như đang sống trong mộng, có thêm bao nhiêu lá đỏ rơi nhè nhẹ và tiếng chuông vẳng tới từ rất xa. Cũng vẫn là sự phối trí thật đặc sắc giữa màu sắc và âm thanh nó làm biến đổi cái nghĩa ngoại tại của lời thơ và tạo nên một không gian tâm linh đầy huyền hoặc, và tước bỏ trong ta cả ý niệm về thời gian. Sự đan bện giữa cảm hứng Thiền và cảm hứng thế tục ở Trần Nhân Tông thật rõ ràng.

Nhân Tông còn có không ít vần thơ về quãng đời ở trong cung, khi ông còn là bậc chúa tể, “lòng còn ở trong trăm hoa mỗi khi xuân đến” (Nhất xuân tâm tại bách hoa trungXuân vãn). Đó là những vần thơ tươi trẻ, thể hiện trạng thái xốn xang bất ngờ nhận ra mùa xuân về từ lúc nào không hay, khi chợt nhìn thấy những cánh bướm phấp phới bên khóm hoa:

Thuỵ khởi khải song phi,

Bất tri xuân dĩ quy.

Nhất song bạch hồ điệp,

Phách phách sấn hoa phi.

(Xuân hiểu)

(Ngủ dậy, ngỏ song mây,

Xuân về vẫn chửa hay.

Song song đi bướm trắng,

Phấp phới sấn hoa bay) (27)

Bài thơ duy nhất có một hình ảnh, nhưng là hình ảnh động: cánh của một đôi bướm đang đập. Sự dụng công của nhà thơ là từ động tác có vẻ rối rít của màu trắng lấp loá trên những đôi cánh bướm bỗng bật lên tiếng động của âm hưởng: phách phách, và nó chính là ảnh xạ niềm vui bất ngờ hiện lên thành tiếng trong lòng người.

Trần Nhân Tông có khá nhiều bài cùng chủ đề mùa xuân ở trong cung, hình như mùa xuân gây ám ảnh cho ông nhiều nhất. Ông đón nó với tất cả sự nồng say của tuổi trẻ:

Hoan bá kiêu sầu phong vị trường,

Đào sinh, trúc đạm, ổn long sàng.

Nhất thiên như thuỷ, nguyệt như trú,

Hoa ảnh mãn song, xuân mộng trường.

(Nhị nguyệt thập nhất dạ)

(Rượu tưới sầu tan, vị đậm đà,

Giường rồng chiếu trúc, trải bày ra.

Trời trong như nước, trăng vằng vặc,

Giấc mộng xuân dài dưới bóng hoa) (28)

Cũng ở trong cung, con người tinh tế của Trần Nhân Tông đã không bỏ qua một tiếng thở dài, dù lẩn khuất đâu đây, của lớp người vốn sinh ra chỉ để phục dịch, “trang trí” cho ông: người cung nữ. Họ buồn vì sự trống trải, họ oán giận “Đông quân” thờ ơ với họ, nhưng dù vậy họ vẫn khao khát chờ đợi một chút ân sủng của vị chúa “trăm hoa” mà họ biết, với thân phận nhỏ mọn, mình không có quyền ra mặt đòi hỏi:

Thuỵ khởi câu liêm khán trụy hồng,

Hoàng ly bất ngữ oán Đông phong.

Vô đoan lạc nhật Tây lâu ngoại,

Hoa ảnh chi đầu tận hướng Đông.

                                                  (Khuê oán)

(Tỉnh giấc rèm nâng, ngó rụng hồng,

Hoàng oanh im tiếng, giận Đông phong.

Lầu Tây vô cớ, vầng dương lặn,

Cả bóng hoa cành ngả hướng Đông) (29)

Mặt khác, sự cảm thông với “người trong cuộc” của nhà thơ lại cũng hé mở một phương diện sống khác của Trần Nhân Tông: ông không phải là một ông vua ham tìm kiếm những cuộc truy hoan. Mặc dù sống giữa ba cung sáu viện, không thiếu gì thú tiêu khiển, quanh mình đầy hương sắc, nhưng ông vẫn dành cho bản thân những buổi yên tĩnh nơi viện sách; ở đây sách, đèn, người và trăng như một thế giới của riêng ông:

Bán song đăng ảnh, mãn sàng thư,

Lộ trích thu đình dạ khí hư.

Thuỵ khởi châm thanh vô mịch xứ,

Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ

                                                           (Nguyệt)

(Nửa song đèn sáng, sách đầy giường,

Đêm lạnh sân thu khí đượm sương.

Thức dậy tiếng chày đâu chẳng biết,

Trên cành hoa mộc ánh trăng vương) (30)

Bài thơ nói về trăng song nhà thơ cũng cho ta hiểu thêm một đam mê khác: đọc sách, học hành. Cả lĩnh vực này nữa, ông cũng là người nghiêm túc, miệt mài. Đêm mùa thu lạnh, ông vẫn chong đèn nghiền sách đến khuya và chợp mắt trong tư thế làm việc – đèn vẫn sáng. Khi tỉnh lại đêm vẫn còn khuya, cả không gian im ắng, chỉ có mảnh trăng cuối tháng lửng lơ trên đầu cây quế và tiếng chày mơ hồ từ đâu vẳng lại báo hiệu sự sống nhân gian ngoài kia vẫn đang tiếp diễn. Nếu nói rằng trong thơ có hoạ thì các bài thơ này là những bài đạt đến trình độ ấy.

Tâm hồn nhạy cảm của Trần Nhân Tông còn dành cho nhiều sự vật khác, gần xa xung quanh vườn ngự. Nhưng ta bỗng nhận ra, trong những ngày còn sống giữa cung đình, hình như từ lúc nào không biết vị vua mê say lý thuyết “sắc không” từ nhỏ đã chuyển sang thú vui “ngộ đạo” thay cho những thú vui phàm trần. Dấu hiệu lộ ra không phải ở chỗ lòng ông nguội lạnh với hoan lạc, chỉ biết đắm đuối vào đèn sách. Cái chính là ông ngày càng trở nên “vô tâm”, đúng như một vế quan trọng thứ hai trong bài thơ kết thúc Cư trần lạc đạo phú: Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền / Vô tâm trước cảnh hỏi gì Thiền. “Vô tâm”, theo quan niệm nhà Phật, là vô tâm tưởng, tức là để cho tâm yên tĩnh, “ngừng lại trong nhất thời các hoạt động của tâm thức”, chỉ còn xử lý mọi việc như một thói quen mà mình không để ý, cái đó giúp người ta lìa bỏ vọng niệm đi nhanh đến sự giác ngộ(31). Hai bài thơ khác cùng tả cảnh xuân của ông cho thấy sự “vô tâm” ngày một chi phối tâm trạng nhà thơ. Một bài là lời chiêm nghiệm về quá trình đổi thay của tâm thức thông qua từng lứa tuổi thấm hiểu dần lẽ “sắc không” nó khiến ông khám phá được “vẻ mặt thật” của Chúa xuân chẳng qua chỉ là cái “sắc” nhất thời chứ không mãi mãi quyến rũ yêu kiều như thuở tóc còn xanh mình vẫn hằng mơ tưởng:

Niên thiếu hà tằng liễu sắc không,

Nhất xuân tâm tại bách hoa trung.

Như kim kham phá Đông hoàng diện,

Thiền bản bồ đoàn khán truỵ hồng.

(Xuân vãn)

(Tuổi trẻ chưa tường lẽ sắc không,

Xuân sang, hoa nở, rộn tơ lòng.

Chúa xuân nay đã thành quen mặt,

Nệm cỏ ngồi im ngó rụng hồng) (32)

Một bài nữa là sự đối diện với cảnh xuân ngay trước thềm rồng mà nhà thơ là người đón khách để rồi cùng với khách hướng tâm hồn đi tận đâu đâu:

Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì,

Hoạ đường thiềm ảnh mộ vân phi.

Khách lai bất vấn nhân gian sự,

Cộng ỷ lan can khán thuý vi.

(Xuân cảnh)

(Chim nhẩn nha kêu liễu trổ dày,

Thềm hoa chiều rợp áng mây bay.

Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế,

Cùng tựa lan can nhìn núi mây) (33)

Một cảnh xuân được chấm phá bằng vài nét, không có hoa đào, không có tiếng pháo, không có gì hết, chỉ có duy nhất mấy tiếng chim kêu chậm rãi trong bụi liễu đang trổ hoa, có cái hình ảnh động duy nhất của một bóng mây trôi trên bầu trời làm rợp cả thềm son, và có sự góp mặt không lời của hai con người – chủ và khách, họ không cần biết đến sự hiện diện của nhau, bởi cùng đang để hết tâm trí vào một điểm vô định nào nơi cõi mờ ảo của mây và núi. Một cảnh sắc xuân đơn sơ, thanh đạm mà lưu lại trong người đọc muôn ngàn vương vấn. Chủ thể sáng tạo không dùng đến lý tính, chỉ bằng trực giác đột ngột gợi thức ta, đưa ta rời bỏ tục niệm để cùng đi vào cái miên viễn của thời gian và cái mênh mông vô tận của đất trời, trong những phút giây mà cả vũ trụ và con người đều đang chuyển hoá. Trần Nhân Tông đã “ở giữa cõi trần mà vui đạo” như thế đó.

Một bài thơ khác nói đến hoa mai hình như làm vào lúc nhà thơ đã rời bỏ cung cấm. Có biết bao thi sĩ phương Đông đã vịnh hoa mai nhưng Trần Nhân Tông vẫn đến với hoa mai bằng những rung cảm riêng, vừa thâm trầm sắc sảo, vừa tình tứ nồng nàn:

Ngũ xuất viên ba kim niễn tu,

San hô trầm ảnh hải lân phù.

Cá tam đng bạch chi tiền diện,

Tá nhất biện hương xuân thượng đầu.

Cam lộ lưu phương si điệp tỉnh,

Dạ quang như thuỷ khát cầm sầu.

Hằng Nga nhược thức hoa giai xứ

Quế lãnh thiềm hàn chỉ má hưu!

(Tảo mai 1)

(Tròn xoe năm cánh nhụy vàng tươi,

Lấp lánh san hô, vẩy bạc phơi.

Cành trĩu ba đông, treo trắng xoá,

Lơ thơ xuân sớm, thoảng hương trời.

Bướm mơ tỉnh giấc: sương thơm nức,

Chim khát kêu thương: ánh nước ngời.

Nếu biết trần gian hoa đẹp thế,

Cung Thiềm lạnh lắm chị Hằng ơi) (34)

Trong truyền thống thơ xưa người ta thường khai thác ở cây mai vẻ cứng rắn, bất chấp gió sương, song Trần Nhân Tông chỉ cực tả vẻ đẹp hồn nhiên của những cánh hoa mỏng mảnh, một vẻ đẹp tinh khiết mà lung linh, hấp dẫn: cánh trắng điểm nhị vàng, óng ánh như bóng san hô chìm, như vây cá nổi; khi nở rộ thì trắng vườn, toả hương thơm dịu ngọt, khi hết mùa còn lại vài bông thì e ấp đầu cành,… Những bông hoa mai tưởng chừng giơ tay là động đến kỳ thực lại chưa hẳn thế. Suốt ba tháng đông, hoa khoe sắc, thu hút cảm giác vạn vật, thách thức cả cây quế cung thiềm; thế mà chỉ qua vài hôm, mùa xuân chợt đến là màu trắng rạng rỡ đã tan biến đi như một phép lạ. Những đoá hoa mai gần gũi nhưng thật xa vời! Hương thơm của hoa làm cho bướm si mê phải giật mình tỉnh giấc; sắc hoa hoà ánh trăng loang loáng như nước làm cho con chim đang khát cháy cổ thêm buồn rầu; cành mai tươi đẹp rơi vào giấc mộng cố nhân khiến cho người tỉnh giấc càng bâng khuâng vì hoa chỉ là hoa trong mộng! Trần Nhân Tông đã viết những vần thơ độc đáo có một về hoa mai. Các nhà am hiểu Thiền học có thể khen Tảo mai là bài thơ Thiền đặc sắc. Bởi lẽ ở đây “cái sắc” và “cái không” quyện vào nhau bao nhiêu thì cái ham muốn và cái nhận được lại cách xa nhau bấy nhiêu. Dường như bài thơ là một lời chỉ dẫn cho đệ tử về lẽ “vô thường” của vạn vật để từ đó biết hạn chế những dục vọng trong cuộc đời! Thế nhưng nếu bằng những cảm xúc hoàn toàn thế tục, người đọc cũng không thể phủ nhận giá trị thẩm mỹ tuyệt tác của những vần thơ này và cũng như tác giả bỗng xúc động bâng khuâng trước vẻ đẹp của những cành mai nở sớm. Có thể tin đây là mai Yên Tử bởi vì đằng sau những cành mai không thấy bóng dáng một toà lâu các, một cánh rèm hoa hay những khách công hầu, những trang mỹ nữ mà chỉ có mây quan ải, trăng xóm đồi, băng trên sông và tấm lòng bạn cũ. Tuy là hoa mai Yên Tử song cảm giác về nó lại không kém thế tục. Thơ Nhân Tông như thế là vừa đạo vừa đời.

*

*    *

Nhìn chung lại Trần Nhân Tông là một con người toàn vẹn và một tài năng đa dạng. Trong ông có bản lĩnh quả quyết của một người cầm chịch quốc gia chững chạc, có cái sắc bén, thung dung của một nhà chính trị, ngoại giao, có sự sâu sắc thâm trầm của một nhà Thiền học và quán xuyến tất cả là lòng nhân ái, đôn hậu, yêu nước nồng nàn,… của con người Việt Nam cùng với một hồn thơ nhạy cảm. Trong thời thịnh Trần, ông xứng đáng là một cây bút thơ có phong cách và cũng là một đỉnh cao. Viên Mai, một nhà lý luận về thơ nổi tiếng của Trung Quốc cổ đại, khi bàn về thơ có nói: “Thơ nên phác, không nên xảo, nhưng phải là cái chất phác của sự tuyệt xảo. Thơ nên đạm không nên nồng nhưng phải là cái đạm sau khi đã nồng”(35). Nhiều bài thơ của Nhân Tông đã đạt đến cái chất phác của sự “tuyệt xảo” và cái vị đạm “sau khi nồng” ấy. Có điều, ngay cả những bài sắp đặt ngôn từ khéo léo như Quỹ Trương Hiển Khanh xuân bính, Xuân nhật yết Chiêu lăng… hay những bài mang hương vị nồng khá rõ như Xuân hiểu, Tảo mai,… chắc gì đã thua kém những bài thơ “phác” và “đạm” khác của ông. Phải nói ông không chủ trương phác hay xảo, nồng hay đạm mà hoàn toàn “tuỳ duyên” và “vô tâm”, vì thế đã đạt tới sự thẩm thấu – phác đấy mà lại cũng xảo đấy, nồng trong khi đạmđạm ngay cả khi nồng.

(Gương mặt văn học Thăng Long, bộ mới do Nguyễn Huệ Chi chủ biên, NXB Hà Nội, 2010; tr. 146 – 169)

N.H.C. – T.T.B.T.

Chú thích

([1]) Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Cao Huy Giu dịch. NXB Khoa học xã hội, in lần thứ hai, H., 1971; tr. 52.

(2) Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Cao Huy Giu dịch. 1971, Sđd; tr. 50.

(3) Đào Phương Bình dịch. Thơ văn Lý Trần, Tập II, Q. thượng, NXB Khoa học xã hội, H., 1989.

(4) Trần Trọng Kim dịch. Việt Nam sử lược, Nhà in Trung Bắc tân văn, H., 1920. In lại trong Thơ văn Lý Trần, Tập II,  Q. thượng, 1989, Sđd.

(5) Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Cao Huy Giu dịch. 1971, Sđd; tr. 52 – 53.

(6) Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Q. V; tờ 52a. Nguyên văn: 今 年 賊 閑 (Kim niên tặc nhàn).

(7) Trong cuốn Trần Nhân Tông toàn tập, NXB TP. HCM, 2000, nhà nghiên cứu Lê Mạnh Thát cho rằng trong lần định công khen thưởng này “Đỗ Hành, người bắt được Ô Mã Nhi tại trận thuỷ chiến Bạch Đằng, đã không được tước cao, vì đã không đem Ô Mã Nhi dâng cho Trần Nhân Tông mà lại đem dâng cho Thượng hoàng Trần Thánh Tông”, và “Hưng Trí vương Nghiễn không được thăng trật do hăng say đón đánh bọn giặc Nguyên trên đường tháo chạy về nước sau khi đã có lệnh của vua Trần Nhân Tông không được cản trở chúng”, những sự việc ấy “muốn xác định cho ta biết ai là người lãnh đạo tối cao của đất nước” (tr. 160). Chúng tôi nghĩ, hai sự kiện đã nêu chỉ là nằm trong quy chế triều đình lúc bấy giờ vốn đã được định sẵn mà thôi chứ nếu là bằng chứng của cái uy quyền tối thượng của Trần Nhân Tông thì nó lại cũng sẽ là một bằng chứng khác cho thấy tầm vóc và nhân cách Trần Nhân Tông không cao mà thấp hơn ta tưởng, vì ông tham quyền và cố chấp, ganh tỵ với cả thân phụ mình. Thực ra, theo nguyên tắc thế tập của nhà Trần, vua là người trực tiếp cầm quyền điều hành triều chính nhưng Thái thượng hoàng mới là người có quyền lực cao nhất. Cần nhớ rằng người điều khiển cuộc định công ban thưởng quân dân sau chiến thắng năm 1288 cũng là Trần Thánh Tông chứ không phải Trần Nhân Tông. Chủ trương đốt bỏ hòm biểu của những vương hầu hàng giặc cũng là Trần Thánh Tông, những lệnh chỉ trị tội Trần Khánh Dư khi ông thua trận Vân Đồn, và tiếp đấy tha tội cho ông sau khi ông lập công đánh tan thuyền lương Trương Văn Hổ đều là do Trần Thánh Tông ban bố, và ngay Đại Việt sử ký toàn thư cũng không hề nói Trần Nhân Tông hay Trần Thánh Tông là người đưa ra quyết định không truy đuổi tiếp đội quân Nguyên rút theo đường bộ nữa. Bởi vậy, việc ban thưởng cho các tướng đến bậc nào và ai không được ban thưởng không tuỳ tiện theo ý cá nhân Trần Nhân Tông được.

(8) Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Cao Huy Giu dịch. 1971, Sdd; tr. 55: “Lúc đó, vua ngự thuyền nhẹ ra lộ Hải Đông, ngày đã gần chiều, chưa ăn cơm sáng. Có người tiểu tốt là Trần Lai dâng cơm gạo hẩm, vua khen là trung, ban cho chức Thượng phẩm, kiêm chức Tiểu tư xã xã Hữu Triều Môn ở Bạch Đằng”.

(9), (10), (11) Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Cao Huy Giu dịch. 1971, Sdd; tr. 75, 71.

(12) Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ, Q. V; tờ 38b. Nguyên văn: 然 游 心 釋 典 。雖 曰  超  脫 而 非  聖 人  中 庸 之 道 也  (Nhiên du tâm Thích điển, tuy viết siêu thoát nhi phi thánh nhân Trung dung chi đạo dã)

(13) Thơ Văn Ngô Thì Nhậm, Tập I, NXB Khoa học xã hội, H., 1978; tr. 101 – 102.

(14) Thánh đăng ngữ lục, xã Liễu Chàng in năm Tự Đức thứ nhất (1848), A. 2596. Truyện Trần triều Nhân Tông Hoàng đế.

(15) Nguyễn Huệ Chi dịch. Thơ văn Lý Trần, Tập II, Q, thượng, 1989, Sđd.

(16) Nguyên văn rất dài không thể trích lược trong vài dòng. Xin xem Phật học đại từ điển 佛 學 大 辭 典, Hoa tàng Phật giáo đồ thư quán tái bản, Đài Bắc, 1989; tr. 2696 – 2697.

(17) Đỗ Văn Hỷ dịch. Thơ văn Lý Trần, Tập II, Q. thượng, 1989, Sđd. Có hiệu chỉnh.

(18) Nguyễn Huệ Chi dịch. Thơ văn Lý Trần, Tập II, Q. thượng, 1989, Sđd.

(19) Trần Lê Văn dịch. Thơ văn Lý Trần, Tập II, Q. thượng, 1989, Sđd.

(20) Trần Lê Văn dịch. Thơ văn Lý Trần, Tập II, Q. thượng,1989, Sđd. Có hiệu chỉnh.

(21) 安 南 雖  小 文 章 在 。未 可 輕 談 井  底 蛙. Trần Kinh Hoà dịch thành thơ là: “An Nam tuy nhỏ văn chương thịnh Ếch giếng khuyên đừng chế giễu ngoa”. Hai câu này lại được lặp lại trong bài thơ của Lương Tằng 梁 曾  sang sứ nước ta năm 1293 sau Trương Lập Đạo hai năm. Xem thêm An Nam chí lược, Trần Kinh Hoà khảo đính và dịch, NXB Thuận Hoá và Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây tái bản có chỉnh lý, 2002; tr. 301, 309 và 514. Cần nói thêm là Thượng thư Trương Lập Đạo lúc đầu có thái độ rất hống hách. Trong khi ông ta đang ca ngợi lòng nhân của Hốt Tất Liệt với Trần Nhân Tông, đại thần Đinh Củng Viên “đỡ lời” rằng: “Thiên tử đã có ý tốt như thế thì trước kia, không động đến đồ binh khí chẳng là càng tốt hơn sao?”. Ông ta liền nạt ngay “Kẻ tạo nên mối hoạ cho nước An Nam, chưa chắc không do bọn ngươi. Đạo trời cao rộng, ngươi làm gì mà biết được!”. Rồi lập tức phất tay áo đứng dậy. Đinh Củng Viên phải xin lỗi mới chịu tiếp tục cuộc đối thoại. Xin xem thêm sách này; tr. 96, và tr. 400. Nguyên văn: 于 時 私臣丁拱 垣 曰。天  子  僊 意 如 是 。一 向  不 動  干 戈 更  好 。立 道 叱 之 曰 。成 安 南 之 禍  者 。未 必 不 由 若 等 為 之 也。天  道 闊 何  足 以 知 之 。立 道 等 拂  袖 而  起 。拱 垣 請 罪 。

(22) Trần Lê Văn dịch.Thơ văn Lý – Trần, Tập II, Q. thượng, 1989, Sđd.

(23) Bản dịch cũ, chưa tìm ra xuất xứ.

(24) Ngô Tất Tố dịch. Thơ văn đời Trần, NXB Khai trí tái bản, Sài Gòn, 1960. In lại trong Thơ văn Lý – Trần, Tập II, Q. thượng, 1989, Sđd.

(25) Theo ý PGS. Trần Nghĩa thì bài thơ này là một hệ thống gồm 4 cấp độ tư duy Thiền: Có / không / vừa có vừa không / không có không không. Chúng tôi xin ghi lại để bạn đọc tham khảo.

(26)  Trần Thị Băng Thanh dịch. Thơ văn Lý Trần, Tập II, Q. Thượng, 1989, Sđd

(27) Ngô Tất Tố dịch. Thơ văn đời Trần, 1960, Sđd. In lại trong Thơ văn Lý – Trần, Tập II, Q. thượng, 1989, Sđd.

(28), (29),(30) Trần Lê Văn dịch. Thơ văn Lý Trần, Tập II, Q. Thượng, 1989, Sđd.

(31)  Nguyên văn luận thuyết khá dài, khó trích lược trong vài dòng. Xin xem Phật học đại từ điển佛 學 大 辭 典, 1989, Sđd; tr. 2148.

(32) Ngô Tất Tố dịch. Thơ văn đời Trần, 1960. In lại trong Thơ văn Lý – Trần, Tập II, Q. thượng, 1989, Sđd.

(33)  Nguyễn Huệ Chi dịch. Thơ văn Lý Trần, Tập II, Q. thượng, 1989, Sđd.

(34) Nguyễn Huệ Chi dịch.

(35)  Nguyên văn: 詩 宜 朴 。不 宜 巧 。然  必 须 大 巧 之 朴 。詩  宜  淡  不  宜  濃。然  必 须 濃 後  之  淡  – 随 园 詩 話  。卷  五  (Thi nghi phác, bất nghi xảo, nhiên tất tu đại xảo chi phác. Thi nghi đạm bất nghi nùng, nhiên tất tu nùng hậu chi đạm – Tuỳ Viên thi thoại,  Q. V).
Tiếp tục đọc

DANH NHÂN VIỆT NAM: TRẦN NHÂN TÔNG (1247 – 1308) MINH QUÂN VÀ ĐẠO SĨ. – VC+/BS

17 Th6
“Nhà ta vốn là dân hạ bạn,
  đời đời ưa chuộng việc hùng dũng..”
(Trần Nhân Tông)

Trong lịch sử Việt Nam, có những vị vua giỏi giang cáng đáng và lãnh đạo nước trong những tình huống khó khăn. Trần Nhân Tông là một trong những vị vua đầu khai triều và xây dựng nhà Trần. Triều ông là giai đoạn cực thịnh nhất của nhà Trần. Ông lãnh đạo nước trong những thời kỳ gay cấn nhất của lịch sử Việt Nam: chiến tranh xâm lược của đạo quân Mông Cổ reo rắc kinh hoàng ở khắp lục địa Á-Âu.

Trong hai cuộc xâm lăng của Mông Cổ lần hai và lần ba, ông đã cùng tướng sĩ và nhân dân đối phó và đánh bại giặc. Ông là người mở ra Hội nghị Diên Hồng hỏi ý kiến toàn dân và cùng nhân dân đối kháng địch. Trần Nhân Tông không những là vị vua cương chính và gần dân mà còn là một đạo sĩ Phật giáo hiền tài, một trong ba sư tổ sáng lập ra trường phái Trúc Lâm duy nhất ở Việt Nam.
1- Con người và sự nghiệp
(a)     Bản chất con người
Thái tử Trần Khâm tức Trần Nhân Tông lên ngôi vua thay thế Thượng Hoàng Thanh Tông năm 1279. Ông là một vị vua có cốt ở dân và có một târn hồn Việt cội rễ. Ẩn tàng trong ông là ý thức về nguồn, gợi nhớ gốc tổ Rồng Tiên, như lời ông từng nói với con Trần Anh Tông và Quốc Công Trần Quốc Tuấn: “Nhà ta vốn là dân hạ bạn, đời đời ưa chuộng việc hùng dũng… thích hình rồng vào đùi để tỏ ra không quên gốc.” Tục xâm hình rất phổ biến trong dân gian Việt Nam từ thời Hùng Vương, đến đời Trần Nhân Tông thì phát triển mạnh mẽ. Từ vua quan đến quân dân đều vẽ xâm hình rồng trước bụng, sau lưng và hai vế đùi. Lúc này người ta chẵng những quan niệm xâm hình rồng để khi xuống nước không bị giao long làm hại mà còn ngầm nhắc nhở nhau về một nguồn gốc như lời vua nhắn nhủ.
Tục này thịnh hành đến nổi người Trung Hoa trông thấy gọi là “thái long” tức rồng vẽ. Theo sứ nhà Nguyên Trần Phụ, thì mỗi người dân Đại Việt còn thích chữ “Nghĩa di quyền phụ, hình vu báo quốc” (Vì việc nghĩa mà liều thân, vì ơn nước mà báo đền). Điều này cho thấy dưới đời vua Trần Nhân Tông, quân dân đều một lòng và tụ tập quanh một ông vua có căn cơ là gốc dân.
(b) Tư cách lãnh đao
Nhân Tông là một vị vua anh minh, biết dùng và trọng dụng nhân tài. Đời ông, nhân tài, anh hùng, tuấn kiệt lũ luợt kéo ra giúp nước, lòng người như một. Bên ông, về quốc triều có Thái sư Trần Quang Khải, về binh sự có các danh tướng Trần Quốc Tuấn, Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư, Trần Nhật Duật .., về văn học có các văn thi sĩ uyên bác như Nguyễn Thuyên, Trương Hán Siêu, Mạc Đĩnh Chi. Riêng Nguyễn Thuyên là người khởi đầu dùng chữ Nôm làm thơ phú, văn hay như Hàn Dũ bên Trung Quốc ngày xưa nên Nhân Tông cho đổi tên là họ Hàn.
Sự hiểu người và dùng người của ông được thể hiện qua một câu chuyện tiêu biểu sau. Trong không khí khẩn trương, khi con trai của Hốt Tất Liệt là Thái tử Thoát Hoan đang sôi sục căm hờn điều động binh mã ở biên thùy để sửa soạn tràn vào Đại Việt. Vào một ngày cuối năm Nhâm Ngọ (1282), tại bến Bình Than có một cuộc họp lịch sử giữa vua Trần Nhân Tông và các tướng sĩ. Giữa lúc vua Nhân Tông và mọi người đang bàn bạc sôi nổi, vua chợt nhìn ra ngoài sông và thoáng thấy một chiếc thuyền lớn chở đầy than theo dòng đổ về xuôi. Nhác thấy trên thuyền có một người đội nón lá, mặc áo ngắn, ngộ ngộ trông như người quen, vua bèn chỉ và hỏi quan thi thần:
– Người kia có phải là Nhân Huệ Vương không?
Rồi lập tức sai quân cheo thuyền nhỏ đuổi theo. Nhưng lát sau chỉ thấy quân trở về không, tâu với vua là ông lái ngang bướng ấy không chiu đến mà chỉ trả lời rằng:
– Lão già này là người bán than, có việc gì mà vua gọi đến!
Nghe thấy thế, các quan rất đổi ngac nhiên và lo cho người bán than, cái tội khi quân mạn thượng này dù xử nhẹ cũng phải dăm chục trượng là ít. Nhưng Nhân Tông vẫn tươi cười mà rằng:
– Thế thì đúng là Nhân Huệ Vương rồi, người thường không dám trả lời ta như thế!
Rồi sai nội thị đi gọi: lần này “lão ta” chịu đến. Vua quan nhìn ra thì đích thị không sai. Người lái thuyền bán than đó chính là Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Đội chiếc nón lá và bận tấrn áo nâu ngắn bạc phếch, quần sắn tới đầu gối, trông ông ta thật phong trần. Nhưng lạ thay, cuộc sống lam lũ vẫn không làm mất được cái vẽ tinh anh quắc thước và dáng dấp hiên ngang ở người tướng vũ dũng của cuộc kháng chiến chống Mông Cổ năm xưa, vì nóng tính và trót phạm lỗi với triều đình nên bị cách chức và tịch thu gia sản. Chuyến đi hôrn nay của ông tình cờ lại hóa hay
– Thế nào, liệu khanh còn đủ sức đánh giặc hay không? – Nhân Tông ướm hỏi.
Nghe thấy hai chữ “đánh giặc”, mắt Trần Khánh Dư vụt sáng:
– Dạ, thần còn đủ sức. Mấy năm nay vung rìu đẵn gỗ, cánh tay thần xern ra còn rắng rỏi hơn xưa.
Nhân Tông cười vui vẽ và ngợi khen:
– Quả là gan Trần Khánh Dư còn bền hơn sắt đá. Được rồi còn phải xem khanh lập công chuộc tội ra sao?
Đoạn xuống chiếu tha tội cho Trần Khánh Dư, ban mũ áo, phong làm phó tướng quân rồi cho ngồi ở ghế cuối hàng vương để bàn việc nước. Thế là triều đình lại có thêm được một người tài giỏi đứng ra phò vua giúp nước.
Sự dùng người của Nhân Tông như thế xứng đáng phong cách của một người lãnh đạo: hiểu và dùng người đúng chỗ.
          (c) Cách cư xử người
Trần Nhân Tông là một vị vua khí khái và nhân đức. Đối diện với bao phong ba bão táp, ông lãnh đạo tướng sĩ và nhân dân chống đỡ những cơn hiểrn nguy. Nhưng không lúc nào là ông không để ý đến tình trạng của quân dân.
Khi quân Mông Cổ với khí thế hung tàn tràn vào Đại Việt, Hưng Đạo Vương Trần Quoc Tuấn vì kém thế thua chạy rút về Vạn Kiếp. Nhân Tông nghe Hưng Đạo Vương thua, liền ngự một chiếc thuyền nhỏ xuống Hải Dương rồi cho vời Hưng Đạo Vương đến bàn việc, nhân thấy quân mình thua, trong bụng không yên, mới bảo Hưng Đạo Vương rằng:
– Thế giặc to như vậy, mà chống nó thì dân sự tàn hại, hay là trẫm hãy chịu hàng đi để cứu muôn dân?
Hưng Đạo Vương tâu rằng:
– Bệ hạ nói câu ấy thì thật là nhân đức, nhưng mà tôn miếu xã ­tắc thi sao? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng.
Nhân Tông nghe lời nói trung liệt như vậy, trong bụng mới yên.
Cũng vậy, đối với quân thù, trong trận chiến thắng lịch sử của quân ta ở Tây Kết (Khoái Châu, Hải Hưng), tướng giặc là Toa Đô bị trúng tên chết và Ô Mã Nhi phải chốn chui xuống thuyền vượt biển chạy về Trung Quốc. Khi các tướng thắng trận đưa đầu Toa Đô về nộp, Nhân Tông thấy người dũng kiện mà lại hết lòng với chúa, nên xúc động mới than rằng: “Làm bầy tôi nên như người này” rồi cởi áo ngự bào đắp vào đầu Toa Đô, sai quân dùng lễ mai táng cho tử tế.
Khi bóng quân Mông Cổ không còn trên đất Nam, triều đình bắt được một tráp chứa các biểu hàng của một số quan. Số là khi quân giặc đang cường thịnh, triều thần lắm kẻ hai lòng, có giấy má đi lại với chúng. Đình thần muốn lục tráp ra để trị tội, nhưng Nhân Tông và Thánh Tông Thượng Hoàng nghĩ xa đến sự hoà giãi dân tộc nên sai đem đốt cả tráp đi cho yên lòng mọi người và cùng nhau xây dựng lại cố đô. Duy chỉ những người thực sự hàng và hợp tác với giặc mới bị trị tội.
(d) Trị nước
Trách nhiệm giữ nước đã xong, Nhân Tông còn phải lo việc ngoại giao với giặc và xây dựng lại đất nước và con người. Với nhà Nguyên, Mông Cổ, vua không kiêu căng khi thắng, mà hoà khí, khiêm nhượng nhưng nhân chính. Sự tàn phá của quân Mông Cổ thật nặng nề đến nổi, lúc chiến thắng trở về Thăng Long, vua không còn cung điện để ở mà phải tạm trú ở Lăng thị vệ. Trong tờ biểu gởi Hốt Tất Liêt, Nhân Tông đã phải viết: “đốt phá hết chùa miếu trong nước, khai quật phần mộ tổ tiên, cướp bóc dân gian, phá phách sản nghiệp trăm họ, mọi tàn ác không việc nào trừ …”.
Hậu quả của chiến tranh tan khốc như vậy cho nên phải có chính sách an dân và ủy lạo dân. Sau cuộc chiến,
Nhân Tông xuống chiếu đại xá cho thiên hạ. Nơi nào bị địch đốt phá thì tha tô ruộng và tạp dịch toàn phần, các chổ khác thì xét miễn giảm theo thứ bậc khác nhau. Chinh sách khéo léo và có tầm nhìn xa này, thể hiện một tinh thần thương dân và ở một đầu óc có tư tưởng đầu tư xây dựng lâu dài, đã được kể lại trong quyển “Long thành dật sự” như sau:
Sau chiến tranh, thành Thăng Long nhiều đoạn bị san bằng, vua Nhân Tông định hạ chỉ gấp rút xây lại thành
trì. Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn can rằng: “Việc sửa lại thành trì không cần kíp lắm. Việc cần kíp của triều đình phải làm ngay không thể chậm trễ được là việcc ủy lạo nhân dân. Hơn 4 năm, quân giặc hai lần tràn sang quấy rối, từ nơi núi rừng đến nơi đồng ruộng, đều bị tàn phá hầu hết. Vậy mà nhân dân vẫn một lòng hướng về triều đình, xuất tài, xuết lộc, đi lính và đóng thuế, làm nên một lực lượng mạnh cho triều đình chống nhau với giặc. Nay nhà vua được trở về yên ổn. Việc làm trước hết là chú ý ngay đến dân, những nơi nào bị tàn phá, tuỳ tình trạng nặng nhẹ mà cứu tế; nơi nào bị tàn phá quá nặng, có thể miễn tô thuế mấy năm. Có như thế dân mới nức lòng càng quy hướng về triều đình hơn nữa. Người xưa đã nói: “chúng chí thành thành” nghĩa là ý chí của dân là một bức thành kiên cố. Đó mới là cái thành cần sửa chữa ngay, xin nhà vua xử lý.”
Vua Nhân Tông vui vẽ nghe theo lời khuyên của Trần Quốc Tuấn. Đây cũng là một bài học quan trọng mà gần đây chúng ta đã không nắm mà nguy hơn nữa là đã làm ngược lại.
Cũng vậy để cải tổ bộ máy hành chánh, và thúc đẩy nền kinh tế giúp dân giàu mạnh. Trần Nhân Tông quyết định giảm thủ tục, các quan lộc và quan liêu trong nước. Trước một bộ máy quá lớn và quá nặng nề từ Thượng thư sảnh, Môn hạ sảnh, Nội mật viện, đến các quan, cac lục bộ, các cục (Nội thư hoả cục, Chi hậu cục..), các đài (Ngự sử đài), các viện (Khu mật viện, Hàn lâm viện, Thẩm hình viện, Quốc sử viện, Thái y viện,..), các ty .. khiến Trần Nhân Tông phải thốt lên :
            ” Sao một nước bé bằng bàn tay mà phong nhiều quan thế! “
Lại một lần nữa, vấn đề này cũng là vấn đề mà hiện nay chúng ta đang trực tiếp đối diện
(e) Trung hiếu và gia huấn
Trần Nhân Tông coi việc trung hiếu là quan trọng hàng đầu. Đối với thượng hoàng và các bề trên ông đều hết lòng đáp nghĩa. Ông thường lễ long trọng hàng năm trước các lăng tiền bối. Bài thơ của ông làm lúc về bái yết lăng ông nội Trần Thái Tông vẫn còn để lại trong sử sách.
Trượng vệ thiên môn túc
Y quan thất phẩm thông ..
(Qua nghìn cửa chào nghiêm túc,
Đủ áo mũ các quan của bảy chức ..)
Khi ông là Thượng hoàng, đối với con ông là Trần Anh Tông, ông để tự do nhưng đều khuyên bảo những điều nhân đức về phép trị dân. Sử sách chép rằng, Anh Tông là người có hiếu nhưng thường uống rượu và lẽn đi chơi đêm khắp kinh thành, đến gà gáy mới về. Vì thế có lúc Nhân Tông phải có thái độ cứng rắn.
Thang năm năm Kỷ Hợi (1299), vua Anh Tông uống rượu xương bồ say quá. Thượng hoàng Nhân Tông từ phủ Thiên Trường (Nam Định), nơi các Thượng hoàng thường ở an dưỡng, về kinh sư, quan trong triều không ai biết cả. Nhân Tông thong thả xem khắp các cung điện, từ sáng đến trưa. Người trong cung dâng cơm, Nhân Tông ngoãnh trông, không thấy vua, ngạc nhiên hỏi ở đâu?
Cung nhân vào đánh thức nhưng vua say quá không tỉnh. Ông giận lắm, trở về Thiên Trường ngay, xuống chiếu cho các quan ngày mai đến họp ở phủ Thiên Trường. Đến chiều, vua Anh Tông mới tỉnh, biết Thượng Hoàng về kinh, sợ hải quá, vội vàng chạy ra ngoài cung gặp một người học trò tên Đoàn Nhữ Hài, mượn thảo bài biểu để dâng lên tạ tội, rồi cùng với Nhữ Hài xuống thuyền đi suốt đêm đến phủ Thiên Trường. Nhân Tông xem biểu rồi quở mắng một lúc, và tha lỗi cho Anh Tông. Từ đó vua Anh Tông không uống rượu nữa.
2- Xuất thế và thơ văn
Sau khi quân xâm lăng Nguyên Mông Cổ không còn dám có tham vọng chiếm Đại Việt, năm năm sau (1293) Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con ở Thăng Long rồi rút về Thiên Trường đi ngao du và bắt đầu xuất thế. Trước lúc đó, ông đã là một nhà đạo sĩ và thi văn nổi tiếng đời Trần. Đời của ông lúc này chuyển qua một giai đoạn khác, việc nước và gia đình đã xong giờ đến việc mình và đời sống tinh thần của bản thân.
Ông cùng các đệ tử của mình lên núi Yên Tử (Quảng Ninh) xây dựng các chùa. Một trong những chùa nổi tiếng nhất là chùa Hoa Yên. Ông là vị “tổ” đã có công lớn trong việc xây dựng nên phái Phật giáo ở vùng Yên Tử Sơn này. Trần Nhân Tông, cùng sư Pháp Hoa và sư Huyền Quang là tam tổ của trường phái Trúc Lâm và thường được goi là phái Trúc Lâm Tam Tổ vì chỉ riêng ở Việt Nam mới có.
Sự nhập thiền của Trần Nhân Tông không phải là một tiêu cực yếm thế. Thiền Trúc Lâm mang một hinh thái nữa có nữa không, nữa thực nữa hư và có một tinh thần biện chứng tích cực. Một thiền Phật giáo nhập thế mà tất cả mọi người dân đều có thể áp dụng theo đuổi ở mọi nơi, mọi lúc trong đời sống không phải chỉ ở cửa chùa. Bắt nguồn từ thiền Vô Ngôn thông, quan điểm cơ bản của thiền Trúc lâm là “tức tâm tức Phật”, Phật ở tâm, ở trong ta, khi đốn ngộ thì ta là Phật và Phật là ta. Từ Yên Tử Sơn, lâu lâu Nhân Tông đi ngao du các nơi, thăm thắng cảnh thanh bình của quê hương mình. Lúc qua Thiên Trường vào một buổi chiều, trong cảnh tranh tối tranh sáng của đồng quê Việt Nam, dưới con mắt Thiền của mình, ông đã xúc cảm làm một bài thơ tựa đề “Thiên Trường vãn vọng”
Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên
Bán vô bán hữu tịch dương biên
Mục đồng địch lý quy ngưu tận
Bạch lộ song song phi hạ điền
(Xóm trước thôn sau tựa khói lồng
Bóng chiều dường có lại dường không
Mục đồng sáo vẵng trâu về hết
Cò trắng từng đôi hạ xuống đồng)
Những buổi chiều của đồng quê Việt Nam đẹp đẽ và yên tỉnh như kia là một hiện thực, đã có từ nghin năm nay trong đời sống nhân dân, và đã tác động mạnh mẽ vào một tam hồn Việt cội rễ của đạo sĩ Trần Nhân Tông.
Danh tiếng của đạo sĩ Trần Nhân Tông vang lừng khắp Đại Việt đến tận đất Chiêm Thành. Trong cuộc thăm viếng lịch sử chưa từng có của một Thượng hoàng nước Đại Việt, cả Chiêm Thành từ vua quan đến nhân dân một lòng tôn kính một hiền sĩ từ phương xa ghé vào. Nhân Tông cũng xúc động và học hỏi nhiều từ một nền văn minh khác. Đối với ông, con người đâu đâu cũng vậy. Biên giới chỉ là một hàng rào giã tạo đặt ra bởi sự không thông hiểu giữa con người. Ông đã nhin xa và muốn thắt chặt tình thân hữu anh em của hai dân tộc Việt-Chiêm. Ông đề nghị với vua Trần Anh Tông kết hợp con gái Nhân Tông (tức em gái Trần Anh Tông) là công chúa Huyền Trân với vua Chiêm Thành. Cả Chiêm Thành, từ sự kính trọng đối với một đạo sĩ hiền tài này, đã hoan hỷ chấp nhận. Vua Chiêm là Chế Mân (Jaya Sinhavarman III mà trước đây là thái tử Harijit đã cùng đồng minh Đại Việt chống quân Nguyên đổ bộ ở Chiêm Thành) đã tặng Đại Việt hai châu Ô và châu Rí trong cuộc hôn nhân lịch sử này. Nhưng tiếc thay sau khi Chế Mân và Trần Nhân Tông mất, chiến tranh lại tái diễn giữa hai dân tộc.
Năm 1308, Thượng hoàng Trần Nhân Tông băng hà ở am Ngọa Vân, núi Yên Tử. Sư Pháp Hoa thiêu xác ông, nhặt hỏa cốt và hơn ba ngàn hạt xá lị để vào hộp, mang về chùa Từ Phúc ở kinh sư.
Mùa thu năm 1310, linh cửu chứa hỏa cốt Thượng hoàng được rước về chôn ở làng Quý Đức, Phủ Long Hưng (Thái Bình). Khi nghe tin ấy, cả nước đều muốn tiễn linh cửu người Việt hiền tài này lần cuối cùng. Trước hết, tạm quàn Nhân Tông ở điện Diên Hiền, khi sắp phát dãn, đã đến giờ rồi mà quan liêu dân chúng đứng xem đầy khắp cung điện, ngay cả tể tướng cầm roi xua đuổi mà cũng không thể giản ra được. Vua cho gọi Trịnh Trọng Tử đến bảo rằng: “Linh cửu sắp phát dẫn mà dân chúng đầy nghẽn như thế này thì làm thế nào ?”. Trọng Tử là người có tiếng là nhiều tài năng trí xảo nhất Thăng Long và cũng rất giỏi về âm nhạc. Trọng Tử lập tức đến thềm Thiên Trì gọi quan Hải khấu và quan Hổ dực do Trọng Tử trông coi đến ngồi la liệt ở thềm, sai hát mấy câu hát Long Ngâm. Mọi người đều ngạc nhiên, kéo nhau đến xem, cung điện mới giãn người, linh cửu mới rước đi được. Long Ngâm khúc là một lối hát vãn, giọng bi ai, nghe rất cảm động … Suốt mấy ngày ấy từ Thăng Long đến Thái Bình, Long Ngâm khúc của cả nước theo linh cửu của ngài đến nơi an nghĩ cuối cùng.
Một ngôi sao sáng đã vụt tắt trên bầu trời nước Đại Việt. Mặc dầu thể xác ông không còn và đã tan thành tro bụi như ông muốn, nhưng hồn ông vẫn còn trong lòng dân tộc Việt.
Lời bạt:
Trong lịch sử trên thế giới rất hiếm người tài vừa là vua trị vì vừa là một hiền triết. Văn minh La Mã có Marcus Aurelus, hoàng đế triết gia, vừa minh trị an độ nhân dân, độ lượng với mọi người và để lại tác phẩm triết học nổi tiếng “Meditations”. Ở phương đông hơn mười hai thế kỷ sau có Trần Nhân Tông, cũng một minh quân, sáng lập trường phái thiền Trúc Lâm Việt Nam với các tác phẩm thiền “Khoá Hư lục”(1), “Thiền lâm thiết chủy ngữ lục”, “Tăng già toái sự” (5) không kém sâu sa.
Thiền Trúc Lâm Yên tử tuy không còn, nhưng dư âm vẫn còn vọng: cuối thế kỷ 18, Ngô Thì Nhậm mong tái lập lại dòng thiền này với tác phẩm  “Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh”, gần đây chùa Trúc Lâm ở Đà Lạt là một cố gắng mong muốn khôi phục dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Hoàng thành cổ Thăng Long nay đã được khám phá, một ngày nào đó tôi hy vọng là điện Diên Hiền sẽ được hồi phục. Nguời người sẽ được đến tận nơi vua làm việc, đãi yến, nơi linh cửu vua tạm quàn, hình dung cảnh quan và tưởng nhớ mùi hương thiền toả ngát sáu trăm năm mươi năm trước và tưởng tượng trở lại thời vàng son của thiền Việt Nam với minh quân Trần Nhân Tông. Núi Yên Tử giờ đã có cáp treo, nhưng đi hành hương đường dốc bộ vẫn là tốt nhất theo dấu chân của Thượng hoàng Nhân Tông.
NGUYỄN ĐỨC HIỆP
(1) Theo Thiều Chửu và một số nhà nghiên cứu cho là Trần Nhân Tông là tác giả “Khóa hư lục” chứ không phải Trần Thái Tông
Tham khảo
(1)     Đại Việt Sử Ký toàn thư, Quyển 5 và 6, Kỷ Nhà Trần, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, 1993
(2)     Khuyết danh, Thiền uyển tập anh, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1990
(3)     Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, http://www.quangduc.com/lichsu/17vnpgsuluan.html
(4)     Tạ Ngọc Liễn, Vài nhận xét về Thiền Tông và phái Trúc Lâm – Yên Tử đời Trần, Nghiên cứu Lịch sử, số 4 (175), tháng 7,8/1977, p. 51-62
(5)     Nguyễn Duy Hinh, Yên Tử – Vua Trần – Trúc Lâm, Nghiên cứu Lịch sử, số 2 (173), tháng 3,4/1977, p. 10-21.
%d bloggers like this: