Tag Archives: Vai trò của

Đâu là vai trò của Asean với Biển Đông? – BBC

29 Th8

 

Cập nhật: 10:18 GMT – thứ tư, 27 tháng 8, 2014

Ngày 26/8, tại thành phố Đà Nẵng, khai mạc Diễn đàn Biển ASEAN lần thứ 5 (AMF-5) và Diễn đàn Biển ASEAN mở rộng lần thứ 3 (EAMF-3).

 

Nhân dịp này, BBC mời các chuyên gia và nhà quan sát từ Việt Nam và hải ngoại cùng nhìn nhận về vai trò của khối này liên quan Biển Đông.

Cuộc tọa đàm trực tuyến sẽ diễn ra vào ngày thứ Năm, 28/8/2014 và toàn bộ chương trình được phát trực tiếp trên trang Google+ của BBC Tiếng Việt từ 19h30 tới 20h00 (giờ Việt Nam) cùng ngày, cũng như trên trang bbcvietnamese.com

Sự kiện kép được Việt Nam kỳ vọng là kênh đối thoại liên quan hợp tác biển với trọng tâm ‘xây dựng lòng tin’, bảo đảm ‘an ninh, an toàn hàng hải’ ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế.

‘Thực chất, khả thi?’

Đâu là các kết quả hai diễn đàn này, đâu là các khuyến nghị ‘khả thi’, thực chất và có thể nhìn nhận ra sao về vai trò của Asean cũng như sự hợp tác giữa khối này với tám quốc gia ‘cấp cao Đông Á’, trong đó có Hoa Kỳ và Trung Quốc?

Ông Lê Hồng Anh thăm TQ

Diễn đàn Biển của Asean diễn ra trùng thời điểm chuyến thăm TQ của đặc sứ Lê Hồng Anh.

Các câu hỏi này sẽ được các chuyên gia và nhà quan sát bình luận và thảo luận trực tuyến với BBC.

Các khách mời của BBC từ Việt Nam là: PGS. TS Hoàng Ngọc Giao, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách Pháp luật, nguyên Phó Vụ trưởng Ban Biên giới Chính phủ.

Từ Hong Kong là PGS. TS. Jonathan London, chuyên gia về quan hệ quốc tế tại Đại học Thành thị Hong Kong.

Và từ Hoa Kỳ, Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, chuyên gia bang giao quốc tế thuộc Đại học George Mason.

‘Thể hiện sự tích cực’

Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng: “Hội nghị này chúng ta cần đặt trong khung cảnh, một bối cảnh Việt Nam. Thứ nhất, chúng ta nhớ trong Hội nghị đa phương trong thế kỷ thứ 21, ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói một nguyên tắc mới: chuyển từ tư duy tham gia tích cực (tôi nhấn mạnh ‘tư duy’ là cách suy nghĩ) đến chủ động tích cực đóng góp… đưa ra ý kiến của mình.

“Tức là ông muốn nói đến sự chủ động của Việt Nam. Ngay trong tháng Bảy nói riêng thôi, có ba hội nghị về Biển Đông, một hội nghị ở Đà Nẵng nói về Hoàng Sa, Trường Sa, hai hội nghị trong TP. Hồ Chí Minh nói về Biển Đông, một nói về tổng quát, một chuyên về pháp luật.

Thảo luận ở diễn đàn của các ngoại trưởng và hải quân có tính cách liên hệ đến chiến lược quốc gia, an ninh. Còn cái này, tôi thấy nhấn mạnh an ninh hàng hải, nói về cứu trợ, về bảo vệ sinh thái Biển, về sự hợp tác giữa các quốc gia để bảo vệ vấn đề đánh cá… một cái có tính cách trọng lượng hơn, còn cái này ít trọng lượng hơn

GS. Nguyễn Mạnh Hùng

“Ba hội nghị, bây giờ lại đến (diễn đàn đa phương nữa), tức là chúng ta thấy chỉ trong vòng 4 tháng, Việt Nam đã đăng cai tổ chức bốn hội nghị. Như vậy là thể hiện sự tích cực. Đó là bối cảnh thứ nhất.

“Bối cảnh thứ hai là hội nghị (diễn đàn Biển Asean) này được tổ chức sau Hội nghị của các ngoại trưởng của Asean và sau Hội nghị của các tư lệnh hải quân Asean. Hai hội nghị đó nói tới các vấn đề nóng, vấn đề chính trị nhiều hơn, còn hội nghị này không nói về vấn đề nóng.

“Ở trong bang giao quốc tế chia ra làm hai loại, loại có tính cách ‘sensitive political’ (nhạy cảm chính trị) và một loại ‘functional’ mà ‘non politics’ (thiên về tính chức năng, kỹ thuật), thì thảo luận ở diễn đàn của các ngoại trưởng và hải quân có tính cách liên hệ đến chiến lược quốc gia, an ninh.

“Còn cái (diễn đàn) này, tôi thấy nhấn mạnh an ninh hàng hải, nói về cứu trợ, về bảo vệ sinh thái Biển, về sự hợp tác giữa các quốc gia để bảo vệ vấn đề đánh cá… một cái có tính cách trọng lượng hơn, còn cái này ít trọng lượng hơn.”

‘Thất bại về mặt ngoại giao’

Căng thẳn Biển giữa TQ và Philippines

Hội thảo Biển về tranh chấp của TQ với Philippines cho thấy TQ muốn ‘gỡ gạc’ ngoại giao.

Được hỏi về ý nghĩa của một hội thảo cũng về chủ đề Biển có liên quan tranh chấp trên Biển Đông giữa Trung Quốc và quốc gia thành viên Asean được Trung Quốc mới tổ chức hôm 21-22/8 với trên dưới bốn chục chuyên gia, học giả tham gia, PGS. TS Jonathon London bình luận:

“Có lẽ việc có một hội thảo như thế ở Trung Quốc phản ánh động thái của họ đối với Biển Đông là bất hiệu quả và nói chung là một thất bại về mặt ngoại giao.

“Và có lẽ vì thế mà họ muốn tăng cường PR để cố gắng phát triển những chiến lược của họ khác, mà cũng có thể phát triển những mặt quốc tế, bởi vì những hành động của Trung Quốc gần như là hoàn toàn đơn phương và vì thế mà không hiệu quả.

“Và tôi nghĩ là qua những tháng trước đây, Trung Quốc dù chưa có một thay đổi lớn nào đối với thái độ của họ, ít nhất họ có xem là việc có những trao đổi quốc tế về vấn đề Biển Đông cũng có thể có một giá trị đối với họ.

Có lẽ việc có một hội thảo như thế ở Trung Quốc phản ánh động thái của họ đối với Biển Đông là bất hiệu quả và nói chung là một thất bại về mặt ngoại giao. Và có lẽ vì thế mà họ muốn tăng cường PR để cố gắng phát triển những chiến lược của họ khác

PGS. TS. Jonathan London

“Bởi vì thực sự tất cả những gì mà họ đã làm từ đầu tháng Năm đến nay là đã chưa hiệu quả dù họ luôn luôn khẳng định những đòi hỏi của họ hoàn toàn chính đáng, trên thực tế những gì mà họ đã làm, gần như là ít nhất với ý kiến quốc tế, là chưa hiệu quả lắm.

“Và rất có thể là việc họ có một hội thảo như thế này phản ánh điều đó.”

‘Kỳ vọng gì về Asean?’

Khi được hỏi về mong muốn của Hoa Kỳ đối với vai trò của Asean trên Biển Đông, Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng nói:

“Trước hết là Asean muốn đóng vai trò trung tâm, nói đi nói lại nhiều lần rồi, Hoa Kỳ cũng muốn Asean đóng vai trò trung tâm.

“Bởi vì nếu Asean có thể đóng được vai trò trung tâm, thì Asean có thể trở thành một trái đệm để tránh sự xung đột giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, hay là giảm nhiệt với Trung Quốc.

Ngoại trưởng Mỹ Chuck Hagel và tướng Dempsey

Hoa Kỳ muốn Asean trở thành ‘vùng đệm’ để tránh hoặc giảm thiểu xung đột Mỹ – Trung.

“Nếu chúng ta nhìn vào chính sách của hai nước lớn đó, Trung Quốc rõ ràng muốn độc chiếm Biển Đông rồi và họ cứ từ từ từng bước họ tiến.

“Hoa Kỳ cũng đã nhận thấy điều đó. Mặt khác, Hoa Kỳ có hai chọn lựa, một là bằng lòng chấp nhận sự kiện đó, có nghĩa là Hoa Kỳ sẽ trở thành một cường quốc hạng hai ở Biển Đông, là một nơi mà Hoa Kỳ cho là rất quan trọng.

“Còn nếu không, sự xung đột, mâu thuẫn chắc chắn là phải có, và Hoa Kỳ phải tìm cách đề phòng sự xung đột đó xảy ra. Cho nên nếu Asean đóng được vai trò trung tâm, trở thành một trái đệm, thì có thể an ninh đó được bảo đảm, mà Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc cũng không phải đi đến sự đụng độ với nhau.”

‘Chuyến đi của ông Lê Hồng Anh’

Non ba tuần sau Hội nghị Ngoại trưởng Asean lần thứ 47 mà chủ đề chính là căng thẳng trên Biển Đông, xảy ra đồng thời với sự kiện kép hai diễn đàn Asean về Biển tại Đà Nẵng là chuyến thăm Trung Quốc của Đặc sứ của Tổng bí thư ĐCS Việt Nam, ông Lê Hồng Anh, thường trực Bộ Chính trị, tới Trung Quốc.

Được hỏi liệu sự kiện bang giao song phương và liên đảng này có ý nghĩa gì trong lúc Việt Nam đăng cai các diến đàn Biển của Asean, Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng nói tiếp:

Chuyến đi này có nghĩa làm dịu đi sự căng thẳng của hai nước, tìm cách hậu thuẫn cho những phe chủ trương hòa hiếu. Khuyến khích, hậu thuẫn cho phe có chủ trương hòa hiếu với Trung Quốc, làm giảm vai trò quan trọng của VN trong khối Asean

GS Nguyễn Mạnh Hùng

“Ở Việt Nam gần đây, có hai khuynh hướng, một khuynh hướng là ‘China Liberalism’, tức là khuynh hướng muốn Thoát Trung, một khuynh hướng là muốn hòa hiếu với Trung Quốc.

“Trong những việc Việc Nam đưa ra nhiều chủ động, để có tính cách quyết liệt hơn, trong những năm tháng gần đây, nhất là vụ Giàn khoan (HD-981), thì chuyến đi này có nghĩa làm dịu đi sự căng thẳng của hai nước, tìm cách hậu thuẫn cho những phe chủ trương hòa hiếu.

“Khuyến khích, hậu thuẫn cho phe có chủ trương hòa hiếu với Trung Quốc, làm giảm vai trò quan trọng của Việt Nam trong khối Asean. Bởi vì Việt Nam trong mấy năm nay cố gắng đóng vai trò quan trọng trong khối Asean.

“Họ muốn tách Việt Nam ra khỏi Asean, khỏi ảnh hưởng của Hoa Kỳ và đồng thời làm cho suy yếu Asean.”

‘Tính cách chính danh’

Cũng bình luận về chuyến thăm Trung Quốc của đặc sứ Lê Hồng Anh, đặc biệt từ khía cạnh đảng có đại diện cho nhà nước và nhân dân hay không, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Hoàng Ngọc Giao từ Hà Nội bình luận:

“Về tư cách của mỗi bên, phía Việt Nam là đặc phái viên của Tổng Bí thư, như vậy thay mặt là người đứng đầu của Đảng Cộng sản, phía Trung Quốc, ông Tập Cận Bình, ông có hai vai. Một ông là Tổng bí thư của Đảng CS Trung Quốc, nhưng bên cạnh đó ông lại là Chủ tịch nước.

Đảng Cộng sản cũng phải hoạt động trong khuôn khổ của luật pháp. Cho nên tôi hy vọng rằng sắp tới ông Đặc phái viên của Tổng Bí thư hay là người đứng đầu của ĐCS phải có trách nhiệm giải trình với Quốc hội, là người đại diện của nhân dân về nội dung của cuộc đàm phán này

PGS. TS. Hoàng Ngọc Giao

“Vậy là với vai nguyên thủ quốc gia là người đứng đầu nhà nước, thì về phía Trung Quốc, dù có đàm phán gì, với tư cách Tổng Bí thư, nhưng đồng thời lại với tư cách người đứng đầu nhà nước, cái đó về mặt pháp luật là hoàn toàn chính danh, nếu gọi cuộc đàm phán này với phía đối tác cũng là người đứng đầu nhà nước.

“Tuy nhiên, ở đây chúng ta lại thấy phía Việt Nam là đại diện của người đứng đầu Đầu đảng cộng sản và bàn với ông Tập Cận Bình, tôi đoán ở đây là câu chuyện bàn bạc giữa hai Đảng.

“Vậy câu chuyện thỏa thuận giữa hai Đảng ấy mà theo Hiến pháp của Việt Nam, là Đảng Cộng sản cũng phải chịu trách nhiệm với nhân dân. Đảng Cộng sản cũng phải hoạt động trong khuôn khổ của luật pháp.

“Cho nên tôi hy vọng rằng sắp tới ông Đặc phái viên của Tổng Bí thư hay là người đứng đầu của Đảng Cộng sản phải có trách nhiệm giải trình với Quốc hội, là người đại diện của nhân dân về nội dung của cuộc đàm phán này,” nhà nghiên cứu nói với BBC.

Quý vị quan tâm tới chương trình có thể gửi ý kiến, bình luận cho chúng tôi theo địa chỉ vietnamese@bbc.co.uk

Thêm về tin này

 

Chủ đề liên quan

 

Tranh chấp Biển Đông và vai trò của Việt Nam – BS

13 Th3
 

Posted by Basam on March 12th, 2014

Diễn Đàn

THÁI VĂN CẦU

Năm 2014 đánh dấu hai sự kiện lớn trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc : Kỷ niệm 40 năm ngày Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, khiến 74 chiến sĩ Quân đội Việt Nam Cộng hoà hy sinh, và kỷ niệm 35 năm ngày Trung Quốc tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược chống Việt Nam. 

Ngày 14 tháng 3 năm nay cũng đánh dấu 26 năm ngày Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm đảo Gạc Ma, thuộc quần đảo Trường Sa, khiến 64 chiến sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam hy sinh. 

Qua nguồn tư liệu do nhà nước Việt Nam phổ biến công khai sau cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Quốc và qua đối chiếu với nguồn tư liệu độc lập để kiểm chứng, ba điểm mốc thời gian của năm 1974, 1979, và 1988 phản ánh các mắt xích trong một chiến lược lâu dài, nhất quán, của Trung Quốc nhắm vào Việt Nam : Bắt đầu từ thập niên 1950 cho đến ngày nay, bằng những mưu đồ, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt khác nhau, thay đổi tùy tình huống, Trung Quốc luôn luôn muốn kiềm chế Việt Nam, giữ Việt Nam ở vị thế nước yếu kém, lệ thuộc vào Trung Quốc. 

Mặc dù vào năm 1979, Trung Quốc thất bại thảm hại trong việc sử dụng hàng trăm ngàn quân tinh nhuệ và hoả lực hùng hậu để “dạy” cho Việt Nam một bài học, kể từ sau Hội nghị Thành Đô năm 1990, Trung Quốc thành công đáng kể trong nỗ lực kiềm chế Việt Nam, đặc biệt là trong vấn đề Biển Đông. 

Do Việt Nam có chứng cứ lịch sử và cơ sở pháp lý chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa rõ ràng, vững chắc, và do hành động ngang ngược, bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc trên Biển Đông, nhiều năm trước, người viết đề nghị Việt Nam kiện toàn hồ sơ chủ quyền, tham vấn chuyên gia người nước ngoài, tranh thủ ủng hộ của khu vực và thế giới trong việc sử dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc. 

Thực tế cho thấy, trong gần 20 năm, lãnh đạo Việt Nam chủ trương giải quyết tranh chấp “thông qua đàm phán hòa bình”, trên tinh thần “vừa là đồng chí, vừa là anh em”, và trên cơ sở “16 chữ vàng, 4 tốt”. Việt Nam hoàn toàn bị động, tiêu cực, không có một phương án nào khác biệt với lập trường của Trung Quốc cho Biển Đông.

(Xem thêm Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc giữa Tổng bí thư hai đảng Cộng sản Nông Đức Mạnh – Hồ Cẩm Đào, tháng 6 năm 2008). 

Trong cùng thời gian, Trung Quốc tích cực xây dựng sức mạnh trong cả hai lãnh vực quyền lực mềm và quyền lực cứng về Biển Đông :

  • ban hành “Luật Lãnh hải và vùng tiếp giáp” bao gồm quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa năm 1992 (20 năm trước khi Luật Biển Việt Nam được ban hành) ;
  • kể từ giữa thập niên 1990, đầu tư vào các học viện, trung tâm nghiên cứu chiến lược, quy mô lớn, thu hút sự tham gia của giới nghiên cứu, chuyên gia người nước ngoài ;
  • vận động để có quan toà Trung Quốc trong hai cơ chế luật pháp quốc tế: Toà án Quốc tế (ICJ) và Toà án Luật Biển (ITLOS) ;
  • kể từ năm 1999, ban hành lệnh cấm đánh cá ba tháng mỗi năm, bao gồm vùng biển của Việt Nam ;
  • hiện đại hoá lực lượng hải quân để gia tăng sự hiện diện của Trung Quốc trên toàn bộ Biển Đông ;
  • lôi kéo đồng minh trong khối ASEAN ;
  • nâng cấp đơn vị hành chính quản lý các đảo chiếm đóng bất hợp pháp thuộc Hoàng Sa-Trường Sa, v.v. 

Mãi cho đến đầu năm 2013, lãnh đạo Việt Nam mới lần đầu tiên đề cập đến sử dụng công cụ luật pháp quốc tế trong giải quyết tranh chấp Biển Đông. 

Vài diễn biến đáng ghi nhận trong ba tháng đầu năm 2014 là việc nhà nước cho kỷ niệm một cách giới hạn 40 năm trận đánh Hoàng Sa giữa hải quân Việt Nam Cộng hoà và hải quân Trung Quốc, cho thành lập Quỹ hỗ trợ nghiên cứu biển Đông để thúc đẩy việc nghiên cứu, và trong một cuộc gặp chính thức, Đại sứ Việt Nam tại Philippines thông báo cho phó Tổng thống nước bạn biết là Việt Nam ủng hộ Philippines trong cuộc tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc. 

Các bước đi này, dù muộn màng nhưng đúng hướng, cần thiết phải có cho quá trình đấu tranh bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa – Trường Sa và bảo vệ quyền lợi đất nước trên Biển Đông. 

Những bước đi khác mà Việt Nam nên khẩn trương thực hiện song song là:

  • hoàn chỉnh một cách khoa học, nghiêm túc, hồ sơ bằng chứng chủ quyền Hoàng Sa – Trương Sa qua đóng góp của giới nghiên cứu (độc lập cũng như trực thuộc bộ máy chính quyền) và qua tham vấn chuyên gia luật pháp quốc tế người nước ngoài
  • trong khi hiện đại hóa quốc phòng là điều không thể thiếu trước tham vọng bành trướng của Trung Quốc, là nước yêu chuộng hoà bình, Việt Nam tiếp tục phát huy mặt thuận lợi trong quan hệ ngoại giao với các nước, trong và ngoài khu vực
  • do điều kiện đảo, đá, do nhu cầu giảm thiểu mức độ xung đột, tranh thủ ủng hộ của quốc tế, và do khả năng vô hiệu hoá đòi hỏi đường lưỡi bò của Trung Quốc, Việt Nam chủ trương quy định ngay cả đảo lớn nhất thuộc Hoàng Sa và Trường Sa có lãnh hải 12 hải lý và không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa

 Việt Nam nên năng động, tích cực trình bày cho thế giới thấy rõ rằng, do vị thế chiến lược của các đảo này, Hoàng Sa-Trường Sa đóng vai trò then chốt trong đòi hỏi đường lưỡi bò của Trung Quốc. 

Quyết tâm của Việt Nam nhằm thúc đẩy sử dụng luật pháp quốc tế trong giải quyết tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc không chỉ để giải quyết vấn đề chủ quyền lãnh hải giữa những bên liên hệ mà còn để mang lại ổn định cho tất cả các nước có giao thông hàng hải đi ngang qua một khu vực quan trọng hàng đầu thế giới và có diện tích rộng bằng một phần ba diện tích nước Mỹ. 

Nhân chuyến viếng thăm Trung Quốc của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry vào giữa tháng 2 năm 2014, Trung Quốc tuyên bố tranh chấp Biển Đông cần được giải quyết thông qua đàm phán song phương, trên cơ sở chứng cứ lịch sử và luật pháp quốc tế. 

Để tạo đột phá trong bế tắc hiện nay và để tranh thủ thuận lợi hiện có, xét từ góc độ luật pháp quốc tế và tình hình khu vực, Việt Nam nên hoặc tự mình, trong trường hợp Hoàng Sa, hoặc cùng Philippines, Malaysia, trong trường hợp Trường Sa, hoặc một kết hợp khéo léo của cả hai phương án, công khai kêu gọi Trung Quốc đồng ý để cơ chế luật pháp quốc tế giải quyết tranh chấp Biển Đông. 

Trung Quốc có quan toà đại diện trong Toà án Quốc tế và Toà án Luật Biển; Trung Quốc cũng luôn luôn khẳng định trước dư luận thế giới là họ có đầy đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý hậu thuẫn cho đòi hỏi đường lưỡi bò nói chung và quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa nói riêng. 

Nếu khẳng định chủ quyền của Trung Quốc là dựa trên cơ sở sự thật, khó có bất kỳ lý do chính đáng nào cho Trung Quốc viện dẫn để từ chối vai trò giải quyết tranh chấp giữa các nước mà Toà án Quốc tế đã và đang hành xử hữu hiệu trong hơn 60 năm nay. 

Việt Nam đang thật sự đối diện với một trách nhiệm to lớn mà lịch sử giao phó: sử dụng công cụ luật pháp quốc tế để duy trì an ninh và trật tự trong một khu vực trọng yếu của thế giới.

 

Đơn kiến nghị về vai trò của luật sư trong các phiên tòa quân sự – BS

10 Th2

 

Posted by Basam on February 9th, 2014

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

——–o0o——–

Nam Định, ngày 8 tháng 2 năm 2014

ĐƠN KIẾN NGHỊ

(Về vai trò của luật sư trong các phiên tòa quân sự)

 

Kính gửi:

– BAN CHỈ ĐẠO CẢI CÁCH TƯ PHÁP TRUNG ƯƠNG

– BAN NỘI CHÍNH TRUNG ƯƠNG

– VIỆN TRƯỞNG VKSND TỐI CAO NGUYỄN HÒA BÌNH, TRƯỞNG BAN SOẠN THẢO BLTTHS SỬA ĐỔI

– CÁC LUẬT SƯ ĐỒNG NGHIỆP

– CÁC CƠ QUAN BÁO CHÍ

I/ NGƯỜI KIẾN NGHỊ

Tôi là: Ngô Ngọc Trai
Trưởng Văn phòng luật sư Ngô Ngọc Trai và Cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh Nam Định

II/ CĂN CỨ PHÁP LÝ THỰC HIỆN VIỆC KIẾN NGHỊ

Hiến pháp sửa đổi năm 2013 Điều 28 quy định: 1. Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước; 2. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân.

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Điều 93 quy định: Cơ quan, tổ chức và công dân có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật.

III/ NỘI DUNG VẤN ĐỀ KIẾN NGHỊ

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đang được rà soát sửa đổi, là luật sư hành nghề bào chữa trong các vụ án hình sự tôi nhận thấy và góp ý sửa đổi một việc như sau:

Đã 8 năm hành nghề bản thân tôi chưa từng tham gia một phiên tòa quân sự nào, nhiều luật sư mà tôi biết thì cũng chưa từng tham gia. Một vị luật sư có thâm niên và tên tuổi khi được hỏi về việc đã từng tham gia bào chữa trong phiên tòa quân sự chưa thì viện dẫn đến một phiên tòa tham gia cách đây đã 10 năm.

Điều đó cho thấy là trong quân đội ít xảy ra tội phạm và cũng có khả năng là lâu nay việc giải quyết vụ án trong quân đội luật sư không được hoang nghênh và ít được tham gia.

Qua xem xét thì thấy những hành vi phạm tội của cán bộ chiến sĩ, sĩ quan quân đội được giải quyết bởi một hệ thống cơ quan riêng biệt trực thuộc quân đội. Quân đội có cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án và cơ quan thi hành án riêng, độc lập. Đó là một hệ thống tiến hành tố tụng khép kín.

Vì sự riêng biệt, độc lập và tính chất kín đáo như vậy nên có cảm tưởng rằng đó là hệ thống tố tụng của một quốc gia xa lạ.

Trong khi đó Bộ luật hình sự là luật áp dụng chung, không phân biệt hành vi phạm tội được thực hiện bởi cán bộ, chiến sĩ, sĩ quan quân đội hay dân thường, cho nên dù có trân trọng đến mấy cũng không loại trừ trong quân đội cũng xảy ra những tội phạm về chức vụ, tham nhũng hay các tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người và các tội phạm khác.

Bộ luật tố tụng hình sự cũng là luật áp dụng chung, trong đó luật sư được tham gia bào chữa trong mọi phiên tòa. Không có phiên tòa nào mà luật sư không được tham gia. Bộ luật tố tụng hình sự quy định nguyên tắc pháp lý căn bản là tòa án xét xử công khai. Chỉ trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước thì tòa án xét xử kín nhưng phải tuyên án công khai. Xử kín nhưng luật sư cũng vẫn được tham gia.

Lâu nay tình trạng tội phạm trong quân đội thế nào thật khó biết, tỉ lệ án có luật sư tham gia bào chữa là bao nhiêu? Luật sư ít được tham gia là do không được mời hay bị can, bị cáo e ngại điều gì nên không mời luật sư bào chữa?

Sự tham gia của luật sư bào chữa là hết sức cần thiết vì không có gì đảm bảo rằng tòa án quân sự là không mắc sai lầm và không gây oan sai. Coi trọng vai trò của luật sư trong các phiên tòa quân sự là nâng cao tỉ lệ án hình sự có luật sư bào chữa, giảm tránh oan sai, điều này phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước.

Sẽ có người cho rằng cần giữ “bí mật quân sự” nên hạn chế tính công khai của các phiên tòa quân sự nhưng đó là cách thức ngụy biện để che dấu đi tình trạng sai phạm trong quân đội. Việc giữ bí mật vẫn được đảm bảo vì đó là một trong những nguyên tắc hành nghề của luật sư.

Điều 25 Luật luật sư năm 2006 đã quy định rõ: Luật sư không được tiết lộ thông tin về vụ, việc, về khách hàng mà mình biết được trong khi hành nghề…

Hành lang pháp lý về luật sư là thiết chế quan trọng trong hệ thống luật pháp của quốc gia pháp quyền vì thiết chế về luật sư thực chất là một thiết chế giám sát. Khi luật sư tham gia vào các hoạt động là thực hiện vai trò giám sát hoạt động thực thi và tuân theo pháp luật của cán bộ và cơ quan công quyền, kiểm tra việc am hiểu và áp dụng đúng luật trong khi giải quyết các vụ việc, vụ án, phát hiện ra những lỗ hổng luật pháp và cơ chế dẫn đến tội phạm.

Khi luật sư được hoạt động rộng rãi đó cũng là cách Đảng, Nhà nước và Nhân dân soi dọi ánh sáng công lý vào rộng khắp các vùng mảng đời sống xã hội, giúp kiểm soát bạo quyền và bảo vệ quyền tự do dân chủ. Để xây dựng xã hội thượng tôn pháp luật trước mắt cần thực hiện các hoạt động có tính chất phá băng đối với những rào cản hay chướng ngại cản trở hoạt động hành nghề của luật sư.

Từ những nội dung trên tôi đề nghị:

IV/ KIẾN NGHỊ

  1. Đề nghị Ban chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương, Ban nội chính trung ương, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao kiêm Trưởng ban soạn thảo BLTTHS sửa đổi, xem xét bổ sung quy định buộc mọi vụ án mà người phạm tội là cán bộ, chiến sĩ, sĩ quan quân đội đều phải được có luật sư bào chữa giống như quy định hiện tại áp dụng đối với bị can, bị cáo phạm vào tội với khung hình phạt chung thân, tử hình hoặc người phạm tội là người chưa thành niên. Nếu không có luật sư mời thì phải có luật sư chỉ định.
  2. Đề nghị các luật sư đồng nghiệp có hoạt động thiết thực ủng hộ chương trình cải cách tư pháp của đảng và nhà nước, quan tâm bàn thảo tạo chuyển biến về vấn đề này góp phần bảo vệ quyền hành nghề của luật sư đồng thời cũng là bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân.
  3. Đề nghị các cơ quan báo chí quan tâm phản ánh những sự việc thực tế có liên quan đến nội dung ý kiến nêu trong kiến nghị này, góp phần xây dựng nền tư pháp nước nhà được trở lên công minh tiến bộ.

Xin trân trọng cảm ơn!

Thông tin xin liên hệ: Văn phòng luật sư Ngô Ngọc Trai và Cộng sự, địa chỉ: 106/1 Lương Thế Vinh, phường Trần Đăng Ninh, TP Nam Định. Email: lsngoctrai@gmail.com Website: www.ngongoctrai.com

Người kiến nghị

 

 

LS. Ngô Ngọc Trai

Đơn kiến nghị của LS Ngô Ngọc Trai về vai trò của luật sư – BS

5 Th1
Posted by adminbasam on January 4th, 2014

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

——–o0o——–

Nam Định, ngày 04 tháng 1 năm 2013

ĐƠN KIẾN NGHỊ

(Về vai trò của luật sư trong giai đoạn xác minh đơn thư tố cáo trước khi khởi tố vụ án hình sự)

 

Kính gửi:

– BAN CHỈ ĐẠO CẢI CÁCH TƯ PHÁP TRUNG ƯƠNG

– BAN NỘI CHÍNH TRUNG ƯƠNG

– VIỆN TRƯỞNG VKSND TỐI CAO NGUYỄN HÒA BÌNH, TRƯỞNG BAN SOẠN THẢO BLTTHS SỬA ĐỔI

– CÁC LUẬT SƯ ĐỒNG NGHIỆP

– CÁC CƠ QUAN BÁO CHÍ

 I/ NGƯỜI KIẾN NGHỊ

Tôi là: Ngô Ngọc Trai
Trưởng Văn phòng luật sư Ngô Ngọc Trai và Cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh Nam Định

II/ CĂN CỨ PHÁP LÝ THỰC HIỆN VIỆC KIẾN NGHỊ

Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định: Điều 53. Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị với cơ quan Nhà nước.

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, Điều 93 quy định: Cơ quan, tổ chức và công dân có quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét việc sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành văn bản quy phạm pháp luật.

III/ NỘI DUNG VẤN ĐỀ KIẾN NGHỊ

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đang được rà soát sửa đổi, là luật sư hành nghề bào chữa trong các vụ án hình sự tôi nhận thấy và góp ý sửa đổi một việc như sau:

Hiện tại, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự luật sư mới chỉ được quyền tham gia tố tụng ở các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử mà không được tham gia trong giai đoạn xác minh đơn thư tố cáo trước khi khởi tố vụ án. Điều này ảnh hưởng xấu tới cơ hội hành nghề của luật sư, cản trở mong muốn chính đáng của công dân có được luật sư bảo vệ khi lâm vào vòng lao lý.

Thực tiễn cho thấy, trường hợp khách hàng là người bị tố cáo bị cơ quan điều tra triệu tập đến lấy lời khai và yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ để làm rõ một số nội dung đơn thư tố cáo, nhưng khi luật sư muốn làm việc cùng khách hàng thì lại bị cơ quan điều tra từ chối. Lý do đưa ra là thời điểm đó mới đang xác minh dấu hiệu tội phạm và chưa có quyết định khởi tố, ngoài ra luật chỉ quy định luật sư bắt đầu tham gia hoạt động bào chữa khi khách hàng trở thành bị can (khi có quyết định khởi tố bị can) hoặc bị bắt tạm giữ.

Trong giai xác minh đơn thư tố cáo, cơ quan điều tra thực hiện các hoạt động điều tra không khác gì so với giai đoạn đã khởi tố vụ án rồi. Như cũng triệu tập lấy lời khai, cũng yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ, xác minh lý lịch, giám định và các hoạt động điều tra khác.

Giai đoạn xác minh đơn thư tố cáo rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến số phận pháp lý của công dân nhưng họ lại không được quyền mời luật sư bào chữa, như thế là bất hợp lý. Đây là lỗ hổng lớn của bộ luật tố tụng hình sự và là nguyên nhân tạo ra sự lộng quyền bức cung nhục hình trong hoạt động điều tra.

Trong thời gian gần đây kinh tế suy thoái, nhiều doanh nghiệp nợ nần lẫn nhau và để đòi nợ nhiều khi biện pháp được lựa chọn lại là hình sự hóa sự việc, thay vì kiện ra tòa dân sự để đòi thì đương sự lại tố cáo nhờ cơ quan công an điều tra. Các cán bộ ngân hàng cũng lâm vào tình cảnh tương tự khi gặp nhiều phiền phức, mặc dù sau khi có kết luận là sự việc không có dấu hiệu tội phạm, hành vi không cấu thành tội thì đương sự cũng đã rất tốn kém rồi về thời gian, công sức và tiền bạc rồi.

Sự việc mới đây ông Đỗ Duy Việt (47 tuổi, trú tại thôn Thành Thắng, xã Luận Thành, Thường Xuân, Thanh Hóa) sau khi bị triệu tập làm việc đã chết tại đồn Công an huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Gia đình nghi ngờ chết do bị đánh đập, cơ quan công an thì cho rằng nghi can xấu hổ nên treo cổ tự tử. Đáng chú ý là ông Việt chết khi cơ quan điều tra mới đang lấy lời khai xác minh dấu hiệu tội phạm và chưa có quyết định khởi tố. Sự việc này cho thấy giai đoạn tiền tố tụng cũng rất cần có sự tham gia của luật sư để kiểm soát hoạt động của cơ quan điều tra cũng như tư vấn pháp lý cho khách hàng đỡ túng quẫn làm liều.

IV/ KIẾN NGHỊ

  1. Đề nghị Ban chỉ đạo cải cách tư pháp trung ương, Ban nội chính trung ương, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao kiêm Trưởng ban soạn thảo BLTTHS sửa đổi, xem xét bổ sung quyền của luật sư tham gia bào chữa bảo vệ cho khách hàng trong giai đoạn xác minh đơn thư tố cáo trước khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can.
  2. Đề nghị các luật sư đồng nghiệp quan tâm bàn thảo tạo chuyển biến về vấn đề này góp phần bảo vệ quyền hành nghề của luật sư đồng thời cũng là bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân.
  3. Đề nghị các cơ quan báo chí quan tâm phản ánh những sự việc thực tế có liên quan đến nội dung ý kiến nêu trong kiến nghị này, góp phần xây dựng nền tư pháp nước nhà được trở lên công minh tiến bộ.

Xin trân trọng cảm ơn!

Thông tin xin liên hệ: Văn phòng luật sư Ngô Ngọc Trai và Cộng sự, địa chỉ: 106/1 Lương Thế Vinh, phường Trần Đăng Ninh, TP Nam Định. Email: lsngoctrai@gmail.com Website: www.ngongoctrai.com

Tại Hà Nội, quý khách liên hệ với luật sư Ngô Ngọc Trai theo địa chỉ: Số 62 Thái Thịnh II, Hà Nội.

Người kiến nghị

 

Đã ký

Luật sư Ngô Ngọc Trai

VAI TRÒ CỦA HỘI NHÀ VĂN VỚI NGƯỜI VIẾT VÀ XÃ HỘI – VC+

16 Th12

Chào mừng 55 năm ngày thành lập Hội nhà văn Việt Nam (1957-2012): VAI TRÒ CỦA HỘI NHÀ VĂN VỚI NGƯỜI VIẾT VÀ XÃ HỘI

 
VĂN NGHỆ TRẺ – Vấn đề nâng cao chất luợng hội viên, tiến hành những thay đổi quy chế về đầu tu để có những tác phẩm đạt chất lợng cả về chiều sâu và bề rộng, hay làm thế nào để các tác phẩm văn học tiếp cận đời sống một cách tích cực nhất. Đó là một trong những điều quan trọng nhất mà mỗi nhà văn cần tìm cho mình một hướng đi, và cả Hội nhà văn (tổ chức nghề nghiệp) cũng cần phải có những đổi mới để những vấn đề văn chương đề cập tới vừa mang dấu ấn thời đại nhưng lại có lối đi riêng. Nhằm chào mừng 55 ngày thành lập Hội nhà văn Việt Nam, báo Văn nghệ trẻ xin đăng những ý kiến của các nhà văn về vai trò của Hội nhà văn và vai trò từng cá nhân nhà văn trong mỗi sáng tác của mình.

 

 
Nhà văn Vũ Tú Nam


NHÀ VĂN VŨ TÚ NAM:
NGHỀ VĂN VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HỌC HIỆN NAY

Hội nhà văn thành lập từ tháng 4 năm 1957, đến nay là 55 năm. Điều đáng nói đầu tiên là Hội đã đóng góp rất nhiều trong việc đào tạo bồi dưỡng sử dụng các tác phẩm của các nhà văn. Ví dụ như Hội tổ chức khoá đào tạo các nhà văn trẻ khoá 1 đến khoá 6. Khoá 1 nhiều nhà văn phát triển từ đó, khoá 2 tôi có tham gia phụ trách với anh nguyên Hồng, anh Kim Lân. Bây giờ còn những anh như Đỗ Chu, Lê Lựu, Như Trang, Vi Thị Kim Bình, Mã Thế Vinh…. Khoá 6 đào tạo đặc biệt cho các học viên để đi B. Tóm lại riêng việc đào tạo của Hội cũng giúp nhiều cho việc phát triển các lực lượng văn học.

Thứ 2 là Hội luôn luôn tổ chức các giải thưởng văn học, và các giải thưởng có tác dụng tốt đến đời sống xã hội, nâng cao uy tín nhà văn đồng thời kích thích sự sáng tạo của giới viết văn. Hồi tôi làm tổng thư kí khoá 4, trong số những giải thưởng được trao có cuốn của Bảo Ninh, nhiều ý kiến trái ngược nhau nhưng đến bây giờ ai cũng phải khẳng định đó là cuốn sách tốt và được dịch ra nhiều thứ tiếng.

Một công việc nữa là ở tất cả các khoá, đặc biệt những khoá đầu tiên, Hội hết sức chú trọng đưa các nhà văn đi thực tế, ví dụ như đi vào các vùng sản xuất nông nghiệp, đi vào bộ đội. đặc biệt là đi chiến trường miền Nam như Lê Khâm, Nguyên Ngọc. Cuối cùng là Hội kết nạp được nhiều nhà văn có uy tín trong xã hội. Có điều đó là do công phu của toàn hội, các cơ quan báo chí xuất bản của Hội phát hiện lực lượng đó rồi Hội xem xét kết nạp. Đến bây giờ đội ngũ nhà văn ngày càng đông, nhưng gần đây việc kết nạp có hơi xuống cấp, rộng quá và ít chú ý đến chất lượng. Chuyện đào tạo phát hiện và kết nạp các nhà văn đã có nhiều thành tựu tốt, tất nhiên cũng có nhiều điều cần phải chú ý. Có lẽ chính vì sức hấp dẫn của nó mà trong suốt 55 năm Hội nhà văn đã nhận được sự tín nhiệm tốt của xã hội và của các nhà văn trẻ, chứng minh là năm nào cũng tồn tại rất nhiều lá đơn xin vào hội mà chưa được giải quyết. Tất nhiên không vì nhiều người ta muốn vào Hội nhà văn mà giảm dần sự suy xét cẩn thận, nhằm đào tạo ra các nhà văn vừa có tài, vừa có tác phẩm tốt đồng thời có nhân cách lớn, để tạo ra lòng tin yêu tôn trọng của người đọc, của nhân dân với nhà văn, và cả sự tôn trọng của lãnh đạo nữa.
Chúng ta đang vấp phải nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về vai trò của nhà văn, vai trò của Hội nhà văn với từng hội viên, thời nào cũng vậy thôi. Ví dụ như khi tôi làm tổng thư kí khoá 4 có nhiều ý kiến khác nhau về chính trị chứ không chỉ là quan điểm văn học. Làm thế nào để dung hoà được sự đoàn kết nhưng vẫn khai thác được sáng tạo văn học của anh em. Khác nhau về quan điểm nhìn nhận thực tế là chuyện bình thường, ví dụ có người nhìn nông thôn không được vui vẻ, có người nhìn nông thôn lại quá tốt, đó là sự khác nhau, nhưng có thể chấp nhận được và trao đổi với nhau được. Còn đối lập về chính trị thì khó chấp nhận, nói gì thì hội nhà văn cũng có khẩu hiệu chung vì tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội…
Trong xu hướng mở cửa hiện nay, thách thức đặt ra với một hội nghề nghiệp là phải phát hiện đúng những tài năng. Điều này không chỉ ông Chủ tịch hay ban chấp hành có thể phát hiện hết, mà từng hội viên đều có thể phát hiện giúp hội, những mầm mống viết văn đáng chú ý ở từng địa phương. Riêng cá nhân tôi, tôi thấy chúng ta chưa làm được vì giờ đây các hội viên phần lớn chỉ lo cho cá nhân mình, thậm chí có hội viên vào hội để có cái danh, vào xong không viết nữa. Đặc biệt là vai trò của báo chí xuất bản, mà đứng đằng sau các cơ quan này là lực lượng lí luận phê bình. Ví dụ một cây bút trẻ viết ra một tiểu thuyết hay tập truyện ngắn, có những vấn đề rất hay nếu thấy có tiềm năng, triển vọng, đáng khuyến khích thì các nhà lí luận phê bình phải có những bài phê bình giới thiệu, hoặc nhà xuất bản phải biên tập sớm để cuốn sách nhanh chóng được ra mắt. Đáng tiếc là mình chưa làm được nhiều những điều đó.
Không thể phủ nhận những khoá trước đã làm đựơc, ví dụ khoá 2 hồi mà anh Nông Quốc Chấn còn sống thì các nhà văn người Kinh khác đã giới thiệu được một số nhà thơ dân tộc thiểu số mà sau này họ trở thành những nhà thơ tiêu biểu. Hay như Trần Đăng Khoa khi còn đang bé, anh Phạm Hổ báo Văn nghệ đã giới thiệu lên báo, rồi anh Xuân Diệu cũng có những bài viết về “thần đồng”. Có nhiều trường hợp đã làm được chuyện đó, nhưng đến bây giờ công việc giới thiệu trở nên yếu và hơi lộn xộn. Người ta chỉ thích nói hậu hiện đại rồi chủ nghĩa này kia nhưng chẳng hiểu đâu vào đâu và cứ nghe đến hậu hiện đại là đề cao chứ không thấy thực chất giá trị văn học là gì. Kết quả là người viết bây giờ được hưởng phần lớn là điểm sách mà điểm sách nhiều khi là cánh hẩu, anh điểm cho tôi, tôi điểm cho anh, tôi điểm báo này, anh điểm báo kia, nó không có mục đích chính xác. Điều đó một mặt gây thiệt hại cho văn chương và làm cho các tác giả tự lầm lẫn về mình tưởng mình ghê gớm lắm, do đó không có sự cố gắng.
Khó mà trách cụ thể một ai nhưng các cơ quan báo chí xuất bản của Hội, các nhà phê bình Hội viên của Hội chịu trách nhiệm đầu tiên về vấn đề này. Xuất bản và báo chí khó khăn về kinh tế thị trường ai cũng rõ, nhưng khó gì thì khó không thể buông được chuyện giới thiệu tác giả, tác phẩm chân chính thật sự đáng giới thiệu, không nên vì họ có tiền mà mình cứ in bừa cho họ, có anh một năm in hai tập thơ, không có giá trị gì. Thậm chí thơ bão hoà chẳng ai muốn đọc nữa. Khó nhưng vẫn phải tìm cách giữ được phương hướng phát hiện tài năng thực sự và khuyến khích họ, đôi khi có lỗ cũng chịu khó mà làm chứ giờ cái gì cũng nhìn thấy có lãi mới làm, mới in sách, in bài thì thật khó.
Vấn đề lớn với các cây bút hiện nay, cuối cùng vẫn là lí tưởng, lí tưởng của người viết, lí tưởng của một công dân cầm bút như thế nào. Thêm nữa là trình độ, sự hiểu biết, học vấn thậm chí ngoại ngữ có đủ sức để giữ được danh nghĩa nhà văn trong giai đoạn hiện nay hay không. Nói gì thì nói nhà văn phải có học vấn cao, ít nhất phải biết một ngoại ngữ để có thể quan hệ một cách bình đẳng và tự do với các nhà văn các nước bạn. Đó là những suy nghĩ của tôi về nghề văn và đời sống văn học hiện nay.
 
Nhà thơ Tạ Văn Sỹ
NHÀ THƠ TẠ VĂN SỸ: VẤN ĐỀ CHĂM SÓC HỘI VIÊN
Sống trong thời đại mọi sự đều có xu hướng toàn cầu hóa, thì dĩ nhiên việc “toàn quốc hóa” các hình thái hoạt động xã hội là điều dĩ nhiên. 
Các Hiệp hội ngành nghề, các Hội chuyên nghiệp văn học nghệ thuật cũng vì thế ra đời. Mà đã ra đời thì yêu cầu phải chu toàn công tác tổ chức hội viên và các hoạt động chuyên ngành. Hội Nhà văn Việt Nam cũng vậy.
55 năm qua Hội Nhà văn đã làm tốt được nhiều chuyện trong chức năng của mình. Điều ấy không chối cãi đâu được. Tuy nhiên, cũng như nhiều tổ chức khác, không thể nào không có những cái… “tồn tại”, mặc dù cũng không phải là khó giải quyết lắm.
Ví như chuyện kết nạp hội viên. Bao nhiêu năm bị ì xèo đủ thứ! Rồi vì do kết nạp “chưa chuẩn” nên số hội viên tăng chóng mặt. Từ chỗ hội viên đông đảo dẫn đến việc “chăm sóc” hội viên dường như không bao biện xuể! Điều này lại làm xảy ra những ì xèo khác. ấy là ì xèo việc được hỗ trợ, tài trợ sáng tác, in ấn, hoặc được đi dự trại sáng tác, được đi tham quan các vùng miền trong nước, được đi nước ngoài v.v…
Để tránh tình trạng này theo tôi, Hội cần kịp thời thông báo sớm những kế hoạch, chương trình hoạt động của mình cho tất cả hội viên. Ví dụ như cái “Bản tin hội viên” chẳng hạn. Lâu nay, năm thì mười họa mới có một số! Mà chỉ là đưa tin những việc đã qua. Nếu nó được phát hành thường xuyên hơn, sớm sủa hơn, bên cạnh đưa tin những cái đã làm thì thông báo luôn những dự định, kế hoạch sắp đến (trước chừng một tháng, chẳng hạn) để hội viên nắm bắt mà quyết định “quyền lợi” và “nghĩa vụ” của mình.
Được biết ở văn phòng Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam, nhân lực ít hơn nhiều so với văn phòng Hội Nhà văn, thế mà đều đặn tháng nào họ cũng có một “Bản tin hội viên” thông báo cái đã qua và công việc sắp tới, nên hội viên của họ luôn kịp thời nắm bắt mọi hoạt động, mọi kế hoạch của trung ương Hội và các Chi hội bạn trong cả nước.
Mong sao những chuyện nho nhỏ này được văn phòng Hội Nhà văn ta để ý khắc phục. Chuyện không khó!
 
PV.VNT ghi
Nguồn: Phong Điệp

Vai trò của Trần Nhân Tông và hòa giải – BBC

9 Th10

Vai trò của Trần Nhân Tông và hòa giải

Bức Trúc Lâm đại sỹ xuất sơn chi đồ được cho là vẽ Vua Trần Nhân Tông

Thiền sư Lê Mạnh Thát cho rằng Vua Trần Nhân Tông là một nhân vật tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam nhất là vì tư tưởng hòa giải dân tộc của ông vẫn còn tính thời sự.

Trả lời câu hỏi của BBC vì sao tư tưởng của Trần Nhân Tông (trị vì từ năm 1278-1293) và là Phật Hoàng, sáng lập ra phái thiền Trúc Lâm vẫn còn có tính thời sự đối với Việt Nam và cả quan hệ Mỹ – Việt cũng như Việt – Trung, Tiến sỹ Lê Mạnh Thát nói:

 

TS. Lê Mạnh Thát: Tại Mỹ, thì sau chiến tranh Việt Nam, ông Bộ trưởng Quốc phòng McNamara có viết hồi ký. Ông nói một trong các nguyên nhân mà Mỹ thất bại ở Việt Nam là vì không hiểu Việt Nam. Tôi nghĩ có lẽ sau này những người trí thức Mỹ, đặc biệt các trường Đại học Mỹ họ quan tâm vấn đề đó, vì vấn đề đó là vấn đề lớn. Và khi họ nghiên cứu Việt Nam, thì có lẽ nhân vật tiêu biểu nhất cho Việt Nam là Trần Nhân Tông.

BBC: Nhưng trong lịch sử Việt Nam thường nói đến những vị như Lý Thường Kiệt, rồi Ngô Quyền lập quốc, hay xa nữa là Hùng Vương…sau này là Quang Trung, Nguyễn Huệ, còn Vua Trần Nhân Tông có vẻ không được nói đến nhiều. Gần đây nhờ đến chuyện bức tranh liên quan đến ông nên chuyện nó trở nên mang tính thời sự hơn. Vậy theo Tiến sỹ, vấn đề ở chỗ nào?

Tôi nhớ là tôi viết quyển sách về Trần Nhân Tông năm 2001. Hình như báo Thanh Niên nói đó là một trong 10 quyển bán chạy nhất Việt Nam. Tức là người ta đọc nhiều, có công chúng, họ rất quan tâm đến vấn đề này. Cho nên sự thực là không phải mới đây đâu, còn trong lịch sử dân tộc ta, trong sách của tôi, tôi cũng nói chuyện đó. Đối với Trần Nhân Tông thì đánh giá lịch sử chưa đúng. Ví dụ đặt tên đường chẳng hạn.

BBC: Tại sao đánh giá theo ông là chưa đúng?

Ví dụ đặt tên đường thì đường Trần Hưng Đạo rất lớn, nhưng đường Trần Nhân Tông quá bé, đặc biệt là ở vùng như vùng Huế chúng tôi chẳng hạn, đường Trần Hưng Đạo (tướng) rất lớn nhưng đường Trần Nhân Tông (Vua) rất bé. Cái này là nhận thức sai.

Thiền sư Lê Mạnh ThátThiền sư Lê Mạnh Thát từng bị tù sau 1975 khi nêu ra vấn đề hòa giải

Sau trong sách của tôi có đặt vấn đề đó, và có nhiều bài báo những người khác cũng đề cập vấn đề đó.

Sau này, ví dụ ở Hà Nội hay Nam Định chẳng hạn, đường Trần Nhân Tông rất lớn. Năm 1980 tôi ra Hà Nội, đường Trần Nhân Tông khúc ở phố Huế chỉ dài một đoạn, khoảng mấy chục mét. Rồi đến năm 1999 tôi ra thăm lại Hà Nội, đường này dài hơn cả cây số, rất đẹp.

Hòa giải giữa người Việt

“Không nói đến chuyện lý lịch nữa. Vấn đề là chúng ta đánh thắng giặc rồi, thì bây giờ chúng ta xây dựng. Xây dựng thì chúng ta đoàn kết với nhau. “

TS Lê Mạnh Thát

BBC: Ông có nói tới hòa giải giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sau thời chiến tranh và vị Vua Trần Nhân Tông có thể được nhắc lại để cổ vũ đóng một vai trò. Thế nhưng vấn đề hòa giải giữa người Việt thì Trần Nhân Tông đóng vai trò gì?

Giữa người Việt với nhau, thì (vai trò của) Vua Trần Nhân Tông rất lớn, sự thực là ngay năm 1975, một số vị lãnh đạo miền Bắc vào miền Nam, chúng tôi cũng đã đề cập điều đó. Chúng tôi nói là chúng ta không bàn chuyện đúng sai của cuộc chiến tranh. Bây giờ đất nước hòa bình, thống nhất, thì mình có sách lược rõ ràng. Dân tộc mình có một bộ phận đối lập hẳn với những người chiến thắng, cho nên mình phải có một sách lược rõ ràng.

Tôi có nhắc tới chuyện Vua Trần Nhân Tông, sau khi đánh bại quân Nguyên, thì những tài liệu liên quan tới người Việt Nam của phía Trần Nhân Tông trước đây từng đầu đơn xin theo quân Nguyên, mà những người làm công tác tình báo, an ninh lúc bấy giờ trình lên Vua, đòi phải điều tra những việc này, để xử lý, thì Vua Trần Nhân Tông đã ra lệnh là đốt hết tất cả.

Tức là không nói đến chuyện lý lịch nữa. Vấn đề là chúng ta đánh thắng giặc rồi, thì bây giờ chúng ta xây dựng. Xây dựng thì chúng ta đoàn kết với nhau. Vấn đề này, ngay từ đầu, ngay sau năm 1975, chúng tôi đã đề cập với Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Nhà Trần nêu cao lá cờ đoàn kết toàn dân để chống Nguyên

Và quan niệm của chúng tôi bây giờ vẫn như thế. Còn hôm nay, ở đây người ta nói về hòa giải quốc tế, thì có lẽ là nói đến giữa Mỹ với Việt Nam là chính. Vì chủ đề chiến tranh Việt Nam ở Mỹ vẫn còn là chủ đề hết sức nóng và chua chát.

Đây có lẽ là một cách thể hiện hai bên vẫn quan tâm đến nhau. Tôi nghĩ cái này cũng tốt. Về phía Việt Nam, tôi nghĩ những nhà lãnh đạo Việt Nam đã xóa được cấm vận, đi đến những bước đặt quan hệ bình thường. Thực sự bây giờ đối tác về kinh tế của Việt Nam là Mỹ, trong số 100 tỷ đô-la đó, riêng Mỹ chiếm một phần tư. Chứng tỏ là Mỹ rất quan tâm tới Việt Nam.

Cuộc hội thảo và giải thưởng Trần Nhân Tông này cũng rất hay để thể hiện rằng trong quá khứ, dân tộc mình cũng có những dân tộc như thế, đã cố gắng làm để xóa những hận thù, đặc biệt trong mối quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam lúc bấy giờ. Bởi vì anh đánh thắng xong thì phải làm được hòa giải.

Bài phỏng vấn với Thiền sư Lê Mạnh Thát được thực hiện khi ông đến dự hội thảo về Hòa giải tại Viện Trần Nhân Tông ngày 21/9/2012 tổ chức tại Đại học Harvard, Hoa Kỳ. Ông cũng nói về ý nghĩa học thuật của việc phát hiện ra tranh [Trúc Lâm Đại Sỹ Xuất Chi Đồ] về Vua Trần Nhân Tông sách của Trung Quốc thời Càn Long đã nhắc nhưng chỉ đến bây giờ người Việt Nam mới thấy bản chụp.

 
%d bloggers like this: