Tag Archives: văn hóa

Văn hóa chính trị và lòng dân – VHNA

27 Th10

  •   BÙI ĐÌNH PHONG
  • Thứ hai, 09 Tháng 12 2013 23:31
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
 

Văn hóa chính trị là điều kiện bảo đảm lòng dân và lòng dân là thước đo văn hóa chính trị

I

CHƯA CHẾT VỀ THỂ XÁC ĐÃ CHẾT VỀ ĐẠO ĐỨC

VI.Lênin có nói đại ý rằng con người có 3 cái chết: cái chết về thể xác, cái chết về chính trị và cái chết về đạo đức. Có những người chưa chết về thể xác nhưng đã chết về chính trị.

Thế giới và Việt Nam, xưa và nay đều có những con người như vậy.

Câu dẫn trên đây có liên quan đến văn hóa chính trị và lòng dân.

Bác Hồ dạy: “Không sợ thiếu, chỉ sợ không công bằng/Không sợ nghèo, chỉ sự lòng dân không yên”.

Tại sao lòng dân không yên? Không phải vì GDP xuống thấp. Không phải vì nghèo (mà nước ta có còn nghèo nữa đâu, là nước thu nhập trung bình). Vì văn hóa chính trị xuống cấp.

Sự xuống cấp của  văn hóa chính trị biểu hiện ở những khía cạnh nào?

Trước hết,ở tư duy và tư tưởng, cách suy nghĩ và xem xét vấn đề.

Văn hóa chính trị phải có một tư duy biện chứng, khoa học và cách mạng. Nhưng gần đây, qua các phương tiện thông tin đại chúng, người dân nghe được nhiều phát ngôn chứa đựng kiểu tư duy phản biện chứng, phản khoa học, không có tinh thần cách mạng. Đó là những phát ngôn đổ lỗi cho khách quan, nhận lỗi tập thể và các cấp đổ lỗi cho nhau, mà không thấy trách nhiệm cá nhân. Xung quanh nhiều vụ việc nổi cộm gần đâycủa ngành y tế, nhiều phóng viên đề cập dư luận cho rằng Bộ trưởng y tế nên từ chức, chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ trả lời rằng vấn đề nghiêm khắc nhưng phải lý trí. Theo ông, “không phải việc xảy ra là nghĩ ngay từ chức”. Mà điều đầu tiên nghĩ tại sao tình hình lại như vậy, do chủ quan của ngành mình hay do khách quan, do thời kỳ mình chỉ đạo hay do nhiều thời kỳ dồn lại, quan trọng phải có một quyết tâm, lộ trình, kế hoạch làm sao tình hình tốt hơn với trách nhiệm của mình”. Ông cho rằng Bộ trưởng được Đảng phân công, Quốc hội – cơ quan quyền lực cho đại diện của nhân dân – phê chuẩn. Điều quan trọng nhất khi đứng ở cương vị của mình là làm hết trách nhiệm, tâm sức của mình. Ông khẳng định trước thông tin báo chí phản ánh đa chiều, rộng rãi, các bộ trưởng, lãnh đạo ngành đều nhận rõ trách nhiệm của mình để không phụ lòng dân”.

Dư luận ái ngại và ngơ ngác về kiểu tư duy như vậy. Bài viết này không nói cụ thể việc từ chức hay không từ chức mà bàn về cách tư duy của lãnh đạo. Ở đây không phải là một việc xảy ra mà là mộtchuỗi sự kiện chứa đựng thiếu tinh thần trách nhiệm. Vấn đề không phải là Đảng phân công và Quốc hội phê chuẩn thì không thể không nói: “Tôi xin từ chức”. Đây là vấn đề thuộc văn hóa lãnh đạo, thuộc về tự trọng cá nhân. Một người lãnh đạo được Đảng phân công và Quốc hội phê chuẩn, khi tự thấy mình nhiều lần không hoàn thành trách nhiệm Đảng phân công, nhân dân giao phó, thì nói “xin từ chức” là chuyện bình thường, rất văn hóa, rất chính trị, rất con người. Còn chuyện có được từ chức hay không lại do nhân dân có cho phép hay không. Mà cũng không nên chờ nhân dân cho phép. Nếu mình thật sự có trách nhiệm với dân, với Đảng thì nên “đi trước” Đảng và nhân dân một bước trong việc từ chức. Đó mới thật sự là lý trí. Lý trí không nằm ở chỗ “kiên quyết rút kinh nghiệm”, “kiên quyết làm hết trách nhiệm”, “lãnh đạo đều nhận rõ trách nhiệm của mình để không phụ lòng dân” hay “có văn bản chỉ đạo, chỉnh đốn, rà soát lại các quy định, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra…”.

Người dân cũng bàn đến tư duy, cách nghĩ, tầm nhìn của các đại biểu trong các cuộc sinh hoạt chính trị lớn của Đảng, Quốc hội khi một số cán bộ thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng mà vẫn dành được nhiều phiếu tín nhiệm cao.

Thứ hai, văn hóa chính trị xuống cấp biểu hiện ở chỗ thiếu tinh thần trách nhiệm, buông lỏng quản lý nhà nước

 Dư luận nói nhiều về câu chuyện “con voi chui lọt lỗ kim”. Hoặc “mất bò mới lo làm chuồng”. Thật ra, chẳng phải “con voi”, “lỗ kim”; “chuồng” hay “bò” gì cả. “Chuồng” có nhiều và có từ lâu rồi nhưng có ai trông đâu và nếu có trông thì toàn là những người thiếu đạo đức. Cần phải nhấn mạnh và khẳng định rằng ở nước ta, hệ thống lãnh đạo, quản lý thuộc hệ thống chính trị là hoàn chỉnh nhất. Chúng ta buông lỏng quản lý và không có quản lý. Đến khi có vấn đề xảy ra thì lại chỉ đạo rà soát, kiểm tra, kiểm điểm…

Thứ ba, liên quan đến quản lý, sự xuống cấp của văn hóa chính trị biểu hiện ở nạn tham nhũng và vấn đề lợi ích nhóm

 Nói không quản lý hay buông lỏng quản lý là một cách nói. Còn một cách nói khác là có quản lý theo kiểu lợi ích nhóm. Những người làm công tác quản lý biết cả, nhưng bao che, thông đồng vì được hưởng về lợi ích. Một cái ụ nổi sắt vụn một mình Dương Chí  Dũng không thể nuốt trôi mà phải có cả một nhóm. Một cơ sở thẩm mỹ viện ngang nhiên tồn tại mặc dù không có giấy phép vì nó nuôi cả một nhóm…

Thứ tư, chính sách không hợp lòng dân

 Vừa qua một số chính sách đưa ra không xuất phát từ thực tế, không tôn trọng quy luật khách quan, không hợp lòng dân. Những chính sách đó xuất phát từ ý chí chủ quan, chạy theo bệnh thành tích, và không loại trừ xuất phát từ lợi ích nhóm. Vì vậy, chính sách đưa ra bị ngay sự phản ứng dữ dội của dư luận, của nhân dân và cuối cùng phải bãi bỏ. Lại có loại chủ trương, chính sách đưa ra kiểu trên trời, biết không thực hiện được vẫn ban hành. Cho đến nay, không biết chúng ta đã phạt được bao nhiêu trường hợp nghe điện thoại ở cây xăng hay hút thuốc lá nơi công cộng?

Thứ năm, văn hóa chính trị xuống cấp biểu hiện ở luật pháp không nghiêm

Người dân mong rằng việc xử lý tham nhũng và những người thiếu tinh thần trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng phải noi theo tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh.  Người dạy: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào và làm nghề nghiệp gì”. Và chính Người đã y án tử hình Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục quân nhu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp vì tội tham nhũng. Tính văn minh của một nhà nước pháp quyền không thể để tình trạng như hiện nay, 70% vụ án tham nhũng lại được hưởng án treo, còn những vụ việc lặt vặt lại phải vào tù.

Sự xuống cấp về văn hóa chính trị của cá nhân nhà chính trị là cái chết về đạo đức. Văn hóa chính trị xuống cấp ở một số biểu hiện nêu trên làm cho lòng dân không yên, giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Mà mất lòng tin là mất tất cả.

II

CÁI CHẾT GIEO MẦM CHO SỰ SỐNG

Cũng như Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thuộc lớp người đặc biệt, cái chết gieo mầm cho sự sống, đời đời bất diệt theo cách nói của Phiđen Caxtơrô.

Triệu người lặng lẽ xếp hàng trật tự cả ngày dưới trời nắng, thâu đêm đến viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở 30 Hoảng Diệu. Hàng vạn người đứng dọc đường tiễn biệt Đại tướng và có mặt ở Vũng Chùa – Đảo Yến đưa ông về nơi an nghỉ cuối cùng. Đó là biểu hiện của lòng dân. Hình ảnh người dân xếp hàng đã được Hồ Chí Minh nói đến gần 70 năm trước: “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”. Lòng dân với Đại tướng là biểu hiện rực rỡ nhất triết lý của Nguyễn Trãi về dân: “Chở thuyền là dân. Lật thuyền là dân. Lật thuyền mới biết dân như nước”.

Dân xếp hàng mấy ngày để được nhìn Đại tướng lần cuối cùng không chỉ là sức dân, trí dân, lòng dân, quyền của dân nói với người đã khuất mà quan trọng hơn là nói với chúng ta, những người có trách nhiệm phục vụ dân, công bộc của dân, đày tớ của  dân, những người chủ mang ý nguyện của trời.

Cũng như Bác Hồ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trở thành văn hóa. Mà “văn hóa là cái còn lại khi người ta đã quên đi tất cả; là cái vẫn thiếu khi người ta đã học tất cả” (Edouard Herriot). Văn hóa Võ Nguyên Giáp quy tụ được lòng dân, và vì vậy, mãi mãi là Đại tướng của lòng dân./.

VĂN HÓA THỜI ĐẠI LOẠN: ĐẦU NĂM CHẾT SẶC VÌ CƯỜI:…

9 Th3

Thụy Kha giáng bút trường ca ngắn & kịch thơ;

Vũ Khiêu giáng bút hoa hậu và quán cơm.

Vì sao Thụy Kha 2/15 phiếu vẫn chui được vào giải thưởng Quốc gia của Hội Nhà văn? Độc giả có quyền đặt câu hỏi :”Có phải các thế lực thù địch phản động hải ngoại đã chi tiền cho Kha mua Ban GK, BCH Hội NV để đưa thơ dở, thơ vô cảm, thơ vô hồn của Kha vào hòng bôi bác nền văn học cách mạng chói ngời không? Câu hỏi này, chỉ BGK, BCH Hội NV mới đủ thẩm quyền trả lời. Đến nay, có thể nói không thế lực thù địch phản động nào từ bên ngoài có thể len vào phá hoại mặt trận tư tưởng văn hóa cách mạng hiệu quả bằng chính các ông được mệnh danh “công thần văn nghệ” của chế độ xã hội chủ nghĩa ưu việt! Cho nên, người ta có quyền nghi vấn họ chi tiền nuôi những ông thơ dở, thơ khẩu hiệu, thơ đạo văn, thơ tào lao xịt bọp, nhưng có khả năng to mồm, làm reo với Hội Nhà văn để mấy ông này “tự diễn biến”. Mấy năm trước, có ông Thanh Thảo “thi pháp gãi háng”, đem thơ cứt đái quăng lên ngôi đền Hội nhà văn, nay có thêm ông Thụy Kha đem thơ bạch cầu ung thư, phỉ báng đội quân giải phóng là quân máu trắng, hết máu trắng lại máu xanh như tắc kè.

Ông Thụy Kha chuyên đi đánh quả kiếm chác khắp 3 miền Trung Nam Bắc, chỗ này rượu thịt, chỗ kia gái gú, giao hưởng hợp xướng “tỉnh ca””ngành ca””khu ca” âm nhạc ê a tỉnh này trồng bắp cải tỉnh kia nuôi bò lai, hát dở thua anh hề xóm Hói nhưng tiền tươi thóc thật thu gom hàng trăm triệu mỗi ca khúc “tóm tắt báo cáo tổng kết”. Vì Thụy Kha lấy việc đánh quả thơ văn âm nhạc làm nghiệp chính nên tả đội quân giải phóng cứ như vô cảm: “Họ vừa chuẩn bị kíp mìn để nổ tung con tàu/ Vừa dọn ra mâm cơm thản nhiên ngồi uống rượu”.Trời đất! Cái bài học “lạc quan cách mạng” trong giáo trình hàm thụ, từ xa, anh ta đã ê a sai chỗ, đem đặt lên con tầu không số, đối mặt bom đạn còn ung dung uống rượu, cái này nói trẻ em lớp một nó còn cãi à nha. Sao Kha nỡ nào tả các chiến sĩ cảm tử như tả thân phận đánh quả của Kha nhảy vào tỉnh nọ ngành kia kiếm chác là răng hè? Thật là: “Đặt “Màu Quảng Trị” lổm ngổm câu chữ vô cảm của Thụy Kha bên cạnh “Đêm Quảng Trị” thắm  đượm của Vũ Ngàn Chi, thật giống như Thụy Kha hốt cát dơ rác bẩn vãi lên bàn thờ! Đặt tên tuổi và tác phẩm Trường ca ngắn & Kịch thơ của Nguyễn Thụy Kha bên cạnh Nguyễn Duy, Bằng Việt, Ý Nhi, Thi Hoàng, Nguyễn Mỹ, Hoàng Nhuận Cầm, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hữu Thỉnh, Trần Mạnh Hảo, Đỗ Hoàng, Lê Thị Mây, Vũ Quần Phương, Y Phương, Phạm Tiến Duật, Ngô Minh, Hoàng Vũ Thuật, …của thơ thời chống Mỹ cũng chẳng khác nào đặt em bé bị bệnh đao không trưởng thành nổi bên cạnh các đàn anh đàn chị khỏe khắn lộng lẫy từ thể chất tới tâm hồn!” Nhưng thôi, đầu năm Ất Mùi nhân đọc vannghecuocsong.com; tranmygiong, badamxoe; vonga1153; thachda.blog; thachminh v.v… và hàng chục trang Facebook của các nhà thơ, nhà văn, nhà báo cũng như công chúng yêu văn nghệ, thấy các bài: “Giải thưởng Hội Nhà văn 2014: Thêm một kỳ giải thưởng lèo lá, xú uế”; GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC MẶT TRẬN ĐÃI NGỘ NHỮNG ĐẦU GẤU HẠ CÁNH AN TOÀN (Paul NGUYỄN HOÀNG ĐỨC); Thơ đạt giải thưởng của Nguyễn Thụy Kha quá dở, quá cũ, quá lỗi thời, hô khẩu hiệu suông (Đỗ Hoàng) http://vannghecuocsong.com/vi/news/Giai-Thoai-Viet-Nam/Tho-dat-giai-thuong-cua-Nguyen-Thuy-Kha-qua-cu-qua-do-1749/; Xin chúc mừng Hội Nhà văn đã làm được công việc rất to là đã loại các tác phẩm hay ra ngoài giải thưởng (VONGA1153) ; “Sóng gió giải thưởng” (báo Tiền Phong); Cả năm văn đàn tẻ nhạt, đọc Trường ca ngắn & Kịch thơ của Nguyễn Thụy Kha bỗng chốc gặt hái được những trận cười (VŨ THỊ THU HUẾ) http://nguyennguyenbay.blogspot.com/2015/01/giai-thuong-hoi-nha-van-viet-nam-2014_28.htmlv.v…chúng tôi vừa ngậm ngùi cho thế sự chạy giải quốc doanh vừa được no nê những trận cười nghiêng ngả. Rất thấm nhận định của nhà nghiên cứu lừng danh:“Thật không ê chề nào hơn. Nguyễn Thụy Kha tự mình bôi bẩn cái thể chế mà ông ta tôn thờ bằng sự bất tài vô tướng của mình,cấu kết đổi trắng thay đen, cướp giật đánh quả, dối trá man rợ của ông ta. Cuộc chạy giải thưởng Hội Nhà văn với  sự liên kết hù dọa BGK để tặng cho tập Trường ca ngắn &Kịch thơ dưới mức dở, loạn hình thức thể loại, không quang minh chính đại, , chỉ tự tố cái tư cách thảm thương là một góc  trong hệ thống “chân dung đạo đức Nguyễn Thụy Kha”. Nếu có thực “các thế lực thù địch phản động ở hải ngoại” – như các cơ quan chức năng Việt Nam thường lên án- họ sẽ không bỏ nhỡ cơ hội gửi đô la về nuôi nấng Nguyễn Thụy Kha ăn no tắm mát sáng tác chuyên đề tài cách mạng kháng chiến! Bởi không gì bôi gio trát trấu, phủ nhận thành tựu cách mạng và thành tựu văn nghệ kháng chiến hiệu quả bằng thơ dở của Thụy Kha! Nó khiến nhân dân trong nước và kiều bào, nhất là các thế hệ đi sau, lỡ đọc phải càng giảm sút lòng tin vào thời đại đã qua, cái thời đại mà hệ thống tuyên truyền cực mạnh dày công trang điểm! Cư dân mạng đã giật tít “Chúc mừng Hội Nhà văn đã làm được công việc to tát là đã ngăn chặn được những tác phẩm hay không cho vào giải thưởng!”. Qua chuyện Trường ca ngắn & Kịch thơ của Nguyễn Thụy Kha chạy lọt giải thưởng cánh hẩu, văn giới Việt Nam như buồn ngủ gặp chiếu manh, cả năm tẻ nhạt bỗng chốc gặt hái được những trận cười!”. (https://vonga1153.wordpress.com/2015/02/03/ca-nam-van-dan-te-nhat-doc-truong-ca-ngan-kich-tho-cua-nguyen-thuy-kha-bong-choc-gat-hai-duoc-nhung-tran-cuoi/.) Đầu năm nghe các cây bút lẫy lừng bình luận về giải thưởng quốc doanh, chuyện Nguyễn Thụy Kha giáng bút Trường ca ngắn & kịch thơ làm mất uy tín văn học cách mạng, sang các trang mạng khác lại nghe GS Vũ Khiêu giáng bút hoa hậu và quán cơm, thật hết thuốc chữa! Mới thấy chuyện Lệ Rơi thành ca sĩ xôn xao; Công Phượng 19 hay 21 tuổi; ông Nội (vụ) và ông Ngoại (vụ) chảng nhau vỡ đầu ở Bình Phước cũng không nhố nhăng kệc cỡm bằng. Chẳng biết Hội Nhà văn Việt, Hội đồng Giáo sư quốc gia Việt nghĩ gì khi những chiêu trò vô văn hóa lại khởi đầu từ chốn thiêng. Nhân dân biết trông cậy vào ai. Thế hệ sau biết mong chờ vào ai? Tiền thuế nhân dân hai sương một nắng phải dành nuôi những học giả, nhà thơ báo cô, toàn sản xuất những tác phẩm tệ hại làm ô danh nền văn học nghệ thuật đến thế này sao?

kh

Facebook Bổn Đình Nguyễn

Bài do hainambo40@gmail.com gởi đến Vô Ngã

Con đường đưa Việt Nam đến văn minh

2 Th1

 

Con đường phát triển đi đến văn minh của dân tộc không cách nào khác. Chỉ có bước tới chứ đừng bước lui.

Điều gì cần cho Việt Nam lúc này?

LTS: Góp phần bàn luận tiếp câu chuyện mà nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã đặt ra dịp đầu năm mới “Con đường phát triển đi đến văn minh của dân tộc”, Tuần Việt Nam xin đăng bài viết của GS Cao Huy Thuần để bạn đọc cùng tham khảo.

Lẫn lộn giữa “văn minh” và “văn hóa”

“Thế nào là một dân tộc văn minh?”, muốn trả lời câu hỏi ấy phải trả lời câu hỏi: “Thế nào là văn minh? Văn minh là gì?”. Riêng định nghĩa này thôi, bao nhiêu là phức tạp. Có ai đồng ý với ai đâu? Mỗi tác giả lớn có một giải đáp riêng, lắm khi trái ngược từ căn bản.

Điểm căn bản đầu tiên là sự dùng lẫn lộn giữa “văn minh” và “văn hóa” – “civilisation” và “culture” – mà “văn hóa” lại cũng gây bất đồng trong định nghĩa.

Lịch sử của hai từ “văn minh” và “văn hóa” rất dài, rất xưa ở Âu châu. Lúc đầu, “văn minh” bao hàm hai lĩnh vực: vật chất và tinh thần. Rồi từ “văn hóa” xuất hiện, và nhiều tác giả có khuynh hướng phân biệt, trao phần tinh thần cho văn hóa, phần vật chất cho văn minh.

Văn minh là gì? Có người nói: “đó là đường sá, hải cảng, bờ sông”. Nhưng người khác bác bỏ: “văn minh là phải có một tối thiểu khoa học, nghệ thuật, trật tự, đạo đức…” Nghĩa là tất cả những gì mà con người thu thập được như vốn liếng đã tạo ra. Vậy điểm đầu tiên phải ghi là biên giới giữa tinh thần và vật chất không rõ ràng: văn minh là tinh thần hay vật chất, hay lẫn lộn cả hai?

Điểm thứ hai là việc sử dụng từ “văn minh” cho cá nhân hay tập thể. Ta có thể nói: “một người văn minh”? Hay chỉ nên dùng từ ấy cho một xã hội, một nước, một vùng?

Thông thường, ta vẫn nói: “Đừng nhổ nước miếng bừa bãi, hãy cư xử như một người văn minh”. Ấy là nói về cá nhân. Và ta lại nói: “Văn minh Trung Hoa khác với văn minh Nhật Bản”, “văn minh Tây phương không giống văn minh Đông phương”.

Ấy là nói về tập thể. Bây giờ, từ “văn minh” hay dùng cho tập thể. Chẳng hạn quyển sách danh tiếng một thời và hứng chịu chỉ trích cũng lắm của Samuel Huntington mang nhan đề là “Va chạm giữa các nền văn minh”. Câu hỏi đặt ra – một “dân tộc văn minh” – nằm trong nghĩa tập thể này.

dân chủ, văn minh, văn hóa, dân tộc, Việt Nam, Cao Huy Thuần
Con đường phát triển đi đến văn minh của dân tộc không cách nào khác dân chủ. Ảnh: Lê Anh Dũng

Thế nhưng nó lại gợi ra một vấn đề lý thuyết sôi nổi, và đây là điểm phải ghi thứ ba: Nói rằng một “dân tộc văn minh”, thế chẳng phải hàm ý rằng có những dân tộc không văn minh sao? Vậy thì thế nào là một dân tộc không văn minh? Lấy tiêu chuẩn gì chính xác để phân biệt? Nói như thế cũng hàm ý rằng có nấc thang giá trị để phê phán: dân tộc này văn minh cao hơn dân tộc kia. Thế nào là cao, thế nào là thấp, dựa trên tiêu chuẩn gì?

Tôi đọc ba tác giả được xem là bậc thầy, không phải chỉ ở Pháp mà cả trên quốc tế. Trước hết là nhà sử học Jacques Le Goff. Về thắc mắc thứ nhất, tinh thần hay vật chất, ông trả lời: “Cái đẹp, công lý, trật tự…”. Nghĩa là những yếu tố tinh thần. Xin trích nguyên văn: “Văn minh dựa trên sự tìm tòi và thể hiện của một giá trị cao hơn, trái với văn hóa được xem như là toàn thể những tập tục và những thái độ. Văn hóa nói chuyện dưới đất, văn minh siêu việt trên cao. Cái đẹp, công lý, trật tự….Các nền văn minh được xây dựng trên những yếu tố đó. Ví dụ việc sử dụng đất: văn hóa sản xuất ra lợi ích, gạo, trong khi văn minh sản sinh ra cái đẹp bằng cách tạo vườn”.

Ông nói: vườn Nhật khác với vườn Tàu, và cái khác ấy chịu ảnh hưởng của tôn giáo và tâm linh. Vườn Anh cũng khác với vườn Pháp. Một bên tôn trọng vẽ thiên nhiên, dễ gợi lên tình cảm lãng mạn, mơ mộng; một bên bài trí có hệ thống, ngay hàng thẳng lối, biểu lộ tinh thần duy lý của con cháu Descartes. “Văn hóa đặt ưu tiên cho ý nghĩ về thực dụng, về an ninh, về giàu có, khác với văn minh đặt giá trị trên tâm linh và thẩm mỹ” (Le Monde 23-1-2014).

 

Đặt văn minh trên tiêu chuẩn tinh thần như vậy, không thể nói văn minh nào cao hơn văn minh nào. Ai dám nói vườn Anh đẹp hơn vườn Pháp, vườn Tàu cao cấp hơn vườn Nhật? Thế nhưng phần đông định nghĩa ngày nay không đặt văn minh ở trên cao, văn hóa ở dưới thấp như vậy. Văn minh, theo phần đông, liên quan đến những yếu tố vật chất hơn là tinh thần, tuy rằng không phải gạt bỏ hoàn toàn yếu tố tinh thần. Chỉ định nghĩa như vậy mới bảo vệ được quan điểm cho rằng có văn minh cao, văn minh thấp.

Nhưng đó là nói về Âu châu từ thế kỷ 17, 18. Nếu đặt vấn đề tiến bộ trên bình diện lịch sử cả nhân loại thì tiến bộ là gì? Tôi tìm đến ông thầy thứ hai, Claude Lévi-Strauss. Nhà nhân chủng học này phân biệt hai loại xã hội: “xã hội lạnh” và “xã hội nóng”. “Xã hội lạnh” hoạt động như đồng hồ, “xã hội nóng” hoạt động như động cơ hơi nước.

Các “xã hội lạnh” (xã hội tiền sử chẳng hạn) có văn hóa nhưng không có lịch sử vì chỉ lặp đi lặp lại y hệt, từ thế hệ này qua thế hệ khác, tránh mọi thay đổi về kỹ thuật, cách sống, thân tộc hay cách tổ chức quyền lực. Các “xã hội lạnh” có khuynh hướng sẽ biến mất, bị nuốt, bị phá hủy bởi các “xã hội nóng”. Ngày nay, ai cũng biết “xã hội nóng” là các xã hội nào. Ai cũng biết xã hội nào năng động, sáng tạo trong mọi lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, kinh tế, mỹ thuật, giáo dục, tổ chức xã hội… Và ai chắc cũng lo, không biết xã hội ta có đang nguội dần không? Hôm nay cái đồng hồ đều đặn gõ 12 tiếng, ngày mai cũng đều đặn leng keng 12 tiếng y hệt, và ngày kỉa, ngày kia, ngày kìa cũng vẫn 12 tiếng ấy, biết rồi khổ lắm nói mãi.

Làm tổng hợp trên các điều vừa nói – vật chất và tinh thần, cá nhân và tập thể, tiến bộ và trì trệ – tôi đi đến kết luận của một ông thầy thứ ba, nhà xã hội học Edgar Morin: “Văn hóa là toàn thể những niềm tin, những giá trị đặc thù của một tập thể riêng biệt. Văn minh là những gì có thể thuyên chuyển từ tập thể này qua tập thể khác: kỹ thuật, kiến thức, khoa học…Chẳng hạn văn minh Tây phương mà ngày nay đã lan ra toàn cầu hóa, là một văn minh được định nghĩa là toàn thể những phát triển về khoa học, về kỹ thuật, về kinh tế”.

Nhưng ông nói thêm một điều quan trọng: “Và chính văn minh Tây phương ấy ngày nay đang mang đến nhiều hậu quả tiêu cực hơn là tích cực. Đây là điều cần phải cải tổ, nghĩa là cần phải có một chính sách văn minh”.

Đoạn sau trùng ý với Lévi-Strauss. Nhà nhân chủng học này mượn từ “entropie” trong nhiệt động học để nói rằng văn minh có khuynh hướng tiến đến tình trạng xáo trộn của hệ thống: gia tốc dân số, tranh chấp xã hội, cạnh tranh kinh tế, đụng độ vũ trang, chạy đua khí giới, chiến tranh, vắt kiệt tài nguyên, phá hủy thiên nhiên, tiêu thụ phung phí… Làm sao chữa lại những hậu quả “tiêu cực” ấy? Lévi-Struss cậy đến văn hóa, và văn hóa theo ông là tâm linh, đạo đức, triết lý, nghệ thuật và chính trị.

Chính trị theo nghĩa nguyên thủy của Hy Lạp ngày xưa: là cách tổ chức nhà nước thế nào để đạt được phúc lợi chung. Ta thấy đó, ta trở lại với những gì ta nói từ đầu: sự lẫn lộn giữa văn hóa và văn minh.

Văn minh và dân chủ

Vậy thì tôi cũng đành lẫn lộn thôi. Suy nghĩ như một người Việt Nam trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, tôi trả lời rằng một dân tộc văn minh là một dân tộc có văn hóa cao, nghĩa là năng động, nghĩa là không trì trệ, trên mọi phương diện, vật chất cũng như tinh thần, đầu óc cá nhân cũng như tổ chức xã hội, quyền lực, tiến bộ cùng với xu hướng của thế giới, nhưng không quên rằng mỗi người đều là con cháu thừa tự.

Tôi xin cắt nghĩa mấy chữ sau cùng. Mỗi sáng tạo, hủy diệt, hay mỗi biến chuyển của một nền văn minh đòi hỏi phải có thời gian.

dân chủ, văn minh, văn hóa, dân tộc, Việt Nam, Cao Huy Thuần
Ảnh: Tuấn Kiệt

Vì vậy, trong lịch sử các văn minh, cũng như trong nếp suy nghĩ về văn minh, ý nghĩa thừa tự là căn bản. Một nền văn minh được xây dựng lần hồi, làn sóng này tiếp theo làn sóng khác, về giá trị, về tập tục, về niềm tin. Phải có thời gian để biến chuyển và để củng cố. Để thâu nhận từ bên ngoài và để bảo tồn tận bên trong. Hiện nay, cách mạng tin học và tình trạng toàn cầu hóa có khuynh hướng đồng hóa hết thảy mọi nền văn minh. Nếu chạy theo “văn minh kỹ nghệ”, tiến bộ vật chất một cách mù quáng, không chừng ta thắp một cây hương cho tổ tiên nào không phải là của ta.

Riêng về mối tương quan giữa tập thể và cá nhân, phải nhấn mạnh rằng một tập thể không thể văn minh nếu con người trong đó không văn minh. Giáo dục, chính là để đào tạo nên những con người văn minh. Và thế nào là con người văn minh? Là biết yêu chân, thiện, mỹ. Yêu sự thật, yêu cái tốt, cái đẹp. Chỉ nói sự thật mà thôi, thế nào là yêu sự thật? Là ghét giả dối. Giáo dục là không dạy con trẻ đưa nói láo lên thành hệ thống cai trị.

Nhưng muốn có một nền giáo dục như vậy, tất nhiên phải đặt chính trị lên hàng đầu. Bởi vì chính trị chỉ huy giáo dục. Xưa nay nhà trường chỉ có hai loại: nhà trường dạy phán đoán và nhà trường không dạy phán đoán. Loại nhà trường sau là để minh họa.

Cho nên, cuối cùng, con đường phát triển đi đến văn minh của dân tộc không cách nào khác dân chủ. Bắt đầu bằng thực tâm muốn thực hiện dân chủ. Rồi có thể không vội. Dân chủ hóa lần hồi. Nhưng làm đừng khác nói. Và người dân cứ lấy sáng kiến mà làm. Bước tới chứ đừng bước lui.

Và thấy rằng xu hướng dân chủ là không tránh được, không trước thì sau thôi, bánh xe lịch sử sẽ nghiền nát mọi chướng ngại.

  • GS. Cao Huy Thuần (từ Pháp)

Mất vốn văn hóa, đất nước loay hoay phát triển – TuanVietNam

29 Th12

 

Nhà báo Thu Hà:Thưa quý vị, không một quốc gia, một dân tộc nào phát triển hùng mạnh mà thiếu vắng văn hóa. Văn hóa là cốt lõi của sức mạnh mềm, là yếu tố đóng vai trò quyết định sức mạnh, vị thế, uy tín quốc gia. Gia tăng sức mạnh này là chiến lược quan trọng để hoàn thành nhiều mục tiêu lớn của dân tộc. Đây cũng là nội dung tọa đàm tổng kết các vấn đề văn hóa-xã hội cuối năm của Tuần Việt Nam.

Xin trân trọng giới thiệu hai khách mời là Nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát và nhà báo Phạm Kim Dung (Kỳ Duyên). Nếu nhìn lại các vấn đề văn hóa-xã hội của dân tộc một năm qua, điều gì khiến các chị suy nghĩ, trăn trở nhất? 

 

“Tiếng Việt còn, nước ta còn”

Nhà báo Kim Dung/Kỳ Duyên:  Có câu nói rất nổi tiếng của học giả Phạm Quỳnh “Tiếng Việt còn, nước ta còn”, chương trình Điều còn mãi của VietNamNet, khi ca sĩ Nguyên Thảo cất lên ca khúc “Tình ca” của nhạc sĩ Phạm Duy, có câu “Tôi yêu nước nước tôi, từ khi mới ra đời…” khiến tôi cảm động đến gai người. 

Tiếng Việt còn, nước ta còn. Văn hóa còn, nước ta còn. Một điểm đặc thù của văn hóa, là được tiếp nhận, được sàng lọc rất lâu qua hàng nghìn năm, hàng thế kỷ. Văn hóa là “mưa dầm thấm đất”.

Nói đến văn hóa không thể tách rời kinh tế-xã hội. Kinh tế-xã hội nào, văn hóa ấy. Văn hóa là cơ sở để bảo đảm cho nhân cách, vị thế, tầm vóc một dân tộc. Một con người, dù giàu có nhưng không quan tâm chăm chút vốn văn hóa thì xét cho cùng chỉ là trọc phú. Một dân tộc nếu chỉ giàu mà không chăm chút văn hóa chắc chắn không thể bền vững, bởi nó không thấy rõ cái bản sắc của dân tộc đó. Văn hóa là sản phẩm của cơ chế quản lý, của sự phát triển kinh tế-xã hội. Nó được điều chỉnh trong mối tương quan xã hội đó. 

Trở lại câu hỏi của Thu Hà, nhìn lại văn hóa-xã hội năm qua, tôi thấy có điểm sáng là việc Đà Nẵng, Hội An vươn lên để được chọn là nơi đáng sống nhất; trong nhóm địa danh du lịch yêu thích nhất. Đó là một cách quảng bá cho văn hóa Việt. Có những di sản văn hóa được UNESCO công nhận. Có những con người cụ thể với những việc làm cụ thể đầy tính nhân văn, văn hóa, ý nghĩa, như Nhóm Cơm có thịt của Trần Đăng Tuấn, chương trình Lục lạc vàng của Đài truyền hình VN. 

Bên cạnh đó, trong thời kinh tế thị trường này, lại có những khái niệm rất buồn, đó là “văn hóa tham nhũng”. Tham nhũng đâu phải là văn hóa, thực tế là phản văn hóa, là mặt trái của văn hóa. Vậy mà bây giờ người ta “thừa nhận” tham nhũng như một nét văn hóa thì nguy quá.

Đó là thái độ vô cảm của người Việt với nhau khi đồng loại gặp rủi ro, tai họa có thể gặp mọi nơi, mọi chỗ. Như số đông con người xông vào hôi của; cướp tiền, cướp bia…. Đó còn là chuyện đánh chửi, xúc phạm thầy cô giáo, đuổi chém thầy thuốc. Sự phản văn hóa nhiều khi chính là tội ác. Thật đau đớn khi phải đọc, phải nghe không biết bao vụ trẻ em bị xâm hại, bị bạo hành. Có gì đau đớn hơn khi những đứa trẻ tiểu học, ngay ở HN, khi đến trường, luôn phải được cảnh báo đi vệ sinh không được đi một mình.

Những mặt tối đó, những hiện trạng đó đã được chính các nhà tâm lý xã hội gọi là sự “rối loạn những giá trị”.

Nhà biên kịch Hồng Ngát: Không thể phủ nhận, những thành tựu về kinh tế của đất nước so với hơn chục năm về trước quả thực tốt hơn rất nhiều. Nhưng thật tiếc, khi những bất ổn xã hội vẫn tồn tại.

Nhớ những năm nghèo khổ, cuộc sống rất thanh bình, có trật tự xã hội. Con người sống tình nghĩa, san sẻ bao dung. 

Tôi nhớ hồi 18 tuổi, nửa đêm tôi đi bộ một mình từ Cửa Nam lên khu văn công Mai Dịch mà chẳng có vấn đề gì. Nhưng bây giờ khác lắm.

Kinh tế khá lên đáng lẽ văn hóa phải lên theo thì ngược lại những gì đang được báo chí phản ánh, các ĐBQH phản ánh lại cho thấy văn hóa ta đang xuống cấp, đang lệch chuẩn…  

Người dân rất muốn hỏi lãnh đạo các cấp là tại sao kinh tế lên mà văn hóa lại xuống? Bởi nếu tìm được câu trả lời thì sẽ tìm được lời giải đáp để chữa chạy những lệch lạc hiện nay. 

Bên cạnh những quyết sách phát triển kinh tế-văn hóa cũng cần có những quyết sách để gìn giữ và phát triển văn hóa bởi đó chính là nền tảng, là cốt lõi của mỗi xã hội. Mỗi một gia đình hạnh phúc êm ấm thì xã hội sẽ bền vững, quốc gia sẽ có nhiều cơ hội phát triển hưng thịnh.

Hiện nay, các mối quan hệ đã bị đổ vỡ rất nhiều. Những chuyện xảy ra được báo chí dẫn lại cho thấy những chuyện đau lòng như con cái không kính trọng cha mẹ, thậm chí là chửi bới, hành hạ, giết cả bậc sinh thành. Trong các quan hệ xã hội thì con người bỗng nhiên trở nên dễ giận dữ, dễ dẫm đạp lên nhau. Ngày càng thiếu vắng sự tương kính giữa người với người.

Văn hóa, người Việt xấu xí, vốn xã hội, Nhà báo Kim Dung, Kỳ Duyên, nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát, nhà báo Thu Hà, Tuần Việt Nam
Nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát (trái)

Tôi tin rằng, các vị lãnh đạo luôn mong muốn và đang có những định hướng làm sao để xã hội ngày càng tốt lên, không chỉ kinh tế mạnh lên, mà văn hóa cũng gìn giữ được. Mong là vậy, muốn là vậy nhưng tại sao chúng ta vẫn chưa làm được? 

Vừa rồi, những thông tin về vị nguyên tổng thanh tra chính phủ, người luôn lên tiếng kêu gọi chống tham nhũng vậy mà ông ấy lại là người tham nhũng; rồi còn chuyện ông cựu bí thư Huế khai man và có vấn đề về tư cách.  Vẫn biết đó chỉ là những con sâu, không phải phổ biến, nhưng một vài vị như vậy, cũng làm người dân suy nghĩ và mất mát niềm tin. 

Lòng tự trọng chính là sức mạnh, là nội lực, góp phần quan trọng đưa nước Nhật hùng mạnh như ngày nay. 

Có lòng dân, là có tất cả

Nhà báo Thu Hà:Từ những trăn trở của các chị, có thể thấy rằng những chấn thương tâm lý hiện đại đang gặm nhấm và bào mòn dần sức mạnh của đất nước mình. Vậy, theo các chị nguyên nhân là do đâu và ai phải chịu trách nhiệm?

Nhà biên kịch Hồng Ngát: Ngày xưa chúng ta có các đoàn thể chính trị xã hội và chúng tôi trưởng thành từ đó. Tuy nhiên, các đoàn thể thời chúng tôi rất nghiêm. Muốn là thành viên, cần phải chuẩn bị và phấn đấu, rèn luyện quyết liệt, chuẩn bị cho mình nhiều điểm tốt, và những điểm tốt này phải được xã hội, được tập thể công nhận. 

Tiếc rằng bây giờ đâu đó người ta phấn đấu đơn giản quá, dễ dàng quá, nhiều khi để tìm cơ hội thăng tiến, vì chức tước hơn là để đóng góp cho sự nghiệp phát triển chung, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng chung. Trong khi những người có khí tiết, có lòng tự trọng vì không chịu đi cổng sau nên thường bị thua thiệt. Năm rồi ở Hà Nội từng có người nói công khai khi họp về giá chạy việc, chạy chức. Nếu không có lửa thì làm sao có khói. 

Dân tộc mình trong chiến tranh người người đã xả thân, đùm bọc lẫn nhau không tiếc máu xương. Tại sao giờ đất nước hòa bình, cuộc sống khấm khá hơn thì bỗng đâm ra sống ích kỷ, chỉ biết thu vén, lòng tham trở nên vô đáy không biết thế nào là đủ. Con người dễ sinh nóng giận, mạt sát, dễ dẫm đạp lên nhau, chẳng ai tin ai. Đó là bởi lòng tham là sự ích kỷ nhỏ nhen, là bởi quan điểm sống và mục tiêu sống đã quá khác trước.

Tôi là người đã viết kịch bản và sản xuất bộ phim về Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là phim “Nhìn ra biển cả”. Bộ phim về thời trẻ của Chủ Tịch. Để làm bộ phim này tôi đã đọc rất nhiều tư liệu về cuộc sống bình dị, nhân ái, bao dung của Cụ. Chẳng cần nhìn đâu xa, chỉ cần nhìn tấm gương của Cụ như thế mà dọn mình. Có được lòng dân là có được tất cả. Khi mà lòng dân đã thu phục được bằng những tấm gương đạo đức chí công vô tư, bằng sự liêm khiết chính trực thì chính quyền ắt sẽ bền vững, đưa ra quyết sách gì nhân dân cũng ủng hộ. 

Chẳng phải đâu xa, ngay chuyện phim ảnh cũng có thể thấy, nhiều bộ phim mang tính nhân văn nhưng lại rất khan người xem, trong khi đó, những bộ phim khai thác nhiều, khai thác sâu về đề tài cướp, giết, hiếp… lại luôn trong tình trạng cháy vé. Sống ào ạt, làm ào ạt, sống vội, sống gấp quen rồi… Chậm lại chút, nghĩ ngợi chút dường như là một điều xa xỉ.. 

Cái lệch chuẩn còn thể hiện ở việc nhiều người đang bị rơi vào bẫy hư danh. Một đất nước hướng theo học vị thì tốt nhưng mà phải là học vị thật chứ không thể là học vị “mua” hoặc sao chép cốt lấy cái bằng làm le với thiên hạ. 

Nhà báo Kim Dung/Kỳ Duyên: Cái chấn thương tâm lý lớn nhất trong xã hội hiện nay là gì? Chính là suy giảm niềm tin. Ngay với một đứa trẻ, mất niềm tin đã là một chấn thương lớn lắm khi trẻ mới bước vào đời. Thậm chí là nỗi ám ảnh, và có khi nó đi theo suốt trong cuộc đời. Cho nên có một câu nói “mất niềm tin là mất tất cả”.

Còn với một XH như chúng ta, cách đây mấy năm tôi nghe ĐBQH Dương Trung Quốc, trong một phát biểu trên báo, ông nói đến sự u ám của niềm tin. Còn bây giờ, tôi thấy niềm tin đó không chỉ là u ám, mà là “mất mát”. Vì liệu người dân có thể có niềm tin không khi mà ngay vị cán bộ cao cấp của đất nước cũng phải nói : “Trước đây chỉ có một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ…”

Nhà báo Thu Hà: Thế hệ của các chị, cơ sở để đặt niềm tin là gì?

Nhà báo Kim Dung/ Kỳ Duyên: Thế hệ chúng tôi khi đó sống rất lý tưởng. Trong nhà trường tiểu học, thì có 05 điều Bác Hồ dạy. Những năm tháng chiến tranh, ở nơi sơ tán, là hoàn toàn hồn nhiên sống theo lẽ sống “03 sẵn sàng”. Hay là “đi bất cứ đâu khi Tổ quốc cần”. Các tác phẩm văn học , từ trong nhà trường cho đến cuộc đời cũng tác động nhiều đến từng cá nhân. Lúc đó chúng tôi sống trong một môi trường lành mạnh, XH cũng lành mạnh hơn rất nhiều.

Giờ đây, không ít người có niềm tin ở… tiền. “Có tiền mua tiên cũng được- có cả một tổng kết dân gian mang tính triết lý đáng buồn như thế. Rồi “Không thể mua được bằng tiền, nhưng có thể mua bằng… rất nhiều tiền”. Con người giờ đây tin ở sức mạnh đồng tiền thế cơ mà.

Văn hóa, người Việt xấu xí, vốn xã hội, Nhà báo Kim Dung, Kỳ Duyên, nhà biên kịch Nguyễn Thị Hồng Ngát, nhà báo Thu Hà, Tuần Việt Nam
Nhà báo Phạm Kim Dung/Kỳ Duyên (trái)

Dù thực ra trong xã hội, vẫn luôn tồn tại những điều tốt, vẫn luôn có những con người tốt bụng, sẵn sàng làm những điều, những việc từ thiện, nhân ái nhưng dường như đồng tiền giờ đây có sức chế ngự mạnh hơn. Người ta bảo giờ là “thời Kim Tiền”!

Có những quan chức tham lam, lạm dụng quyền chức vơ vét, dối trá cướp công đồng đội, thực chất là đã tự tha hóa. Những con sâu ấy đã làm vẩn đục môi trường sống của XH, làm người dân bất bình, phẫn nộ và hoài nghi tất cả. Nên thấy đó là nỗi hổ thẹn của một dân tộc. Bởi họ đã không coi pháp luật là gì. Họ tự cho mình quyền “ngồi trên pháp luật”. 

Hãy nhìn nguy cơ mất niềm tin thực sự là nguy hiểm, bởi nó ảnh hưởng đến tầm vóc, nhân cách và làm suy yếu dân tộc.

Nhà biên kịch Hồng Ngát: Thế hệ chúng tôi  bây giờ thuộc diện “cổ lai hy” rồi. Nhưng không phải cái gì cũ cũng đều bỏ đi. Có những cái cũ tốt thì cần giữ lại. Chả thế mà có người cứ đùa vui (nhưng cũng có sự thật trong đó) rằng “bao giờ cho đến ngày xưa?” Ngày xưa thanh bình ơi, ngày xưa trong trẻo ơi, ngày xưa tình nghĩa ơi, ngày xưa trọng đạo nghĩa hơn tiền bạc ơi… Bao nhiêu cái ơi ấy, bây giờ có gọi cũng chả thấy hay ít thấy trả lời. Thật tiếc!

Nhà báo Thu Hà:Vừa rồi bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh  có thông báo, hơn 80% gia đình Việt Nam đạt danh hiệu gia đình văn hóa. Các chị có bình luận gì về con số này và thực tế cuộc sống đang diễn ra?

Nhà báo Kim Dung/ Kỳ Duyên: Tôi chợt nhớ đến con số của Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình rằng, 99% công chức hoàn thành nhiệm vụ. Con số đó sẽ là sự.. tương hỗ tương thích hơn 80% gia đình văn hóa.

Con số đó chỉ phản chiếu thêm đó là bệnh thành tích, chưa phản ánh được sự thật là các gia đình văn hóa hay không? 

Không ai phủ nhận mục đích của cuộc vận động Xây dựng gia đình văn hóa là tốt, vì gia đình là tế bào của XH. Tuy nhiên, đất nước đã chuyển sang cơ chế thị trường, mọi thang bậc giá trị, tiêu chí văn hóa cần gắn kết với thời cuộc mới. Không thể dùng cái tiêu chí cũ để đo các thang bậc giá trị mới.

Nhà biên kịch Hồng Ngát: Khen thưởng đúng thì động viên được rất nhiều. Nhưng nếu chỉ chạy theo thành tích mà ban phát sự  khen  búa xua thì lại hỏng. 

Cạnh sự khen cũng cần biết lắng nghe. Một con người còn luôn luôn phải tu dưỡng sửa đổi mình để tốt lên huống hồ một đất nước. Cái cốt lõi là phải biết lắng nghe những lời nói phải, tránh sự qui chụp cho rằng thế là do họ không tốt với mình, là không ưa mình, ghét mình, cao hơn nữa là “phản bội” mình nên mới nói thế. 

Hãy bỏ qua hiện tượng mà nhìn vào bản chất.  Ví như có người hay nói nghịch nhĩ nhưng khi có việc khó khăn là thấy họ có mặt ghé vai  ngay. Cuộc sống muôn màu như thế đấy. Phải biết tỉnh táo mà nhìn đúng người, đúng việc. Nói là vậy nhưng chẳng phải lúc nào và bao giờ cũng minh mẫn và tỉnh táo được. Nghe khen–dù biết là khen không thật–vẫn cứ thích hơn là nghe chê… 

Trớ trêu thay!

(Còn tiếp)

Xem thêm các bài Nhìn lại năm 2014, hướng tới năm 2015:

Người Việt: Cứ mãi làm theo, sẽ luôn tụt hậu

40 năm trước hai nước ngang nhau. 40 năm sau người Hàn Quốc qua VN làm ông chủ. Còn người VN qua Hàn Quốc là làm thuê và làm dâu xứ người!

2014 bất ổn và khó đoán nhất

Dự đoán của các học giả cuối năm 2013 đều chệch hướng. 2014 là năm bất ổn, bất an và khó đoán định nhất từ trước đến nay.

Vũ khí dầu lửa của Putin bị vô hiệu hóa

Tác động rõ nét nhất là nước Nga của Putin đã bị tước đi vũ khí mạnh của mình đó là dầu lửa và con bài dầu lửa không còn hiệu quả.

Giấc mộng độc chiếm Biển Đông

Để thực hiện mục tiêu thành cường quốc biển thì ý đồ độc chiếm Biển Đông của TQ tiếp tục đặt ra thách thức nhiều mặt.

Vì lợi ích quốc gia, đừng để thua thiệt

Đặc trưng quan hệ quốc tế hiện nay là vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Lợi ích quốc gia đan xen phức tạp.  Tôi cho rằng vì lợi ích quốc gia, ta cần thực tế, nếu không sẽ dễ thua thiệt.

‘Người giỏi có cơ hội… cứ để họ đi’

“Tại sao không nghĩ đến chuyện kéo người giỏi của nước ngoài về VN làm việc và ở mặt ngược lại, những người Việt giỏi, nếu họ có cơ hội đi, hãy để họ đi”.

‘Sinh viên thất nghiệp nhiều, hiệu trưởng nên… nghỉ’

“Chúng ta có nhiều trường tệ, theo nghĩa học đại học ở đó ra cũng không làm được việc, mà chỉ lấy một cái danh đại học”.

Toàn xe siêu sang: Ai nói Việt Nam nghèo?

Người Việt đôi lúc hãnh diện khi nói về số lượng xe sang – chỉ số nói lên độ ăn chơi của giới nhà giàu Việt và không quên bình luận thêm “ai bảo VN mình nghèo?

 

  • Tuần Việt Nam – Ảnh: Lê Anh Dũng

Phan Khôi và bước chuyển từ chính trị sang văn hóa – VHNA

9 Th11

 

  •   Đỗ Lai Thúy
 

Phan Khôi và bước chuyển từ chính trị sang văn hóa

 

Trong thế kỷ XX, nếu lấy chính trị và văn hóa như là hai chiều kích đối lập nhau trong một khung lịch sử, thì con đường của người trí thức Việt Nam diễn ra theo các chuyển động rất phức tạp. Tuy vậy, có thể khái quát thành những xu hướng cơ bản sau: 1) từ chính trị sang văn hóa; 2) từ văn hóa sang chính trị; 3) từ văn hóa đến văn hóa; 4) vừa chính trị vừa văn hóa. Trong các xu hướng này, con đường từ chính trị sang văn hóa, tuy không được số đông hành cước, nhưng lại là con đường phát lộ nhiều vấn đề của xã hội Việt Nam hiện đại, và có ý nghĩa đặc biệt trong sự hình thành tầng lớp trí thức độc lập. Bởi vậy, suốt thế kỷ trước, người ta thường thấy một hiện tượng rất đáng lưu ý: một nhân vật đang mải mê hoạt động, sau một sự cố nào đó, liền từ giã sự nghiệp chính trị chuyển sang hoạt động văn hóa. Phan Khôi là một trường hợp đầu tiên và tiêu biểu.

Phan Khôi (1887 – 1959) sinh ra trong một gia đình khoa bảng và chống Pháp. Thân sinh ông là Phan Trân, đỗ phó bảng năm 1891 dưới triều vua Thành Thái, làm quan đến tri phủ Diên Khánh, rồi vì bất hòa với viên công sứ Pháp ở Nha Trang, nên bỏ về hưu, khi chưa đầy 40 tuổi. Thân mẫu là Hoàng Thị Diệm, con gái Hoàng Diệu. Bà mất sớm, chỉ để lại hai con là Phan Khôi và cô Ba, vợ học giả Lê Dư, mẹ Hằng Phương nữ sĩ. Làng Bảo An quê ông thuộc Gò Nổi, một dải đất giữa hai nhánh, một của sông Thu Bồn và một của sông Vu Gia. Dân làng chủ yếu sống bằng nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt vải, nổi tiếng với các mặt hàng lụa, tuýt-xi. Nghề buôn bán, do vậy, cũng rất phát đạt. Vải, lụa, đường cát từ Gò Nổi vươn xa đến tận Huế, Nam Định, Hải Phòng, Hà Nội. Bảo An, cũng như toàn tỉnh Quảng Nam, là quê hương của nhiều người hiển đạt. Nhưng, đây là một vùng đất mở với sự phát triển của thương mại và/qua các cừa sông, cảng biển, con đường duy nhất bấy giờ nối liền với thế giới Đông Á đang chuyển mình. Các thầy đồ Quảng, do vậy, sớm tiếp xúc với Tân thư, trở thành các nhà nho duy tân chống Pháp, như Trần Quý Cáp, Phan Thành Tài, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng…

Phan Khôi, con của đất ấy, con của người ấy, tự nhiên phải đi theo truyền thống ấy. Ông học chữ Hán với Trần Quý Cáp, rồi trường Huấn, trường Đốc. Kỳ sát hạch nào cũng đỗ đầu. Ông nổi tiếng là một sĩ tử thông minh đất Gò Nổi. Nhưng, năm 1906, khi vác lều chõng ra Huế thi Hương, Phan Khôi chỉ đỗ tú tài. Ông uất ức cho rằng quan trường chấm thi hồ đồ, thậm chí còn làm thơ đả kích. Xem lại bản nháp các bài thi, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng đều đánh giá cao, và đoán rằng khoa sau ông sẽ đỗ cử nhân, tiến sĩ. Nhưng Phan Khôi đã quyết tâm từ bỏ con đường khoa cử. Đây là lần thứ nhất, trên hành trình tìm đường của mình, Phan Khôi từ bỏ một truyền thống lâu đời của gia đình, quê hương, xứ sở.

Quyết bỏ thi chữ Hán, Phan Khôi quay sang học tiếng Pháp với Phan Thành Tài, một người bà con trong họ tộc. Đồng thời, ông tranh thủ dạy quốc ngữ và chữ Hán cho trường Diên Phong, do Hội buôn Diên Phong mở để làm trụ sở hợp pháp cho phong trào Duy tân Quảng Nam. Cuối 1906, Phan Khôi làm một việc “động trời” bấy giờ là cắt bỏ búi tóc, biểu tượng thiêng liêng của các nhà cựu học, và làm bài “Vè cúp tóc” để vận động người khác. Ban đầu thì trong nhà phản ứng, ngoài đường chế giễu, nhưng chẳng bao lâu đã thành một phong trào: “Bỏ cái ngu này/ Bỏ cái dại này/ Cho khôn cho mạnh/ Học theo người Tây”. Năm 1907, Phan Khôi được phong trào Duy tân Quảng Nam gửi ra Đông Kinh nghĩa thục ở Hà Nội, vừa để tìm cách phát triển các hoạt động duy tân ở quê hương, vừa tranh thủ học thêm tiếng Pháp do Nguyễn Bá Học dạy. Ông còn sửa bài, viết bài cho Đăng cổ tùng báo, một tờ chữ Hán của trường. Công việc đang thuận lợi thì nhà cầm quyền Pháp đóng cửa Đông Kinh nghĩa thục và cấm Đăng cổ tùng báo. Phan Khôi chưa kịp quay về Quảng Nam thì bị bắt giải về quê. Lúc này, vụ “xin xâu” (chống sưu thuế) ở Quảng Nam bị đàn áp dã man. Trần Quý Cáp bị xử tử. Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thành, Phan Thúc Duyện bị đi đày Côn Đảo. Phan Khôi cũng bị kết án 3 năm tù. Công cuộc vận động Duy tân bán công khai theo đường lối Phan Chu Trinh thế là bị dập tắt.

Ra tù, một mặt Phan Khôi lấy vợ, đẻ con để hoàn thành nghĩa vụ gia đình, mặt khác vẫn tham gia các vận động bí mật của Việt Nam Quang phục hội của Phan Bội Châu. Nhưng đến 1914, ông chấm dứt hẳn hoạt động này để đến năm 1916 ra Hà Nội lần hai, tìm con đường làm báo. Đầu tiên ông làm thư ký cho Công ty Vận tải Đường thủy của Bạch Thái Bưởi. Rồi nhận thấy đây không phải là đường đi của mình, Phan Khôi kiên quyết từ chối sự níu kéo của nhà tư sản dân tộc này, rời Hải Phòng lên Hà Nội. Ở đây, ông gặp Nguyễn Bá Trác, người cùng quê và/ là bạn học cũ. Ông này đang chuẩn bị vào Huế nhậm chức, nên giới thiệu Phan Khôi vào thế chân mình ở báo Nam Phong. Thấy đây là cơ hội để mình có điều kiện phát triển một hướng đi, Phan Khôi nhận lời. Ngoài việc viết bài, biên tập cho phần Hán văn do Nguyễn Bá Trác để lại, Phan Khôi còn phụ trách chuyên mục “Nam âm thi thoại” chuyên giới thiệu, bình luận thơ. Thế là từ đây, Phan Khôi đi hẳn vào con đường làm báo chuyên nghiệp. Như vậy, đây là lần thứ hai, Phan Khôi từ bỏ một truyền thống nữa của gia đình, quê hương, xứ sở, để đi theo một truyền thống khác, mà có thể lúc này mới chỉ là một phản/ phi truyền thống. Đó là sự từ bỏ con đường hoạt động chính trị, cả phong trào Duy tân bán công khai của Phan Chu Trinh, lẫn sự vận động bí mật cho đường hướng đấu tranh vũ trang của Phan Bội Châu, để chuyển sang hoạt động văn hóa một cách công khai, hợp pháp. Với con đường cứu nước phi truyền thống này, Phan Khôi hẳn còn bị gia đình, bạn bè phản ứng dữ dội hơn lần trước, thậm chí còn bị các đồng chí cũ nghi là phản bội, nhất là tờ báo khởi nghiệp của ông lại là Nam phong tạp chí của Phạm Quỳnh. Nhưng, chính đây lại là bước quyết định của/ với Phan Khôi trong việc biến ông từ một nhà nho cổ điển, một nhà nho duy tân thành một nhà nho Tây học, một nhà văn hiện đại, đồng thời tạo ra một dấu mốc trên hành trình xây dựng văn hóa dân tộc, cũng như hình thành tầng lớp trí thức độc lập.

Con đường cứu nước phi truyền thống này có tiền đề từ Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871). Khi thực dân Pháp rập rình xâm chiếm Việt Nam, trước sức mạnh quân sự vượt trội của nó, triều đình Huế chia làm 2 phe: chủ chiến và chủ hòa. Tư tưởng chủ chiến dựa trên truyền thống ngàn đời “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “quốc gia hữu sự, thất phu hữu trách”, “sát thân thành nhân”. Tư tưởng chủ hòa mang tâm lý thất bại chủ nghĩa, sợ trách nhiệm, sợ mất quyền lợi, thực chất là đầu hàng. Chủ chiến và chủ hòa, tuy đối đầu với nhau quyết liệt như vậy, nhưng, xét cho cùng, chỉ là hai mặt đối lập của cùng một kiểu tư duy nhị nguyên, biện biệt: hoặc là đánh, hoặc là hòa, theo nguyên lý loại trừ. Nguyễn Trường Tộ, với cái nhìn nhất nguyên, đưa ra một tư duy khác. Một kiểu chủ hòa khác. Đó là hòa để chiến, trong hòa có chiến, trong chiến có hòa. Ông cho rằng muốn thắng được người Pháp ở trận cuối, thì trước mắt phải hòa với nó, thậm chí phải dựa vào nó, liên kết với nó, để tranh thủ thời gian xây dựng kinh tế, kỹ thuật, đào tạo nhân lực, phát triển thương mại, trang bị lại cho quân đội, xây dựng quan hệ ngoại giao đa phương với các tổ chức và các nước phương Tây khác. Nhưng, tư tưởng này quá mới, nên đình thần hoài nghi, phân vân, hoảng sợ: những kiến nghị của ông bị bỏ qua. Rồi khi chiến sự đến thì các cơ hội để thực thi chiến lược hòa để chiến không còn nữa, chỉ còn hoặc chiến hoặc hòa. Trong hoàn cảnh này, phe chủ chiến ban đầu thắng/ đa số tuyệt đối để rồi sau đó thua/ thiểu số tuyệt đối.

Sáu tỉnh Nam bộ, rồi toàn bộ đất nước bị mất, các phong trào Cần vương lần lượt bị thất bại, con đường cứu nước bằng bạo lực bị chìm xuống. Trong hoàn cảnh đó, Trương Vĩnh Ký (1837 – 1898) chủ trương con đường cứu nước bằng văn hóa. Tạo ra cuộc đối thoại Đông Tây, Trương Vĩnh Ký muốn làm cho, một mặt, người Nam hiểu được người Pháp, văn hóa Pháp, mặt khác, người Pháp hiểu được nền văn hóa cổ truyền thâm sâu của Việt Nam. Đồng thời tranh thủ xây dựng một văn hóa Việt Nam hiện đại bằng sự kết hợp Đông Tây, Nam Pháp theo nguyên tắc “Đông học vi thể, Tây học vi dụng”. Ở Nguyễn Trường Tộ, trong hoàn cảnh một xã hội không có xã hội, mà chỉ có nhà nước, thì đối tượng “cải cách” chính của ông là vua (dĩ nhiên phải qua một đám quan lại chóp bu), phương thức duy nhất của ông là điều trần. Còn ở Trương Vĩnh Ký thì ông đã có một công cụ mới là báo chí, để bước đầu xây dựng một xã hội dân sự. Đối tượng “cải cách” của ông, bởi vậy, là dân chúng, bao gồm các nhà nho duy tân, các điền chủ, nhà buôn, viên chức trong bộ máy chính quyền mới ở Nam bộ. Lấy báo chí làm phương tiện, Trương Vĩnh Ký xây dựng và phổ biến chữ quốc ngữ. Từ đó xây dựng văn xuôi báo chí, rồi văn xuôi nghệ thuật, cũng như nền học thuật của đất nước.

Từ đây, ở Việt Nam, tồn tại hai con đường cứu nước: 1) con đường bạo lực chính trị và 2) con đường phát triển văn hóa, một con đường chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Trong hai con đường này, thì bạo lực chính trị bao giờ cũng là một nét đậm, một nhịp mạnh. Cả hai tồn tại song song với nhau, vừa hỗ trợ nhau vừa đấu tranh với nhau, đôi khi thành những cặp đối lập nổi tiếng trong lịch sử như Phan Bội Châu – Phan Chu Trinh, dẫu rằng văn hóa của cụ Phan thứ hai, xét cho cùng, cũng nhắm đến mục đích chính trị. Bởi thế, đáng chú ý là, thỉnh thoảng lại có những người chuyển từ hoạt động chính trị sang hoạt động văn hóa, sau một “sự cố” nào đó khiến họ có một nhận thức mới. Phan Khôi không phải là một hiện tượng duy nhất, mà là một trường hợp đầu tiên tiêu biểu nhất. Sau này còn có những trường hợp khác nữa. Như Đào Duy Anh (1904 – 1988), bí thư Tân Việt cách mạng đảng, sau khi bị Pháp bắt giam vào cuối năm 1929, cũng từ bỏ hoạt động chính trị chuyển sang làm sử học, làm văn hóa. Hoặc gần đây hơn, Nguyễn Kiến Giang (1930  – 2013), sau vụ “nghị quyết 9” cũng trở thành một dịch giả, một nhà nghiên cứu văn hóa có nhiều đóng góp. Có điều đáng nói là bước chuyển của Đào Duy Anh, Nguyễn Kiến Giang đều do một “cú hích của Thượng đế”, tức ít nhiều bị động, còn của Phan Khôi thì hoàn toàn chủ động.

Phan Khôi chủ động thực hiện bước chuyển này vì ông nhận thức được tầm quan trọng của dân trí cũng như vai trò của báo chí trong việc khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Bởi thế, làm báo, Phan Khôi chủ trương công khai, độc lập và kiên quyết không dính líu đến chính trị. Hẳn cũng vì thế mà ông sớm rời khỏi tờ Nam phong của Phạm Quỳnh, dù tạp chí này bấy giờ làm rất tốt nhiệm vụ xây dựng một nền quốc ngữ, quốc văn, quốc học. Ông vào Sài Gòn để viết cho tờ Lục tỉnh tân văn, rồi lại trở ra Hà Nội viết cho Thực nghiệp dân báo và tạp chí Hữu Thanh. Rồi lại vào Sài Gòn cộng tác với Thần chung, Đông Pháp thời báo đồng thời gửi bài cho Đông Tây tuần báo, Văn học tạp chí ở Hà Nội. Lúc này Phan Khôi đã trở thành một nhà báo nổi tiếng trong giới trí thức Sài Gòn. Bởi thế, ông được bà Nguyễn Đức Nhuận (Cao Thị Khanh) mời ra làm chủ bút tờ Phụ nữ tân văn do bà đứng tên sáng lập. Trang bìa tờ báo có in hình ba cô gái Bắc, Trung, Nam, biểu tượng cho nước Việt Nam thống nhất, dưới bức hình là hai câu thơ: “Phấn son tô điểm sơn hà/ Làm cho tỏ mặt đàn bà nước Nam”. Nhưng Phụ nữ tân văn là tiếng nói không chỉ của/ về phụ nữ, mà còn của các tầng lớp xã hội khác. Năm 1934, tờ Phụ nữ tân văn bị cấm, Phan Khôi trở ra Hà Nội viết Phụ nữ thời đàm, rồi lại vào Huế làm chủ bút báo Tràng An. Rồi tờ báo này cũng bị đóng cửa nốt. Năm 1936, Phan Khôi xin được giấy phép ra tờ Sông Hương. Suốt đời làm báo thuê, đây là lần đầu tiên ông có một tờ báo của mình. Nghĩa là ông có thể hoàn toàn chủ động từ việc đề ra cương lĩnh đến sắp xếp các mục trên trang báo, các bài viết. Ông huy động toàn bộ vốn liếng, vợ con vào làm việc cho tờ báo. Sông Hương nhanh chóng chinh phục được đông đảo bạn đọc thuộc các thành phần xã hội. Nhưng nó chỉ tồn tại được đến 1939 thì phải tự đóng cửa vì không đủ tài chính.

Phan Khôi làm báo trước hết để tiếp tục theo đuổi một cách công khai chủ trương khai dân trí thuở Duy tân. Dĩ nhiên, dân ở đây, trước hết là người có học, như tiêu ngữ trên tờ báo của ông “Ai có học phải đọc Sông Hương“. Bằng ngòi bút của mình, Phan Khôi đã đấu tranh bền bỉ cho các quyền của người dân, nhất là quyền tự do, dân chủ. Quan trọng là các quyền này với Phan Khôi phải minh bạch, chính đáng. Có lẽ vì thế mà có dạo trên Sông Hương, Phan Khôi phản đối một số tờ báo khác làm đơn xin được tự do ngôn luận. Ông cho rằng đã xin thì không còn tự do nữa. Tự do ngôn luận phải là một quyền, nghĩa là được thừa nhận công khai, bằng luật pháp. Phan Khôi đề cao luật pháp, như một thành tựu của văn hóa phương Tây. Đề cao văn hóa phương Tây, Phan Khôi chống lại các thành kiến cổ hủ của văn hóa Đông Á trong đó có Nho giáo, đặc biệt là Tống nho. Ông phê phán kịch liệt quan niệm trinh tiết, lật ngược lại cái nhìn về Võ hậu, kêu gọi giải phóng phụ nữ ra khỏi đại gia đình phong kiến. Để xây dựng một văn hóa mới, hiện đại, Phan Khôi còn viết nhiều về lịch sử, văn học, Việt ngữ… Ở lĩnh vực nào hầu như ông cũng là người đi tiên phong, như mở đầu cho Thơ Mới bằng bài “Tình già”, đặt viên gạch đầu tiên cho nghiên cứu Việt ngữ, đi trước Tự lực Văn đoàn về giải phóng phụ nữ… Có lẽ, vì tồn tại chủ yếu với tư cách là một nhà báo, nên Phan Khôi chỉ là người đặt gạch chứ chưa phải là người xây nhà. Nhưng, cũng với tư cách một nhà báo, Phan Khôi đã để lại một sự nghiệp viết đồ sộ, không chỉ ở nội dung viết, mà còn ở cách viết. Không giống các nhà báo khác, ông không chạy theo việc mô tả sự kiện, mà chỉ chú ý đến những vấn đề xã hội hoặc văn hóa đằng sau sự kiện đó. Các bài báo của ông, bởi thế, đều có tính chất khám phá, tranh luận, phê phán ở chiều sâu học thuật. Mỗi bài báo của ông là một Essai thực sự. Một thể loại mở, giàu tính lý thuyết và tinh thần phê phán.

Như vậy, Sông Hương là đỉnh cao sự nghiệp văn học của Phan Khôi, đỉnh cao của sự độc đáo Phan Khôi cả ở tư duy, ngôn ngữ, lẫn cách thế: trình độ Hán ngữ, Pháp ngữ, Việt ngữ rất cao, sự sùng bái tư duy logic, lối ứng xử minh bạch và bộc trực. Một sự cuội kết lạ lùng, có một không hai, Đông Tây kim cổ. Có được như vậy, theo tôi, Phan Khôi đã phát huy đến tột cùng loại hình/ người văn hóa ở/ của ông: nhà nho Tây học. Xã hội Việt Nam cho đến bấy giờ, do sự phát triển gối tiếp chứ không phải nối tiếp, đồng tồn nhiều loại hình/ người văn hóa như nhà nho , nhà nho duy tân, nhà nho Tây học, trí thức Tây học nho hóa, trí thức Tây học. Nhà nho cũ thì đã hết thời. Nhà nho duy tân cũng chỉ tồn tại một vài tượng đài như Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng. Trí thức Tây học nho hóa, mà tiêu biểu là Phạm Quỳnh thì từ 1932 đã bỏ Nam phong vào Huế làm thượng thư bộ Học. Trí thức Tây học thì còn đang trên đà phát triển. Chỉ còn nhà nho Tây học là đã đạt đến độ viên mãn. Nhất là Phan Khôi.

Nhà nho Tây học là một từ tổ gồm một danh từ nhà nho và một hình dung từ Tây học, trong đó nhà nho là chủ, còn Tây học là khách, mà khách là để nhận biết chủ. Thông thường hai yếu tố trái ngược nhau này sẽ tạo ra sự khắc chế, kìm hãm lẫn nhau, nhưng ở Phan Khôi, ngược lại, nhà nho và Tây học lại gắn kết với nhau và thúc đẩy nhau phát triển đến đỉnh điểm. Nhà nho đề cao tính, đề cao phận vị, nên chỉ phát triển nhân cách,mặt xã hội của con người. Người có nhân cách là người làm tròn bổn phận xã hội của mình, người có đóng góp cho xã hội. Nhân cách, đặc biệt là nhân cách Nho giáo bịt kín mọi lối phát triển cá nhân, chỉ cho phép nhà nho tự thể hiện mình ở hai ngả là đạo đức và học vấn. Nhờ đó, nhiều người chẳng những đạt đến một trình độ đạo đức, hoặc học thức rất cao, mà còn thể hiện một cá tính hết sức đặc biệt. Về đạo đức và học vấn, Phan Khôi đã phấn đấu quyết liệt để từ nhà nho cổ điển (đi thi Hương) thành nhà nho duy tân (theo Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu), rồi thành một nhà nho Tây học đầy cá tính. Người trí thức Tây học thì ưu tiên phát triển cá nhân, coi cá nhân là một giá trị tự thân. Con người cá nhân không chống lại xã hội, mà chỉ chống lại đám đông, cộng đồng, tập thể. Nó đấu tranh để có một xã hội dân chủ, pháp quyền để cá nhân tự do phát triển hết năng lực của mình. Bước vào thời hiện đại, cái tôi của người trí thức Tây học thì nghiêng về chủ nghĩa lãng mạn, còn cái tôi duy lý của nhà nho Phan Khôi thì nghiêng về chủ nghĩa duy lý. Tuy chưa trở thành một cá nhân hiện đại, nhưng ý thức cá nhân rất cao ở nhà Tây học gặp gỡ với nhân cách cũng rất cao của một nhà nho đã làm cho Phan Khôi trở thành một con người mạnh mẽ, xuất chúng, điển hình của một thời.

Tuy nhiên, khi thời của loại hình nhà nho Tây học đã qua, thì ở Phan Khôi nhà nhoTây học, hay xét từ phương diện tâm lý – văn hóa là nhân cáchcá nhân, không còn hòa hợp với nhau như trước đây để tạo thành thể nhất quán nữa, mà rã ra thành hai yếu tố, nhiều khi khuynh loát lẫn nhau, tranh chấp nhau. Phan Khôi như bị mất đi cái sức mạnh nguyên ủy của mình, ông trở nên phân vân, hoài nghi và hay nói đến tuổi tác, nghỉ ngơi, dưỡng già. Đây chính là tâm trạng của Phan Khôi sauSông-Hương lúc ông phải về sống ở Bảo An quê nhà. Tuy thế, ở ông, vẫn còn một nhất quán khác là giữ vững một thái độ độc lập kiên quyết không tham gia vào các hoạt động chính trị. Khi Nguyễn Bá Trác, bạn học cũ, vận động ông ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim, khi Phan Bá Lân, cháu gọi ông bằng chú, thuyết phục ông tham gia Quốc dân đảng, kể cả khi Phan Thao, người con trai trưởng của ông, đề nghị ông vào Việt Minh, Phan Khôi đều kiên quyết từ chối. Nhưng rồi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Trong hoàn cảnh không thể làm kẻ ngoài cuộc được nữa, Phan Khôi thấy theo Việt Minh là hơn cả, vì ít ra Việt Minh, theo ông nghĩ, cũng là một mặt trận chứ không phải là một đảng phái. Ông bèn theo bạn bè văn nghệ “đi về phía Việt Bắc”.

Những năm đầu kháng chiến, mặc dù gian khổ, nhưng vẫn hào hứng, vui vẻ trong bầu khí dân chủ. Bản thân Phan Khôi làm việc ở Đoàn Văn hóa Kháng chiến, rồi Hội Văn nghệ Việt Nam, tuy tuổi đã cao nhưng vẫn hăng hái tham gia chiến dịch. Nhưng từ 1949 trở đi, nhất là sau “chỉnh huấn chỉnh phong”, tinh thần dân chủ ấy không còn. Người ta bắt đầu phân biệt người của “Đoàn thể” với người ngoài “Đoàn thể”, Đảng viên với quần chúng, cấp trên với cấp dưới. Những người đã từng quen biết nhau, thậm chí bạn bè nhau, mấy chục năm qua, bỗng trở nên xa lạ. Có một khoảng cách nào đó giữa người với người. Phan Khôi, hơn ai hết, cảm thấy điều ấy một cách rõ rệt. Là người suốt đời muốn độc lập với chính trị, cuối cùng Phan Khôi vẫn bị chính trị vây khốn. Ông biết mình chỉ là một con ốc nhỏ trong một cỗ máy lớn. Trong hai yếu tố làm nên con người ông, thì cá nhân bị thủ tiêu, hay đúng hơn bị đẩy lui vào bên trong và bị giam giữ ở nơi yên lặng, không có tiếng nói. Nhưng nhân cách thì vẫn còn, vì con người nhà nho ở ông không mất đi đâu cả, trong khi ở một số trí thức Tây học khác thì mất cả hai: cá nhân lẫn nhân cách. Hẳn để bảo vệ nhân cách, nên dù trong bất cứ trường hợp nào ông đều làm tròn bổn phận và nghĩa vụ của mình, nhất là “nghĩa vụ” im lặng, không nói. Phan Khôi lao vào nghiên cứu Việt ngữ và dịch Lỗ Tấn. Một công việc dường như chẳng ăn nhập gì với thời cuộc, nhưng lại giúp ông giữ vững được tiết tháo và, quan trọng hơn lý do tồn tại. Vì thế, khi lấy cớ lý do sức khỏe, người ta muốn “ưu tiên” ông không phải làm gì cả, thì ông nhất định không chịu. Hơn nữa với ông, ăn lương mà không làm việc là bất lương. Một kỳ quặc nữa là khi không được/ bị gọi đi học chỉnh huấn, cũng vì lý do bệnh tật, Phan Khôi vẫn tình nguyện đi, một mặt để trải nghiệm thêm, mặt khác hoàn thành nghĩa vụ của người đi kháng chiến. Nhưng, càng ngày ông càng cảm thấy cô đơn và buồn: “Tuổi già thêm bệnh hoạn,/ Kháng chiến thấy thừa ta./ Mối sầu như tóc bạc,/ Cứ cắt lại dài ra.” (Hớt tóc trong bệnh viện quân y). Tuy nhiên, Phan Khôi, như ông vẫn tự nhận, là một thứ Hồng gai vừa có hoa vừa có gai, chứ không phải loại hoặc chỉ có hoa, nhạt loét, hoặc chỉ có gai… Bởi thế, khi hòa bình trở lại, Phan Khôi cùng một số văn nghệ sĩ và các giáo sư đại học tham gia vào phong trào Nhân văn Giai phẩm.

Nếu nhìn Nhân văn Giai phẩm như một trào lưu văn nghệ do các văn nghệ sĩ, các nhà nghiên cứu từ kháng chiến trở về đấu tranh để có một không gian tự do hơn cho sáng tạo, thì việc Phan Khôi tham gia vào phong trào này là một điều tự nhiên, tất yếu. Một con người có nhân cách của một sĩ phu có khí tiết/ tiết tháo, một cá nhân tự dochính trực lại có đầu óc logic, biết xét đoán, chống công thức, thích đặt lại vấn đề, thích cái mới, hơn nữa chính mình chứng kiến những điều khuất tất của vụ giải thưởng văn học 1954 – 1955, như Phan Khôi thì không thể làm khác được. Ông tìm ra cái gốc của vấn đề văn nghệ là ở lãnh đạo, bởi thế ông đã viết bài “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, cũng bởi thế ông không trách những người lập ra Giai phẩm, bởi theo logic có nhân ấy thì mới có quả ấy. Thậm chí ông còn tham gia viết bài cho họ. Từ việc tham gia viết bài đến việc nhận làm chủ nhiệm tờ Nhân văn, tôi nghĩ, là một việc làm có ý thức, tuy Phan Khôi còn ít nhiều băn khoăn về cách làm báo không theo quy củ của Lê Đạt, Trần Dần cũng như những cách tân thơ của họ, hoặc xu hướng thiên về các vấn đề chính trị của Nguyễn Hữu Đang. Bởi thế, tôi không đồng với ý kiến Lê Đạt cho rằng hành động nhận lãnh chủ nhiệm Nhân văn của Phan Khôi chỉ như một nghĩa cử, một đứng ra gánh vác việc chung của người quân tử, hoặc đa số ý kiến của những người trong gia đình, hoặc những người yêu mến Phan Khôi (hẳn vì muốn minh “oan” giúp ông), cho rằng ông đã ngây thơ về chính trị, thậm chí ông bị lừa. Phan Khôi là một người trách nhiệm, trước với bản thân sau với xã hội. Đừng hạ thấp ông dù vì một lý do “chính đáng” nào.

Con-người-trách-nhiệm-Phan-Khôi này được bộc rất rõ trong bài thơ “Nắng chiều”:

Nắng chiều đẹp có đẹp.

Tiếc tài gần chạng vạng,

Mặc dù gần chạng vạng,

Nắng được thì cứ nắng.

Và Phan Khôi đã nắng lên được bằng thứ nắng quái chiều hôm. Một lần nữa, nhất quán với bản thân mình, Phan Khôi lại chuyển từ chính trị sang văn hóa, nhưng lần này không phải vì ông làm chính trị, mà nhằm thoát khỏi chính trị, để trở thành một nhà văn hóa thực sự. Sống trong một đất nước chính trị, cuộc sống của Phan Khôi, vì thế, không thể không tránh khỏi hệ lụy, kể cả cái chết và những cái sau-chết. Tuy vậy, cái bước chuyển từ chính trị sang văn hóa mà ông thực hiện luôn sống lại ở những thế hệ kế tiếp để trở thành một con đường, thậm chí đường lớn./.

 

Văn hóa nhà văn và phát triển văn học – VHNA

6 Th8

 

  •   Bùi Việt Thắng
  • Thứ tư, 30 Tháng 7 2014 16:30
  •  
 

"Khi em ngẩng đầu lên'  - tranh của Nguyễn Thị Hiền, thể hiện các bút tích của Lưu Quang Vũ “Khi em ngẩng đầu lên’ – tranh của Nguyễn Thị Hiền, thể hiện các bút tích của Lưu Quang Vũ

 

Phát triển văn học cần hội đủ điều kiện, nhưng có lẽ tiên quyết là văn hóa nhà văn. Vì sao? Nhà văn là người sáng tạo ra giá trị của tác phẩm nghệ thuật (ngôn từ). Anh ta là “người cha tinh thần” của nó. Vậy nếu người cha đó ốm yếu, sao tránh khỏi sinh ra đứa con “sài đẹn”. Một nền văn học lớn phải tựa vững chắc trên một nền văn hóa lớn, một nhà văn lớn phải có “chân đế văn hóa” vững như bàn thạch. Lịch sử văn học thế giới và Việt Nam, từ cổ chí kim, đều đủ cơ sở để  chúng ta tin rằng nền tảng triết học – tư tưởng – văn hóa là gốc rễ của cái cây văn học.

I.Phẩm tính văn hóa của nhà văn

1.Sáng tạo giá trị mới: Văn học công khai Việt Nam giai đoạn 1930-1945 sở dĩ đạt tới những đỉnh cao huy hoàng của nó (Thơ mới, sáng tác của Tự lực văn đoàn, của các nhà hiện thực chủ nghĩa), chính vì đã tạo nên được giá trị mới so với quá khứ (gần và xa). Nói khái quát thì, giá trị mới mà văn học phát hiện chính là con người cá nhân, giá trị của cá nhân, của cái tôi tự do sáng tạo. Những dấu hiệu mới đã được gieo mầm từ Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách, nảy nở từ Tình già (1932) của Phan Khôi, được tổng kết trong những công trình thế kỉ Thi nhân Việt Nam (1941) của Hoài Thanh – Hoài Chân, Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan. Những đỉnh cao Thơ mới (như người ta vẫn mặc định Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Chế Lan Viên). Những nhà hiện thực xuất sắc như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài,…có thể coi là những người khai mở khám phá các giá trị mới của văn học trong quá trình hiện đại hóa – khúc xạ trong gía trị nhân văn cao cả của nghệ thuật ngôn từ : “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trang lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than” như văn tài Nam Cao đã viết trong Trăng sáng năm 1943.

Văn học thời kì cách mạng và chiến tranh (1945-1975), tuy như một vài người đã cố phủ nhận (cho là văn học phải đạo, văn học quan phương, văn học cán bộ, văn học của một nửa sự thật là giả dối,…), thì vẫn cứ khách quan giá trị của nó, như câu thơ Tố Hữu “Chúng muốn đốt ta thành tro bụi/ Ta hóa vàng nhân phẩm lương tâm/ Chúng muốn ta bán mình ô nhục/ Ta làm sen thơm ngát giữa đồng”. Giá trị làm người tự do, đồng nghĩa với giá trị thẩm mĩ, được văn học thời cách mạng và chiến tranh phát hiện và ca ngợi, theo cách diễn đạt của Nguyễn Minh Châu là tìm ra “những hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người” thời đại. Nếu có sự đề cao giá trị tình cảm cộng đồng, dân tộc thì cũng là tất yếu. Trong chiến tranh giải phóng, độc lập và tự do đồng nghĩa với giá trị lớn sống còn của cả dân tộc và mỗi cá nhân.

Văn học hậu chiến (sau 1975), đặc biệt sau đổi mới, qua một khoảng hạn ngắn bùng nổ, gàn đây có vẻ như lúng túng khi đi tìm giá trị mới. Có thể rơi vào một cực đoan khác khi cho rằng do bị cấm kị nên văn học cách mạng 1945-1975 đã tước đoạt vị thế cá nhân, nay cần trả lại tên cho nó. Vì thế có tình trạng rơi vào tuyệt đối hóa cá nhân (để đối lập với cái ta, cái tâm thức cộng đồng thời chiến), có vẻ như cần thiết phải đề cao bản cái bản năng (để đối lập với cái lí trí trước đây trong chiến tranh), có vẻ như cần thiết phải “lộn ngược” hiện thực – tức phải viết về cái ác, cái xấu (để đối lập với cái cao cả, anh hùng trong chiến tranh), có vẻ như cần quan tâm đến cái đời thường (để đối lập với cái lí tưởng trước đây). Có thể vì không xác định được một cách căn bản giá trị mới, nên đã có trường hợp 24 năm sau một tác phẩm thành công vang dội, có nhà văn dường như gác bút. Lại có nhà văn sau vài ba tác phẩm thành công làm choáng ngợp độc giả, coi việc mình “nói ngược”, nói “trắng phớ, huỵch toẹt” đã là một phép lợi thế, ỷ lại vào đó không rốt ráo phát hiện đích thực các giá trị mới của đời sống nên đã chuyển hướng viết kiếm tiền (anh ta thú nhận thẳng thắn như thế). Thật  ra thì giá trị của cá nhân không bao giờ tách rời khỏi giá trị cộng đồng dân tộc. Một bài học nhỡn tiền là với số đông hơn 4 triệu người Việt Nam định cư ở (hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ) nước ngoài, thì vấn đề quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng lại được đặt ra bức thiết hơn bao giờ hết. Những tác phẩm văn học của người Việt Nam định cư ở nước ngoài sáng tác cho chúng ta thấy rõ ràng hơn thực tế đó. Tương tự cái ác cái – xấu không bao giờ tự biến mất, nó cứ tồn tại song song với cái tốt – cái đẹp. Nhưng không có nghĩa là “ngày cái ác lên ngôi” trong đời sống  cũng như trong văn học hiện nay. Văn học, trong một mức độ nào đó, có thể hỗ trợ cho công cuộc truy đuổi và xóa bỏ cái xấu, cái ác các, giữ gìn và vun trồng cái thiện, cái đẹp.

Sự lúng túng trong việc tìm tòi giá trị mới, thể hiện khá rõ với thế hệ các cây bút thế hệ 7x, 8x và cả 9x. Dường như hành động viết với họ, trong đa số trường hợp, chỉ để giải phóng ẩn ức, và đặc biệt là: viết, trước hết và sau hết chỉ cho mình!? Nếu chỉ đào bới cái tôi nhỏ bé, liệu người viết có thể thực hiện đúng thiên chức của hành động viết, theo cách diễn đạt của J.P.Sartre: “Nhưng hành động viết bao hàm hành động đọc như tương liên biện chứng của nó và hai hành vi có liên quan chặt chẽ với nhau đó cần có hai tác nhân khác nhau. Chính sự hợp lực của tác giả và độc giả sẽ làm nảy sinh ra vật thể cụ thể và tưởng tượng, là cái công trình trí tuệ. Chỉ có nghệ thuật cho người khác và bởi người khác” (J.P. Sa rtre: Văn học là gì?, Nxb Hội Nhà văn, 1999, tr.58). Không có gì lạ khi sex, hay đồng tính, hay một cái gì đó tương tự (“điếm trai” hay loạn luân, chẳng hạn) lại khiến các cây bút trẻ choáng ngợp, bị dẫn dụ và cố gắng truyền cái đam mê đó sang độc giả. Điều gì khiến cho văn trẻ nói chung như một “cánh đồng bất tận” mà mùa màng thì dễ dàng thất bát? Vấn đề giá trị sống, thiết nghĩ, đang đặt ra quan thiết với các nhà văn trẻ. Dường như tinh thần hiện sinh đang chi phối tâm thức người cầm bút trẻ, thêm vào đó ý thức về thực dụng trong lối sống cũng tạo nên những áp lực thường trực khiến họ đây đó ngả sang hướng đề cao giá trị của sự hưởng thụ, tiện lợi và tiêu dùng vật chất. Đây đó giá trị của Chân – Thiện – Mỹ có vẻ như bị khuất lấp.

                                                                        *

Trong sự viết, thường chúng ta thấy sáng tạo giá trị mới nhiều khi là tiếp thu các giá trị truyền thống một cách thông minh theo tinh thần tiếp biến văn hóa. Trong sự khước từ các giá trị chân chính thì khước từ giá trị truyền thống là nguyên nhân chính khiến cho người viết rơi vào tình trạng bị đốn lìa khỏi cội rễ. Mỹ học Folklore,cũng như lý thuyết văn học nói chung, đã chỉ ra mối quan hệ mật thiết, bền chặt giữa văn học viết và văn học dân gian. Nói cách khác Folklore là suối nguồn của văn học viết. Chúng tôi chia sẻ với nhà nghiên cứu văn hóa Trần Quốc Vượng khi ông viết : “Mất dân gian là mất hồn dân tộc” vì “Văn hóa dân gian bao giờ cũng là nền tảng của văn hóa dân tộc” (Trần Quốc Vượng: Văn hóa Vịêt Nam, tìm tòi và suy ngẫm, Nxb Văn học, 2003, tr.183). Một câu thành ngữ “Đầu năm buôn muối cuối năm buôn vôi” cũng đủ gợi ra một cái “tứ” để nhà văn viết được một truyện ngắn (và có nhà văn đã làm được thành công theo cách đó). Dường như các nhà văn bây giờ (nhất là lớp trẻ) không mấy mặn mà với ca dao, tục ngữ, dân ca, truyện cổ tích, truyện tiếu lâm hay truyền thuyết và thần thoại. Nhà văn Nguyễn Tuân đã chỉ ra rằng nếu muốn học kĩ thuật viết truyện ngắn thì nên học trong tiếu lâm: “Đứng về nghề nghiệp mà bàn tới Tiếu Lâm thì đó là một số kinh nghiệm thành công về kĩ thuật và nghệ thuật dựng truyện ngắn rất kiệm lời, và ý ở ngoài lời thì rất nhiều” (Nguyễn Tuân: Bàn về văn học nghệ thuật, Nxb Hội nhà văn, 1999, tr.599). Những nhà thơ viết lục bát “thành thần”, như Nguyễn Bính chẳng hạn, chắc chắn là nhờ học trong nguồn suối bất tận ca dao (vì lục bát là một thể chủ lực của ca dao). Giá trị truyền thống còn nằm trong các giá trị cổ điển của dân tộc/ nhân loại. Lớp người cầm bút trẻ rất sao nhãng (một cách có ý thức) việc này. Dường như với họ Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú Xương,… là quá xa vời và đôi khi là “vô bổ” với việc viết của họ. Vì thế mà Bai-rơn, Pu-skin, hay thơ Đường (với Bạch Cư Dị, Đỗ Phủ, Lý Bạch), cũng xa xôi nốt.

Nói về căn bệnh  khước từ truyền thống của hậu thế, có lần nhà thơ Xuân Diệu đã chia sẻ: “Không khéo văn thơ của một tác giả hiện đại lại thua chiếc ao thu của Nguyễn Khuyến” (Dẫn theo Hà Minh Đức: Tài năng và danh phận, Nxb chính trị quốc gai, 2014, tr.121).

2. Ứng xử với tiếng Việt: Ứng xửlà một phạm trù quan trọng của văn hóa nói chung. Nhà nghiên cứu văn hóa Hữu Ngọc nhấn mạnh: “Định nghĩa về văn hóa mà tôi đưa ra, nhấn mạnh về “ứng xử và quan hệ” con người phù hợp với bối cảnh cộng đồng” (Hữu Ngọc: Lãng du trong văn hóa Việt Nam, Nxb Thanh niên, 2007, tr.670). Ứng xử của nhà nghệ sĩ ngôn từ với tiếng mẹ để – tiếng Việt – theo chúng tôi là một biểu hiện/ thước đo quan trọng của văn hóa nhà văn.

Nhân dịp kỉ niệm 60 năm Thơ mới, nhà thơ Huy Cận, một trong những chủ soái của phong trào này, đã tri ân : “Thơ mới tạo ra ngôn từ mới dễ biểu hiện cảm xúc mới. Tiếng Việt trẻ lại với thơ. Sự đóng góp của Thơ mới về ngôn ngữ là rất lớn. Có thể nói dòng Thơ mới như “dòng nước nặng” làm ra năng lượng mới cho mỗi từ, mỗi câu. Tiếng Việt nhờ Nguyễn Du đã đẹp hơn, trong trẻo, mượt mà hơn. Tiếng Việt đến Thơ mới đã đổi thịt thay da một lần nữa bởi vì các nhà Thơ mới đã yêu tiếng mẹ đẻ một cách tha thiết, ra sức bảo vệ tiếng nói của cha ông bằng những sáng tạo máu thịt của hồn mình” (Nhiều tác giả: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca, Nxb Giáo dục, 1993, tr.12).

Nhà văn suy cho cùng là một thợ cả (cao hơn là nghệ nhân) ngôn từ. Nhà văn Nguyễn Tuân trong bài Tán về ngôn ngữ (nói “tán” nhưng thực ra rất nghiêm túc, cầu thị) đã kì khu phân tích chữnghĩa của tiếng Việt, đã viết rất hay về hiện tượng “díu ba” và “díu tư” (thực chất là những nhóm trạng từ 3 tiếng và 4 tiếng). Ông đưa ra những ví dụ rất hay như “quay cu lơ” (“díu ba”), có đến 54 trường hợp tiêu biểu tương tự. Tiếp đến ông chứng minh là nếu nó thuộc “díu ba” thì phải viết cho đủ, mới có nghĩa hay: chẳng hạn có người cho rằng chỉ cần viết “ngang phè” là đủ. Nhưng Nguyễn Tuân cho rằng phải viết “díu ba” thì mới thấm thía, vì : “Riêng chỗ tôi biết ngang phè khác với ngang phè phè. Thên một “điệp” âm “điệp” tự nữa, cái ý ngang đó nó có nặng nhẹ có khác đi. Và tôi cho đó là cái kì diệu của tiếng mình”. Một nơi khác, cũng chính Nguyễn Tuân phát hiện ra những từ mở ra bằng phụ âm  kép “KHỜ” (97 từ loại này), ông kết luận: “phụ âm KH hay nhấn vào phía tiêu cực của những biểu hiện sự sống”, chẳng hạn: khắm khú, khắt khe, khụng khiệng,… (Nguyễn Tuân: Bàn về nghệ thuật, Nxb Hội Nhà văn, 1999, tr.654-662).

Nhà văn Nguyễn Minh Châu – “người mở đường tinh anh” của phong trào đổi mới văn học Việt Nam sau năm 1975 – đã viết một tiểu luận văn học đáng chú ý, nhan đề Chăm sóc câu văn. Trong tiểu luận này ông đã cảnh báo về sự lười biếng của không ít nhà văn ta hiện nay trong lao động câu chữ, ông kêu gọi đồng nghiệp: “Hãy niềm nở nhưng hãy cũng cảnh giác với những chữ và những cách dặt câu lúc nào cũng đứng chực sẵn, lấp ló ngay đầu ngòi bút. Lâu nay xuất hiện một thứ văn thường được gọi là trần trụi bề bộn chất sống. Thật đáng hoan nghênh lắm thay. Nhưng trần trụi hay bề bộn thì cũng cần có nghệ thuật riêng của nó, và quy luật trật tự của nó, chứ không phải là sựu lủng củng và ất chấp nghệ thuật (…). Một thứ văn mộc mạc, giản dị là rất đáng khuyến khích nhưng thiết tưởng nó phải là thứ giản dị của văn học. Bên trong cái giản dị vẫn toát lên chất văn học. Cầm từng chữ thông thường và cách cấu trúc câu thông thường ấy lên tay vẫn ngửi thấy mùi hương thâm trầm của chất văn học, chứ không phải là chất mộc mạc, giản dị của cách nói năng thông thường hàng ngày, hay một bản báo cáo”. Theo Nguyễn Minh Châu, chữ không đơn thuần là hình thức. Ông khẳng định bằng kinh nghiệm sáng tác vất vả, gian nan của mình : ‘Mỗi chữ là một hạt của nội dung”; và hơn thế, chăm sóc câu chữ là nhà văn đã: “Biểu lộ lòng tự trọng nghề nghiệp, cùng cái ý hướng luôn luôn hướng tới sự hoàn thiện của người nghệ sĩ” (Nguyễn Minh Châu: Trang giấy trước đèn, Phê bình – Tiểu luận, Nxb KHXH, 1994, tr.262, 265).

Nhà văn ta bây giờ viết nhưng mấy ai yêu và hiểu tiếng Việt như Nguyễn Tuân? Đang có một xu hướng “bỗ bã hóa “ ngôn từ văn chương, không chỉ trong văn xuôi, mà cả trong thơ. Cũng chẳng cần nêu ví dụ cụ thể thì cũng đã thấy đáng báo động khi tiếng Việt đang bị “xẻ thịt” bởi các nhà văn (nhất là các nhà trẻ). Một xu hướng khá rõ là ngôn ngữ thông tấn báo chí, ngôn ngữ mạng, ngôn ngữ đời thường đang tràn vào tác phẩm như thác lũ, khó bề ngăn nổi. Cái thanh cao, tao nhã của ngôn từ văn chương đang biến mất. Viết không còn là hành động tìm kiếm sáng tạo ngôn từ nữa, mà là sự phô diễn của con chữ. Chữ nhiều mà nghĩa ít là vì vậy, thậm chí chỉ còn là xác chữ, mà hồn chữ không thấy đâu. Chưa kể đến một lối viết “lai căng” khá phổ biến theo tinh thần “nhập ngoại” (văn thơ Việt nhiều khi như là văn dịch). Không ít nhà văn trẻ cho rằng tiếng Việt của ta nghèo nàn, không đủ sức phô diễn tư trưởng, tình cảm. Có lẽ họ không đọc (hoặc đọc rất ít, đọc với tư cách học trò đi thi) Truyện Kiều, ca dao, dân ca, tục ngữ, thành ngữ Việt. Họ thường viết với tâm thế “cứ thế bước ào vào văn chương”, và văn chương chỉ là “trò chơi vô tăm tích”. Những hành xử với văn chương theo hướng ấy tất sẽ dẫn đến hệ lụy coi thường ngôn từ (vốn là “hiện thực trực tiếp của tư tưởng”).

Nhà văn nhiều khi không ý thức được dù chỉ một chữ mà câu văn/câu thơ hàm nghĩa khác hẳn. Chẳng hạn trong bài thơ Bác ơi, nhà thơ Tố Hữu viết: “Trái bưởi kia vàng ngọt với ai/ Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài/ Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm/ Quanh mặt hồ in mây trắng bay”. Có người tỏ vẻ “lo lắng” hộ tác giả: viết như thế có nghĩa là sau khi Bác mất, chẳng còn ai đáng để tin tưởng, ký thác và chia sẻ nữa! Ít ra thì còn nhiều thứ quan trọng khác chứ. Nhưng chữ ai trong trường hợp này, như chúng ta biết, hợp với tiếng khóc, vì nhan đề bài thơ là Bác ơi (tiếng khóc của những người con, cháu trước sự ra đi của người thân ruột thịt). Ai đã một lần có mặt trong một lễ tiễn đưa người chết về cõi vĩnh hằng sẽ rất thấm thía chữ ai trong tiếng kóc xé ruột xé gan của người thân mất người thân.

Đã nhiều năm nay cả xã hội đang cố gắng giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, cố gắng làm giàu có nó để trở thành một lợi khí với mỗi người trong hoạt động giao tiếp, sáng tác. Nếu ai đó nghĩ tiếng Việt nghèo nàn thì hãy đọc lại những câu ca dao kiểu: “Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi”, sẽ thấy phải chăng mình vong bản?!

3. Bản sắc/ bản lĩnh  nhà văn – vấn đề cá tính sáng tạo: Bản sắc/ bản lĩnh của nhà văn không phải là cái gì khác người, dị biệt và bảo thủ, mà chính là cá tính sáng tạo. Nhà văn có dám cả đời hi sinh, chỉ đi săn tìm cái thật cái đẹp như Nguyễn Tuân (để có khi mang tiếng là “nghệ thuật vị nghệ thuật”, hay là “duy mỹ”)? Nhà văn có đủ xác tín như Thạc Lam đã tuyên ngôn: “Chỉ có những tác phẩm nào có nghệ thuật chắc chắc chắn, trong đó nhà văn biết đi qua những phong trào nhất thời, để suy xét đến những tính tình bất diệt của loài người, chỉ những tác phẩm đó mới vững bền mãi mãi” (Thạch Lam – văn và đời, Nxb Hà Nội, 1999, tr.577). Trong ý kiến của nhà văn Thạc Lam, chúng ta thấy ngụ ý của ông nói về mối quan hệ giữa cái thời sự và cái vĩnh hằng của nghệ thuật. Nhưng thi hào Đức Gơt thì lại cho rằng “Thơ nào cũng là thơ thời sự” (ý này nhà thơ Tố Hữu rất tâm đắc).

Nhà thơ Xuân Diệu là một nghệ sĩ ngôn từ rất giàu bản sắc, bản lĩnh. Trong một lần tao ngộ văn thơ vào năm 1972, hai nhà thơ “đỉnh” của Thơ mới đã đối thoại với nhau. Chế Lan Viên nói : “Thơ Xuân Diệu vận động nhưng đi ngang chứ không tiến về phía trước”. Xuân Diệu đối rằng: “Đi ngang là trấn giữ để đi về trước”. Chế Lan Viên nói : “Thơ Xuân Diệu hay lặp lại về ý tứ và vần điệu”. Xuân Diệu đối lại: “Có lặp lại mới nhấn mạnh được ý tứ và có nhạc điệu như hôn nhau, càng hôn càng hứng thú”. Xuân Diệu cũng nhiều lần nhấn mạnh đến bản lĩnh của con người, bản lĩnh của nhà thơ. Ông nói: “Mình phải hiểu mình là ai? Không nhờ cậy, không ỷ lại. Nhà thơ phải tự mình có sức suy nghĩ riêng. Ý thức về tôn giáo là ý thức về sự ban ơn và chịu ơn. Đó là công việc của tôn giáo. Trong sáng tạo nghệ thuật có thể có sự hỗ trợ của nhiều yếu tố nhưng chủ yếu là nội lực, sức sáng tạo của chủ thể” (Dẫn theo Hà Minh Đức: Tài năng và danh phận, Nxb Chính trị quốc gia, 2014, tr.130-131).

Sự đánh mất bản sắc/ bản lĩnh trong sáng tạo văn học hiện nay diễn ra theo các hướng chính sau: bị “hội chứng” bởi một nhà văn thành danh nào đó, học đòi/ nhập cảng một lối viết của một khuyunh hướng, trào lưu nào đó đã cũ rích trên thế giới (hậu hiện đại chẳng hạn), hoặc giả cố gồng mình lên về những chuyện rất “bắt mắt” hiện nay như sex, đồng tính, loạn luân,…Và cuối cùng là chạy theo thị trường, thậm chí đôi khi ai đó đã “bán mình cho quỷ dữ” chẳng hạn.

Cá tính sáng tạo là một phẩm chất đặc biệt quan trọng quyết định sự thành công trong quá tình sáng tác của người nghệ sĩ ngôn từ. Cá tính sáng tạo in dấu trong phong cách riêng của nhà văn tạo nên sự phong phú của bức tranh văn học khi tồn tại cạnh nhau. Hãy tưởng tượng văn học như một vườn hoa nhiều hương sắc, thì mỗi nhà văn là một loài hoa. Lao động nghệ thuật có đặc thù của tính cá nhân cao độ, sáng tác trong im lặng, cô đơn tuyệt đối nên càng có nhiều dấu ấn cá nhân. Có người ví von nhà văn khi viết là đối diện với “pháp trường trắng” (trang giấy). Tác phẩm văn học thành công chính là sự “trình làng” một kiểu cảm xúc mới , rất riêng của người nghệ sĩ ngôn từ  trước cuộc đời và con người. (như Xuân Diệu thể hiện cái trạng thái cảm xúc về sự trôi qua không bao giờ trở lại của thời gian, nên phải gấp gáp sống, dâng hiến và đón nhận: “Mau lên chứ vội vàng lên với chứ/ Em, em ơi tình non đã già rồi”). Sự xuất hiện của Trần Đăng Khoa chẳng hạn, chính là sự xuất hiện một lối cảm xúc đời sống theo năng lực của linh giác: “Ngoài thềm rơi cái lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng” (Đêm Côn Sơn). Đó là một dạng thần thức của ngòi bút thơ Trần Đăng Khoa.

Thời đại của internet có sự sản xuất văn học mạng, có kiểu văn viết trên blog, có kiểu làm thơ trên facebook (có người một năm viết mấy trăm bài thơ trên phương tiện này). Nhưng nên nhớ là mỗi người có “vân tay” riêng của mình thì văn thơ cũng có “vân chữ” riêng của nó. Cá tính của mỗi nhà văn là từ con tim, khối óc, hoặc giả là “đốt cháy trái tim đến thành trí tuệ”, hoặc giả là “đốt cháy trí tuệ đến thành trái tim” đều là những nẻo lối khác nhau vào văn học.

Cá tính sáng tao và sự phát triển văn học luôn luôn là hai mặt của một vấn đề, cái này soi sáng, tôn tạo và khai mở cái kia. Nói hình tượng là chúng “thông linh” nhau. Một nền văn học phát triển là phải dựa trên những cá tính, và những cá tính khác nhau là bằng chứng cho một nền văn học phát triển phong phú, giàu có.  

4. Sự uyên bác của nhà văn: Phẩm tính văn hóa của một nhà văn còn nhờ vào sự uyên bác của anh ta. Chính nhờ phẩm tính này mà nhà văn như con chim đại bàng có sải cánh dũng mãnh, bay cao và bay xa trên bầu trời lồng lộng, tầm mắt của chim phóng ra thật rộng lớn. Một nhà văn kém hiểu biết khác nào tình cảnh của “ếch ngồi đáy giếng”. Đôi khi rơi vào trạng huống bi hài của “người mù xem voi”.

Nhà thơ Xuân Diệu sinh thời có viết bài Sự uyên bác với việc làm thơ (với ý định đọc trước Hội nghị toàn quốc những người viết văn trẻ năm 1985, nhưng không kịp). Ông vào bài viết của mình bằng cách nhắc đến các nhà cổ điển Việt Nam: “ Tôi nghĩ rằng trước kia Nguyễn Trãi, Nguyễn Du đã rất uyên bác, học rộng, đọc nhiều ở thời đại mình, cộng với một trái tim lớn lao, thì mới có được cái thơ sâu sắc nhân tình, đượm thấm trí tuệ như vậy – nhất là ở thời đại chúng ta, còn 15 năm nữa thì sang thế kỉ XXI – cả trái đất giao lưu của nhân loại mà chỉ tự hay tự đẹp lấy một mình dân tộc mình, phải kết hợp cái thật sâu của một dân tộc với cái rộng của nhân loại” (Xuân Diệu tác phẩm chọn lọc, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2009, tr.203). Ông hoàng của thơ tình yêu đã sống và viết như thế, có khi ông nói vui rằng bản thân mình là cả một viện hàn lâm. Đọc Các nhà thơ cổ điển Việt Nam của ông với hơn 800 trang viết về các nhà thơ lớn của dân tộc từ Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương đến Nguyễn Đình Chiểu, Đào Tấn, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, Á Nam Trần Tuấn Khải. Riêng về đại thi hào Nguyễn Du, Xuân Diệu vung bút viết hơn 200 trang. Đó là những con số biết nói, là dấu chỉ cho thấy sự uyên bác của người làm thơ Xuân Diệu. Bây giờ có ai phá được kỉ lục ấy, (chưa kể hàng loạt tiểu luận – phê bình thơ khác)? Ông cũng thành thật chia sẻ: “ Tháng 10 năm 1981, khi nói chuyện ở Đại học Soocbon Pari: “Đề tài tình yêu trong sáng tác của Xuân Diệu”, bài thơ tình mà tôi dẫn đầu tiên là bài Yêu là chết ở trong lòng một ít, vì trong bài thơ ấy tôi đã vay mượn của ba thi sĩ Pháp; tôi muốn thính giả người Pháp thấy một thi sĩ Việt Nam chân thực đền ơn trả nghĩa và cũng uyên bác kim với cổ, Đông với Tây” (Sđd, tr.217). Có thể nói thế hệ nhà thơ vàng như Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên,… đều là những “người làm vườn vĩnh cửu”. Sự uyên bác và một trái tim lớn làm nên nhà thơ lớn, đó là điều Xuân Diệu tâm đắc và đã làm được trong nghiệp văn của mình.

Nhà văn Phan Thị Vàng Anh (con gái nhà thơ Chế Lan Viên – Vũ Thị Thường), trong một tác phẩm có tính chất tự truyện, nhan đề Cha tôi đã viết về “sự học không có nấc thang cuối cùng” của người cha đáng kính: “Một ngày của cha tôi bắt đầu vào lúc bốn giờ. Cha tôi dậy sớm để nấu cơm, nấu nước, rồi sắp vào một cái khay con, một đôi đũa, một cái bát,…Xong hết mới gọi tôi dậy ăn. Cha  đã để sẵn nước sôi trong nhà tắm, dắt sẵn xe đạp ra ngoài sân,…Làm xong hết những việc ấy, cha tôi đi học bài. Cha học cho đến lúc mẹ dậy. Học thơ, thơ từ cổ chí kim, của bất cứ ai, miễn đáng gọi là thơ; học kịch, học văn, học văn chương, học cả những gì  dường như văn chương không bao giờ thèm đụng đến. Cho đến lúc gần bảy mươi, cha tôi vẫn là một học trò ngoan, bất chấp tuổi già mà len lỏi vào bất cứ góc nào của khu vườn văn hóa (…). Cha dạy chúng tôi: “Phải học, học không phải để vui, mà để không ai giết được mình” (Truyện ngắn bốn cây bút nữ, Nxb Văn học 2002, tr. 13-15).

Trên đây chỉ là hai dẫn chứng sinh động và gần gũi nhất với chúng ta. Trong chiều dài lịch sử của một dân tộc hiếu học, biết bao nhiêu tấm gương của những nhà khoa học, nghệ sĩ ngày đêm tu luyện chữ nghĩa, làm giàu kiến thức để nâng tầm vóc của mình lên ngang kịp yêu cầu của thời đại. Con đường tự học không mệt mỏi mới có thể giúp một cá nhân vươn lên chiếm lĩnh tri thức của nhân loại. Tự học chính là tự đào tạo, đó là cách thức duy nhất để không ai có thể “giết mình” như cách nói của người cha với con gái trong truyện ngắn xuất sắc vừa nhắc trên của nhà văn Phan Thị Vàng Anh. Nhà văn của chúng ta hiện nay (nhất là nhà văn trẻ) chỉ cậy vào cái vốn học vấn qua trường lớp, có bao nhiêu dùng bấy nhiêu, ít chịu khó tự bồi dưỡng, nâng cao liên tục. Thành thử đôi khi họ sử dụng vốn liếng của mình giống như tình trạng “miếng da lừa” của văn hào O. Banzac. Họ cứ viết ra một cái gì đó thì đầu óc cứ vơi cạn dần, đến hết.

II. BÀI HỌC LÍ LUẬN – THỰC TIỄN

Việt Nam đang hội nhập khu vực và quốc tế. Trình độ phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa – văn học còn thấp so với tốc độ “một ngày bằng hai mươi năm” của thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhưng với văn hóa – văn học lại không thể “đi tắt đón đầu” như trong một số lĩnh vực khác (như thông tin – truyền thông chẳng hạn). Đã là chậm nhưng chậm còn hơn không, phải đầu tư đặc biệt cho văn hóa – văn học, ở cấp độ quốc gia, và có tính chiến lược. Văn hóa – văn học không thể “ăn xổi” như cách dân gian vẫn nói, cần phải có cương lĩnh, đường hướng phát triển cho dài lâu.

Nhưng sáng tạo văn học lại mang đặc thù cá nhân, lại cần phát huy bởi cá tính người nghệ sĩ. Vì thế việc nâng cao phẩm chất văn hóa của nhà văn, đương nhiên trước hết là ở sự nỗ lực vươn lên của mỗi người. Nhưng hoạt động của một cá thể cần có điều kiện, đó là cái nền móng văn hóa chung của đất nước đang phấn đấu theo tinh thần đậm đà bẳn sắc dân tộc và giàu có tinh thần nhân văn. Cuối cùng là một thiết chế văn hóa đủ mạnh, đủ đáp ứng nhu cầu phát triển của những cá tính sáng tạo nghệ thuật.

Đã có tiếng kêu cơ chế thị trường làm phương hại đến sự phát triển văn hóa/ văn học. Thực ra vấn đề không nằm chủ yếu ở đó. Nó nằm ở tầm thấp văn hóa của nghệ sĩ/ nhà văn, đó mới là nguyên nhân chính trì níu phát triển văn hóa/ văn học. Vì thế mới cần khẳng định và gải bài toán: Văn hóa nghệ sĩ/ nhà văn quyết định sự phát triển văn hóa/ văn học./.      

           

  

 

 

 

 

 

Văn hóa, toàn cầu hóa và tự do – VHNA

16 Th4

  •   Mario Vargas Llosa
 

 

250px-Vargas_Losa_Göteborg_Book_Fair_2011b

Những cuộc công kích hiệu quả nhất nhằm chống lại quá trình tòan cầu hóa thường lại không phải là những cuộc công kích liên quan tới kinh tế học. Mà là những cuộc công kích về mặt xã hội, đạo đức, và trên hết là lĩnh vực văn hóa. Những luận cứ này từng nổi lên trong những vụ lộn xộn ở Seattle vào năm 1999 và lại vang lên ở Davos, ở Bangkok, và Prague trong thời gian gần đây. Họ nói như sau:

Sự biến mất của các đường biên giới quốc gia và giới quyền uy trên thế giới gắn bó với thương trường sẽ giáng những đòn chí tử vào nền văn hóa khu vực và quốc gia, vào truyền thống, thói quen, truyền thuyết và tập tục, tức là những thứ quyết định bản sắc văn hóa của đất nước và khu vực. Vì đa số các nước và các khu vực trên thế giới không đủ sức chống lại sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa từ các nước đã phát triển – mà cụ thể là từ siêu cường Mĩ – nước chắc chắn sẽ mở đường cho các công ty đa quốc gia cực kì lớn, nền văn hóa Bắc Mĩ cuối cùng sẽ buộc người ta phải chấp nhận nó, nó sẽ định ra tiêu chuẩn cho thế giới và xóa sổ sự đa dạng của những nền văn hóa khác nhau. Theo cách này, tất cả các dân tộc, chứ không chỉ các dân tộc nhỏ và yếu, sẽ đánh mất bản sắc, sẽ đánh mất tâm hồn mình và chỉ còn các thuộc địa trong thế kỉ XXI – những thây ma hay những hình nộm được làm theo những tiêu chuẩn văn hóa của chủ nghĩa thực dân mới, đấy là chủ nghĩa thực dân mà ngòai việc cai trị thế giới bằng đồng vốn, sức mạnh quân sự và kiến thức khoa học của nó, còn áp đặt cho người ta ngôn ngữ, cách tư duy, niềm tin, thú vui và ước mơ của nó nữa.

Cơn ác mộng hay là điều hoang tưởng theo nghĩa tiêu cực về một thế giới mà do tòan cầu hóa đang đánh mất dần sự đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ, đang bị Mĩ xâm lược về mặt văn hóa không chỉ là địa hạt của các chính trị gia tả khuynh, luyến tiếc Marx, Mao hay  Che Guevara. Cơn mê sảng về việc bị ngược đãi – do lòng thù hận người khổng lồ Bắc Mĩ mà ra – còn được thể hiện rõ ở cả những nước đã phát triển và những dân tộc có nền văn hóa cao, được cả các nhóm tả, trung dung và hữu khuynh chia sẻ nữa.

Khét tiếng nhất là nước Pháp, ở đây chúng ta thường thấy chính phủ tung ra những chiến dịch nhằm bảo vệ “bản sắc văn hóa Pháp”, một nền văn hóa được cho là đang bị quá trình tòan cầu hóa đe dọa. Một lọat các nhà tri thức và chính trị gia Pháp lo lắng về khả năng là cái vùng đất từng sinh ra Montaigne, Descartes, Racine, và Baudelaire – và đất nước đã có một thời gian dài từng là người đưa ra tiếng nói cuối cùng về thời trang, tư duy, nghệ thuật, ẩm thực và về tất cả những lĩnh vực tinh thần khác – có thể bị những McDonald’s, Pizza Hut, Kentucky Fried Chicken, rock, rap, và phim ảnh của Hollywood, quần bò, bánh sneakers, áo T-shirts xâm lấn. Nỗi sợ này đã dẫn tới, thí dụ, những khỏan tài trợ rất lớn của Pháp cho ngành công nghiệp điện ảnh và đòi hỏi các rạp chiếu bóng phải chiếu một số lượng phim trong nước và hạn chế nhập phim Mĩ. Nỗi sợ này còn là lí do vì sao các chính quyền địa phương ban hành những quy định xử phạt nặng những băng rôn quảng cáo làm ô uế ngôn ngữ của Molière bằng những từ ngữ tiếng Anh. (Mặc dù, nếu nhìn vào vỉa hè các đường phố ở Paris thì thấy rằng những quy định như thế cũng không được người ta tôn trọng cho lắm). Đấy là lí do vì sao José Bové, một điền chủ có thái độ bài xích các món ăn tạp nham (ngụ ý thức ăn nhanh của Mĩ – ND) đã trở thành một nhân vật nổi tiếng ở Pháp. Và việc ông ta bị bắt giam ba tháng trong thời gian gần đây có vẻ như chỉ làm cho ông ta nổi tiếng thêm mà thôi.

Nhưng tôi tin rằng luận cứ chống tòan cầu hóa như thế là không thể chấp nhận được, chúng ta phải công nhận rằng nó ẩn chứa một sự thật không thể bác bỏ được. Trong thế kỉ này, cái thế giới chúng ta sống sẽ kém sinh động và không có nhiều màu sắc như là cái thế giới mà chúng ta đã bỏ lại phía sau. Những buổi lễ hội, đồ trang sức, phong tục, nghi lễ, nghi thức và tín ngưỡng, tức là những thứ đã tạo cho nhân lọai sự khác biệt mang màu sắc dân tộc và văn hóa dân gian, đang dần dần biến mất hoặc sẽ thu mình vào trong những nhóm thiểu số, trong khi phần lớn xã hội từ bỏ chúng và chấp nhận những thứ khác, phù hợp hơn với thời đại của chúng ta. Tất cả các nước trên thế giới đang trải qua quá trình này, nhanh chậm khác nhau, nhưng đấy không phải là do tòan cầu hóa. Mà đấy là do quá trình hiện đại hóa, tòan cầu hóa là kết quả chứ không phải là nguyên nhân. Có thể khóc than, dĩ nhiên là như thế, rằng quá trình này đang diễn ra và có thể nuối tiếc về cuộc sống của một thời đã qua, mà với những tiện nghi của ngày hôm nay dường như đấy là cuộc sống vui vẻ, độc đáo và đầy màu sắc. Nhưng đây là quá trình không thể nào tránh được. Những chế độ tòan trị như Cuba hay Bắc Hàn sợ rằng mở cửa sẽ là tự sát, họ tìm cách bế quan tỏa cảng, ban hành đủ thứ quy định kiểu cấm đóan và chỉ trích hiện đại hóa. Nhưng ngay cả những nước đó cũng không ngăn cản được sự thẩm thấu một cách từ từ của quá trình hiện đại hóa và nó sẽ gặm nhấm dần cái gọi là bản sắc văn hóa của họ. Về lí thuyết, một đất nước có thể giữ được bản sắc của mình, nhưng với điều kiện là họ phải sống trong tình trạng cô lập hoàn toàn, chấm dứt mọi trao đổi với các dân tộc khác và thực hiện một nền kinh tế tự cấp tự túc – giống như một vài bộ lạc ở châu Phi hay những bộ lạc sống trong rừng già Amazon vậy. Bản sắc văn hóa dưới hình thức như thế sẽ đưa xã hội trở lại với cách sống của thời tiền sử.

Đúng là hiện đại hóa làm cho nhiều lối sống truyền thống không thể tồn tại được. Nhưng đồng thời nó lại mở ra cơ hội và làm cho cả xã hội tiến những bước quan trọng về phía trước. Đấy là lí do vì sao khi có cơ hội tự do lựa chọn quần chúng lại ủng hộ hiện đại hóa mà không hề có chút lưỡng lự nào, đôi khi họ còn phản đối điều mà các nhà lãnh đạo hay những người nệ cổ ủng hộ.

Những luận điệu nhằm chống lại toàn cầu hóa và ủng hộ bản sắc văn hóa tiết lộ cho ta thấy quan niệm tĩnh về văn hóa, một quan niệm không có cơ sở lịch sử. Nền văn hóa nào đã từng giữ mãi bản sắc và không thay đổi theo thời gian? Muốn tìm được những nền văn hóa như thế, chúng ta phải thâm nhập vào những cộng đồng tôn giáo ma thuật nguyên thủy và nhỏ bé, tức là những cộng đồng sống trong hang hốc, thờ thần sấm và thú dữ; và vì tính chất nguyên thủy như thế mà họ càng ngày càng dễ bị bóc lột và hủy diệt. Tất cả những nền văn hóa khác, nhất là những nền văn hóa có quyền được gọi là hiện đại và sống động đều tiến hóa đến mức mà chúng chỉ còn là cái bóng mờ của nền văn hóa từng hiện diện cách đây vài ba thế hệ mà thôi. Sự tiến hóa này thể hiện rõ nhất ở các nước như Pháp, Tây Ban Nha và Anh, nơi đã diễn ra những thay đổi cực kì ngoạn mục và sâu sắc đến mức Marcel Proust, Federico García Lorca, hay Virginia Woolf khó mà có thể coi đây là những xã hội nơi họ đã ra đời – những xã hội mà tác phẩm của họ đã có đóng góp rất lớn trong việc làm cho chúng thay da đổi thịt.

Khái niệm “bản sắc văn hóa” là khái niệm nguy hiểm. Từ quan điểm xã hội thì đấy có thể chỉ là quan niệm nhân tạo và đáng ngờ, nhưng từ viễn cảnh chính trị thì nó đe dọa ngay thành tựu quí giá nhất của nhân loại: quyền tự do. Tôi không phủ nhận rằng những người nói cùng một ngôn ngữ, sinh ra và sống trên cùng một vùng lãnh thổ, phải giải quyết những vấn đề giống nhau, theo những phong tục và tôn giáo như nhau, có những đặc điểm như nhau. Nhưng tính chất chung đó không bao giờ có thể xác định được đầy đủ đặc tính của từng người, nó chỉ xóa bỏ hoặc đẩy tất cả những tính chất và đặc điểm đơn nhất, tức là những đặc điểm làm người nọ khác biệt với người kia, xuống hàng thứ yếu mà thôi. Quan niệm bản sắc, khi không được áp dụng cho từng cá nhân riêng biệt, là một quan niệm đã được đơn giản hóa và phi nhân tính, nó là sự trừu tượng hóa mang tính ý thức hệ và tinh thần tập thể của tất cả những gì là độc đáo và sáng tạo trong mỗi con người, của tất cả những gì không được áp đặt bởi di sản, nơi sinh hay áp lực xã hội. Mà sự thật là, bản sắc xuất phát từ khả năng của con người trong việc chống lại những ảnh hưởng đó và phản công lại với chúng bằng những hành động tự do theo sáng kiến của riêng mình.

Khái niệm “bản sắc tập thể” là khái niệm hư cấu mang tính ý thức hệ và là nền tảng của chủ nghĩa dân tộc. Nhiều nhà nhân chủng học và nhân loại học cho rằng ngay cả các cộng đồng cổ xưa nhất cũng không có bản sắc tập thể. Những thói quen và phong tục được nhiều người chia sẻ có thể là những điều tối cần thiết đối với việc bảo vệ cả nhóm người, nhưng sự cách biệt về khả năng sáng tạo và sáng kiến giữa các cá nhân – điều kiện để họ tách biệt khỏi nhóm – bao giờ cũng khá lớn,  và khi các cá nhân được thử thách theo những khả năng của riêng họ thì những khác biệt của từng người sẽ lấn át những đặc tính chung, chứ không chỉ là những thành tố ngoại vi của tập thể nữa. Toàn cầu hóa mở rộng một cách căn bản khả năng của tất cả các công dân trên hành tinh này, nó tạo điều kiện cho họ thông qua những hành động tự nguyện mà tạo dựng bản sắc văn hóa của riêng mình, phù hợp với sở thích và động cơ thầm kín của họ. Bây giờ người công dân không phải lúc nào cũng phải – như trong quá khứ và ở nhiều nơi hiện nay – tôn trọng bản sắc nhưng trên thực tế là làm cho họ mắc kẹt vào trại tập trung không thể nào thoát ra được – đấy là bản sắc được áp đặt lên mỗi người thông qua ngôn ngữ, dân tộc, nhà thờ, thói quen của vùng đất nơi họ ra đời. Theo nghĩa này thì ta phải hoan nghênh toàn cầu hóa vì nó mở rộng một cách đáng kể chân trời cho tự do cá nhân.

Hai lịch sử của cùng một lục địa

Châu Mĩ Latin có thể là thí dụ tốt nhất của những thủ đoạn và sự phi lí của việc cố tình thiết lập bản sắc tập thể. Cái gì có thể là bản sắc văn hóa của châu Mĩ Latin? Phải đưa những gì vào cái tập hợp những tín điều, phong tục, truyền thống, thói quen và những câu chuyện cổ tích để thể hiện rằng khu vực này có một tính cách duy nhất, không ai có và không chuyển nhượng được? Lịch sử của chúng ta được trui rèn trong những cuộc tranh luận trí tuệ – đôi khi quyết liệt – nhằm tìm cho ra đáp án cho câu hỏi đó. Đáp án nổi bật nhất là đáp án của những người lấy Tây Ban Nha làm trung tâm[i] đưa ra trong cuộc đấu trí với những người ủng hộ văn hóa bản địa và có ảnh hưởng trên khắp lục địa ngay từ những năm đầu thế kỉ XX.

Đối với những người lấy Tây Ban Nha làm trung tâm như José de la Riva Agüero, Victor Andrés Belaúnde, và Francisco García Calderón thì Mĩ Latin hình thành khi – nhờ quá trình phát hiện và chinh phục – nó gặp ngôn ngữ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, chấp nhận Thiên chúa giáo và trở thành một phần của nền văn minh phương Tây. Những người lấy Tây Ban Nha làm trung tâm không coi thường những nền văn hóa tiền-Tây Ban Nha, nhưng họ coi đấy chỉ là một lớp chứ không phải là cốt lõi của hiện thực xã hội và lịch sử, phải nhờ ảnh hưởng của phương Tây mà nó mới hoàn thiện được bản chất và tính cách của mình.

 Mặt khác, những người ủng hộ văn hóa bản địa lại cực lực bác bỏ những lợi ích mà có người cho rằng người châu Âu đã mang tới Mĩ Latin. Theo họ, bản sắc của chúng ta có nguồn gốc và linh hồn trong nền những nền văn hóa và văn minh tiền-Tây Ban Nha, quá trình phát triển và hiện đại hóa của nó đã bị kìm hãm bằng bạo lực và là đối tượng của kiểm duyệt, đàn áp và đẩy ra ngoài lề không chỉ trong suốt ba thế kỉ thuộc địa mà còn cả sau này, tức là sau khi có chế độ cộng hòa nữa. Theo những tư tưởng gia ủng hộ văn hóa bản địa thì “Biểu hiện Mĩ” (tên một tác phẩm của José Lezama Lima) nằm ở tất cả những biểu hiện mang tính văn hóa – từ ngôn ngữ bản xứ tới đức tin, nghi lễ, nghệ thuật và tập tục của nhân dân – nhằm chống lại sự áp chế về mặt văn hóa của phương Tây và còn tồn tại cho đến ngày nay. Ông Luis E. Valcárcel, một nhà sử học nổi tiếng của Peru, thậm chí còn khẳng định rằng cần phải đốt bỏ tất cả các nhà thờ, các nhà tu và tượng đài theo phong cách kiến trúc thuộc địa vì chúng thể hiện tinh thần “bài-Peru”. Chúng là những kẻ giả hình, là sự phủ nhận bản sắc nguyên thủy của châu Mĩ, một bản sắc có nguồn gốc hoàn toàn bản địa. Và ông José María Arguedas, một trong những tiểu thuyết gia độc đáo nhất của Mĩ Latin đã xây dựng được – trong những câu chuyện cực kì duyên dáng và đầy tinh thần phản kháng – bản anh hùng ca về tàn tích của nền văn hóa Cuechua trong dãy núi Andes, mặc dù đã bị phương Tây chẹn họng và làm cho méo mó đi.

Những người thân Tây Ban Nha cũng như những người ủng hộ văn hóa bản địa đã viết được những tác phẩm lịch sử tuyệt vời và những cuốn tiểu thuyết đầy tinh thần sáng tạo, nhưng nếu xét theo bối cảnh của chúng ta ngày hôm nay thì cả hai học thuyết này đều là những học thuyết mang tính bè phái, giản lược và sai lầm. Không bên nào đủ sức nhồi nhét sự đa dạng đang gia tăng của châu Mĩ Latin vào những khuôn khổ ý thức hệ của họ, và cả hai bên đều sặc mùi phân biệt chủng tộc. Hiện nay ai còn dám tuyên bố rằng chỉ có những cái mang “phong cách Tây Ban Nha” hoặc “da đỏ” mới có quyền đại diện hợp pháp cho Mĩ Latin? Thế mà hiện nay những cố gắng nhằm trui rèn và phân lập “bản sắc văn hóa” đặc thù của chúng ta vẫn được tiếp tục thực hiện với lòng nhiệt tình chính trị và tri thức đáng lẽ nên dành cho những công việc xứng đáng hơn. Tìm cách áp đặt bản sắc văn hóa cho quần chúng nhân dân cũng chẳng khác gì nhốt họ vào tù và không cho họ được hưởng một trong những quyền tự do quý giá nhất – đấy là quyền lựa chọn: họ muốn thành người như thế nào, và bằng cách nào? Châu Mĩ Latin không có một mà có nhiều bản sắc văn hóa, không có bản sắc nào có thể tuyên bố là hợp pháp hơn hay trong sạch hơn những bản sắc khác.

Dĩ nhiên là Mĩ Latin bao hàm trong nó cả thế giới tiền-Tây Ban Nha lẫn các nền văn hóa của nó, những nền văn hóa đó còn giữ được sức mạnh xã hội đáng kể ở các nước như Mexico, Guatemala, và các nước vùng Andes. Nhưng Mĩ Latin c̣n là rất đông người nói tiếng Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, với truyền thống của năm thế kỉ ở sau lưng, sự hiện diện và hành động của họ có ý nghĩa quyết định trong việc định hình những đặc điểm hiện nay của châu lục. Và chả lẽ Mĩ Latin không phải là một phần của châu Phi, châu lục đã đến bến bờ của chúng ta cùng với châu Âu hay sao? Không phải sự hiện diện của châu Phi đã tạo ra làn da, âm nhạc, khí chất và xã hội của chúng ta hay sao? Những thành tố mang tính xã hội, sắc tộc và văn hóa làm nên Mĩ Latin đã liên kết chúng ta với hầu như tất cả các khu vực và các nền văn hóa trên thế giới. Chúng ta có nhiều bản sắc văn hóa đến nỗi tưởng như chẳng hề có một bản sắc nào hết. Thực tế đó – trái ngược với niềm tin của những người dân tộc chủ nghĩa – là tài sản quí báu nhất của chúng ta. Đấy cũng là phẩm chất tuyệt vời, làm cho chúng ta cảm thấy mình là những công dân đầy đủ tư cách trong thế giới toàn cầu hóa này.

Giọng điệu địa phương, lan tỏa toàn cầu

Sợ Mĩ hóa toàn bộ hành tinh là hoang tưởng mang tính ý thức hệ chứ không phải là thực tế. Dĩ nhiên là không nghi ngờ gì rằng cùng với quá trình toàn cầu hóa, tiếng Anh sẽ trở thành ngôn ngữ phổ biến trong thời đại của chúng ta, cũng như tiếng Latin trong thời Trung Cổ vậy. Nó sẽ còn tiếp tục vươn lên vì đấy là phương tiện không thể thiếu được trong giao dịch và thông tin quốc tế. Nhưng điều đó có nghĩa là tiếng Anh nhất thiết sẽ phát triển, sẽ gây thiệt hại cho các ngôn ngữ lớn khác hay không? Hòan tòan không. Trên thực tế, ngược lại mới đúng. Sự xóa nhòa các đường biên giới và thế giới ngày càng tương thuộc lẫn nhau hơn đã và đang khuyến khích các thế hệ trẻ học và đồng hóa với những nền văn hóa khác, đấy không chỉ là sở thích mà còn là điều cần thiết, vì nói được vài thứ tiếng và thích ứng một cách dễ dàng trong những nền văn hóa khác nhau đã trở thành yếu tố quyết định cho sự thăng tiến trong nghề nghiệp. Hãy xem xét trường hợp tiếng Tây Ban Nha. Nửa thế kỉ trước những người nói tiếng Tây Ban Nha là cộng đồng hướng nội, chúng ta cho rằng mình chẳng có mấy cơ hội ở bên ngoài biên giới ngôn ngữ truyền thống. Hiện nay tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ năng động và có nhiều người dùng, nó đã chiếm được những thành tựu ban đầu hay thậm chí những vùng đất rộng lớn trên cả năm châu lục. Sự kiện là có từ hai mươi lăm đến ba mươi triệu người nói tiếng Tây Ban Nha ở Mĩ là nguyên nhân vì sao hai ứng viên tổng thống Mĩ gần đây – thống đốc Texas là George W. Bush và phó tổng thống Al Gore – tiến hành vận động tranh cử không chỉ bằng tiếng Anh mà còn dùng cả tiếng Tây Ban Nha nữa.

Có bao nhiêu triệu thanh niên nam nữ trên khắp hòan cầu đã và đang phản ứng lại những thách thức của tòan cầu hóa bằng cách học tiếng Nhật, tiếng Đức, tiếng Quan thọai, tiếng Quảng Đông, tiếng Nga hay tiếng Pháp? May thay, xu hướng này sẽ gia tăng trong những năm sắp tới. Đấy là lí do vì sao cách bảo vệ tốt nhất  nền văn hóa và ngôn ngữ của chúng ta là nỗ lực quảng bá chúng trên khắp thế giới chứ không phải cứ vờ vịt tìm cách làm cho nó miễn nhiễm với sự đe dọa của tiếng Anh. Những người đưa ra những biện pháp như thế là những người nói rất nhiều về văn hóa, nhưng đấy là những kẻ dốt nát, họ đang che dấu ý định thật sự của mình: chủ nghĩa dân tộc. Đấy không phải là họ đang tranh luận về những xu hướng phổ quát của văn hóa, đấy là những cách nhìn thiển cận, lầm lẫn, biệt lập, mà những người có quan điểm dân tộc chủ nghĩa tìm các áp đặt lên đời sống văn hóa. Bài học tuyệt vời nhất mà văn hóa dạy cho chúng ta là nó không cần những quan chức hay các chính trị viên bảo vệ, cũng không cần che chắn sau song sắt hay dùng lực lượng hải quan để cách li nhằm giữ cho nó sống và đơm hoa kết trái; ngược lại, những cố gắng như thế chỉ làm cho nó khô kiệt hoặc trở thành tầm thường mà thôi. Văn hóa phải sống một cách tự do, phải thường xuyên va chạm với những nền văn hóa khác. Điều đó sẽ làm cho nó luôn luôn đổi mới, luôn luôn tái tạo, làm cho nó tiến hóa và thích ứng với dòng chảy liên tục của cuộc đời. Ngày xưa tiếng Latin đã không giết chết tiếng Hy Lạp; ngươc lại, sự độc đáo và chiều sâu trí tuệ của nền văn hóa Hy Lạp đã thẩm thấu vào nền văn minh La Mã và nhờ nó mà những bản trường ca của Homer và triết lí của Plato và Aristotle mới vươn ra khắp thế giới. Tòan cầu hóa không xóa bỏ các nền văn hóa khu vực, trong không gian bao la của cả hòan vũ, tất cả những gì có giá trị và đáng sống trong những nền văn hóa khu vực sẽ tìm thấy những mảnh đất màu mỡ để có thể đơm hoa kết trái.

Điều đó đã diễn ra trên khắp châu Âu. Đặc biệt đáng ghi nhận là ở Tây Ban Nha, ở đây những nền văn hóa địa phương đang tái xuất hiện với một sức mạnh đặc biệt. Dưới chế độ độc tài của tướng Francisco Franco, những nền văn hóa địa phương bị đàn áp và buộc phải sống trong vòng bí mật. Nhưng cùng với sự trở về của chế độ cộng hòa, sự đa dạng của nền văn hóa đã được cởi trói và được tự do phát triển. Ở những khu vực tự trị, văn hóa địa phương càng phát triển mạnh, đặc biệt là ở Catalonia, Galicia, và xứ Basque; các khu vực khác ở Tây Ban Nha cũng đều như thế cả. Nhưng dĩ nhiên là chúng ta không được đánh đồng sự hồi sinh của văn hóa khu vực – một hiện tượng tích cực và làm cho đời sống ngày càng phong phú thêm – với chủ nghĩa dân tộc. Chủ nghĩa dân tộc sẽ tạo ra những mối đe dọa nghiêm trọng đối với nền văn hóa của tự do.

Trong tác phẩm nổi tiếng: Góp phần định nghĩa văn hóa (Notes Towards the Definition of Culture) xuất bản năm 1948, T.S. Eliot đã dự đóan rằng trong tương lai, nhân lọai sẽ được chứng kiến sự phục hưng của những nền văn hóa địa phương và khu vực. Lúc đó, đấy là một lời tiên đóan quá táo bạo. Nhưng tòan cầu hóa có vẻ như sẽ làm cho nó trở thành hiện thực trong thế kỉ XXI và chúng ta nên vui mừng vì chuyện đó. Sự phục sinh của những nền văn hóa nhỏ bé, mang tính khu vực sẽ trả lại cho nhân lọai sự đa dạng trong cách thể hiện và hành vi mà cuối thế kỉ XVII và đặc biệt là trong thế kỉ XIX các quốc gia-dân tộc đã từng hủy bỏ nhằm tạo ra cái gọi là bản sắc văn hóa. (Sự kiện này đã dễ dàng bị lãng quên hay chúng ta tìm cách lãng quên vì những ẩn ý mang tính đạo đức sâu sắc của nó). Các nền văn hóa dân tộc thường được trui rèn trong máu lửa, nó cấm đóan giảng dạy và xuất bản các tác phẩm viết bằng thổ ngữ hay cấm đóan thực hành các tôn giáo và tục lệ khác biệt với những tôn giáo và tục lệ được quốc gia-dân tộc coi là lí tưởng. Bằng cách đó, các quốc gia-dân tộc tại nhiều nước trên thế giới đã áp đặt nền văn hóa ưu trội lên các nền văn hóa địa phương, văn hóa địa phương bị đàn áp và bị lọai bỏ khỏi đời sống chính thức. Nhưng, trái ngược với những cảnh báo của những người sợ tòan cầu hóa, không dễ gì xóa bỏ một nền văn hóa – dù nó có nhỏ đến đâu – nếu đằng sau nó là một truyền thống phong phú và có những người thực hành nó, dù là thực hành một cách bí mật. Và hôm nay, nhờ có sự suy yếu của quốc gia-dân tộc, chúng ta mới được nhìn thấy sự tái xuất hiện của những nền văn hóa đã từng bị lãng quên, bị đẩy ra bên lề và vị bóp nghẹt và thể hiện một đời sống năng động trong sự hài hòa vĩ đại của hành tinh tòan cầu hóa này.

…………

Mario Vargas Llosa là tiễu thuyết gia và trí thức nổi tiếng thế giới. Năm 2010 ông được trao giải Nobel văn chương vì “những thành tựu trong việc mô tả cơ cấu của quyền lực và những hình tượng sắc bén về sự kháng cự, nổi dậy và thất bại của cá nhân con người”. Ông là tác giả của những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng như: Bữa tiệc của con dê (The Feast of the Goat), Cuộc chiến của ngày tận thế(The War of the End of the World), Cô Julia và người viết kịch bản (Aunt Julia and the Scriptwriter), Cô gái không ra gì (The Bad Girl), Cuộc đời thực của Alejandro Mayta (The Real Life of Alejandro Mayta), và nhiều cuốn khác.

Phạm Nguyên trường dịch

Nguồn: http://studentsforliberty.org/college/the-morality-of-capitalism/

Bản dịch giả gửi VHNA

Đầu đề là do VHNA đặt

…………………………………………………………………………………………………………….

 [i] Dịch thoát ý từ Hispanists, thực ra là nói về cả Tây Ban Nha lẫn Bồ Đào Nha. 

 

 

 

 

%d bloggers like this: