Tag Archives: việt mỹ

Quan hệ Việt – Mỹ: Từ “Đối tác toàn diện” đến “Lòng tin chiến lược” – VHNA

19 Th10

 

Dưới đây là trao đổi sau Tọa đàm về “Con đường tơ lụa” của Trung Quốc tại Hà Nội ngày 20/6 và nhân chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hoa Kỳ từ 6 – 9/7. Tham gia trao đổi có: GS-TS Trần Ngọc Vương, Đại học KHXH&NV, NNC Lâm Bảo, nguyên Phó Đại sứ ta ở Anh và TS. Đinh Hoàng Thắng, nguyên Đại sứ ta tại Hà Lan và n báo Phan Văn Thắng. Cuộc nói chuyện này đã diễn ra từ tháng 7/2015.

Phan Văn Thắng:Thay mặt độc giả VHNA, cám ơn các nhà nghiên cứu đã tham gia “bàn tròn” này. Gợi ý đầu tiên, đề nghị các chuyên gia nêu bật ý nghĩa lịch sử liên quan đến chuyến thăm Washington của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng?

GS. Trần Ngọc Vương:Rõ ràng đây là chuyến thăm lịch sử, xét từ nhiều chiều kích. Về song phương, đây là thời điểm chuyển mình của quan hệ Việt-Mỹ, sau 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao, giờ đây bước sang “pha” tiếp theo, đó là giai đoạn hai nước cam kết sẽ thúc đẩy các mối quan hệ mọi mặt để thành công hơn nữa. Đặc biệt cả Mỹ lẫn Việt Nam đều nhấn mạnh đến quá trình hướng tới một chất lượng cao hơn, chất lượng của “lòng tin chiến lược” trong các mối quan hệ. Về khu vực cũng như trên toàn cầu, chuyến thăm xẩy ra vào một thời điểm then chốt, đó là lúc tất cả mọi nước: Mỹ, Trung Quốc, các cường quốc hạng trung trong khu vực, các nước ASEAN đều đang triển khai trên thực tế các chiến lược của mỗi nước đã tuyên bố mấy năm nay. Nhưng sở dĩ nói “then chốt” là vì nay là lúc Trung Quốc, một quốc gia đang trên lộ trình vươn lên thành siêu cường đã có hàng loạt các tuyên bố lẫn hành động muốn thay thế trật tự hiện hành bằng một trật tự mới, có tên là “Trật tự Trung Hoa”. Đây cũng chính là căn nguyên sâu xa của mọi căng thẳng hiện nay trong quan hệ Việt-Trung cũng như trong quan hệ giữa Trung Quốc với các nước trong khu vực.

TS. Đinh Hoàng Thắng:Nếu theo dõi một loạt bài viết trên truyền thông của Mỹ, dịp này, các bỉnh bút đều tập trung vào chủ đề “Pax Sinica replaces Pax Americana”, nghĩa là “Trật tự Trung Hoa đang thay thế trật tự Hoa Kỳ”. Hẳn nhiên, việc thay thế này sẽ không phải diễn ra trong một tháng hay một năm và cũng không phải chỉ giờ đây, báo chí Mỹ mới cảnh báo cái nguy cơ này. Đây là câu chuyện của vài ba thập kỷ tới và câu chuyện này cũng đã được dấy lên cách đây dăm bảy năm nếu như không nói là còn sớm hơn. Tuy nhiên, các cảnh báo này lại nóng lên vào thời điểm hiện nay chính là do hàng loạt các hoạt động phi pháp của Trung Quốc trên Biển Đông trong mùa Hè 2015 này; và không chỉ hung hăng trong hành động, họ còn “ngồi xổm” lên luật quốc tế và luật biển hiện hành khi tuyến bố việc họ bồi đắp gần chục đảo đá tại Hoàng Sa và Trường Sa (phần thuộc về chủ quyền của Việt Nam) là xây dựng trên vùng biển đảo thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Nguyên văn ông Ngoại trưởng Trung Quốc nói họ xây dựng các đảo này như là xây trong “ao nhà” của họ vậy.

Xem thế, ý nghĩa lịch sử liên quan đến chuyến thăm Washington của Tổng Bí thư còn ở chỗ: Đây là lần thứ ba, người có cương vị đứng đầu trong hệ thống chính trị ở Việt Nam, nối bước tiền nhân, thực thi một cuộc khảo nghiệm các nỗ lực để thoát khỏi “gọng kìm” định mệnh không chỉ từ “thiên triều”, mà còn từ các nước lớn khác, đè nặng lên số phận của Việt Nam. Kết quả của cuộc khảo nghiệm lịch sử này có thể chúng ta chưa thể biết ngay, vì các thỏa thuận ngoại giao cấp nguyên thủ đều mang tính “tuyệt mật”. Nhưng “đọc giữa hai dòng chữ” các Tuyên bố chung ký kết dịp này giữa Tổng Bí thư Việt Nam và Tổng thống Mỹ, chúng ta sẽ “ngộ” ra được nhiều điều.

Phan Văn Thắng:TS. Đinh Hoàng Thắng có thể nói rõ thêm về hai lần trước và những cái mà ông cho là “ngộ” ra nhiều điều qua lần này?

TS. Đinh Hoàng Thắng:Các công trình nghiên cứu lịch sử và ngoại giao đã nói khá kỹ. Tôi chỉ tóm tắt lại thôi. Lần thứ nhất là cố gắng của vua Tự Đức vào những năm 1848-1883.Trong luận văn Tiến sỹ của Giảng viên Đại học Tokyo Tsuboi, vị GS người Nhật đã phân tích những nỗ lực của vua Tự Đức nhằm cứu vãn chủ quyền đất nước nhưng không thành công. Tự Đức tin vào Thiên triều theo một lối mòn của tư duy giáo điều Nho giáo: nước lớn phải có bổn phận bênh vực, che chở nước nhỏ, mà không biết hoặc biết một cách rất lơ mơ rằng chính “Thiên triều” lúc bấy giờ đang rơi vào thảm trạng bị xâu xé, không đủ sức ngay cả việc tự vệ chứ đừng nói tới chuyện giúp cho quốc gia khác! Thay vì thoát khỏi gọng kìm, hoạt động ngoại giao của chính quyền, vừa triều cống Trung Hoa, vừa cầu hòa với Pháp đã dẫn đến các xung đột mà chiến trường lại diễn ra ngay trên đất Việt Nam. Lần thứ hai là những nỗ lực của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào giữa thập niên 1950.Cụ Hồ đã tìm cách “kết nối” với chính quyền Việt Nam Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm, tìm cách hiệp thương giữa hai miền, nhưng rồi cả hai vẫn không tránh được cuộc chiến mà người Mỹ gọi là “chiến tranh Việt Nam”. Giờ đây thì chính người Mỹ cũng cay đắng nhận ra đấy là một cuộc chiến sai về mọi mặt, chọn thời điểm, chọn đối phương và chọn cách tiến hành đều sai lầm…

“Tuyên bố về viễn cảnh của quan hệ đối tác toàn diện” và “Tuyên bố về tầm nhìn đối với hợp tác quốc phòng” giữa Hoa Kỳ và Việt Namđều bao hàm các chất lượng chiến lược và các chiều kích về “lòng tin chiến lược” giữa hai quốc gia vốn đã xác quyết vượt lên chính “hội chứng ý thức hệ” để thúc đẩy các mối bang giao mà các nhà ngoại giao lẫn các nhà lập pháp Hoa Kỳ từng tuyên bố là “không gì không thể”trong việc kiến tạo nên mối quan hệ năng động hàng đầu này ở Đông Nam Á hiện nay. Ngoại giao Nguyên thủ mở ra ngoại giao Nguyên thủ. TBT Nguyễn Phú Trọng chưa đặt chân lên đất Mỹ nhưng phía Hoa Kỳ đã cam kết Tổng thống Obama sẽ thăm Việt Nam cuối năm 2016. “Chậm còn hơn không”. Đấy là lời an ủi cho những người bi quan. Còn những người lạc quan thì nhìn nhận, mọi chuyện liên quan đến lộ trình quan hệ Việt-Mỹ đều nằm trên một đường ray và cứ như thế tiến về phia trước, khỏi cần phụ thuộc vào “sự chống lưng” nào cả.

 Phan Văn Thắng:Nếu nói về những nỗ lực xây dựng và thúc đẩy quan hệ Việt – Mỹ của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo tôi cần thiết phải nhắc lại mối liên hệ, cộng tác của Việt Minh với người Mỹ, với OSS[quan tình báo Hoa Kỳ  – U.S Office of Strategic Services] trong những năm 1945 – 1946. Thưa các ông, dựa trên sự đón đợi từ cả hai phía và các công việc chuẩn bị từ mấy tháng nay của các đoàn tiền trạm, đề nghị các ông nói cụ thể hơn về các kết quả hữu hình của chuyến thăm cấp cao này?

GS. Trần Ngọc Vương:  Nêu lên các viễn kiến về quan hệ “đối tác toàn diện” giữa hai nước nghĩa là khẳng định trên thực tế về các chất lượng chiến lược của mối bang giao. Ở đây, ngoài các thỏa thuận mới về chính trị-an ninh và kinh tế-thương mại, điều nổi bật khác trước đây là các hoạt động về ngoại giao nhân dân. Quan hệ giữa con người với con người, giữa các tầng lớp nhân dân với nhau tới đây rất quan trọng. Theo kết quả nghiên cứu của Viện PEW (ở Mỹ) công bố gần đây, 78 phần trăm người Việt Nam được khảo sát cho biết họ có cái nhìn tích cực về Hoa Kỳ, tăng 2 phần trăm so với năm 2014, trong khi chỉ có 13 phần trăm nói ngược lại. Quan điểm này tương đồng với đa số các nước mà PEW khảo sát, cho thấy Mỹ được quốc tế nhìn nhận với thái độ phần lớn là tích cực, 69 phần trăm.

Một kết quả khác, chưa hẳn đã là hữu hình, nhưng chuyến thăm của ông Trọng đã đặt ra và tôi cầu mong nó đạt được, ít nhất là một phần nếu như không nói là tất cả. Đó là tiến tới sự thay đổi trong tư duy của lãnh đạo cũng như của người dân đối với vị thế quốc tế của Việt Nam qua chuyến đi này. Yêu cầu thay đổi trở nên cấp bách đến mức, nếu chúng ta vẫn giữ não trạng cũ, vẫn suy nghĩ về Mỹ, về Trung Quốc, về các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam theo kiểu cũ, thì chúng ta lại sẽ lao vào vết xe đổ của tiền nhân. Nghĩa là chúng ta sẽ khó thoát khỏi được các “gọng kìm lịch sử” như đã nói ở trên. Và kết cục, chúng ta sẽ bị/hoặc sẽ được lịch sử ghi danh như “những anh hùng lạc thời đại”. Qua thỏa thuận về TPP và các thỏa thuận quan trọng khác, hy vọng sẽ tìm được phương thuốc hữu hiệu cho các vấn nạn về kinh tế-xã hội cũng như các đe dọa về an ninh đối với chúng ta hiện nay.

Phan Văn Thắng:Vậy câu chuyện TPP là câu chuyện của kinh tế hay an ninh là chính?

NNC Lâm Bảo:Cả hai. Đây là một thỏa thuận toàn diện bao quát tất cả các khía cạnh chính của một hiệp định thương mại tự do, bao gồm trao đổi hàng hóa, các quy định về xuất xứ, can thiệp, rào cản kỹ thuật, trao đổi dịch vụ, vấn đề sở hữu trí tuệ, các chính sách của chính quyền. Mục tiêu hàng đầu của TPP là xóa bỏ các loại thuế và rào cản cho hàng hóa, dịch vụ xuất nhập khẩu giữa các nước thành viên. Vì lý do này, TPP là một hiệp định mang tính bước ngoặt, sẽ làm thay đổi cuộc chơi trong nền thương mại Việt Nam và quốc tế.

GS. Trần Ngọc Vương:Khẳng định TPP là một thỏa thuận thương mại có tiêu chuẩn cao nhất từ trước đến nay trong lịch sử. Song chúng ta không được quên rằng, nhân quyền vẫn đang là một trọng tâm trong chính sách ngoại giao và thương mại của Hoa Kỳ. Tổng thống Obama từng nói, Việt Nam sẽ phải thực sự thay đổi chính sách và cải thiện tiêu chuẩn cho người lao động. Việt Nam phải thiết lập được mức lương cơ bản, phải thông qua luật về điều kiện an toàn lao động và bảo vệ công nhân.…. Điều này cũng sẽ tạo ra sự thay đổi. TPP sẽ giúp tạo ra sân chơi công bằng và mang lại lợi ích cho người lao động Việt Nam. Đó chính là sự tiến bộ.

NNC Lâm Bảo:Khi nói về TPP, đúng là có một số băn khoăn về các vấn đề liên quan đến lao động. Tại sao Mỹ lại quan tâm đến giới lao động, cả về mặt vật chất (lương tối thiểu) lẫn về tinh thần (tổ chức công đoàn). Thật ra, trên thực tế, nếu giới lao động ở Việt Nam được thụ hưởng lợi ích từ cả hai mặt này thì sẽ tốt cho sản xuất và nhà đầu tư nước ngoài có thể yên tâm. Tôi tin rằng, xuất phát từ lợi ích quốc gia của mỗi nước, Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục thương lượng để đi đến đồng thuận.

Phan Văn Thắng:Theo các chuyên gia, tại sao người ta nói làm kẻ thù của Mỹ dễ hơn làm bạn với Mỹ? Ý nghĩa của nhận xét này là gì?

GS. Trần Ngọc Vương:Đây là câu cửa miệng của các nhà phân tích chính sách từ các nước đồng minh thân cận của Mỹ. Triết lý của nhận xét này là đề cập đến tính thực tiễn và sự sòng phẳng của người Mỹ, chính xác hơn là của chính giới Mỹ. Cái gì mà phù hợp với lợi ích của nước Mỹ thì họ bảo vệ và chiến đấu đến cùng, khi không phục vụ cho lợi ích quốc gia thì họ buông bỏ một cách không thương tiếc. Có nhiều ví dụ trong thực tiễn. Chính đó cũng là một trong những thành tố làm nên thứ mà ở ta một thời chê bai là “chủ nghĩa thực dụng Mỹ”. Nước Mỹ có hai đảng thay nhau cầm quyền, nhưng đảng nào cũng đặt lợi ích quốc gia Mỹ lên hàng đầu, bởi nếu đảng nào không làm thế, chắc chắn cử tri Mỹ sẽ lập tức hạ bệ họ! Việc nước Mỹ rút khỏi VN đầu những năm 1970 là một điển hình. Cũng như bây giờ, họ tuyên bố, trở lại châu Á, trở lại để ở lại. Tất cả là xoay quanh đánh giá của họ về Trung Quốc. Trước đây họ coi nặng mặt “đối tác chiến lược” của Trung Quốc, nay họ nhấn mạnh đến khía cạnh Trung Quốc là “đối thủ cạnh tranh”. Nhưng mẫu số chung cao nhất của nước Mỹ là bảo vệ ưu thế vượt trội của mình trong khu vực châu Á-TBD cũng như trên toàn cầu. Sỡ dĩ nói làm bạn với Mỹ khó là vì quốc gia anh phải “thiết kế” chính sách như thế nào để quá trình triển khai chính sách của anh không làm hỏng tiến trình “xoay trục” hay “tái cân bằng” của chính họ.

Phan Văn Thắng:Vậy khả năng khi nào Mỹ và Việt Nam có thể trở thành “Đối tác chiến lược” của nhau?

TS. Đinh Hoàng Thắng: Việt Nam có câu “Cái gì cần đến sẽ phải đến”. Toàn bộ diễn tiến chuyến thăm của Tổng Bí thư tại Mỹ cho đến nay diễn ra thuận lợi. Theo dõi các tin tức liên quan đến hội đàm cũng như các cuộc tiếp xúc, chúng ta càng hiểu thêm tinh thần lạc quan của các nhà ngoại giao hàng đầu Việt – Mỹ. Họ là các đại sứ của Mỹ ở VN và các đại sứ của VN ở Mỹ, đều đánh giá rằng, quan hệ đối tác Việt – Mỹ hiện nay, thực chất đã đạt được nhiều tiêu chí của “Đối tác Chiến lược”. Ở đây, chúng ta hiểu giữa hai nước còn tồn tại một số nhìn nhận khác biệt về các vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền. Nhưng như chính Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói trước hôm lên đường qua Mỹ, chuyến thăm của ông là một dịp để hai bên có thể trao đổi thẳng thắn về các vấn đề mà hai bên còn có những khác biệt, nhằm góp phần vào việc tăng cường hiểu biết lẫn nhau, giảm bớt khác biệt, từng bước xây dựng lòng tin giữa hai bên nhằm đưa quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ ngày càng hướng tới tương lai tốt đẹp hơn.

NNC Lâm Bảo:Năm 2013, Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ký Tuyên bố về “Đối tác Toàn diện”. Mới đây, Bộ trưởng Quốc phòng hai nước đã ký “Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng”. Lần này, hai nước lại ký tiếp các Tuyên bố nhằm mở rộng vaftais khẳng định các cam kết này. Những văn kiện mang tính pháp lý cao sẽ cấu thành một bộ khung cho các quan hệ song phương, trong bối cảnh Việt Nam sẽ tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12 vào đầu năm 2016, thông qua chiến lược trong 5 năm tới. Như vậy, quy chế “Đối tác Chiến lược” sẽ như một cam kết “hôn nhân vì lẽ phải”, chắc chắn sẽ diễn ra trong tương lai gần.

Phan Văn Thắng:Cảm ơn các ông đã tham gia cuộc trao đổi. Xin chúc cuộc viếng  thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ đạt nhiều kết quả tốt đẹp, mở ra một kỷ nguyên mới trong quan hệ Việt – Mỹ./.

Hội thảo 20 năm bang giao Việt – Mỹ – VOA

28 Th1

 

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-01-27

 

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này

Đại sứ Mỹ Ted Osius phát biểu tại lễ khai mạc Hội thảo Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ: 20 năm thành công hơn nữa.

Đại sứ Mỹ Ted Osius phát biểu tại lễ khai mạc Hội thảo Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: 20 năm thành công hơn nữa.

Photo Phuong Ha/Zing

 

Your browser does not support the audio element.

Cuộc Hội thảo kỷ niệm 20 năm bang giao Việt Mỹ đã được tổ chức tại Hà Nội vào ngày 26 tháng 1 được đánh giá là cả hai phía đều có cái nhìn lạc quan và cùng mong muốn hợp tác thêm nữa trong những năm sắp tới để phát triển trên căn bản hai bên đều có lợi. Tham dự hội thảo là cựu đại sứ Việt Mỹ là các ông Perterson, Lê Văn Bàng cùng tân đại sứ Ted Osius.

Mặc Lâm: Thưa bà trong cuộc hội thảo kỷ niệm 20 năm quan hệ Việt Mỹ vừa qua là người tham dự bà đánh giá thế nào về nội dung và quan điểm được bày tỏ trong hội nghị?

Bà Phạm Chi Lan: Tôi có một ấn tượng rất tốt với cuộc hội thảo ngày hôm qua. Trong cuộc hội thảo thì cả hai bên đã trao đổi ý kiến khá là thẳng thắn nhiều điều rất thiết thực cho mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đặt chung trong quan hệ với cả cộng đồng trong khu vực. Tôi nghĩ rằng cách tiếp cận một cách thẳng thắn và thể hiện sự chân thành của các bên là rất tốt.

Mặc Lâm: Là một chuyên gia kinh tế tham gia cuộc hội thảo bà đánh giá thế nào về vấn đề TPP được mang ra thảo luận lần này?

Tôi cho rằng cả hai bên đều hiểu được những yêu cầu của TPP không có những ảo tưởng quá mức về cái mà VN có thể đạt được qua TPP nếu như VN không có sự cố gắng. Cũng không đưa ra theo cách ép buộc hoặc là đòi hỏi quá nhiều đối với Việt Nam

Bà Phạm Chi Lan

Bà Phạm Chi Lan: Trong cuộc hội thảo cũng có bàn về TPP với những cơ hội cũng như thách thức của nó và những đòi hỏi của nó đối với Việt Nam. Tôi cho rằng cả hai bên đều hiểu được những yêu cầu của TPP không có những ảo tưởng quá mức về cái mà Việt Nam có thể đạt được qua TPP nếu như Việt Nam không có sự cố gắng. Cũng không đưa ra theo cách ép buộc hoặc là đòi hỏi quá nhiều đối với Việt Nam và tôi hiểu là hai bên đều hiểu TPP đang được đàm phán và trong quá trình đàm phán ấy cũng đã giải thích rất nhiều các vấn đề hai bên chưa hiểu và chưa thỏa thuận với nhau và đang tiến tới rất gần những khoản cuối cùng.

Mặc Lâm: Thưa bà trong cuộc hội thảo có bên nào đưa ra vấn đề Biển Đông hiện nay hay không? Vì nếu Biển Đông bất ổn thì cũng tạo cho quan hệ Việt Mỹ có thêm những vấn đề nảy sinh và từ đó có lẽ không chỉ có Việt Nam là bị thiệt hại mà Hoa kỳ cũng không thể đứng ngoài vòng…

Bà Phạm Chi Lan: Các bên đặt vấn đề về quan hệ Việt Mỹ cũng nằm trong bối cảnh cả thế giới và khu vực hiện nay thì cũng thấy là hợp tác giữa Việt Nam và Hoa kỳ cũng không chỉ trong khuôn khổ song phương nữa giữa hai nước mà trong khuôn khổ đa phương trong khu vực. Thí dụ như hợp tác giữa Việt Nam và ASEAN một cách tích cực cũng là cách tiếp cận để thúc đẩy quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam hơn. Ngược lại quan hệ giữa Hoa kỳ và Việt Nam cũng có thể đóng góp cho cộng đồng ASEAN và thế giới, hoặc là các viên chức trong ASEAN sẽ mạnh mẽ hơn mang lại lợi ích cho tất cả các bên.

Các bên cũng khẳng định mối quan tâm chung và khẳng định sự hợp tác để bảo vệ những điều đứng đắn của chủ quyền Việt Nam cũng như bảo vệ cho các điều ước quốc tế được tôn trọng theo các quy định

Bà Phạm Chi Lan

Hội nghị không bàn trực tiếp tới những câu chuyện như vậy, tới vấn đề như ở Hoàng Sa Trung Quốc đang xây dựng những vị trí trên biển nhưng hội nghị có đề cập tới sự phát triển của Việt Nam mang tính dài hạn trong không khí hòa bình ổn định và bảo vệ được chủ quyền của Việt Nam thì điều đó được diễn đi diễn lại. Về phía Mỹ thì cũng khẳng định là mong muốn có một nước Việt Nam hòa bình, giàu mạnh và phát triển trong cộng đồng quốc tế. Các bên cũng khẳng định mối quan tâm chung và khẳng định sự hợp tác để bảo vệ những điều đứng đắn của chủ quyền Việt Nam cũng như bảo vệ cho các điều ước quốc tế được tôn trọng theo các quy định.

Mặc Lâm: Sau khi hội thảo bế mạc bà nghĩ gì về vai trò của Việt Nam? Phải làm thế nào để thúc đẩy sự hợp tác ấy cao và rộng hơn nữa?

Bà Phạm Chi Lan: Tôi nghĩ hội nghị kết thúc trong không khí mà các đại biểu đều cảm thấy hài lòng, cảm thấy hai bên có hiểu biết nhau nhiều hơn. Chắc chắn những người tham gia cảm thấy só sự đồng thuận và gắn bó hơn trong quá trình tiến tới phát triển và nâng cao quan hệ cả hai bên. Cuộc hội thảo nhắm mục đích quan hệ Việt Mỹ cho 20 năm thành công hơn tức là chúng tôi kỷ niệm 20 năm nhưng trong cách tiếp cận là làm thế nào để 20 năm nữa thành công hơn có nghĩa là những thành công hay thành công chưa như mong muốn trong 20 năm vừa qua thì làm sao 20 năm tới phải thành công hơn nữa.

Qua hội nghị tôi nghĩ mọi người đều thống nhất cao so với ý tưởng làm sao để thúc đẩy quan hệ đó tốt đẹp hơn nữa, thành công hơn nữa trong 20 năm tới và cái niềm tin lạc quan trong 20 năm tới đó thể hiện rất rõ trong hội nghị

Bà Phạm Chi Lan

Tôi nghĩ với mục tiêu như vậy thì hội nghị đã thực sự đạt đươc kết quả mong muốn của nó. Những người tham gia thì hầu hết đều là những người đã có quá trình đóng góp rất nhiều kể cả trước 20 năm vừa rồi tức là trước khi bình thường hóa quan hệ giữa hai bên thì đã có những đóng góp cố gắng làm sao để đưa hai nước gần nhau để thiết lập quan hệ. Sau khi đã thiết lập quan hệ rồi thì cũng tiếp tục đóng góp một cách tích cực trong cái quan hệ đó càng ngày càng củng cố và phát triển tốt đẹp. Qua hội nghị tôi nghĩ mọi người đều thống nhất cao so với ý tưởng làm sao để thúc đẩy quan hệ đó tốt đẹp hơn nữa, thành công hơn nữa trong 20 năm tới và cái niềm tin lạc quan trong 20 năm tới đó thể hiện rất rõ trong hội nghị

Mặc Lâm: Xin cám ơn bà

Quan hệ Việt-Mỹ đủ sâu sắc để hóa giải mọi chuyện

27 Th1

 

– Bên lề hội thảo 20 năm Việt – Mỹ bình thường hóa quan hệ, trong khi Đại sứ Mỹ đầu tiên chia sẻ về quá khứ thì đương kim Đại sứ lạc quan về tương lai.

 
 
quan hệ Việt-Mỹ, Pete Peterson, Ted Osius, cảnh sát biển
Các đại sứ Mỹ qua các thời kỳ (từ phải sang): Ông Pete Peterson, ông Ted Osius và ông Michael Michalak. Ảnh: ĐSQ Mỹ tại VN

Đai sứ Mỹ đầu tiên tại VN Pete Peterson: Người Mỹ đã nhìn khác về VN

– Quá trình bình thường hóa đã vấp phải khó khăn nào lớn nhất, thưa ông?

Chúng ta đều gặp phải sự phản đối về mặt chính trị ở cả hai nước, phản đối theo rất nhiều cách, chúng ta đã rất khó khăn trong việc tìm ra tiếng nói chung, chúng ta thiếu định hướng khi cần có sự lãnh đạo… Nhưng chúng ta đã vượt qua những trở ngại đó và xây dựng nên mối quan hệ mà chúng ta thấy ngày nay, một mối quan hệ mạnh mẽ.

– Vậy ông đã gặp khó khăn gì khi là Đại sứ Mỹ đầu tiên ở VN?

Việc khó nhất là làm cho giới lãnh đạo VN nhận thấy tôi là người đáng tin cậy, tôi tôn trọng người Việt Nam một cách sâu sắc và khát khao mạnh mẽ rằng Việt Nam và Mỹ sẽ trở thành bạn tốt trong tương lai.

Tôi rất tự hào với những gì đã diễn ra trong từng đó năm, những việc mà những người ở hội thảo này đã cùng nhau làm trong những điều kiện vô cùng khó khăn để có được một mối quan hệ mà tôi nghĩ thế giới phải ngưỡng mộ.

Là một phần của quan hệ này, tôi vẫn liên hệ với Việt Nam. Tôi trở lại đây nhiều lần, cùng đi trên phố với người dân, tôi biết Việt Nam rất rõ, tôi tận mắt chứng kiến sự tiến bộ. Tôi tự hào vì đã góp phần vào sự tiến bộ đó.

– Vậy bây giờ nước Mỹ nhìn về VN như thế nào?

Nhiều người Mỹ đã quay lại Việt Nam và cuối cùng đã kết luận rằng Việt Nam không phải là một cuộc chiến, mà là một đất nước tươi đẹp.

Việt Nam là yếu tố quan trọng trong chính sách đối ngoại của Mỹ vì đất nước các bạn có vị trí địa lý chiến lược trong khu vực Đông Nam Á. Việt Nam có thể giúp đem lại hòa bình và ổn định trong khu vực, và đó là điều chúng tôi mong muốn.

– Ông kỳ vọng gì về tương lai quan hệ hai nước?

Cách đây 5 năm tôi đã nói có lẽ đến lúc này giữa hai nước sẽ là quan hệ đối tác chiến lược, đến giờ tôi nghĩ chúng ta đã rất gần mục tiêu đó rồi.

Không ai đoán trước được tương lai nhưng tôi chắc chắn đó sẽ là một quan hệ chi tiết và phức tạp hơn. Chúng ta tiến lên phía trước, nghĩa là có những xung đột mà chúng ta phải đàm phán và vượt qua, nhưng quan hệ mà chúng ta gây dựng được đến ngày hôm nay đủ sâu sắc để vượt qua những thời điểm khó khăn và hóa giải mọi vấn đề có thể xảy đến.

– Ông nghĩ thế nào về đề xuất Mỹ gỡ bỏ hoàn toàn cấm vận vũ khí với VN?

Tôi đồng ý, và đã đồng ý từ nhiều năm trước. Khi còn là đại sứ, tôi đã đề đạt với Chính phủ Mỹ, nhưng lúc đó chưa đúng lúc, chưa có sự đồng thuận chính trị. Tôi vui vì giờ Mỹ đã gỡ bỏ một phần và việc gỡ bỏ hoàn toàn có lẽ chỉ trong một vài năm tới nữa.

Hãy nghĩ đến việc những trang thiết bị quốc phòng sắp được giao dịch sẽ được dùng cho Cảnh sát biển, tìm kiếm cứu nạn… Với sự hợp tác về quốc phòng như vậy, tự khắc Việt Nam và Mỹ sẽ xích lại gần nhau trong lĩnh vực này và sẽ có nhiều hoạt động cùng nhau.

Đương kim Đại sứ Mỹ tại VN Ted Osius: Nội hàm quan hệ quan trọng hơn cái tên

– Mỹ sẽ giúp VN thế nào trong việc nâng cao năng lực của lực lượng Cảnh sát biển, thưa ông?

Việc Mỹ giúp đỡ lực lượng Cảnh sát biển VN là điều rất quan trọng đối với hai nước. Đây là nỗ lực chung của hai nước chứ không phải chỉ Mỹ giúp VN.

Mục đích của hợp tác Cảnh sát biển hai nước là thực hiện các hoạt động chung, đảm bảo hòa bình, ổn định, thịnh vượng trong khu vực, đảm bảo các nước trong khu vực tuân thủ luật pháp quốc tế, không đe dọa nước khác. Bản thân các nước sẽ hưởng lợi từ hàng hải tự do và an toàn.

– Tổng thống Mỹ trong Thông điệp liên bang mới đây không nói nhiều đến các tranh chấp hàng hải ở châu Á. Liệu Mỹ sẽ dành ít nguồn lực hơn cho vấn đề này trong 2 năm cuối của nhiệm kỳ ông Obama?

Không đúng. Ông Obama đã nói khá nhiều về Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Việt Nam là 1 trong 12 nước đang tích cực đàm phán. Điều này đều có tính chất trọng tâm chính sách của chúng tôi đối với tầm nhìn về một châu Á hòa bình, ổn định và thịnh vượng. Tổng thống Obama cũng đã nói về lợi ích của TPP đối với Mỹ và nhấn mạnh cần nhanh chóng kết thúc đàm phán và tiến tới thực hiện TPP.

Cả Mỹ và Việt Nam đều đều coi TPP là một thỏa thuận chiến lược về kinh tế, cả Washington và Hà Nội đều có ý chí chính trị để đạt được Hiệp định này. Tôi lạc quan rằng chúng ta có thể đạt được TPP trong năm 2015, đây sẽ là một trong nhiều thành tựu quan trọng kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.

– Vậy theo ông, khi nào hai nước sẽ trở thành đối tác chiến lược?

Tôi nghĩ điều quan trọng là nội hàm của quan hệ chứ không phải cái tên. Lãnh đạo Việt Nam và Hoa Kỳ đều rất tham vọng về quan hệ đối tác của hai nước, họ nhấn mạnh đến tính thực chất, đến những việc mà hai nước có thể cùng làm. Điều đó quan trọng hơn nhiều so với cái tên của quan hệ.

Chung Hoàng(ghi)

Đối thoại chính trị, an ninh, quốc phòng Việt-Mỹ lần thứ 7 – VOA

23 Th1

 

 
 
Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách các vấn đề chính trị và quân sự Puneet Talwar.Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách các vấn đề chính trị và quân sự Puneet Talwar.
x
Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách các vấn đề chính trị và quân sự Puneet Talwar.

Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách các vấn đề chính trị và quân sự Puneet Talwar.

Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ đặc trách các vấn đề chính trị và quân sự Puneet Talwar đang có mặt tại Việt Nam trong chuyến công du 2 nước ASEAN, khởi sự từ ngày hôm nay, 22 tháng Giêng.

Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ loan báo tin này vào chiều hôm thứ Tư 21/1, và cho hay ông Talwar dẫn đầu phái đoàn Mỹ tới Việt Nam dự cuộc Đối thoại chính trị, an ninh, quốc phòng lần thứ 7 với Việt Nam.

Tại cuộc họp báo thường kỳ hôm nay, 22/1/2015, Phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng cho biết cuộc đối thoại này diễn ra từ ngày 22 tới ngày 23/1 tại Hà Nội.

Người phát ngôn của Việt Nam nói: “Trong cuộc đối thoại này, hai bên sẽ đánh giá tình hình triển khai quan hệ đối tác toàn diện trong thời gian qua và trao đổi thực chất về những vấn đề hai bên cùng quan tâm.”

Theo thông cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ hôm qua, các cuộc hội đàm tại Hà Nội sẽ nêu bật Quan hệ Đối Tác Chiến lược Toàn diện Việt-Mỹ, và tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ đối với khu vực.

Bộ Ngoại giao Mỹ nhấn mạnh cuộc đối thoại sẽ tập trung vào quan hệ hợp tác song phương về an ninh hàng hải, gìn giữ hoà bình, hỗ trợ nhân đạo cứu trợ thiên tai, hợp tác về tư pháp hình sự và thực thi pháp luật, cũng như tình hình an ninh trong khu vực.

Trong thời gian ở Việt Nam, ông Talwar sẽ phát biểu tại Học viện Ngoại giao Việt Nam về sự hợp tác an ninh giữa hai nước.

Ngoài Việt Nam, Trợ lý Ngoại Trưởng Talwar sẽ đi thăm Singapore để dự Diễn đàn Fullerton, một hội nghị về các vấn đề an ninh tại khu vực Á Châu-Thái Bình Dương do Viện Nghiên cứu Chiến lược quốc tế tài trợ.

Năm 2015 là năm đánh dấu kỷ niệm 20 năm Mỹ và Việt Nam bình thường hoá quan hệ bang giao.   

Bản tin hôm nay của tờ Tuổi Trẻ nhắc đến cuộc Đối thoại chính trị, an ninh, quốc phòng Việt-Mỹ lần thứ 6 diễn ra tại thủ đô Washington vào ngày 1 tháng 10 năm 2013, sau khi Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama và Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang loan báo việc thiết lập quan hệ đối tác toàn diện song phương.

Trong cuộc đối thoại này, Việt Nam và Hoa Kỳ tái khẳng định cam kết sẽ củng cố quan hệ song phương dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau và cam kết của cả hai nước đối với một khu vực Á Châu-Thái Bình Dương hoà bình, ổn định, thịnh vượng và an ninh.

Nguồn: State Dept. Media Release, Tuoi Tre

 

‘Dư địa quan hệ Việt – Mỹ còn nhiều’

4 Th10

 

Tuyên bố gỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho VN phản ánh mức độ quan hệ Việt – Mỹ diễn tiến tích cực. Nhưng việc dỡ bỏ một phần chứ không phải toàn bộ cho thấy ẩn ý hai bên cần đẩy mạnh giao lưu trao đổi, thúc đẩy sự tin tưởng, quan hệ lên một bước cao hơn.

Trao đổi với VietNamNet, ông Trần Việt Thái, Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược, Học viện Ngoại giao đánh giá những diễn biến tích cực trong quan hệ song phương Việt – Mỹ nhìn từ hàng loạt hoạt động trao đổi trên các lĩnh vực

Mỹ, vũ khí, quốc phòng, DOC, Biển Đông, TPP
 Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược, Học viện Ngoại giao Trần Việt Thái

“Quan hệ hai nước Việt – Mỹ thời gian qua có mấy điểm đáng chú ý, nhất là việc giao lưu và trao đổi đoàn diễn ra sôi động trong bối cảnh hai nước chuẩn bị kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ (1995-2015). Có thể nhắc đến gần đây nhất là đoàn thăm chính thức Mỹ của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh và chuyến thăm chính thức Mỹ của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh vừa diễn ra ngày hôm qua. Phía Mỹ gần đây có một số đoàn thăm VN, đó là đoàn TNS John McCain, một số đoàn TNS khác, đoàn của chính quyền cũng như Quốc hội Mỹ.

Quan hệ Việt-Mỹ có tiến triển tích cực trên các lĩnh vực như quan hệ thương mại, kinh tế, đầu tư tăng khá nhanh. Về an ninh quốc phòng, hai bên đã thiết lập kênh đối thoại ngày càng thẳng thắn, cởi mở. Và như trong chuyến thăm chính thức Mỹ của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh, phía Mỹ tuyên bố dỡ một phần lệnh cấm xuất khẩu vũ khí sát thương cho VN.

Tuyên bố này phản ánh mức độ quan hệ diễn tiến tích cực. Nhưng việc dỡ bỏ một phần chứ không phải toàn bộ cho thấy ẩn ý hai bên cần đẩy mạnh giao lưu trao đổi, thúc đẩy sự tin cậy lẫn nhau, đưa quan hệ lên một bước cao hơn.

Quyết định mới nhất của phía Mỹ liên quan quan hệ song phương là dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho VN phản ánh sự tiến bộ trong quan hệ song phương giữa hai nước như ông đề cập. Theo quan sát của ông, liệu quyết định này có nằm trong một phần chiến lược xoay trục của Mỹ không?

Rõ ràng VN chiếm một vị trí chiến lược ở Đông Nam Á và châu Á-TBD. Kể từ 2009, Mỹ có bước chuyển cơ bản về chính sách đối với châu Á-TBD. Tôi nghĩ rằng, khi thúc đẩy quan hệ với VN, họ cũng tính toán trong tổng thể chiến lược của họ đối với khu vực.

Hai bên có nhiều điểm tương đồng. Ví dụ như trong vấn đề Biển Đông, quan điểm của Mỹ có nhiều điểm thuận lợi cho VN. Ví dụ như Mỹ ủng hộ việc sử dụng luật pháp quốc tế trong giải quyết tranh chấp hòa bình, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực. Hoặc là trong lĩnh vực kinh tế thương mại thúc đẩy quan hệ với VN, một nền kinh tế nổi lên trong khu vực có lợi cho các DN Mỹ.

Nhân tố cân bằng quan trọng

2015 là một mốc quan trọng trong quan hệ song phương VN và Mỹ – kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Dư địa nào để hai nước có thể tiến tới những bước tiến tương tự như vừa đạt được không?

Tôi cho rằng, dư địa quan hệ giữa VN và Mỹ còn nhiều. Vừa qua hai nước nâng cấp quan hệ lên đối tác toàn diện. Đây là một bước phát triển tích cực. Trước hết hai nước phải triển khai tốt thỏa thuận này, đi vào thực chất thỏa thuận làm sao biến quan hệ hữu nghị và hợp tác thành những dự án có lợi cho cả hai bên.

Mỹ, vũ khí, quốc phòng, DOC, Biển Đông, TPP
Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng Mỹ John Kerry. Ảnh: Vietnam+

Như về kinh tế, thương mại, kể từ khi hai nước ký BTA, Mỹ trở thành thị trường lớn của VN. Trong công nghệ cao, khoa học công nghệ, giáo dục, các lĩnh vực khác của Mỹ đều có tiềm năng to lớn. Nếu VN biết tận dụng tốt những ưu thế này của Mỹ sẽ rất có lợi cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

Mọi động thái của Mỹ ở khu vực này đều được các nước theo dõi kỹ và là một nhân tố cân bằng quan trọng.

Nếu VN khai thác được khía cạnh chiến lược này sẽ tạo thuận lợi cho sự nghiệp bảo vệ độc lập chủ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của mình, trên cả ba mặt bảo vệ độc lập chủ quyền, an ninh, khai thác điều kiện thuận lợi phát triển, và phát huy ảnh hưởng vị thế của VN ra bên ngoài.

VN và Mỹ đang tiến tới hoàn tất thông qua TPP cho thấy sự tương thuộc kinh tế ngày càng lớn trong quan hệ song phương. Liệu đây có thể là tiền đề tin cậy, tạo thuận lợi cho xây dựng sự tin cậy lớn hơn trong quan hệ chính trị giữa hai nước?

Đúng vậy. Hiệp định thương mại song phương (BTA) đã đưa quan hệ song phương bước một bước tiến dài với mức tăng trưởng thương mại nhảy vọt. Nếu TPP được hoàn tất và thông qua sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho cả hai nước. TPP sẽ tiếp tục góp phần củng cố cơ sở lợi ích chung về kinh tế thư\ơng mại mà hai nước đã có kể từ khi bình thường hóa quan hệ kinh tế thương mại ngày càng sâu sắc sẽ là tiền đề quan trọng để thúc đẩy quan hệ trên các lĩnh vực khác.

Tuy nhiên, đàm phán TPP đang có những khó khăn nhất định, nhất là từ phía Mỹ với bầu cử nội bộ sắp cận kề. Nếu trong năm nay không có đột phá nào, lùi lại sang năm tới tiến trình đàm phán sẽ càng khó khăn hơn do nội bộ Mỹ phải tập trung vào kỳ bầu cử sắp tới, có thể khiến quá trình đi đến hoàn tất TPP lùi lại một vài năm.

Việc Mỹ mời Nhật Bản tham gia đàm phán TPP ở giai đoạn quan trọng này cũng làm phức tạp thêm quá trình đàm phán. Nhưng tôi tin lãnh đạo các nước sẽ có những quyết định chính trị để không bỏ lỡ cơ hội.

Gần đây, Mỹ đưa ra ý tưởng “Đông kết” trong vấn đề giải quyết tranh chấp ở Biển Đông. Theo quan sát của ông, đề xuất này phản ánh ý đồ của Mỹ như thế nào, quan điểm của VN ra sao?

Nếu nói ý đồ của Mỹ thì hơi nặng. Thực tế ý tưởng Đông kết được Mỹ coi là đóng góp cho hòa bình, ổn định ở khu vực. Nhìn kỹ lại bản chất của ý tưởng Đông kết này không khác lắm so với nội hàm điều 5 của Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Điều 5 quy định rõ các bên liên quan không được đưa người, vật liệu, mở rộng lấn chiếm các đá, đảo, các bãi ngầm không người ở ở Trường Sa, không làm phức thêm tình hình.

Nói cách khác, DOC là cam kết duy trì nguyên trạng, cam kết giải quyết tranh chấp thông qua giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình dựa trên luật pháp quốc tế.

Điểm tế nhị ở chỗ, ý tưởng Đông kết là của Mỹ. Một số nước cảm thấy không thoải mái với việc Mỹ can dự vào công việc của khu vực.

Trong khi đó, vừa qua trong các hội nghị của ASEAN, đề xuất của VN về việc thực thi nghiêm chỉnh, đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố DOC, trong đó nhấn mạnh điều 5, thưc chất bao gồm nội hàm của ý tưởng mà Mỹ đưa ra. Đề xuất này được các nước ASEAN và cả TQ ủng hộ vì là cách tiếp cận mềm mỏng và hợp lý.

Xuân Linh 

 

Quan hệ Việt-Mỹ: Những tín hiệu khả quan – Trần Kinh Nghị

10 Th8

 
TNS John McCain và TNS Sheldon Whitehouse
trả lời phỏng vấn báo chí tai HN tối 8/8

Chỉ ít ngày sau chuyến thăm Mỹ của Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị và vài ngày sau chuyến thăm VN của thượng nghị sĩ Bob Corker, thành viên cao cấp Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ là chuyến thăm của Đoàn TNS Mỹ John McCain và TNS Sheldon Whitehouse cùng các thành viên đến VN (từ 7-10/8). Được biết, có tin  Phó Thủ tướng kiêm Bộ Trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh sẽ thăm Mỹ nay mai, và nếu đúng vậy thì đây là thời kỳ “dầy đặc” nhất của các cuộc thăm viếng qua lại giữa các quan chức cao cấp hai nước. Đáng chú ý là hiện tượng này xảy ra ngay sau vụ giàn khoan Haiyang 981.   

Nếu chuyến thăm Mỹ của ông Phạm Quang Nghị diễn ra một cách vội vã với những dấu hiệu không bình thường, và do đó đã gây tranh cãi không chỉ trong dư luận VN mà cả quốc tế, thì chuyến thăm VN của đoàn TNS Mỹ lại được đón nhận như một “làn gió mát” bất chợt trong bầu không khí mùa  Hè nóng bức của VN và vùng Đông  Nam Á. Có một bình luận vui rằng, chuyến thăm của Đoàn TNS Mỹ đã “cứu ông Phạm Quang Nghị một bàn thua trông thấy”, vì việc ông Nghị đi Mỹ không khác nào hành động của một hậu vệ xông lên đá ở vị trí tiền đạo nhằm tìm một bàn thắng (!). 

Tuy nhiên, bóng đá hoàn toàn khác với chính trị; dù sao chuyến đi của ông Nghị vẫn là một bộ phận cấu thành của toàn bộ chuỗi các sự kiện đang góp phần “nắn dòng chảy” của mối quan hệ Việt-Mỹ. Và đây là câu chuyện dài rất phức tạp mà người viết bài này chưa có đủ dữ liệu để bàn luận một cách thực sự có chiều sâu, nên chỉ xin mạo muội đề cập đôi điều trên bề mặt của nó mà thôi.  

Theo những tin tức có được đến giờ phút này, đặc biệt qua cuộc trả lời phỏng vấn của hai TNS Mỹ tối qua có thể thấy toát lên mấy điểm sau: 
Đây là lần đầu tiên phía Mỹ tỏ rõ quyết tâm “dấn tới” và kết thúc quá trình bình thường hóa quan hệ Mỹ-Việt vốn đã kéo dài gần 20 năm. Điều này thể hiện ở thành phần Đoàn gồm 2 TNS John McCain và TNS Sheldon Whitehouse là những nhân vật kỳ cựu và chủ chốt có đủ tư cách để đại diện cho 2 đảng trong QH và cho nước Mỹ nói chung trong vấn đề quan hệ Mỹ -Việt. 

Ngay từ đầu chuyến thăm TNS John McCain đã tuyên bố: “Đã đến lúc Mỹ có thể nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN” và “sẵn sàng tăng cường hợp tác quân sự, an ninh với VN”. 

Cách đặt vấn đề của TNS  John McCain cho thấy sự  chủ động trên cơ sở có tính toán cẩn thận của phía Mỹ khi ông này đưa ra đánh giá: “Hai thập kỷ qua, Mỹ và VN đã xây dựng mối quan hệ vững mạnh dựa trên những mục tiêu chung, mối quan tâm và lợi ích chung. Hy vọng của chúng tôi là năm tới hai nước sẽ xây dựng được quan hệ đối tác chiến lược dựa trên những giá trị chung. Điều đó làm chúng ta có mối quan hệ mật thiết lâu bền”.
Trong một trả lời khác, sau khi nói “Chúng tôi sẵn sàng gia tăng trợ giúp về an ninh, giúp VN đảm bảo hợp thức chủ quyền của mình, bảo đảm bảo vệ các quyền của VN”, John McCain cũng nhấn mạnh: “Tất cả không nên xảy ra cùng lúc” hàm ý còn tùy thuộc các yếu tố chủ quan và khách quan từ hai nước và từ  quốc tế, trong đó chắc là có vấn đề nhân quyền. 
 

Bên cạnh chủ đề tháo bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương, Đoàn tỏ ra rất lạc quan về khả năng VN gia nhập TPP. Có lẽ với mục đích tăng cường quan hệ được đề cao nên phía khách buộc phải hạ thấp các yêu cầu về nhân quyền vốn hay được phía Mỹ đề cao trước đây. Biểu hiện là hầu như không thấy có chương trình hoạt động thuần túy nào về nhân quyền được yêu cầu trong chương trình nghị sự. Khi có người hỏi liệu Mỹ có đặt điều kiện gì về nhân quyền đối với VN không ông John McCain nói “VN đã có những tiến bộ”…, và do đó “nhân quyền không phải là vấn đề gây trở ngại”. 

Xét trong khuôn khổ luật pháp Mỹ, thì hai TNS John McCain và TNS TNS Sheldon Whitehouse có đủ tư cách và thẩm quyền để thay mặt QH và Chính quyền Mỹ phát biểu về chính sách của quốc gia và không ai nghi ngờ gì về tính khả thi của chúng. Và hình như để khẳng định điều này TNS Sheldon Whitehouse (Đảng Cộng hòa) bộc bạch tại cuộc phỏng vấn: “Trong Quốc hội Mỹ, nếu có những bất đồng trong các vấn đề cũng là bình thường. Tôi không loại trừ có những bất đồng trong việc nới lỏng hay dỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Ông John McCain và tôi đại diện cho 2 đảng khác nhau. Nhưng tôi tin rằng chúng tôi có thể làm việc để tạo ra hành động trong Quốc hội Mỹ, từ đó gửi tín hiệu khuyến khích nhánh hành pháp…”.
Như vậy tín hiệu đèn xanh đã bật lên từ phía Mỹ. Vậy câu hỏi đặt ra là, điều gì thúc đẩy nước Mỹ “dấn bước” một cách cụ thể và rõ ràng như vậy?
Đã có vài  ý kiến “đoán non đoán già” rằng trong chuyến thăm Mỹ vừa qua chắc ông Phạm Quang Nghị đã có cam kết cụ thể nào đó với Mỹ về nhân quyền(?). Đó không phải là một suy đoán tồi. Nhưng không nên loại trừ một một nhân tố khác, đó là Mỹ không muốn  mất cơ hội tốt sau vụ TQ hạ đặt giàn khoan trong vùng biển của VN để đi cái bước đi mà họ rất cần trong chiến lược “xoay trục” của họ. Cách lập luận này xem ra phù hợp với đặc điểm thực dụng của người Mỹ hơn chăng(?) Điều này được thể hiện, dù thoáng qua, trong một câu trả lời phỏng vấn của TNS John McCain rằng “Chúng ta cần có một nghị trình tham vọng hơn, nhất là trong thời điểm đang có những diễn biến lo ngại trên Biển Đông. Đây là lúc Mỹ và VN cần có bước nhảy vọt mạnh mẽ trong thời gian tới”. Ông cũng không quên “hứa” rằng “Mỹ sẵn sàng tăng cường hợp tác quân sự, gia tăng chuyến thăm tàu quân sự đến VN theo mức độ VN chấp nhận được”. Đồng thời ông cũng có ý làm yên lòng TQ hoặc nước nào có thể lo lắng bằng câu: “Mỹ không tìm kiếm mục đích, không đặt ra yêu cầu thuê mướn căn cứ quân sự ở VN”.
Ngoài ra, có một ý tứ có lẽ không không kém phần quan trọng. Nó cũng chứa đựng trong câu nói của TNS John MacCain khi trả lời phỏng vấn báo chí tối 8/8: “Tôi nghĩ rằng điều quan trọng là thiết lập những quan hệ liên minh, các nước liên kết nhau để bảo vệ nền pháp quyền quốc tế. Điều này mang lại lợi ích cho tất cả các nước. Để khi nói đến bảo vệ nền pháp quyền thì chúng ta không cần phải nghĩ đến việc chọn ai và theo ai”, và “Nếu tin vào tầm quan trọng của nền pháp quyền thì chúng ta phải ủng hộ điều đó và cùng tham gia, cùng toàn thế giới thực hiện điều đó sẽ không phải đắn đo, lựa chọn, cho dù khi nỗ lực bảo vệ pháp quyền chúng ta phải hy sinh một số tham vọng”. 
Phải chăng khi nói vậy, ông McCain đã nêu lên quan điểm của Mỹ về nguyên tắc bảo vệ pháp quyền và tính nguyên minh bạch trong quan hệ quốc tế, trong đó có quan hệ Việt-Mỹ. Nói  vậy cũng là để nhằm tránh sự hiểu nhầm của bên ngoài đồng thời chỉ ra sự ràng buộc về quyền lợi và nghĩa vụ giữa Mỹ và Việt Nam với tư cách hai “đối tác chiến lược” trong tương lai ? 
Như vậy, có thể nói tuy chuyến thăm chưa kết thúc, nhưng Đoàn Nghị sĩ Mỹ đã hoàn thành sứ mệnh phát ra một thông điệp hoàn toàn rõ ràng đối với VN: Nước Mỹ đã sẵn sàng để kết thúc quá trình bình thường hóa quan hệ Mỹ-Việt và hai nước có thể bắt đầu một trang mới. Vấn đề còn lại là phía Việt Nam sẽ hưởng ứng như thế nào.  Những ai  bảo rằng cơ hội đối với VN đã hết thì có lẽ họ đã nhầm. Nhưng đối với những ai còn nghi ngờ liệu VN có sẵn sàng để đón nhận cơ hội hay không thì  xem ra họ vẫn còn có lý./. 

 

Phạm Chí Dũng: Việt – Mỹ lộ dần những tín hiệu mới – BS

14 Th6

 

Posted by adminbasam on 14/06/2014

RFI – Việt Ngữ

Thụy My

13-06-2014

 

H9Thời gian gần đây, đã có những chuyển động mới trong quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, trong các lãnh vực từ giáo dục, quân sự đến ngoại giao. Trong hoàn cảnh bị Bắc Kinh ức hiếp mọi bề, đặc biệt là tình hình Biển Đông luôn căng thẳng, phải chăng khuynh hướng ngả dần về phương Tây đang trở thành một xu thế không cưỡng lại được để thoát khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay ? Dư luận đang sốt ruột chờ đợi, vì có lẽ không còn nhiều thời gian cho các nhà lãnh đạo Việt Nam.

RFI Việt ngữ đã phỏng vấn nhà bình luận Phạm Chí Dũng về vấn đề này.

RFI : Thân chào nhà bình luận Phạm Chí Dũng, rất cảm ơn anh đã dành cho RFI Việt ngữ cuộc phỏng vấn hôm nay. Thưa anh, chính phủ Việt Nam vừa chấp thuận chủ trương cho thành lập trường đại học Fulbright của Hoa Kỳ. Theo anh đây có phải là một tín hiệu đáng quan tâm trong mối quan hệ Việt – Mỹ?

Vấn đề đại học Fulbright tuy chỉ là một việc nhỏ trong nghị trình làm việc giữa hai quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ, nhưng nếu chúng ta gắn kết sự việc này với những tín hiệu và chuyển động khác thì có thể thấy một “quyết tâm” nào đó, đang manh nha hình thành từ một nhóm chính khách nào đó trong đảng, nhằm thúc đẩy tiến trình giao hảo nhanh hơn đôi chút.

Vào năm 2013, ngau sau chuyến thăm Washington của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, ý tưởng lập đại học Fulbright đã bắt đầu được nêu ra. Đây là đại học phi lợi nhuận đầu tiên ở Việt Nam. Tuy nhiên rất có thể là khi đó quan hệ Việt – Mỹ mới chỉ tái khởi động nên tiến trình xây dựng đại học này vẫn khá chậm, và tính đến nay đã mất gần một năm.

Tuy nhiên tôi vẫn nhận ra một điểm khá đặc biệt: trong bối cảnh hiện nay, khi tình hình các đại học và cao đẳng ở Việt Nam đã lạm phát đến 400 trường và do đó từ năm 2013 Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chủ trương không cho thành lập mới đại học, cả công lập lẫn tư thục, việc xuất hiện chủ trương “đặc cách” cho thành lập đại học Fulbright chính là một dấu hiệu cho thấy giới lãnh đạo Việt Nam đang muốn chứng tỏ đôi chút thiện chí với Hoa Kỳ, đặc biệt trong bối cảnh nguy cơ đe dọa Việt Nam từ Trung Quốc là quá lớn.

RFI : Anh vừa đề cập đến những chuyển động mang tính tín hiệu khác. Đó là tín hiệu nào vậy thưa anh ?

Chính xác là những tín hiệu được chủ động phát ra từ giới quân sự Hoa Kỳ.

Chúng ta có thể nhận ra là không phải vô cớ mà chỉ hai tuần sau khi xảy ra vụ việc giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 và do sức ép liên tục từ Bắc Kinh đối với Hà Nội, Tư lệnh quân đội Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương – ông Locklear – đã bắn tiếng trên hãng tin Reuteurs về khả năng Mỹ và Việt Nam có thể hình thành “đối tác chiến lược”. Thành thật mà nói, trong tình cảnh nguy nan như hiện nay, một đối tác chiến lược đủ mạnh là một mơ ước của giới chính khách yếu đuối Hà Nội.

Vào năm trước, thỏa thuận chung Việt – Mỹ tuy bao hàm khá nhiều nội dung mang tính “toàn diện”, nhưng cần chú ý là mức độ hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam mới chỉ dừng lại ở cấp độ “đối tác toàn diện” chứ không đề cập gì đến khả năng “đối tác chiến lược”. Nhưng một khi chính người Mỹ chủ động bắn tín hiệu về triển vọng đối tác chiến lược thì có thể hiểu điều đó bao gồm cả yếu tố an ninh và quốc phòng. Đặc biệt là quốc phòng – chính là điều mà nhà cầm quyền Việt Nam và Bộ Quốc phòng quốc gia này đặc biệt trông dựa vào.

Vậy là một lần nữa, lại một lần nữa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ diễn ra “giao lưu hải quân” ở Đà Nẵng. Vào tháng 4/2013, cuộc giao lưu này diễn ra một cách khiêm tốn chỉ với ba tàu hải quân của Mỹ “đến chơi”. Còn lần này, có vẻ không khí chộn rộn hơn, thậm chí Hải quân Mỹ còn giao lưu với cả sinh viên Việt Nam và được báo chí cấp tiến của Việt Nam dành cho những lời lẽ khá nồng nhiệt.

Chỉ có thể xây dựng một quan hệ chiến lược về quốc phòng với Mỹ, người Việt Nam mới nhận được sự hỗ trợ đủ mạnh để đối phó với tham vọng khống chế Biển Đông và cả đất liền của Trung Quốc. Bằng chứng sống động và gần gũi nhất là mới vào cuối tháng 4/2014 ngay trong chuyến công du của Tổng thống Barack Obama đến Philippines, hai quốc gia này đã ký kết với nhau một bản hiệp ước về tương trợ quốc phòng.

Ngay lập tức, những động tác “ném đá dò đường” của Trung Quốc đối với các đảo nhỏ của Philippines lắng hẳn đi, còn Manila tuyên bố không ngần ngại tiếp tục chương trình kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế, và trong thực tế họ đã bắt giữ tất cả những tàu cá Trung Quốc xâm phạm vùng lãnh hải Philippines.

Chúng ta cũng thấy rằng không phải ngẫu nhiên mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam lại chọn Manila – nơi diễn ra một diễn đàn kinh tế về hình thức – để lần đầu tiên trong hai nhiệm kỳ thủ tướng, ông đủ cam đảm đưa ra nhận xét về “hữu nghị viển vông” đối với Trung Quốc. Đó là bằng chứng gần nhất và sáng nhất cho thấy Thủ tướng Dũng không còn đường lùi. Đường tiến duy nhất của ông ta hiện nay và trong ít ra vài năm tới chỉ còn là tình hữu nghị không hề viển vông từ phía chính phủ Hoa Kỳ.

RFI :Sau sự bắn tiếng của Tư lệnh Locklear, đến lượt Tổng thống Obama lên tiếng. Đây có phải là tín hiệu không hề viển vông không thưa anh ?

Đó là tín hiệu tốt lành, nhất là trong bối cảnh quá nhạy cảm hiện thời. Nếu Nguyễn Tấn Dũng lần đầu tiên lên tiếng “thoát Trung” trong hai nhiệm kỳ thủ tướng của ông, thì Obama cũng lần đầu tiên trong hai nhiệm kỳ tổng thống nói thẳng về khả năng Mỹ có thể đưa quân đến biển Đông. Điều quân để làm gì? Tất nhiên để bảo vệ sự an toàn của công dân Mỹ ở ngoài biên giới Mỹ. Nhưng người Mỹ còn thòng thêm một câu vốn là truyền thống của họ: bảo vệ các đồng minh của Mỹ. Như vậy ai là đồng minh của Mỹ?

Chúng ta đã thấy bài học của Nhật Bản và Hàn Quốc là những quốc gia đã cộng tác quân sự với Mỹ từ hơn ba chục năm qua. Còn Philippines cũng là một đồng minh quân sự và được Mỹ bảo vệ cho đến giờ này. Tất cả những quốc gia ấy có bị Trung Quốc hiếp đáp như đối với Việt Nam không? Câu trả lời là không hoặc rất ít. Âu đó cũng là một bài học phản tỉnh cho Nhà nước Việt Nam khi họ chọn quan hệ đu dây mà chẳng đi tới đâu, thậm chí còn bị lật ngửa như mới đây.

RFI : Có phải vì không đi tới đâu trong mối quan hệ đu dây mà Hà Nội đã quyết định để Phó thủ tướng Phạm Bình Minh đi Mỹ ?

Đây lại là tín hiệu phản hồi, xuất hiện từ phía Việt Nam. Hầu như ngay sau khi Tư lệnh quân đội Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương Locklear lên tiếng về triển vọng “đối tác chiến lược”, một cuộc điện đàm trực tiếp đã diễn ra giữa ông Phạm Bình Minh và Ngoại trưởng Mỹ John Kerry.

Tất nhiên người ta có thể hiểu đó là cuộc điện đàm do ông Minh chủ động đề xuất. Nhưng khác hẳn với lời đề xuất của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Bắc Kinh “đàm phán” mà đã bị Tập Cận Bình thẳng thừng từ chối, theo một tiết lộ của báo The New York Times, ông Phạm Bình Minh đã lập tức nhận được lời mời “thăm Hoa Kỳ” của ông Kerry. Sự việc này lại diễn ra ngay sau lời tuyên bố có vẻ hơi can đảm của ông Nguyễn Tấn Dũng ở Manila về thực chất mối quan hệ Việt – Trung.

Người ta cho rằng rất có thể nhóm chính khách ưu tiên chọn lá bài phương Tây đã quyết định phải hành động, phải tiến một bước đủ dài và đủ mạnh để thoát khỏi cái bóng nặng nề vẫn kềm tỏa họ từ lâu nay. Mà muốn như vậy thì chỉ còn cách đi Washington chứ không thể cứ mãi ngồi họp ở Văn phòng trung ương đảng được.

RFI : Nhưng cho tới nay, ông Phạm Bình Minh vẫn chưa đi Mỹ, cũng chưa có lịch trình công du Hoa Kỳ nào được công bố ?

Đây là một bí ẩn. Trước đây có thông tin là ông Phạm Bình Minh đã “xếp hành lý vào va-li” và chỉ còn chờ lên đường ra sân bay Nội Bài. Thế nhưng việc cho tới giờ vẫn bặt tăm hơi chuyến đi Mỹ của ông lại cho thấy một điều gì đó không được ổn lắm. Giới quan sát bình luận rằng có khả năng ông Minh không nhận được sự đồng thuận từ một số ủy viên nào đó trong Bộ Chính trị, cho dù thủ trưởng trực tiếp của ông Minh là ông Nguyễn Tấn Dũng có thể còn sẵn sàng đi xa hơn cả nước Mỹ.

RFI : Thủ tướng Việt Nam còn có thể đi xa đến đâu, theo anh ?

Đến đại hội 12 của đảng vào năm 2016, vì ngay trước mắt có vẻ đại hội này còn quan trọng hơn cả TPP và vấn đề đối tác chiến lược với Mỹ. Nhưng muốn tiến đến đại hội 12 với vị thế một ứng cử viên nặng ký cho chức vụ cao nhất trong đảng, ông Dũng lại phải được lòng dân chứ không chỉ được lòng đa số các ủy viên trung ương. Tôi cho rằng ông Dũng đang phải ngày càng lập trình về yếu tố lòng dân.

Vào thời nhà Hồ bị quân Minh đe dọa, khi Hồ Quý Ly ước ao “có được trăm vạn quân để chống giặc Minh”, con trai Hồ Quý Ly là Hồ Nguyên Trừng đã trả lời cha “quân không thiếu, chỉ sợ lòng dân không theo”. Quả báo đã đến với nhà Hồ khi dân chúng, vốn trước đó bị triều đình đàn áp tàn bạo, đã không còn thiết tha gì với vận mệnh xã tắc. Khi gần một trăm vạn quân Minh tràn vào nước Nam, nhà Hồ chỉ cầm cự được hơn 6 tháng thì thảm bại. Đất nước bị nô thuộc, còn cha con Hồ Quý Ly bị bắt đưa thẳng về Trung Quốc.

Bây giờ cũng tương tự vậy thôi. Nếu một cuộc chiến tranh được kích động từ Trung Quốc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng liệu có thể dựa vào 3/4 trong số gần 200 ủy viên trung ương đảng để chiến đấu, hay ông ta phải dựa vào 90 triệu dân chúng? Có lẽ đó là lý do để ông Dũng trở thành người duy nhất trong bộ tứ triều đình đưa ra một vài tuyên bố có vẻ cứng rắn đối với Bắc Kinh. Và đó cũng là lý do để ông thấy rằng nếu không biết khoan sức dân thì đến một ngày nào đó sẽ chẳng còn ai đi biểu tình chống Trung Quốc hay chiến đấu với Trung Quốc.

RFI : Điều anh vừa nói có phải là lý do để Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, mặc dù đã gật đầu với việc cấm và đàn áp cuộc biểu tình ôn hòa chống Trung Quốc vào ngày 18/05/2014, nhưng lại chủ động đề nghị Quốc hội đưa Luật Biểu tình vào chương trình luật năm 2015, thay vì để đến năm 2020 như dự kiến cách đây có vài tháng ?

Chính xác là như vậy. Một sự thay đổi đột ngột đến mức khó tin từ phía ông Dũng. Mới vào đầu năm 2014, Chính phủ đã dự kiến sẽ chỉ ban hành Luật Biểu tình sau năm 2016, và theo lộ trình là phải đến năm 2020 mới ra được luật này. Trước đó vào năm 2011 khi Trung Quốc cắt cáp tàu Việt Nam cũng như gây ra hàng loạt thương vong cho ngư dân Việt Nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đăng đàn trước Quốc hội và trở thành người đầu tiên trong Bộ Chính trị yêu cầu cần có luật biểu tình. Thế nhưng từ đó đến nay tất cả vẫn im hơi lặng tiếng, dự thảo Luật Biểu tình được giao cho Bộ Công an soạn thảo nhưng tới giờ vẫn chẳng thấy bóng dáng đâu. Còn ông Dũng có vẻ chẳng còn giữ được “quyết tâm” của ông về ban hành luật này.

Tất cả hầu như là một sự bất nhất đến khó mà cảm thông và còn như sỉ nhục đối với quốc dân đồng bào. Ngay vào kỳ họp Quốc hội tháng 11/2013 khi thông qua Hiến pháp mới, Luật Biểu tình đã không hề được đả động. Nhưng đến tháng cuối của năm 2013, ông Phan Trung Lý – Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội – lại bất ngờ thông báo là Quốc hội có thể sẽ ban hành Luật Lập hội và Luật Biểu tình « trong thời gian tới ». Thời gian tới là khi nào thì chẳng ai làm rõ. Hay theo cái cách của Hiến pháp năm 1992, đến nay đã hơn hai chục năm mà vẫn chẳng một ai luật hóa các quyền tự do lập hội và tự do biểu tình?

Nhưng bây giờ thì đúng là “gặp thời thế, thế thời phải thế” – như cụ Ngô Thời Nhậm đã phán. Đến như một ông nghị có truyền thống “phản biểu tình” như Hoàng Hữu Phước mà cũng thay đổi quan điểm chuyển sang ủng hộ Luật Biểu tình chỉ sau một đêm, thì chúng ta có thể thấy thời vận đang thay đổi nhanh thế nào. Khi báo chí trong nước hỏi lý do vì sao ông Phước lại thay đổi quan điểm đột ngột như vậy, ông ta lập tức trả lời rằng đó chỉ là cách hiểu khác nhau về ngôn từ.

Hẳn là tình thế đã trở nên bức bách đến mức mà một đại biểu Quốc hội “kiên cường” như Hoàng Hữu Phước mới phải thay đổi, còn những tờ báo kiên định nhất của đảng cũng mới bắt đầu hé lộ ý tưởng “chấp nhận các khuyến nghị UPR”. Tôi cho rằng đây cũng là một tín hiệu mới. Nếu vào cuộc UPR (kiểm điểm định kỳ phổ quát) vào tháng 2/2014 ở Thụy Sĩ, phái đoàn Hà Nội còn hùng hồn tuyên bố Việt Nam đã thực hiện đến hơn 80% khuyến nghị của các quốc gia trong Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, thì nay giọng điệu của Bộ Ngoại giao có vẻ đã đổi khác. Âu đó cũng là một sự cách điệu về ngôn từ.

RFI :Với những tín hiệu cách điệu đó, anh có hy vọng câu chuyện dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam sẽ được cải thiện hơn trong thời gian tới?

Vấn đề này lại phụ thuộc vào một tín hiệu khác là Đối thoại Nhân quyền Việt – Mỹ mới diễn ra ở Washington vào giữa tháng 5/2014.

Cuộc gặp mặt giữa hai quốc gia cựu thù vào năm nay được dẫn dắt bởi một gương mặt không kém mẫn cảm so với trưởng phái đoàn Hoa Kỳ năm ngoái là Tom Malinowski, phụ trách về dân chủ và nhân quyền và lao động – những lĩnh vực mà Hà Nội không thú vị chút nào.

Điểm đáng ghi nhận đầu tiên chính là sự có mặt trực tiếp của chính Tom Malinowski sau cuộc đối thoại vừa qua, trong khi sau cuộc đối thoại năm ngoái đã không hề xuất hiện Dan Baer – trưởng đoàn Mỹ. Cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ năm 2013 cũng chỉ là bắt đầu cho mối quan hệ được tái lập sau thời gian bị bỏ ngỏ, và vào thời điểm đó các viên chức Mỹ có vẻ không hề hài lòng trước sự trì hoãn cố tật của phía Việt Nam. Dan Baer còn không được gặp gỡ một số nhân vật bất đồng chính kiến mà ông đề nghị đến thăm.

Nhưng vào năm nay thì khác hẳn. Tháng 3/2014, bà Wendy Sherman Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ phụ trách về chính trị còn được gặp Hội Anh em Dân chủ – một tổ chức dân sự độc lập ngay tại Hà Nội. Vào ngày 20/5/2014, Phái đoàn Liên minh châu Âu cũng lần đầu tiên tổ chức được một cuộc hội thảo với một số hội đoàn dân sự độc lập của Việt Nam ngay tại Hà Nội, tạo nên một sự kiện chưa từng có đối với xã hội dân sự ở đất nước này.

Còn sau cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ vừa qua, Tom Malinowski nhận định: “Sở dĩ có hy vọng cao rằng Đối thoại Nhân quyền năm nay đạt tiến bộ, xuất phát từ đối thoại TPP. Cho nên, cuộc Đối thoại Nhân quyền là cách mà qua đó chúng tôi có thể thảo luận chính xác các bước nào Việt Nam cần thiết phải thực hiện để có thể trở thành thành viên của TPP trong năm nay”.

Thực ra chúng ta có thể chuẩn bị nâng ly chúc mừng Nhà nước Việt Nam. Lần gặp gỡ của Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ Penny Pritzker với ông Nguyễn Tấn Dũng tại Hà Nội vào đầu tháng 6/2014 – một tháng sau Đối thoại Nhân quyền – đã phác ra một bức tranh không đến nỗi quá xấu xí: TPP có cơ hội được kết thúc vào cuối năm nay, và do đó người Việt cũng có thể tạm gột rửa vết dơ Trung Quốc trên mặt mình.

Thậm chí Tom Malinowski còn cho rằng “Việt Nam có cơ hội, một cơ hội thật sự”. Quả thực, nửa cuối năm nay có vẻ là cơ hội gần cuối cho giới đàm phán Hà Nội, vì nếu đến năm sau khi tất cả các ứng cử viên Hoa Kỳ đều phải tất bật vì chuyện vận động tranh cử, sẽ chẳng còn mấy ai tha thiết vận động cho Việt Nam vào TPP nữa.

Tom Malinowski còn nêu ra một ví von ẩn dụ rất tượng hình: “Giống như một bình nước sôi, sẽ tốt hơn nhiều nếu ta mở nắp để hơi nóng thoát ra thay vì cố gắng đậy lại để rốt cuộc dẫn tới một sự bùng nổ lớn hơn”. Chúng ta nên đặc biệt để ý đến câu nói này. Ví von này mang một phong cách mà chỉ xuất hiện trong hoàn cảnh tự tin của giới chính trị gia phương Tây.

Biểu đạt cảm hứng này cũng gián tiếp cho thấy chưa bao giờ từ năm 1945 đến nay, dân tộc Việt Nam phải chứng kiến một Nhà nước Việt Nam cô đơn và chia rẽ đến thế, bất chấp phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” và hàng chục đối tác chiến lược toàn diện mà nhà nước này đã “dày công vun đắp” suốt hàng chục năm qua. Họ cô đơn trước quốc tế và cô độc trước cả dân chúng của họ.

Với quốc tế và với đa số trong giới nghị sĩ Mỹ, sẽ không thể có TPP cho Việt Nam nếu không có nhân quyền. Và với 153 nghị sĩ chiếm đến 2/3 đảng Dân chủ vừa nêu ra một thư yêu cầu đối với Đại diện thương mại Mỹ, sẽ không thể có TPP nếu Việt Nam không chấp nhận thành lập công đoàn độc lập cho 5 triệu công nhân. Những người cầm quyền Việt Nam không thể cứ đẩy người dân vào nỗi cô độc vô cùng tận để trám chỗ cho nỗi cô đơn chưa biết làm cách nào giải tỏa của chính thể.

RFI :Lần đầu tiên trong các cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ, trưởng đoàn Hoa Kỳ nhắc tới từ “quân sự” nhằm khẳng định quan hệ Việt-Mỹ sẽ tiến sâu hơn nữa khi Hà Nội cải thiện nhân quyền. Làm cách nào và ai sẽ xử lý cuộc “khủng hoảng Việt Nam” lần này?

Không ai có thể làm thay cho Nhà nước Việt Nam. Nếu một Bộ trưởng Bộ Quốc phòng như Phùng Quang Thanh đã gây phản cảm nặng nề nơi công luận, bởi biểu hiện buồn thảm và sợ sệt đến thế của viên đại tướng này trong những lời ve vuốt “nước bạn” tại Diễn đàn Shangri-la, làm sao chính thể cầm quyền ở Việt Nam có hy vọng gì dùng quân đội để đối đầu với một lực lượng quân sự đông gấp 3-4 lần của Trung Quốc, nếu một cuộc chiến tranh mang tên “Mười sáu chữ vàng” xảy ra?

Tôi xin nhắc lại câu lời tự sự của Trưởng đoàn đàm phán đối thoại nhân quyền Mỹ: “Liệu nhà nước Việt Nam có thực hiện những bước cần thiết để nắm bắt cơ hội hay không là câu hỏi mà tôi không thể trả lời thay họ được”, và “Chúng ta phải chờ xem bởi vì sự trắc nghiệm không nằm ở chất lượng cuộc đối thoại mà ở các bước sẽ diễn ra trong những ngày sắp tới”. Trong hoàn cảnh nguy cơ từ Trung Quốc ngày càng cận kề, nếu nhà nước và giới quân sự Việt Nam không hành động nhanh chóng, quyết đoán với đôi chút thành tâm, họ sẽ mất đi chút ít cơ hội còn lại và rơi vào lịch sử của nhà Hồ mất nước.

Tuy nhiên với tín hiệu từ cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ vào tháng 5/2014, tôi có thể hy vọng rằng những ngày sắp tới, hay chính xác là những tháng sắp tới sẽ có được một số chuyển biến. Tôi có cảm giác rằng giữa Việt Nam và Hoa Kỳ lại vừa đạt được một thỏa thuận không chính thức nào đó, theo đó sắp tới sẽ có thêm một đợt thả tù nhân lương tâm, tiếp theo đợt thả tù chính trị trong hai tháng Ba và Tư năm nay.

Xu hướng ngả dần về phương Tây cũng dần phải trở thành một xu thế không cưỡng lại được, bất chấp một lực lượng nhân sự “thân Trung” nào đó vẫn có thể tìm cách phá bĩnh. Tiến độ này sẽ cho thấy xu thế hợp tác quân sự giữa Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ được nâng dần về cấp độ, và không loại trừ sự có mặt dày hơn và có ý nghĩa răn đe hơn của Hạm đội 7 ở Biển Đông trong thời gian tới.

Nhưng muốn có được những kết quả đó, nội bộ Việt Nam phải có một đột biến về nhân tố khởi phát cho chuyển động. Nhiều người đang nhìn vào ông Nguyễn Tấn Dũng như một nhân tố có thể xử lý “khủng hoảng Việt Nam”. Thế nhưng cũng nhiều người không kém lại cho rằng ông Dũng chỉ là vị lãnh đạo viển vông khi nêu ra tính từ “viển vông” đối với Trung Quốc, trong khi thực chất ông ta sẽ chẳng làm gì hết.

Nhưng làm gì thì làm và nói gì thì nói, thật ra thời gian chẳng còn nhiều cho bất kỳ chính khách nào. Đã đến lúc cần xác định rằng đã qua thời kỳ “Lũ chúng ta nằm trong giường chiếu hẹp” mà phải thật sự tiến ra đường phố với một lòng thành tâm tối thiểu, cùng một quyết tâm không nhìn về phía sau. Chỉ có thế mới đảm bảo tương lai chính trị cho các chính khách Việt Nam và cũng là phần nào cứu nguy cho cái dân tộc Việt quá nhiều đắng cay này.

Còn nếu giới chính trị cứ bùng nhùng như hiện nay thì tương lai của họ chắc chắn sẽ là “giấc mơ con đè nát cuộc đời con”.

RFI : Chúng tôi xin rất cảm ơn nhà bình luận Phạm Chí Dũng đã vui lòng dành thì giờ trả lời phỏng vấn của RFI Việt ngữ về vấn đề những tín hiệu mới trong quan hệ Việt-Mỹ.

24h Biển Đông: Bộ trưởng Ngoại giao Việt-Mỹ điện đàm

22 Th5

 

 

– Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh điện đàm với Ngoại trưởng Mỹ, xuất hiện máy bay trinh sát TQ ở khu vực giàn khoan trái phép Hải Dương 981… Đây là những thông tin nổi bật về Biển Đông 24h qua.

 

 

Hành động ngang ngược của TQ

Theo Bộ tư lệnh Cảnh sát biển, sáng 21/5, VN phát hiện 1 máy bay trinh sát của TQ số hiệu J-9-B7175 ở độ cao 300m bay xung quanh khu vực tàu cảnh sát biển VN 8001 để quay phim, chụp ảnh các lực lượng VN đang thực hiện nhiệm vụ trên biển.

 

Trung Quốc, giàn khoan, chủ quyền, Thủ tướng, Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng, Phạm Bình Minh, Ngoại trưởng Mỹ,  Biển Đông, COC, DOC
Máy bay TQ luôn quần thảo trên bầu trời. Ảnh: Cảnh sát biển VN

 

Liên quan đến việc TQ áp đặt lệnh cấm đánh bắt thủy hải sản trên biển, ông Nguyễn Văn Trung, Phó cục trưởng Cục Kiểm ngư (Bộ NN&PTNT) cho biết: “Việc TQ đơn phương tuyên bố lệnh cấm đánh bắt trên toàn bộ vùng biển tính theo đường lưỡi bò là tham vọng của TQ. Lệnh cấm của TQ không có giá trị với ngư dân hoạt động đánh bắt trên vùng biển của VN”.

Đọc tin tại đây

Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao điện đàm với Ngoại trưởng Mỹ

Ngày 21/5, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã cùng Ngoại trưởng Mỹ John Kerry trao đổi những thông tin liên quan đến những vấn đề đang diễn ra phức tạp tại Biển Đông.

Phó Thủ tướng cho biết, VN đã hết sức kiềm chế, kiên trì thông qua đối thoại, tránh xung đột, đồng thời kiên quyết yêu cầu TQ rút giàn khoan và các tàu hộ tống ra khỏi khu vực.

Bày tỏ quan ngại sâu sắc về những diễn biến gần đây tại Biển Đông, Ngoại trưởng Kerry cũng tái khẳng định lập trường của Hoa Kỳ về việc giải quyết các tranh chấp trên Biển Đông một cách hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982.

Đọc tin tại đây

VN-Philippines chia sẻ quan ngại

Gặp gỡ báo chí sau hội đàm chiều 21/5 với Tổng thống Philippines Aquino ở Manila, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết hai nhà lãnh đạo đã chia sẻ quan ngại sâu sắc về tình hình đặc biệt nguy hiểm hiện nay ở Biển Đông.

“Hai bên kiên quyết phản đối và kêu gọi các nước, cộng đồng quốc tế tiếp tục lên tiếng mạnh mẽ yêu cầu TQ chấm dứt ngay các hành động xâm phạm nêu trên, triệt để tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), và phấn đấu sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC)”, Thủ tướng nói.

Đọc tin tại đây

Hồng Nhìtổng hợp

Việt-Mỹ thảo luận về Quyền Sở hữu Trí tuệ, An ninh Mạng – VOA

9 Th11

Việt-Mỹ thảo luận về Quyền Sở hữu Trí tuệ, An ninh Mạng

 
CD sao chép lậu

CD sao chép lậu

 
CỠ CHỮ +

08.11.2013

Việt Nam và Hoa Kỳ nhất trí tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, đặc biệt giữa lúc Việt Nam đang hội nhập vào kinh tế toàn cầu.

Đại sứ quán và Phòng Thương mại Mỹ phối hợp với chính phủ Việt Nam tổ chức hai cuộc thảo luận về ‘Quyền sở hữu trí tuệ’ và ‘Vai trò của an ninh mạng trong xây dựng nền kinh tế kỹ thuật số ở Việt Nam’ tại Hà Nội hôm 7/11.

Dịp này, đôi bên cùng kêu gọi giới hoạch định chính sách và chuyên gia công nghiệp của hai nước thảo luận tìm giải pháp giúp cải thiện việc thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công Nghệ, Trần Quốc Khánh, cho biết Việt Nam cần sự hỗ trợ và kinh nghiệm chuyên môn từ các nước ngoài trong tiến trình hoàn thiện khung pháp lý thúc đẩy quyền sở hữu trí tuệ, nhất là khi Việt Nam đã gia nhập các định chế quốc tế và đang thương lượng về Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương với các nước bao gồm Mỹ.

Báo nhà nước dẫn lời ông Khánh bày tỏ tin tưởng rằng các điều kiện bảo vệ sở hữu trí tuệ tốt được bảo đảm bởi luật lệ rõ ràng sẽ giúp thu hút giới đầu tư nước ngoài.

Ông Peter Fowler, Tùy viên đặc trách về Sở hữu Trí tuệ khu vực Đông Nam Á của chính phủ Hoa Kỳ nhấn mạnh khuôn khổ pháp lý và môi trường thực thi sở hữu trí tuệ mạnh mẽ sẽ tăng thêm khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong cộng đồng kinh tế khu vực ASEAN và trên thế giới.

Cách đây một năm, sứ quán Mỹ đã khóa tài khoản trên một trang mạng phổ biến của Việt Nam Zingme vì trên đó chứa đầy các sản phẩm âm nhạc và phim ảnh vi phạm bản quyền của Hollywood. Hoa Kỳ dùng tài khoản trên trang này để quảng bá các giá trị của nước Mỹ bao gồm việc tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ.

Nguồn: US Embassy in Vietnam PressRelease/Tuoitrenews

 
 

Tuyên bố chung Việt-Mỹ – BBC

27 Th7

Tuyên bố chung Việt-Mỹ

Cập nhật: 03:28 GMT – thứ sáu, 26 tháng 7, 2013

 

Sau cuộc gặp giữa Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang, Hoa Kỳ và Việt Nam ra tuyên bố chung về quan hệ “đối tác toàn diện” (comprehensive partnership).

 

Tuyên bố chung, được đăng trên trang web Nhà Trắng, nói ông Obama và Trương Tấn Sang “quyết định xác lập quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ để đem lại khuôn khổ tổng thể cho việc thúc đẩy quan hệ”.

Dưới đây là toàn văn bản tuyên bố chung đăng tải trên trang web của Nhà Trắng, bản dịch của Thông tấn xã Việt Nam.

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama chào mừng Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang tới Nhà Trắng ngày 25-7. Tại cuộc gặp, hai nhà Lãnh đạo khẳng định cam kết mở ra một giai đoạn mới cho quan hệ song phương giữa Việt Nam và Hoa Kỳ dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau và những lợi ích chung.

Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang diễn ra vào một thời điểm quan trọng đối với cả hai nước, phản ánh mong muốn chung cùng xây dựng mối quan hệ hướng tới tương lai giữa hai nước.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama quyết định xác lập quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ nhằm xây dựng một khuôn khổ tổng thể để thúc đẩy quan hệ. Hai nhà Lãnh đạo nhấn mạnh các nguyên tắc trong quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ, trong đó có tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.

Hai nhà Lãnh đạo tuyên bố quan hệ Đối tác toàn diện nhằm góp phần vào hòa bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng của mỗi nước, trong khu vực và trên toàn thế giới. Quan hệ Đối tác Toàn diện mới sẽ tạo ra các cơ chế hợp tác trên nhiều lĩnh vực, trong đó có quan hệ chính trị và ngoại giao, quan hệ thương mại và kinh tế, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, môi trường và y tế, giải quyết hậu quả chiến tranh, quốc phòng và an ninh, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, văn hóa, thể thao và du lịch.

Hợp tác chính trị và ngoại giao

Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác tại các diễn đàn khu vực và quốc tế

Trong khuôn khổ quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ, hai bên nhất trí tăng cường trao đổi cấp cao, tiếp xúc ở tất cả các cấp và ủng hộ việc tăng cường các cơ chế đối thoại và hợp tác. Tổng thống Obama khẳng định Hoa Kỳ ủng hộ độc lập, chủ quyền, thịnh vượng và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Chủ tịch Trương Tấn Sang hoan nghênh Hoa Kỳ tăng cường hợp tác tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đóng góp vào hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở khu vực.

Hai nhà Lãnh đạo hoan nghênh việc thiết lập cơ chế đối thoại thường kỳ giữa hai Bộ trưởng Ngoại giao, và khuyến khích các cuộc đối thoại và trao đổi giữa các cơ quan đảng của hai nước.

Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama nhất trí tăng cường hợp tác tại các diễn đàn khu vực và quốc tế, trong đó có Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS), và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) nhằm thúc đẩy hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Hai nhà Lãnh đạo tái khẳng định ủng hộ giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có những quy định của Công ước Luật Biển của Liên hợp quốc (UNCLOS).

Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama đồng thời tái khẳng định ủng hộ nguyên tắc không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp trên biển và tranh chấp lãnh thổ. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama nhấn mạnh giá trị của việc tuân thủ đầy đủ Tuyên bố về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC), và tầm quan trọng của việc khởi động đàm phán để hoàn tất một bộ Quy tắc ứng xử (COC) có hiệu quả.

Chủ tịch Trương Tấn Sang đánh giá cao Sáng kiến Hạ nguồn sông Mê Công (LMI). Hai nhà Lãnh đạo nhất trí hai bên nỗ lực cùng với các nước thành viên LMI khác và Nhóm Những người bạn của khu vực hạ nguồn sông Mê Công, tăng cường hơn nữa hợp tác khu vực nhằm thúc đẩy sự thịnh vượng và phát triển bền vững, thu hẹp khoảng cách phát triển, tăng cường kết nối và ứng phó với các thách thức xuyên quốc gia trong khu vực.

Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama chỉ đạo các cơ quan liên quan hoàn thành trong thời gian sớm nhất có thể thỏa thuận song phương về việc xây dựng các sứ quán và cơ quan đại diện của hai nước. Hai nhà Lãnh đạo khẳng định các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam và Hoa Kỳ tại thủ đô mỗi nước cần phản ánh sự phát triển của quan hệ song phương.

Quan hệ kinh tế và thương mại

“Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama tái khẳng định cam kết hoàn tất đàm phán về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) toàn diện và tiêu chuẩn cao vào thời điểm sớm nhất có thể trong năm nay”

Nhắc lại các cuộc thảo luận tại Campuchia vào tháng 11-2012, Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama tái khẳng định cam kết hoàn tất đàm phán về Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) toàn diện và tiêu chuẩn cao vào thời điểm sớm nhất có thể trong năm nay. Hiệp định TPP của thế kỷ 21 sẽ tăng cường hội nhập kinh tế khu vực, thúc đẩy các mục tiêu phát triển và giúp tạo việc làm ở Việt Nam, Hoa Kỳ và các nước thành viên TPP khác, trong khi tính đến sự đa dạng về trình độ phát triển của các thành viên trong khuôn khổ một thỏa thuận cân bằng và toàn diện.

Hai nhà Lãnh đạo hoan nghênh những nỗ lực không ngừng nhằm thúc đẩy hơn nữa quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư song phương và Tổng thống Obama ghi nhận những nỗ lực cải cách của Việt Nam với tư cách một nền kinh tế đang phát triển. Hai nhà Lãnh đạo nhấn mạnh giá trị then chốt của các nỗ lực này đối với quan hệ song phương và tầm quan trọng của hợp tác kinh tế như một nền tảng và động lực của Đối tác Toàn diện mới Việt Nam – Hoa Kỳ.

Hai nhà Lãnh đạo nhất trí tăng cường hợp tác trong khuôn khổ Hội đồng Hiệp định khung về Thương mại và Đầu tư (TIFA), cũng như theo sáng kiến Gắn kết Kinh tế Mở rộng ASEAN và trong APEC nhằm tăng cường liên kết kinh tế và thương mại phù hợp với Đối tác Toàn diện song phương và các mục tiêu chung trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), APEC và các diễn đàn của ASEAN.

Tổng thống Obama hoan nghênh những tiến bộ của Việt Nam trong cải cách kinh tế. Tổng thống Obama ghi nhận quan tâm của Việt Nam trong việc đạt được quy chế kinh tế thị trường và cam kết tăng cường hợp tác mang tính xây dựng với Việt Nam về cải cách kinh tế. Hai nhà Lãnh đạo ghi nhận việc Việt Nam dự định tham gia Công ước Cape Town về lợi ích quốc tế đối với thiết bị di dộng (CTC).

Hai nhà Lãnh đạo ghi nhận tầm quan trọng của quan hệ thương mại ngày càng tăng giữa hai nền kinh tế và đặc biệt nhắc tới: Bản ghi nhớ giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Ngân hàng Xuất Nhập khẩu Hoa Kỳ về hỗ trợ thương mại và đầu tư trong lĩnh vực dầu khí và năng lượng ở Việt Nam, Thỏa thuận khung triển khai dự án phát triển mỏ Cá Voi Xanh ngoài khơi Việt Nam giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Công ty Exxon Mobil, Thỏa thuận hợp tác giữa Tổng Công ty thăm dò, khai thác dầu khí (PVEP) và Công ty dầu khí Murphy, Bản ghi nhớ giữa Công ty bảo hiểm Metropolitan Life (Metlife) và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chấp thuận của Bộ Tài chính Việt Nam về chủ trương thành lập công ty quản lý quỹ của Công ty bảo hiểm ACE.

Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama hoan nghênh sự hỗ trợ của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ đối với các chương trình xây dựng năng lực và đào tạo nhằm giúp Việt Nam tiếp nhận và áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, mang lại lợi ích cho nông dân, các công ty nông nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam. Hai nhà Lãnh đạo thừa nhận tầm quan trọng của việc bảo vệ thành phần dân cư dễ bị tổn thương trong khi phát triển kinh tế, trong đó có việc cùng nhau đấu tranh chống lao động trẻ em và lao động cưỡng bức.

Hợp tác khoa học và công nghệ

Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama tái khẳng định tiếp tục thúc đẩy hợp tác khoa học, trong đó có lĩnh vực năng lượng hạt nhân dân sự, công nghệ không gian và nghiên cứu biển.

Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama trao đổi về tầm quan trọng của hợp tác khoa học và công nghệ. Hai nhà Lãnh đạo hoan nghênh cuộc họp lần thứ 8 của Ủy ban hỗn hợp về hợp tác khoa học và công nghệ sẽ được tổ chức vào mùa thu năm nay, nhấn mạnh các nỗ lực nhằm xây dựng quan hệ giữa các cộng đồng khoa học tại Việt Nam và Hoa Kỳ để tăng cường hợp tác song phương, ứng phó với biến đổi khí hậu và các thách thức toàn cầu khác, và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên sự sáng tạo.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama nhấn mạnh việc hai bên kết thúc thành công chương trình chuyển đổi thanh nhiên liệu có độ giàu uranium cao ra khỏi Việt Nam. Hai nhà Lãnh đạo nhất trí tiếp tục hợp tác để hỗ trợ chương trình năng lượng hạt nhân hòa bình của Việt Nam với các tiêu chuẩn cao nhất về bảo đảm an toàn, an ninh.

Hợp tác giáo dục

Hai nhà Lãnh đạo nhất trí về sự cần thiết tăng cường hợp tác giáo dục, văn hóa và giao lưu nhân dân giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Hai nhà Lãnh đạo nhấn mạnh sự gia tăng nhanh chóng số lượng sinh viên Việt Nam theo học tại các trường đại học và cao đẳng tại Hoa Kỳ và bày tỏ hy vọng ngày càng nhiều sinh viên Hoa Kỳ tìm kiếm cơ hội du học tại Việt Nam. Hai nhà Lãnh đạo nhất trí rằng hợp tác chặt chẽ về giáo dục, đào tạo là nhân tố quan trọng trong giai đoạn tới của quan hệ giữa hai nước. Hai nhà Lãnh đạo ghi nhận việc thúc đẩy đào tạo tiếng Anh sẽ giúp Việt Nam cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu thế kỷ 21.

Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama ghi nhận sự thành công của các sáng kiến giáo dục, trao đổi song phương, đặc biệt là chương trình Fulbright và Chương trình Liên minh Giáo dục Đại học ngành kỹ thuật (HEEAP). Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama ghi nhận thành công của Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan nghênh sáng kiến thành lập trường Đại học Fullbright ở Việt Nam.

Môi trường và Y tế

“Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama ghi nhận thành công của Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan nghênh sáng kiến thành lập trường Đại học Fullbright ở Việt Nam.”

Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama hoan nghênh hợp tác song phương ngày càng tăng nhằm giảm khí thải nhà kính tại Việt Nam bằng việc gia tăng năng lượng sạch, hiệu suất năng lượng và lâm nghiệp bền vững và tăng cường khả năng của Việt Nam ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và thảm họa thiên nhiên, trong đó có Chương trình Năng lượng sạch và Chương trình Rừng và Đồng bằng của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID). Tổng thống Obama tái khẳng định Hoa Kỳ cam kết tăng hỗ trợ về chăm sóc y tế và các hình thức chăm sóc, trợ giúp khác cho người khuyết tật vì bất cứ nguyên nhân nào ở Việt Nam.

Hai nhà lãnh đạo đồng thời nhất trí hợp tác với các nước đối tác LMI thúc đẩy nghiên cứu khoa học, xây dựng năng lực và đối thoại để bảo đảm sức sống lâu dài và bền vững của đồng bằng sông Mê Công và lưu vực hạ nguồn sông. Tổng thống Obama đánh giá cao vai trò lãnh đạo của Việt Nam trên cương vị đồng chủ tịch Trụ cột Môi trường và Nước trong khuôn khổ LMI, trong đó có hai đề xuất nghiên cứu chung của Việt Nam về quản lý nguồn nước lưu vực sông.

Hai nhà lãnh đạo bày tỏ hài lòng về việc ký kết Hiệp định Hợp tác Y tế và Khoa học Y học gần đây và mong muốn thúc đẩy hợp tác y tế công nhằm tăng cường an ninh y tế toàn cầu. Chủ tịch Trương Tấn Sang đánh giá cao việc Chính phủ Hoa Kỳ, thông qua Kế hoạch cứu trợ khẩn cấp về phòng chống AIDS của Tổng thống Hoa Kỳ (PEPFAR), tiếp tục hỗ trợ những nỗ lực của Việt Nam nhằm xây dựng hệ thống phòng ngừa, điều trị và chăm sóc HIV/AIDS bền vững.

Các vấn đề hậu quả chiến tranh

Tổng thống Obama đánh giá cao việc Việt Nam tiếp tục hợp tác tìm kiếm đầy đủ quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh. Tổng thống Obama tái khẳng định cam kết của Hoa Kỳ hỗ trợ những nỗ lực của Việt Nam trong việc tìm kiếm bộ đội mất tích. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ghi nhận những đóng góp của Chính phủ Hoa Kỳ đối với các nỗ lực của Việt Nam trong việc rà phá các vật liệu nổ còn sót lại (UXO), hỗ trợ những nạn nhân bị thương do các vật liệu nổ còn sót lại, và ngăn chặn thương vong trong tương lai.

Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama bày tỏ sự hài lòng đối với những tiến triển của dự án tẩy độc đioxin tại sân bay Đà Nẵng giữa Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và Bộ Quốc phòng Việt Nam. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hoan nghênh các kế hoạch của Chính phủ Hoa Kỳ về việc tiến hành đánh giá về mức độ nhiễm độc đioxin đối với môi trường tại sân bay Biên Hòa.

Quốc phòng và An ninh

Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama nhất trí rằng việc tăng cường hợp tác giải quyết hậu quả chiến tranh làm sâu sắc sự tin cậy lẫn nhau, cho phép hai nước phát triển mối quan hệ hướng tới tương lai.

Hai nhà Lãnh đạo nhất trí Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ tiếp tục hợp tác về quốc phòng và an ninh. Hai nhà Lãnh đạo bày tỏ sự hài lòng đối với Bản ghi nhớ về thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương ký năm 2011 và tái khẳng định cam kết triển khai đầy đủ Bản ghi nhớ. Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama nhất trí tiếp tục Đối thoại chính sách quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ và Đối thoại Chính trị – An ninh – Quốc phòng song phương nhằm đánh giá quan hệ quốc phòng và an ninh và thảo luận về hợp tác trong tương lai.

Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama nhất trí mở rộng hợp tác cùng có lợi nhằm tăng cường năng lực trong lĩnh vực tìm kiếm cứu nạn và ứng phó thiên tai. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy hợp tác trong các vấn đề an ninh phi truyền thống và nhất trí hợp tác chặt chẽ hơn nữa trong lĩnh vực chống khủng bố; tăng cường hợp tác thực thi pháp luật trên biển; đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia, trong đó có chống cướp biển, buôn lậu ma túy, buôn bán người, buôn bán động vật hoang dã; ứng phó với tội phạm công nghệ cao và vấn đề an ninh mạng.

Tổng thống Obama hoan nghênh quyết định của Việt Nam tham gia Hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc và nhấn mạnh Hoa Kỳ mong muốn hỗ trợ đào tạo và các hình thức hỗ trợ khác cho hoạt động này thông qua Sáng kiến hoạt động hòa bình toàn cầu (GPOI).

Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

“Hai bên tái khẳng định cam kết ủng hộ Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên ngôn thế giới về quyền con người.”

Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama ghi nhận lợi ích của việc đối thoại thẳng thắn và cởi mở nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thu hẹp khác biệt về quyền con người. Hai nhà Lãnh đạo nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Chủ tịch Trương Tấn Sang thông báo với Tổng thống Obama những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong việc thúc đẩy quyền con người, nhà nước pháp quyền và bảo vệ quyền của các tín đồ tôn giáo.

Chủ tịch Trương Tấn Sang cũng khẳng định Việt Nam sẵn sàng ký Công ước chống tra tấn của Liên hợp quốc vào cuối năm nay và tuyên bố Việt Nam sẽ mời Báo cáo viên Đặc biệt về Tự do tôn giáo và tín ngưỡng vào năm 2014. Hai bên tái khẳng định cam kết ủng hộ Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên ngôn thế giới về quyền con người.

Văn hóa, du lịch và thể thao

Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thúc đẩy hợp tác văn hóa, thể thao và du lịch nhằm tăng cường giao lưu nhân dân và hiểu biết lẫn nhau. Hai nhà Lãnh đạo ghi nhận những thành công của người Mỹ gốc Việt và khuyến khích cộng đồng tiếp tục đóng góp vào sự phát triển của quan hệ song phương. Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama khuyến khích giao lưu nhân dân thông qua các hoạt động biểu diễn nghệ thuật, hòa nhạc, triển lãm và các sự kiện văn hóa và thể thao khác giữa hai nước.

Việt – Mỹ: mở đường cho quan hệ đối tác mới – SGTT

15 Th7

Việt – Mỹ: mở đường cho quan hệ đối tác mới

SGTT.VN – Đối tác chiến lược vẫn là cái đích phía trước, tuy cả hai bên còn phải vượt qua một số trở lực để đi tới, vì lợi ích mỗi nước, vì hoà bình, ổn định và phồn vinh của khu vực.

 
Trong chuyến thăm Mỹ tháng 6.2007, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã chứng kiến lễ ký kết giữa hai tổ chức Việt – Mỹ nhằm giúp giảm nạn đánh cắp bản quyền phần mềm. Ảnh: microsoft.com

 

Ngày 25.7 tới, Tổng thống Mỹ Barack Obama sẽ tiếp Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang tại Nhà Trắng, Washington, D.C. Đó là nội dung nổi bật trong tuyên bố của thư ký báo chí Nhà Trắng về chuyến thăm Hoa Kỳ cuối tháng 7 của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội tuần qua vừa phát đi tin này trên trang web của mình. Trả lời phỏng vấn truyền thông quốc tế hôm 12.7, TS Lê Đăng Doanh, chuyên gia kinh tế cao cấp, nói: “Tổng thống Obama đã đề nghị Việt Nam thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Hoa Kỳ, và tôi hy vọng kỳ này hai bên có thể tăng cường mối quan hệ ấy và nâng cao tầm hợp tác lên đối tác chiến lược”.

Những tháng 7 lịch sử

Tổng thống Obama sẽ thảo luận với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang làm thế nào để củng cố hơn nữa quan hệ đối tác giữa hai nước trong các vấn đề chiến lược ở khu vực và tăng cường hợp tác với ASEAN. Đây là chuyến thăm lần thứ hai của Chủ tịch nước Việt Nam tới Mỹ. Tháng 6.2007, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã có chuyến thăm Washington dưới thời Tổng thống George W. Bush. Như vậy là thêm một tháng 7 nữa – tháng 7.2013 có thể được ghi như một mốc mới trong bang giao giữa hai cựu thù? Sau 20 năm kể từ 1975, hai nước lấy ngày 12.7.1995 làm ngày bình thường hoá quan hệ. Từ đấy đến nay 18 năm nữa đã trôi qua…

Theo thư ký báo chí Nhà Trắng, Tổng thống Obama trông đợi thảo luận hàng loạt lĩnh vực song/đa phương như vấn đề nhân quyền, tầm quan trọng của việc hoàn tất hiệp định TPP và các thách thức phát sinh như biến đổi khí hậu. Nhân quyền là nội dung quan trọng nhưng không thể nào là yếu tố áp đảo các quan hệ khác. Trong một trao đổi mới đây, đại sứ Mỹ tại Hà Nội David Shear thừa nhận: “Cả Việt Nam lẫn Mỹ đều đòi hỏi nhau khá nhiều nên quá trình đàm phán TPP rất thách thức…”.

Lợi ích kinh tế và chiến lược

Các nhà phân tích cho rằng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trông đợi Tổng thống Obama đồng ý để ngành công nghiệp dệt may đang nở rộ của Việt Nam tiếp cận nhiều hơn với thị trường Mỹ, vốn là điều kiện chủ yếu để Hà Nội chấp thuận với một số điều khoản khác trong TPP. Một số đối tác đang thương lượng muốn Mỹ cân nhắc kỹ lưỡng hơn về việc này, vì cho rằng Việt Nam cần sắp xếp lại một số luật lệ mới và phương thức giao tiếp thương mại với các thành viên trong khối. Washington muốn Việt Nam cam kết tạo điều kiện để các doanh nghiệp Mỹ có thể cạnh tranh công bằng với các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam.

Mỹ cũng muốn Việt Nam nỗ lực hơn nữa trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

Đề tài nổi bật khác sẽ được đề cập trong các cuộc hội đàm là vấn đề Biển Đông. Hai bên tán thành những nỗ lực giữa ASEAN với Trung Quốc để tiến tới bộ Quy tắc ứng xử COC mang tính ràng buộc pháp lý. Theo GS Carl Thayer từ học viện Quốc phòng Úc: “Hoa Kỳ nên xem xét cách thức hỗ trợ Việt Nam nâng cao công tác tuần tra biển, hỗ trợ công tác tuần tra biển trên không và phát huy hợp tác giữa lực lượng tuần duyên Mỹ với cảnh sát biển Việt Nam”.

Tại chuyến thăm này, đối tác chiến lược vẫn là cái đích phía trước, tuy cả hai bên còn phải vượt qua một số trở lực để đi tới, vì lợi ích mỗi nước, vì hoà bình, ổn định và phồn vinh khu vực. Theo GS Nguyễn Mạnh Hùng từ đại học George Mason (Hoa Kỳ), có một số nguyên tắc để hình thành lên quan hệ đối tác chiến lược. “Một trong những nguyên tắc ấy là sự tin cậy lẫn nhau. Mà muốn tin cậy lẫn nhau thì phải có những giá trị tương đồng”, GS Hùng nói. Nếu các cuộc hội đàm tại Mỹ của Chủ tịch nước lần này đưa ra được phương hướng cải thiện tình hình thì có thể mở đường cho một mối quan hệ đối tác mới.

GS Jonathan London từ đại học Hong Kong nhận xét, chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sẽ tăng khả năng tiếp cận thị trường và thu hút thêm đầu tư của Mỹ vào Việt Nam. “Quan hệ sâu rộng hơn với Mỹ sẽ giúp giải quyết một số khó khăn về kinh tế và giải toả bớt áp lực trong tranh chấp chủ quyền lãnh thổ”, GS Jonathan nói. Còn theo GS Thayer, chuyến đi này là một nỗ lực mới nhằm có được thoả thuận về hợp tác chiến lược. “Thành công đến đâu, tuỳ thuộc vào quyết tâm từ cả hai phía. Mỹ có quyền lợi trong chiến lược toàn cầu, Việt Nam có nhu cầu của mình”, GS Thayer nhận định. Chuyến đi của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang sẽ mở sang một trang mới về bang giao, hay chỉ là một chuyến thăm thông thường, dư luận sẽ biết rõ hơn từ thông cáo chung ngày 25.7 này.

Hoàng Dũng Nhân

Vấn đề Nhân quyền và quan hệ Việt-Mỹ – VOA

19 Th6

Vấn đề Nhân quyền và quan hệ Việt-Mỹ       

 
Giáo sư Carl Thayer (trái) tại một hội nghị về Biển Ðông tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế vào năm 2011. (Courtesy Photo)

Giáo sư Carl Thayer (trái) tại một hội nghị về Biển Ðông tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế vào năm 2011. (Courtesy Photo)

 
 

                            Hình ảnh/Video                       

 
 
                        CỠ CHỮ +

                    18.06.2013               

Nghe toàn bộ cuộc phỏng vấn GS Carl Thayer ở đây
 

Cuộc tuyệt thực của Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ cho tới hôm nay đã bước sang ngày thứ 23. Và ngày càng có thêm nhiều cuộc tuyệt thực ở trong và ngoài nước để đồng hành với ông trong cuộc tranh đấu để đòi các quyền hợp pháp, và đánh động thế giới về tình trạng có thể nguy kịch của ông. Giáo sư Thayer, một chuyên gia về Việt Nam được nhiều người biết tiếng, nói rằng vấn đề nhân quyền đã tác động tới quan hệ Việt-Mỹ. Ông nói từ lâu, Việt Nam đã muốn xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với Hoa Kỳ, giờ đây ông tin rằng điều đó không còn khả thi. Ông cho rằng thành phần bảo thủ bên trong Đảng Cộng Sản Việt Nam đã gia tăng đàn áp nhân quyền để phá hoại các nỗ lực cải thiện quan hệ với Mỹ, và vì vậy Việt Nam phải trả một cái giá trong cuộc đối đầu với Trung Quốc về chủ quyền Biển Đông. Vấn đề nhân quyền ảnh hưởng ra sao tới các quan hệ Việt-Mỹ, giữa lúc ngày càng có nhiều nhà lập pháp Hoa Kỳ bày tỏ sự thất vọng của họ về sự thiếu tiến bộ trong các nỗ lực cải thiện nhân quyền tại Việt Nam? Giáo sư Thayer vừa từ Washington trở về Australia. Ông đã đến dự cuộc điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ. Ông nhận xét như sau:
“Vấn đề nhân quyền đã tác động đến quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ rồi. Từ nhiều năm nay, Việt Nam đã hối thúc để xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với Hoa Kỳ, tôi thực sự tin rằng nỗ lực đó nay kể như không còn khả thi. Ngoài ra Việt Nam cũng muốn Hoa Kỳ hủy bỏ những hạn chế trong việc bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Tôi không thực sự tin rằng Việt Nam muốn mua các loại vũ khí quan trọng từ Hoa Kỳ, vì vũ khí của Mỹ đắt tiền quá và cũng bởi họ đã mua vũ khí của Nga, tuy nhiên Hà Nội không muốn bị coi như một quốc gia “bất hảo” nằm trong danh sách các nước bị cấm mua vũ khí của Mỹ vì thành tích nhân quyền kém cỏi của họ.”

Có những người bên trong Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đàn áp nhân quyền để phá hoại các nỗ lực cải thiện quan hệ với Mỹ, thế cho nên Việt Nam phải trả một cái giá trong việc đối đầu với Trung Quốc, khi nước này có hành động lấn át, hay sử dụng vũ lực…
Giáo sư Carl Thayer.

Tuy vậy, Việt Nam vẫn tỏ thái độ bất chấp những lời kêu gọi của quốc tế yêu cầu họ cải thiện nhân quyền, và ngưng đàn áp các blogger và nhà báo. Cuối tuần qua, thêm một blogger thứ ba bị bắt trong chưa đầy một tháng. Hoa Kỳ có thể làm gì để tăng sức ép đối với Hà Nội? Giáo sư Thayer nói chính phủ Hoa Kỳ không có bao nhiêu ảnh hưởng để có thể thuyết phục Việt Nam trên hồ sơ nhân quyền. Theo ông, quan hệ song phương được đặt trên căn bản rộng, và đang tiến triển tốt đẹp trong một số lĩnh vực.
Giáo sư Thayer: “Bất cứ chính phủ nào muốn giải quyết vấn đề nhân quyền với Việt Nam không muốn biến vấn đề này thành trọng tâm duy nhất trong mối quan hệ song phương. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ phải đề ra những biện pháp khích lệ. Một cách là quốc hội Mỹ phải đoàn kết, điều đó có nghĩa là Thượng Viện phải hậu thuẫn dự luật về nhân quyền đã được Hạ viện thông qua. Như thế thì Việt Nam mới bị buộc phải đương đầu với vấn đề này, bởi vì không một Tổng Thống Mỹ nào muốn dồn nỗ lực vào việc lật ngược một nghị quyết đã được lưỡng viện thông qua.”

Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về các vấn đề Việt Nam.Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về các vấn đề Việt Nam.
x
Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về các vấn đề Việt Nam.

Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về các vấn đề Việt Nam.

Hoa Kỳ và Trung Quốc mới đây đã mở hội nghị thượng đỉnh tại California, cuộc gặp gỡ giữa hai nhà lãnh đạo Mỹ-Trung có những hệ quả gì đối với cuộc tranh chấp trong Biển Đông? Giáo sư Thayer cho biết:
“Hội nghị Mỹ-Trung khiến cho Hà Nội lo lăng hơn. Mỗi lần tôi sang Hà Nội là nghe nói hai cường quốc họ đang thông đồng cấu kết với nhau, và như thế không có lợi cho Việt Nam. Tôi nghĩ rằng Việt Nam không muốn quan hệ giữa hai cường quốc trở nên quá ấm áp hoặc quá lạnh nhạt, mà phải vừa phải. Vừa phải từ quan điểm của người Việt Nam, có nghĩa là vừa xích mích lại vừa hợp tác. Thế cho nên Hà Nội rất quan ngại. Nhưng hiện vấn đề này vẫn chưa rõ lắm bởi vì đây là những cuộc thảo luận không chính thức giữa hai nhà lãnh đạo Mỹ-Trung, ngoại trừ vấn đề biển Hoa Đông, còn vấn đề biển Đông thì không rõ  có được đề cạp như một đề tài quan trọng tới mức nào. Báo chí Trung Quốc thì tường trình rằng ông Tập Cận Bình mạnh mẽ khẳng định quyền của Trung Quốc được bảo vệ chủ quyền của mình, kể cả trong các vùng biển tranh chấp. Phía Hoa Kỳ thì chắc chắn Hoa Kỳ sẽ đưa ra những lập luận cực lực chống đối việc sử dụng vũ lực. Giới lãnh đạo cấp cao trong quân đội Hoa Kỳ đã tuyên bố như thế.”
Riêng đối với Việt Nam, Giáo sư Thayer nói ông e rằng trong các điều kiện hiện nay, Việt Nam có thể phải đơn độc đối mặt với Trung Quốc trong cuộc tranh chấp chủ quyền Biển Đông:
“Hậu quả đối với Việt Nam là nước này phải đối đầu với Trung Quốc về phần lớn một cách đơn độc.Việt Nam không phải là một đồng minh của Hoa Kỳ, không phải là đối tác chiến lược của Mỹ, và chính đó là một nghịch lý. Việt Nam cần mối quan hệ đó để cân bằng quan hệ với Trung Quốc, trong khi Hoa Kỳ thì cho rằng nhân quyền là vật chướng ngại cản trở, không cho phép quan hệ tiến xa hơn nữa. Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Hillary Clinton đã nói Việt Nam có thể đưa quan hệ song phương lên một tầm cao mới.”

“Hậu quả là Việt Nam phải đối đầu với Trung Quốc một cách đơn độc.Việt Nam không phải là đồng minh của Hoa Kỳ, không phải là đối tác chiến lược của Mỹ. Việt Nam cần mối quan hệ đó để cân bằng quan hệ với Trung Quốc, Hoa Kỳ cho rằng nhân quyền là vật chướng ngại cản trở, không cho phép quan hệ tiến xa hơn nữa….
Giáo sư Thayer.

Giáo sư Thayer nói vấn đề nhân quyền từ năm 2010 tới bây giờ đã không cải thiện mà còn trở nên xấu đi, ông cho rằng nguyên do có thể là vì một số thành phần bảo thủ ở Việt Nam đã dùng bất đồng về vấn đề nhân quyền để ngăn chận các nỗ lực cải thiện quan hệ Mỹ-Việt.
“Theo quan điểm của tôi, có những người bên trong Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đàn áp nhân quyền để phá hoại các nỗ lực cải thiện quan hệ với Mỹ, thế cho nên Việt Nam phải trả một cái giá trong việc đối đầu với Trung Quốc, khi nước này có hành động lấn át, hay sử dụng vũ lực. Riêng về những sự cố đã xảy ra, Hoa Kỳ sẽ không can thiệp. Người cộng sản ở Việt Nam thích nói rằng Hoa Kỳ phục vụ lợi ích của chính Hoa Kỳ nếu ra tay bảo vệ quyền tự do hàng hải, và do đó Hoa Kỳ phải kiềm hãm Trung Quốc cho chúng tôi. Chúng tôi thì muốn duy trì thế trung lập, Việt Nam có thể tiếp tục đưa ra những lập luận như thế, nhưng khi họ than phiền với Hoa Kỳ, thì bây giờ không còn ai lắng nghe lập luận ấy nữa.”
Giáo sư Thayer nói thay vì giúp Việt Nam, Hoa Kỳ dồn nỗ lực và tài nguyên để giúp các đồng minh của Mỹ, là Philippines và Nhật Bản, trong cuộc tranh chấp chủ quyền với Trung Quốc.


Bản điều trần của ông Daniel Baer, Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, về quan hệ Việt – Mỹ – BS

9 Th6

 Bản điều trần của ông Daniel Baer, Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, về quan hệ Việt – Mỹ

Ngày 5/6/2013 – Văn bản trình bày của Daniel Baer, Phó Trợ lý Ngoại trưởng, Vụ Dân chủ, Nhân quyền và Lao động. Tại Tiểu ban Châu Á – Thái Bình Dương, Ủy ban Đối ngoại. Washington, DC.


View on YouTube

1

Thưa ngài Chủ tịch và các thành viên Uỷ ban, cảm ơn quý vị đã tổ chức buổi điều trần ngày hôm nay. Chúng tôi đánh giá cao mối quan ngại của quý vị về tình hình nhân quyền ở Việt Nam, và chúng tôi vẫn đang đang hối thúc chính phủ về những cải cách cần thiết.

Gần đây, Bộ Ngoại giao đã gửi đến Quốc hội cả bản Báo cáo Quốc gia về Thực thi Nhân quyền và bản Báo cáo về Tự do Tôn giáo Quốc tế. Hai bản báo cáo này đều do vụ của tôi chuẩn bị với sự hợp tác của các đồng nghiệp trên khắp thế giới; chúng sẽ cung cấp một bức tranh chi tiết về những dữ kiện giúp lý giải mối quan ngại của chúng ta về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Tôi xin giới thiệu hai bản báo cáo này tới quý vị.

Tháng Tư vừa qua, tôi dẫn đầu một phái đoàn đến Việt Nam, đoàn bao gồm các đại đại diện đến từ Nhà Trắng và Bộ An ninh Nội địa để tham gia cuộc đối thoại nhân quyền Mỹ-Việt. Chúng tôi đã nhấn mạnh với phía Việt Nam rằng năm 2013 là một cơ hội cho chính phủ Việt Nam lựa chọn cải thiện thành tích nhân quyền, chúng tôi cũng đã trình bày chi tiết về một số những lĩnh vực cấp bách mà họ cần bắt tay vào.

Chúng tôi đánh giá cao những bước đi tích cực như việc phóng thích (kèm theo một số hạn chế) nhà hoạt động Lê Công Định, tạo thuận lợi cho cuộc viếng thăm của một tổ chức nhân quyền quốc tế, và sự gia tăng khiếm tốn trong việc đăng ký hoạt động tôn giáo ở Tây Nguyên. Chúng tôi hoan nghênh các cuộc thảo luận giữa chính quyền và Vatican, đồng thời hoan nghênh những chuyển biến tích cực và triển vọng về nhân quyền của những người đồng tính, lưỡng tính và chuyển giới (LGBT). Chúng tôi vẫn đang quan sát, với sự quan tâm đặc biệt, làn sóng ý kiến đóng góp về bản dự thảo Hiến pháp và cảm thấy được khích lệ bởi quyết định kéo dài thời gian góp ý của chính quyền. Bây giờ là lúc giới chức cầm quyền cần thể hiện trách nhiệm, xem xét nghiêm túc những ý kiến đóng góp này và đưa những mối quan tâm của công dân vào trong nội dung bản Hiến pháp sửa đổi.

Song các bước đi này vẫn chưa đủ để đảo ngược xu hướng nhiều năm thụt lùi. Và những bước tiến tích cực và biệt lập này cũng chưa hình thành nên một mô hình nhất quán. Ngày càng nhiều blogger bị sách nhiễu và bỏ tù vì những phát ngôn ôn hoà trên mạng Internet và các nhà hoạt động thường xuyên sống trong tình trạng bất trắc – các nhà hoạt động như Nguyễn Văn Đài  Phạm Hồng Sơn, những người đã bị nhà chức trách ngăn gặp tôi tại Hà Nội.

Tình hình nhân quyền phản ánh tình trạng thiếu công bằng có tính hệ thống, tác động đến mọi mặt của mối quan hệ. Tôi xin phác hoạ một số những quan ngại của chúng tôi.

Nhiều trong số hơn 120 tù nhân chính trị Việt Nam đang bị tù đày chỉ vì họ thực hành quyền sự do ngôn luận của mình. Ông Cù Huy Hà Vũ, mà vợ của ông tôi đã gặp ở Hà Nội, đã công khai phê phán nạn tham nhũng gắn với hoạt động khai thác bau-xit và bị kết án 7 năm tù. Bà Tạ Phong Tần đang ngồi tù vì viết bài trên mạng về sự suy đồi của công an. Nguyễn Văn Hải, tức Điếu Cày, người từng thể hiện quan điểm trên mạng một cách ôn hoà và phản đối chính sách của nhà nước với Trung Quốc, hiện đang thụ án 12 năm tù giam. Chính quyền coi những người này là mối đe doạ, một mối quan ngại về an ninh quốc gia – một lời cáo buộc thiếu cơ sở khi quý vị ngồi trao đổi với những cá nhân như Cha Lý, người mà tôi đã có dịp được gặp trong nhà lao. Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương Nguyễn Hoàng Quốc Hùng đã bị bắt tháng 2 năm 2010 khi phát tán tờ rơi kêu gọi các quyền dự do dân chủ. Nhóm công tác Liên hợp quốc về Giam giữ Tùy tiện đã khuyến nghị việc phóng thích họ.

Sự phát triển của một đất nước hiện đại, thành công và công bằng đòi hỏi sự tự do thông tin – sự trao đổi ý kiến và sáng kiến. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn tìm cách kiểm soát thông tin, ngay cả khi sự kiểm soát đó ngày càng vuột ra khỏi tay họ. Chúng tôi rất quan tâm đến các 2chính sách ngăn chặn, hacking và theo dõi internet của Việt Nam, cũng như việc giam giữ blogger của họ. Dự thảo quy định về quản lý nội dung internet lại tìm cách hạn chế thêm dòng thông tin trên mạng.

Tuy nhiên, mức độ thâm nhập internet ở Việt Nam đang ngày càng phát triển, và đất nước này đã chứng kiến hiện tượng bùng nổ của những blog vẫn đang thu hút đông đảo người Việt Nam có đầu óc cải cách – bao gồm Dân Luận và Thông Tấn Xã Vàng Anh. Những website mang tư tưởng cải cách khác như Anh Ba Sàm là đối tượng bị hack và làm cho tê liệt.

Một điệp khúc mà tôi thường nghe mỗi khi tôi thăm Việt Nam đó là sự cần thiết phải thực thi tốt hơn những quy định pháp luật đã ban hành. Theo hiến pháp, công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và những quyền con người khác. Nhưng chúng ta đều biết, chẳng hạn, rất nhiều tín hữu Công giáo, Phật giáo và các nhóm khác phải đối mặt với tình trạng bị sách nhiễu và bị yêu cầu đăng ký hoạt động nhưng rồi lại không cho đăng ký. Nghị định 92 mới có hiệu lực từ tháng Giêng có thể được thực thi theo cách còn hạn chế thêm, thay vì thúc đẩy, quyền tự do tôn giáo như quy định trong hiến pháp.

Luật pháp Việt Nam đảm bảo quyền tiếp cận luật sư và đảm bảo địa vị của luật sư bào chữa ngang với công tố viên. Tuy nhiên trong thực tế, điều này lại diễn ra hoàn toàn khác. Tôi thường xuyên được nghe từ các luật sư của tù nhân chính trị là họ không được phép tiếp cận hồ sơ vụ án, họ bị bố trí chỗ bất công ở tòa án, họ không được phép sử dụng máy tính, cũng như không được dành thời gian bào chữa cho thân chủ.

Và một vài số quy định pháp luật rõ ràng là cần phải thay đổi – những điều luật đi ngược lại chuẩn mực nhân quyền quốc tế như Điều 79 và Điều 88, vốn được sử dụng để giam giữ các nhà hoạt động chính trị chỉ trích chính quyền.

Trước khi kết thúc, tôi xin lưu ý rằng hơn 18 năm kể từ khi bình thường hóa quan hệ, mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã tiến triển – thông qua hoạt động thương mại, du lịch và giao lưu văn hóa. Những người sống bên hai bờ Thái Bình Dương đều được hưởng lợi, đặc biệt là những người Việt Nam sống ở Việt Nam, nơi mức sống đã tăng lên khi người dân có điều kiện hơn và được giáo dục tốt hơn. Khi chúng ta nói về nhân quyền, tất cả chúng ta cần nhớ rằng những quan ngại của chúng ta chính là âm hưởng của những quan ngại mà hàng triệu người dân sống trong lòng Việt Nam đang nói lên và bàn luận. Họ hiểu điều đó. Họ hiểu hệ thống hiện hành không làm được gì. Họ nhận ra rằng, cho dù đã trở thành một đất nước sung túc hơn, song nếu thiếu tiến bộ về nhân quyền, Việt Nam cũng chỉ đạt đến một giới hạn nhất định.

Chúng tôi muốn tăng cường sức mạnh cho họ, và chúng tôi muốn làm việc chặt chẽ hơn với các thành viên của Uỷ ban để thúc ép Việt Nam cải thiện việc bảo vệ nhân quyền.

Một lần nữa, cảm ơn quý vị đã tổ chức buổi điều trần ngày hôm nay. Tôi trông đợi được làm việc cùng quý vị, và rất mong nhận được câu hỏi từ quý vị.

 

Bản dịch của Nguyễn Thanh Thủy (Defend the Defenders)

Nguồn: Defend the Defenders

Cân đong lợi ích chiến lược Việt – Mỹ

1 Th5

Cân đong lợi ích chiến lược Việt – Mỹ

“Gia nhập tổ chức này sẽ tăng uy thế của Việt Nam không chỉ về phương diện kinh tế, mà chính trị cũng rất quan trọng”.

>> Kỳ 1: Việt – Mỹ có đi đến đối tác chiến lược?

Tuanvietnam tiếp tục cuộc trao đổi với Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, Đại học George Mason (Hoa Kỳ), về triển vọng mối quan hệ “đối tác chiến lược” Việt – Mỹ.

Ta thử bàn sang yếu tố thứ hai, là kinh tế, xem sao. Tất nhiên, không thể so với Trung Quốc được, nhưng lại nằm trong “ván cờ mới” của Mỹ được gọi là TPP (hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái bình dương), bao gồm những nước quan trọng nhất ở hai bên bờ Thái bình dương, trừ Trung Quốc, và chiếm tới 40% GDP toàn thế giới.

Liệu Việt Nam, nếu tham gia được vào TPP, có làm cho yếu tố giá trị (thứ ba) sẽ được “lờ mờ” đi, theo cách nói của ông? Mặc dù, theo tôi được biết, còn hàng loạt các rào cản, về mặt nguyên tắc, như doanh nghiệp nhà nước, tự do hội đoàn, hay dệt may, mà Việt Nam khó vượt qua.

Vả lại, có thêm những nước như Malaysia, Mexico, Canada, hay gần đây nhất là Nhật Bản, tham gia TPP, vị thế của những nước như Việt Nam sẽ không được như ban đầu. Hay nói như bà Virginia Foote, là đến một lúc nào đó ai rớt lại đằng sau thì chịu thôi.

Trong trường hợp Việt Nam có khả năng thì vào TPP có ba điều lợi.

Thứ nhất, TPP là tổ chức duy nhất ở Á châu-Thái Bình Dương Việt Nam tham dự, mà không có mặt Trung Quốc.

Thứ hai, Việt Nam gia nhập một tổ chức mà các quốc gia hội viên đều theo chế độ kinh tế thị trương thực sự. Một khi hội đủ được điều kiện gia nhập thì đương nhiên Việt Nam đuợc coi là có nền kinh tế thị trường, một điều mà Việt Nam vẫn tranh đấu để Mỹ công nhận.

Thứ ba, Việt Nam sẽ nằm trong một tổ chức mà tuyệt đại đa số các hội viên đều theo chế độ dân chủ. Gia nhập tổ chức này sẽ tăng uy thế của Việt Nam không chỉ về phương diện kinh tế, mà chính trị cũng rất quan trọng.

Lợi ích chiến lược, đối tác chiến lược, Việt - Mỹ, Nguyễn Mạnh Hùng, TPP
Tham gia TPP, xuất nhập khẩu sẽ có lợi hơn

Lợi thì rất lợi như vậy đấy. Nhưng câu hỏi chính đặt ra là Việt Nam có đủ điều kiện, và có quyết tâm tạo điều kiện, tham dự TPP hay không?

Trong quá khứ, Việt Nam đã để mất nhiều cơ hội. Gần đây, Myanmar đã vượt Việt Nam về phương diện được thế giới chú ý đến. Bà Virginia Foote nói đúng, thế giới đi tới và không chờ ai, kẻ nào đi chậm sẽ bị bỏ rơi lại đằng sau.

Có vẻ như với ông Tổng thống Barrack Obama, Việt Nam không nằm trong trọng tâm của ông, ít nhất trong năm nay. Thế còn với John Kerry, liệu tình cảm đặc biệt với Việt Nam, qua hàng thập kỷ qua, liệu ông sẽ có những nỗ lực cá nhân của riêng mình?

Hoặc, ít ra, với quá khứ tốt đẹp với chống chiến tranh và bình thường hoá quan hệ với Việt Nam, ông sẽ là gương mặt dễ nói chuyện với Hà Nội hơn?

Giai đoạn 2008-2010, thành công của Việt Nam trong vai trò hội viên không thường trực của Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, và cả trong vai trò Chủ tịch ASEAN với việc củng cố sự cộng tác giữa các nước hội viên ASEAN đã gây ấn tượng đối với Mỹ. Vì thế, họ đã tích cực tìm cách củng cố quan hệ giữa hai nước.

Nhưng gần đây, vấn đề nhân quyền trong nước lẫn sự chia rẽ trong ASEAN làm Mỹ thất vọng. Sự ưu tiên dành cho Việt Nam cũng giảm, nhất là khi chính quyền Obama phải đương đầu với nhiều vấn đề đối nội cũng như đối ngoại quan trọng hơn.

Riêng ông John Kerry vốn có cảm tình cá nhân với Việt Nam, do đó có thái độ mềm mỏng hơn đối với Việt Nam, như ông đã tỏ ra trong quá khứ.

Nhưng bây giờ đã trở thành ngoại trưởng, ông phải quan tâm đến nhiều vấn đề nóng bỏng trên thế giới, theo quyền lợi quốc gia của Mỹ, nên không thể xếp Việt Nam vào loại ưu tiên cao. Không những ông chịu trách nhiệm trước Tổng thống, mà chịu trách nhiệm trước Quốc Hội. Lấy vấn đề nhân quyến làm một thí dụ.

Trước kia, với tư cách Thượng Nghị sĩ, ông có thể “ngâm tôm” luật nhân quyền chỉ trích Việt Nam, do Hạ Viện đã biểu quyết. Ngày nay, không những ông không có quyền “ngâm tôm” vấn đề nhân quyền, mà khi ra điếu trần trước Quốc Hội, ông còn phải chứng tỏ Việt Nam đã có tiến bộ về nhân quyền. Vì thế, tình hình nhân quyền ở Việt Nam sẽ đẩy tân ngoại trưởng Kerry vào thế khó xử.

Nhưng, nói cho gọn lại, việc ông Kerry trở thánh người lãnh đạo chính sách đối ngoại của Mỹ vẫn là một cơ hội tốt cho Việt Nam. Lợi dụng được cơ hội ấy hay không lại là một việc khác.

Tựu trung, qua trao đổi với Giáo sư, Việt Nam chưa có vị trí tạm gọi quan trọng trên bàn cờ chiến lược của người Mỹ?

Không có gì là không quan trọng cả. Nhưng còn xa mới quan trọng để xác lập một mối quan hệ mới, hay như các nhà ngoại giao vẫn nói là “nâng lên một tầm cao mới”.

Các lãnh đạo Việt Nam, từ chính phủ đến bộ ngoại giao, trong dịp nọ dịp kia, đều nhấn mạnh tới việc sớm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Mỹ. Nhưng dường như, bản thân Việt Nam hình như chưa có sự chuẩn bị tinh thần đầy đủ và quyết tâm cần thiết, nhất là một khái niệm rõ ràng về “đối tác chiến lược”, để hướng tới mối quan hệ này?

Tôi nghĩ đúng là lãnh đạo Việt Nam có ý muốn như vậy.  Với Mỹ, hai bên chưa thống nhất được nội hàm. Ai cũng biết bên kia muốn gì, nhưng dường như chưa có sự thuận mua vừa bán.

Thực ra Việt Nam đã từng bỏ lỡ thời cơ trong quan hệ với Mỹ khá nhiều, do chưa thực sự hiểu Mỹ, đơn cử là cơ hội bình thường hóa với Mỹ vào cuối những năm ’70, hay trong quá trình đàm phán hiệp định thương mại song phương (BTA), rồi đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO). Ngay cả với hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái bình dương (TPP) hiện nay dường như sự hiểu biết này của Việt Nam vẫn còn khá hạn chế, tuy đã khá hơn trước rất nhiều. Ông có nghĩ vậy không?

Phải nói cho khách quan, chính trị nội bộ của Mỹ thực sự rắc rối. Khi Trung Quốc mời tôi sang nói chuyện vào đầu những năm ’90, họ cũng không hiểu gì về vấn đề này. Họ cứ hỏi tại sao thế này, tại sao thế kia, hỏi liên tục.

Tôi giải thích từng trường hợp cụ thể một. Và, tựu trung, chính trị nội bộ vẫn là vấn đề quyền lợi mà thôi. Dần dần, Trung Quốc có nhiều học giả học học tập và nghiên cứu về chính trị nội bộ của Mỹ, nên họ biết khá rành mạch.

Đối với Việt Nam, cũng có nhiều người học ở Mỹ, nhất là được thực tập ở Mỹ, nên sự hiểu biết chắc chắn là khá hơn ngày xưa, khá hơn rất nhiều. Vấn đề ở đây là họ có dám nói với lãnh đạo một cách thẳng thắn không né tránh không.

Nhưng, quan trọng nhất, là chỉ có lãnh đạo mới biết rằng họ thực sự muốn gì, tôi hy vọng như vậy, và nếu muốn cái đó phải trả giá thế nào. Và họ có sẵn sàng trả giá hay không, nếu có, đến mức độ nào. Chuyên viên chỉ nói về khía cạnh kỹ thuật, còn nhà chính trị thì quyết định theo quyền lợi chính trị.

Vì vậy, nên cái giỏi của nhà chính trị là chọn được chuyên viên giỏi, và biết chọn lựa lời khuyên tốt. Ta đành phải hy vọng thôi.

Huỳnh Phan

Xin cám ơn ông.

Việt – Mỹ có đi đến đối tác chiến lược?

30 Th4

Việt – Mỹ có đi đến đối tác chiến lược?

Vấn đề là Việt Nam phải hiểu Mỹ muốn gì, Việt Nam muốn gì, GS Nguyễn Mạnh Hùng, ĐH George Mason (Hoa Kỳ) nói.

LTS: Tại Hội thảo Việt Nam học lần thứ 4, diễn ra tại Hà Nội cuối năm ngoái, có một chủ đề được các học giả đặc biệt quan tâm: “quan hệ đối tác chiến lược”, hoặc gần như thế, giữa Việt Nam và một số nước trên thế giới như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Anh, Đức, hoặc thậm chí Tây Ban Nha.

Việt Nam cũng có kế hoạch nâng tầm mối quan hệ với các nước như Úc (từ quan hệ đối tác toàn diện), Ý, hay Pháp. Đặc biệt, điều mà mọi người chờ đợi trong hoài nghi là liệu Việt Nam có đạt mối quan hệ này với kẻ cựu thù là Hoa Kỳ, như hai nước đã đặt ra từ thời Ngoại trưởng Hilary Clinton hay không.

Tuanvietnam xin giới thiệu cuộc trao đổi với Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng của Đại học George Mason (Hoa Kỳ), một chuyên gia về chính sách ngoại giao Hoa Kỳ và chính trị Đông Á, trên cơ sở những thảo luận trong hội thảo, cộng với những diễn tiến “cập nhật”, để làm rõ khái niệm phức tạp, và mỗi nước có quan điểm rất riêng biệt này.

Đặc biệt từ mùa hè năm 2010, khi bà Hilary Clinton lần đầu tiên sang thăm Việt Nam với tư cách Ngoại trưởng, Mỹ và Việt Nam đã xác định xây dựng mối quan hệ “đổi tác chiến lược”. Cho đến nay, hai nước đã nhiều lần đề cập tới khái niệm này, nhưng dường như vẫn chưa đạt được một sự chia sẻ khả dĩ nào đó. Xin ông cho biết đánh giá của mình.

Thật ra, mọi mối quan hệ đều được xác lập trên cơ sở quyền lợi, và những nước nhỏ thường mong muốn được cư xử một cách bình đẳng. Thành ra, xét về kinh tế, chính trị, hay chiến lược đều thế cả.

Còn về quan niệm về “đối tác chiến lược”, tôi lại thấy vị học giả người Nga (trong dịp Hội thảo Việt Nam học diễn ra tại Hà Nội cuối năm ngoái) đưa ra một số luận điểm đúng, và hữu ích. Ông dẫn ra, trong quan hệ Nga – Việt, có một số nguyên tắc để hình thành quan hệ “đối tác chiến lược”.

Việt - Mỹ, đối tác chiến lược, GS Nguyễn Mạnh Hùng, Việt Nam học, Hilary Clinton
Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, đại học George Mason, Hoa Kỳ trong một buổi hội thảo. Ảnh: Huỳnh Phan

Thứ nhất là không tấn công lẫn nhau; thứ hai là không liên minh để chống nước khác; thứ ba là không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; và thứ tư, quan trọng nhất, là tin cậy lẫn nhau. Nhưng muốn tin cậy lẫn nhau thì phải có những giá trị tương đồng. Ông ấy có hàm ý rằng giữa Việt Nam và Mỹ thì chưa có cái đó, và tôi nghĩ ông ta có lý. Bởi vì, giữa Mỹ và Việt Nam còn có cái hố sâu cần lấp bằng để có thể tiến tới mối quan hệ đối tác chiến lược.

Trong khi đó, Tiến sĩ Nguyễn Nam Dương (Học viện Quan hệ Quốc tế) lại đưa ra nhận định rằng hai bên có quan niệm hơi khác nhau về “đối tác chiến lược”. Đối với người Mỹ, đã gọi là “đối tác chiến lược” phải có hợp tác quân sự. Nhưng đối với Việt Nam, mối quan tâm mang tính chính trị – kinh tế, hay nói theo kiểu Việt Nam là mối quan hệ “đối tác toàn diện”.

Quan điểm riêng của ông? Tôi đã có hỏi một số quan chức ngoại giao Mỹ, như gần đây là Phó Đại sứ Claire A. Pierangelo.

Còn bà Pieranglo nói: “Trong bất cứ mối quan hệ nào, bạn cũng muốn một đối tác tốt, ổn định, đáng tin cậy và có thể phụ thuộc lẫn nhau được. Điều này đúng với việc chúng ta tìm người bạn, bạn đời, hay quan hệ giữa hai nước. Khi quan hệ của chúng ta mới bắt đầu thì những lĩnh vực làm việc cùng nhau còn hạn chế, chủ yếu là về kinh tế và những vấn đề của quá khứ, như chiến tranh.

Nhưng Việt Nam và Hoa Kỳ không còn là hai đất nước của gần 20 năm về trước nữa, chúng ta cần cùng nhau nhìn vào tương lai 10 năm, hay 20 năm tới, và chúng ta sẽ như thế nào đối với nhau. Đó là cũng chính cách mà chúng tôi đang nhìn vào mối quan hệ giữa hai nước, và chúng tôi cũng hy vọng Việt Nam sẽ có cách nhìn tương tự như vậy để chúng ta định hướng được quan hệ chính trị, kinh tế.”

Các nhà ngoại giao thường không nói hết được tất cả, họ có những nguyên tắc của họ. Nhưng giới học giả chúng tôi thì khác.

Tôi nghĩ, Việt Nam phải hiểu Mỹ muốn gì, Việt Nam muốn gì. Cho đến giờ phút này, tôi nghĩ Việt Nam đã biết Mỹ muốn gì, và một trong những điều mà Việt Nam muốn gạt sang một bên là vấn đề “dân chủ – nhân quyền”.

Tiến sĩ Nguyễn Nam Dương có dẫn ra trường hợp Saudi Arabia, một nước có tình trạng nhân quyền rất kém mà Mỹ vẫn chấp nhận quan hệ đối tác chiến lược?

Trong chuyện này phải nhìn kỹ một chút, chứ không đơn giản vậy đâu. Tại sao?

Chính sách đối ngoại của Mỹ luôn hướng tới ba mục tiêu khác nhau: quyền lợi chiến lược, quyền lợi kinh tế và quyền lợi về giá trị. Cái cuối cùng chính là “tự do, dân chủ và nhân quyền”.

Ba lợi ích này luôn luôn hiện hữu, nhưng trong từng trường hợp, không phải lúc nào cả ba cái này cũng quan trọng bằng nhau.

Ví dụ, một khi quyền lợi chiến lược to lên, thì quyền lợi về giá trị nó bé đi. Ta quay lại trường hợp Saudi Arabia, về chiến lược, nước này quá quan trọng với người Mỹ. Họ là một đồng minh trung thành và thân cận của Mỹ ở Trung Đông. Đó là chưa nói tới dầu hỏa lại nhiều nữa. (Cười)

Chính vì vậy, mục tiêu thứ ba là “tự do, dân chủ – nhân quyền” mặc nhiên lờ mờ đi.

Hay đối với Trung Quốc, mối quan hệ kinh tế lại quan trọng. Bởi ông Bill Clinton đã từng dọa rằng, nếu Trung Quốc không cải thiện nhân quyền, Mỹ sẽ không gia hạn qui chế tối huệ quốc trong thương mại. Nhưng cuối cùng, Mỹ vẫn nhân nhượng, vì lợi ích kinh tế lớn.

Nhưng đối với những nước mà hai lợi ích về chiến lược và kinh tế chưa đủ lớn, đòi hỏi về “tự do, dân chủ và nhân quyền” chắc hẳn phải cao hơn thôi. Còn đã hướng tới đối tác chiến lược, các giá trị này còn quan trọng hơn nữa. Đó là ta còn chưa nói tới trao đổi về quân sự, nhất là mua bán vũ khí.

Đối với Mỹ, không phải bán vũ khí là chuyện của bên quốc phòng nói riêng, hay của hành pháp nói chung, mà phải được quốc hội thông qua. Mà quốc hội Mỹ thì lúc nào cũng đặt vấn đề nhân quyền lên. Dù muốn hay không, có thể người ta không đòi hỏi 100%, nhưng chắc chắn phải có những cải thiện, những nhượng bộ nhất định.

Việt Nam phải hiểu rằng, có thể bên hành pháp chập nhận lờ mờ, vì những lợi ích nào khác, nhưng bên lập pháp khó có thể lờ mờ được. Đó là chưa nói tới yếu tố đảng đối lập, luôn tìm cách làm khó đảng cầm quyền.

Hay trong chuyện bán vũ khí, nếu Mỹ chưa có sự tin cậy với Việt Nam.

Theo tôi nghĩ, hai bên chưa đến cái đoạn có thể đạt được mối quan hệ đối tác chiến lược.

Huỳnh Phan

(Còn nữa)

Họp báo trước cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ – VOA

14 Th4

Họp báo trước cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ

 
Họp báo về tình hình nhân quyền Việt Nam tại trụ sở Quốc hội Hoa Kỳ ngày 10/4/2013.

Họp báo về tình hình nhân quyền Việt Nam tại trụ sở Quốc hội Hoa Kỳ ngày 10/4/2013.

 
Họp báo trước cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ
  • Danh mục
  • Tải
    Vào lúc 10 giờ 45 sáng ngày 10 tháng Tư năm 2013, hai ngày trước cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ diễn ra tại Hà Nội, dưới sự chủ tọa của dân biểu Cộng hòa Christopher Smith, Chủ tịch Tiểu ban Nhân quyền của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ và sự có mặt của dân biểu Frank Wolf, thuộc đảng Cộng hòa bang Virginia, một số các vị lãnh đạo tinh thần và những nhà hoạt động tôn giáo đã mở cuộc họp báo tại House Triangle, dưới thềm Quốc hội Hoa Kỳ nói lên tình trạng vi phạm tự do tôn giáo tại Việt Nam và kêu gọi chính giới Mỹ quan tâm đến tình hình vi phạm nhân quyền có hệ thống tại Việt Nam.

    Ngày thứ Sáu 12 tháng 4 tại Hà Nội, hai phái đoàn Việt Nam và Hoa Kỳ gặp nhau trong cuộc đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ lần thứ 17. Đáng lý vòng 17 cuộc đối thoại nhân quyền Việt Mỹ phải được tổ chức vào tháng 11 hay tháng 12 năm 2012 theo như thường lệ, tuy nhiên mãi cho đến gần đây hai bên mới thống nhất được ngày giờ tổ chức đối thoại. Lý do của sự chậm trễ này là Hoa Kỳ cho rằng cuộc đối thoại vòng 16 được tổ chức vào hai ngày 9 và 10 tháng 11 năm 2011 tại Washington đạt được ít kết quả và hai bên cần phải tiếp tục đàm phán thêm để có những kết quả tốt hơn.

    Các nhà phân tích nhận định một trong những nguyên nhân chính của sự trì trệ này là việc Việt Nam tăng cường đàn áp những nhà bất đồng chính kiến trong hai năm qua cũng như việc bắt giữ một công dân Mỹ là luật sư Nguyễn Quốc Quân cho thấy Việt Nam không quan tâm đến các vi phạm về nhân quyền của Việt Nam do Hoa Kỳ nêu ra.

    Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc Điều hành của Ủy ban cứu người vượt biển BPSOS, người đứng ra phối hợp tổ chức cuộc họp báo cho biết mục đích chính của cuộc họp báo:

    “Bắn tiếng về trong nước và trong công luận vì hiện nay đang có một phái đoàn của chính phủ Hoa Kỳ ở Việt Nam để chuẩn bị đi vào cuộc họp đối thoại nhân quyền thường niên giữa hai chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam. Chúng tôi cũng muốn đánh động lên để trong nước biết, phái đoàn biết và chính quyền Việt Nam biết.”

    Trong cuộc họp báo, đại diện tại Hoa Kỳ của ba tôn giáo lớn, Công giáo, Phật giáo và Tin lành đã nêu lên những khó khăn các nhà lãnh đạo tinh thần cũng như tín đồ ba tôn giáo này gặp phải tại Việt Nam.

    Ông Đỗ Như Điện, thuộc Phong Trào Giáo Dân Việt Nam ở California nêu ra một số câu hỏi và ông cho rằng trả lời những câu hỏi này sẽ thấy rõ được hoàn cảnh của tín đồ Công giáo tại Việt Nam. Ông hỏi tại sao có Ban Tôn Giáo để quản trị các tôn giáo, tại sao Hiến pháp Việt Nam qui định tự do tôn giáo nhưng nhà nước lại ban hành quá nhiều luật lệ về tôn giáo để làm khó dễ việc hành đạo, tại sao không có người Công giáo nào được giao cho những chức vụ trong chính quyền và giáo hội Công giáo bị phân biệt đối xử?

    “Giáo hội Công giáo là một tổ chức có tám triệu giáo dân nhưng mà cho đến bây giờ vẫn không được đối xử ngang hàng với các tổ chức dân sự cũng như những tổ chức xã hội khác ở trong nước.”

    Mục sư Tiến sĩ Nguyễn Minh Thắng thuộc Giáo hội Báp Tít Nam phương Hoa Kỳ cho rằng khó khăn nhất cho những giáo hội Tin Lành tại Việt Nam là chính quyền đưa người vào các tổ chức từ địa phương cho đến cấp quốc gia của giáo hội. Ông đề nghị phải có sự phân biệt giữa chính quyền và giáo hội. Ông giải thích thêm:

    “Khi phân biệt được giữa giáo hội và chính quyền thì hai bên tôn trọng lẫn nhau và sẽ cùng nhau tiến trên con đường phục vụ dân, vừa bên vật chất, vừa bên tinh thần. Cả hai đều có bổn phận như thế nước mới mạnh, dân mới giàu được.”

    Thượng tọa Thích Giác Đẳng, Tổng thư ký Giáo hội Thống nhất Việt Nam Hải ngoại, Văn phòng 2 Viện Hóa đạo đưa ra nhận xét là từ khi Hoa Kỳ bình thường hoá bang giao với Việt Nam dưới thời Tổng thống Bill Clinton, tại Việt Nam về phương diện nhân quyền và tự do tôn giáo ít có cải thiện.

    “Chúng ta hy vọng rằng trong quan hệ càng ngày càng cải thiện thì chính phủ Hoa Kỳ sẽ không quên đi khía cạnh nhân quyền trong quan hệ với Việt Nam.”

    Thượng tọa Thích Viên Lý, chủ tịch Giáo hội Việt Nam Thống nhất Hải ngoại tại Hoa Kỳ cho rằng nếu toàn thể đồng bào tại quốc nội và hải ngoại quyết tâm tranh đấu thì chắc chắn một ngày nào đó Việt Nam sẽ có thay đổi lớn. Ông cho rằng tiếng nói của Việt kiều tại hải ngoại được thế giới lắng nghe nhưng vẫn chưa đủ. Ông đề nghị:

    “Chúng ta tiếp tục vận động đối với bất cứ cơ quan nào kể cả những nhân sĩ, trí thức khắp nơi trên thế giới để họ hậu thuẫn chúng ta đối với tiến trình tự do dân chủ tại Việt Nam.”

    Cựu dân biểu liên bang Cao Quanh Ánh đồng ý với nhận xét của hai vị Thượng tọa đại diện cho Giáo hội Việt Nam Thống nhất Hải ngoại là những sinh hoạt vận động với Quốc hội Hoa Kỳ và các nước khác có nhiều kiều bào cư ngụ sẽ dần dần mang tới sự thay đổi trong xã hội Việt Nam, mặc dù việc này không tới trong vòng một năm, hai năm nhưng ông hy vọng trong tương lai có thể là năm năm hay mười năm Việt Nam sẽ thay đổi. Ông nói tiếp:

    “Chúng ta không nghĩ việc làm của chúng ta là một thất bại hay là không đi tới đâu. Mặc dù không đi tới đâu đi nhưng chúng ta cũng phải cần tiếp tục vận động, chúng ta phải cần làm những gì chúng ta cần làm để mang tới một niềm hy vọng cho cộng đồng Việt Nam chúng ta trong nước Mỹ này.”

    Dân biểu Chris Smith trong phần kết thúc cuộc họp báo cho rằng thảo luận không thể thay thế việc làm và căn cứ trên những hành động đàn áp, ngược đãi những người bất đồng chính kiến như những người thuộc khối 8604, những người sắc tộc Tây nguyên, những người Hmong…và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Ông đề nghị:

    “Ngay lúc này, hôm nay, đưa Việt Nam vào danh sách các nước đặc biệt cần quan tâm CPC.”

Bên Thắng Cuộc – Hiệp định thương mại Việt-Mỹ

19 Th2

Bên Thắng Cuộc – Hiệp định thương mại Việt-Mỹ

Huy Đức

Cũng năm 1999, trong khi mang “Phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt” về từ một láng giềng nhiều thủ đoạn, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu lại đánh mất cơ hội ký hiệp định thương mại với một đối tác tiềm năng: Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ.

Tại tiểu bang Ohio (Mỹ), sau khi thông báo quyết định dỡ bỏ lệnh cấm vận của Tổng thống Bill Clinton với Bộ trưởng Lê Văn Triết, Bộ trưởng Ron Brown đề nghị bộ thương mại hai nước lập ra tổ công tác chuẩn bị cho quan hệ song phương. Brown cho biết luôn là ông sẽ lập nhóm USTA do bà Barshefsky làm nhóm trưởng. Khi trở về Việt Nam, Bộ trưởng Lê Văn Triết đến thẳng phủ thủ tướng, chờ ông ngoài Thủ tướng còn có Bộ trưởng Đậu Ngọc Xuân, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm.

Ông Triết kể chi tiết cuộc trò chuyện với Ron Brown. Ông Kiệt hỏi: “Theo anh, điều này sẽ tác động đến việc mở cửa của Việt Nam như thế nào?”. Ông Triết: “Theo tôi, nó phù hợp với chủ trương đa phương hóa, thêm bạn bớt thù. Chắc chắn sẽ có một số anh chưa nhất trí, có anh sẽ phân vân, nhưng mình mà lẩn quẩn thì không những mất cơ hội mà còn ảnh hưởng đến việc mở rộng quan hệ với những đối tác khác”. Ông suy nghĩ rồi nói: “Các anh nghiên cứu ngay xem quyết định bỏ cấm vận sẽ tác động đến việc Việt Nam mở rộng quan hệ với các nước như thế nào. Phần ngoại giao, anh Cầm phải có kế hoạch mở rộng quan hệ đa phương ngay sau khi Mỹ chính thức tuyên bố. Anh Triết chuẩn bị tờ trình, trình Bộ Chính trị xin chủ trương cho đàm phán ký kết hiệp định thương mại với Mỹ”. Ông Triết hỏi: “Ký một hiệp định song phương như với các nước?”. Ông Kiệt nói: “Đúng!”.

Ông Lê Văn Triết kể: Tôi về làm phương án đàm phán, chuẩn bị xong, tôi mời đại diện Bộ Ngoại giao, Tài chánh, Ngân hàng, Bộ Kế hoạch Đầu tư… tới họp và góp ý. Văn phòng Trung ương cũng thông báo năm ngày sau đó Bộ Chính trị sẽ nghe trình bày. Tại cuộc họp Bộ Chính trị, tôi trình bày xong, ông Đỗ Mười nói: “Yêu cầu các bộ có phản biện trước”. Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Đậu Ngọc Xuân vun xới mạnh. Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm phát biểu thận trọng. Thứ trưởng Bộ Tài chánh Chu Tam Thức thì chừng mực. Nghe xong, ông Đỗ Mười phát biểu rất căng: “Chúng ta đã đổi mới thành công, các nước đều thừa nhận, đời sống khá hơn có cần bàn tay của Mỹ?”. Ông Đậu Ngọc Xuân nói: “Sự giúp đỡ của Mỹ là cần thiết”. Ông Đỗ Mười: “Mình hoàn toàn độc lập, cần gì phải giúp đỡ. Việc gì phải ký hiệp định thương mại?”.

Hôm ấy, theo chỉ đạo của anh Kiệt, Bộ Thương mại trình một lúc hai đề án: một để đàm phán gia nhập WTO, một để ký BTA. Nhưng, theo ông Triết, với cả hai, ông Đỗ Mười nói: “Việt Nam còn nghèo, hàng hóa sản xuất tỷ trọng bao nhiêu, ăn thua gì, ra nó đè chết ngay lập tức. Cái thứ ba, mình xưa giờ chủ yếu quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa, chỉ am hiểu xã hội chủ nghĩa. Giờ quan hệ với người ta, bị buộc phải theo những quy định của người ta mình càng mất độc lập”. Bấy giờ ông Triết mới nhận ra lý do ông Võ Văn Kiệt mời bằng được Cố vấn Phạm Văn Đồng tham gia phiên họp này. Theo đề nghị của ông Kiệt, Cố vấn Phạm Văn Đồng phát biểu ngắn: “Bây giờ là thời kỳ toàn cầu hóa, ai cũng phải có quan hệ với các quốc gia. Đường lối đa phương hóa mà ta đã đi là đúng. Đã đúng thì cứ tiếp tục. Thời đại này không ai còn tự cung, tự túc. Có gì mà không dám làm ăn với Mỹ với WTO”.

Ông Kiệt tiếp lời: “Tôi tán thành ý kiến anh Đồng. Xu thế đó là không thể tránh khỏi. Nói để anh Mười yên tâm, tiền thân của WTO là GATT, một tổ chức mà Liên Xô là sáng lập viên, lúc đầu có ba mươi quốc gia. Chỉ khi có khối SEV, Liên Xô mới rút ra. Bây giờ nước Nga cũng muốn trở lại WTO, làm đơn xin mà họ đã chấp nhận đâu. Những nước tham gia đều theo những nguyên tắc nhất định được hình thành bằng sự đóng góp của các thành viên. Đã có 100 nước tham gia, có những nước yếu hơn Việt Nam, nhiều nước còn phải sắp hàng. Anh Đồng rất đúng, Việt Nam tuy còn yếu, hàng hóa chưa nhiều, chưa hiểu hết quy luật. Nếu mình đứng ngoài thì sẽ như cũ. Tham gia vào thì đội ngũ mới trưởng thành. Mới hiểu thị trường, luật pháp ra sao mà ứng phó. Phải tham gia để có tiếng nói của mình, còn nếu đứng ngoài thì họ quyết sao mình chịu vậy. Trung Quốc đã gửi hàng trăm người đi đàm phán lâu nay mà vẫn chưa được. Giữ gìn chế độ là nhiệm vụ của mình, nhưng không thể giữ chế độ bằng cách không chơi với ai cả”.

Ông Phạm Văn Đồng tiếp: “Anh Mười lo lắng mình bị lép vế cũng có lý vì mình còn yếu. Nhưng, tôi thì tôi không sợ. Như anh Kiệt nói, phải vào hang mới bắt cọp”. Ông Đỗ Mười không kết luận. Ông Phạm Văn Đồng đề nghị: “Bộ Thương mại và Bộ Ngoại giao hoàn chỉnh phương án, để báo cáo lại”.

Tháng 5-1996, ông Nguyễn Đình Lương tháp tùng ông Lê Văn Triết đi Washington, DC., gặp Charlene Barshefsky, trưởng Đại diện Thương mại Mỹ. Thông điệp mà Barshefsky chuyển cho ông Triết vẫn là Hoa Kỳ sẵn sàng ký hiệp định thương mại song phương. Ông Lương nói: “Khi về nhà, tôi biết số phận của mình. Tháng 8-1996, tôi chuẩn bị một tờ trình, phân tích bối cảnh quốc tế, phân tích những ý đồ của Hoa Kỳ đối với Việt Nam rồi đề ra năm nguyên tắc để bộ trưởng ký trình thủ tướng. Ông Triết đưa ra lấy ý kiến trong Bộ, một số cán bộ chủ chốt không đồng ý, lấy lý do, “không cần bàn nguyên tắc, cần bàn cụ thể thôi”, ông Triết cũng phân vân chưa ký. Phải một tháng sau, trước giờ ông Lê Văn Triết ra sân bay đi nước ngoài, tôi nói: “Anh ký đi, Văn phòng Chính phủ giục”. Ông ký. Chiều tôi mang lên Văn phòng Chính phủ. Sáng hôm sau, Văn phòng gọi: Lương ơi, báo tin mừng cho mày, anh Sáu (Võ Văn Kiệt) chỉ ghi một chữ: ‘Đồng ý’, viết từ bên này trang giấy kéo sang tới bên kia”.

Đàm phán Việt- Mỹ, theo ông Nguyễn Đình Lương: “Lên bờ xuống ruộng. Năm năm cực kỳ khó khăn. Khó nhất là vì ngay từ khi bắt đầu, ông Võ Văn Kiệt đã không còn ở vị trí quyết định. Trong các vị lãnh đạo, số người đồng ý không nhiều, lý do: đây là vấn đề nhạy cảm, nhiều người muốn mình không trắng, không đen, công được hưởng, tội không phải mình. Tôi là một quan chức bé tí. Nhưng cuộc họp nào cũng phải có mặt, vì viết bài, sửa bài cũng tôi. Bộ Chính trị họp xong bảo chuẩn bị bài ra Ban Chấp hành. Cứ tiếc, ông Kiệt không còn làm Thủ tướng nữa”.

Lúc ấy trên Bộ Chính trị còn có ba ông cố vấn: Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt. Ông Lương nói, chúng tôi gọi tổng bí thư là “hoàng thượng”, trên “hoàng thượng” là “vương gia”. Trước khi quyết, “hoàng thượng” còn phải xem ý “vương gia”. “Vương gia” lại có hai phía, người ủng hộ quyết liệt, người thì không. Theo ông Lương: “Cứ mỗi khi họp Bộ Chính trị, chúng tôi lại phải hỏi Văn phòng: ông Kiệt có ra họp không. Có mặt ông Kiệt thì cán cân sẽ khác. Từ đầu, quan điểm của ông Kiệt đã rất rõ ràng: phải bình thường hóa với Mỹ, ký Hiệp định Biên giới với Trung Quốc, ký Hiệp định thương mại Việt-Mỹ. Trong cuộc họp, có khi ông mở đầu, nhưng thường, ông nghe hết các ý kiến. Cho dù các ý kiến trong cuộc họp phát biểu theo chiều hướng nào thì ý kiến của ông Kiệt vẫn là phải ký”.

Ngày 30-8-1999, ông Nguyễn Đình Lương sang Washington, D.C., hoàn tất văn bản để chuẩn bị ký. Theo ông Lương: Ngày 1-9, khi tiếp ông Lương tại phòng làm việc, Phó đại diện thương mại Hoa Kỳ Richard Fisher nói: “Lương, tôi hỏi ông một câu thôi: phía Hoa Kỳ định ký BTA tại Hội nghị APEC, Việt Nam có ký không?”. Ông Lương nói: “Chắc chắn ký với điều kiện ông giải quyết cho tôi mười vấn đề”. Thực ra, theo ông Lương: “Mười vấn đề mà tôi đề nghị ấy chỉ là tiểu tiết nhưng các nhà lãnh đạo bên Đảng đòi giải quyết”. Fisher nói: “Ông về báo với lãnh đạo của ông, nếu Việt Nam quyết định ký tại Auckland, có sự chứng kiến của Bill Clinton thì những vấn đề còn lại sang đó sẽ được giải quyết hết”. Hội nghị APEC cấp bộ trưởng dự kiến nhóm họp vào ngày 9 và 10-9-1999 và cuộc gặp cấp cao lần thứ 11 sẽ diễn ra ngày 12 và 13-9-1999 tại Auckland, New Zealand.

Ông Nguyễn Đình Lương nói tiếp: “Tôi về báo cáo. Bộ Chính trị họp đồng ý nhưng chưa ra thông báo. Hai ngày trước khi APEC nhóm họp, phía Hoa Kỳ cử bà Ngoại trưởng Madeleine Korbelová Albright sang Hà Nội. Albright sang, chỉ làm một việc duy nhất là thuyết phục ký. Bill Clinton muốn gây tiếng vang, ông ta muốn kết thúc trang sử quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong nhiệm kỳ tổng thống của mình. Nếu việc ký kết thành công, tháng 11-1999, Bill sẽ sang thăm Việt Nam luôn. Người Mỹ khi ấy còn có một mục tiêu khác: đàm phán Mỹ – Trung đang bế tắc sau chuyến đi của Chu Dung Cơ, Bill Clinton muốn việc ký BTA với Việt Nam như một tín hiệu gửi tới Bắc Kinh”.

Ông Võ Văn Kiệt nhận được những thông tin này ngay khi ông Nguyễn Đình Lương chưa về tới Hà Nội. Ngày 05-9-1999, từ Thành phố Hồ Chí Minh, ông viết thư gửi Bộ Chính trị, xin vắng mặt phiên họp ngày 7-9-1999 bàn về Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ và “xin phát biểu với Bộ Chính trị một số ý kiến”. Ông Kiệt cho biết, những ý kiến này, ông đã trao đổi với ông Nguyễn Mạnh Cầm tại Hà Nội trong lần gặp tuần trước đó. Ông Võ Văn Kiệt viết: “Nên lưu ý những diễn biến trong quan hệ Mỹ – Trung và nên tính tới tình hình chính trị nội bộ của Mỹ. Chúng ta không đặt vấn đề nhất thiết, bằng mọi giá phải ký nhanh hiệp định này nhưng nếu có điều kiện thì nên ký sớm để phía Mỹ có thể phê chuẩn hiệp định trước bầu cử”. Ông Kiệt cũng đưa ra một số lập luận để cho thấy việc hai nước ký hiệp định tại một nơi thứ ba, Auckland, New Zealand, nhân Hội nghị APEC là “bình thường và ngày càng thông dụng”.

Theo ông Nguyễn Mạnh Cầm: “Ngày 7-9-1999, Bộ Chính trị họp đồng ý ký hiệp định tại Auckland. Anh Phiêu đã rất hào hứng nói, nên thưởng gì cho anh em đàm phán. Tôi nói khoan đã anh ạ, chờ xem thế nào, nhỡ người Mỹ lật lọng”. Người Mỹ không lật lọng nhưng nhà ngoại giao lão luyện người Mỹ, bà Albright, đã phạm một lỗi nhỏ góp phần làm hỏng việc lớn. Mười giờ sáng ngày 8-9-1999, gặp Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm, bà Albright được ông Cầm xác nhận “sẽ ký”; hai giờ chiều gặp Thủ tướng Phan Văn Khải, ông Khải vui vẻ trả lời: “Sẽ ký”.

Có lẽ, nghĩ sứ vụ đã hoàn thành, cho nên năm giờ chiều hôm ấy, khi hội đàm với Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, thay vì chỉ đề cập đến việc ký kết BTA, bà Albright đã buột mồm hỏi: “Thế giới giờ chỉ còn bốn nước xã hội chủ nghĩa, theo ông, có tiếp tục giữ được không?”. Sau khi khẳng định với bà Albright, “chủ nghĩa xã hội sẽ tiếp tục phát triển thắng lợi”, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu gặp hai ông cố vấn Đỗ Mười và Lê Đức Anh. Mọi việc bắt đầu thay đổi.

Ông Đỗ Mười thừa nhận: “Buổi chiều, khoảng năm giờ, trước ngày đi họp APEC, anh Phan Văn Khải sang gặp tôi, nói: ‘Anh Mười ạ, mai tôi đi, anh cho ký đi’. Tôi bảo chưa được. Mai anh gặp Clinton, tôi đề nghị anh nói ba điểm: Chúng tôi muốn ký trong nhiệm kỳ của ngài nhưng hiệp định phức tạp quá không như hiệp định chúng tôi ký với EU, nên còn một số vấn đề trong Đảng và Chính phủ có ý kiến khác nhau. Tôi đề nghị ngài chỉ thị cho phái đoàn đàm phán phía Mỹ cùng chúng tôi bàn tiếp những vấn đề đó rồi sẽ ký. Ký được trong nhiệm kỳ của ngài thì tốt, nhưng nếu chưa ký được thì trước khi ngài nghỉ, mời ngài sang thăm Việt Nam để quan hệ giữa ngài và Việt Nam có trước, có sau”.

Trước đó, theo ông Đỗ Mười: “Hiệp định nó dày thế này, Bộ Chính trị ít người đọc. Tôi có thời giờ, đọc thấy nhiều vấn đề quá. Tôi gọi các vị lãnh đạo đến, nói: ‘Cái này mới quá. Đây là hợp tác toàn diện chứ đâu có phải chỉ là thương mại. Tôi đề nghị Bộ Chính trị bàn tiếp’”.

Theo ông Nguyễn Đình Lương: “Hôm sau, 8-9-1999, trước giờ chuyên cơ chở Thủ tướng Phan Văn Khải, Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển và Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm đi Auckland, tôi nhận được điện: Ông Lương ngồi đấy, chờ có lệnh mới đi”. Ông Lương chờ, ngày thứ nhất Bộ Chính trị chưa họp, ngày thứ hai nghe tình hình khó khăn. Ngày thứ ba, quyết định không ký. Ngày thứ tư, tôi về. Vừa tới nhà đã thấy chuyên viên trong vụ ngồi đợi, bảo “lên văn phòng Ba Dũng ngay”. Ông Lương chạy lên thấy Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang nhăn nhó.

Ông Lê Khả Phiêu giải thích về việc trì hoãn ký BTA một cách thận trọng: “Tôi bảo anh Phan Văn Khải cứ đi, mời Tổng thống Bill Clinton sang, sẽ ký. Lúc đó có chế độ cố vấn, dù sao cũng phải tôn trọng. Trong Bộ Chính trị, tuyệt đại đa số cũng chưa đồng ý. Ta không được chuẩn bị kỹ. Có hai chương họ tự đưa vào, năm thành bảy chương. Trước những vấn đề quốc tế khi có những ý kiến khác nhau thì phải đảm bảo chín muồi cả về nội dung lẫn kỹ thuật và phải tôn trọng tính tập thể”.

Trong nhiều tình huống “tập thể” chỉ là nơi pha loãng trách nhiệm cho các cá nhân. Phiên họp Bộ Chính trị mang tính quyết định này diễn ra khi những người am hiểu quá trình đàm phán nhất như ông Phan Văn Khải, Trương Đình Tuyển (ủy viên Trung ương thường được mời dự), Nguyễn Mạnh Cầm đều đang ở Auckland. Ông Đỗ Mười chỉ tay hỏi: “Các anh đã đọc chưa mà biểu quyết? Các anh biểu quyết bán nước à?”.

Đúng như ông Đỗ Mười nói, trong Bộ Chính trị rất ít người đọc và gần như không có ai đọc kỹ như ông. Ông Nguyễn Đức Bình buông một câu: “Toàn cầu hóa chỉ đem lại đói nghèo”. Trong khi ông Nguyễn Phú Trọng lưu ý về “diễn biến hòa bình”. Tuy không có được vai vế như Đào Duy Tùng nhưng từ khóa VIII, ông Nguyễn Đức Bình trở thành “nhà lý luận hàng đầu của Đảng”. Theo ông Nguyễn Đình Lương, trong suốt quá trình đàm phán, mỗi khi xin ý kiến Bộ Chính trị, ông Nguyễn Đức Bình lại nói: “Chúng ta không chống toàn cầu hóa nhưng chỉ tham gia phong trào toàn cầu hóa do vô sản lãnh đạo chứ không nên tham gia toàn cầu hóa do giai cấp tư sản lãnh đạo hiện nay”.

Cũng theo ông Nguyễn Đình Lương: “Chúng tôi rất khó để biết ý kiến thật sự của ông Lê Đức Anh. Không chống BTA nhưng ông Lê Đức Anh nói: nên ký Hiệp định Biên giới với Trung Quốc trước khi ký Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ. Trong khi đó, nhiều ủy viên Bộ Chính trị nhận được những ‘thông tin mật’ từ Tổng cục II: Trung Quốc phản ứng rất xấu nếu ký hiệp định thương mại”519. Theo ông Phan Văn Khải, khi ông Đỗ Mười đặt lại vấn đề về BTA, ông Lê Đức Anh đã đồng ý với ông Mười là chưa ký. Tại Auckland, theo ông Phan Văn Khải, ông và Bill Clinton vẫn gặp nhau. Clinton biết rõ nội tình Việt Nam nên cả hai đều không nhắc tới BTA.

Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm nói: “Tôi tiếc đứt ruột. Năm 1999, Bill Clinton muốn ký trước mặt các nhà lãnh đạo đủ cả phương Tây lẫn phương Đông. Khi ấy các tập đoàn sản xuất hàng xuất khẩu sang Mỹ chỉ chờ có hiệp định là nhảy vào Việt Nam. Mình quyết định không ký, mất biết bao nhiêu cơ hội”. Những thỏa thuận đạt được với Mỹ đã giúp Trung Quốc gia nhập WTO vào tháng 11-2001. Thị trường 1,2 tỷ dân này đã có một sức hút to lớn đối với các nhà đầu tư. Năm năm sau, năm 2006, Trung Quốc trở thành quốc gia có mức tăng trưởng cao nhất thế giới: 10,7% so với năm 2005.

Theo ông Nguyễn Mạnh Cầm: “Mất thêm một năm đàm phán, phía Mỹ cũng chấp nhận một số đề nghị của ta nhưng đồng thời cũng bắt mình phải chấp nhận thêm những yêu cầu của họ”. Mãi tới ngày 14-7-2000, Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ mới được ký ở Washington, khi nhiệm kỳ của Tổng thống Bill Clinton chỉ còn chưa đầy 6 tháng.

Về tổng thể, theo Thủ tướng Phan Văn Khải: “So với những nội dung định ký năm 1999, Hiệp định Thương mại (BTA) Việt – Mỹ ký năm 2000 không đạt được thêm tiến bộ nào”. Nhưng, về mặt thời gian, thất bại năm 1999 đã đánh mất của Việt Nam hơn hai năm cơ hội. Ngày 4-10-2001, Thượng viện Mỹ mới thông qua BTA và hai tuần sau, ngày 17-10-2001, được Tổng thống G.W.Bush phê chuẩn. Cứ mỗi năm chậm trễ, người dân Việt Nam phải chịu thiệt hại hơn 1,5 tỷ USD.

Admin gửi hôm Thứ Hai, 18/02/2013
 
Bạn đánh giá bài viết này thế nào?

Tống Văn Công – Từ chỗ tối nhất nhìn ra

VoA phỏng vấn BS Phạm Hồng Sơn – ‘Tư tưởng Hồ Chí Minh’ và Dân chủ Việt Nam

Đất nước này là của ai?

Lê Phú Khải – Nước Việt của ai???

GS. Tsuboi Yoshiharu – Góc nhìn khác của một học giả Nhật về tư tưởng Hồ Chí Minh

Cam Ranh trong quan hệ Việt – Mỹ – ĐV/BS

14 Th6
 
Defense – Update mới đây đăng tải một bài viết của tác gải Richard Dudley đánh giá về chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta

>> Quân cảng Cam Ranh, điều ít biết
>> ‘Do thám’ quân cảng Cam Ranh
>> Kỷ niệm 10 năm Nga hoàn trả căn cứ Cam Ranh
>> Khởi công nhà máy tàu quân sự tại Cam Ranh

(ĐVO)

 Nội dung bài viết tập trung chủ yếu vào hy vọng của Mỹ về việc Việt Nam mở cửa cảng Cam Ranh cho các tàu quân sự cũng như những “e ngại” của Việt Nam về vấn đề này. Bài viết có tiêu đề: “Vịnh Cam Ranh là món quà hay cái giá của vũ khí sát thương?”.

Dưới đây là nội dung bài viết.

Chỉ một ngày sau khi bài phát biểu tại Hội nghị an ninh quốc tế Shangri-La ở Singapore, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã có mặt và đứng trên boong tàu USNS Richard E, Byrd (T-KAE-4), một tàu vận tải của Hải quân Mỹ và nhìn ra Vịnh Cam Ranh của Việt Nam. Ông Panetta là lãnh đạo cấp cao đầu tiên của Mỹ thăm cảng Cam Ranh của Việt Nam kể từ sau năm 1975.

Trong chuyến công du Thái Bình Dương trong 8 ngày, ông Panetta đã đến Việt Nam thảo luận với các lãnh đạo ở đây và giải thích kế hoạch củng cố sự hiện diện của Hải quân Mỹ trong khu vực và mở rộng mối quan hệ hợp tác quân sự, ngoại giao với Việt Nam.

Bộ trưởng Panetta thể hiện cam kết của Mỹ trong việc đảm bảo tự do hàng hải thông qua các tuyến đường biển trong khu vực dựa trên luật pháp quốc tế. 

Kế hoạch của chính quyền Obama là tổ chức lại các lực lượng vũ trang ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, gồm những nỗ lực hỗ trợ các quốc gia trong cả hai khu vực này tăng cường khả năng quân sự để đảm bảo khả năng tự bảo vệ mình. Từ trên boog tàu USNS Byrd, Bộ trưởng Quốc phòng Panetta tuyên bố: “Điều này là rất quan trọng mà chúng tôi có thể làm để bảo vệ tự do hàng hải cho tất cả các quốc gia ở Biển Đông và những nơi khác”.

Dù ông Panetta không hề đề cập đến Trung Quốc khi ở Cam Ranh, nhưng chuyến thăm Việt Nam của ông hẳn sẽ là một tín hiệu gửi tới các nhà lãnh đạo Trung Quốc về lợi ích của Mỹ ở Biển Đông.

Việc gia tăng sức manh quân sự và điệu bộ hung hăng của Trung Quốc đã làm dấy lên những mối lo ngại cho cả Mỹ và Việt Nam. Trong đó, Trung quốc đại diện cho mối đe dọa nghiêm trọng.

 

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ thăm cảng Cam Ranh của Việt Nam.

 

Quan hệ giữa Việt – Mỹ đã trải qua một ngã rẽ bất ngờ trong 2 năm qua, trong đó, vẫn còn một số vấn đề nhạy cảm có khả năng chậm tiến triển hợp tác giữa 2 cựu thù.

Theo một số nguồn tin giấu tên, các nhà lãnh đạo Việt Nam dù chào đón sự gia tăng hiện diện của Hải quân Mỹ trên Thái Bình Dương, nhưng cũng luôn “in dấu” bên trong e ngại dai dẳng rằng, Mỹ có thể cố gắng can thiệp vào các vấn đề trong nước hoặc có thể cố gắng định hình các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam theo cách thức không phù hợp với chính sách của Việt Nam. Các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng bắt buộc phải xem xét khả năng cải thiện mối quan hệ Việt – Mỹ quá nhanh có thể dẫn đến một phản ứng không mong muốn từ Trung Quốc.

>> ‘Quan hệ quân sự Việt – Mỹ không đe dọa lợi ích nước khác’

Mỹ và Việt Nam đã đồng ý bình thường hóa quan hệ ngoại giao cách đây 17 năm, và cuối năm 2010, hai nước đã ký Biên bản ghi nhớ (MOU) cam kết hợp tác trong các vấn đề quốc phòng, gồm các hoạt động tìm kiếm nhân đạo, hoạt động cứu hộ và an ninh hàng hải.

Giờ đây, Mỹ tiếp tục mong muốn mở rộng việc hợp tác cần thiết cho các phương tiện thích hợp để tổ chức một sự gia tăng hiện diện quân sự Mỹ chở nên quan trọng hơn.

 

>> ‘Nhu cầu mua sắm vũ khí từ Mỹ không nhiều’

 

>> Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh trả lời phỏng vấn về Cam Ranh
>> Ông Panetta muốn hợp tác quốc phòng Việt – Mỹ có thêm bước tiến

Mỹ sẽ không thiết lập căn cứ thường trực để hỗ trợ bổ sung các lực lượng, do đó không chỉ làm giảm nguy cơ các căn cứ cố định bị tấn công mà còn giảm được sự phản đối của các chính trị gia trong khu vực. 

Hiện nay, các tàu chiến Mỹ chưa có quyền vào Quân cảng Cam Ranh, trong khi các tàu khác của họ đã tận dụng được lợi thế của những điều kiện thuận lợi trong vịnh.

USNS Byrd là một trong những tàu của Hải quân Mỹ với đội ngũ phục vụ chủ yếu là dân sự, đã được Việt Nam cho phép vào Vịnh Cam Ranh và cảng Đà Nẵng. Từ năm 2003, đã có hơn 20 tàu của Hải quân Mỹ thăm các cảng Việt Nam, trong đó phần nhiều là các tàu dân sự.

>> Tàu Hải quân Mỹ bảo dưỡng tại Cam Ranh

Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, Vịnh Cam Ranh được Hải quân Mỹ sử dụng như một cảng nước sâu. Dù ông Panetta không thẳng thắn đề cập tới việc mong muốn được sử dụng cảng, nhưng rõ ràng, chuyến thăm của ông nhằm mục đích chính là thuyết phục giới lãnh đạo Việt Nam mở của vịnh để cho các tàu chiến Mỹ được vào bên trong.

Bộ trưởng Panetta nói rằng, Mỹ hy vọng “làm việc với các đối tác của chúng tôi như Việt Nam để có thể sử dụng bến cảng như thế này khi chúng tôi di chuyển tàu chiến từ các cảng bên bờ biển phía Tây tới các cơ sở trên Thái Bình Dương”. Ông cũng đã đi thẳng vào vấn đề, việc cho phép các tàu chiến Mỹ vào Vịnh Cam Ranh “là chìa khóa quan trọng của mối quan hệ này (với Việt Nam) và chúng ta thấy một tiềm năng to lớn cho tương lai”.

Với việc Việc Nam phát triển Vịnh Cam Ranh thành một cảng thương mại quốc tế, Mỹ hy vọng thuyết phục được các nhà lãnh đạo Việt Nam cho phép quân đội của họ được tiếp cận cảng, và sẽ thúc đẩy lợi nhuận về mặt kinh tế. Trong thời điểm, cảng Cam Ranh của Việt Nam sẽ đóng góp vào thành công trong kế hoạch tăng cường hiện diện của Mỹ trong khu vực.

Trong một cuộc họp báo với Bộ trưởng Panetta, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh kêu gọi Mỹ gỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, Bộ trưởng Thanh nói rằng, việc gỡ bỏ lệnh cấm “sẽ giúp huy động đầy đủ các mối quan hệ giữa hai nước”. Trong khi đó, ông Panetta nói trong chuyến thăm Việt Nam rằng “sẽ làm bất cứ điều gì để có thể tăng cường mối quan hệ quốc phòng giữa hai nước”.

Bộ trưởng Phùng Quang Thanh nói rằng, một khi lệnh cấm bán vũ khí sát thương được gỡ bỏ, Việt Nam muốn mua một số thiết bị quân sự của Mỹ để sửa chữa và tân trang vũ khí mà Việt Nam đã thu được sau cuộc chiến năm 1975.

Bộ trưởng Thanh nói thêm, Việt Nam quan tâm đến việc mua “một số loại vũ khí nhất định phục vụ cho quá trình hiện đại hóa quân đội”. Tuy nhiên, bất kỳ quyết định nào để mua thêm vũ khí sẽ còn tùy thuộc vào nhu cầu riêng và những ràng buộc tài chính.

>> Mỹ muốn đơn giản hoá quy trình chuyển giao công nghệ cho đồng minh châu Á
>> Thủ tướng muốn Mỹ dỡ lệnh cấm vận vũ khí

Phạm Thái (theo Defense – Update)
%d bloggers like this: