Tag Archives: viet nam

Chủ nghĩa phát triển và mũi đột phá cho Việt Nam – Vnn

21 Th9

– Qua những phân tích ở bài trước ta đã thấy tại sao Việt Nam phát triển còn chậm, hiệu suất thấp, và đã thấy những thách thức rất lớn mà hiện nay Việt Nam phải trực diện. Có lẽ rất nhiều người tiếc rằng tiềm năng của Việt Nam rất lớn mà không được phát huy.

>> Những thách thức hiện nay của Việt Nam

Một nước có quy mô dân số và lao động khá đông với cơ cấu thuận lợi (dân số vàng), và lại có sự thống nhất cao về văn hóa, ngôn ngữ trên thế giới không có nhiều. Vị trí địa lý với bờ biển dài nằm giữa vùng phát triển năng động châu Á, tiếp cận dễ dàng với tri thức khoa học và công nghệ là một thuận lợi khác.

Tài nguyên thiên nhiên không quan trọng bằng nguồn nhân lực, nhưng với nông thủy khoáng sản rất đa dạng nếu biết khai thác hợp lý và chế biến, chế tác thành sản phẩm công nghiệp cũng dễ hình thành một nền công nghiệp đa dạng và bền vững.

thi tuyển quan chức, chủ nghĩa phát triển, dân số vàng, cải cách tiền lương, tinh giản bộ máy, doanh nghiệp tư nhân, xuất khẩu lao động, Trần Văn Thọ, góp ý Đại hội Đảng 12, Đại hội Đảng 12, ODA, tốt nghiệp ODA
Phải có cơ chế tuyển chọn người tài ra làm việc nước. Ảnh: 6 ứng viên dự thi tuyển chức Vụ trưởng Vụ Vận tải, Bộ GTVT, tháng 8/2014

Ở đây chưa nói đến lực lượng người Việt Nam ở nước ngoài với rất nhiều chuyên gia về mọi ngành khoa học, công nghệ và quản lý.

Để phát huy tiềm năng và đưa Việt Nam vào kỷ nguyên phát triển nhanh, bền vững, đối phó hữu hiệu với những thách thức hiện nay và tạo cho đất nước một vị thế xứng đáng tên vũ đài quốc tế, những người có trách nhiệm ở Việt Nam phải ưu tiên bắt tay vào những vấn đề gì? 

1. Trước hết lãnh đạo phải nhận thức sâu sắc và bức xúc thật sự trước 3 thách thức mà Việt Nam trực diện hiện nay và đánh giá đúng vị trí của Việt Nam trên vũ đài thế giới. Từ đó đưa ra tầm nhìn về hình ảnh quốc gia trong tương lai.

Phần trên tôi đã phân tích các thách thức. Ở đây nói thêm về vị trí của Việt Nam hiện nay trên vũ đài quốc tế, vị trí về quy mô kinh tế và các mặt về chất như uy tín, hình ảnh, thanh danh.

1a. Về quy mô và trình độ phát triển:

Trên thế giới, hiện nay Việt Nam xếp thứ 14 về quy mô dân số, nhưng GDP thì xếp thứ 57, còn GDP đầu người thì ở vị trí 116. Quy mô của GDP như vậy không thể có một ảnh hưởng nhất định đến kinh tế thế giới. GDP đầu người phản ảnh trình độ phát triển của Việt Nam còn rất thấp tuy vừa được xếp vào nhóm thu nhập trung bình (thấp).

So sánh với các nước chung quanh, quy mô kinh tế Việt Nam mới xấp xỉ bằng phân nửa Malaysia và Thái Lan, mặc dù dân số đông hơn nhiều. Theo dự báo của Ngân hàng phát triển Á châu (ADB), trong những nước có quy mô dân số tương đối lớn tại ASEAN, từ năm 2010 đến 2030 Việt Nam phát triển với tốc độ cao nhất (7%) nhưng đến năm 2030 GDP cũng chỉ bằng nửa Thái Lan và nhỏ hơn Malyasia nhiều. Nếu Việt Nam phát huy hết tiềm năng và phát triển 9-10% trong thời gian từ nay đến 2030 hay 2035 thì vị trí của Việt Nam sẽ khác hẳn.

Dĩ nhiên ở đây không có ý nói phải phát triển với tốc độ cao bằng bất cứ giá nào mà song song phải chú trọng về chất (bảo vệ môi trường, phân bổ nguồn lực hợp lý, tạo nhiều công ăn việc làm, tạo cơ hội tiếp cận bình đẳng đến các nguồn vốn, dần dần chuyển sang giai đoạn tăng trưởng dựa trên cải tiến công nghệ, cải tiến quản lý). Trừ vấn đề bảo vệ môi trường, tất cả những mặt về chất lượng vừa nói không có tính cách kiềm hãm tốc độ phát triển. Đặc biệt chú trọng phát triển có hiệu suất sẽ làm tốc độ phát triển cao hơn với cùng một đơn vị về nguồn lực.

Phát triển nhanh còn là nhu cầu thiết thân để đối phó, tuy đã rất trễ, với thách thức chưa giàu đã già. Tạo các điều kiện để phát triển nhanh, như sẽ nói dưới đây, cũng tránh được nguy cơ sa vào bẫy thu nhập trung bình thấp.     

1b. Xuất khẩu lao động và hình ảnh của Việt Nam trên thế giới:

Lao động xuất khẩu phản ảnh trình độ, vị trí và uy tín của một nước trên vũ đài quốc tế. Một nước xuất khẩu nhiều lao động giản đơn hầu hết, nếu không nói là tất cả, là những nước nghèo, và do đó hình ảnh của những nước này không mấy sáng sủa. Có kế hoạch chấm dứt tình trạng này trong thời gian càng ngắn càng tốt là trách nhiệm của những người lãnh đạo đất nước.

Không kể thời kỳ quan hệ mật thiết với các nước Đông Âu, xuất khẩu lao động của Việt Nam tăng nhanh từ cuối thập niên 1990 và chủ yếu sang các nước Đông Á. Từ năm 2001, bình quân mỗi năm có 7 vạn, gần đây là 9 vạn, lao động được đưa đi ra nước ngoài. Báo chí đã phản ảnh tình trạng khó khăn, nhiều trường hợp rất bi thảm, của người lao động đang làm việc ở nước ngoài.

Hàn Quốc và Thái Lan cũng đã từng xuất khẩu lao động nhưng chỉ trong thời gian rất ngắn và họ đã thành công trong việc chuyển dịch vị trí từ nước xuất sang nước nhập khẩu lao động. Ngược lại, Philippines là nước điển hình tiếp tục xuất khẩu lao động và cũng là nước điển hình trì trệ về kinh tế.

Do tích cực đầu tư sang Việt Nam, hiện nay (cuối năm 2014) số người Hàn Quốc sinh sống tại nước ta lên tới hơn 15 vạn. Ngược lại, tại Hàn Quốc có hơn 12 vạn người VN đang sinh sống, trong đó gần 26.000 người cư ngụ bất hợp pháp. Ngoài vài ngàn người là sinh viên du học, hầu hết người Việt tại Hàn Quốc là lao động giản đơn hoặc phụ nữ kết hôn với người bản xứ mà theo nhiều nguồn tin trong đó một số không nhỏ đi làm dâu xa vì lý do kinh tế.

Như vậy có sự tương phản trong quan hệ Việt Hàn: người Hàn Quốc đến Việt Nam là để làm chủ trong khi người Việt Nam đến Hàn Quốc là để làm thuê. Người Việt làm thuê cả ở xứ mình và xứ người. Trách nhiệm của các nhà lãnh đạo chính trị là sớm chấm dứt một tình trạng liên quan đến thể diện quốc gia này.

1c. Cần nhanh chóng hình thành doanh nghiệp tư nhân mạnh:

Một nước với số dân trên 90 triệu, có nền văn hóa lâu đời, mà lại phụ thuộc nhiều vào tư bản nước ngoài thì không thể hãnh diện với thế giới. Trong thời đại toàn cầu hóa, các nước tùy thuộc vào nhau, ngoại lực giúp các nước đi sau tiến triển nhanh nhưng nội lực (ở đây chủ yếu nói doanh nghiệp trong nước) vẫn quan trọng hơn, và nội lực mạnh mới sử dụng ngoại lực có hiệu quả.

Các nước Đông Á, điển hình là Nhật Bản, Hàn Quốc, chủ nghĩa dân tộc của giới lãnh đạo đã giúp làm cho đội ngũ doanh nhân bản xứ ngày càng mạnh. Trên thực tế, chỉ khi doanh nghiệp bản xứ mạnh lên rồi họ mới kêu gọi đầu tư nước ngoài và FDI được đưa vào từng bước theo đà phát triển của doanh nghiệp trong nước.

Theo tôi, Việt Nam hiện nay phải đặt ưu tiên việc hình thành và nuôi dưỡng doanh nghiệp tư nhân mạnh, có biện pháp cụ thể để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận vốn, đất đai, thông tin và hoạt động trong môi trường kinh doanh thông thoáng, không bị nạn tham nhũng làm thui chột tinh thần doanh nghiệp. Doanh nghiệp quốc doanh sẽ tồn tại trong một số lãnh vực nhất định nhưng phải triệt để hoạt động theo cơ chế thị trường và trên hệ thống quản trị doanh nghiệp (corporate governance) hoàn chỉnh.

1d. Cần có kế hoạch tốt nghiệp ODA:

Ngoài ra nếu không có kế hoạch sớm chấm dứt nhận viện trợ nước ngoài (tức “tốt nghiệp” ODA) thì cũng không cải thiện được hình ảnh Việt Nam trên vũ đài thế giới.

Đồng vốn ODA chưa được xem xét trong tổng thể chung với vốn trong nước. ODA thực sự chỉ cần thiết khi trong nước khả năng tiết kiệm còn hạn chế, không đủ vốn để đầu tư. Nhưng ở Việt Nam, đã có điều tra cho thấy có sự thất thoát lớn trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư công nên phí tổn xây dựng hạ tầng rất cao. Ngoài ra, ngân sách nhà nước chi tiêu cho nhiều dự án không cần thiết, không có hiệu quả kinh tế.

Hiệu quả của đồng vốn ODA phải được xem xét trong tổng thể chung với vốn trong nước. Không thể một mặt lãng phí nguồn lực trong nước và mặt khác lệ thuộc nhiều vào vốn nước ngoài. Một điểm có liên quan đến vấn đề này là báo chí đã cho thấy nhiều lãnh đạo, quan chức ở trung ương và địa phương đang có cuộc sống rất xa hoa, không tương xứng với trình độ phát triển của đất nước, không phù hợp với chính sách tiếp nhận nhiều ODA từ nước ngoài.

 
 

Việt Nam cần đặt ra kế hoạch giảm ODA trong 10 năm tới, tiến tới “tốt nghiệp ODA” trong 15-20 năm tới. Không kể thời kỳ nhận viện trợ từ Liên xô cũ và các nước Đông Âu, Việt Nam cũng đã nhận ODA hơn 20 năm rồi, bây giờ là lúc cần nghĩ đến việc giảm và tốt nghiệp ODA trong một mốc thời gian không quá xa. Có như vậy đồng vốn trong nước và vốn ODA mới được quan tâm sử dụng có hiệu quả. Việc tùy thuộc lâu dài vào ODA phải được xem như là sự thất bại của chiến lược phát triển.

Tôi nghĩ trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là phải đưa ra tầm nhìn, dự phóng về một tương lai 15 hoặc 20 năm tới, trong đó có những cam kết cụ thể về việc đưa đất nước lên hàng thượng đẳng trong đó kinh tế có một vị trí quan trọng, chẳng hạn tương đương với vị trí của quy mô dân số, không còn lao động xuất khẩu, không còn nhận viện trợ và có một đội ngũ tư bản dân tộc vững mạnh. Như vậy mới đáp ứng được kỳ vọng của dân chúng.

Không nên tiếp tục đưa ra những mục tiêu trừu tượng, không thiết thực, hoặc những mục tiêu chung chung… Việt Nam đang cần những người lãnh đạo đề cao chủ nghĩa phát triển, thoát ra những trói buộc vào ý thức hệ lỗi thời, vào những giáo điều mà thực tế đã cho thấy không còn giá trị.

Năm 2015 là năm chẵn kỷ niệm nhiều sự kiện lịch sử. Nhiều người có trách nhiệm sẽ phát biểu về tương lai Việt Nam nhưng sẽ là một thiếu sót lớn nếu không đề cập đến việc thay đổi hình ảnh của Việt Nam trên vũ đài quốc tế về trình độ phát triển, về người lao động xuất khẩu, về sự tùy thuộc tư bản và ODA nước ngoài.

2.  Những cải cách cấp bách để chuẩn bị cho giai đoạn phát triển nhanh:

Để thực hiện mục tiêu dài hạn nói trên, trong vòng 2 hoặc 3 năm tới phải làm cuộc cách mạng về hành chánh mới tạo điều kiện cho các nguồn lực được sử dụng không lãng phí, có hiệu quả, và mới tạo môi trường cho doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh, tránh được bẫy thu nhập trung bình thấp. Cụ thể:

2a. Tinh giản bộ máy nhà nước:

Cần công bố thống kê về số người ăn lương và làm việc trong bộ máy quản lý nhà nước các cấp, kể cả bộ máy của Đảng và các đoàn thể. Đảng tự nhận là người lãnh đạo duy nhất của đất nước thì phải có nghĩa vụ cho dân biết thực trạng của bộ máy. Đảng phải được xem như là một bộ phận trong cả bộ máy nhà nước đang là đối tượng cải cách.

Từ việc nắm vững thực trạng mới đưa ra các lộ trình tinh giản bộ máy để dồn nguồn lực vào lãnh vực khác và để thuận tiện cho việc giải quyết vấn đề tiền lương như sẽ nói dưới đây. Việc cải cách này chắc chắn gặp khó khăn nhưng không thể không thực hiện nếu những người ở vai trò lãnh đạo muốn đất nước phát triển. Vì khó khăn mà lại tối quan trọng nên vấn đề này lớn ngang tầm với một cuộc cách mạng.  

2b. Trách nhiệm, quyền hạn của lãnh đạo, của quan chức nhà nước phải được quy định cụ thể, quy chế đề bạt hay cách chức cũng phải rõ ràng và nhất là phải được đánh giá nghiêm túc định kỳ (chẳng hạn mỗi năm một lần).   

Thực tế ở Việt Nam hiện nay là việc đề bạt không theo những quy định rõ ràng và công khai, sau khi được đề bạt thì được giữ vị trí đó suốt trong thời gian dài, chỉ nghỉ khi hết tuổi. Nhiều bộ trưởng ở đến 2 nhiệm kỳ 10 năm trong khi chẳng có thành tích xứng đáng trong lãnh vực mình phụ trách. Điều này vừa làm mất động lực phấn đấu của chính người đó và mất cơ hội thăng tiến của những người có năng lực hơn.

Một điểm liên quan nữa là nhiều người ở cương vị lãnh đạo bộ ngành (bộ trưởng, thứ trưởng…) lại xen vào công việc ở lãnh vực khác. Điển hình là nhiều người xen vào công việc của giáo sư đại học (hướng dẫn nghiên cứu sinh tiến sĩ hoặc ngồi hội đồng chấm luận án tiến sĩ). Hiện tượng rất phản khoa học này (bộ trưởng, thứ trưởng hoặc quan chức khác không thể có năng lực và thời gian cho công việc nghiên cứu và giáo dục ở đại học) không những gây tác hại cho giáo dục đào tạo mà còn tỏ ra thiếu nghiêm túc trong lãnh vực mình được giao phó. Ở hầu hết các nước khác, hành động như vậy bị phê phán nặng và thường bị cách chức ngay. Vấn đề này nhiều người, trong đó có tôi, đã nêu lên nhiều lần nhưng cho đến nay không có lãnh đạo cao cấp nào đưa ra cam kết chấn chỉnh.

Ngoài ra, như đã nói ở phần so sánh với Trung Quốc, tại Việt Nam, địa phương phát triển hay không không phải là điều kiện để lãnh đạo thăng tiến. Khoảng 10 năm gần đây trong phương châm luân chuyển cán bộ, nhiều cán bộ nguồn được gửi về địa phương để thêm kinh nghiệm thực tế và sau đó được gọi về trung ương giữ các chức vụ tương đương bộ trưởng hay thứ trưởng mà không xem xét người đó đã có thành tích như thế nào ở địa phương mình phụ trách.

2c. Cần làm ngay cuộc cách mạng về tiền lương:

Ở đây không cần bàn thêm về sự tác hại của vấn đề tiền lương hiện nay. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh là lãnh đạo Việt Nam trong vòng 2-3 năm tới phải dứt khoát giải quyết vấn đề này. Nhà nước cần lập một ban nghiên cứu có sự tham gia của những chuyên gia độc lập, được cung cấp các thông tin cần thiết về thành phần ăn lương, về các mục chi tiêu ngân sách v.v… và đưa kết quả nghiên cứu cũng như khuyến nghị cải cách ra công chúng để người dân bàn bạc. Có thể xem xét các hướng giải quyết như sau:

Thứ nhất, đưa vào lương mọi thu nhập ngoài lương của quan chức, của các cấp lãnh đạo; triệt để bãi bỏ các loại phong bì vẫn đang rất phổ biến khi các lãnh đạo, quan chức đi họp, đi dự các lễ lạt.

Thứ hai, bỏ hoặc giảm những hình thức khen thưởng (các loại huân chương, các bằng khen thưởng…) đang phổ biến tràn lan, rất tốn kém. Một cơ quan nhà nước làm việc đúng bổn phận và hoàn thành công việc được giao tại các nước khác là chuyện đương nhiên, không phải khen thưởng. Nếu không làm đủ bổn phận thì bị khiển trách, những người có trách nhiệm bị giáng chức, hoặc bị chuyển sang công việc khác. Ở các nước khác không phải tốn các phí tổn khen thưởng tràn lan như ở Việt Nam.

Thứ ba, cho đến khi việc cải cách tiền lương thực hiện thành công, không cấp ngân sách cho những dự án chưa cần thiết, như việc xây các đài tưởng niệm, các cơ sở hành chính hoành tráng.  Ngay cả các dự án hạ tầng lớn cũng có thể trì hoãn một thời gian để dành ngân sách cho việc cải cách tiền lương.

2d. Tổ chức thi tuyển quan chức:

Trong việc kiện toàn bộ máy hành chính, một vấn đề lớn nữa là phải có cơ chế tuyển chọn người tài ra làm việc nước. Ở các nước khác, quan chức ở trung ương và ở địa phương đều phải qua thi tuyển công khai và công bằng. Nội dung thi tuyển nhằm bảo đảm trình độ văn hóa, sự hiểu biết luật pháp và nghiệp vụ chuyên môn.

Ba yếu tố này hình thành nhân cách và năng lực của quan chức, bảo đảm công việc hành chánh trôi chảy. Vượt qua các kỳ thi tuyển khó khăn làm cho quan chức cảm thấy có sứ mệnh trong việc xây dựng đất nước và hun đúc lòng tự trọng. Cùng với việc giải quyết vấn đề tiền lương nói ở trên, đây là những yếu tố làm cho nạn tham những khó có đất sống.

Nhiều sự kiện gần đây cho thấy trình độ và đạo đức của nhiều quan chức Việt Nam rất có vấn đề, không tương thích với một đất nước có bề dày văn hóa và đang cần phát triển nhanh. Cần chọn một ngày trong năm làm ngày tuyển chọn nhân tài ra làm việc nước để một mặt khích lệ tài năng trẻ nỗ lực học tập, chuẩn bị để có cơ hội tham gia việc nước, và mặt khác, dần dần hình thành một đội ngũ quan chức đảm trách được quá trình phát triển nhanh và bền vững trong thời gian tới.

Đề cao chủ nghĩa phát triển  

Để vượt qua những thách thức hiện nay và để Việt Nam có một vị trí xứng đáng trên vũ đài thế giới, người  lãnh đạo phải có tinh thần yêu nước, có sứ mệnh và quyết tâm xây dựng dựng Việt Nam thành một quốc gia thượng đẳng. Nên chấm dứt những khẩu hiệu hay phương châm không đi vào lòng dân, thay vào đó đề cao chủ nghĩa phát triển.

Từ tinh thần đó mũi đột phá là cải cách bộ máy hành chính, cải cách việc tuyển chọn, đề bạt và đánh giá năng lực quan chức. Không giải quyết mũi đột phá này thì không thể thực hiện thành công các chiến lược, chính sách phát triển lâu dài.

GS Trần Văn Thọ(Đại học Waseda, Nhật Bản)

VN xử lý thế nào với ‘tam giác’ Mỹ-Nga-Trung? – TVN

28 Th8

“Bây giờ ta phải xử lý quan hệ với Mỹ và Trung Quốc khi hai nước này đang cạnh tranh chiến lược gay gắt ở châu Á-Thái Bình Dương. Ta phải phát huy các đòn bẩy chính trị, an ninh, ngoại giao sao cho tối ưu hóa lợi ích quốc gia…. Vẫn cần thúc đẩy để Nga phát huy vai trò tích cực ở Đông Nam Á và với ASEAN, hạn chế việc Trung Quốc lôi kéo Nga ủng hộ các việc làm ở Biển Đông”.

LTS: Nhân kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng 8, Quốc khánh 2/9 và cũng là bảy thập kỷ ngoại giao Việt Nam, Tuần Việt Nam phỏng vấn Đại sứ Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường, hiện là Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Phát triển Quốc tế xung quanh những vấn đề ngoại giao của Việt Nam. Xin giới thiệu phần 2 bài viết. 

>> Xem lại Bài 1: Bài học từ việc Việt Nam ‘chọn bạn’ cực đoan

Ngoại giao, Cách mạng tháng 8, Quốc khánh, Nguyễn Ngọc Trường, Biển Đông, Mỹ, Nga, Trung Quốc, ASEAN
Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trường

Từ “ý thức hệ” chuyến sang “lợi ích”

Trong bối cảnh bị bao vấy cấm vận những năm 1980-90, đường lối ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam được hình thành và triển khai như thế nào?

Những chủ trương lớn về đối ngoại thời kỳ đổi mới của Việt Nam bắt đầu hình thành từ Đại hội VI (1986), và Nghị quyết 13 (1988) của Bộ Chính trị là cơ sở để phát triển và nâng cao đường lối đối ngoại của ta thành đường lối độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ như ngày nay.

Trên cơ sở những thành tựu đổi mới, Đại hội VII của Đảng (1991) đã tiến thêm một bước là “Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”.

Sự hoàn thiện đường lối ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa thể hiện trong nghị quyết của Đại hội X (2006). Vừa rồi với việc ta ký kết FTA với EU và căn bản hoàn thành thương lượng TPP với Mỹ, chủ trương đối ngoại đã vượt lên một tầm cao mới.

Từ sau năm 1990, Việt Nam trong chính sách ngoại giao mới đã bắt đầu chơi với các đối thủ hoặc cựu thù như ASEAN và Mỹ. Việt Nam cũng bình thường hóa quan hệ với nước vừa là bạn vừa là kẻ thù với mình là Trung Quốc. Tức là ngoại giao Việt Nam dường như đã thoát khỏi ý thức hệ. Ông có thể giải thích cụ thế hơn về thay đổi này được không?

Gia nhập ASEAN, là thành viên tích cực của đại gia đình Đông Nam Á, là một bước tiến vượt bậc của ngoại giao Việt Nam thời kỳ hiện đại. Nó mở ra một trang mới để Việt Nam thiết kế một nền hòa bình ổn định và tăng tư thế Việt Nam trên trường quốc tế và trong quan hệ với các nước lớn.

Lord Palmerston, Thủ tướng nước Anh cuối thế kỷ 19, từng nói: Không có đồng minh vĩnh viễn, không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có những lợi ích vĩnh viễn. Năm 1986, ông Goocbachev phát biểu tại Nghị viện Anh, nhắc lại câu nói đó. Lúc đó tôi làm nghiên cứu sinh ở Liên Xô, rất ngạc nhiên, và thực tế cho thấy, chính sách đối ngoại của Liên Xô đã bắt đầu quá trình phi ý thức hệ.

Nước nào cũng lấy lợi ích quốc gia làm trọng. Nhưng nhiều khi các nước lớn dùng ý thức hệ như một thủ đoạn chính trị và ngọn cờ tập hợp lực lượng mà thôi.

Ngoại giao ta theo phương châm ngoại giao Hồ Chí Minh “Làm bạn với các nước dân chủ, không gây thù oán với một ai”.

Giai đoạn đặc thù

Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam vừa có hòa bình, nhưng vừa có nguy cơ xung đột ở biển đảo. Ngoại giao Việt Nam phải làm những gì?

Đây là một giai đoạn tương đối đặc thù. Phải nói rằng vấn đề Biển Đông không phải là toàn bộ chính sách đối ngoại của Việt Nam, mà là một phần quan trọng liên quan đến việc giữ vững và bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tính theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, cũng như Luật Biển của Việt Nam, nước ta có 1 triệu km2, và Việt Nam phải thâm canh trên từng km2 ấy, vì vậy phải bảo vệ chủ quyền và quyền lợi biển của mình trên Biển Đông.

Trong quan hệ với Trung Quốc, phương châm của ta là vừa hợp tác, vừa đấu tranh. Biển Đông là câu chuyện lâu dài. Ta cần xử lý nó một cách bình tĩnh, kiên trì và có nguyên tắc. Không để đối phương dùng vấn đề Biển Đông làm rối loạn chiến lược phát triển và bàn cờ ngoại giao của ta.

Trong chuyện Biển Đông liệu Việt Nam có thể huy động sự ủng hộ của quốc tế giống như trong kháng chiến chống Mỹ được không?

Vấn đề Biển Đông đã quốc tế hóa. Đây là vấn đề vừa liên quan đến các bên trong khu vực Biển Đông, vừa liên quan đến các nước ngoài khu vực. Vừa là vấn đề đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của nước ta, vừa liên quan đến tự do hàng hải, an ninh và an toàn các con đường biển quốc tế. Vừa liên quan chủ quyền quốc gia của các nước như Việt Nam, Philippines, Malaysia, vừa liên quan đến luật pháp quốc tế, trước hết là Công ước Luật biển 1982.

Cơ sở để tập hợp lực lượng quốc tế, tranh thủ dư luận quốc tế hiện nay là nêu cao ngọn cờ tôn trọng luật pháp quốc tế. Mâu thuẫn chủ yếu hiện nay trong vấn đề Biển Đông là giữa một bên là Trung Quốc muốn độc chiếm Biển Đông với các bên khác giữ nguyên trạng và ổn định tình hình Biển Đông. Mỹ và Nhật Bản hiện tại đã xác định tự do hàng hải, an ninh và an toàn của các con đường biển ngang qua Biển Đông thuộc “lợi ích quốc gia” của các nước này.

Liên minh châu Âu (EU) chẳng hạn, họ ủng hộ việc giải quyết vấn đề Biển Đông về mặt nguyên tắc, tức là bảo đảm tự do hàng hải và tôn trọng luật pháp quốc tế, giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình… Đối với Nhật Bản, Hoa Đông và Biển Đông liên quan đến nhau, vì qua Biển Đông có con đường hàng hải đến Hoa Đông tới Nhật Bản. Còn đối với Mỹ, nếu để Trung Quốc kiểm soát Biển Đông thì Mỹ sẽ bị đẩy ra khỏi Biển Đông và Tây Thái Bình Dương.

Ngoại giao, Cách mạng tháng 8, Quốc khánh, Nguyễn Ngọc Trường, Biển Đông, Mỹ, Nga, Trung Quốc, ASEAN
“Vấn đề Biển Đông đã quốc tế hóa. Đây là vấn đề vừa liên quan đến các bên trong khu vực Biển Đông, vừa liên quan đến các nước ngoài khu vực”. Ảnh: Lê Anh Dũng

Câu chuyện Nga, Trung và Mỹ trước những năm 1990 và bây giờ khác nhau như thế nào đối với Việt Nam?

 

Trước đây khi còn Liên Xô, nước Mỹ nghiêng về phía Trung Quốc, chơi con bài Trung Quốc để chống chọi với Liên Xô. Trung Quốc cũng dùng Mỹ để đối trọng và kiềm chế Liên Xô và qua đó tranh thủ sự hỗ trợ của phương Tây triển khai bốn hiện đại hóa. Nhật Bản đổ nhiều tiền của ODA vào Trung Quốc. Từ năm 1972 đến 1975 thì “tam giác” này có liên quan trực tiếp Việt Nam.

Sau này chỉ liên quan gián tiếp. Khi Liên Xô tan rã vào cuối năm 1991, nước Nga không còn đóng vai trò đáng kể cả. Cuộc chơi hiện nay là cuộc chơi giữa Mỹ và Trung Quốc, Nga đóng vai trò là đối tác chiến lược với Trung Quốc.

Trong giai đoạn cuối của cuộc chiến tranh Việt Nam, có thể nói Mỹ – Trung – Nga, nhưng bây giờ chỉ có thể nói Mỹ – Trung, và nếu cần có thể thêm Nhật Bản nữa.

Đối với Việt Nam, Nga không có quyền lợi sát sườn ở khu vực này. Và sự quan tâm của Nga với khu vực này cũng yếu đi.

Bây giờ ta phải xử lý quan hệ với Mỹ và Trung Quốc khi hai nước này đang cạnh tranh chiến lược gay gắt ở châu Á-Thái Bình Dương. Ta phải phát huy các đòn bẩy chính trị, an ninh, ngoại giao sao cho tối ưu hóa lợi ích quốc gia. Nga vẫn là đối tác chiến lược của ta về kinh tế; vẫn cần thúc đẩy để Nga phát huy vai trò tích cực ở Đông Nam Á và với ASEAN, hạn chế việc Trung Quốc lôi kéo Nga ủng hộ các việc làm ở Biển Đông dù dưới hình thức cùng Trung Quốc kiềm chế Mỹ ở khu vực này.

“Dĩ bất biến ứng vạn biến”

Trong ngoại giao người ta hay nhắc đến câu nói của Hồ Chí Minh dặn dò cụ Huỳnh Thúc Kháng trước khi sang Pháp là “dĩ bất biến ứng vạn biến”. Nguyên tắc đó còn có giá trị trong ngoại giao hiện nay nữa  hay không?

Câu nói đó là một phương châm xử thế thuộc triết lý phương Đông, các nhà Nho học Việt Nam rất hiểu điều này. Ở thời điểm Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp năm 1946, để cụ Huỳnh Thúc Kháng làm quyền Chủ tịch nước, tính bất biến là giữ vững độc lập dân tộc và chính quyền cách mạng – đó là nguyên tắc tối cao, từ đó mà linh hoạt về sách lược, thiên biến vạn hóa trong xử lý các mối quan hệ đối ngoại.

Ngày nay nó vẫn là một trong các phương châm xử thế quan trọng đối với hoạt động đối ngoại nhưng với các nội hàm mới.   

Ai là người có ảnh hưởng lớn nhất đến ngoại giao Việt Nam?

Hồ Chí Minh! Ngoại giao Việt Nam trong 70 năm qua là ngoại giao trong thời đại Hồ Chí Minh.

Bên cạnh, ngoại giao hiện đại của Việt Nam còn có rất nhiều nhân vật xuất sắc: Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Xuân Thủy, Nguyễn Cơ Thạch, Nguyễn Thị Bình và một số vị khác.

Một nhà ngoại giao có tài mà tôi đặc biệt muốn nhắc tới là ông Nguyễn Cơ Thạch. Ông có đóng góp nổi bật trên hai lĩnh vực: Thúc đẩy nghiên cứu chiến lược và xây dựng ngành ngoại giao.

Ông nghĩ gì về ngoại giao Việt Nam giai đoạn tiếp theo? Điều gì đáng lưu ý nhất?

Tôi thấy có ba điểm đáng lưu ý:

Một là, ngoại giao của nước ta đang vận hành thuận theo xu hướng thời đại và phù hợp với lợi ích quốc gia. Nền ngoại giao Việt Nam đã trưởng thành, phát triển toàn diện, chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa. Nhiều nhà quan sát ngoại giao đều thừa nhận và khâm phục bản lĩnh của ngoại giao Việt Nam.

Hai là, các nhà ngoại giao ta hiên nay được đào tạo tốt, mạnh về chuyên môn, nhưng còn yếu về tư duy chiến lược.  Một nhà ngoại giao giỏi là có trình độ chuyên môn cao, thành thạo về nghiệp vụ, nhưng còn cần có tư duy chiến lược.

Ba là, nước Việt Nam ta có vị trí địa-chiến lược rất độc đáo, vì vậy mà 70 năm qua, đất nước ta chịu nhiều chiến tranh, xung đột và cọ xát chiến lược giữa các nước lớn.

Nếu nói ngắn gọn về một nhu cầu bức thiết nhất của ngoại giao Việt Nam giai đoạn tới, thì gọn mấy chữ: nâng cao năng lực nghiên cứu chiến lược và dự báo chiến lược!

Xin cám ơn ông.

Hoàng Ngọc

VN bất đắc dĩ làm ‘nghĩa vụ quốc tế’ vì… lạc hậu – TVN

11 Th8

VN bất đắc dĩ làm ‘nghĩa vụ quốc tế’ vì… lạc hậu

Nông dân và nền nông nghiệp của chúng ta phải bất đắc dĩ làm “nghĩa vụ quốc tế về an ninh lương thực” do sự khiếm khuyết của thể chế quản lý và lạc hậu về công nghệ trong thời đại toàn cầu hóa.

Xem lại Kỳ 1:‘Cột thu lôi’ giữ Việt Nam ổn định

LTS: Kỳ 1 Tọa đàm đã chỉ ra vai trò tiên phong của nông nghiệp trong Đổi mới, cũng như những thành tựu đạt được. Trong Kỳ 2, các chuyên gia sẽ chỉ ra những thách thức mà nền nông nghiệp và người nông dân của chúng ta phải đối mặt.

Hai khách mời của Tọa đàm bao gồm:

– TS. Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và chiến lược phát triển NN – NT, chuyên gia chính sách NN.

– PGS.TS Vũ Trọng Khải, nguyên Hiệu trưởng trường đào tạo cán bộ quản lý NN – NT, chuyên gia NN.

Có “cởi trói”, chưa có “thúc đẩy”

Nhà báo Duy Chiến:Nông nghiệp là trụ đỡ cho sự ổn định xã hội, giúp VN trụ vững qua các cuộc khủng hoảng nhưng hiện chúng ta đang phải đối diện với thách thức chưa xử lý được. Hàng năm điệp khúc “được mùa mất giá” hành hạ người nông dân, dai dẳng đeo bám từ đồng ruộng cho tới nghị trường. Theo các ông, vì sao SXNN của ta lại rơi vào vòng xoáy lẩn quẩn đó?

Nông nghiệp, nông dân, xuất khẩu, được mùa rớt giá, nông sản, lúa gạo, Đổi mới, Đặng Kim Sơn, Vũ Trọng Khải
TS Đặng Kim Sơn. Ảnh: Tuổi trẻ

TS. Đặng Kim Sơn: Những chuyện dưa hấu, vải, gạo và nhiều thứ nông sản khác không bán được đã thành chuyện thường xuyên. Nông sản của chúng ta làm ra rất tốt, nhưng chỉ tốt về số lượng, nên khó có khả năng cạnh tranh và khó mở ra thị trường mới.

SXNN của ta đang rơi vào cái vòng quẩn quanh như thế này. Sản xuất càng tăng thì giá càng giảm vì cung vượt cầu. Nông sản nào cũng vậy, không phải chuyển từ cây nọ sang cây, con nọ sang con kia là thoát được. Sản xuất của ta thừa không phải vì thị trường không cần mà tại cái thị trường mới cần thì ta không có. Còn những thị trường phù hợp với nông sản của ta thì ta đã vào 30 năm nay rồi.

Đó là chưa kể hiện nay đã xuất hiện thêm nhiều nước xuất khẩu nông sản như Campuchia, Myanmar, Pakistan… Họ đang đi vào thị trường truyền thống của ta và cạnh tranh với ta quyết liệt.

Giờ muốn chuyển sang thị trường mới thì cần có lực. Câu chuyện đặt ra lúc này là “Đã đến lúc phải chuyển sang một một nền nông nghiệp khác” mà chúng ta đang gọi là “tái cơ cấu SXNN”.

Nông nghiệp, nông dân, xuất khẩu, được mùa rớt giá, nông sản, lúa gạo, Đổi mới, Đặng Kim Sơn, Vũ Trọng Khải
PGS.TS Vũ Trọng Khải. Ảnh: Duy Chiến

PGS.TS Vũ Trọng Khải: Chúng ta đang phải chứng kiến, đối diện với thực trạng nông nghiệp đang vào đà suy thoái. Sản xuất không đủ sống, nông dân bỏ ruộng, ra thành phố làm bất cứ việc gì, thậm chí không cần kỹ năng mà chỉ cần cơ bắp vẫn có thu nhập cao hơn làm nông. Tuy nhiên, đời sống của người nông dân mưu sinh ở các đô thị, khu công nghiệp lại rất bấp bênh, mức sống nghèo khổ.

Ở nước ta, dân số sống bằng nghề nông chiếm 70% dân số cả nước. 57% lực lượng lao động xã hội làm việc trong ngành nông nghiệp, nhưng chỉ tạo ra chưa đầy 20% GDP. Do đó, họ cũng chỉ được hưởng lợi trong khuôn khổ con số đó. GDP bình quân đầu người ở khu vực nông thôn chỉ 200 USD so với bình quân cả nước là 1.600 USD/người.

Theo kết quả điều tra của Viện Chiến lược và Chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn, thu nhập bình quân của một hộ nông dân với bốn nhân khẩu là 60.000 đồng/ngày, dưới mức nghèo khổ. Có tới 47,4% hộ nông dân không hài lòng với cuộc sống hiện tại; 50% hộ phải vay nợ, trong đó chỉ có 13% hộ được vay ngân hàng. Còn lại 87% phải vay nặng lãi của tư nhân. Mức tiết kiệm hàng năm chỉ đạt 5–8 triệu đồng/hộ. Trong đó 80% tiết kiệm dùng để phòng ngừa rủi ro.

Như thế, cái vòng luẩn quẩn cứ tiếp diễn, lặp đi lặp lại. Năng suất thấp thì thu nhập thấp, thu nhập thấp thì tiết kiệm ít, tiết kiệm ít thì đầu tư nhỏ, đầu tư nhỏ thì năng suất thấp…

Như vậy, những thành tựu của nông nghiệp, vai trò to lớn của nông nghiệp như là “trụ đỡ”, trở thành bức bình phong che khuất những nỗi cơ cực của nông dân. Họ đã phải hi sinh quá nhiều.

Theo tôi, Đổi mới nông nghiệp thực ra là sự “cởi trói” đã giúp cho tiềm năng sẵn có phát huy. Giống như chiếc lò xo bị nén chặt, giờ thả ra thì nó bung lên và cũng chỉ bung hết cỡ để trở về trạng thái ban đầu vốn có của nó chứ không thể hơn được nữa. Nói cách khác, sự “cởi trói” thay đổi thể chế kinh tế của Chỉ thị 100 và Nghị quyết 10 sau một thời gian đã “hết thiêng”, vì không thể tạo ra khả năng phát triển về chất.

Đi sâu vào bên trong, có thể thấy chúng ta có chính sách “cởi trói” nhưng chưa có chính sách thực sự “thúc đẩy”. Chính sách “thúc đẩy” hoàn toàn khác với “cởi trói”. Nó có vai trò đưa sự phát triển lên tầm mới, nâng cao chất lượng, tăng tính cạnh tranh, đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

Vì vậy, chính sách “thúc đẩy” phải được hoạch định có căn cứ khoa học và thực tiễn, đòi hỏi nhà hoạch định chính sách không chỉ có lương tâm và lòng dũng cảm, điều quan trọng hơn là phải có trí tuệ. Thực tiễn luôn thay đổi và phát triển, chính sách cũng phải thay đổi để thích ứng. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, họ phải hiểu các quy định của WTO và thông lệ quốc tế. Sau nữa là năng lực thực thi chính sách của bộ máy công quyền và đội ngũ công chức.

Mặt khác, lương tâm và lòng dũng cảm của nhà hoạch định chính sách thể hiện ở chỗ không bị các nhóm lợi ích cục bộ vận động hành lang chi phối, dẫn đến việc hy sinh lợi ích nông dân.

Thực trạng hoạch định và thực thi chính sách của chúng ta thời gian qua so với yêu cầu nói trên đang yếu và thiếu, mang nặng tính xử lý tình huống và bị động.

Thiếu nông dân sản xuất lớn

Nhà báo Duy Chiến: Thưa PGS.TS Vũ Trọng Khải, ông đã có những công trình nghiên cứu về phát triển nông nghiệp và nông thôn. Nếu nói một cách ngắn gọn, ông có thể nêu cái thiếu nhất hiện nay của nền nông nghiệp nước ta?

PGS.TS Vũ Trọng Khải: Với quy mô sản xuất nhỏ như hiện nay, bình quân mỗi hộ gia đình chỉ 0,8 ha, kỹ thuật canh tác, nền nông nghiệp với các yếu tố cấu thành như vậy, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, công nghệ và trang thiết bị sản xuất ở đầu vào đầu ra đều lạc hậu. Nghề nông vẫn là nghề “cha truyền con nối”, “lão nông tri điền”. Chế biến và buôn bán vẫn như xưa, không liên kết với sản xuất theo chuỗi giá trị ngành hàng. Nền kinh tế nói chung và nền nông nghiệp nói riêng đang tham gia chuỗi giá trị toàn cầu trong thế yếu.

Do vậy, giá trị gia tăng thấp, càng hội nhập sâu vào thị trường toàn cầu, nền nông nghiệp càng mang lại hậu quả xấu về KT-XH và môi trường, nông dân đã nghèo lại càng nghèo. Vô tình, Việt Nam chúng ta, trước hết là nông dân đang “bù lỗ” cả về giá và “phí môi trường” cho người dân các nước nhập khẩu gạo và nông sản của Việt Nam. Điều này khiến cho càng xuất khẩu gạo càng nghèo, môi trường càng ô nhiễm, tài nguyên càng cạn kiệt. Nông dân và nền nông nghiệp của chúng ta phải bất đắc dĩ làm “nghĩa vụ quốc tế về an ninh lương thực” do sự khiếm khuyết của thể chế quản lý và lạc hậu về công nghệ trong thời đại toàn cầu hóa.

Vì sao chúng ta rơi vào tình thế này? Có nhiều nguyên nhân. Về tầm vĩ mô, sau thời gian gia nhập WTO, chúng ta không tận dụng được lợi thế của hội nhập thế giới. Trái lại, còn bị tác động tiêu cực của toàn cầu hóa.

Ở tầm vi mô, nguyên nhân quan trọng, là “nguyên nhân của mọi nguyên nhân” là chúng ta đang thiếu những “nông dân lớn” và quản trị nông nghiệp một cách chuyên nghiệp. Nói cách khác, thể chế của chúng ta chưa hình thành nên đội ngũ nông dân chuyên nghiệp sản xuất lớn. 

Cứ hình dung như thế này sẽ thấy rõ. Anh nông dân với 5–7 công đất thì anh ta không cần hợp tác, không thể gắn kết với DN để tham gia chuỗi ngành hàng “từ đồng ruộng, trang trại đến bàn ăn”. Vì quá nhỏ bé, anh nông dân này không cần đến tín hiệu thị trường mà chỉ nghe lời thương lái. Quan trọng hơn, quy mô 5–7 công đất thì không thể ứng dụng tốt nhiều tiến bộ KHKT vào sản xuất.

Nông nghiệp, nông dân, xuất khẩu, được mùa rớt giá, nông sản, lúa gạo, Đổi mới, Đặng Kim Sơn, Vũ Trọng Khải
Một cánh đồng mẫu lớn tại Đồng Tháp. Ảnh: Văn Trị

Nhà báo Duy Chiến: Như các ông vừa nêu, càng làm càng lỗ, càng xuất khẩu gạo chúng ta càng thiệt hại. Vậy tại sao chúng ta vẫn tiếp tục sản xuất gạo, vẫn tiếp tục xuất khẩu gạo hàng năm 6–7 triệu tấn?

TS. Đặng Kim Sơn: Đầu tiên phải thấy thế này, bản thân sản xuất gạo là một lợi thế quan trọng của VN. Đặc biệt là ở ĐBSCL, có những tỉnh đầu nguồn như An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ… có lợi thế sản xuất gạo khó đâu sánh bằng. Vựa lúa lớn ĐBSCL không phải của VN mà còn là vựa lúa lớn của thế giới. Hiếm có nơi nào có lợi thế cạnh tranh về gạo tốt như ở ĐBSCL.Trong tương lai khi biến đổi khí hậu ngày một khốc liệt hơn thì vựa lúa ĐBSCL càng quý giá hơn.

Tuy nhiên, xét về hiệu quả kinh tế thì chúng ta cần phải tính toán lại. Lâu nay chúng ta chưa tính đến giá của môi trường. Lúa nước là loại cây rất tốn đất, tốn nước. Lúa còn là một trong những loại cây tạo ra chất thải carbon lớn. Nếu tính tất cả những thứ đó quy thành tiền thì sản xuất lúa nước không đem lại lợi nhuận cao. Thật sự ở các nước khác, chính phủ họ trợ cấp rất nhiều cho cây lúa nước, bởi đây được coi là cây chính trị hơn là cây kinh tế. Muốn ổn định XH, tạo ra việc làm cho người sản xuất và đảm bảo an ninh lương thực cho người nghèo thì trồng lúa chứ ít ai làm giàu từ cây lúa. Kể cả ở Thái Lan và Mỹ, hai nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.

 

Một trong những lý do vì sao chúng ta vẫn tiếp tục duy trì sản xuất lúa lớn như vậy là bởi chúng ta có truyền thống sản xuất lúa, một nền văn minh lúa nước lâu đời nhất thế giới. Nhân dân ta làm lúa nước từ bao đời nay, thật sự không dễ gì chuyển đổi sang cây trồng khác một sớm một chiều. Ngay như đồng ruộng bậc thang của đồng bào miền núi, muốn chuyển qua cây trồng khác, câu hỏi đặt ra là trồng cây gì? Tiêu thụ ra sao? Trồng lúa nương còn đem về miền xuôi bán được, chậm bán thì cứ để trong kho. Giờ trồng cây gì để có đặc tính như thế?

Ở Đồng bằng sông Hồng và ĐBSCL giờ chuyển qua trồng ngô (bắp) quy mô lớn thì nước ta không có lợi thế về ngô, sẽ không dễ gì cạnh tranh với ngô của các nước khác. Và điều đầu tiên là toàn bộ hệ thống cơ giới hóa tưới tiêu thủy lợi… sẽ phải thay đổi lại từ đầu. Trồng lúa ở ĐBSCL là cơ giới hóa 100%, giờ với cây ngô phải thay đổi toàn bộ. Đó là chưa nói đến kho tàng, bảo quản, thị trường.

Bài toán trồng cây gì cho có hiệu quả là quá trình phải có thời gian chuẩn bị giống, kỹ thuật đầu vào, thị trường, kho tàng, chế biến phục vụ đầu ra.

PGS.TS Vũ Trọng Khải: Nếu không làm lúa thì trồng cái gì khác đây ở những vùng như ĐBSCL là bài toán không đơn giản như câu hỏi đặt ra! Nó là cả một hệ thống và phải bắt đầu từ thị trường tới chế biến, và cơ sở hạ tầng khác. Nếu không thì sẽ “tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa” tệ hại hơn.

Với nông dân, làm lúa nếu không bán được hoặc giá rẻ thì còn có cái ăn. Các loại cây trồng khác không có được lợi thế như vậy!

Nông nghiệp, nông dân, xuất khẩu, được mùa rớt giá, nông sản, lúa gạo, Đổi mới, Đặng Kim Sơn, Vũ Trọng Khải
Ruộng bậc thang ở miền Bắc. Ảnh: Đình Tuấn

Văn minh phong bì “đè” văn minh lúa nước 

Nhà báo Duy Chiến: Trở lại vấn đề gây bức xúc hiện nay, đó là tình trạng “hạt thóc gánh 40 khoản phí”, “quả trứng gà gánh 14 khoản phí”… Tại sao lại có chuyện tréo ngoe như vậy? NN& NT tiên phong Đổi mới, phải tự lực cánh sinh, làm nền tảng cho cả nền kinh tế, vai trò lớn như vậy. Nhà nước đã quan tâm “không lấy gì” của nông nghiệp như ông nói, song tại sao lại sinh ra vô số loại “phí”?

TS. Đặng Kim Sơn: Tôi xin khẳng định, nhà nước lớn không hề muốn như vậy. Nhà nước biết rõ rằng, đóng góp của nông dân không thể nào quyết định cho đất nước tăng thêm nguồn thu ngân sách. Mục tiêu Nhà nước quan tâm là ổn định nông thôn, nông dân.

Nhưng vẫn còn những đơn vị của nhà nước, cụ thể là các cơ quan công quyền có cơ chế cồng kềnh, cán bộ hưởng đồng lương thấp, muốn bày ra quyền lực, tạo ra nhiều “cửa ải”, gây khó dễ để được bôi trơn, có tiền… Song song vào đó là thái độ quan liêu, muốn cấm đoán để dễ kiểm soát, để tránh rủi ro cho quản lý bất kể khó khăn của người sản xuất và người kinh doanh.

Vì thế nên mới có chuyện bỏ giấy phép nọ thì đẻ ra giấy phép kia. Bản thân hệ thống tạo ra sức ỳ, bộ máy quan liêu tạo ra sự cản trở cho lợi ích chung của toàn xã hội. Cho nên không chỉ nhà nước lớn mà toàn dân cũng phải đấu tranh chống lại sự quan liêu trì trệ. Bản thân quá trình Đổi mới cũng phải đương đầu với chuyện này. Đột phá về thể chế là đột phá quan trọng nhất của quá trình tái cơ cấu kinh tế.

Đó là chưa kể, trong cơ chế thị trường chưa hoàn chỉnh như ở nước ta, gặp biến động thì các thế lực quốc tế, bên cạnh những cái tốt, cái tử tế thì cũng có rất nhiều cái xấu, quyền lợi của các dân tộc khác, nhóm lợi ích khác nhân dịp đục nước béo cò trộn lẫn vào.

Nhà báo Duy Chiến: Thưa TS. Vũ Trọng Khải, trên các diễn đàn và tham luận, ông đã nhiều lần đề cập đến việc lợi ích của nông dân và nông nghiệp chưa được quan tâm, chưa được đảm bảo mặc dù chính sách, chủ trương là có. Ông có thể chỉ ra những “chứng cứ” này để giúp cho chính sách hoàn thiện hơn?

PGS.TS Vũ Trọng Khải: Luật Đất đai 1993 chỉ hạn chế quy mô diện tích, tức hạn điền với nông dân nhưng không hạn điền với DN. Thời hạn sử dụng đất cho nông dân chỉ 20 năm đất trồng cây hàng năm. Còn DN được sử dụng ổn định 50–70 năm, tùy dự án. Nghĩa là, cùng một hành vi sử dụng đất để SXNN, kinh doanh thì nông dân bị hạn điền 2-3 ha, thời hạn sử dụng 20 năm, còn DN thì không.

Thế nên mới có chuyện ở có tỉnh xây dựng hàng chục sân golf, khu công nghiệp, khu đô thị. Nông dân bị mất đất, giá thu hồi đất nông nghiệp thấp, có khi vài ha ruộng bị thu hồi không mua nổi căn nhà, họ phải tràn ra đô thị bán sức lao động với đồng lương rẻ mạt, gây quá tải cho thành phố và các đô thị.

Theo Luật Đất đai 1993, nông dân chỉ được đền bù giá trị quyền sử dụng đất theo giá Nhà nước khi bị thu đất cho các nhà đầu tư, không có quyền mặc cả giá. Nhưng khi đất vào tay các nhà đầu tư, Nhà nước cần lấy lại để xây dựng cơ sở hạ tầng, hay cho ai khác thuê lại, đều phải thương lượng bình đẳng, “thuận mua vừa bán” theo cơ chế thị trường!

Ở nước ta đã xuất hiện những đại gia ra đời nhờ “trúng” dự án thu hồi đất của nông dân. Còn nông dân, sau khi mất đất, không có nghề nghiệp, họ chỉ làm những việc nặng nhọc, đơn giản ở đô thị, KCN. Ở các thành phố lớn, họ phải chịu giá sinh hoạt điện, nước cao gấp nhiều lần người đô thị vì là dân nhập cư, “không có hộ khẩu”! Khi đến 35–40 tuổi không còn sức khỏe theo yêu cầu của công nghiệp, quay về nông thôn với hai bàn tay trắng.

Phải chăng các nhà đầu tư đã chi phối được chính sách nên lợi ích của nông dân bị hy sinh như thế?

Nông dân bị mất đất, nhất là những vùng “thượng đẳng điền, bờ xôi ruộng mật” để làm các KCN, sân golf, tạo ra xung đột nghiêm trọng, nhà nước vội ban hành lệnh “cấm” theo kiểu hành chính, xử lý theo cơ chế “xin – cho”. Đây là mảnh đất màu mỡ để sinh ra “văn minh phong bì” đè lên văn minh lúa nước.

Còn rất nhiều chuyện tương tự nhức nhối, khó mà kể hết trong khuôn khổ cuộc trao đổi. Vấn đề lớn ở đây tôi muốn nói là, có rất nhiều chính sách cho NNNT và nông dân cần phải được xem lại.

Quan trọng hơn, tôi nghĩ cần phải xem lại cách công nghiệp hóa hiện nay ở VN. Hãy vào những KCN – KCX hiện nay, chúng ta mới thấy vấn đề nổi cộm nhức nhối này.

Nhà báo Duy Chiến: Thưa TS. Vũ Trọng Khải, theo ông, ở đây đã có những bất cập gì?

PGS.TS Vũ Trọng Khải: Ở các nước, người ta đầu tư các KCN ngoài mục đích phát triển kinh tế còn mục tiêu xã hội là thu hút lao động ở nông thôn, giúp nông dân “ly nông bất ly hương”. Còn ở ta, các KCN mọc lên ở các thành phố lớn, chưa có KCN và đô thị nhỏ ở các vùng nông thôn, tức không có KCN – đô thị vệ tinh.

Thứ hai, các KCN ở ta mới chỉ tạo việc làm chứ chưa tạo đời sống, không gắn với khu dân cư, dân sinh. Người lao động từ nông thôn vào các KCN làm việc, sinh sống tạm bợ. Không có nhà trẻ, trường học, bệnh viện. Nếu có con thì phải gởi về quê cho ông bà nuôi day. Như thế thì làm sao họ “an cư lạc nghiệp” được. Ở nơi làm việc, họ sống trong những điều kiện thấp kém.

Vì vậy người nông dân ra đi làm công nhân, nhưng luôn phải chừa lối về bằng cách không dám bán hoặc cho thuê đất nông nghiệp dài hạn. Họ chỉ có thể gửi hoặc cho thuê đất nông nghiệp vài năm để sau khi sức khỏe không cho phép làm việc ở các KCN, họ còn có chốn mà trở về. Họ luôn trong tư thế sẵn sàng “trở về quê” , chia lại công việc vốn đã ít ỏi ở nông thôn.

Mục tiêu rút bớt nhân lực từ nông nhghiệp sang công nghiệp của chúng ta vì thế còn nửa vời, chưa căn cơ. Và cũng vì vậy, nguồn cung đất đai vẫn cứ ở trạng thái nửa vời, nhùng nhằng, cản trở quá trình tích tụ, tập trung đất đai. Ngược lại, càng làm cho đất đai manh mún, đồng ruộng nhỏ bé thêm.

Nông dân là lực lượng chiếm tỷ lệ lớn trong ngành nông nghiệp và dân số nước ta. Họ cần và có thể trở thành lực lượng quan trọng nhất của quá trình phát triển NNNT trong thời kỳ Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước. Nói theo cách chính thống, nông dân phải là chủ thể nhưng nông dân không thể đương nhiên mà trở thành chủ thể của quá trình đó được.

(Còn nữa)

Tuần Việt Nam

Việt Nam – Hoa Kỳ: Nền tảng nào cho cuộc chơi?

2 Th3

Cũng như mọi mối quan hệ khác trên chính trường quốc tế, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ bị chi phối bởi lợi ích các bên.

LTS: Vừa qua, Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ đã trình quốc thư lên Tổng thống Obama đề nghị hai bên tích cực chuẩn bị cho chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Nhân dịp này, Tuần Việt Nam đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Đình Lương, nguyên trưởng đoàn đàm phán Hiệp định Thương mại song phương Việt – Mỹ về những dấu mốc trong quan hệ hai nước suốt 20 năm bình thường hoá quan hệ.

Vì lợi ích chung

Hai  mươi năm qua quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng lẫn chiều sâu, và nay đã thành quan hệ đối tác toàn diện. Riêng ông, ông nhìn nhận thế nào về mối quan hệ đó?

Cũng như mọi mối quan hệ khác trên chính trường quốc tế, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ bị chi phối bởi lợi ích các bên.  Chúng ta hãy điểm qua lịch sử.

TPP, quan hệ Việt-Mỹ, Nguyễn Đình Lương
Ông Nguyễn Đình Lương

Năm 1873, ông Bùi Viện vượt qua sóng gió đại dương Thái Bình Dương sang tận Washington, chờ cả năm trời, gặp cho được Tổng thống Mỹ để  cầu viện chống Pháp. Khi gặp, Tổng thống Mỹ đã hoan nghênh ngay, bởi khi đó Mỹ và Pháp đang đánh nhau ở Mexico. Ngặt nỗi Bùi Viện không mang theo Quốc thư, nên ông đành trở về tay không. Nhưng khi ông Bùi Viện trở lại cùng Quốc thư, Mỹ lại không quan tâm nữa, do chiến tranh Mỹ – Pháp tại Mexico đã kết thúc. Hai nước không còn lợi ích chung. .

Những năm 1945-1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 11 lần gửi thư, gửi điện cho Tổng thống và Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ, đề nghị ủng hộ độc lập của Việt Nam và thiết lập quan hệ toàn diện giữa hai nước, nhưng không một hồi âm. Bởi vì VN không hiện hình trên màn ảnh lợi ích nước Mỹ, hoặc bị hình ảnh lợi ích với các nước lớn khác che khuất, nên Mỹ không quan tâm.

Mãi tới năm 1995 hai nước bình thường hoá quan hệ ngoại giao. Chỉ một năm sau bình thường hoá quan hệ, Hoa Kỳ đã chủ động bắt đầu đàm phán hiệp định thương mại song phương (BTA) và Việt Nam hưởng ứng ngay, vì hai bên đều cần, đều muốn, đều nhìn thấy lợi ích.

Khi đàm phán BTA, Đại sứ Mỹ đầu tiên Peterson đã nói ông hy vọng có BTA, xuất khẩu Việt Nam vào Hoa Kỳ sẽ tăng lên 5-6 tỷ đô la, con số quá lớn đối với Việt Nam lúc đó và chưa ai hình dung được. Ông Đại sứ không dự đoán về mốc thời gian cụ thể.

Nhưng chỉ cần 2 năm thực thi BTA, xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ đã đạt con số đó, và hôm nay, 2014 đã đạt được hơn 18 tỷ USD, gấp hơn 3 lần kỳ vọng của Peterson.

Hoa Kỳ luôn là thị trường xuất khẩu lớn nhất và cũng là thị trường xuất siêu lớn của Việt Nam.

Như vậy trong chuyện xuật khẩu này Việt Nam có lợi, chứ Mỹ nhập siêu từ Việt Nam đâu hẳn đã có lợi được bao nhiêu?

Lợi ích của Việt Nam thì đã rõ, ai cũng thấy.

Nhưng Mỹ cũng có lợi chứ. Người tiêu dùng Mỹ có sự lựa chọn phong phú hơn. Trên thị trường nước Mỹ cũng có thêm một đối thủ cạnh tranh ngày một chắc tay, góp phần tăng sức cạnh tranh chung của nền kinh tế Mỹ. 

Thứ nữa, một chiếc áo sơ mi gia công ở Việt Nam giá thành khoảng 10 USD đến 15 USD, Việt Nam chỉ được 4-5 USD tiền công, bán trên thị trường Mỹ  80 – 100USD. Hay một đôi giày thể thao giá thành sản xuất ở VN trị giá khoảng 10 – 20% giá bán trên thị trường Mỹ.

Tức là hai bên đều có lợi, chưa ai tính được ai lợi nhiều, ai lợi ít, nhưng trong một cuộc chơi, anh nào giỏi hơn, khôn hơn anh đó thắng nhiều hơn.

Lợi ích này càng nhiều, càng tăng, quan hệ kinh tế thương mại càng phát triển.

Ngoài kinh tế – thương mại, Hoa kỳ và Việt Nam còn có nhiều lĩnh vực hợp tác. Lợi ích ở đây được hiểu như thế nào, ví dụ như trong chiến lược địa chính trị?

 

Có lợi thì mới có cuộc chơi.

Trên chính trường thế giới, các cuộc tập hợp lực lượng hiện đang diễn ra sôi động. Những ai có nhu cầu tập hợp lực lượng ở châu Á (và cả trên thế giới) thì không thể bỏ qua Việt Nam vì vị trí địa chính trị của nó. Và Hoa kỳ cũng vậy, chắc chắn Hoa Kỳ không muốn để Việt Nam đứng ngoài cuộc tập hợp của mình, lại càng không muốn để Việt Nam là người cản phá chiến lược đó. Chính vị trí địa chính trị của Việt Nam đang buộc người Mỹ phải từng bước có những cam kết hợp tác ngày càng sâu, trong nhiều lĩnh vực.

Tôi không hình dung ra chiến lược chuyển trục châu Á của Mỹ sẽ như thế nào, nếu không tính tới yếu tố Việt Nam, trong lúc Việt Nam đang chủ trương đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ, và cũng có nhu cầu tập hợp lực lượng, tìm cho mình sự yên ổn để phát triển, trong một thế giới không yên ổn.  

Lợi ích càng tăng, càng nhiều đòi hỏi sự hợp tác càng rộng, càng sâu. Đó cũng là tính tất yếu của các bước phát triển quan hệ Việt Nam – Hoa kỳ trong tương lai.

Khi lợi ích đã nhiều, đã lớn, mỗi bên đều biết kiềm chế, là nhẹ bớt đi sự khác biệt để khai thông cho sự hợp tác. Hoa Kỳ muốn lôi kéo Việt Nam thì phải làm nhẹ đi những đòi hỏi về nhân quyền. Việt Nam muốn chơi với Mỹ thì phải gạt bỏ đi những khác biệt, ví dụ như đang xảy ra trong đàm phán TPP.

Cũng có lúc, những biến động chính trị xã hội trên thế giới hoặc khu vực tác động đến quan hệ các nước. Ví dụ các diễn biến ở biển Đông, dường như đã làm cho Mỹ xích lại gần Việt Nam hơn và đẩy nhanh việc Hoa Kỳ nới lỏng cấm vận vũ khí sát thương.

Trong bài tổng hợp những kết quả cuộc hội thảo “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 20 năm thành công hơn nữa” diễn ra vừa qua tại Hà Nội, ông Viện trưởng Học viện Ngoại giao Đặng Đình Quý, người tổ chức và chủ trì hội thảo, đã đưa ra nhiều nhận định sâu sắc và thú vị. Trong số đó tôi muốn nhắc lại một nhận xét: Lợi ích của Việt Nam và Hoa Kỳ không chỉ trong quan hệ song phương mà cả trong hợp tác giữa hai nước trong những khuôn khổ lớn hơn như ASEAN, AFTA và nhiều tổ chức quốc tế khác…

Ví dụ chiến lược chuyển trục châu Á của Mỹ không thể không tính tới ASEAN. Trong lúc có nước luôn chọc gậy bánh xe thì Hoa Kỳ coi sự đoàn kết thống nhất và sự vững mạnh của ASEAN là nằm trong lợi ích của Hoa Kỳ, và Việt Nam đang là một thành viên tích cực, chân thành mong muốn đóng góp cho sự lớn mạnh, đoàn kết thống nhất trong ASEAN. Vậy sự phối hợp hợp tác của Hoa Kỳ và Việt Nam ở đây là rất cần thiết, rất có ích.

Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) được đánh giá là một bước phát triển mới của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ. Theo ông, Việt Nam và Hoa kỳ đang theo đuổi những lợi ích gì ở đây?

Cuộc đàm phán TPP hay ở chỗ, nó là một là đàm phán cả gói (không tách riêng vấn đề) và đàm phán đa phương, cả một tập thể 12 nước, mà Hoa Kỳ coi như người chủ trì. Cách làm đó sẽ giúp xử lý được một loạt vấn đề không thế giải quyết trong đàm phán song phương.

Những vấn đề nhạy cảm với Việt Nam như quyền lập hội, minh bạch công khai hoạt động của DNNN, công khai và bình đẳng trong mua sắm công, trong tiếp cận các nguồn lực vốn, tài nguyên, thị trường… trước đây khi đàm phán BTA Hoa kỳ đã nêu ra, nhưng Việt Nam kiên quyết không chấp nhận, kỳ này đàm phán tập thể, hầu hết các nước tham gia đàm phán đã chấp nhận rồi. Muốn kết thúc đàm phán thì Việt Nam phải có các phương án lùi và sau đó về phải sửa luật cho khớp với cam kết.

Khó khăn phức tạp như vậy, tại sao Việt Nam vẫn hăng hái tham gia, và dù biết Việt Nam sẽ rất khó nhưng Hoa Kỳ vẫn muốn Việt Nam tham gia?

Trong các nước Đông Nam Á, ngoài Brunei, Singapore và Malaysia tự nguyện tham gia từ đầu, Hoa Kỳ không rủ ai mà chỉ rủ Việt Nam. Có lẽ vì người Mỹ nghĩ rằng Việt Nam chơi với Mỹ còn hơn là không, và ít nhất đừng để Việt Nam bị người khác chi phối hoàn toàn.

Thứ nữa, rủ Việt Nam vào TPP tức là kéo Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào nền kinh tế thị trường sôi động và vô hình trung buộc Việt Nam cắt đi cái đuôi, cắt đi di sản của của nền kinh tế quan liêu bao cấp. Các di sản đó vừa là cho nền kinh tế Việt Nam kém hiệu quả, vừa duy trì một môi trường pháp lý vẩn đục, dung túng tham nhũng, khiến cho nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có các nhà đầu tư Mỹ ngại không dám bỏ vốn kinh doanh trên thị trường Việt Nam.

Và tại sao Việt Nam hăng hái ư? Sức ép kinh tế đang buộc Việt Nam phải hăng hái, nếu không bứt phá lên được thì nền kinh tế Việt Nam cứ bùng nhùng, thua kém và chắc chắn rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Tham gia TPP là một quyết định sáng suốt, là một hành động dũng cảm để tạo bứt phá, để đẩy áp lực đẩy tiếp tiến trình cải cách bên trong.

  • Hoàng Ngọc

Điều gì diễn ra ở VN 20 năm tới?

17 Th2

-Chúng ta đang bung ra với một sức mạnh tiềm ẩn bị đè nén đến mấy chục năm. Và như vậy trong khoảng hai chục năm tới chúng ta cũng sẽ thấy những thay đổi ít ai ngờ.

Tết đến xuân về tưởng như chuyện muôn năm cũ, mà lạ thay vẫn mang đến không ít suy tư, không chỉ về những được – mất trong cuộc đời mà còn về những  biến thiên xã hội. Tết cũng là thời điểm ta nhận ra, ta không thể dửng dưng với xã hội xung quanh, thứ hàng ngày hàng giờ tạo nên một phần cuộc sống của mỗi người.

Với nước ta, quãng thời gian từ khi mở cửa rộng rãi với thế giới đến nay tuy mới chỉ hơn 20 năm nhưng dường như là một thời kỳ lịch sử rất dài. Có lẽ chưa bao giờ, xã hội Việt Nam có cuộc lột xác nhanh chóng như giai đoạn hơn 20 năm vừa qua.

Ám ảnh tôi ngày này, là những hình ảnh quá khứ trong câu chuyện được ông Lê Xuân Trinh, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, kể.

Năm 1991, ông Võ Văn Kiệt được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Khi đó, phần lớn quan chức Chính phủ vẫn còn đến cơ quan bằng …dép lê. Một trong những chỉ thị đầu tiên của ông Võ Văn Kiệt trên cương vị người đứng đầu Chính phủ là yêu cầu công chức đến nhiệm sở phải đi giày hoặc dép có cài quai hậu. Bạn có thấy ngạc nhiên và thú vị?

Việt Nam, Hàn Quốc, lớp trẻ, kinh tế, xã hội, năm mới

Những năm đầu thập kỷ 90 là thời gian đất nước bắt đầu thay đổi mạnh mẽ, khởi đầu với việc tái hội nhập kinh tế quốc tế. Để dễ hình dung, tôi sẽ điểm lại một vài dấu mốc.

Năm 1993 chúng ta bắt đầu tiến trình bình thường hóa quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế. Năm 1994 bắt đầu thành lập các tổng công ty 90, 91, tiền thân của các tập đoàn nhà nước “quả đấm thép” ngày nay. Đến năm 1995 là năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ, ký hiệp định khung về hợp tác với liên minh châu Âu, và cũng là năm Việt Nam chính thức trở thành thành viên của ASEAN. Những sự kiện này và rất nhiều sự kiện khác nữa đã đánh dấu điểm bắt đầu cho sự lột xác của đất nước sau những chuỗi ngày dài khó khăn.

Những thế hệ người Việt các giai đoạn 1950s, 1960s… thế kỷ trước, đã chứng kiến và trải nghiệm một cuộc sống với nhiều biến chuyển khó quên. Từ một xã hội bao cấp, tem phiếu trong đó tài sản mỗi người chẳng có gì ngoài những vật dụng tối thiểu nhất mua theo kiểu phân phối, đến nay ngay ở các thị trấn nhỏ giá nhà đất cũng đã cao không kém đất đai các thành phố nhỏ những nước phát triển.

Việt Nam, Hàn Quốc, lớp trẻ, kinh tế, xã hội, năm mới
Ảnh minh họa: Trần Chánh Nghĩa

Sau bao năm ở nước ngoài, giờ đây, nhớ về Hà Nội, tôi vẫn giữ nguyên ấn tượng những năm 90 thế kỷ trước, mỗi lần ghé thăm người thân ở làng Mễ Trì (phía tây Hà Nội). Nếu có đi về khuya, hai bên đường tối om, hoang vắng, chỉ nghe tiếng ếch kêu, hai bên bờ sông Tô Lịch hồi đó vẫn là vùng cây cối um tùm và bẩn thỉu. Vùng Cổ Nhuế cũng vậy, đất đai rộng rãi, nhà cửa thưa thớt.  Hoặc chỉ cần đi hơi xa khỏi trường ĐH Bách Khoa về phía nam theo đường Giải Phóng là đã thấy phong cảnh làng quê, ao chuôm.

Giờ đây, chính tại những vùng đất ấy, các khu đô thị sầm uất đang mọc lên hàng ngày với đường sá nhà cửa quy mô không kém gì các thành phố lớn của các nước phát triển hàng đầu ở phương tây.

 

Còn rất nhiều thay đổi chóng mặt khác từ vật chất đến tinh thần, cả xấu lẫn tốt, tác động sâu sắc đến từng con người, từng thế hệ người Việt ngày nay. Cuộc sống hiện đại ngồn ngộn sự kiện, báo chí tràn đầy tin tức. Dường như cả xã hội cùng hối hả trong một vũ điệu quay cuồng. Như một lẽ tự nhiên, rất nhiều người cùng chia sẻ một tâm trạng chung: vừa háo hức với những điều mới lạ sẽ đến, lại vừa âu  lo trước những thay đổi khó lường trong tương lai.

Tôi vẫn nhớ một bài báo nước ngoài mô tả xã hội Trung Quốc mấy năm trước. Rằng tất cả như một cái lò xo bị nén đến mấy chục năm bây giờ  khi lực nén ấy đột ngột giảm xuống thì lò xo bật lên rất mạnh. Làm biến đổi bộ mặt xã hội.

Tôi không khỏi liên tưởng đến chính xã hội ta. Với hình ảnh cái lò xo đang bung ra.

Tất cả vẫn đang bung ra với một sức mạnh tiềm ẩn bị đè nén và kìm hãm bao năm. Và như vậy trong khoảng hai chục năm tới chúng ta cũng sẽ thấy những thay đổi ít ai ngờ nổi, giống như cuộc lột xác mấy chục năm vừa qua. Chỉ có điều, nó sẽ đem đến nhiều điều tốt đẹp hơn hay lắm điều không mong muốn?! Cái lò xo đó có đủ mạnh mẽ để vượt qua những chướng ngại vật trên đường đi không, hay sẽ bị chúng làm cho chậm lại.

Những câu hỏi về tương lai như thế này không dễ gì giải đáp, cho dù luôn có hằng hà sa số nghiên cứu công phu về kinh tế-xã hội nhằm tìm cho ra câu trả lời.

Nhiều người thường so sánh Việt Nam và các nước láng giềng trong khu vực có bối cảnh tương đồng để xem bước đi trong 20 năm qua và tiên đoán tương lai. Tuy nhiên, ngay cả khi có những phân tích đáng tin cậy, ta cũng không thể tìm ra câu trả lời xác đáng. Bởi lẽ tồn tại rất nhiều khác biệt về thể chế kinh tế, cơ cấu xã hội. Những khác biệt đó đủ lớn để tạo nên một diện mạo rất khác sau cùng một quãng thời gian, cùng một điểm xuất phát.

Chọn lựa tốt nhất cho mỗi người năm mới là giữ lòng tin và kiên trì để tiếp tục đi trên những con đường đúng đắn, để hướng tới những mục tiêu bền vững của chính mình.

  • Thụy Vũ (từ Mỹ)

——-

Obama: TQ không nên bắt nạt VN hay Philippines – Vnn

2 Th2

 

TQ không nên bắt nạt các nước láng giềng như Việt Nam hay Philippines trong các tranh chấp lãnh hải. Vấn đề này nên được giải quyết dựa trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế – Tổng thống Mỹ Obama khẳng định.

Trả lời câu hỏi của phóng viên CNN sau chuyến công du tới Ấn Độ, Tổng thống Mỹ đã thể hiện sự ngạc nhiên về phản ứng của TQ về chuyến thăm này.

“Tôi thấy ngạc nhiên khi nghe rằng, chính phủ TQ tuyên bố cảm thấy bị đe dọa vì chúng tôi có mối quan hệ tốt với Ấn Độ”, ông nói.

TQ, Mỹ, Ấn Độ, Biển Đông, chủ quyền, Obama, Philippines
Tổng thống Mỹ Obama và Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi. Ảnh: Zeenews

“Tôi tin tưởng rằng vào thời điểm này của lịch sử đang tồn tại cơ hội để tạo ra một môi trường mà các bên đều chiến thắng, trong đó tất cả các quốc gia đang cùng bị ràng buộc với một bộ nguyên tắc và tiêu chuẩn. Chúng tôi tập trung vào việc nâng cao thịnh vượng cho người dân, không bắt người khác phải trả giá mà là cùng nhau phát triển. Đó là những gì diễn ra trong cuộc thảo luận của tôi với Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi”, Tổng thống Mỹ nhấn mạnh. “TQ không cần phải cảm thấy bị đe dọa bởi mối quan hệ tốt đẹp Mỹ – Ấn”.

Ông Obama khẳng định, Mỹ mong muốn chứng kiến sự gia tăng hòa bình của TQ. “Như những gì tôi nói khi bắt đầu nhiệm kỳ của mình là TQ không thể bắt các nước khác trả giá cho sự phát triển của mình. Họ không nên bắt nạt các nước như Việt Nam hay Philippines trong vấn đề hàng hải, mà cần nỗ lực giải quyết vấn đề một cách hòa bình theo luật pháp quốc tế. Họ cũng không nên thao túng tiền tệ của mình để có được những lợi thế riêng mà nước khác không có”, ông nói.

 
 

Tổng thống Mỹ nhấn mạnh: “Với TQ, tôi chỉ muốn chắc chắn rằng chúng tôi tiếp tục duy trì một mối quan hệ mang tính xây dựng”.

Trong khuôn khổ chuyến thăm New Delhi, Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Ấn Độ đã ra tuyên bố mang tên Tầm nhìn chiến lược chung về các khu vực châu Á-Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương.

Tuyên bố khẳng định, thịnh vượng khu vực phụ thuộc vào an ninh: “Chúng tôi khẳng định tầm quan trọng của việc đảm bảo an ninh hàng hải, đảm bảo tự do hàng hải và hàng không trong suốt khu vực, nhất là ở Biển Đông. Chúng tôi kêu gọi tất cả các bên tránh đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, theo đuổi cách giải quyết tranh chấp lãnh thổ và hàng hải thông qua mọi biện pháp hòa bình, phù hợp với những nguyên tắc đã được luật pháp quốc tế công nhận, trong đó có Công ước LHQ về Luật Biển”.

Ngay sau đó, TQ lập tức có phản ứng. Bộ Ngoại giao TQ cho rằng, họ tin là Mỹ-Ấn không cần phải lo lắng về tình hình hàng không, hàng hải ở vùng tranh chấp Biển Đông. Nước này đưa ra tuyên bố như bao lần trước rằng, “các tranh chấp có liên quan cần được giải quyết giữa các bên có liên quan trực tiếp”.

Theo giới phân tích, trong vấn đề tranh chấp ở Biển Đông, TQ luôn thiên về cách giải quyết song phương với các nước có tuyên bố chủ quyền. Đây là chiến thuật “chia để trị” khi TQ có được lợi thế nước lớn trên bàn đàm phán với các nước nhỏ hơn trong khu vực.

Thái An (theo Zeenews, Timesofindia)

 

Nhìn về dân chủ đa đảng ở Việt Nam – BBC

22 Th1

 

  • 7 giờ trước

Hai ông Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm đều nếm trải dân chủ đa đảng

BBC tuần này tổ chức Ngày Dân chủ vào 20/1/2015 vào đúng ngày mà 750 năm trước nghị viện dân cử đầu tiên của Anh ra đời.

Năm nay cũng đánh dấu 800 năm Magna Carta, tức Đại Hiến chương, của Anh vốn khởi nguồn cho tự do dân chủ ở thế giới phương Tây.

Nhân dịp này BBC Tiếng Việt tổ chức bàn tròn trực tuyến để nhìn lại những giai đoạn Việt Nam có dân chủ đa đảng trong nghị viện và chính quyền.

Bàn tròn sẽ được phát trực tiếp trên YouTube tại http://bit.ly/1um9W3N và trên Google+ tại http://bit.ly/15ySmEg từ 19:30-20:00 giờ Việt Nam hôm 22/1/2015.

Cả Quốc hội và Chính phủ đầu tiên của Việt Nam giai đoạn 1945-1946 đều có các đảng phái khác nhau tham gia và Hiến pháp 1946 vẫn được nhắc tới như một bản hiến pháp có tinh thần tự do dân chủ nhất trong lịch sử Việt Nam hiện đại.

Trái với Điều 4 quy định về sự lãnh đạo của Đảng cộng sản như Hiến pháp hiện nay, Điều 4 của hiến pháp đầu tiên ghi:

“Mỗi công dân Việt Nam phải: Bảo vệ Tổ quốc, Tôn trọng Hiến pháp, Tuân theo pháp luật.”

Tại miền nam, chế độ tổng thống chế cũng chấp nhận sự tham gia của các đảng phái khác nhau trong chính trường cho tới khi bị xóa bỏ vào năm 1975.

Ngay cả sau khi Việt Nam thống nhất, hai đảng Xã hội và Dân chủ vẫn còn tồn tại tới cuối thập niên 1980.

Trước Đại hội 12

Các khách mời của BBC, trong đó có nhà văn Vũ Thư Hiên, con trai thư ký riêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh – ông Vũ Đình Huỳnh, nhà văn Võ Thị Hảo và Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng từ Đại học George Mason sẽ nhìn vào những trải nghiệm dân chủ đa đảng của Việt Nam và tìm hiểu xem liệu các trải nghiệm này có gợi ý gì cho tương lai.

Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay tuyên bố không chấp nhận bất kỳ một đảng phái nào khác cùng tồn tại với mình.

Nhưng trước thềm Đại hội 12, người ta đang kỳ vọng vào những thay đổi nhằm đưa đất nước với hơn 90 triệu dân phát triển nhanh hơn nhằm theo kịp các nước trong khu vực và trên thế giới.

Trong một động thái có thể được xem là thừa nhận những hạn chế của chế độ độc đảng, những người cộng sản đang có vẻ chú trọng hơn tới Mặt trận Tổ quốc mà theo quy định mới thì người đứng đầu cơ quan này phải là một ủy viên Bộ Chính trị còn đủ tuổi để tiếp tục ở lại sau đại hội Đảng.

Chủ tịch của cơ quan này, ông Nguyễn Thiện Nhân, trong năm 2013 đã được bầu vào Bộ Chính trị và gần như chắc chắn sẽ vẫn trụ lại trong Bộ Chính trị sau Đại hội 12.

Có những đảng chỉ quan tâm tới môi trường ở châu Âu mà vẫn có thể thắng cử

Các nguồn tin cũng nói những nhân vật trẻ và được cho là năng động như Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam hay Bộ trưởng Giao thông Đinh La Thăng có trong danh sách khoảng 20 người để lựa chọn vào Bộ Chính trị hậu 2015.

Trong một trao đổi gần đây với BBC, cựu Đại biểu Quốc hội Nguyễn Minh Thuyết nói cách tổ chức chính trường hiện nay của Việt Nam đã khiến người dân tập trung quá nhiều vào nhân sự.

Ông nói đáng ra người ta nên quan tâm nhiều hơn tới chính sách nhưng vì khả năng thay đổi chính sách một cách quyết liệt không nhiều và vấn đề là lỗi của cả hệ thống nên sự tập trung được dồn cho chuyện ai lên, ai xuống.

Tại các chế độ dân chủ đa đảng, các đảng phái đưa ra cương lĩnh tranh cử về nhiều vấn đề từ chính sách nhập cư tới quan điểm về hội nhập kinh tế để người dân lựa chọn.

Có những đảng chỉ tập trung vào một vấn đề cụ thể, chẳng hạn Đảng Xanh chuyên về bảo vệ môi trường ở một số nước châu Âu.

Dân chủ Anh – Việt

Tại Anh, các cuộc thảo luận của nghị viện đa đảng đều được phát trực tiếp và thủ tướng thường xuyên phải đối mặt với lãnh đạo phe đối lập chính để trả lời chất vấn.

Trong một chuyến thăm Anh hồi đầu năm 2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú trọng đáng ra đã tới dự một phiên chất vấn như vậy những đã không thực hiện được vì lý do sức khỏe.

Cuối cùng người tới dự là một ủy viên Bộ Chính trị khác, ông Nguyễn Xuân Phúc, người gần đây bị nêu tên trong một blog mà sự xuất hiện của nó được cho là trong bối cảnh tranh giành quyền lực trước Đại hội 12 vào đầu năm 2016.

Thay vì công khai cương lĩnh hành động và vận động cử tri qua truyền thông tự do, các chính trị gia ở Việt Nam thường vận động ở hậu trường.

Và mặc dù luôn nêu khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” nhưng người dân thường khó tiếp cận thông tin cần biết qua truyền thông bị kiểm soát chặt chẽ.

Mới đây nhất Đảng Cộng sản đã họp kín để bỏ phiếu tín nhiệm những nhân vật quyền uy nhất Việt Nam nhưng trái với hai lần bỏ phiếu ở Quốc hội, độ khả tín của các nhân vật trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư vẫn chưa được công khai.

Các rò rỉ cho thấy Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã được tín nhiệm cao nhất, một sự đảo ngược tình thế khi hồi cuối năm 2012 Bộ Chính trị khi đó với 14 thành viên đã bỏ phiếu đồng ý kỷ luật đồng chí X, vốn được cho chính là ông thủ tướng, nhưng Ban Chấp hành Trung ương bác đề nghị này.

Tin liên quan

  • Tín nhiệm và ‘tứ trụ lý tưởng’ cho VN
    14 tháng 1 2015
  • Ai là các ứng viên thủ tướng Việt Nam?
    7 tháng 1 2015
  • Thực chất của Hội nghị Trung ương 10?
    6 tháng 1 2015
  • ‘Lãnh đạo VN nên đàng hoàng với dân hơn’
    15 tháng 12 2014
  • ĐH Đảng tới nên là lần cuối theo lệ cũ
    13 tháng 1 2015
  • Đã tới lúc Việt Nam tìm đối tác an ninh?
    3 tháng 1 2015
  • Kinh tế VN 2015: Lấy gì để tăng trưởng?
    12 tháng 1 2015

Báo Trung Quốc: Quan chức VN nhen nhóm tinh thần bài Bắc Kinh – VOA

16 Th1

 

 
Chính phủ Việt Nam chi gần 140 triệu đôla cho cho dự án triển khai thực hiện từ năm 2008, và số còn lại là vốn vay ưu đãi hơn 400 triệu đôla của Trung Quốc.

Chính phủ Việt Nam chi gần 140 triệu đôla cho cho dự án triển khai thực hiện từ năm 2008, và số còn lại là vốn vay ưu đãi hơn 400 triệu đôla của Trung Quốc.

Một tờ báo có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa ở Trung Quốc mới đăng một bài viết trong đó cáo buộc Bộ trưởng Giao thông Việt Nam “tìm cách nhen nhóm tinh thần bài Trung Quốc”.

Tờ Hoàn cầu Thời báo đăng tải bài viết chỉ trích ông Đinh La Thăng ít lâu sau khi quan chức này “xạc” một nhà thầu Trung Quốc vì để xảy ra hai sự cố làm một người chết và ít nhất 3 người bị thương tại một dự án đường sắt trọng điểm ở thủ đô của Việt Nam.

Tờ báo có xu hướng giật gân, câu khách thuộc Nhân dân Nhật Báo, dẫn lời một cựu đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam nói rằng ông Thăng “đáng lẽ không nên khiển trách các nhà thầu Trung Quốc”, và cho rằng “vụ việc không nên bị làm rùm beng” như vậy “vì chuyện tai nạn tại các công trường xây dựng xảy ra như cơm bữa” ở Việt Nam.

Tờ báo còn dẫn lời các chuyên gia nói rằng việc sập giàn giáo “là lỗi của nhà thầu Trung Quốc, nhưng chính phủ Việt Nam cũng đã không hoàn thành trách nhiệm giám sát dự án này”.

Ngoài ra, Hoàn cầu Thời báo cũng cho rằng việc nạn nhân tử vong trong vụ tai nạn là một học viên Học viện An ninh của ngành công an và dự án do nhà thầu của Trung Quốc đảm nhận đã khiến dư luận Việt Nam càng quan tâm.

Trước đó, trong đoạn video được phát trên truyền hình toàn quốc, ông Thăng lớn tiếng chỉ thẳng tay vào mặt một đại diện của nhà thầu Trung Quốc đứng im nghe quan chức Việt Nam chỉ trích.

Ông cũng tuyên bố rằng Việt Nam “không thể đánh đổi quyền lợi của người Việt Nam, không thể đánh đổi tính mạng của người Việt Nam để vay vốn” của Trung Quốc.

VOA Việt Ngữ không thể liên lạc với ông Thăng để phỏng vấn ông về các bình luận của tờ Hoàn cầu Thời báo.

Một quan chức thuộc Cục Quản lý Xây dựng và Chất lượng công trình Giao thông nói với VOA Việt Ngữ rằng vì sự cố xảy ra lần thứ hai, nên bộ trưởng “kiên quyết xử lý, không thể nào khác được”.

Trước đó, cục này cũng đã có văn bản yêu cầu ông Thăng có công hàm gửi Đại sứ quán Trung Quốc để yêu cầu chấn chỉnh tổng thầu EPC của nước này.

Về phản hồi từ phía Trung Quốc, ông Nguyễn Tuấn Dinh, Trưởng phòng Công trình đường sắt thuộc Cục Quản lý Xây dựng và Chất lượng Công trình Giao thông, cho VOA Việt Ngữ biết thêm thông tin:

“Tổng giám đốc của Cục 6 đường Sắt Trung Quốc đã trực tiếp sang Việt Nam và đã làm việc với thứ trưởng. Người ta làm việc rồi, thống nhất sẽ thực hiện nghiêm túc theo các chỉ thị của Bộ Giao thông Vận tải. Chắc là tổng thầu sẽ phải báo cáo lại với đại sứ quán Trung Quốc vì không thấy trả lời gì”.

Theo báo chí trong nước, chính phủ Việt Nam chi gần 140 triệu đôla cho cho dự án triển khai thực hiện từ năm 2008, và số còn lại là vốn vay ưu đãi hơn 400 triệu đôla của Trung Quốc.

Tuy nhiên, cho tới nay, khoản tiền “đội giá” của dự án này đã lên tới hơn 300 triệu đôla.

Quan hệ Việt – Trung rơi xuống mức thấp nhất trong nhiều thập kỷ hồi tháng Năm năm ngoái sau khi Bắc Kinh đưa giàn khoan dầu gây tranh cãi vào vùng biển mà Hà Nội tuyên bố là thềm lục địa của mình.

Nhiều vụ biểu tình bài Trung Quốc dẫn tới bạo loạn và cướp bóc nhắm vào các nhà máy bị coi là của Trung Quốc ở các khu công nghiệp của Việt Nam đã bùng ra sau đó làm ít nhất 2 người chết.

 
 

Việt Nam tìm sự đổi mới đầy căng thẳng chính trị trong năm 2015 – BS

8 Th1

 

Posted by adminbasam on 08/01/2015

East Asia Forum

Tác giả: David Brown

Người dịch: Trần Văn Minh

06-01-2015

H1Việt Nam sẽ bắt đầu năm 2015 trên một nền tảng kinh tế khá ổn định. Nền kinh tế quốc gia phần lớn đã phục hồi từ sau những nỗ lực thiếu khôn ngoan của Hà Nội để giảm thiểu tác động của cuộc Đại Suy thoái năm 2009. Kinh nghiệm đáng ghi nhớ đó phô bày những yếu kém về cơ cấu mà, nếu không sửa chữa, có thể đẩy Việt Nam lặn ngụp trong bẫy thu nhập trung bình, không thể khai thác tiềm năng của khối dân số tương đối trẻ và có học thức của mình.

Năm 2015 sẽ là một năm đầy căng thẳng chính trị. Đại hội Đảng lần thứ 12 sẽ được tổ chức vào tháng 1 năm 2016 để làm mới ban lãnh đạo quốc gia. Những người nhắm vị trí hàng đầu đã vận động các tổ chức đảng cấp tỉnh và huyện để tìm sự hỗ trợ. Tựu trung chỉ là treo đầu dê bán thịt chó như mọi khi: bạn ủng hộ tôi và tôi sẽ chăm sóc bạn. Chuyện bảo kê là huyết mạch của Đảng.

Dù như thế, 2000 đại biểu hội tụ về Hà Nội có thể sẽ đặt Việt Nam vào một quỹ đạo mới. Bên trong và bên ngoài Đảng, có mối hy vọng sâu rộng rằng, một lần nữa, những thay đổi cơ cấu thực sự có thể xảy ra. Giới trí thức và quản trị của đất nước muốn nhìn thấy một bầu không khí tranh luận chính trị cởi mở hơn, các chính sách kinh tế thúc đẩy hoạt động kinh doanh tư nhân và không gian hoạt động rộng hơn cho các tổ chức tình nguyện.

Năm 1986, Đại hội Đảng lần thứ 6 từ bỏ nỗ lực điều hành một nền kinh tế chỉ huy theo mô hình Liên Xô để hướng về (kinh tế) ‘thị trường xã hội chủ nghĩa “, một sự hòa giải cho phép các doanh nghiệp tư nhân lấp vào những khoảng trống không được các doanh nghiệp nhà nước chiếm cứ. Đại hội lần thứ 7 năm năm sau (Liên Xô đã tan rã trong thời gian đó) phê chuẩn các chính sách nhằm giúp Việt Nam gia nhập vào các định chế khu vực và thế giới. Những thay đổi này, gọi chung là đổi mới – tạo ra một sự bùng nổ tiềm năng thương mại, đã kích hoạt tăng trưởng kinh tế của Việt Nam 7 hoặc 8% mỗi năm trong gần hai thập niên.

Năm 2007 là một khúc quanh khác. Việt Nam được chấp nhận vào Tổ chức Thương mại Thế giới và các ngân hàng nước ngoài xếp hàng cho Việt Nam vay vốn. Sau đó, khi suy thoái kinh tế toàn cầu gây thiệt hại cho thị trường xuất khẩu của Việt Nam, chính phủ tiếp tục dồn vốn cho khách hàng vay trong nước, chủ yếu là các công ty nhà nước. Kết quả không phải là phát triển thêm nữa mà là hai cơn lạm phát, tăng mạnh và phá sản trong thị trường địa ốc, sự thất bại của kế hoạch 4 tỷ USD của chính phủ để biến Việt Nam thành một thế lực đóng tàu, và sự thừa nhận muộn màng rằng các công ty nhà nước của Việt Nam hấp thụ (hoặc độc quyền) các nguồn lực mà không tạo ra của cải.

Phải mất nhiều năm để chính quyền Hà Nội chui ra khỏi mớ bòng bong. Nhưng vào năm 2014, sự thể rõ ràng rằng lạm phát đã được kiểm soát, quốc gia vận hành trở lại với thặng dư thương mại ổn định và các đại công ty nước ngoài đặt cược vào Việt Nam như một khu vực nền tảng sản xuất công nghệ cao. Mặc dù hệ thống ngân hàng vẫn còn khập khễnh do các khoản nợ kém hiệu quả, xếp hạng tín dụng của Việt Nam được cải thiện. Trong tháng 11, Hà Nội đã có thể tái tài trợ một khoản nợ đáng kể của chính phủ với các điều kiện tương đối thuận lợi.

Nhưng không phải tất cả đều tốt đẹp. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hứa rằng, vào cuối năm 2015 gần như tất cả các doanh nghiệp nhà nước sẽ được “cổ phần hóa” và đặt dưới kỷ luật (kinh tế) thị trường. Không có vẻ như ông có thể kích động được chuyện đó. Một thập niên trước, cổ phiếu của các doanh nghiệp nhà nước của Thế giới Thứ ba bán ra dễ dàng. Ngày nay không còn như thế, các nhà đầu tư nước ngoài có vẻ không quan tâm đến việc mua cổ phần thiểu số trong doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam. Cần phải có thuốc mạnh hơn.

Ở mức độ cơ bản hơn, niềm tin vào khả năng của đảng để thực thi cải cách thật mong manh. Một chiến dịch chống tham nhũng do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu đã hạ bệ hàng chục sai phạm trong khu vực nhà nước. Mặc dù vậy, tư bản bè phái và phe nhóm lợi ích vẫn còn là tính năng phổ biến của chế độ, đến nỗi khó có thể tưởng tượng một sự đồng thuận trong đảng để từ bỏ ‘kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa’.

Trong lịch sử, đảng đã thống trị tiến trình quyết định của Việt Nam. Dường như không còn là như thế nữa. Ngay bây giờ bộ máy chính quyền ở cấp trung ương và cấp tỉnh triển khai các quan chức có năng lực hơn và thường chủ động trong việc hình thành chính sách và tiến trình thông qua. Cho dù đây là một sự thay đổi đáng kể hay không sẽ được kiểm chứng trong thời gian chuẩn bị cho Đại hội Đảng thứ 12.

Các Đại hội Đảng thường hời hợt về chính sách. Chủ yếu họ quan tâm đến nhân sự và sự bảo bọc: ai sẽ thăng chức, ai không, và chuyện này ảnh hưởng đến hệ thống thế nào. Họ cẩn trọng trong việc duy trì một sự cân bằng giữa các phe phái và khu vực trong việc lựa chọn các đại biểu và sự phân chia số ghế trong Bộ Chính trị và Ủy ban Trung ương Đảng.

Đại hội Đảng lần thứ 12 có thể là ngoại lệ. Các nhà phân tích đã bàn cãi rằng phải chăng việc tạm hoãn phiên họp toàn thể Ủy ban Trung ương dự kiến vào đầu tháng 12 năm 2014 báo hiệu tình trạng bất ổn. Khi Quốc hội triệu tập vào năm tới, 10 trong số 16 thành viên của Bộ Chính trị sẽ đạt đến tuổi nghỉ hưu. Trong số những người hội đủ điều kiện để tiến chức vào Bộ Chính trị và các chức vụ hàng đầu của chính phủ, có sự khác biệt sâu sắc về định hướng chính sách.

Các lựa chọn kinh tế và làm thế nào để đối phó với tham nhũng, dĩ nhiên là chủ đề các cuộc cạnh tranh trong nội bộ đảng. Tư thế quốc tế của Việt Nam cũng tranh cãi như thế. Khoảng giữa năm 2014, hành động gây hấn của Trung Quốc để thiết lập quyền bá chủ của Bắc Kinh ở Biển Đông đã giáng một đòn nặng vào những người trong chính quyền Việt Nam, kẻ ủng hộ quan hệ chặt chẽ và tôn trọng Đảng Cộng sản Trung Quốc và chính phủ Trung Quốc. Trong khi các đại biểu cứng rắn trước sự bắt nạt của Trung Quốc – cho dù phải nghiến răng chịu đựng hoặc chống lại Trung Quốc bằng cách tìm kiếm sự liên kết chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ – cũng sẽ ảnh hưởng phiếu bầu tại Đại hội thứ 12.

Các quyền tự do chính trị là một con bài chủ. Chế độ đã tăng cường bắt giữ và truy tố các blogger chính trị trong năm 2014, điển hình về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước”. Mặc dù một số trong đảng nghi ngờ tính thiết thực của phương pháp cộng an trị được dùng để đối phó với các nhà bất đồng chính kiến quá khích, vài thành viên sẽ lên tiếng cho đồng bào mà hy vọng chân thật nhất của họ là chấm dứt sự cai trị độc đảng.

David Brown là một nhà ngoại giao Mỹ đã về hưu, thường viết về chủ đề Đông Nam Á cận đại.

Đã tới lúc Việt Nam tìm đối tác an ninh? – BBC

5 Th1

 

  • 3 tháng 1 2015

Lãnh đạo Việt Nam - Hoa Kỳ
Việt Nam đang tiếp tục phải xử lý quan hệ tay ba với Hoa Kỳ và Trung Quốc trên Biển Đông.

Liệu năm 2015 là năm Việt Nam có thể cân nhắc đổi mới chính sách ‘không liên kết’ của mình để tìm kiếm một đối tác giúp bảo đảm hữu hiệu hơn độc lập, chủ quyền và các quyền lợi quốc gia của mình trước kinh nghiệm Giàn khoan 981 từng diễn ra trong năm cũ?

Đó là một trong các chủ đề được các chuyên gia và nhà quan sát trong nước chia sẻ với BBC trong dịp đầu năm 2015 và bàn về nét mới trong chiến lược ngoại giao và an ninh ở khu vực của Việt Nam trong năm mới.

Hôm 02/01/2015, Giáo sư Vũ Minh Giang, nguyên thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương, cơ quan tư vấn đường lối chiến lược cho Bộ chính trị và Ban bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, nhận định về khả năng có giảm sóng gió hay không trên Biển Đông, sau cuộc căng thẳng giàn khoan Hải Dương 981 trong năm do Trung Quốc gây ra.

Trước hết bình luận về việc Việt Nam có nên ‘tin tưởng hay không’ vào những tuyên bố được cho là ‘ngoại giao hòa hoãn’, ‘hạ giọng, mềm dẻo’ của nhà cầm quyền Trung Quốc qua chuyến thăm Việt Nam ba ngày diễn ra vào cuối tuần trước của Ủy viên Bộ chính trị, Chủ tịch Chính Hiệp Trung Quốc, ông Du Chính Thanh, Giáo sư Giang nói:

“Đối với Trung Quốc, có lẽ kinh nghiệm từ xa xưa cho đến bây giờ nó vẫn không thay đổi bao nhiêu. Đó là cố gắng hết sức trong quan hệ ngoại giao, nhưng thực tế như thế nào thì phải là câu chuyện phải chờ.

“Chứ không thể tin ngay vào những cử chỉ của quan chức, cho dù là cao cấp đến đâu, của Trung Quốc. Đó là thực tế lịch sử, chứ không phải là muốn hay không muốn, thích hay không thích. Vì vậy cho nên tôi không kỳ vọng nhiều lắm vào chuyến thăm của ai đó, cho dù là thứ mấy của Trung Quốc, sang Việt Nam…

“Đối với Trung Quốc, tôi vẫn có một cách nghĩ. Đó là hãy quan sát họ làm trên thực tế, chứ những gì họ nói thì quá hay rồi, phải nói là không thể nói hay hơn được.”

Theo Giáo sư Giang, nhận thức của lãnh đạo Việt Nam đã thay đổi rõ rệt vào đầu năm 2015 so với thời điểm một năm về trước khi bước vào năm 2014, sau khi diễn ra vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trên Biển Đông.

Nhà nghiên cứu sử học và địa chính trị nói:

“Tôi nghĩ rằng Trung Quốc – Việt Nam vào thời điểm bước vào năm 2015 nó khác xa với bước vào 2014 trước khi có vụ Hải Dương 981, khác xa rồi. Trước kia còn có người nói thế này, người nói thế kia, bây giờ ở Việt Nam, tôi thấy chỉ là sách lược thế này, thế kia, chứ trên dưới đồng lòng về nhận thức về Trung Quốc.

‘Được hay không còn tùy’

Quân hệ Việt - Trung
Ủy viên Bộ chính trị Trung Quốc Du Chính Thanh vừa thăm Việt Nam 3 ngày dịp cuối năm 2014.

Theo Giáo sư Giang, Trung Quốc có mục tiêu và tham vọng chiến lược trên Biển Đông, tuy nhiên, việc thực hiện được hay không ‘là còn tùy’. Ông nói:

“Việc Trung Quốc họ thực hiện từng bước mục tiêu của họ thì mình cũng không ngăn cản được, đó là mục tiêu của họ dồn toàn lực họ làm, thế nhưng họ làm được hay không là phụ thuộc rất nhiều vào phía Việt Nam.

“Việt Nam mà tỉnh táo mà hiểu được những cái đó, thì bằng nhiều chính sách: đa phương hóa, tranh thủ, rồi ngoại giao v.v…, thì không phải là họ sẽ thực hiện được một cách dễ dàng.

Gần đây, một nhà nghiên cứu về quan hệ quốc tế và khu vực từ Đại học Quốc gia Hà Nội, Tiến sỹ Khoa học Lương Văn Kế cũng khẳng định với BBC cho rằng tham vọng và chính sách chiến lược của Trung Quốc về Biển Đông là không thay đổi.

Và do đó, ông đặt vấn đề Việt Nam cần điều chỉnh chính sách ‘ba không’ của mình, mà theo đó Việt Nam cam kết “không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia.”

Bình luận mới đây về khả năng Trung Quốc lập vùng nhận diện phòng không (ADIZ) trên Biển Đông cùng các động thái được cho là đe dọa chủ quyền khác với Việt Nam, Tiến sỹ Kế nói:

“Trong sự cạnh tranh với Trung Quốc, hay tìm kiếm một sự cân bằng với Trung Quốc, thì tôi nghĩ Việt Nam không thể chỉ dựa vào sức mình mà phải dựa vào các lực lượng khác.

“Mà tôi hoàn toàn tán thành một chủ trương là cần phải lựa chọn các đối tác an ninh ở khu vực để cân bằng sức mạnh, hay để vô hiệu hóa sự đe dọa hay là mối nguy từ phía Trung Quốc.

“Và Việt Nam không thể nào một mình thực hiện theo chủ trương tôi gọi là ‘tuyệt đối ba không’ được.

“Bởi vì nếu thực hiện ‘ba không’ như vậy, thì mối nguy an ninh là rất rõ và tiềm chứa một nguy cơ là Trung Quốc sẽ ỷ thế vào và yêu cầu Việt Nam không được làm trái với điều mà Trung Quốc nói là ‘hoàn toàn nói ngược’.

“Chúng ta tuyên bố ‘ba không’, thì không có lý do gì chúng ta liên minh với các nước khác để cân bằng với Trung Quốc, cho nên tôi nghĩ đến lúc chúng ta phải xét lại để hiểu thế nào là ‘ba không’.

“Trong trường hợp Tổ quốc lâm nguy hoặc toàn bộ không gian Biển Đông bị đe dọa, thì tôi nghĩ Việt Nam phải triển khai một chiến lược an ninh kết hợp các quốc gia khác.

“Chúng ta không phải liên minh nước này chống nước kia, nhưng chúng ta rõ ràng cần phải có sự hỗ trợ quốc tế và các thế lực có sức mạnh thực sự, có thể ủng hộ Việt Nam đảm nhiệm được sứ mệnh đảm bảo hòa bình và an ninh ở Biển Đông.”

‘Đổi chiến lược hay không?’

Ông Tập Cận Bình
Trung Quốc được cho là đang chuyển sang ‘ngoại giao hòa hoãn’ trong năm 2015.

Quan điểm của TSKH Lương Văn Kế mới đây cũng tìm thấy sự tương đồng trong một bài báo trên đăng trên một trang mạng về Nghiên cứu Quốc tế của nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, từ Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

Theo đó, ông Hiệp cho rằng: “Việt Nam chỉ có thể hòa hiếu với Trung Quốc nếu Trung Quốc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Nếu Trung Quốc dùng bạo quyền để cưỡng bức thì chúng ta không thể mềm yếu để rồi mãi mãi đánh mất chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ vì một thứ “hữu nghị viễn vông”.

“Trong khi tìm mọi cách cố gắng duy trì quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và tương kính với Trung Quốc, chúng ta (Việt Nam) cũng nên sẵn sàng theo đuổi các mối quan hệ liên minh với các đối tác ở các lĩnh vực và mức độ khác nhau để đối phó với các mối đe dọa trên Biển Đông. Theo nghĩa đó, liên minh không nên được hiểu là đi với nước này để chống nước kia, mà là đi với nước nào để chúng ta có thể bảo vệ được tốt nhất lợi ích quốc gia của mình.”

Song hôm thứ Sáu, khi được hỏi Việt Nam nên tiếp tục chiến lược ngoại giao như cũ, hay cần đổi mới khác đi, Giáo sư Vũ Minh Giang, cho rằng Việt Nam vẫn cần tiếp tục kiên định với chính sách ‘đa phương’ quan hệ và ‘ba không’ để giữ ‘độc lập’ và tránh ‘đối đầu’ với Trung Quốc.

Ông nói: “Kinh nghiệm của Việt Nam cho hay, cho đến nay Việt Nam có được những thành công trong quá trình phát triển của mình, là ở chỗ phải giữ được độc lập.

“Đặc điểm của Việt Nam nó là một vùng, theo nghiên cứu của tôi, giao thoa văn hóa, địa chính trị rất đan xen, và có vẻ như là nghiêng ngả hẳn về một phía nào đó, thì nó không giống địa chính trị của Việt Nam.

“Vì vậy làm sao đó giỏi ở chỗ cân bằng, thì đây là cả một nghệ thuật chứ không đơn giản.”

Tuy nhiên, mới đây, một nhà nghiên cứu là Giám đốc Trung tâm Văn hóa Minh Triết Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Khắc Mai, nói với BBC, ông tin rằng Việt Nam cần có một tuyên bố mới về chiến lược trong lĩnh vực ‘liên minh an ninh’ này, trong tình hình mới.

Ông nói: “Chúng tôi quan niệm là phải nói phương châm thế này: chúng tôi sẵn sàng liên minh, liên kết với bất cứ ai ủng hộ lợi ích của Việt Nam chống lại những kẻ phá hoại và vi phạm chủ quyền của Việt Nam, chống lại lợi ích của nhân dân Việt Nam, thì chúng tôi sẵn sàng liên minh, liên kết với họ để bảo vệ lợi ích của tôi.”

Nhà nghiên cứu đặt vấn đề và cho rằng quan niệm ‘chính thống’ về ‘ba không’ của Việt Nam hiện nay ở giới lãnh đạo cao cấp lâu nay có thể đã chịu ‘tác động đường lối’ từ một ‘đối tác’ nước ngoài.

Ông Mai nói: “Quan niệm chính thống của họ là tôi không liên minh với một nước thứ ba để chống lại một nước khác, thì đấy là cách mớm của Tàu (Trung Quốc).”

Và nhà nghiên cứu tin rằng, cách đặt vấn đề mới, sẵn sàng tìm đối tác an ninh khi quyền lợi quốc gia yêu cầu, sẽ đưa Việt Nam thành ‘chủ thể’ cho các chiến lược và chính sách và nhờ đó được độc lập, an toàn hơn.

“Như thế là mình lấy Việt Nam làm chủ thể, làm chủ đạo, đó mới là lợi ích chính, còn nói cách nói kia hiện nay vẫn là nói vu vơ và vì một nước khác… Cái lệ thuộc ấy, ngay cả trong phương châm hành động thì cũng phải xử lý,” Giáo sư Nguyễn Khắc Mai nói.

Tin liên quan

  • ‘VN đang có cơ hội lớn để thoát Trung’
    3 tháng 1 2015
  • Cuộc đối đầu ‘cân bằng’ với ‘gặm nhấm’
    3 tháng 1 2015
  • Biển Đông 2015: ‘Khó trông chờ bình yên’
    2 tháng 1 2015
  • ‘Đảng CS cần xoay trục về phía nhân dân’
    29 tháng 12 2014
  • VN làm gì nếu TQ lập vùng cấm bay ADIZ?
    13 tháng 12 2014

‘VN đang có cơ hội lớn để thoát Trung’ – BBC

5 Th1

 

null

Chất lượng cao mp3 (8.5 Mb)

C

3 tháng 1 2015 Cập nhật lúc 23:00 ICT

Việt Nam đang có cơ hội hơn bao giờ hết so với lịch sử ‘cả nghìn năm qua’ nhằm trở nên độc lập hơn đối với quốc gia láng giềng Trung Quốc, theo quan điểm của một nhà nghiên cứu về văn hóa minh triết từ Hà Nội.

Trao đổi với BBC về xu thế bang giao Việt Nam – Trung Quốc trong năm 2015, Giáo sư Nguyễn Khắc Mai, Giám đốc Trung tâm Văn hóa Minh triết Việt Nam nói:

“Cả nghìn năm mình lệ thuộc Trung Quốc và bây giờ trong thời hiện đại thì mình đang có cơ hội để thoát ra.

“Tôi nói rằng tránh cái lệ thuộc chứ không phải là tránh mối quan hệ, bởi vì mình phải quan hệ với tất cả mọi người, huống gì là một anh láng giềng như vậy.

“Mình có thể là giữ quan hệ, phải quan hệ và có quan hệ tử tế thì mới có lợi ích của cả hai phía.

“Như thế tức là ta chỉ chống lại cái lệ thuộc, đừng buộc mình như là con ngựa phụ kéo theo, lẽo đẽo đi theo cỗ xe của chủ, thì không thực hiện điều này, mà mình phải tránh.”

‘Bài học lịch sử và khu vực’

Theo cựu Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu thuộc Ban Dân vận Trung Ương, Việt Nam đã có các bài học ‘minh triết’ rút ra từ trong lịch sử để giải quyết vấn đề:

“Cha ông mình nói rõ rồi. Trong nước thì khoan thư sức dân, nâng dân lên ở thế làm chủ thực sự, tạo ra thế để cho nhân dân làm ăn tự do, có quyền ngôn luận, quyền lập hội, quyền biểu tình, rồi đặc biệt là quyền sở hữu, trả lại cho dân,” ông Mai nói thêm.

“Như đấy là để cho nội lực của Việt Nam phát triển, xây dựng một thể chế cho nó dân chủ, văn minh và cải tạo đội ngũ cán bộ công chức, để họ thực sự là người phục vụ dân, phục vụ nước, chứ không phải đám ăn trên, ngồi chốc, phe nhóm và cướp quyền của dân như hiện nay…

“Còn đối ngoại thì phải đoàn kết với Asean, với Nhật, với Úc, với Ấn Độ, với Mỹ, với Tây Âu và phải tìm mọi cách để tận dụng được lợi thế mà họ có thể trao lại cho Việt Nam.

Theo nhà nghiên cứu, đã có nhiều nước trong khu vực là láng giềng với Trung Quốc hoàn toàn có thể cung cấp bài học tham khảo cho Việt Nam trong việc giữ độc lập đường lối và phát triển so với Trung Quốc.

Giáo sư Mai nói: “Myanmar là một bài học lớn. Họ thoát Trung một cách thông minh, đàng hoàng và quyết liệt hơn mình, rất rõ. Và họ là nước ở sát Trung Quốc đấy.

“Bây giờ những khả năng phát triển của họ là rất rõ. Hàn Quốc cũng ở sát Trung Quốc đấy, nhưng mà họ có bị lệ thuộc đâu. Cho nên đây là vấn đề lớn mà Việt Nam phải đối mặt,” nhà nghiên cứu nhấn mạnh.

Con đường đưa Việt Nam đến văn minh

2 Th1

 

Con đường phát triển đi đến văn minh của dân tộc không cách nào khác. Chỉ có bước tới chứ đừng bước lui.

Điều gì cần cho Việt Nam lúc này?

LTS: Góp phần bàn luận tiếp câu chuyện mà nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã đặt ra dịp đầu năm mới “Con đường phát triển đi đến văn minh của dân tộc”, Tuần Việt Nam xin đăng bài viết của GS Cao Huy Thuần để bạn đọc cùng tham khảo.

Lẫn lộn giữa “văn minh” và “văn hóa”

“Thế nào là một dân tộc văn minh?”, muốn trả lời câu hỏi ấy phải trả lời câu hỏi: “Thế nào là văn minh? Văn minh là gì?”. Riêng định nghĩa này thôi, bao nhiêu là phức tạp. Có ai đồng ý với ai đâu? Mỗi tác giả lớn có một giải đáp riêng, lắm khi trái ngược từ căn bản.

Điểm căn bản đầu tiên là sự dùng lẫn lộn giữa “văn minh” và “văn hóa” – “civilisation” và “culture” – mà “văn hóa” lại cũng gây bất đồng trong định nghĩa.

Lịch sử của hai từ “văn minh” và “văn hóa” rất dài, rất xưa ở Âu châu. Lúc đầu, “văn minh” bao hàm hai lĩnh vực: vật chất và tinh thần. Rồi từ “văn hóa” xuất hiện, và nhiều tác giả có khuynh hướng phân biệt, trao phần tinh thần cho văn hóa, phần vật chất cho văn minh.

Văn minh là gì? Có người nói: “đó là đường sá, hải cảng, bờ sông”. Nhưng người khác bác bỏ: “văn minh là phải có một tối thiểu khoa học, nghệ thuật, trật tự, đạo đức…” Nghĩa là tất cả những gì mà con người thu thập được như vốn liếng đã tạo ra. Vậy điểm đầu tiên phải ghi là biên giới giữa tinh thần và vật chất không rõ ràng: văn minh là tinh thần hay vật chất, hay lẫn lộn cả hai?

Điểm thứ hai là việc sử dụng từ “văn minh” cho cá nhân hay tập thể. Ta có thể nói: “một người văn minh”? Hay chỉ nên dùng từ ấy cho một xã hội, một nước, một vùng?

Thông thường, ta vẫn nói: “Đừng nhổ nước miếng bừa bãi, hãy cư xử như một người văn minh”. Ấy là nói về cá nhân. Và ta lại nói: “Văn minh Trung Hoa khác với văn minh Nhật Bản”, “văn minh Tây phương không giống văn minh Đông phương”.

Ấy là nói về tập thể. Bây giờ, từ “văn minh” hay dùng cho tập thể. Chẳng hạn quyển sách danh tiếng một thời và hứng chịu chỉ trích cũng lắm của Samuel Huntington mang nhan đề là “Va chạm giữa các nền văn minh”. Câu hỏi đặt ra – một “dân tộc văn minh” – nằm trong nghĩa tập thể này.

dân chủ, văn minh, văn hóa, dân tộc, Việt Nam, Cao Huy Thuần
Con đường phát triển đi đến văn minh của dân tộc không cách nào khác dân chủ. Ảnh: Lê Anh Dũng

Thế nhưng nó lại gợi ra một vấn đề lý thuyết sôi nổi, và đây là điểm phải ghi thứ ba: Nói rằng một “dân tộc văn minh”, thế chẳng phải hàm ý rằng có những dân tộc không văn minh sao? Vậy thì thế nào là một dân tộc không văn minh? Lấy tiêu chuẩn gì chính xác để phân biệt? Nói như thế cũng hàm ý rằng có nấc thang giá trị để phê phán: dân tộc này văn minh cao hơn dân tộc kia. Thế nào là cao, thế nào là thấp, dựa trên tiêu chuẩn gì?

Tôi đọc ba tác giả được xem là bậc thầy, không phải chỉ ở Pháp mà cả trên quốc tế. Trước hết là nhà sử học Jacques Le Goff. Về thắc mắc thứ nhất, tinh thần hay vật chất, ông trả lời: “Cái đẹp, công lý, trật tự…”. Nghĩa là những yếu tố tinh thần. Xin trích nguyên văn: “Văn minh dựa trên sự tìm tòi và thể hiện của một giá trị cao hơn, trái với văn hóa được xem như là toàn thể những tập tục và những thái độ. Văn hóa nói chuyện dưới đất, văn minh siêu việt trên cao. Cái đẹp, công lý, trật tự….Các nền văn minh được xây dựng trên những yếu tố đó. Ví dụ việc sử dụng đất: văn hóa sản xuất ra lợi ích, gạo, trong khi văn minh sản sinh ra cái đẹp bằng cách tạo vườn”.

Ông nói: vườn Nhật khác với vườn Tàu, và cái khác ấy chịu ảnh hưởng của tôn giáo và tâm linh. Vườn Anh cũng khác với vườn Pháp. Một bên tôn trọng vẽ thiên nhiên, dễ gợi lên tình cảm lãng mạn, mơ mộng; một bên bài trí có hệ thống, ngay hàng thẳng lối, biểu lộ tinh thần duy lý của con cháu Descartes. “Văn hóa đặt ưu tiên cho ý nghĩ về thực dụng, về an ninh, về giàu có, khác với văn minh đặt giá trị trên tâm linh và thẩm mỹ” (Le Monde 23-1-2014).

 

Đặt văn minh trên tiêu chuẩn tinh thần như vậy, không thể nói văn minh nào cao hơn văn minh nào. Ai dám nói vườn Anh đẹp hơn vườn Pháp, vườn Tàu cao cấp hơn vườn Nhật? Thế nhưng phần đông định nghĩa ngày nay không đặt văn minh ở trên cao, văn hóa ở dưới thấp như vậy. Văn minh, theo phần đông, liên quan đến những yếu tố vật chất hơn là tinh thần, tuy rằng không phải gạt bỏ hoàn toàn yếu tố tinh thần. Chỉ định nghĩa như vậy mới bảo vệ được quan điểm cho rằng có văn minh cao, văn minh thấp.

Nhưng đó là nói về Âu châu từ thế kỷ 17, 18. Nếu đặt vấn đề tiến bộ trên bình diện lịch sử cả nhân loại thì tiến bộ là gì? Tôi tìm đến ông thầy thứ hai, Claude Lévi-Strauss. Nhà nhân chủng học này phân biệt hai loại xã hội: “xã hội lạnh” và “xã hội nóng”. “Xã hội lạnh” hoạt động như đồng hồ, “xã hội nóng” hoạt động như động cơ hơi nước.

Các “xã hội lạnh” (xã hội tiền sử chẳng hạn) có văn hóa nhưng không có lịch sử vì chỉ lặp đi lặp lại y hệt, từ thế hệ này qua thế hệ khác, tránh mọi thay đổi về kỹ thuật, cách sống, thân tộc hay cách tổ chức quyền lực. Các “xã hội lạnh” có khuynh hướng sẽ biến mất, bị nuốt, bị phá hủy bởi các “xã hội nóng”. Ngày nay, ai cũng biết “xã hội nóng” là các xã hội nào. Ai cũng biết xã hội nào năng động, sáng tạo trong mọi lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, kinh tế, mỹ thuật, giáo dục, tổ chức xã hội… Và ai chắc cũng lo, không biết xã hội ta có đang nguội dần không? Hôm nay cái đồng hồ đều đặn gõ 12 tiếng, ngày mai cũng đều đặn leng keng 12 tiếng y hệt, và ngày kỉa, ngày kia, ngày kìa cũng vẫn 12 tiếng ấy, biết rồi khổ lắm nói mãi.

Làm tổng hợp trên các điều vừa nói – vật chất và tinh thần, cá nhân và tập thể, tiến bộ và trì trệ – tôi đi đến kết luận của một ông thầy thứ ba, nhà xã hội học Edgar Morin: “Văn hóa là toàn thể những niềm tin, những giá trị đặc thù của một tập thể riêng biệt. Văn minh là những gì có thể thuyên chuyển từ tập thể này qua tập thể khác: kỹ thuật, kiến thức, khoa học…Chẳng hạn văn minh Tây phương mà ngày nay đã lan ra toàn cầu hóa, là một văn minh được định nghĩa là toàn thể những phát triển về khoa học, về kỹ thuật, về kinh tế”.

Nhưng ông nói thêm một điều quan trọng: “Và chính văn minh Tây phương ấy ngày nay đang mang đến nhiều hậu quả tiêu cực hơn là tích cực. Đây là điều cần phải cải tổ, nghĩa là cần phải có một chính sách văn minh”.

Đoạn sau trùng ý với Lévi-Strauss. Nhà nhân chủng học này mượn từ “entropie” trong nhiệt động học để nói rằng văn minh có khuynh hướng tiến đến tình trạng xáo trộn của hệ thống: gia tốc dân số, tranh chấp xã hội, cạnh tranh kinh tế, đụng độ vũ trang, chạy đua khí giới, chiến tranh, vắt kiệt tài nguyên, phá hủy thiên nhiên, tiêu thụ phung phí… Làm sao chữa lại những hậu quả “tiêu cực” ấy? Lévi-Struss cậy đến văn hóa, và văn hóa theo ông là tâm linh, đạo đức, triết lý, nghệ thuật và chính trị.

Chính trị theo nghĩa nguyên thủy của Hy Lạp ngày xưa: là cách tổ chức nhà nước thế nào để đạt được phúc lợi chung. Ta thấy đó, ta trở lại với những gì ta nói từ đầu: sự lẫn lộn giữa văn hóa và văn minh.

Văn minh và dân chủ

Vậy thì tôi cũng đành lẫn lộn thôi. Suy nghĩ như một người Việt Nam trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam, tôi trả lời rằng một dân tộc văn minh là một dân tộc có văn hóa cao, nghĩa là năng động, nghĩa là không trì trệ, trên mọi phương diện, vật chất cũng như tinh thần, đầu óc cá nhân cũng như tổ chức xã hội, quyền lực, tiến bộ cùng với xu hướng của thế giới, nhưng không quên rằng mỗi người đều là con cháu thừa tự.

Tôi xin cắt nghĩa mấy chữ sau cùng. Mỗi sáng tạo, hủy diệt, hay mỗi biến chuyển của một nền văn minh đòi hỏi phải có thời gian.

dân chủ, văn minh, văn hóa, dân tộc, Việt Nam, Cao Huy Thuần
Ảnh: Tuấn Kiệt

Vì vậy, trong lịch sử các văn minh, cũng như trong nếp suy nghĩ về văn minh, ý nghĩa thừa tự là căn bản. Một nền văn minh được xây dựng lần hồi, làn sóng này tiếp theo làn sóng khác, về giá trị, về tập tục, về niềm tin. Phải có thời gian để biến chuyển và để củng cố. Để thâu nhận từ bên ngoài và để bảo tồn tận bên trong. Hiện nay, cách mạng tin học và tình trạng toàn cầu hóa có khuynh hướng đồng hóa hết thảy mọi nền văn minh. Nếu chạy theo “văn minh kỹ nghệ”, tiến bộ vật chất một cách mù quáng, không chừng ta thắp một cây hương cho tổ tiên nào không phải là của ta.

Riêng về mối tương quan giữa tập thể và cá nhân, phải nhấn mạnh rằng một tập thể không thể văn minh nếu con người trong đó không văn minh. Giáo dục, chính là để đào tạo nên những con người văn minh. Và thế nào là con người văn minh? Là biết yêu chân, thiện, mỹ. Yêu sự thật, yêu cái tốt, cái đẹp. Chỉ nói sự thật mà thôi, thế nào là yêu sự thật? Là ghét giả dối. Giáo dục là không dạy con trẻ đưa nói láo lên thành hệ thống cai trị.

Nhưng muốn có một nền giáo dục như vậy, tất nhiên phải đặt chính trị lên hàng đầu. Bởi vì chính trị chỉ huy giáo dục. Xưa nay nhà trường chỉ có hai loại: nhà trường dạy phán đoán và nhà trường không dạy phán đoán. Loại nhà trường sau là để minh họa.

Cho nên, cuối cùng, con đường phát triển đi đến văn minh của dân tộc không cách nào khác dân chủ. Bắt đầu bằng thực tâm muốn thực hiện dân chủ. Rồi có thể không vội. Dân chủ hóa lần hồi. Nhưng làm đừng khác nói. Và người dân cứ lấy sáng kiến mà làm. Bước tới chứ đừng bước lui.

Và thấy rằng xu hướng dân chủ là không tránh được, không trước thì sau thôi, bánh xe lịch sử sẽ nghiền nát mọi chướng ngại.

  • GS. Cao Huy Thuần (từ Pháp)

NHỮNG NGUYÊN NHÂN KHIẾN TRUNG QUỐC ÁP ĐẢO KINH TẾ VIỆT NAM – GNA

29 Th12

 

NHỮNG NGUYÊN NHÂN KHIẾN TRUNG QUỐC ÁP ĐẢO KINH TẾ VIỆT NAM

Alan Phan

300pxtianasquare

6/6/2014

Mọi người tiêu thụ đều thấy rằng hàng Trung Quốc tràn ngập Việt Nam, ngay cả trong những sản phẩm mà chúng ta có lợi thế về khí hậu, thổ nhưỡng như nông sản, thực phẩm…Trong khi đó, chúng ta xuất khẩu phần lớn các khoáng sản hay tài nguyên thiên nhiên qua Trung Quốc để họ chế biến sơ xài rồi tái bán ra những thành phẩm với giá cao gấp vài lần. Các sản xuất công nghiệp thì phụ thuộc hoàn toàn vào nguyên liệu, máy móc và công nghệ cũ của Trung Quốc, nhất là ngành dệt may, giầy dép, đồ gia dụng…Ngay cả trong lĩnh vực dịch vụ như du lịch, giải trí (phim ảnh, TV..), video games…Trung Quốc là nhà cung cấp hàng đầu trên thị trường. Quan trọng hơn, những dự án tầm cỡ quốc gia về điện lực, khoáng sản, giao thông….90% nhà thầu là công ty Trung Quốc.

Con số chứng minh hiện trạng trên biểu hiện theo thống kê nhập siêu của Việt Nam: trong 2012, chúng ta xuất qua Trung Quốc 19 tỷ USD và phải nhập khẩu đến gần 40 tỷ USD từ Trung Quốc.

Muốn tìm giải pháp cho vấn đề này để thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc trên mọi bình diện, chúng ta cần biết rõ những nguyên nhân đã gây ra sự áp đảo một chiều này:

1.     Vị trí địa dư

Nằm cạnh một quốc gia có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới tất nhiên Việt Nam phải chịu nhiều tác động. Các cường quốc luôn có tham vọng bành trướng ảnh hưởng để thu lợi từ các quốc gia nhỏ bé hơn và các nước láng giềng có thể coi như là “low-hanging fruits” (trái quả ở vị trí thấp) dễ hái và thu nhặt trước.

Tuy nhiên, khi so sánh vị thế của Mexico và Canada cạnh Mỹ, ta có thể nhận biết sự khác biệt: dù ít dân hơn Mexico, Canada đã được Mỹ đối xử như một đối tác bình đẳng; và trong quan hệ kinh tế, Canada còn lợi dụng sự to lớn của thị trường Mỹ để tăng trưởng. Trong khi đó, với cơ chế lạc hậu và dân trí thấp kém, Mexico cam phận là sân sau của kinh tế Mỹ, gần giống như Việt Nam với Trung Quốc.

Trong thế chiến thứ hai, phát xít Đức đè bẹp các nước láng giềng, nhưng lại rất tôn trọng sự trung lập của Thuỵ Sĩ và các nước Bắc Âu. Một chánh sách khôn ngoan, chủ động của chánh phủ và một tầng lớp nhân dân giàu có dựa trên nền kinh tế độc lập là sự khác biệt giữa nô lệ và chủ quyền.

2.     Yếu tố lịch sử

Sự bành trướng của các đế quốc trong lịch sử đều dựa vào tiền đề là xâm lược để tìm những tài nguyên hay tài sản nào mà đế quốc cần. Trong lịch sử Trung Quốc, nạn đói vì thiếu đất trồng trọt đã khiến quân đội Trung Quốc luân phiên Nam tiến để thoả mãn bao tử của con dân. Đông Nam Á là miếng mồi hấp dẫn qua mọi triều đại, kể cả những cuộc di dân khổng lồ của người Trung Quốc để tránh bạo loạn trong nội địa.

Việt Nam là một điểm đến quen thuộc qua nhiều ngàn năm. Trong chiến dịch mới nhất, Trung Quốc đã dụ được các lãnh đạo Việt Nam bằng chiêu bài “lý tưởng quốc tế đại đồng” (theo góc nhìn của các hoàng đế Trung Quốc là “Hán hoá”), và họ đã thành công vì bất chiến tự nhiên thành.

Nhìn vào một lăng kính khác, hiện nay, nhu cầu của đế quốc Mỹ là “trí tuệ và sáng tạo” cho nền kinh tế dựa trên công nghệ cao. Không như Trung Quốc, Mỹ không cần đến dầu khí, khoáng sản hay nông phẩm từ Việt Nam; và chắc chắn là không nhắm vào thị trường đồ rẻ tiền.

Thực ra, chính Mỹ đã giúp 2 quốc gia đông dân nhất là Trung Quốc và Ấn Độ phát triển nhanh để gia tăng tài sản mềm cũng như để bành trướng thêm thị trường cho các sản phẩm cao cấp của Mỹ. Họ có thể là đối tác lý tưởng để Việt Nam thay đổi cốt rễ của nền kinh tế và tăng trưởng theo mức độ của Nhật Bản và Hàn Quốc.

Tuy nhiên, giải pháp này không khả thi “vì ván đã đóng thuyền”. Khi cá đã cắn câu và chim đã vào lồng rồi, thì đành “lỡ bước sang ngang” vậy?

3.     Mối tình đồng chí

Đa số lãnh đạo Việt Nam đã học tập rất tốt theo tấm gương Bác Hồ để kết thân và tạo những “mối tình” sâu xa với các đồng chí Trung Quốc (cũng như với anh sở khanh Liên Xô). Đây là một điều khó lý giải theo biện chứng khoa học, tuy vậy, mọi người đều hiểu rằng con tim có những lý lẽ riêng của nó.

Hội chứng người vợ bênh vực và sát cánh bên chồng, không rời bỏ được, dù gặp phài anh chồng vũ phu, bê bối, truỵ lạc…là một bệnh tâm lý phổ thông trên toàn cầu.

Xã hội Mỹ dù lên án và bắt nhốt ngay các loại “chồng” này, nhưng thảm hoạ vẫn tồn tại mạnh mẽ, nhất là trong những cộng đồng thiểu số nghèo hèn. Văn hoá và pháp luật Việt Nam vẫn còn bảo thủ; nên chuyện yêu đương bệnh hoạn của các đồng chí Việt Trung sẽ còn tiếp tục vài ba thế hệ.

4.     Môi trường quen thuộc

Doanh nhân Trung Quốc rất thích môi trường kinh doanh tại Việt Nam vì sự quen thuộc như sân nhà. Nhờ một sao chép khá tỉ mỉ về mô hình, cơ chế, văn hoá và ứng dụng vào mọi sinh hoạt của đàn em Việt, các doanh nhân Trung Quốc không chút bở ngỡ hay phải điều chỉnh tư duy làm ăn của họ khi đến Việt Nam. Sự quen thuộc tạo một lợi thế cạnh tranh lớn cho Trung Quốc so với các quốc gia khác.

Thông thường, một nhà đầu tư hay một thương nhân nước ngoài phải mất chừng 6 tháng đến 2 năm để làm quen với thủ tục hành chánh và luật lệ, tạo quan hệ với quan chức và đối tác, đi sâu vào các ngõ ngách của thị trường và thói quen của người tiêu dùng….Vì lối vận hành giống như một tỉnh của Trung Quốc, các doanh nhân Trung Quốc đốt ngắn giai đoạn và phát triển cơ sở, mạng lưới rất nhanh. Có thể nói, Việt Nam là điểm đến đầu tiên khi doanh nhân Trung Quốc cứu xét các cơ hội làm ăn cho công ty mình.

5.     Chính sách của chánh phủ Việt Nam

Quan điểm chung của đa số lãnh đạo Việt Nam là Trung Quốc đã góp phần rất lớn vào các chiến thắng đánh Pháp, Mỹ và VNCH để Đảng và nhà nước có được quyền lực và quyền lợi ngày nay. Đó là một cái ơn nghĩa lớn hơn cả Thái Sơn như một ngài lý thuyết gia của Đảng (không nhớ tên) phát biểu trong một tiểu luận. Thêm vào đó, sau sự sụp đổ của đế chế Liên Xô, Trung Quốc là chỗ tựa lưng duy nhất của nhà cầm quyền.

Từ đó, doanh nhân Trung Quốc thừa hưởng những đặc quyền, đặc lợi từ nhiều dự án lớn nhỏ. Để tránh những dòm ngó của những thế lực chống đối, nhiều công ty Trung Quốc khi đầu tư hay mua bán làm ăn tại Việt Nam phải dùng vỏ bọc của BVI, Bermuda, Hồng Kong, Đài Loan…Nếu tính ra chủ nhân thực sự sau của những nhà đầu tư và doanh nhân này, Trung Quốc mới là nhà đầu tư số một tại Việt Nam. Con số nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc có thể lớn hơn nữa nếu thống kê bao gồm những điểm trung gian tiếp cận hàng hoá.

6.     Tệ nạn phong bì

Các lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam đều thừa nhận sự tham nhũng tràn lan tại khắp miền lãnh thổ. “Họ ăn không chừa một thứ gì…” là câu nói tiêu biểu.

Trong khi đó, có thể nói doanh nhân Trung Quốc năng động và nổi tiếng về nghệ thuật hối lộ. Trên khắp thế giới, các quan chức, kể cả Âu Mỹ, đều thích làm ăn với thương gia Trung Quốc. Chỗ nào không đưa được phong bì thì họ sẽ tìm cách khác để đưa quà hay lợi lộc nào đó để né tránh luật lệ.

Với thái độ cởi mở về phong bì, Việt Nam là một thiên đường để doanh nhân Trung Quốc tự do lợi dụng và hưởng lợi. Ngoài ra, trong khi doanh nhân Âu Mỹ Nhật lo sợ về chuyện phạm pháp tù đày vì luật lệ xứ sở của họ cấm hối lộ; thì chánh phủ Trung Quốc khuyến khích doanh nhân nước họ dùng phong bì như là một vũ khí thương mại hiệu quả.

7.     Kỹ năng của doanh nhân Trung Quốc

Sau cùng, chúng ta phải công nhận là doanh nhân Trung Quốc rất giỏi trong việc đột phá tìm thị trường và tạo ra những vị thế độc tôn. Dù không sáng tạo như người Do Thái, dân làm ăn Trung Quốc kiên nhẫn, thủ đoạn, cần cù, nắm bắt cơ hội, chịu đựng rủi ro…hay hơn mọi doanh nhân thế giới. Họ cũng ngoại giao tài tình: không ai mới hợp tác với doanh nhân Trung Quốc mà không choáng ngợp với sự tiếp đãi nồng hậu thân thương. Chỉ sau một thời gian, khi cá đã cắn câu, thì chúng ta mới nhận ra thế kẹt của mình.

Cộng với kỹ năng, mạng lưới Hoa Kiều tại năm châu và sự trợ giúp tận tình của chánh phủ Trung Quốc qua các tín dụng dễ dãi đã tăng thêm lợi thế cạnh tranh này.

Lời kết

Sự áp đảo kinh tế và chính trị của Trung Quốc với Việt Nam là một hiện thực với nhiều yếu tố khách quan khó vượt qua. Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất vẫn là một quyết tâm của lãnh đạo xây dựng cho đất nước một vị thế đáng nể trên góc nhìn của thế giới.

Sự nể trọng này, nhất là đối với Trung Quốc, có thể đến từ các yếu tố:

–         Hành động thay vì những lời tuyên bố lảm nhảm không ai tin;

–         Mở rộng cửa đón nhận nhà đầu tư và đối tác khắp thế giới để giảm sự chi phối của Trung Quốc trong nền kinh tế;

–         Cởi trói cho khu vực tư nhân để doanh nhân Việt Nam tự do tìm định hướng mới cho nền kinh tế với bản sắc Việt;

–         Giảm gánh nặng hành chánh, thuế má, nợ vay nước ngoài…bắng cách sa thải 2 phần 3 công chức;

–         Nâng cao dân trí bằng sự minh bạch với các lỗi lầm trong quá khứ và đem kiến thức toàn cầu đến người dân bằng tự do Internet.

“Thoát Trung” có thể là một đề tài thời thượng cho các chuyên gia rảnh rỗi chém gió. “Thoát Ta’ mới là một nhu cầu cấp bách để đưa Việt Nam vào thế kỷ 21.

Alan Phan

Những Gì Chờ Đợi Việt Nam ? – Alan Phan

29 Th12

 

Những Gì Chờ Đợi Việt Nam ?

Alan Phan

Welcome-2015-quotes

27 December 2014

Tôi có thói quen hay ghi lại những gì đang lộn xộn trong đầu óc khi chợt thức giữa đêm. Noel 2014 đã qua và New Year 2015 sắp đến, không biết sao tôi lại nhớ đến câu nói này của 2 danh nhân;” Suy tư thường dễ dàng, hành động thường khó khăn, và điều khó khăn nhất thế giới là biến suy tư thành hành động – Thinking is easy, acting is difficult, and to put one’s thought into action is the most difficult thing in the world – J. W. von Goethe.” Rồi ,” Kỷ luật là cầu nối giữa mục tiêu và thành tựu – Discipline is the bridge between goals and accomplishment – Jim Rohn” .

Bao nhiêu câu hỏi từ các phóng viên, từ các emails riêng tư của bạn đọc…đều quay quanh chủ đề là theo góc nhìn của Alan, trong năm 2015 và xa hơn, những gì sẽ đến với Việt Nam và các thành phần trong xã hội. Doanh nghiệp nào hay ngành nghề nào hay kênh đầu tư nào sẽ chịu thiệt và ai sẽ hưởng lợi. Hệ thống ngân hàng hay bất động sản có vỡ trận? Kinh tế thế giới sẽ tác động thế nào vào Việt Nam? Vì tôi đã im lặng khá lâu về các vấn đề trên, nên các bạn khuyên là phải “xả bầu tâm sự” vào dịp cuối năm này.

Như thường lệ, xin cảnh báo cùng bạn đọc đây chỉ là một phân tích cá nhân nhiều chủ quan của một nhà kinh doanh và đầu tư, không phải là một nghiên khảo gì sâu sắc theo chuẩn của giới hàn lâm. Tôi hy vọng nếu có sai lầm thì chỉ mình ông già Alan phải trả giá.

Trước hết là xu thế toàn cầu. Vụ giá dầu thô giảm kỷ lục vì đồng Mỹ kim lên giá, vì vài tác nhân địa chính trị cũng như vì luật cung cầu là một thiên nga đen khá bất ngờ trong dự đoán kinh tế cho 2014. Tôi nghĩ rằng tình hình bất ổn từ sự kiện này sẽ tiếp tục diễn biến trong vài năm tới. Dù gây thâm thụt cho ngân sách các quốc gia xuất khẩu dầu, giá dầu thô rẻ sẽ kích thích thêm mãi lực của người tiêu dùng và giữ lạm phát toàn cầu ở mức rất thấp. Tuy nhiên, với những món nợ công và tư thanh toán bằng Mỹ kim, gánh nặng gia tăng trên vốn và lãi có thể cao hơn những lợi ích thu lại từ tiêu dùng.

Về địa chính trị, Mỹ và Tây Âu đang thắng thế trong những tranh chấp với các cường quốc cũ từ khối Cộng Sản. Nga và Trung Quốc dầu có liên minh chặt chẽ cũng không đủ lực để xoay trở thế cờ. Tuy nhiên, với lòng sĩ diện cao độ của 2 ông Putin và Tập Cận Bình, Nga và Trung Quốc có thể khuấy lên những phá rối địa phương, cũng như họp với nhóm Hồi giáo cực đoan để gây thêm bất ổn cho những thăng bằng về quyền lực và đồng Mỹ kim. Mùa bầu cử Tổng Thống Mỹ vào năm 2016 sẽ tuỳ thuộc nhiều vào các biến động này.

Quay lại Việt Nam, mối đe doạ lớn nhất cho chính quyền là những thành tựu hay thất bại về kinh tế, nhất là việc nâng cao mức thu nhập của đa số người dân. Việc thay đổi cơ chế và tái cấu trúc toàn diện tuy cần thiết nhưng sẽ tiếp tục nằm trên bàn giấy của các quan chức; lý do là có quá nhiều dây mơ rễ má và mâu thuẫn của các thế lực lợi ích, để thay đổi sâu rộng trong việc thực thi bất cứ giải pháp gì về nền kinh tế. Dù được nhiều nhóm tư bản đỏ ủng hộ (hy vọng một chuyển giao tài sản lớn lao như Nga 20 năm trước), việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước sẽ vẫn trì trệ vì các phe nhóm đảng không chịu buông.

Do đó, mức thu nhập thực sự của đa số người dân sẽ không thể gia tăng nếu tính theo PPP (parity purchasing power) với tỷ giá đô la sẽ tăng cao ở thị trường tự do. Ngoài ra, vì sự thiếu hụt ngân sách trầm trọng hơn, chính phủ sẽ truy thu tận mức mọi loại thuế phí, tạo thêm gánh nặng đã quá tải cho các doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, giới cầm quyền sẽ yên tâm vì hai cột trụ FDI và kiều hối vẫn tăng đều đặn và tiếp tục yểm trợ cho các hoạt động kinh tế chính yếu, nhất là tăng trưởng GDP và dự trữ ngoại hối, ít nhất trên thống kê của chính phủ.

Ngoài ra, mặc cho bao bơm thổi từ PR công và tư, chứng khoán, bất động sản và những hoạt động kinh doanh tư nhân vẫn èo uột và không thể đột phá.  Bài toán nợ xấu sẽ phải đợi vài năm tới khi kinh tế khả quan hơn và chính phủ có đủ phương tiện thanh toán.

Trong khi đó, một thiểu số người giàu và những thành phần hưởng lợi từ FDI và kiều hối sẽ an hưởng nhiều phúc lợi hơn từ thu nhập cao cùng việc giảm phát. Họ gồm các quan chức, những nhân viên và đối tác làm cho doanh nghiệp FDI và các hộ dân có tiếp tế từ nước ngoài. Nhóm quản lý trẻ Việt kiều sẽ tăng nhân số vì các công ty đa quốc thích sử dụng họ tại những địa phương bản xứ.

Phần còn lại, đa số người dân sẽ hứng chịu một tình huống tệ hơn vì thu nhập không tăng, làm ăn khó khăn vì cạnh tranh của toàn cầu và sưu cao thuế nặng của Việt Nam. Họ vẫn phải tiếp tục đối đầu với ô nhiễm môi trường do các nhà máy FDI mới; với tệ nạn quản lý giáo dục và y tế công cộng; với thực phẩm độc hại và thói quen ăn nhậu, thuốc lá…bừa bãi; với nạn giao thông hỗn loạn; với tham nhũng phong bì khắp nơi và trên hết là sự thiếu hụt một mạng lưới an ninh xã hội cho người nghèo. Một yếu tố mới có thể gây bất ổn xã hội là sự du nhập những công dân hạng nhất từ Trung Quốc, Hàn Quốc… trong bối cảnh một một nền chính trị tư pháp “vũ như cẩn”.

Chất xám và tư bản “đen” tiếp tục “di cư” và tinh hoa của đất nước càng ngày càng biến dạng. Sự tạm bợ thành căn bản trong văn hoá và tư duy nên phong cách sống không còn chiều sâu. Mọi người thi nhau tranh giành, chụp giựt nên tội phạm sẽ gia tăng và chủ nghĩa mackeno sẽ thăng hoa trên nhiều khía cạnh.

Tuy nhiên, ngoài những tranh chấp quyền lực vẫn thường xẩy ra ở thượng tầng lãnh đạo, không một nội lực nào có đủ khả năng để tạo thay đổi về chính trị. Trong lịch sử cận đại, mọi thay đổi của Việt Nam đều đến từ những tác nhân “nước ngoài”. Hiện nay, mọi cường quốc có thể ảnh hưởng đến Việt Nam đều chấp nhận nguyên tắc “live and let live”. Không ai muốn quấy rối một “status quo”, dù sự ổn định đó là thực hay ảo, phi lý hay theo thời .

Trong những nước tôi đã đi qua, Nigeria tạo cho tôi nhiều ấn tượng đặc biệt. Đây là quốc gia đông dân nhất của châu Phi, với tài nguyên “tiền rừng bạc biển” nhờ dầu khí và khoáng sản. Thiên nhiên ưu đãi mảnh đất trù phú nông nghiệp, thuận lợi cho kỹ nghệ du lịch, và địa chính trị cạnh biển tạo một nền thương mại khá phồn thịnh cách đây vài trăm năm.

Trong lịch sử, Nigeria bị đô hộ bởi thực dân Anh hơn 15 thập niên, dành độc lập ít lâu thì lâm vào cuộc nội chiến tàn khốc, giữa nhóm dân Hausa và Yoruba, có liên quan đến chủ nghĩa, truyền thống bộ lạc và yếu tố Thiên Chúa giáo-Hồi giáo. Vài lãnh tụ cũng tập tễnh theo chủ nghĩa Mác Lê, nhưng chỉ sau vài năm, họ vái dài CNXH và quay lại với tư bản hoang dã.

Dân Nigeria thông minh, khôn vặt, năng động và quỷ quái nhất châu Phi. Họ phiêu lưu khắp thế giới “xuất khẩu lao động” và đóng góp số tiền kiều hối khoảng 22 tỷ đô la mỗi năm. Với GDP chừng 500 tỷ, chia ra cho 175 triệu dân, thu nhập hàng năm của mỗi người dân khoảng 2,800 đô la. Chính phủ Nigeria nổi tiếng về tham nhũng, lãng phí, có quá nhiều “đầy tớ nhân dân” cùng luật rừng, một nhóm đại gia siêu giàu và kinh tế gần như tuỳ thuộc hoàn toàn vào FDI và kiều hối. Dân Nigeria cũng say mê bóng đá, sex và scams (lừa bịp).

Khác với Việt Nam, Nigeria có một nền dân chủ đa nguyên (ít nhất là trên giấy tờ); và thống kê của chính phủ có vẻ chân thật: tỷ lệ thất nghiệp là 24%…và không lãnh đạo nào tuyên bố dân họ…hạnh phúc nhất nhì thế giới. Về văn hoá, nhà văn Wole Soyinka của Nigeria đã từng đoạt giải Nobel về văn học: ông Chinua Achebe tạo tiếng vang thế giới với tác phẩm Things Fall Apart (Mọi Thứ Gẫy Đổ).

Một anh bạn người Nigeria cùng học với tôi ở Penn State 51 năm về trước vẫn giữ liên lạc. Anh về nước khoảng 1970, năng động trên trường chính trị Nigerian, leo đến chức Bộ Trưởng vài năm dưới một chánh quyền quân sự nào đó thời 90’s. Trong một cuộc đảo chánh, vợ con bị giết, anh chạy thoát qua Mỹ tỵ nạn và giữ một chân giảng viên đại học ở Mid-west cho đến nay. Anh vẫn trăn trở với quê hương đất nước và đợi chờ mỏi mòn cho một đổi mới, anh gọi là new dawn (bình minh mới). Cách đây 2 tháng, tôi cùng anh chuyện trò vớ vẩn qua điện thoại. Sau 20 phút, anh kết luận, “Yes, I’m still waiting…but I‘m no longer knowing what to expect…What’s about Vietnam?” (Vâng, tôi vẫn chờ…nhưng tôi không còn biết phải mong đợi điều gì?..Còn Việt Nam thì sao? “)

Tôi im lặng và nói goodbye.

Alan Phan

Nhìn lại Việt Nam năm 2014 – BBC

28 Th12

 

  • 27 tháng 12 2014

Người Việt khắp nơi trong đó có London đã biểu tình phản đối Trung Quốc trong vụ giàn khoan

Năm 2014 chứng kiến nhiều sự kiện kịch tính ở Việt Nam trong lĩnh vực quan hệ đối ngoại, nhân quyền và người Việt ở nước ngoài.

Việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trong hơn hai tháng tại nơi mà Việt Nam coi là vùng đặc quyền kinh tế của riêng mình đã khiến quan hệ hai bên trở nên căng thẳng.

Việt Nam cáo buộc các tàu Trung Quốc đâm vào tàu hải quân Việt Nam tại vùng biển mà Bắc Kinh đưa giàn khoan nổi của họ vào từ đầu tháng Năm.

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố “nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này [độc lập, chủ quyền] để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”.

Nguyễn Hùng của BBC nói ngoài tuyên bố về hữu nghị viển vông, lệ thuộc vào Trung Quốc, ông Dũng cũng còn có những phát biểu cứng rắn khác về Trung Quốc.

Khi tiếp xúc cử tri ở Hải Phòng trong tháng 12, ông nói “Không thể có bạn kiểu nhà tôi là nhà anh, của tôi là của anh được”.

Trong số các lãnh đạo ở Việt Nam thì ông Dũng có những phát biểu mạnh mẽ nhất khi đề cập tới những hành động của Trung Quốc trên Biển Đông. Các phát biểu này được sự tán đồng của số đông người dân nhưng không nhất thiết được các chính trị gia bảo thủ và thân Trung Quốc chia sẻ.

Bạo loạn

Diễn biến trên Biển Đông cũng dẫn tới những vụ bạo loạn ở một số nơi trong đó có Hà Tĩnh khiến hai công nhân Trung Quốc chết và nhiều người bị thương.

Trung Quốc sau đó đã đưa tàu tới đón hàng ngàn công nhân về nước.

Nhiều nhà máy của các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là Đài Loan, đã bị đập phá trong các vụ bạo loạn.

Một số nhà máy của các công ty Nhật Bản và Hàn Quốc cũng bị ảnh hưởng trong đợt bạo loạn và chính các nước này ở góc độ nào đó cũng có những tranh chấp lãnh hải với Trung Quốc.

Nguyễn Giang của BBC dẫn lời trang The Diplomat nói sự kiện Trung Quốc đặt dàn khoan Hải Dương vào vùng biển Việt Nam cho là có tranh chấp gần Hoàng Sa không thể không nhìn trong bối cảnh chung được các trang chuyên đề về châu Á.

Đó là chính sách ‘nắn gân’ các quốc gia trong khu vực của Chủ tịch Tập Cận Bình sau khi lên cầm quyền.

Điều này có nghĩa là bối cảnh Trung Quốc đưa dàn khoan vào Biển Đông nằm cùng trong chính sách của họ ở biển Hoa Đông khi Trung Quốc cho lập vùng nhận dạng phòng không gần Điếu ngư/Senkaku để thách thức Nhật Bản mà cụ thể là thủ tướng Shinzo Abe.

Nhiều cơ sở của các công ty Đài Loan đã bị đốt phá hồi tháng Năm

Ngoài ra đây cũng là cách Trung Quốc thử thách Hoa Kỳ để định lượng cách ứng phó trước chính sách xoay trục của Mỹ tại vùng Tây Thái Bình Dương.

Giới bình luận cũng cho rằng dù trong năm 2014, Trung Quốc tạm ngưng thách thức các quốc gia khác về biển đảo trong vùng nhưng điều này chỉ có tính tạm thời, và trong 2015 các diễn biến mới quanh an ninh biển đảo sẽ có thể lại bùng phát.

Mọi thứ phụ thuộc vào chuyện nội bộ Trung Quốc và cách đánh giá các vấn đề khu vực của ông Tập Cận Bình.

35 chiến tranh biên giới

Vẫn liên quan tới quan hệ Việt – Trung, năm 2014 đánh dấu 35 năm cuộc chiến biên giới đẫm máu hồi năm 1979.

Cuộc tấn công quy mô vào sáu tỉnh biên giới của Việt Nam đã khiến hàng vạn người ở hai bên thiệt mạng trong đó có rất nhiều thường dân Việt Nam.

Khác với các đợt kỷ niệm 30/4 mỗi năm, chính quyền không bật đèn xanh cho các hoạt động tưởng niệm.

BBC Tiếng Việt và Tiếng Trung đã cử các cộng tác viên tới Vân Nam.

Ông Dean Peng, người đứng bên trái trong ảnh trên và ông Ngô Nhật Đăng, đứng thứ hai từ phải sang đã tìm gặp được hai cựu binh Trung Quốc của cuộc chiến năm xưa và đã uống tới say. Bản thân ông Đăng cũng nhập ngũ trong năm 79.

Hai cộng tác viên của BBC nói phía Trung Quốc cũng không kỷ niệm cuộc chiến này và các nghĩa trang ở Vân Nam cho thấy nhiều lính Trung Quốc đã chết trong cuộc xung đột.

Cựu binh Trung Quốc nói khi nghe tiếng còi xung trận ‘họ bỗng trở thành những người khác’.

Trong khi quan hệ Việt – Trung sứt mẻ đáng kể, mối quan hệ truyền thống giữa Nga và Việt Nam đã ấm nóng trở lại qua những hợp đồng mua bán vũ khí, tàu ngầm và những chuyến thăm qua lại.

Các quan chức Việt Nam tỏ ra vồn vã khi đón tiếp Tổng thống Nga Vladimir Putin, khác hẳn với cách họ đón tiếp những chính trị gia Trung Quốc.

Một số phương tiện truyền thông chính thống của Việt Nam cũng có vẻ ủng hộ quan điểm của Moscow trong những vấn đề liên quan tới Ukraine.

Quan hệ Việt – Mỹ

Cuối tháng 12 năm 2014, Tân Đại sứ Hoa Kỳ Ted Osius đã tới Việt Nam chính thức bắt đầu một nhiệm kỳ mới.

Quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ không có đột phá trong năm 2014.

Nguyễn Giang của BBC nói ông Osius sang nhậm chức ở Việt Nam trong bối cảnh hai quốc gia đối thoại, giao lưu và hợp tác ngày càng nhiều trong ba nhóm chủ đề.

Đầu tiên là quan hệ địa chính trị mang tính chiến lược của Washington ở Việt Nam trong quan hệ tay ba với Trung Quốc.

Thứ nhì là quan hệ kinh tế ngày càng tăng và thứ ba là mảng xã hội dân sự gồm cả nhân quyền, tự do tôn giáo và sự phát triển các mạng lưới cộng đồng.

Theo Nguyễn Giang, trong cả ba nhóm chủ đề, quan hệ Mỹ – Việt vừa có đối thoại thuận lợi, vừa có các khác biệt khá cơ bản, mà sâu nặng nhất là khác biệt nhân quyền và mô hình thể chế.

Hoa Kỳ vẫn tiếp tục lên tiếng ủng hộ các nhà đấu tranh dân chủ tại Việt Nam, và khuyến khích chính quyền mở rộng tự do ngôn luận trước sự dùng dằng, lúc lắng nghe lúc bác bỏ của Đảng Cộng sản cầm quyền tại Việt Nam.

Ngoài ra, ngay cả về đường hướng phát triển hợp tác quân sự, Việt Nam cũng muốn có cách đi riêng, vừa dựa vào thế của Mỹ về pháp lý quốc tế về biển đảo, vừa cho Nga dễ dàng ra vào khu vực cảng nước sâu Cam Ranh.

Về kinh tế, dù Việt Nam hưởng nhiều lợi từ xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ và nguồn đầu tư, kiều hối bằng đô la từ Mỹ về là rất quan trọng, các nhóm lợi ích tại Việt Nam vẫn không muốn cải tổ hệ thống quản trị theo cách thức Hoa Kỳ coi là tốt hơn.

Hoa Kỳ có thái độ nhìn xa, cũng muốn nhấn mạnh đến thiện chí và dùng quyền lực mềm như khuyến khích tự do tôn giáo hơn nữa, thúc đẩy đàm phán TPP, mở Đại học Fulbright, tăng số sinh viên Việt Nam sang Mỹ học hơn là gây sức ép mạnh mẽ với chính quyền Việt Nam trong cả ba lĩnh vực: chiến lược địa chính trị, kinh tế và xã hội dân sự hay nhân quyền.

‘Mạnh mẽ lên!’

Trong lĩnh vực nhân quyền, tin tốt lành là hai người được coi là tù nhân lương tâm của Việt Nam, ông Cù Huy Hà Vũ và Nguyễn Văn Hải, tức blogger Điếu Cày, đã được trả tự do và tới Hoa Kỳ.

Khi đặt chân tới California, ông Hải đã có lời nhắn gửi các tù nhân khác còn ở Việt Nam “hãy mạnh mẽ lên!”.

Sau khi hai ông Cù Huy Hà Vũ và Nguyễn Văn Hải được trả tự do, Tổ chức Bảo vệ K‎y giả vẫn xếp Việt Nam đứng hàng thứ năm trên thế giới về việc cầm giữ các cây viết.

Tổng số 16 người mà tổ chức này đưa ra chưa bao gồm hai cây viết bị bắt vào dịp cuối năm là Hồng Lê Thọ và Nguyễn Quang Lập, chủ blog Quê Choa.

Hoa Kỳ nói hai vụ bắt giữ “làm tổn hại tới các nghĩa vụ cũng như cam kết quốc tế của Việt Nam về nhân quyền.”

Trên thực tế Việt Nam hiện là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc và trong phiên kiểm định nhân quyền ở Geneva hồi tháng Hai Hà Nội đã lên tiếng bảo vệ thành tích nhân quyền của mình.

Một số tổ chức dân sự và cá nhân từ Việt Nam đã lần đầu tiên tới tham gia phiên kiểm định định kỳ.

Cây viết độc lập Phạm Chí Dũng vẫn bị ngăn cản khi muốn tham gia các hoạt động liên quan và chỉ có thể gửi video đã thu sẵn tới.

Cũng trong năm qua ông Phạm Chí Dũng cùng một số người khác đã lập ra Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam.

‘Đèn Cù’

Vẫn liên quan tới các cây viết không theo định hướng của chính quyền, tác giả Trần Đĩnh trong năm đã xuất bản ở hải ngoại hai tập sách Đèn Cù gây nhiều tiếng vang và tranh cãi.

Cuốn sách đụng chạm tới nhiều nhân vật lãnh đạo cao cấp trong đó có ông Hồ Chí Minh.

Cuốn Đèn Cù cũng đề cập tới biến cố Cải cách Ruộng đất xảy ra hơn 60 năm về trước.

Một triển lãm về Cải cách Ruộng đất ở Hà Nội cũng bị đóng cửa sớm.

Hình ảnh từ triển lãm Cải cách Ruộng đất

Cuộc Triển lãm tại Bảo tàng Lịch sử Hà Nội là một cố gắng muộn màng của hệ thống khoa giáo ở Việt Nam muốn nhìn lại một vấn đề rất nghiêm trọng nhưng lại không đủ tự tin để mở lại nghiêm túc mà chỉ ‘nửa đóng nửa mở, nửa kín nửa hở.’

Trong lịch sử cuộc cách mạng vô sản do Đảng Cộng sản lãnh đạo, Cải cách Ruộng đất theo mô hình Mao là chiến dịch bạo lực sâu rộng nhằm vào chính nông dân Việt Nam, với niềm tin khi đó là để ‘cải tạo’ cả một xã hội, và đã lại những vết thương đạo đức khủng khiếp.

Vì không cho nói ra hết về những đau thương và sự tàn phá với xã hội của Cải cách Ruộng đất nên cuộc triển lãm đã lại cảm giác cụt hứng, thậm chí giận dữ trong một phần công chúng Việt Nam.

Nhưng ngược lại, sự quan tâm của dư luận cho thấy còn khá nhiều chủ đề chưa mở hết trong lịch sử Việt Nam, mà Cải cách Ruộng đất chỉ là một, và tác giả nào viết được về những giai đoạn đó sẽ nhanh chóng đi vào lòng người.

Kỷ luật vì ‘án oan’

Cuối năm 2014 ở Việt Nam rộ lên làn sóng đòi công lý cho hai tử tù Hồ Duy Hải và Nguyễn Văn Chưởng.

Cả hai người đều bị kết tử hình từ vài năm nay và gia đình họ nói hệ thống tư pháp Việt Nam đã kết án oan.

Trong vụ tử tù Hồ Duy Hải, án tử hình đã được hoãn thực hiện chỉ một ngày trước khi bản án được thi hành để xem xét lại.

Và báo chí Việt Nam nói Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ xem xét các chi tiết của vụ anh Nguyễn Văn Chưởng bị kết án tử hình trong quá trình xét xử mà gia đình tố cáo công an Hải Phòng đã ‘tra tấn’ và ép cung bản thân anh Chưởng và các nhân chứng chủ chốt.

Liên quan tới một vụ kết án chung thân đã được minh oan, vào cuối tháng 12, Giám đốc và Phó giám đốc Công an tỉnh Bắc Giang bị kỷ luật ‘nghỉ việc sớm’ do để xảy ra vụ án oan đối với tử tù Nguyễn Thanh Chấn.

Ông Nguyễn Thanh Chấn ở huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đã bị kết án và đi tù 10 năm do bị các cơ quan công an điều tra và tố tụng của tỉnh này buộc tội và kết án là hung thủ giết người, cướp của, hiếp dâm, gây ra cái chết của bà Nguyễn Thị Hoan, người ở cùng thôn.

Toàn quyền tiểu bang

Liên quan tới người Việt Nam ở nước ngoài, ông Lê Văn Hiếu, người gốc Việt từng là thuyền nhân tị nạn, đã chính thức tuyên thệ nhậm chức Toàn quyền tiểu bang Nam Úc hồi đầu tháng Chín.

Cũng liên quan tới các cựu thuyền nhân, Thượng viện Canada hôm đầu tháng 12 đã thông qua Dự Luật “Hành trình đến Tự do” vốn được Thượng nghị sỹ Ngô Thanh Hải và Thượng nghị sỹ Enverga đồng bảo trợ.

Theo dự luật, ngày 30/4 hàng năm được coi là ngày kỷ niệm làn sóng người tỵ nạn từ Việt Nam sau khi cuộc chiến kết thúc năm 1975. Tuy nhiên, dự luật còn phải qua Hạ Viện Canada.

Còn tại Hoa Kỳ, Janet Nguyễn, một giám sát viên Quận Cam, đã ghi tên vào lịch sử khi trở thành người Việt đầu tiên được bầu chọn vào Thượng viện tiểu bang California, nơi có đông người gốc Việt nhất Hoa Kỳ.

Hiện bà Janet là dân biểu cao cấp nhất của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Ngoài bà, ở California hiện cũng có khoảng 20 đại biểu dân cử gốc Việt các cấp, đa số là ủy viên giáo dục và nghị viên hội đồng thành phố.

‘Flappy Bird’

Năm 2014 cũng đánh dấu hai lần trở về của ca sỹ Khánh Ly.

Giọng hát nhạc Trịnh Công Sơn độc đáo của bà đã thu hút sự chú ‎y của đông đảo khan giả nhưng cũng có những tranh cãi liên quan tới bản quyền nhạc Trịnh Công Sơn giữa đơn vị tổ chức biểu diễn và trung tâm bản quyền.

Flappy Bird khiến Nguyễn Hà Đông nổi tiếng khắp thế giới

Tại nước Anh, một người Việt đã được vinh danh là nhà tạo mẫu tóc số một.

Anh Giáp Lê tốt nghiệp đại học ngành kinh doanh nhưng đã theo đuổi đam mê về tạo mẫu tóc. Anh nói người Việt muốn thành công ở London phải cố gắng gấp nhiều lần người bản xứ.

Và dù bạn là người Việt ở ngoài hay ở trong nước, có lẽ bạn khó mà không nghe tới trò chơi Flappy Bird.

Trò chơi này đã mang lại hàng triệu đô la cho chủ nhân Nguyễn Hà Đông nhưng anh đã sớm kết liễu trò chơi vì sợ nó gây nghiện cho người dùng.

Tin liên quan

  • Tàu TQ vây tàu VN trước ngày dời giàn khoan
    16 tháng 7 2014
  • ‘VN bảo vệ chủ quyền bằng mọi biện pháp’
    16 tháng 10 2014
  • ‘Hội nghị 9 cần bàn về giàn khoan 981’
    9 tháng 5 2014
  • Ý nghĩa cuộc biểu tình chống TQ ở VN
    12 tháng 5 2014
  • Điếu Cày: ‘Con tin chính trị’ của HN
    31 tháng 10 2014
  • Ông Hải ‘quyết định sang Hoa Kỳ’
    22 tháng 10 2014
  • ‘Dù cha đã ra tù, tôi vẫn đấu tranh’
    25 tháng 10 2014
  • ‘Đấu tranh ở đâu cũng là đấu tranh’
    7 tháng 5 2014
  • ‘Khó có chuyện ông Hà Vũ được trở về’
    9 tháng 4 2014

Một điệp viên Mỹ tại Việt Nam – BBC

30 Th11

 

  • 3 giờ trước

Ông William E. Colby
Ông William E. Colby đứng đầu văn phòng CIA tại Nam Việt Nam từ năm 1959-1962.

Đối với nhiều người Mỹ thời đó, cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai trên thực tế, đã chấm dứt vào năm 1968.

Báo chí và công chúng tại Hoa Kỳ xem cuộc tấn công Tết Mậu thân là một thất bại lớn cho quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Vào năm 1968, phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ đã lan rộng và thu hút nhiều nhân vật của chính phủ và các thành viên của tầng lớp trung lưu.

Sau năm 1968, cuộc chiến hầu như biến mất khỏi các trang nhất trên báo chí quốc gia.

Nhưng thực ra Tết Mậu thân là một thất bại quân sự lớn đối với người cộng sản miền Nam (Việt Cộng). Vì vậy mà khi thất bại xảy đến cho miền Nam Việt Nam vào năm 1975, nó đã được tiến hành thông qua một cuộc xâm lược của quân đội Bắc Việt mà không phải là một tấn công tổng nổi dậy, do Việt Cộng khơi mào.

Can dự tích cực của Mỹ vào cuộc chiến còn tiếp tục trong bốn năm nữa sau cuộc tấn công Tết Mậu Thân.

‘Thu phục nhân tâm’

Đến năm 1968, chính quyền Johnson từ bỏ phương pháp chiến tranh ‘tìm và diệt’ của Tướng William Westmoreland đi kèm việc ném bom bừa bãi.

Trong giai đoạn nửa sau của cuộc xung đột, Mỹ nhấn mạnh nỗ lực chống nổi dậy và bình định, dẫn đến chiến dịch của Mỹ và giới chức Nam Việt Nam nhằm chinh phục nhân tâm ở nông thôn.

Động lực đằng sau sự thay đổi này là William E. Colby, cựu đặc công Mỹ ở thế chiến II, dẫn dắt văn phòng CIA (Cục Tình báo Trung ương Mỹ) ở Sài Gòn từ năm 1959-1962 và là người đứng đầu Cục Viễn Đông của CIA từ 1963-1968.

Trong giai đoạn Tết Mậu thân, Colby được cắt cử đến Nam Việt Nam để lãnh đạo CORDS, chiến dịch khổng lồ chống nổi dậy/bình định được hợp tác giữa Hoa Kỳ – Nam Việt Nam, vốn được bắt đầu vào năm 1967.

Colby xuất thân từ nhóm xây dựng quốc gia/chiến tranh chính trị của CIA, mà không phải từ cánh gián điệp/phản gián của cơ quan này.

Trong khi làm việc ở Sài Gòn trên cương vị giám đốc phân nhánh CIA, Colby và các nhân viên của ông đã tổ chức các Lực Lượng Dân Sự Chiến Đấu (CIDG) trong những người Thượng gốc Rhađê. CIA vũ trang cho những người dân ở các buôn làng Tây Nguyên, bảo vệ họ tạm thời, rồi khuyến khích chiến đấu chống Việt Cộng. Lực lượng CIDG là nguyên mẫu cho chương trình Ấp Chiến Lược.

Trong thời gian nắm giữ chức Giám đốc Cục Viễn Đông, Colby là kiến trúc sư của cuộc chiến bí mật tại Lào. Tại đó CIA đào tạo và vũ trang cho các thành viên bộ tộc Hmong và gửi họ tới chiến đấu chống lại quân đội Pathet Lào cũng như quân đội Bắc Việt.

Colby tin rằng an ninh ở các vùng quê tại miền Nam Việt Nam chỉ là một phần của giải pháp cho vấn đề.

Ông Colby và George Bush (cha)
Nhiều ý tưởng của ông Colby từ cuộc chiến Việt Nam được áp dụng ở Iraq và Afghanistan, theo tác giả.

Những người Mỹ trên cơ sở quan hệ đối tác với các chuyên gia bình định miền Nam Việt Nam như Thiếu tá Trần Ngọc Châu phải phân tán vào các xóm làng ở Nam Việt Nam, sống với những người nông dân, giúp cải thiện đời sống của họ, vũ trang cho họ và khuyến khích họ đối phó lại cán bộ cộng sản.

Điều mà Colby và các đồng nghiệp của ông hình dung là một cuộc cách mạng từ “cơ sở”, từ “gốc” sẽ mang lại tự trị cho các tỉnh lỵ và trao quyền cho nông dân để bảo vệ chính mình.

Vấn đề là các chế độ quân sự khác nhau ở Sài Gòn lại coi bất kỳ các nhóm vũ trang có gắn kết về chính trị mà họ không kiểm soát được là mối đe dọa đến quyền lực của họ.

Thất bại

Chiến dịch chống nổi dậy và bình định (CORDS) là hoạt động kết hợp quân sự với dân sự đầu tiên và duy nhất trong lịch sử nước Mỹ.

CIA đã thành lập một trung tâm tại Vũng Tàu để đào tạo cán bộ chính trị và các nhóm chống khủng bố cho Nam Việt Nam.

Tại Washington, một Trung tâm Đào tạo Việt Nam cung cấp hỗ trợ, đào tạo ngôn ngữ suốt năm cho CIA, các sĩ quan quân đội Mỹ, các cán sự ngoại giao và nhân viên Cơ quan Phát triển Hoa Kỳ (USAID).

Vào năm 1970, có người Mỹ nói tiếng Việt ở hầu như mỗi thôn xóm ở miền Nam Việt Nam.

Các sĩ quan chiến dịch CORDS và các đồng minh Nam Việt Nam đạt được một số tiến triển chống lại các hoạt động nổi dậy giải phóng của cộng sản ở các vùng nông thôn, mặc dù cộng sản tiếp tục có sự hiện diện lớn ở Đồng bằng Sông Cửu Long, Trung Bộ, và tại các khu vực thuộc mạn nam và đông của Sài Gòn.

Cuối cùng, Colby và các đồng nghiệp của ông đã thất bại.

Họ không thể vượt qua được uy tín dân tộc chủ nghĩa của đối thủ, bản chất áp bức và tham nhũng của chính quyền Sài Gòn, hoặc quyết tâm của chính quyền Nixon kết thúc chiến tranh.

Chiến dịch CORDS phần nào đã trở thành mô hình áp dụng cho người Mỹ chiến đấu ở Iraq và Afghanistan.

Colby trở thành lãnh đạo CIA từ 1973-1976. Tại đây ông hứng chịu cuộc khủng hoảng từ việc công bố “trang sức gia đình” của CIA, tức là những hoạt động bất hợp pháp như âm mưu ám sát nhắm vào các nhà lãnh đạo nước ngoài và việc theo dõi trong nước.

Là người chẳng mấy tin vào sự hợp tác và cởi mở với Quốc hội, Colby đã bị Tổng thống Gerald Ford sa thải vào năm 1976.

Bài viết do Randall B. Woods, giáo sư lịch sử tại Đại học Arkansas, gửi cho BBC. Ông là tác giả của cuốn “Shadow Warrior: William E. Colby and CIA” (tạm dịch: “Người chiến binh trong bóng tối: William E. Colby và CIA”), do Nhà xuất bản Basic Books, New York, ấn hành năm 2013.

Tin liên quan

  • Năm hiểu lầm về Watergate
  • ‘Ngày khởi đầu hoàng hôn của VNCH’
    9 tháng 8 2014
  • Tổng thống Thiệu qua lời kể cựu bí thư
  • Bí mật quanh hồ sơ “Nixon-Thiệu”

 

Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó – Bài 4: Minh truyền – BS

26 Th11

 

Posted by adminbasam on 26/11/2014

Dưới ánh sáng của nền Văn minh Trung hoa cổ đại: Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó – Bài 4: Minh truyền

Nguyễn Tiến Dân

26-11-2014

MINH TRUYỀN

Thiên này, lấy giác độ sống – còn của 1 quốc gia, mà thảo luận phép trị Nước.

Nhà Chu, nghiên cứu rất kĩ, về vấn đề này. Cha truyền – con nối, đều dạy nhau, Nước mất – Nhà tan, bởi:

Khinh thường quần chúng. Nên, chẳng được họ, ủng hộ

Dốt nát và nhu nhược. Nên, dễ bị kẻ khác, đè đầu

Bản thân xấu xa và hủ bại. Nên, nói chẳng ai nghe.

Họ, không đổ lỗi cho người khác. Họ, dạy nhau, phải tu dưỡng Đạo đức. Họ, dặn nhau, không bao giờ, được sống buông thả. Chính vì vậy, họ giữ vững được chính quyền. Trong suốt 800 năm ròng, không một “thế lực thù địch và phản động” nào, có thể lật đổ được họ. Không biết, trên Trái đất. có triều đại nào, tồn tại được lâu như vậy không?

                                                  明传:

文王寝疾,召太公望,太子发在侧. Văn vương tẩm tật, chiêu Thái công Vọng, Thái tử Phát tại trắc.

Văn vương, bệnh nặng. Ngài cho vời, Khương Thái công và Thái tử Cơ Phát, tới bên giường bệnh.

曰:“呜呼!天将弃予,周之社稷,将以属汝. 今予欲师至道之言,以明传之子孙”.

ViếtÔ hô! Thiên tương khí dư, Chu chi xã tắc, tương dĩ thuộc nhữ. Kim dư dục sư chí đạo chi ngôn, dĩ minh truyền chi tử tôn .

Vương, nắm tay 2 người, mà dặn dò: “Ô hô! Trời sắp bỏ ta. Xã tắc nhà Chu, nay mai, sẽ giao cho con quản lí. Nay, mời Quốc sư đến. Xin Người, hãy vì Ta, mà cởi lòng, nói ra những điều, nung nấu nhất trong tâm can, về phép trị Nước – an Dân. Cơ Phát con, đó cũng chính là di chúc, mà Cha sẽ để lại, cho con và cho cháu chắt, muôn đời sau”.   

Ôi, nhân tình – thế thái. Cùng là cách, ký thác con côi. Thế gian, mỗi người mỗi kiểu. Lưu Bị, vụng về đóng kịch, vờ muốn trao lại quyền hành, cho Khổng Minh. Sau khi bị từ chối, mới dặn con, coi Khổng Minh như cha. Chu Văn vương, giỏi – khéo và thâm thúy hơn nhiều. Ông chân tình, dặn con: Thiêng liêng, như Di chúc, Ta cũng để Khương Thái công, nói thay. Bởi, Khương Thái công, thấu hiểu ruột gan Ta. Ta với Khương Thái công, tuy 2 mà là 1. Lời của Thái công, chính là lời của Ta. Sau này, phải nghe lời chỉ bảo của Thái công. Hai Thày – Trò, phải kết hợp với nhau, để giữ vững đại nghiệp.

太公曰:王何所问?Thái công viết: “Vương hà sở vấn?

Thái công nói: “Đại vương, muốn hỏi điều gì?”

文王曰:先圣之道,其所止,其所起,可得闻乎?Văn vương viết: Tiên Thánh chi đạo, kì sở chỉ, kì sở khởi, khả đắc văn hồ?

Văn vương nói: “Thánh – Hiền thủa trước, khi luận về đạo trị Nước – an Dân, họ đã đúc kết: Nguyên nhân nào, khiến Nước mất – Nhà tan. Nguyên nhân nào, khiến Nước mạnh – Dân giàu. Quốc sư, có thể nói, cho Cơ Phát nghe, được không?”

Cùng là cách, chăm lo cho con. Đại bàng, khác hẳn chim sẻ.

Đại bàng, để lại Đất nước cho con. Nhưng, không dạy con, cách ăn cướp – cách bóp nặn Thiên hạ, để ăn trên – ngồi trốc họ. Đại bàng, dạy con cách giữ chế độ lâu dài và chọn cho con, một ông thày tuyệt vời. Để, chỉ bảo cho con, cách làm việc đó.

Chim sẻ, dạy con cách liều lĩnh, lao vút vào thinh không, để thể hiện mình. Trong khi, con nó, đâu có bộ lông dày – đâu có “6 đốt xương trụ vững chắc”. Không kiệt sức, cũng phải chết rét. Đó là tương lai, của chú sẻ non.

Khi con còn trẻ – dốt nát và không có bản lĩnh. Cố tình, đẩy nó ra chính trường. Đó là, cách nhanh nhất, để giết chết nó.

太公曰:见善而怠.  Thái công viết: Kiến thiện nhi đãi”.

Thái công trả lời: “Coi khinh quần chúng bần hàn – lương thiện”. Đó là nguyên nhân số 1, để mất chế độ.

Một chế độ, ra rả kêu rằng, họ “lấy Dân làm gốc”. Nhưng, thực chất, chúng coi Nhân dân, chỉ như 1 bầy nô lệ. Chúng, không chăm lo cho Dân, đã đành. Ngược lại, thông qua, sưu cao – thuế nặng, chúng bóc lột họ, đến tận xương – tận tủy Chúng, lăng nhục – mạt sát họ thậm tệ. Ai cũng có thể, là thằng – là con – là “các thế lực thù địch và phản động”. Chúng, thẳng tay đàn áp, khi người Dân, không nói và làm theo chúng. Thích bắt – là bắt. Thích thả – là thả. Luật – lệ, do chính chúng ban ra, có cũng như không. Bởi, chúng chỉ thích, dùng luật rừng. Có tai như điếc – Bởi, chúng đâu có thèm nghe, tiếng ai oán, vang động khắp trời của dân chúng. Có mắt như mù – Bởi, chúng đâu có thèm nhìn, cuộc sống cơ hàn của quần chúng. Dối trá và bịp bợm. Bởi, chúng luôn cho rằng, quần chúng bần hàn, chỉ là 1 lũ ngốc.

时至而疑,Thời chí nhi nghi.

Vua – Chúa ngu dốt, cho nên nhu nhược – đớn hèn. Thời cơ đến, không bao giờ dám quyết. Đó, đâu phải, là phẩm Đức của bậc Đế vương. Không có phẩm Đức của bậc Đế vương, nhưng vẫn an nhiên, ngồi trên ngai báu. Ắt sẽ bị, Dân chúng coi thường – Thuộc hạ khinh bỉ. Không có nhiều người, tự nguyện “làm đầy tớ cho thằng dại”. Họ, sẽ hành động. Đó là, nguyên nhân thứ 2, để mất ngôi báu.

Lãnh thổ – lãnh hải, bị ngoại bang công khai mò đến. Chúng ngang nhiên khoanh vùng – đóng cọc, để đào bới. Trong nhà – ngoài ngõ, đều sôi lên sùng sục. Ai cũng muốn, làm cho “ra ngô – ra khoai”, với lũ kẻ cướp. Có mấy cách, để lựa chọn:

-Ngồi lại với nhau, để nói chuyện “phải – trái”.

-Không được, thì lôi nhau ra Tòa.

-Cuối cùng, là dùng nắm đấm, để nói chuyện với nhau.

Nhưng, cả cung Vua – phủ Chúa, đều im thin thít. Nghị viện, cũng câm như hến. So vai – rụt cổ, thể hiện sự hèn hạ vô cùng. Nhân dân xuống đường, thì đàn áp người ta. Trong khi, lại muốn Quốc tế biểu tình, để ủng hộ mình. Rõ là lũ khôn vặt. Tài – trí, chỉ sánh ngang, với tầng lớp tiểu nông. Đâu có, khí phách của bậc Đế vương. Uy tín và ngôi báu, không mất mới là sự lạ.

知非而处,Tri phi nhi xử.

Biết điều sai trái – xấu xa, vẫn thản nhiên làm. Lúc đó, hủ bại, đã trở thành bản chất của giới cầm quyền. Khi mình hủ bại, “há miệng – mắc quai”. Nói – chẳng ai nghe. Đe – chẳng ai sợ. Không điều hành được Đất nước, tất phải mất nước. Đó là, nguyên nhân thứ 3, để mất chính quyền.

Biết kẻ bất nhân – vẫn dùng. Cổ nhân dạy, khi “sâu bọ lên làm người”, lúc ấy, thế nước đã mạt. Nay, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, đã công khai thú nhận : Cán bộ của ông, đầy 1 lũ sâu bọ. Dĩ nhiên, là vô tài và thất đức. Nhưng, chúng vẫn được giao cho quyền hành. Thậm chí, chúng phá hoại, cũng không bị phế bỏ. Vì sợ: “bầu không kịp”. Thế gian, chỉ có CS, mới dám làm việc này. Còn các nước Dân chủ, họ kinh hãi loài sâu bọ. Sợ chúng, làm “hỏng nồi canh”. Nên không bao giờ, để chúng mon men, tới chốn quan trường.

Biết của bất nghĩa – vẫn nhận. “Ăn uống ở nhà hàng này, nhà hàng nọ, tiền ấy chẳng phải từ tham nhũng, thì từ đâu mà ra? Không tham nhũng, lấy đâu tiền mà chạy chức vụ này – chức vụ kia…”. (Nguyễn Sinh Hùng Chủ tịch Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam). Có lẽ, ông Chủ tịch Quốc hội, nên bố xung thêm: “Không bóp nặn của Dân lành – không bóp nặn của thuộc cấp, lấy đâu tiền, để xây biệt thự. Lấy đâu tiền, để gửi Ngân hàng nước ngoài. Lấy đâu tiền, để ăn chơi văng mạng…” . Và, ông hãy thử, sờ tay lên gáy của mình. Ông, hãy công khai tài sản và giải trình, nguồn gốc của chúng, cho Thiên hạ biết. Có dám làm không, mà nói hăng thế.

Biết việc thất đức – vẫn làm. Như Hitler đó: Sẵn sàng, tuyệt diệt dân Do Thái. Sẵn sàng, đặt ách nô dịch lên toàn châu Âu và thế giới. Đốt nhà Quốc hội Đức, để vu oan – giáng họa, cho những người Cộng sản. Giết lính biên phòng Đức, rồi vu cáo cho Ba lan, mà phát động Đệ nhị thế chiến. Chung cuộc của Hitler, chắc chẳng cần phải nhắc lại.

Suy cho cùng, vẫn không bằng, có nhà nước, cho xe tăng – xe bọc thép, chà nát học sinh – sinh viên của mình. Khi, các cháu, chỉ có khát vọng Dân chủ – Tự do. Và, trong tay, không có nổi, một mẩu thép.

Biết việc trái đạo – vẫn đem ra thi hành.

Xưa, An Dương vương, tự dẫn sói vào nhà, khiến Nước mất – Nhà tan. 

Nay, nhà nước CS, phớt lờ lời cảnh báo của tướng Giáp, để dẫn Trung cộng vào Tây nguyên – Tử huyệt của Đất nước. Nào có phải, họ đến, là để làm giàu cho Đất Việt. Họ đến, để khai thác Bô xít. Về kinh tế, thì lỗ. Về môi trường, thì độc hại và tiềm ẩn, thảm họa cho Đất nước. Về văn hóa, làm nhạt nhòa, bản sắc văn hóa của các dân tộcTây nguyên. Tai hại như thế, nhưng đã là “chủ trương lớn của đảng”, nên cứ phải, nhắm mắt – nhắm mũi mà thi hành.

此三者道之所止也。Thử tam giả, đạo chi sở chỉ dã

Chế độ nào, hội đủ 3 yếu tố này, chế độ đó, chắc chắn sẽ bị diệt vong .

柔而静.  Nhu nhi tĩnh

Ôn hòa và mềm dẻo – Bình tĩnh và công bằng, để giải quyết công việc.

Là nước lớn, nhưng ai cũng nhận thấy, Hoa kì, hành xử rất thân thiện và có trách nhiệm. Họ không hung hăng, bắt nạt các nước nhỏ. Không sợ xun vòi, trong quan hệ với các nước lớn. Họ nguyện bảo vệ, các giá trị của Tự do – Dân chủ. Bởi vậy, đi đến đâu, Tổng thống Hoa kì, cũng được dân chúng yêu mến và chào đón nồng nhiệt. Một trời – một vực, khác với thái độ của họ, dành cho lãnh đạo CS.

恭而敬,Cung nhi kính.

Tôn trọng dân chúng và cẩn thận từng li – từng tí, trong công viêc hàng ngày. Người như thế, đâu dễ mắc, những sai lầm ngớ ngẩn.

Hãy thử 1 lần, ngắm nhìn bức ảnh, ông Obama, cho 1 cháu bé 5 tuổi, sờ lên đầu của mình. Ta biết, ông tôn trọng dân chúng, đến mức nào. Hãy nhìn, những bức ảnh, cán bộ CS, đứng ưỡn bụng và dạng háng, trước công chúng. Hãy nhìn, những cái vỗ tay hững hờ của họ. Ta sẽ biết, trình độ văn hóa của họ, cao đến mức nào.

强而弱.  Cường nhi nhược

Cành cây già, tất cứng. Cứng, thì dễ gãy. Những nhành cây to, mới nhú, nó còn mềm. Nó, có thể phát triển được. Đó là, lí tự nhiên.

Con người ta, dù mạnh đến đâu, cũng cần phải khiêm tốn. Khiêm tốn, giúp người ta, vươn lên mãi. Ương ngạnh cho rằng, chỉ có mình mới đúng và phủ nhận, tất cả những quan điểm khác mình. Như thế: khác gì. cành cây già – khác gì, cỗ xe đã lên đến đỉnh dốc và chuẩn bị đổ đèo. Chỉ có xuống và chẳng còn lên được nữa.

忍而刚.  Nhẫn nhi cương.

Thời cơ chưa đến – nhẫn nhịn đợi thời . Thời cơ chin muồi – kiên quyết nắm chắc, để đoạt thủ thiên hạ. Nhịn những cái nhỏ. Nhưng, không bao giờ được nhượng bộ, những vấn đề, có tính nguyên tắc.

Khi đàm phán, để hoạch định Biên giới trên bộ: Nguyên tắc chung, là phải tôn trọng Hiệp ước Pháp – Thanh. Tôn trọng những cột mốc, đã được cắm, theo qui định của  Hiệp ước này. Khi, bổ xung cột mốc mới, có thể nhượng bộ, xê xích tí chút. Không hiểu sao, Việt cộng, dễ chấp nhận nguyên tắc, do Trung cộng đưa ra: “Trên các dòng sông chung, Biên giới Quốc gia, được tính theo trung tuyến của dòng nước chảy”. Kết quả, Việt nam, mất đứt đi, ít nhất là nửa bãi Tục Lâm – nửa thác Bản Giốc.

Tại sao họ bị lừa? Chỉ có Trời, mới biết.

此四者,道之所起也.  Thử tứ giả, đạo chi sở khởi dã.

Quân chủ, có 4 đức tính này, mà lãnh đạo xã hội. Xã hội ấy, nhất định: Dân thì giàu – Nước thì mạnh.

故义胜欲则昌,欲胜义则亡. Cố, nghĩa thắng dục tắc xương, dục thắng nghĩa tắc vong.  

Ở 1 Quốc gia, khi quyền lợi của Đất nước, được đặt trên quyền lợi của đảng phái – được đặt trên quyền lợi của gia đình. Đất nước, sẽ hưng thịnh. Bởi, nó thuận Đạo: Quân – Sư – Phụ. Ngược lại, khi “Hiến pháp của Đất nước, đứng đằng sau Cương lĩnh của đảng”. Khi đó, dục vọng của đảng CS, đã chiến thẳng công lí. Kết quả:  “đất nước Việt Nam, mãi mãi là đất nước vô pháp luật” (Đại tá Phạm Đình Trọng). Và, không thể phát triển được.

Trong con người của bậc Vua – Chúa , khi chính nghĩa, chiến thắng dục vọng thấp hèn của bản thân, Quốc gia sẽ hưng thịnh và ngược lại. Đổng Trác và Lã Bố, cùng tranh nhau nàng Điêu Thuyền. Đó là, khởi đầu cho quá trình: Đổng Trác chết – Lã Bố vong. Dân Việt, khinh cái sự ấy lắm. Họ, gọi cái sự ấy, là: “cha – con, ăn chung 1 máng”. Không biết, ở Việt nam, có lãnh đạo nào, mà cha – con, đã từng ăn chung 1 máng chưa?

敬胜怠则吉, 怠胜敬则灭。Kính thắng đãi tắc cát, đãi thắng kính tắc diệt.

Từ việc lớn, cho đến việc nhỏ – Từ viêc quan trọng, cho đến chuyện bình thường. Khi đã bắt tay vào làm, người Nhật, đều làm với niềm đam mê. Họ, làm cho bằng tốt, mới thôi. Chính vì vậy, sản phẩm, mang nhãn hiệu Made in Japan, được người tiêu dùng, rất ưa chuộng. Ngược lại, người Trung quốc, coi thường khách hàng. Sản phẩm của họ làm ra, có chất lượng tồi và thường được khuyến mại thêm, sự độc hại. Chính vì vậy, khách hàng, chỉ tìm đến họ, khi không còn sự lựa chọn nào khác.

Chăm chỉ làm việc, để tạo ra nhiều của cải cho xã hội, thì tốt. Chăm ăn – chăm chơi, mà không chăm làm, mấy chốc mà bị diệt vong. “Rừng vàng – Biển bạc”, đâu có tác dụng gì, với lũ lười biếng.

Lời bàn

Vi trùng, hiện diện, ở khắp mọi nơi. Mầm bệnh, trong người, ai mà không có. Người ta ốm, bởi vì người ta yếu. Họ, khỏe mạnh, bởi có cơ thể tráng cường. Đó là, lí tự nhiên.

Các thế lực thù địch và phản động” với chính quyền, nơi nào mà không có. Đảng CS Mĩ, chẳng hạn. Họ, công khai hoạt động và hoạt động có tổ chức. Họ ra rả, nói vào tai dân Mĩ: Chủ nghĩa Tư bản, là xấu xa và tồi tệ. Hãy ủng hộ, để họ lên nắm quyền. Họ, sẽ lo cho dân Mĩ, một Thiên đường, vạn lần tốt hơn hiện nay. Nhưng, dân Mĩ thông minh. Qua lá phiếu của mình, họ phủ nhận nó. Chính quyền hiện nay của họ, thực sự đã là của Dân – do Dân và vì Dân. Nên, nó cực kì vững mạnh. “Các thế lực thù địch và phản động”, nói thế, chứ nói nữa, nó cũng chẳng thể đổ được.

Ngược lại, “Các thế lực thù địch và phản động” của chính quyền CS: Qui mô – nhỏ lẻ. Hoạt động – phân tán. Hành động – không thống nhất. Tài chính – chẳng có gì. Nhưng, sao chính quyền CS, luôn sợ nó, đến mức phát cuồng lên? Đơn giản, vì chính quyền CS, không dựa vào Dân. Nên, nó rất yếu. Chỉ hắt hơi – xổ mũi sơ sơ, cũng có thể lăn đùng ra, mà đi đến, Đài hóa thân Hoàn vũ. Nga xô và khối CS Đông Âu, là những ví dụ.

Yếu, thì phải chết. Đó là Chân lý. “Tháo dạ, đừng đổ vạ cho cơm”. Đừng đổ lỗi, cho “Các thế lực thù địch và phản động”. Đó chỉ là, ngụy biện. Là cái cớ, để đốt tiền, cho các lực lượng vũ trang – cho bộ máy tuyên truyền. Mà thực chất, chúng chỉ là, lũ ăn hại.

Luận, về sự sụp đổ của 1 thể chế, nhà Chu cho rằng, có 2 nguyên nhân cơ bản và họ đưa ra, 2 đối sách tương ứng, để đối phó:

Thứ nhất, do người trong nước, vùng lên lật đổ. Có thể, do khởi nghĩa vũ trang. Tỉ như, cách mà Nga xô, đã làm với chính quyền Nga hoàng. Có thể, thông qua hình thức ôn hòa. Tỉ như, nhà Trần, giành chính quyền từ tay nhà Lý. Tỉ như, Nhân dân Ba lan, giành chính quyền, từ tay thể chế CS.

Thứ 2, do ngoại bang, mang quân đến phế bỏ. Tỉ như, người Việt nam, đã làm ở Campuchia.

Lịch sử, đã chỉ rõ: Vô luận, trong bất cứ trường hợp nào. Chính quyền bị lật đổ, cũng đang, ở trong trạng thái mục ruỗng – thối nát , đến tận xương – tận tủy. Vì vậy, nhà Chu, đề ra biện pháp đối phó, hết sức chủ động. Họ không mong, đối lập yếu đi. Họ chỉ mong, xây dựng chính quyền của họ, vững mạnh. Tất nhiên: Không phải, bằng bạo lực – Không phải, bằng tuyên truyền dối trá. Xây dựng chính quyền vững mạnh, phải dựa trên cơ sở: Tự sửa mình và Chăm lo cho “gốc – rễ”. Đó là, Nhân dân.

Riêng, trong trường hợp “mang quân, đến phế bỏ người”. Nhà Chu, không dạy con cháu, cách “ăn sống – nuốt tươi”, cách “lấy thịt – đè người”. Như người Mĩ, đã từng làm ở Iraq.  Họ dạy con cháu, cách khôn khéo hơn nhiều. Cách đó, mới là, “Âm mưu diễn biến hòa bình” chính hiệu. Đề tài này, xin được trình bày ở bài sau: Văn phạt.

Nguyễn Tiến Dân

Địa chỉ : 208 phố Định Công Thượng – quận Hoàng mai – Hà nội

Điện thoại : 0168-50-56-430

—–

Mời xem lại: Dưới ánh sáng của nền Văn minh Trung hoa cổ đại: Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó: Bài mở đầu  –   Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó – Bài 1: Văn sư   –   Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó – Bài 2: Doanh hư  –  Chủ nghĩa cộng sản ở Việt nam – Những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó – Bài 3: Quốc vụ (Ba Sàm).

 

Một nền báo chí tự do cho Việt Nam: Bài viết gây xôn xao dư luận – VOA

23 Th11

 

 
 

Trong bài viết đăng trên tờ the New York Times hôm 19 tháng 11, nguyên Tổng Biên Tập báo Thanh Niên kêu gọi một nền báo chí tự do cho Việt Nam. Ông Nguyễn Công Khế nói đã đến lúc chính phủ Việt Nam phải cho phép truyền thông hoạt động tự do, và đó là điều kiện thiết yếu để Việt Nam có thể tiếp tục nỗ lực cởi trói kinh tế và chính trị. Ông cảnh báo rằng có làm như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam mới lấy lại được niềm tin của nhân dân hầu có thể sống còn.

Bài viết này đã gây xôn xao dư luận cả trong lẫn ngoài nước.

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, một nhà đấu tranh cho dân chủ đang sống ở Hoa Kỳ, người đã thành lập Diễn Đàn Dân chủ, một tờ báo chui vào năm 1990, nhận định về bài báo này như sau:  

“Bài báo này tôi nghĩ, ra rất là đúng lúc, cái vấn đề tự do báo chí đáng nhẽ ra phải được đặt ra lâu rồi. Một cái tiếng nói như Nguyễn Công Khế không đủ để tạo thêm được cái niềm tin. Bây giờ có cởi trói cho tự do báo chí, thì tôi nghĩ là cái niềm tin cũng không chắc đã lấy lại đươc, trừ phi có những cái hành động mạnh mẽ hơn nữa, may ra thì Đảng Cộng sản còn có hy vọng là tồn tại được ở trong nền chính trị Việt Nam trong những thập niên tới.”

Từ trong nước, nhà báo độc lập từng lên tiếng mạnh mẽ đòi hỏi tự do ngôn luận và tự do báo chí, ông Nguyễn Khắc Toàn từng bị tù đầy vì lập trường kiên cường của ông ủng hộ dân chủ, tự do và một chế độ đa nguyên, cho biết ý kiến về bài báo của ông Nguyễn Công Khế:

“Tôi rất hoan nghênh cái lập trường của anh Nguyễn Công Khế đã công khai đòi nhà nước, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam phải thực hiện trước mắt là cái quyền tự do báo chí cho xã hội Việt Nam. Thì đây là một cái đòi hỏi rất chính đáng và rất cần thiết. Tiếng nói của anh ấy đã góp phần vào công cuộc đấu tranh đòi tự do hoá ở Việt Nam, trong đó có một cái quyền rất căn bản của xã hội và của nhân dân Việt Nam, đó là cái quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận.”

Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn đồng ý với quan điểm với ông Khế rằng đã có một số thay đổi lớn trong giới truyền thông Việt Nam trong 5 năm trở lại đây, và nhà nước Việt Nam đang mất dần sự kiểm soát đối với giới truyền thông. Ông nói:

“Cái sự quản lý, cái sự kiểm soát, cái sự kìm kẹp của bộ máy nhà nuớc, bộ máy Đảng Cộng sản Việt Nam mà đứng đầu là Ban Tuyên giáo, đã quá lỗi thời và lạc hậu, cho nên những gì mà anh Nguyễn Công Khế đã làm việc, đã đứng trong cái hệ thống truyền thông quốc doanh này và anh ấy đã nói là hoàn toàn chính xác.”

Trong bài viết đăng trên báo New York Times, ông Nguyễn Công Khế nói tự do báo chí, tự do ngôn luận là tốt cho đất nước và cũng tốt cho chế độ, nhưng giới quan sát trong và ngoài Việt Nam tin rằng chế độ cầm quyền toàn trị của Cộng sản Việt Nam khó có thể sống chung với tự do báo chí. Giáo sư Đoàn Viết Hoạt cho biết:

x

“Tôi nghĩ rằng phải có một bản Hiến Pháp hoàn toàn mới, mà không những vậy mà còn phải có một tiến trình để đi đến một bản Hiến Pháp mới, và cái tiến trình ấy nó đòi hỏi một cái quốc hội khác, một cái quốc hội lập hiến. Mà quốc hội lập hiến chỉ có thể xảy ra khi ta có một cuộc bầu cử thật sự tự do và đa đảng. Do đó tôi nghĩ rằng phải thay đổi chế độ thì chúng ta mới có thể có được một nền tự do trong đó có tự do báo chí. ”

Ông Nguyễn Khắc Toàn nói:

“Đảng Cộng sản và chế độ toàn trị mà Đảng đang duy trì không thể sống chung được với cái nền tự do báo chí, cũng như là tôn trọng các quyền con người thực sự ở đất nước này.”

Là một đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, và trong hơn hai thập niên đã từng đứng đầu tờ báo có số lượng độc giả lớn nhất nước, ông Nguyễn Công Khế là một nhân vật từng có ảnh hưởng rất lớn. Liệu ông có gặp khó khăn như những nhà đấu tranh cho các quyền dân chủ và tự do báo chí? Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn chia sẻ quan điểm của ông về phản ứng có thể có từ phía chính quyền Việt Nam:

“Tôi tin chắc rằng hiện nay ban Tuyên giáo ở trung ương và Bộ Chính trị Việt Nam và bộ máy kiểm soát, kìm kẹp truyền thông của nhà nước là hiện nay rất bối rối. Đàn áp Nguyễn Công Khế, bịt miệng Nguyễn Công Khế, bắt Nguyễn Công Khế… thì bối cảnh ngày nay không cho phép làm những chuyện đó, nhất là Nguyễn Công Khế là một đảng viên Cộng sản từng đứng đầu một tờ báo tương đối có uy tín trong nước, có số lượng độc giả rất lớn ở trong và ở ngoài nước.”

Ông Nguyễn Khắc Toàn là một cựu chiến binh và cũng là phóng viên tự do, ông từng bị tù đày vì đã đấu tranh để dân chủ hoá đất nước và đòi các quyền tự do, trong đó có tự do báo chí. Cùng với luật sư Lê thị Công Nhân, ông là người đồng sáng lập Công đoàn Việt Nam độc lập để bênh vực và bảo vệ quyền lợi cho những người lao động ở trong nước.

Giáo sư Đoàn Viết Hoạt là một nhà đấu tranh để dân chủ hoá Việt Nam đang sống tại Hoa Kỳ, ông cũng là một trong những nhà đi tiên phong trong cuộc đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền, và tự do báo chí, từng bị cầm tù lâu năm ở Việt Nam vì những hoạt động của ông. Ông được phóng thích và sang Hoa Kỳ đoàn tụ với gia đình từ năm 1998.

 
Trình bày ý kiến
Mới nhất
Theo thứ tự thời gian

Bấm vào đây để góp ý trên diễn đàn này (63)

 
 
Ý kiến
     
 
 
bởi: Văn Lang từ: Japan

23.11.2014 21:21
 
Trả lời
Ngày xưa xây dựng được chế độ là nhờ nói láo , nói phét . Nay không nói láo được thì phải cấm người khác nói sự thật . Vì đảng rất sợ sự thật . Vì vậy , CS không đội trời chung với tự do báo chí , tự do báo chí sẽ thực hiện được chỉ khi trời bị sập , hoặc là , sau khi đảng bị nhân dân giãi thể …
 
 

bởi: anh hai từ: hn

23.11.2014 18:18
 
Trả lời
Bởi vì vậy đâu có chống được tham nhũng, chạy quan chức…
 
 

bởi: Người Sàigòn từ: Sàigòn

23.11.2014 18:07
 
Trả lời
Nguyễn Công Khế đã hết thời nên nói theo vậy thôi. Trước kia khi làm Tổng Biên Tập báo Thanh niên, ông ta “nổi tiếng” là câm như hến. Báo nào cũng bị đổi Tổng Biên Tập, chứ Thanh niên thì không, vì đúng định hướng quá. Bây giờ bị loại ra khỏi cuộc chơi, Khế mới điên lên, đòi mang túi ba gang đi kiếm vàng chỗ khác. Đời là vậy. Cũng như các đồng chí ta, cứ về hưu là nói loạn xạ, khi còn tại vị thì im như thóc. Hèn. Nói như Dương Thu Hương, lòng can đảm đã xài hết rồi!
 
 

bởi: dan tien từ: vn

23.11.2014 15:09
 
Trả lời
Các bạn tranh cải làm gì cho mệt. người có kiến thức chỉ cần nghe hoặc nhìn thì biết ai hơn ai rồi. khỏi phải giành giật.
Đảng cộng sản đã khẳng định rằng: chế độ cs là chế độ văn minh nhất, không tìm được chế độ nào khác có nền văn minh hơn. họ có hiến pháp hiện đại được quyền quy định đảng chỉ có một đảng duy nhất và chỉ duy nhất một đảng cộng sản mà thôi.là đảng cằm quyền, độc quyền lãnh đạo toàn xã hội. ngoài ra còn có luật quy định: chỉ cần có ý nghĩ trong đầu là đã phạm tội ,bị xử tù chứ không phải đợi đến có hành động và hậu quả mới cấu thành tội. hiện đại chưa ? các quan tòa được quyền tự do phán quyết mặc kệ oan sai.
 
 

bởi: tom cat từ: USA

23.11.2014 12:43
 
Trả lời
Dang cong san va tu do bao chi la hai ke thu khong doi troi chung,
song co the can nui co the mon nhung chan ly ay khong bao gio thay doi … kkkk …
 
 

bởi: Người Việt từ: VN

23.11.2014 12:37
 
Trả lời
Việc nói thì cứ phải nói, kẻo VC nó bảo không ai đề nghị nên không cho. Nhưng không bao giờ CS dám để cho tự do báo chí, vì chỉ một ngày tự do ngôn luận thì bọn chúng sẽ chết ngộp ngay với những lời chửi và sự thật!
Tuy nhiên, không cho tự do báo chí thì dân cũng có đầy tin tức và sự thật để đọc, trên các báo lề dân, và sự vi phạm nhân quyền, sự bỉ ổi của CS càng lộ rõ! Cả hơn 800 tờ báo của CS chỉ để quăng thùng rác. Nhục!
 
 

bởi: nhà báo từ: hpvn

23.11.2014 12:18
 
Trả lời
Csvn đang cố gắng bịp mồm, bịp thông tin để đưa dân vn tiến lên XHCN. Có kiểu gì bầu cử tín nhiệm ba nấc. Một là đạt hai không đạt, Trò hề!
 
 

bởi: Thành Tâm từ: Sai-Gon VN

23.11.2014 11:20
 
Trả lời
Chủ nghĩa công san dung đôc tai , bao lưc va chính sách ngu dân đê cai trị thi` làm gi co tư do , dân chủ , tư do báo chi´. Suốt trong qua´ trình phát triển của chủ nghĩa công san cho đên nay , co nước nao theo chê´ đô công san ma co tư do báo chi´, tư do dân chủ hay không . Giai câp công san hiện giơ` chính la giai câp phản đông nhât đưng kê bon khung bô ISL đây .
 
 

bởi: NỞ từ: VŨ ĐẠI

23.11.2014 09:40
 
Trả lời
Báo chí lề phải là báo chi phản động.
 
 

bởi: Dân Oan

23.11.2014 08:24
 
Trả lời
Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng khi trã lời chất vấn ngày 18/11/14 đã gây bất ngờ khi biện minh cho việc chống hàng giã. Thí dụ được ông Bộ trưởng nêu ra là do thiếu phương tiện ,cán bộ quản lý thị trường phải kiểm định phân bón bằng miệng “
Nếu báo chí trong nước mà đưa tin rộng rãi về cuộc chất vấn này cho nhân dân cả nước nghe lọt lỗ tai mới gọi là tự do thông tin được !
Nhưng khi dân nghe xong thì không biết có cần kiểm tra lại là ông Bộ trưởng này bôi bác CHXHCNVN không?
 
 

bởi: doi từ: vn

23.11.2014 08:22
 
Trả lời
Lai xuat hien “mot anh hung rom”nua tren dat nuoc VN,va dat nuoc My cung dang chuan bi don nhan nguoi con than yeu tro ve voi nuoc My.
 
Trả lời

bởi: Mẹ Khờ VN

23.11.2014 12:32
 
Trả lời
Cho dù có ví họ là anh hùng rơm , nhưng ít ra họ cũng còn có can đảm dám nói lên sự thật và đả phá những điều xấu xa , bẩn thỉu . Có chê cười chăng là chê cươì , khinh bỉ kẻ luôn mở miệng , vỗ ngực xưng tên là anh hùng mà nay đã lộ nguyên hình là một anh hèn , là một tên đầy tớ cho giặc mà thôi !
 
 

bởi: Thanh Trà

23.11.2014 07:34
 
Trả lời
Cũng chả có gì là xôn xao ! Nếu ông Khế viết vào lúc ông còn tại chức là 1 Tổng Biên Tập Báo Thanh niên thì bài này mới có giá trị cao.
 
 

bởi: Em Kho từ: Ha Nui-Viet Nam

23.11.2014 07:27
 
Trả lời
Mot Nguyen Cong Khe Chu 10 Nguyen Cong Khe cung the thoi.
Phai lam the nao cho D.CSVN het tho moi thanh cong. Con nhu cu noi, cu viet thi doi van the ma thoi.
Gioi dat Oi !!
 
 

bởi: CON DÂN VIỆT từ: VIỆT NAM

23.11.2014 06:13
 
Trả lời
Dân tộc Việt Nam từ khi “được giải phóng” suốt 60 năm nay không có quyền tự do ngôn luận, không có tự do báo chí, không có quyền lập hội, không có quyền biểu đạt chính kiến của mình, không có quyền biểu tình, có thể nói mọi quyền làm người đều bị đảng CSVN tước đoạt và Việt Nam là một nhà tù khổng lồ. Do đó Một nền báo chí tự do là một khao khát cháy bỏng chính đáng của nhân dân Việt Nam.
 
 

bởi: dân nghèo từ: Miền trung

23.11.2014 04:08
 
Trả lời
VN không có tự do báo chí bởi đã có một quốc hội bù nhìn chỉ biết ‘gật’ thông qua luật báo chí. Tôi có một thời gian làm cộng tác viên cho vài tờ báo và chịu trách nhiệm cho bài viết của mình trước khi cái gọi là QH thông qua luật TBT phải ‘ký’ trước khi bài đăng. Và dĩ nhiên TBT nào cũng sợ mất ghế.
 
 

bởi: Huy Anh từ: San Jose

23.11.2014 03:31
 
Trả lời
Người ta chỉ cần bốn thập niên để biến một đất nước nghèo, chậm tiến thành một đất nước giầu đẹp ,văn minh và tiến bộ về mọi mặt.

Đất nước ta phải mất bốn mươi năm ,một đảng viên trẻ từng giữ một vai trò quan trọng trong giới truyền thông do Chính phu Cộng Sản kiểm soát là tờ Thanh Niên mới dám nói lên một điều mà một đứa trẻ tại các quốc gia dân chủ cũng biết.

Ôi ,sao số phận đất nước ta sao vô phúc và đáng thương quá vậy ./.

 
Trả lời

bởi: Mẹ Khờ VN

23.11.2014 12:44
 
Trả lời
Một lời lẽ rất hay và chính xác , đáng để cho các anh chị DLV học hỏi để mở mang thêm trí khôn !
 
 

bởi: Bà Già Trầu

23.11.2014 01:34
 
Trả lời
Đảng CS mất uy tín bởi vì không kiểm soát được tham nhũng, không kiểm soát được những hành động tắc trách của quan chức. Hệ thống chính trị của đảng hiện nay chú tâm nhiều vào việc quản lý hành vi người dân hơn là quản lý hành vi nhân viên trong bộ máy điều hành. Thật ra nguy cơ hỗn loạn xã hội nằm ở người dân nhỏ hơn rất nhiều so với nguy cơ tạo hỗn loạn nằm ở cấp chính quyền. Vì vậy tự do báo chí chính là để Bộ CT nhìn thấy những nguy cơ đến từ chỗ nào, nhờ đó có thể giải quyết thỏa mãn.

 
Trả lời

bởi: Văn Lang từ: Japan

23.11.2014 21:24
 
Trả lời
Đảng tham nhũng mà anh bạn bảo kiểm soát ai đây ???
 
 

bởi: Tran v Tan từ: Hue/VN

23.11.2014 01:05
 
Trả lời
Bài viết của Ông Nguyễn Công Khế, nguyên Tổng biên tập báo Thanh Niên TP/HCM, chỉ là một tia chớp cuối đường hầm của thời đại đen tối nhất trong Lịch sử VN từ cổ chí kim! Tuy nhiên hy vọng cũng đã đánh thức được những Kẽ Lãnh Đạo CS hiện hành nếu ai đó còn khôn ngoan thực tâm Yêu Tổ Quốc Giống nòi! Cần có nhiều Trí thức Công tâm không vì lợi ích bản thân, to gan như Ông KHẾ dám nói lên sự thật để Xây dựng đất Nước!
 
 

bởi: Minh Van từ: Hue

22.11.2014 23:31
 
Trả lời
Dang Cong San khong bao gio tra cac quyen tu do can ban cua con nguoi cho dan toc VN. Chi co mot cuoc cach mang lat do che do CS nhu o Dong Au thoi .
 
 

bởi: Không ghi tên

22.11.2014 23:11
 
Trả lời
Hiện nay, đảng dùng sự kìm kẹp báo chí, bóp chặt bao tử phóng viên và khoác luật 88 vào đầu các tổng biên tập báo đài để cột trói mọi thông tin lên án tội ác của đảng như Kim giống Ủn của Bắc Triều tiên đang bị LHQ đặt lên bàn mổ xác chết để chiếu X-ray. Bằng bạo lực sắt máu dã man duy trì sự toàn trị độc tôn chống con người. Thế giới bên ngoài không biết được bên trong địa ngục trần gian mà đảng tuyên truyền là Xã Hội Chủ Nghĩa. Để cởi trói kinh tế và chính trị và giải phóng tháng 4 tập 2, đảng phải để nhân dân lên tiếng, không có quyền bịt miệng Cha Tadeo Nguyễn Văn Lý. Theo văn hóa xã hội chủ nghĩa thì đảng nói thay cho nhân dân, hậu quả là thể chế xã hội hội theo chủ nghĩa Cộng-sản sụp đổ, Ông Nguyễn Công Khế đã can đảm nói khác đảng để cứu đảng vì đã đứng kề miệng hố chôn !!! Đảng nên tiếp tục kiểm duyệt, khống chế và sử dụng truyền thông để đảng mau tan rã thì VN sẽ trở thành giống như nước Đức cách nay 25 năm, bức tường ô nhục chia cắt vì chủ nghĩa bị sụp đổ. Ông Nguyễn Khắc Toàn nói: “Đảng Cộng sản và chế độ toàn trị mà Đảng đang duy trì không thể sống chung được với cái nền tự do báo chí, cũng như là tôn trọng các quyền con người thực sự ở đất nước này.” Vậy thì đàng nào thì đảng cũng phải chết để lột xác như các chế độ XHCN đã chết từ lâu.
 
 

bởi: Không ghi tên

22.11.2014 21:25
 
Trả lời
Một nền báo chí tự do hoạt động tại Việt Nam là cơ hội và phương tiện hợp pháp để tiếng nói của mọi người dân chống tham nhũng cưỡng chế, chống độc tài phi dân chủ, chống đảng toàn trị chà đạp nhân quyền, chống quan chức bất công độc đoán được phát biểu, bày tỏ và phản biện công khai, chính thức được công luận và luật pháp bảo vệ. Đảng theo chủ trương nói một đàng, làm một nẻo, hành sử bịp bợm, lãnh đạo bỏ trốn lánh mặt đi họp, đổ thừa cho cấp dưới loanh quanh, vờ vịt không minh bạch, không cụ thể rõ ràng bằng những ngôn từ, cách hành văn lươn lẹo theo chủ nghĩa xã hội … đã gây nên thảm trạng lộng quyền kinh khiếp, gieo rắc trây trét tệ nạn cộng-sản làm dơ bẩn tâm trí trẻ thơ, cơ chế tổ chức môi trường đục khoét bóc lột và cướp hiếp người dân đến cả phân lẫn cái lai quần của người dân, đảng cũng cạp nốt rồi nuốt chửng. Đến mức độ cả một guống máy an ninh chìm nổi, bàn thờ bác như màn nhện, công an thường phục, sắc phục, băng đảng phục với hàng trăm ông tướng cũng không thể nào tìm ra được thủ phạm thế lực thù địch. Đến nỗi đảng công an phải thả tờ rơi thú tội về sự bất lực của đảng. Để chữa trị sự bất lực của đảng, VN cần một nền tự do báo chí.
 
 

bởi: Người nhìn xa từ: San Jose, CA

22.11.2014 21:04
 
Trả lời
Với thời gian thi việc gì phải đến sẽ đến. Vấn đề là sớm hay muộn mà thôi. Tiếc cho những thế hệ cùng thời với tôi chắc không còn có dịp được chứng kiến một ngày hội lớn của dân tộc Việt.
 
 

bởi: bang từ: ha noi

22.11.2014 20:42
 
Trả lời
xin tác gia cho biet thế nào là tự do báo chí
 
Trả lời

bởi: Nguyễn Hoàng từ: vn

23.11.2014 16:19
 
Trả lời
Tự do ngôn luân, tự do hội họp, tự do báo chí là những quyền tối thiểu của nền dân chủ. Được hiến pháp quy đinh từ khi mới lập nước (1946) Bang có mất trí không khi đến nay còn hỏi ngớ ngẩn vậy?
 
 
Trả lời

bởi: Không ghi tên

23.11.2014 08:30
 
Trả lời
Tự do báo chí là không phải viết thuê cho đảng,không bị đảng kiểm duyệt,nếu có moi móc những sai trái của đảng thì đảng phải biết sửa chữa và không bị trù dập,người dân có thể nêu quan điểm của mình nhưng không hợp với đảng thì đảng cũng không được bắt bớ giam cầm….Có thế thôi mà cũng không hiểu.
 
Trả lời

bởi: Mẹ Khờ VN

23.11.2014 12:58
 
Phải thán phục Không ghi tên , vì với một câu hỏi như thế này thì cần phải được trả lời một cách hụych toẹt như thế thì ngươì đặt câu hỏi may ra mới hiểu , chứ nói cao hơn tí nưã e rằng chỉ tốn công vô ích , phí lời !
 
 

bởi: Lê Bình Nam

22.11.2014 20:03
 
Trả lời
Một xã hội văn minh là một xã hội mà trước hết là mọi công dân đều được quyền tự do phát biểu ý kiến của mình, qua một nền báo chí tự do, qua các chính đảng của mình; kế đến báo chí tự do mới phản ánh đúng một nền kinh tế thị trường tự do.

Chế độ độc tài toàn trị mang phướng rách cs ở Việt Nam đã mắc lỗi hệ thống, nên mọi sự cải cách: kêu gọi tự do báo chí, kinh tế thị trường theo định hướng xhcn…chỉ mang tính biện pháp, xoa dầu nóng, không giải quyết con bệnh “ung thư tham nhũng” đang hấp hối.

Nguyễn Công Khế chỉ gióng lên tiếng kêu tuyệt vọng của một đảng viên cs.

Một nền báo chí tự do có và chỉ có dưới một chế độ tự do dân chủ và ngược lại, chỉ với một chế độ tự do dân chủ mới bảo đảm một nến báo chí tự do.

Nếu nhân dân Việt Nam không quyết liệt, tranh đấu dứt khoát với quán tính Mác Lê Mao lạc hậu của lãnh đạo đảng cs hiện nay, Việt Nam sẽ không bao giờ ngóc đầu nổi dưới gọng kìm của đại Hán Bắc Kinh.

 
 

bởi: Oan Khiên

22.11.2014 19:23
 
Trả lời
Tôi ủng hộ ông Khế hết mình, ông này đúng là Khế ngọt… Hy vọng sẽ có thêm những chùm khế như thế này nữa, dù là khế ngọt hay khế chua đều quí cả. Nếu khế chua nở hoa kết trái thì dân tôi nấu canh chua, nếu khế ngọt thì dân tôi ăn sống; thế mới là tự do thưởng thức hương vị của trái khế.
 
 

bởi: ThJia

22.11.2014 18:11
 
Trả lời
Bài viết gây xôn xao ở đâu thế nào thì chắc ai cũng biết , nhưng trong xã hội băng đảng độc tài trị dan thì nó lại xì xầm “Lại có vài tay lên trụ sở công an làm việc ” , ” Lại có vài tay chuẩn bị ăn cơm tù, quản giáo chắc đang lo sắp chỗ ” . Trên diễn đàn thì các anh chị ấy thế nào cũng thoải mái quyền tự do phát ngôn để tương lên một câu “Đám này chống phá chế độ để mong được đi Mỹ!”
 
 

bởi: Không ghi tên

22.11.2014 17:16
 
Trả lời
Xin chao cac ban vnch.toi la nguoi dan viet nam binh thuong thoi.toi cung kg biet nhieu ve chinh tri.nhung theo nhan thuc cua nguoi dan chung toi thi cac ban cang di cang xa.cang co vay vung de dat duoc muc dich .thi cang lun sau.toi hoi that cac ban. Cac ban dau tranh cho ai.dau tranh vi cai gi.ai la nguoi chu suong cua cac ban.toi vi du nhu o lien xo co ong enxin lanh dao moi lat do duoc.con toi thay cac ban day nhu nhung con thieu than.cac ban chua lan duoc gi. Chua noi duoc gi cho co long tin voi dan.ma
 
Trả lời

bởi: Mẹ Khờ VN

23.11.2014 13:55
 
Trả lời
Để trả lời cho Không ghi tên , theo hiểu biết cuả Khờ thì họ đấu tranh với mục đích để đất nước VN còn tồn tại trên bản đồ Thế Giới , dân tộc VN còn Tổ Quốc để mà tôn thờ , đồng thời thay thế cho dân tộc VN trong nước đang bị DCSVN bịt mồm bịt miệng cấm than van hay tố cáo những bất công , những tham lam và những điều gian trá mà DCSVN làm , chỉ thế thôi . Họ là những ngươì yêu nước thương nòi nên mới bỏ thời gian đấu tranh chứ ngoài ra không có mục đích nào khác . Bạn cũng đừng quá lo lắng là họ chưa có niềm tin từ ngươì dân ! Sở dĩ bạn phán đoán như thế là vì bạn không nằm trong thành phần họ quan tâm , lo lắng mà dường như ngược lại , vì thế có lẽ bạn đã suy bụng ta ra bụng ngươì đấy ! DCSVN còn tồn tại đó là điều chứng minh bạn nói họ chưa làm gì được là đúng chứ chẳng phải sai , nhưng ít nhất trước mắt là họ đã lột được cái mặt nạ yêu nước và những việc làm xấu xa , bỉ ổi cuả đảng đấy , còn chuyện có làm được gì hay không thì cũng cần phải có thời gian chứ không phải một ngày một buổi ! Như bạn đã thấy đấy . Tài ba như bác Hồ và đảng CS với sự hỗ trợ vũ khí , nhân lực tối đa cuả giặc Tàu mà cũng phải mất ròng rã mấy chục năm mới lưà được dân tộc để thống nhất đất nước vào một mối hầu dâng hiến cho quan thày TQ thì họ hiện nay với hai bàn tay trắng làm sao có thể thành công nhanh hơn được phải không ? Thôi hãy hửơng thụ những gì mà bạn đang được đảng ban phát , hãy vui , thoả mãn những gì mà bạn hiện đang có , chớ nên để tâm làm gì cho mệt óc vì nếu bạn tin rằng DCSVN có chính nghiã và những kẻ lãnh đạo đất nước là ngươì công chính thì đảng mà bạn yêu quý sẽ bền vững đời đời . Bằng không , nếu bạn lo sợ những ngươì chống đối đảng chính là bạn đã tự lưà dối sự hiểu biết cuả mình để viết lên những lời lẽ này ! Vậy cái lời tự giới thiệu về bạn trên , bạn không sợ ngươì ta cươì cho là một kẻ dối trá như CS hay sao ?
 
 
Trả lời

bởi: Vo danh

23.11.2014 07:40
 
Trả lời
Hay tra lai cho dan nhung quyen cua nguoi dan
 
 

bởi: Phan Hà Bính từ: 326 đường Tên lửa , Bìnân

22.11.2014 15:41
 
Trả lời
Ông Khế là người cộng sản nòi , không khác gì ông Bùi Tín , khi còn là nhà báo sao không nói , nay đi qua nước ngoài mới nói , tôi thật sự không thấy có niềm tin , mong các nhà dân chủ tự xưng hãy mạnh dạn nêu ở trong nước để chỉnh sửa khi chính sách không phù hợp mới mong giúp dân giúp nước .
 
Trả lời

bởi: Mẹ Khờ VN

23.11.2014 14:15
 
Trả lời
Trong một xã hội do bọn độc tài , độc ác cai trị mà bạn đòi hỏi họ phải mạnh dạn lên tiếng thì chẳng khác nào bạn muốn ngươì ta vào tù ngồi rồi ! Những ngươì như ông Khế có điều kiện xa tầm tay gian ác thì tiếng nói cuả họ dù là ở nước ngoài cũng có giá trị vậy chứ đâu cần phải ở trong nước ? Vả lại bạn tự hỏi : Nếu như những ngươì dân chủ trongn ước công khai lên tiếng mà có sự bình an thì lời lẽ cuả họ có giá trị không , hay chỉ là những lời dối trá , vì họ đang được thực thi quyền phát biểu cuả mình mà ? Ai là ngươì dám khẳng định là CSVN độc tài không có NQ khi điều đó xảy ra ? Đừng vội lên án trong lúc nóng nảy !
 
 

bởi: nhà rùa học từ: viện ngâm cú rùa hà nội

22.11.2014 15:03
 
Trả lời
Chỉ có nền chính trị đa nguyên đa đảng , dân chủ tự do , tự do ngôn luận …thì dân tộc Việt mới ngốc đầu lên nổi, sẽ không còn những tên lừa đảo, ngu dốt đang ngày đêm đày đọa dân tộc Việt . Lúc đó mỗi con dân nước Việt , mỗi làng xã…sẽ phát triển hết khả năng trí tuệ của mình để phục vụ cho chính bản thân mình chứ không cần chờ đợi những công ơn giả tạo , hoang đường từ bộ máy đảng và nhà cầm quyền. Và những kẻ lừa đảo, ngu dốt.nói láo..tất nhiên sẽ bị đào thải ra khỏi xã hội. Lúc đó mọi người không cần mong muốn, không cần ước ao, không cần cống hiến, phục vụ , hy sinh cho tổ quốc mà dân tộc Việt vẫn trở thành một dân tộc phát triển, văn minh, hạnh phúc, giàu có vào bậc nhất khu vực và trên thế giói
 
 

bởi: Bô câu từ: Phap

22.11.2014 14:46
 
Trả lời
Nam 2015 là nam danh dâu cho su dôi moi cua cã thê gioi noi chung,và cuã VN noi riêng.
Nam 2015,là chu k`y 60 nam dã dên,nam 1955 là nam chia dôi dât nuoc,là nam duoc tam goi là CS dã thang,thi 60 nam sau,là ngày mà CS phãi thua,do là luât cuã tao hoa.
Cac vi hãy yên tâm mà chung kiên nôi bô ching tri dãng CSVN,se co xung dôt,ho se câu xe lân nhau,chia thành nhiêu dãng phai,rôi ho tu dân toi viêc khai tru dãng CSVN,giông nhu nuoc Lên Xô vào thâp niên 80,cac vi hãy cho xem,vi dây là tiên van dây cac vi.
 
 

bởi: Tên Không Ghi

22.11.2014 14:38
 
Trả lời
Ông Nguyễn Công Khế nói rất đúng. Quyền tự do báo chí đã bị NT Dũng cấm với danh nghĩa không có báo chí tư nhân và không được phản ảnh tâm tư, nguyện vọng của người dân. Tự do Báo chí là để phản ảnh tâm tư người dân, để hướng chính phủ đi theo hướng phục vụ dân, nhưng bị cấm đoán. Bị cấm đến độ báo chí không dám nói tàu Trung Quốc mà phải thay bằng từ Tàu Lạ. Quyền tự do Báo chí đã bị biến thành công cụ của Đảng CS, mất đi ý nghĩa là tiếng nói của dân. Phải thành lập ngay Ủy Ban giám sát nhân quyền để rà soát lại các nghị định không giống quốc tế, đồng thời giải quyết tố cáo khiếu nại của người dân về nhân quyền. Từ đó chúng ta mới có cơ may hội nhập quốc tế.
 
 

bởi: Giang Hồ Lãng Tử từ: Vô gia cư

22.11.2014 13:59
 
Trả lời
Đã bao năm sống bởi bưng bít và dối trá , bạo quyền cộng sản VN làm sao dám cho tự do báo chí . Cho tự do báo chí đồng nghĩa với bỏ điều 4 ” Hiếp Pháp ” . Chết không kịp ngáp !
 
 

bởi: anh hua từ: viet nam

22.11.2014 13:42
 
Trả lời
mừng nhưng cũng bực cái là , tại sao? ai ? chức vụ gì? đều chỉ về hưu, đều chỉ chối bỏ , chỉ dám nói ra sau khi không còn lợi lộc gì nữa, do mấy chục năm dưới chế độ cộng sản hay do bản sắc văn hoá mà đa số mở mồm ra là tự hào về nó, tuy nhiên cung chỉ là có còn hơn không thôi, mong là sẽ có ông nào đó làm cái gì mới hơn , đúng hơn một tý
 
 

bởi: Dân đen từ: Sài gòn

22.11.2014 12:15
 
Trả lời
Bác Khế lại đi đòi quyền ăn mày cho ký giả nữa rồi!
 
 

bởi: Cựu Đảng viên CSVN từ: Hà Nội

22.11.2014 11:22
 
Trả lời
Đảng CSVN, Bộ Chính trị, Bộ Văn Hóa Thông tin & Truyền thông VN đã chưa tùng e ngại hay lo sợ tiếng nói phản biện của người dân, và họ luôn chụp mũ gán ghép cho cái tội phản động hay do các thế lực thù địch xúi giục nếu có bất cứ người dân nào có ý kiến phản biện hoặc chỉ trích cho đường lối và chính sách sai lầm của chính quyền CSVN trong suốt nhiều thập niên qua kể từ khi họ cướp chính quyền để giành quyền cai trị nhân dân theo thuyết cộng sản Mác-Lê và tư tưởng HCM, và gần đây nhất là cái gọi nền kinh tế thị trường có cái đuôi XHCN.
và bây giờ hơn bao giờ hết, họ luôn cản thấy bất an và lo âu cho sự tồn vong của chế độ CS đang trên bờ vực phá sản sau khi toàn bộ hệ thống XHCN đông âu và đứng đâu là Liên Xô đã sụp đổ, kế tiếp là sự sụp đổ của bức tường Berlin tại Đức, xu hướng tự do , dân chủ hóa theo chủ nghĩa Tư bản đã và đang được nhân rộng và được sự ủng hộ của đại đa số những người dân yêu chuộng Hòa bình,, tự do , dân chủ và nhân quyền trên tòan thế giới ủng hộ ngọai trự chính quyền CS của 5 nước còn lại là Trung Quốc,Việt nam, Lào, Cu ba và Bắc triều Tiên.
Chính quyền cộng sản VN rất so85 những tiếng nói phản biện của những người đã từng là Đảng viên Đảng CSVN đã, đang và vần còn hoạt đ65ng trong hệ thống chính quyền CSVN, họ sợ tiếng nói đòi yêu cầu cho một nền Tự do, Dân chủ và Nhân quyền tữ những Đảng viên sẽ lan rộng trong các Đảng viên khác và đến tai của nhân dân cã nước sẽ làm giảm uy tín của Đảng CSVN và ảnh hưởng đến sự tồn vong của chế độ cầm quyền độc Đảng của CSVN
 
 

bởi: Dân Việt từ: VN

22.11.2014 11:10
 
Trả lời
Đây là một ý kiến hoàn toàn đúng đắn hợp với nguyện vọng của toàn dân VN , nhưng đối với chủ nghĩa cộng sản : tự do báo chí , tự do ngôn luận và dân chủ không bao giờ có trên những quốc gia có cộng sản nắm quyền kể từ khi chủ nghĩa cộng sản xuất hiện phát triển mạnh mẽ trên một số nước và nó bị tan rã chỉ còn tồn tại trên một vài nước , trong đó có VN . Trước nguy cơ chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn sụp đỗ trên toàn thế giới thì một số nước cố bám víu duy trì chế độ độc tài đã mục ruỗng vẫn chưa chịu mở mắt để cởi trói cho dân tộc . Liệu đảng CSVN có chấp nhận ý kiến đúng đắn hợp với ý dân hay không ? Điều đó chắc chắn không hề xảy ra đối với đảng CSVN !
 
 

bởi: changhiu từ: voa

22.11.2014 11:10
 
Trả lời
Ông NCK nói đúng, nhưng sao lại nói ở Mỹ mà không phải trên báo TN do ông làm TBT? Đảng và nhà nước chưa bao giờ cấm đoán tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhưng không có tờ báo nào dám… “hỗn” với Đảng cả! Bởi Đảng đã “nắm đầu” mí ông TBT rồi, có chuyện là… mất ghế ngay! Cho nên muốn “tự do báo chí” ở VN thì trước tiên mí ông TBT phải… “tự do tư tưởng” đầu tiên, tức là phải không còn là Đảng viên ĐCSVN nữa! Nhà nước có quyền phạt tiền, tù ,tội… với báo chí nếu họ vi phạm luật pháp, nhưng họ hoàn toàn có quyền tự do ngôn luận, báo chí theo tiêu chuẫn QT!
 
 

bởi: Noi That từ: Canada

22.11.2014 10:30
 
Trả lời
GS Đoàn Viết Hoạt:”…cái vấn đề tự do báo chí; …Một cái tiếng nói như Nguyễn Công Khế …cái niềm tin; …cái niềm tin cũng không chắc..; cái hành động mạnh mẽ hơn;…và cái tiến trình ấy nó đòi hỏi một cái quốc hội khác…;một cái quốc hội lập hiến…”

Bằng GS này chắc củng “mua” đây, chỉ một đoạn văn ngắn thôi mà chử “cái” lập đi lập lại tới tám lần… nghe, đọc đã phát chán… tệ còn hơn cô giáo trường làng, sao mà có thể là một GS chứ? nếu hết sức thì nên im lặng, còn sức thì đi học văn lại đi. Đừng xưng là GS thấy xấu hổ quá. Nói chi đến kêu gọi người khác….

 
Trả lời

bởi: ThJia

23.11.2014 10:23
 
Trả lời
Anh chị này sao giống ý mình , mình cứ tưởng GS Hoạt nói lưu loát như những GS ở trong Nam ,ai ngờ cũng cái này cái kia giống như các bộ trưởng, tổng trưởng, ủy viên chinh trị của băng đảng . Nhưng đấy là chuyện nhỏ, chuyện lớn là ý thức thế nào là dân chủ .
 
 

bởi: Nuoi Viet Tu Do từ: Canada

22.11.2014 10:14
 
Trả lời
Viet Nam co tu do bao cung chi theo kieu nha nuoc quan ly va dang VNcs chi dao.
Cai viec bo phieu tin nhiem chua cai cach duoc Tin Nhiem hay Khong Tin Nhiem la du roi. Vua roi cuoc bo phieu ai cung duoc tin nhiem het. Cai man Dang cu, dai bieu bau thi cung nhu cu.
Du co tu do bao chi cung khong the nao cuu cai dang VNcs .
Con VNcs thi ngay nuoc Viet Nam nhap vao China se khong con bao xa.
 
 

bởi: Tạ Tốn từ: Băng Đảo

22.11.2014 10:03
 
Trả lời
Chính sách thông tin của CSVN đã biến người làm báo thành những con vẹt, chỉ được nói những gì CSVN cho phép, như thế là CSVN đã tự chọc mù hai con mắt, đâm thủng hai lỗ tai khiến cho không nghe,không thấy sự thật. Nếu CSVN muốn tồn tại phải có một nền tư do báo chi để nhận biết những sai lầm mà sửa đổi cho hợp với lòng dân. Thuận lòng dân thì còn, nghịch lòng dân thì mất.Mà muốn biết dân nghĩ gì, cần gì thì để báo chí được tự do tìm hiểu và bộc lộ yêu cầu của dân. Tự do báo chí cũng giúp phanh phui những tệ nạn để hoàn thiện. Như vụ tài sản kếch sù của tham quan Trần Văn Truyền nếu không bị báo Người Cao Niêm tiết lộ thì TTCP làm sao biết để điều tra, để kết luận trình ĐCSVN đề nghị xử phạt và thâu hồi?
 
Trả lời

bởi: thanh khon từ: thieu lam

23.11.2014 14:53
 
Trả lời
thế tạ tốn xin phép ai mà nói , đừng tưởng csvn không thể chặn được trang này.
 
 

bởi: dan den từ: v/n

22.11.2014 08:58
 
Trả lời
doi hoi nay,khac gi doi hoi da nguyen ,da dang.bat buoc cop phai an co.qua mo ho
 
 

bởi: Phan Bảo Lâm từ: TpHCM

22.11.2014 08:50
 
Trả lời
Ông Nguyễn Công Khế, nguyên tổng biên tập báo Thanh Niên (trụ sở ở TpHCM) là người tiên phong trong việc dùng ngòi bút để chống tham nhũng. Sau khi nhân viên của ông bị tống giam vì đăng loạt tin thời sự về PMU18, ông bị cho thôi chức tổng biên tập. Vào thời điểm đó, báo Thanh Niên là tờ báo có lượng phát hành lớn nhất cả nước. Mặc dù là báo đảng, nhưng nó không giáo điều như báo Nhân Dân của ông Bùi Tín, nó chuyên chỉ trích các mặt yếu kém của xã hội và được công chúng rất hoan nghênh. Sau khi ông Khế mất chức, tờ báo này cũng giảm sút về chất lượng và số lượng. Phóng viên điều tra tham nhũng bị tống giam, tiếng nói chống tham nhũng yếu đi, ai dám chống tham nhũng nữa.

Trưởng Ban Tuyên giáo là ông Tô Huy Rứa, 1 nhân vật siêu bảo thủ. Ở ĐH đảng lần thứ 11, ông Rứa là nhân vật cạnh tranh chức tổng bí thư với ông Nguyễn Phú Trọng, cũng bảo thủ không kém. Đảng dựa vào những nhân vật bảo thủ này tức là đã bế tắc lắm rồi. Phe cấp tiến của thủ tướng Dũng thì lại không có quyền lực gì lớn. Hiện tại phe của ông Dũng đang bị điều tra tham nhũng gắt gao. Tham nhũng ít cũng bị tống giam, hoàn toàn trái ngược so với trước đây. Sâu to không thấy lộ mặt, toàn sâu bé bị bắt.

Khi ông Dũng hết nhiệm kỳ, ĐH đảng lần thứ 12 mở ra, chắc sẽ có nhiều cái để xem. Ông Dũng đã cầm quyền 2 nhiệm kỳ, người tiếp theo sẽ là ai ? Thuộc phe nào ? ĐH đảng lần thứ 11 gây tiếng vang lớn với những phát biểu công khai trước báo chí đại loại như “các đồng chí nhiều nhà nhiều đất”, “bây giờ có ai sống bằng lương nữa”, gián tiếp thừa nhận ĐCS khuyến khích tham nhũng, xem tham nhũng là 1 phần tất yếu của hệ thống nhà nước. Mục nát đến tận xương tủy như thế mà vẫn còn bảo thủ. Người dân trông đợi đảng sẽ cải cách khối doanh nghiệp nhà nước thì nghị quyết đảng lại khẳng định “doanh nghiệp nhà nước là chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”.

Sặc máu mũi, “kinh tế” và “xã hội” là 2 chuyện khác nhau, làm sao gom chung thành 1 được. “Xã hội” là những vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền, tự do các loại. “Kinh tế” là những vấn đề liên quan đến giá trị đồng tiền. Yếu về tư tưởng chính trị nên phát ngôn linh tinh. Ngày xưa kinh tế của phe XHCN cũng không có cái “định hướng” này mà có cái tên khác, “kinh tế kế hoạch hóa tập trung”. Nền kinh tế này đòi hỏi quốc gia đó phải là 1 nước công nghiệp phát triển, có thể sản xuất mọi loại hàng hóa từ a đến z. 1 nước nông nghiệp lạc hậu như VN, ốc vít còn không làm được, áp dụng nền kinh tế này tất nhiên là không thành công. Kinh tế kế hoạch hóa tập trung rất được các quốc gia phương Tây ưa chuộng, vì thế người Mỹ lâu lâu lại phát ngôn gọi “cựu lục địa” là “CS giả hiệu”. Tôi muốn VN có chế độ như phương Tây, cũng đa đảng, cũng “tư bổn”, nhưng không có sự lũng đoạn chính trị của các tập đoàn tài phiệt như Mỹ.

 
Trả lời

bởi: HOÀNG KỲ(NPCN)Btn

23.11.2014 07:01
 
Trả lời
@ Ngài Phan bảo Lâm.
Rất đồng ý với lập luận của ngài PBL(nhưng không đồng chí).
Đúng vậy!cuộc cách mạng dân chủ tại VN phải thông qua cuộc cách mạng KT trước,và tiêu diệt thứ “định hướng XHCN” tào lao,thiên đế kia.Và,muốn như thế thì thứ vô bổ Mác Lê cũng phải đem vào bảo tàng viện,cơ quan tuyên giáo phải loại bỏ những thứ tư tưởng ảo,tuyên truyền và giáo dục về một định hướng thực dụng,phù hợp với niềm khao khát của toàn dân.
Nếu hằng ngày cái túi rỗng,cái bụng lép mà cứ phải ăn những thứ đạo đức này,tư tưởng kia thì làm sao nước giầu,dân mạnh?
Nam Hàn chả cần Mác,hay Lê,tư tưởng HCM,tư tưởng Mao chủ tịch,hay tư tưởng của bất cứ lãnh tụ nào sất,họ cũng chẳng cần ban tuyên giáo,tuyên mác gì cũng hùng dũng tiến lên giầu mạnh,vì họ thực dụng.
Còn cứ ba hoa,chích chòe Đảng là tất cả,đảng luôn trí tuệ,đảng bách chiến bách thắng…nhưng Đảng không có cách nào làm ra nổi một con “bù-lon” để xiết chặt sự đoàn kết dân tộc,không làm nổi một con ốc để có một nền Công Nghệ độc lập.Vậy,có đảng làm cái gì?
Lẽ vậy HK tôi coi Đảng không thông minh bằng cái Iphone 6,của một cô gái trẻ VN tại MỸ,hay tại VN.Thôi chào ngài nhé! lần này ta không cần phang nhau đấy nhé!
 
 
Trả lời

bởi: Tài từ: Hoa Thịnh Đốn

23.11.2014 05:05
 
Trả lời
Ông Lâm; Tại sao cứ mỗi lần xảy ra những chuyện ruồi bu, rác rưới ở Việt Nam là ông đem các nước phươngTây, Mỹ vào để làm Tựa > so sánh ? Sao ông không nói tới bạn vàng Đứng nhì (ngả nghiêng) Kinh Tế thế giới đang đè đầu đè cổ thủ trưởng của ông ? Ông đem những chuyện đâu đâu ở Mỹ chẳng ăn nhậu gì tới câu chuyện Tự do Báo chí…mà mỉa với mai…Hãy cho biết người Mỹ nào, tên tuổi gì đã nói : “” người Mỹ lâu lâu lại phát ngôn gọi “cựu lục địa” là “CS giả hiệu”…? Ngoài ra không phải mình ên ông muốn:…ối ‘Tôi’ muốn VN có chế độ như phương Tây, cũng đa đảng, cũng “tư bổn”, nhưng không có sự lũng đoạn chính trị của các tập đoàn tài phiệt như Mỹ…. mà là toàn dân Việt Muốn cho dù có bị lũng đoạn bởi các tài phiệt gì gì đó còn Tốt hơn tỉ lần bọn mao-tạp….Có Tự Do Báo Chí là Có Cơ May cho VN thoát tàu là tảng đá lót đường cho VN Tiến Bộ….Người Lãnh Đạo sẽ Xuất hiện lèo lái con thuyền VN đúng hướng không như: DŨNG-SANG-TRỌNG-HÙNG…..!
 
Trả lời

bởi: anh hua từ: viet nam

23.11.2014 17:20
 
có tốn giấy mực đâu, có cần ai đọc đâu, tập cho ngón tay linh hoạt thôi
 
 

bởi: Dân Đen từ: Miền Tây Nam bộ

22.11.2014 08:07
 
Trả lời
Tự do ngôn luận và tự do báo chí trong thể chế CSVN hiện nay tuyệt đối không thể song hành.
Nó chỉ có 1. Cái này mạnh thì sẽ triệt hạ cái kia.
Dù sao anh Khế cũng đã thấm thía trải nghiệm này quá nhiều. Có thể đây là bài báo hay nhất của anh, cho đến thời điểm này.
 
 

bởi: Thanh Binh từ: Australia

22.11.2014 08:07
 
Trả lời
Tự do báo chí ở một nước Cộng sản là một bước khai phá rất lớn dưới một chế độ độc tài toàn trị. Nếu Việt Nam làm được điều này, chứng tỏ Việt Nam đã bước tiến ngoạn mục hơn CS Tàu, Nga…vì chính nước Nga không còn CS nhưng họ vẫn không có tự do báo chí. Vì Nga chưa thoát ra được vòng kiêm cô độc tài, ích kỹ của một chủ thuyết thu tóm quyền lực, quyền lợi của toàn dân đã lâu. Nếu VN muốn tìm giải phóng cho dân tộc, hãy nhìn Singapore, Malaysia, Taiwan, South Korea…những nước này thật sự có tự do báo chí, đã đưa dân tộc họ thế nào cho đến ngày nay? Họ có bị tư bản bóc lột không? Ít ra, nhân dân VN thông cảm và hiểu cho lãnh đạo CSVN, nếu họ biết kịp thời thay đổi. Bước đầu là tự do báo chí trong một thể chế CS đầu tiên trên thế giới.
 
 

bởi: hung binh dong từ: q8

22.11.2014 08:04
 
Trả lời
tự do báo chí rất cần nhà báo có lương tâm,nhận định khách quan, phản ảnh trung thực,vì xã hội công bằng ,tự do , dân chủ ,vì xã hội ổn định,nâng cao nhận thức,phát triển, xây dựng đất nước ,hướng quần chúng nhân dân đến mục tiêu dân giàu,nước mạnh,xã hội phồn vinh.// tự do báo chí không phải để lợi dụng tìm hiểu sự thật rồi moi móc đời tư người khác , lên mạng xem tin tức được kèm theo khuyến mãi phim cấp 3 như các trang mạng vừa bị phạt, hay là ,….cái gì không quản được thì cấm phản ánh năng lực chính quyền nhưng ném chuột làm vỡ bình thì đúng là thật tế hiện nay.
 
 

bởi: phamd từ: us

22.11.2014 07:57
 
Trả lời
Tự do báo chí ,hay còn gọi là xuất bản độc lập hay có thể nói là kinh tế báo chí .v…v… đương nhiên VN đang đi đến giai đoạn nầy .Vấn đề nầy không khó .Nhưng quan trọng là Chính phủ VN cần treo cổ bọn phản quốc cờ vàng như Hoa kỳ đã treo cổ băng đảng nổi tiếng .Hễ ai mà có liên hệ đến đảng phái nầy mà có chân trong chính phủ là bị tẩy chay ngay ,vì vậy họ không thể công khai …..mà không được công khai thì mới bó tay được .
 
Trả lời

bởi: hung binh dog từ: q8

23.11.2014 14:43
 
Trả lời
tui đang ở vn lên mạng ,vào trang voa tiếng việt, xem được hết mọi ý kiến,từ cơ vàng ,có do ,co xanh, …. nói chung đủ loại và su tổ dư luận viên dùng lời lẽ dung tục nhận xét tu do thì sao lại nói vn không có tự do báo chí// giải thích xem.
 
 
Trả lời

bởi: Sư Tổ Dư Lận Viên từ: U.S.

23.11.2014 10:41
 
Trả lời
Lời tự thú của Tổng Biên Tập báo Thanh niên Nguyễn công Khế : CSVN cờ đỏ không có tự do báo chí ! Khi người Dân không có tiếng nói Tự do ,thì nghị trường Quốc Hôi chỉ là TRÒ BỊP !!! Các nghị viên chỉ là “con cái” của cái Đảng độc tài “chó má” do Hồ Chính Mi Việt gian tay sai tàu cộng giàn dựng. Ông NCK còn khẳng định : Tự do báo chí tốt cho Đất Nước và tốt cho cả thể chế”! Điều nầy không hẳn đúng vì mọi chế độ Độc Tài làm gì có Tư do-báo chí !

Trường hợp có “tự do báo chí” thì nhân dân VN đứng lên treo cổ bọn phản quốc vong nô việt công tay sai Tàu Cộng.

 
 

bởi: Em ở Vỹ Dạ từ: Bán nón chợ Đông Ba, Huế

22.11.2014 06:35
 
Trả lời
87 triệu dân VN + trên 5 triệu người VN hải ngoại Ngưỡng Mộ + Khâm phục Nguyễn công Khế. Chỉ cần 5 đảng viên đang làm tong biên tập 5 tờ báo đảng như Nguyễn công Khế can đản nói lên như Nguyễn công Khế em tin chắc đảng csVN sẽ chấm dứt Lừa Bịp nhân dân VN và cộng đòng thế giới bằng cách thực thi nghiêm chỉnh bản tuyên ngôn quốc tế nhân quyền mà đảng đã thừa nhận và ký kết 1982.Lúc đó VN sẽ tiến hành thay đổi cho hợp với lòng dân mà không xáo trộn đổ máu như Miến Điện.Hoan Hô Nguyễn công Khế.

 

Báo chí Việt Nam ‘tuyệt vọng câu khách’?

22 Th11

Báo chí Việt Nam ‘tuyệt vọng câu khách’?

  • 6 giờ trước

Báo chí Việt Nam hiện đang không thoát khỏi guồng quay số hóa, điện tử hóa nhưng dường như đang loay hoay giữa ngã ba đường và xu hướng thấy rõ nhất là lá cải hóa.

Chưa có một tờ báo mạng nào được xem là chuyên nghiệp, thông tin chuẩn xác, đáng tin cậy. Nói như một nhà bình luận trong nước, cả làng báo (mạng) là “một vườn cải xum xuê”.

Sụt giảm

Theo Bộ Thông tin-Truyền thông Việt Nam, tính đến ngày 26/12/2013, toàn quốc có 838 cơ quan báo in với 1.111 ấn phẩm, 70 báo điện tử, 19 tạp chí điện tử và 265 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí.

Trong số hơn 800 tờ báo, số báo sống được nhờ lượng phát hành chỉ trên dưới 10 tờ, theo một số nhà báo trong nước.

Vài năm trở lại đây, những báo có số phát hành hàng đầu như Tuổi trẻ, Thanh niên, Công an TPHCM, Phụ nữ… cũng sụt giảm lượng phát hành ở mức rất đáng kể.

Phó tổng biên tập của một tờ báo vừa kể tiết lộ, lượng phát hành của tờ báo đã giảm tới 1/3 chỉ trong vòng hai năm, còn khoảng 200 ngàn bản/kỳ.

Số phát hành của tờ báo thường được giữ bí mật và con số công khai thường lớn hơn nhiều so với thực tế, một cách để duy trì quảng cáo.

Tại Việt Nam, cho dù có tới 800 tờ báo in, nhưng số tờ báo bán được (bán trên sạp báo và đặt báo dài hạn) cũng chỉ tính trên con số 10.

Thời gian vừa qua, hầu hết những “phóng viên”, “nhà báo” bị bắt với cáo buộc tống tiền các doanh nghiệp đến từ nhóm báo này. Một cách khác để tồn tại là “đánh thuê” theo đơn đặt hàng dưới cái gọi là “hợp đồng truyền thông”, tức là được trả tiền để viết “đánh” ai đó.

Tuy những tờ báo này ít được xã hội biết đến nhưng cứ có bài được dán mác “chống tiêu cực” là cũng đủ để ai đó gặp rắc rối.

Tuy nhiên, cách tồn tại này ngày càng tỏ ra mong manh, nhất là trước hiện tượng báo mạng, trang tin điện tử trăm hoa đua nở và chuyện “được/bị lên báo” nay trở thành “thường ngày ở huyện”.

Sự phát triển của internet, của các thiết bị đọc điện tử dẫn đến việc đọc tin tức trên mạng trở nên phổ biến.

Tính tới tháng 11/2012, có khoảng 31,3 triệu người dùng Internet ở Việt Nam (chiếm gần hơn 35 % dân số cả nước, theo Trung tâm Internet Việt Nam. Hầu hết người dùng Internet đều ở tuổi từ 20-40.

Có người nói tại Việt Nam hiện nay, mạng xã hội là nguồn tin chính. Thực ra đây cũng chỉ là phỏng đoán. Chưa có nghiên cứu thực sự nào chứng minh điều này.

Nhưng xu hướng lá cải hóa nền báo chí là điều nhiều người thấy rõ.

Sự phát triển của internet, của các thiết bị đọc điện tử dẫn đến việc đọc tin tức trên mạng trở nên phổ biến

Để hiểu thêm về xu hướng của báo chí Việt Nam, cần thiết phải nhìn vào nguồn tài chính để các tòa báo tồn tại.

Trong khi báo in sụt giảm và nhiều tờ báo đang chuyển qua hình thức kỹ thuật số, tại thị trường Việt Nam, quảng cáo trên truyền hình vẫn chiếm đa số.

Theo một thống kê, năm 2012, doanh thu quảng cáo toàn thị trường đạt 20.400 tỷ đồng, tăng 30% so với năm 2011.

Trong đó, truyền hình chiếm 18.246 tỷ đồng, tăng 136% so với năm 2011; quảng cáo trên báo in và tạp chí giảm khoảng 8%, đạt 2.151 tỷ đồng và phát thanh giảm gần 20%, với chưa đầy 25 tỷ đồng.

Tính theo tỷ lệ, quảng cáo trên báo in chiếm khoảng 8%, truyền hình 78%, internet 9% và quảng cáo ngoài trời chiếm 4%. Tuy nhiên, năm ngoái doanh thu quảng cáo trên báo đã giảm 1,3% trong khi các phương tiện truyền thông khác giữ con số tốt hơn nhiều.

Điều này khiến nhiều tờ báo phải đấu tranh để tồn tại bởi việc sụt giảm doanh thu.

Cuộc chiến “câu view”

Để tồn tại, các tờ báo điện tử Việt Nam buộc phải bước vào cuộc chiến “câu view” (tăng lượt xem) bằng gần như mọi giá. Các đề tài liên quan đến sex, giật gân, người giàu có, người đẹp, các nhân vật giải trí của giới bình dân (chiếm đa số)… được khai thác triệt để…

Có thể nói, trong cuộc chiến tranh giành miếng bánh nhỏ bé của thị trường quảng cáo online chưa thực sự lớn mạnh, nhiều báo mạng lao vào tranh đua bằng chiêu bài lá cải một cách tuyệt vọng.

Những từ khóa gây sốc, cho dù hầu hết vi phạm những quy tắc của báo chí đứng đắn về tính khách quan, trung dung của người làm báo, được tận dụng tối đa nhằm thu hút lượt đọc.

“Kinh hoàng”, “nghẹn lòng”, “đắng lòng”, “hé lộ”, “bóc mẽ”, “gây sốc”, “bất ngờ”… là những động từ, tính từ chủ quan của tờ báo được tận dụng tối đa trên các hàng tít.

Báo mạng cũng là giới “sáng tạo” ra những khái niệm mới và khiến chúng phổ biến: “giàu như đại gia” (cho dù không biết đại gia này có bao nhiêu tiền, nhà to thế nào), “đẹp như hotgirl” (?).

Nhiều tờ báo, thậm chí sẵn sàng đưa lên những câu chuyện gần như không có tính báo chí, chỉ miễn có người kích chuột vào là được. Một tờ báo mạng hồi đầu năm khai thác chuyện một cô gái không nhịn được đã “ị đùn” trên xe khách đường dài.

Bài báo “bốc mùi” này tuy sau bị phê phán, nhưng đối với những người làm báo, đó có thể xem là “thành công” bởi “câu được view”.

Người ta giờ đây cũng sẵn sàng đưa lên đủ loại tin đồn chưa được kiểm chứng, thậm chí dùng những thứ được tung lên mạng xã hội, không qua thẩm định và tác nghiệp của phóng viên, miễn là thu hút trí tò mò.

Các tờ báo mạng đều na ná giống nhau ở đề tài, ngôn ngữ. Có một điểm chung là họ đều nhắm đến những từ khóa “sốc, sex” mà họ cho là thu hút độc giả để đưa lên tít.

Ngôn ngữ của báo mạng dần giống như truyện kiếm hiệp Kim Dung với “đuổi giết” thành “truy sát”, “cô gái”, “người đàn bà” nay thành “thiếu nữ”, “thiếu phụ”, “góa phụ”, con nhà giàu có giờ trở thành “thiếu gia”, “tiểu thư”, thậm chí nhiều báo còn dùng “nữ tiểu thư” (chắc để phân biệt với “nam tiểu thư”?).

Ngoài “cưỡng dâm”, giờ đây người ta còn viết “cưỡng hôn”, ý nói hôn người khác mà không được cho phép.

Trong cuộc đua câu view, nhiều thứ chuẩn mực đã bị xem nhẹ.

Thậm chí, nhiều việc rất nghiêm túc cũng bị “cuộc chiến câu view” làm cho trở thành nhảm nhí.

Đưa tin về thủ tướng Yingluck Shinawatra, thay vì tập trung nội dung chính trị, một số tờ báo mạng chỉ nhìn vào dung mạo và trang phục của bà kiểu “Ngắm thủ tướng Thái Lan xinh đẹp, quyến rũ”. Nhưng những bài như vậy, lại ăn khách.

Xu hướng này diễn ra trên ấn bản điện tử của cả những tờ báo xưa nay được xem là nghiêm túc, chuyên nghiệp như Tuổi trẻ, Thanh niên hay Pháp luật TPHCM.

Không phải không có những nỗ lực làm báo điện tử nghiêm túc, chuyên nghiệp như VietnamNet từng là một ví dụ.

Tuy nhiên, do vòng quay của xã hội, của thị hiếu bình dân, tờ báo này thay vì nghiêm túc như buổi đầu, nay cũng dùng đủ trò câu khách lá cải để thu hút độc giả trẻ, những người dường như thích tin tức giật gân, thỏa mãn trí tò mò hơn là tìm những thông tin bổ ích, giúp tiến bộ.

Phải chăng xã hội nào thì báo chí đó? Với những gì đang diễn ra trên mặt báo, có thể có những liên tưởng về người đọc Việt Nam ngày nay, họ là ai.

Ở bất cứ quốc gia nào cũng có người thích tin tức lá cải và những tờ báo lá cải. Khác với Việt Nam ở chỗ: ngoài báo lá cải, còn có nhiều tờ báo đàng hoàng, nghiêm túc.

Chắc chắn ở Việt Nam vẫn có một bộ phận độc giả có trình độ cần những thông tin nghiêm túc, có ích, những tờ báo mạng chuyên nghiệp và đây cũng là đòi hỏi của một xã hội tiến bộ.

Nhưng chưa xuất hiện những tờ báo như thế ở quốc gia 90 triệu dân này.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Nguyễn Anh Minh từ Sài Gòn, Việt Nam.

Tin liên quan

  • Ra mắt tập hợp blogger VN ‘vì tự do’
    11 tháng 12 2013
  • Viết blog từ trong nước, ai, thế nào?
    12 tháng 5 2013

 

‘Hai Lúa’ Việt Nam chế 11 xe bọc thép trong 4 tháng – Vnn

18 Th11

 

Bây giờ ở Tây Ninh, ai ai cũng biết chuyện “ông Hai Lúa” Trần Quốc Hải chế tạo xe thiết giáp cho quân đội Campuchia, thậm chí được chính phủ nước này tặng huân chương Đại tướng – huân chương danh dự cao nhất của đất nước Chùa Tháp.

Trước khi những thông tin này được các cơ quan chức năng tiến hành kiểm chứng, phóng viên đã có cuộc tiếp xúc với ông Trần Quốc Hải, để nghe ông kể về những “thành tựu” của mình.

Và ông bắt đầu cuộc phỏng vấn bằng một câu đậm chất “Hai Lúa”: “Cái gì biết thì tui nói hết, không biết thì xin phép qua câu khác đỡ mất thời gian của nhau hén!”

– Thưa ông, cơ duyên nào ông được quân đội Campuchia mời sang chế tạo xe thiết giáp?

Ông Trần Quốc Hải: Tôi sang Campuchia để trồng khoai mì. Tôi đã nghiên cứu chế tạo ra được máy trồng cây khoai mì và quân đội Campuchia đọc được điều này trên mạng nên cử Trung tướng Sonarit cùng sáu vệ sỹ sang Việt Nam mua máy trồng và chăm sóc khoai mì. Họ mời tôi sang để chuyển giao công nghệ này.

Một lần nọ tôi thấy xe bọc thép và xe tăng nguồn gốc Liên Xô và Ukraine mà quân đội Campuchia sử dụng đã hư hỏng. Họ chỉ cho tôi và phàn nàn rằng từng mời chuyên gia Việt Nam qua sửa xe nhưng sửa xong rồi và chuyên gia vừa về thì xe lại hư tiếp nên họ không hài lòng.

Trần-Quốc-Hải, Hai-lúa, Xe-bọc-thép, Máy-nông-nghiệp, Quân-đội, Campuchia

“Hai Lúa” Trần Quốc Hải và con trai

Tự ái dân tộc nổi lên nên tôi bày tỏ ý muốn được sửa lại những chiếc xe đó. Sửa được bọc thép rồi, chạy thử bắn thử rồi, họ cũng hài lòng rồi nhưng tôi vẫn nói thẳng với họ rằng khung xe Liên Xô, máy Mỹ, súng Trung Quốc mà lắp kiểu “đầu Ngô, mình Sở” như vầy chỉ là giải pháp tạm thời thôi bởi nó không đồng bộ.

Họ hỏi tôi chế được xe bọc thép mới không, tôi nhắm làm được nên nhận luôn.

– Tôi nghĩ chuyện chế tạo xe bọc thép lẫn đồng ý cho chế tạo xe bọc thép không hẳn dễ dàng như ông nói?

Xưởng trưởng sửa chữa xe cho quân đội Campuchia không tin tôi làm được và đánh giá các xe hư kia chỉ đáng đem bán phế liệu. Nhưng trong buổi nói chuyện đó có ông Masuhan là lữ đoàn trưởng là người rất đam mê khoa học kỹ thuật đã đứng ra nói cho tôi.

Ông ấy bảo: “Xe này đã hư, sửa được thì tốt mà không sửa được cũng là xe hư. Để ông ấy sửa!”

Tôi cũng nói với họ tôi sẽ tự bỏ tiền túi đầu tư 25.000USD để sửa xe, sửa được mới lấy tiền. Sau này tôi sửa được rồi thì anh xưởng trưởng kia bị cách chức chuyển sang công việc khác và quân đội Campuchia cho biết tất cả các xe tăng, xe thiết giáp nào hư sẽ không được thanh lý sắt vụn mà phải chờ tôi “khám bệnh” cho chúng trước.

Tôi nói với họ rằng chế tạo xe bọc thép quan trọng ở kỹ thuật, trí tuệ hơn vật chất bởi vật tư cho quân đội không thiếu nhưng lại thiếu ý tưởng.

Tôi tạo ra những chiếc xe bọc thép từ kinh nghiệm hơn 20 năm làm cơ khí của mình trên tinh thần tiết kiệm nhất về vật chất và bù lại bằng lao động và trí lực của mình.

Nói thẳng luôn là những chiếc xe bọc thép mới được chế tạo phải linh động góc độ để tổng thể đẹp dù từng chi tiết chưa được đẹp, nhưng vấn đề là hiệu quả được đặt lên hàng đầu.

– Ông sửa xe xong mất bao lâu và chiếc xe được sửa lại so với chính nó lúc chưa hư thì thế nào?

Mất đúng 20 ngày là tôi sửa xong hết. Cái xe cũ có bình xăng đi qua bộ đánh lửa rất tệ, chạy cỡ 20km phải nhúng nước làm mát và nhiều nhược điểm không phù hợp với vùng nhiệt đới cần cải tạo lại.

Động cơ của nó hao xăng kinh khủng và hai động cơ không đồng tốc nên khả năng hư hỏng cao. Tôi phụ trách sửa máy và các chi tiết khác còn gầm xe và thắng xe do phía Campuchia phụ trách.

Xe sửa xong chuyển qua chạy bằng dầu diesel rẻ hơn xăng. Trước đây xe chưa hư thì chạy cùng quãng đường mất 45l xăng còn sửa xong thì chỉ mất 25l dầu diesel.

Sửa xong họ điện thoại báo ngay và đích thân Trung tướng Sonarit lập tức đến nơi, lên xe tự cầm lái chiếc đầu tiên dù dàn thắng xe chưa làm xong.

Ông ấy chạy bốn vòng sân thấy ổn liền gọi điện báo cho Tổng tư lệnh quân đội Campuchia và đại diện các bộ ban ngành tại Phnompenh đến xem và chúc mừng.

Trần-Quốc-Hải, Hai-lúa, Xe-bọc-thép, Máy-nông-nghiệp, Quân-đội, Campuchia
Một tướng lĩnh Campuchia bên chiếc xe thiết giáp do cha con ông Hải chế tạo hoàn chỉnh. Ảnh: LĐO

– Sửa xe bọc thép cũ đã khó thì chắc chế tạo xe bọc thép mới còn khó hơn, ông làm thế nào để tạo ra một chiếc xe bọc thép hoàn toàn mới?

Bất kỳ loại xe nào dù thô sơ hay hiện đại cũng đều không nằm ngoài nguyên lý vật lý nói chung và nguyên lý cơ khí nói riêng. Nắm được nguyên lý là làm được hết!

Mẫu mã ban đầu tôi nhắm vào chiếc xe bọc thép đang “hot” và mắc nhất thế giới hiện nay là chiếc V300 của Mỹ với giá 18 triệu USD/chiếc tuy nhiên phía Campuchia không đồng ý.

Trung tướng Soinarit nói rằng phải chế theo một kiểu riêng đặc thù Camphuchia để phù hợp với địa hình Đông Dương, xe mới phải là xe không đụng hàng chớ không phải loại xe bắt chước thiên hạ. Tôi phác thảo và trình lên, họ đưa ra hội đồng và thông qua để chế tạo.

Làm xe mới không dễ mà phải làm gấp nên Trung tướng Soinarit đi thị sát mỗi ngày và họ nói muốn gấp rút hoàn thành để kịp ngày duyệt binh 13/10.

Họ yêu cầu tôi giao trước nửa tháng để kịp chuẩn bị cho buổi lễ. Tôi vừa làm vừa rút kinh nghiệm tại chỗ và trung bình làm 10 giờ/ngày và không có ngày nghỉ.

Cái khó nữa là cắt hóc, cắt khối cho xe không có máy cắt thủy lực cường độ cao hay máy cắt laser mà chỉ mài máy hàn gió đá bằng tay.

Hoàn thành xong công việc tôi sút đúng 4kg. Tôi không trực tiếp làm mà chỉ đạo thợ làm nhưng cái đầu luôn phải hoạt động hết công suất chỉ trừ lúc đi ngủ.

 

– “Đứa con sáng chế” đầu tiên về quân sự của ông được quân đội Campuchia đánh giá như thế nào?

Họ bảo “đẹp như Angkortuk” (kỳ quan Angkor thu nhỏ).

– Ai đã giúp ông thực hiện các công việc nói trên?

Con trai tôi Trần Quốc Thanh và ba người thợ Việt Nam nữa. Thợ tại chỗ ở Campuchia thì khoảng 20 người. Con tôi là cánh tay mặt của tôi, nó nhạy bén hơn tôi và không chỉ có tôi mà các tướng lĩnh của Campuchia cũng tham khảo ý kiến nó trong các cuộc họp chính thức hay tại công xưởng.

– Sửa được xe tăng, xe bọc thép cũ và chế tạo xe bọc thép mới, hẳn là quân đội Campuchia không chỉ dừng lại ở hai đơn hàng ấy chứ, thưa ông?

Họ đặt tôi hai mẫu mới nữa là xe bọc thép lội nước và xe bọc thép mang pháo Kachiusa tầm bắn 45km. Xe bọc thép đầu tiên là xe dùng để hỗ trợ bộ binh, cần thiết cũng có thể chở vũ khí, lương thực khác.

– Ông hãy nói một chút về những cách làm việc của đối tác tại Campuchia mà ông trải qua?

Họ trao đổi trực tiếp hay qua điện thoại và quyết định rất nhanh. Khi đưa ra yêu cầu, họ chỉ nhận sản phẩm đạt hoặc cao hơn yêu cầu còn nếu thấp hơn thì coi như vứt đi.

Chuyện tiền bạc cũng sòng phẳng cực kỳ dù tôi và họ không làm hợp đồng gì. Ví dụ trước khi làm xe mới họ ứng 200.000 USD cho tôi mà không cần giấy tờ gì mất công, uy tín là trên hết. Nghe nói sản phẩm làm xong rồi thì từ tướng đến tá lập tức đến công xưởng ngay, thao tác thử ngay.

– Tôi được nghe ông đã từ chối 18 mẫu xoài, chiếc xe hơi sang và ngôi biệt thự đắt giá cùng các chế độ hậu đãi như một tướng quân mà quân đội Campuchia dành cho mình, ông nghĩ gì khi nói lời từ chối ấy?

Không chỉ có vậy đâu, bộ trưởng phụ trách y tế của Campuchia mà tôi không nhớ tên đã bắt tay tôi thật chặt khi tay tôi lấm lem dầu mỡ và hứa là tất cả vấn đề về sức khở của tôi và gia đình sẽ được Campuchia đáp ứng ở cấp quốc gia vì tôi đã sửa được xe thiết giáp, xe tăng nghĩa là tôi tiết kiệm cho ngân sách Campuchia rất lớn.

Nhưng tôi là người làm khoa học đơn thuần nên không muốn bị ràng buộc. Mục đích của tôi là làm ra nhiều hơn những máy móc phục vụ cho quê hương nói riêng và cho con người nói chung. Tôi nói với họ tôi chỉ nhận những thứ tôi đáng nhận và nên nhận, vậy thôi.

– Là một nhà sáng chế nông nghiệp và bây giờ là them sáng chế quân sự, ông nghĩ gì về điều này?

Ông Trần Quốc Hải: Khoa học là không biên giới, là để phục vụ con người. Tôi thích chế tạo ra các sản phẩm nông nghiệp để nâng cao sản lượng lương thực phục vụ con người hơn.

Chế tạo xe bọc thép là để người nước ngoài không coi thường năng lực người Việt Nam mình, cũng là vì tôi được tin tưởng và được đối xử tốt tại Campuchia.

Nếu có sự lo ngại rằng chế tạo xe bọc thép là chế tạo vũ khí thì cũng nói luôn là tôi tạo ra được xe bọc thép thì tôi cũng có thể tạo ra được thứ khắc chế nó.

Sử dụng thế nào là ở mục đích tốt hay xấu thôi chớ bản thân khoa học chỉ có đúng hoặc sai, làm được hoặc không làm được thôi mà. Với lại có những thứ còn khó chế tạo ra hơn xe bọc thép mà tôi còn làm và làm được nữa kia mà.

– Khó chế tạo hơn xe bọc thép?

Hải: Tôi nghiên cứu và chế tạo xong 11 chiếc xe bọc thép mới mất khoảng bốn tháng trong khi chiếc máy trồng mì và chăm sóc mì mất đến hai năm. Đừng tưởng sản phẩm nông nghiệp mà giản đơn, dễ làm. Nhiều người đã mua máy tôi về rồi bắt chước làm thử nhưng đều thất bại và phải đến tìm tôi.

– Hãy nói một chút về gia đình ông?

Vợ chồng tôi chỉ có một đứa con trai và cháu cũng mới vừa lấy vợ. Hai cha con đều đam mê về máy móc và lắm lúc vợ tôi (bà Trần Thị Bạch Yến) cũng cằn nhằn dữ lắm vì thấy tôi cứ đem tiền mua đủ thứ máy móc kỳ lạ đem về mà chưa biết có chế tạo ra được cái gì không.

Lúc tôi chế máy bay thấy tốn tiền nên vợ tôi phàn nàn thì tôi không đi chơi, không nhậu nhẹt và luôn dành một khoản để gia đình đủ chi tiêu thì cô ấy mới thông cảm.

Thấy hai cha con tôi mê chế tạo quá và tiền nhà dù sao cũng tốn rồi nên vợ tôi thôi đành chấp nhận và từ không biết gì về cơ khí thì đến giờ cô ấy khá rành chuyện máy móc để trở thành người quản lý cho gia đình.

– Nếu có một lời khuyên dành cho thế hệ trẻ, ông sẽ nói gì?

Nền tảng vật chất không quan trọng bằng tư duy. Bỏ đi sự bảo thủ thì cậu bé 8 tuổi hay ông già 80 đều phục vụ đất nước tốt được theo cách của mình.

Khổng Tử nói cách đây mấy ngàn năm không học mà làm được là thánh nhân, học mà làm được là người hiền minh, học mà không làm được là kẻ ngu. Chỉ có lao động mới tiến bộ, sinh ra cái mới. Khi ai đó nghi ngờ mình không thể làm được điều gì đó mà mình tin tưởng, theo đuổi thì đừng nản lòng và cố gắng làm cho bằng được.

Tôi mong các bạn trẻ hãy nâng cao kiến thức bằng nhiều cách, đừng sợ không có chỗ dùng kiến thức ấy bởi mọi may mắn nếu đến thì xét cho cùng cũng từ sự nỗ lực để đón đợi nó mà thôi.

– Xin cảm ơn ông!

(Theo Vietnamplus)

 

Nhìn Lại Hệ Thống Ngân Hàng Việt Nam… – GNA

14 Th11

 

Trò Chuyện Cùng Chuyên gia ngân hàng Lê Trọng Nhi: “Nếu tôi là Thống đốc…”

Kim Yến – BizLive thực hiện – 11/11/2014

bank image

Thẳng thắn, gai góc, chân thành, chuyên gia ngân hàng Lê Trọng Nhi đã có nhiều ý kiến phản biện quyết liệt trong việc cải tổ lĩnh vực ngân hàng và tái cấu trúc tài chính tại Việt Nam, trong suốt gần 30 năm qua.

Từng làm việc với vị trí điều hành và cố vấn cho nhiều tổ chức tài chính lớn, là thành viên trẻ nhất của nhóm “Thứ Sáu” của Thủ tướng, có vai trò trong việc hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước mua bán nợ nước ngoài vào thập niên 90 của thế kỷ 20, tham gia xây dựng Ban Phát triển thị trường vốn – tiền thân của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước… ông hiện giữ cương vị Giám đốc Điều hành lĩnh vực Ngân hàng – Thị trường vốn tại Công ty Luật và Tư vấn VCI.

Trở về nước đúng thời kỳ sung sức nhất, đặt hết say mê vào việc khởi sự một thị trường vốn tại Việt Nam, nhưng đến ngoài 60, giấc mơ hội nhập vào thị trường kinh tế thế giới cho ngành ngân hàng tài chính của ông xem ra vẫn còn xa vời…

Nhiều nghiệp chủ ngân hàng “ba trợn”

Từ bỏ nhiều cơ hội thăng tiến ở nước ngoài, ông đã trở về, qua ngân hàng đầu tư CLSA của ngân hàng Credit Lyonnais và đã được sát nhập vào ngân hàng Credit Argicole, tham gia đặt một trong những viên gạch đầu tiên để xây dựng một quỹ đầu tư đầu tiên và cũng là bước đầu của tòa lâu đài “thị trường vốn”. Hơn 30 năm đã qua, cũng gần hết một kiếp người, có bao giờ ông tự hỏi “Ta đã làm chi đời ta”?
Tính ra đã 23 năm, khởi đầu mon men từ thị trường vốn, thị trường chứng khoán, mất gần 10 năm từ 1991 đến 2000 thị trường mới bắt đầu phiên đầu tiên. Lúc ấy, lãng mạn lắm, tôi nghĩ cao lắm là mất 2 – 3 năm, xong việc sẽ trở lại Mỹ hoặc London làm việc tiếp.

Từ lúc mới có vài ngân hàng cổ phần, đến giờ đã có một hệ thống ngân hàng cổ phần. Sống và quan sát, nằm trong sự lớn dần của hệ thống ngân hàng tư nhân, tham gia vào quá trình hình thành hệ thống tài chính ngân hàng của đất nước, nên bị sa đà một cách âm thầm, cứ loay hoay ở Việt Nam là chính và Singapore, Hongkong hoài.
Bên cạnh đó là những cuộc xử lý mua nợ của ngân hàng Việt Nam, năm 93 – 94 xử lý nợ của Liksin, Legamex, Vieco… với ngân hàng nước ngoài. Sau này xử lý các khoản nợ của công ty lương thực thành phố với khách hàng Nhật và Pháp.

Đáng nhớ nhất là cuộc xử lý vào cuối năm 1996 và đầu năm 1997, một khoản nợ nhỏ của Ngân hàng Ngoại thương (VCB) nhưng đã làm nghẽn giai đoạn cuối giải quyết nợ thương mại của Việt Nam tại Câu lạc bộ London để khai thông cho các ngân hàng Việt Nam trở lại thị trường vay nợ quốc tế.

Từ năm 2001, bắt đầu thấy sự định hình của hệ thống. Có những trục trặc, những rời rạc, những lỗ hổng rất dể thấy, nhưng với thời điểm đó thì có thể cố gắng chấp nhận được. Nhìn nhanh lại, có nhọc nhằn tâm trí lúc này lúc kia, nhưng cũng đã làm được chút gì đó hữu ích. Chắc vậy.

Ông còn nhớ giai đoạn 5 năm, nhất là giai đoạn từ 2007 – 2008, rộ lên một số ngân hàng mới từ nông thôn chuyển qua thành phố và vài ngân hàng mới thành lập, thị trường chứng khoán mở rộng kết hợp với những lỗ hổng ngân hàng, lộ ra khuyết tật ngày càng nhiều? 
Khi riêng rẽ, từng ngân hàng không có sự kết nối với thị trường chứng khoán, thì những lỗ hổng đó chưa thành những khuyết tật. Nhưng khi thị trường chứng khoán rộ lên cùng với một hệ thống ngân hàng và đặc biệt với các ngân hàng nông thôn mới chuyển sang ngân hàng thành phố – có lúc được gọi là các ngân hàng “nông nổi” – đã tạo thành một khối thì khuyết tật rõ nét hơn.

Sự yếu kém về nhân sự, chuyên môn… đã lộ ra nhiều nghiệp chủ ngân hàng “ba trợn”, không thể thoát ly được tư duy con buôn.

Đó là tư duy thời kỳ 95-96-97, nhiều người coi ngân hàng là của riêng họ, dùng phần lớn tiền và vốn của khách hàng cho chính họ. Tư duy này lại tái hiện rõ nét hơn giai đoạn 2007 đến gần đây, chỉ khác là độ lớn hơn nhiều, có hệ thống hơn, nhờ cơ cấu thị trường chứng khoán.
Ba vòng giao thoa của ba định chế tài chính mới là vấn đề – vấn nạn mới trong thị trường còn rất non trẻ của Việt Nam. Khi ba ông “mâm trên” kết nối: các ngân hàng, các công ty chứng khoán, các quỹ đầu tư thì sẽ sản sinh ra những loại khuyết tật mà trước đây ở mức thấp hoặc chưa hề có. Đó là sở hữu chéo mang tính toa rập hơn là hợp sức giữa các định chế tài chính, tiền ma – vốn ảo, loại vốn “trời gầm – đất lở”.

Một ông “mâm trên” đã mệt, ba ông “mâm trên” hợp với nhau thì thật khó mà đỡ.

Phải chăng việc chúng ta vẫn chưa để một ngân hàng nào phải giải thể theo đúng nghĩa, đã tạo nên sự bao cấp không đáng có, góp phần dẫn đến tình trạng thao túng thị trường, nợ xấu ngày càng nặng nề?  

Đó là một loại và một góc bi kịch của nền kinh tế và xã hội. Một loại vấn nạn làm nghẽn và mệt hệ thống, nhưng ít ai dám nhìn vào vấn nạn đó, vì không chịu nhìn cái thực trạng ê chề đó cho nên hệ thống lại càng mệt thêm.

Đúng ra phải có những cách nhìn thật từ những tháng cuối năm 2008 hoặc chậm hơn thì cuối năm 2009, nhưng do không dám nhìn, nên cả hệ thống đã bị vướng và rơi vào chứng thương hàn. Dù chỉ là một phần rất nhỏ và thậm chí chẳng là gì trong chuỗi, lĩnh vực ngân hàng – thị trường tài chính, thì cũng có một nỗi đau đáu của riêng tôi.

Trong lúc hệ thống ngân hàng đang mày mò tìm giải pháp thoát ra những vòng xoáy tổn hại và tổn thương nề kinh tế, hơn bao giờ hết phải tìm những  người tạm gọi sạch, biết nghề, nhưng chẳng hiểu nông nỗi gì và tại sao lại có sự việc chuẩn y những con buôn lạ lùng làm chủ tịch và những người chưa một ngày điều hành một phòng giao dịch ngân hàng vào vị trí tổng giám đốc ngân hàng để rồi bị bắt chỉ sau một thời gian ngắn? Có thể nói là trong hệ thống điều hành loay hoay với cái gì đó không ổn mới xảy ra sự việc như vậy?
Tôi đã trải nghiệm qua 5 đời Thống đốc. Sách lược không để cho bất cứ một ngân hàng yếu kém nào sụp đổ, theo tôi, là một sách lược thất thế và tự ru ngủ. Quan niệm sụp đổ một vài ngân hàng thật sự yếu kém sẽ khiến cả hệ thống sụp đổ là không đúng. Cái khoảng trống đáng sợ của các ông chủ chính thức hoặc không chính thức của các ngân hàng – đã tạo ra những vùng tối, môi trường cho phép ký sinh trùng sinh sôi nảy nở.

Thế cờ đang thay đổi

Thưa ông, nếu là Thống đốc, ông sẽ làm gì?

Trước tiên, đây là câu hỏi có giá 25 tỷ USD – tương đương với khoản nợ xấu trong hệ thống ngân hàng từ cuối năm 2012 mà Thống đốc đã bộc bạch gần đây.
Kế tiếp, đây là câu hỏi tôi đã tự hỏi nhiều lần trong 5 năm qua, và cũng là câu hỏi mà TS. Võ Trí Thành đã đặt để với tôi trong hội thảo “Kinh doanh trong thế cờ thay đổi” mà BizLIVE tổ chức mới đây.

Nếu là Thống đốc trong bối cảnh hiện nay, một trong những việc/bài học đầu tiên mà tôi phải thuộc lòng là: đại thể, hệ thống ngân hàng như thế nào thì nền kinh tế như thế đó.

Nguồn và đồng vốn như thế nào và lái đi đâu thì kinh tế sẽ hướng theo đó. Có thêm nhiều ngân hàng đàng hoàng thì cũng sẽ có nhiều khách hàng đàng hoàng. Ngoài hệ quả khác từ nền kinh tế, thì hệ quả và tiêu cực trong hệ thống ngân hàng là rõ ràng nhất và tốn kém nhất.

Trong bối cảnh Việt Nam và nền kinh tế này, qua nhiều giai đoạn, tôi đã có những khoảng lùi, có đủ những độ chín, đủ thẩm thấu để nhìn lại và nhất là nhìn về phía trước trong lĩnh vực của mình rõ ràng hơn.

Tôi nghĩ và tin thế cờ, thế trận đang thay đổi. Sự việc trong ba tháng vừa bắt liên tục một số chủ tịch ngân hàng có lẽ là một ngã rẽ của Chính phủ và Nhà nước, và như vậy buộc các nghiệp chủ ngân hàng sẽ phải thay đổi thế trận. Có thể đó là một suy nghĩ lãng mạn chăng?

Nhất thiết phải có một thế hệ chuyên viên chuyên gia gia mới, nghiêm túc hơn về tài chính ngân hàng, có tay nghề hơn, thiết thực hơn nhưng cũng đàng hoàng hơn. Thế hệ nghiệp chủ quản trị, quản lý và điều hành ngân hàng thời mở cửa đã và sẽ qua rồi. Phải có một thế hệ kế thừa khác từ nay cho đến 2020.
Nếu không thì lĩnh vực tài chính ngân hàng vẫn sẽ bị nghẽn trong vòng luẩn quẩn hiện nay và sẽ khó tránh khỏi cái vòng xoáy khốn khổ một lần nữa.

Nếu thế cờ thay đổi trong cục diện ngân hàng và thị trường vốn, sẽ giúp cho dòng chảy nguồn vốn được khai thông và nền kinh tế có nhiều cơ may vượt lên.

Nhìn về phía doanh nghiệp, khiếm khuyết nào ông thấy rõ nhất trong điều hành dòng vốn?

Vẫn còn sự nhầm lẫn rất lớn và đáng tiếc giữa tiền với vốn. Tiền là tiền, vốn là vốn, đừng nhầm lẫn giữa cần vốn để kinh doanh đầu tư với cần tiền để tiêu xài.

Sự đan xen giữa tiền và vốn cũng đã gây ra những lệch lạc trong giới kinh doanh mới. Có tiền đi ăn cơm tấm hoặc ăn phở khác với có vốn để đầu tư – đơn giản vậy thôi, thế mà ngay trong ngân sách quốc gia vẩn còn lờ mờ giữa tiêu xài và đầu tư. Vốn là được đưa ra làm ăn để sinh sôi nảy nở, khác với tiền chỉ ở trong trong túi hoặc dưới chăn nệm.

Có lẽ một phần của sự nhầm lẫn lẩm cẩm giữa Vốn và Tiền này đã khiến biết bao nhiêu doanh nghiệp và người kinh doanh cá nhân bị rơi vào những vòng xoáy đất đai bất động sản và từ những vui chủ trở thành những khổ chủ.

Quản lý tài chính là lổ hổng trầm trọng nhất của các doanh nghiệp tư nhân – điều này sẽ còn kéo dài.

Theo ông, người làm kinh doanh tiền tệ nên làm thế nào để chế ngự lòng tham và sự sợ hãi?

Ai cũng có lòng tham và ích kỉ – tôi nhấn mạnh là lòng tham và ích kỉ tự nhiên, nhưng một khi cái tự nhiên bị vỡ, là có vấn đề. Ngoài nhận thức được vị trí của mình trong xã hội, tôi còn có đức tin, có sự nhắc nhở hàng ngày của lương tri và lương tâm.

Bên cạnh đó, môi trường gia đình, nhãn quan của người có tí học hành, biết hệ quả mình tạo ra cho xã hội, cho gia đình, bản thân. Cuối cùng phải có và tìm một nền tảng đạo đức luân lý như một công tắc rất nhạy để báo động.

Đi đến nhà thờ, đọc kinh thánh, la cà với những người hiền xung quanh cũng giúp mình bớt đi và tránh những cái “dữ”, ngay cả những cái “dữ rất dễ thương”.

Tôi mê hai chữ “đàng hoàng”

Ông đã từng tham gia để xây dựng một ngân hàng, nhưng cũng thất bại?

Đúng vậy. Sau khi thị trường chứng khoán bắt đầu hoạt động và tôi rút lui công việc trọn thời gian với ngân hàng Deutsche, tôi mong muốn tham gia tạo một môi trường làm việc đàng hoàng trong một định chế tài chính đàng hoàng.

Một khởi đầu với những cái bắt tay và cam kết mà tôi nghĩ là đàng hoàng nhưng rồi chỉ một thời gian rất ngắn sự đàng hoàng cũng bị bỏ đi… Ngân hàng đó vẫn còn đó và đâu đó cũng là một ngân hàng chưa chịu đàng hoàng – đó cũng là nỗi sầu rất riêng của tôi. Cái mong muốn đàng hoàng tối thiểu đó cũng không làm được.

Khi mình phải có một lời khuyên cho ai đó hoặc khách hàng của mình, để mở lời khuyên họ phải có con số và kế hoạch đàng hoàng, đó là lúc khó nhất, bởi cái mình nói thực đó thì lắm lúc người ta cho mình không hiểu tình hình, không hiểu họ, đó là một tấn bi hài kịch.

Người ta không muốn uống thuốc đắng của sự thật. Một người đồng nghiệp của tôi đã lâm vào lao lý cũng chỉ vì không uống thuốc đắng sự thật đó. Một khi xã hội, đa số, không còn tin vào sự đàng hoàng tối thiểu thì những hành động hành vi đàng hoàng sẽ phải xếp lại?  Không, không thể như vậy.

…còn dự án “khu vườn tình yêu”?

Cũng bị mất, nói là thất bại cũng được. Tôi tự trách mình trước, vì cứ cố bám theo quan niệm sống đàng hoàng nên thất bại thôi. Nhưng tôi không chịu bỏ đàng hoàng.

Tôi và vài người bạn vẫn còn tin vào sự đàng hoàng vừa thành lập công ty mang tên “Đàng Hoàng”. Các bạn tôi sẽ bóc tách và kinh doanh những gì đàng hoàng. Khi chữ đàng hoàng đang được nhắc đến thường xuyên hơn, chứng tỏ xã hội ấy đang thèm khát đàng hoàng.

Tôi mê hai chữ “đàng hoàng” đó trong khung cảnh xã hội hiện nay.

Suy tư của ông với đất nước, với ngân hàng bây giờ là gì?

Trong bức tranh lớn, có những điểm mà đồng nghiệp và bạn bè sẽ không đồng ý, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng: hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam mặc dù đã có những nỗ lực riêng rẽ của những cá nhân, vài ngân hàng, thì về trình độ chuyên nghiệp, về kiến thức chung của ngành, mình vẫn ở ngang mức trung bình.

Còn về đất nước thì quá lớn và quá rộng cho vai trò và vị trí của tôi, hơn nữa tôi chưa từng mộng mơ lang thang về chính trị và chính khách.

Trong lĩnh vực kinh tế, tôi rất quan tâm đến những đội ngũ chuyên gia tham mưu cho Chính phủ và Nhà nước hiện nay, vì chính họ và nơi chốn mà họ đang có vai trò sẽ là một nửa và thậm chí còn hơn một nửa sức nặng góp phần vào những quyết sách thường khi mang tính sống còn, thúc đẩy hoặc ngăn trở sự phát triển của nền kinh tế và đời sống xã hội. Dường như đâu đó vẫn còn những vẩn đục, mù mờ.
Quay lại 5 – 6 năm vừa qua, nhiều tích sản dành dụm của đất nước, của người dân đã bị hao mòn bởi những “sáng nói thế này, trưa nói thế kia và chiều nói thế nọ”, đó cũng là một nỗi âu sầu của riêng tôi. Sau bao năm vẫn loay hoay, vẫn nghèo nhiều thứ… Đâu đó vẫn cứ quay quắt với những nỗi buồn chung và riêng về đất nước.

Bằng cách nào để ông có thể thoát khỏi nhưng ưu tư triền miên ấy, tìm cho mình một chút bình an?

Nhờ đức tin. Tôi có một nơi để trở về. Có một bài biệt thánh ca mà tôi rất ưa thích thời còn sinh viên và hay ngân nga: Sự bình an mà trần gian chẳng thể ban, Sự bình an mà trần gian không thể hiểu được nào, Bình an ấy Chúa ban cho người tin. Đức tin giúp tôi giữ vững cho mình cái nền tảng luân lý và đạo đức chung của xã hội.

Còn có nơi chốn khác là ngôi nhà ở Mỹ. Những lúc mệt mỏi mình về lại bên ngôi nhà kia, tìm lại sự trật tự, hít hơi thở một chút trật tự… Nhưng nỗi khắc khoải ấy thì vẫn âm ỉ trong lòng, bởi mình có ý thức, tri thức. Tự mình làm khổ mình thôi chứ có ai lôi kéo mình đâu.

Với các con, điều gì ông muốn truyền lại?

Sống sao cho đàng hoàng, trong mọi hoàn cảnh.

 

Việt Nam phản đối Trung Quốc phá vỡ nguyên trạng quần đảo Trường Sa – VOA

9 Th11

 

 
Trung Quốc vẫn tiến hành các hoạt động lấp biển lấy đất tại những đảo nhỏ mà Bắc Kinh chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa, nơi Bắc Kinh có tranh chấp chủ quyền với Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan.

Trung Quốc vẫn tiến hành các hoạt động lấp biển lấy đất tại những đảo nhỏ mà Bắc Kinh chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa, nơi Bắc Kinh có tranh chấp chủ quyền với Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei và Đài Loan.

 

Việt Nam vừa lên tiếng phản đối các hoạt động xây dựng của Trung Quốc tại bãi đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa mà Hà Nội gọi là ‘bất hợp pháp.’

Trang web của Bộ Ngoại giao nói Việt Nam ngày 6/11 đã gửi công hàm phản đối tới đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội.

Phản ứng của Việt Nam được đưa ra sau khi trang mạng Guancha.cn của Trung Quốc hồi tháng trước dẫn các nguồn tin và hình ảnh chụp từ vệ tinh trong khoảng thời gian từ cuối tháng 9 đến giữa tháng 10 nói rằng Bắc Kinh nâng cấp bãi đá này thành một hòn đảo lớn hơn cả Ba Bình vốn là hòn đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa.
 
Hình ảnh trên trang DigitalGlobe cho thấy Trung Quốc tới nay đã nới rộng bãi Chữ Thập gấp trên 11 lần từ 0,08 km vuông lên thành gần 1 cây số vuông. Bãi này hiện cũng lớn thứ năm trong số các đảo ở Biển Đông, sau đảo Phú Lâm, Đông Sa, Linh Côn, và Tri Tôn.

Phát ngôn nhân Lê Hải Bình của Bộ Ngoại giao Việt Nam ngày 6/11 nhấn mạnh hành động của Trung Quốc ‘đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, vi phạm luật pháp quốc tế, đi ngược lại Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) cũng như Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc; làm phá vỡ nguyên trạng, gây căng thẳng, phức tạp tình hình, không có lợi cho hòa bình và ổn định trong khu vực.’

Vẫn theo lời ông Bình, ‘Việt Nam kiên quyết phản đối hành động phi pháp nêu trên của Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, nghiêm túc thực hiện DOC, chấm dứt ngay việc cải tạo, xây dựng công trình, phá vỡ nguyên trạng tại quần đảo Trưởng Sa và không để tái diễn những hành động sai trái tương tự.’

Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh ‘có đầy đủ căn cứ pháp lý và chứng cứ lịch sử khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.’

Tin cho hay bề mặt của Đá Chữ Thập có thể tiếp tục được Trung Quốc mở rộng lên gấp đôi diện tích hiện nay lên thành 2 cây số vuông, tức lớn hơn đảo Ba Bình gấp 4 lần.

Bắc Kinh có phần chắc cũng sẽ tăng cường sự hiện diện quân sự và chính trị của họ ở đây và sẽ biến nơi này thành trung tâm quản lý hành chính cũng như thành lập một tư lệnh cho quân lực ở Biển Đông.

Bãi Chữ Thập bị Trung Quốc chiếm từ năm 1988 hiện do thành phố Tam Sa, tỉnh Hải Nam, quản lý hành chính. Trung Quốc cũng xây dựng một sân bay lên thẳng, một bến tàu, một tòa nhà 2 tầng, và một nhà kính có diện tích 500 mét vuông tại đây.

Hiện có khoảng 200 binh sĩ Trung Quốc trú đóng trên bãi đá này. Đã có đề nghị xây đảo nhân tạo để mở rộng Đá Chữ Thập hầu xây cất đường băng và hải cảng.

Bãi Chữ Thập hiện do Trung Quốc kiểm soát. Bãi này cách Trung Quốc 740 hải lý về hướng Nam nhưng gần bờ biển Việt Nam hơn.

Đá Chữ Thập được xem là có tầm quan trọng chiến lược đối với Trung Quốc vì trong vòng bán kính 70 cây số không có căn cứ nào do nước ngoài kiểm soát. Bãi này cách trung tâm chỉ huy của Việt Nam ở Trường Sa chừng 110 cây số và cách trung tâm tư lệnh của Philippines khoảng 225km.

Giới phân tích cho rằng công trình khai hoang, xây dựng ở bãi Chữ Thập dự kiến có thể dẫn tới một tiền đồn trọng yếu cho các hoạt động quân sự và thương mại dân sự của Trung Quốc trong các vùng có tranh chấp ở Biển Đông.

Kể từ cuối năm ngoái, quân đội Trung Quốc đã tiến hành hoạt động xây dựng và cải tạo địa hình tại nhiều bãi đá và đảo nhỏ ở Trường Sa, kể cả bãi Chữ Thập.
Trung Quốc tuyên bố có quyền tiến hành bất kỳ hoạt động xây dựng nào trong phạm vi ‘lãnh thổ của mình’ và các nước không được phép bình luận.

Hiện trên quần đảo Trường Sa có 4 đường băng do Việt Nam, Malaysia, Philippines và Đài Loan quản lý.

Truyền thông Đài Loan gần đây dẫn lời giới chuyên gia tố cáo các hoạt động xây dựng, cải tạo địa hình do Việt Nam thực hiện ở quần đảo Trường Sa còn hơn cả Trung Quốc.  

Phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng chiều ngày 6/11 nói ‘Việt Nam có đầy đủ bằng chứng pháp lý và chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền ở Trường Sa và Hoàng Sa. Mọi hoạt động của Việt Nam tại hai quần đảo này đều phù hợp với chủ quyền hợp pháp của Việt Nam, Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông’.
 

 
 

GS Carl Thayer: Việt Nam khéo dùng quan hệ đa phương – RFI

30 Th10

 

mediaÔng Dương Khiết Trì đến Hà Nội để dự phiên họp của Ủy ban chỉ đạo về hợp tác song phương Việt–Trung – Reuters
 

Nhân chuyến đi của thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đến Ấn Độ, cũng như chuyến đi của Ủy viên Quốc vụ của Trung Quốc Dương Khiết Trì đến Việt Nam, giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam thuộc Học vìện Quốc phòng Úc, đã có một bài viết đăng trên trang mạng The Dipomat ngày 28/10/2014. Bài viết có tựa đề : « Làm thế nào Việt Nam ve vãn cùng lúc Ấn Độ và Trung Quốc ».

Theo giáo sư Carl Thayer, « Việt Nam vẫn khéo dùng các mối quan hệ đa phương với các cường quốc để tránh bị áp lực từ bất cứ cường quốc nào. Sự khéo léo cân đối các quan hệ đa phương sẽ được trắc nghiệm trong tuần này qua hai sự kiện riêng lẻ, nhưng có liên hệ với nhau. » 

Về chuyến đi của ông Dương Khiết Trì đến Hà Nội trong hai ngày 27/10 và 28/10 để dự phiên họp lần thứ 7 của Ủy ban chỉ đạo về hợp tác song phương Việt Nam–Trung Quốc, tác giả bài viết nhắc lại rằng ông Dương Khiết Trì đã đến Hà Nội trong tháng 6 vừa qua, chính thức là để dự cuộc họp giữa các lãnh đạo Ủy ban chỉ đạo. Cuộc họp lúc đó chỉ bàn về khủng hoảng do vụ Trung Quốc đặt giàn khoan trên Biển Đông. Hai bên đã công khai chỉ trích lẫn nhau trên vấn đề chủ quyền Biển Đông. 

Giáo sư Carl Thayer lưu ý rằng việc triệu tập giữa các lãnh đạo Việt Trung trong khuôn khổ Ủy ban chỉ đạo này là chưa từng có, và việc triệu tập hai cuộc họp của Ủy ban chỉ đạo trong một khoảng thời gian ngắn như thế cũng là chuyện chưa từng có. 

Theo tác giả bài viết, việc ông Dương Khiết Trì chỉ trong vòng 4 tháng hai lần đồng chủ trì Ủy ban chỉ đạo cho thấy là giới lãnh đạo Bắc Kinh muốn tái lập quan hệ tốt với Việt Nam sau khủng hoảng giàn khoan. Giáo sư Thayer cho biết là trong cuộc họp của Ủy ban chỉ đạo, ông Dương Khiết Trì và bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam cũng sẽ bàn về thể thức tổ chức cuộc gặp giữa lãnh đạo hai nước bên lề cuộc họp thượng đỉnh Diễn đàn APEC vào tháng tới tại Bắc Kinh. 

Trong khi ông Dương Khiết Trì đang ở Việt Nam thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mở chuyến viếng thăm Ấn Độ từ ngày 27/10 đến 29/10. Giáo sư Thayer nhắc lại rằng Ấn Độ đã là nước thứ ba trở thành đối tác chiến lược của Việt Nam vào năm 2007, sau Nga ( 2001 ) và Nhật Bản ( 2006 ), nhưng trước Trung Quốc ( 2008 ). Cả New Dehli và Hà Nội có chung quan ngại về an ninh trước thế lực quân sự ngày càng mạnh của Trung Quốc. 

Cũng theo tác giả bài viết, Trung Quốc và Việt Nam đều có lợi ích như nhau trong việc giữ cho mối quan hệ song phương được hòa bình. Mối quan hệ đối tác mở rộng với Nhật Bản và Ấn Độ càng buộc Bắc Kinh phải tranh đua giành ảnh hưởng lên Hà Nội. 

Giáo sư Thayer kết luận : « Chính sách đa phương hóa quan hệ đối ngoại đòi hỏi một đường lối ngoại giao khéo léo, biết đáp ứng quyền lợi của từng đối tác chiến lược. Mỗi đối tác chiến lược phải thấy rằng quan hệ tốt với Việt Nam có lợi hơn là quan hệ xấu hoặc đối đầu với Việt Nam ».

 

Tù chính trị Việt Nam: Ở tù hay lưu vong? – BS

23 Th10

 

 

Posted by adminbasam on 22/10/2014

BBC

Bùi Văn Phú

22-10-2014

H1Ông Nguyễn Văn Hải, tức nhà báo Điếu Cày, vừa được đưa thẳng từ nhà tù ở Việt Nam sang Hoa Kỳ. Không có thân nhân đi cùng và gia đình cũng không được thông báo cho đến khi ông đã ra khỏi quê hương.

Sự kiện ông được thả là kết quả của những vận động từ cộng đồng người Việt hải ngoại, đặc biệt là tại Hoa Kỳ, và các tổ chức nhân quyền quốc tế với chính phủ Mỹ nhằm đem lại ảnh hưởng tích cực trong khi hai nước đang có những bước tiến để nâng quan hệ lên tầm mức cao hơn.

Trường hợp ông Hải bị án tù 12 năm với tội danh “Tuyên truyền chống nhà nước” đã được chính giới Mỹ quan tâm từ nhiều năm qua. Tổng thống Barack Obama phát biểu trong ngày Tự do Báo chí Thế giới 2012 đã nhắc đến Điếu Cày như một thí dụ về sự thiếu tự do báo chí ở nhiều nơi trên thế giới.

Ông Hải cũng đã được Hội Bảo vệ Ký giả (Committee to Protect Journalists) và Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) trao giải tự do báo chí.

‘Khích lệ’

Trước những yêu cầu của Washington, Hà Nội thả Điếu Cày, như một tín hiệu tích cực để đáp lại việc Hoa Kỳ nới lỏng chính sách cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, để dễ dàng hơn cho Hà Nội trong việc thương thảo gia nhập TPP và xa hơn là để tạo cơ hội thuận tiện cho Tổng thống Barack Obama ghé thăm Việt Nam trước khi hết nhiệm kỳ.

Việc Việt Nam thả tù nhân lương tâm là điều khích lệ cho những ai đang dấn thân tranh đấu cho quê hương vì họ biết rằng thế giới không quên những khao khát tự do, dân chủ của dân Việt.

Nhưng để có nhân quyền, tự do dân chủ thì con đường vẫn còn dài và gian nan.

Từ bao năm qua, trước công luận và những yêu cầu của thế giới, Hà Nội luôn nói rằng họ không giam tù chính trị, mà chỉ bỏ tù những ai phạm luật.

H1Những tù nhân chính trị ở Việt Nam, các tổ chức bảo vệ nhân quyền gọi là “tù nhân lương tâm”, đã vi phạm những điều luật nào?

Tòa án tại quốc gia này thường dùng các điều 79, 88 và 258 để kết án những ai phát biểu quan điểm bất đồng với nhà nước. Họ bị kêu án với tội danh tuyên truyền chống phá nhà nước, âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân hay lợi dụng tự do dân chủ để phá hoại tình đoàn kết dân tộc.

Thực tế họ đã làm gì phạm luật? Điếu Cày xuống đường biểu tình chống Trung Quốc, thành lập Câu lạc bộ Nhà báo Tự do. Basam Nguyễn Hữu Vinh làm blog tổng hợp tin tức. Tạ Phong Tần, Phan Thanh Nghiên, Việt Khang, Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, Bùi Thị Minh Hằng phản đối Trung Quốc hung hăng trên biển.

Trần Khải Thanh Thủy, Lê Quốc Quân bênh vực dân oan, nêu lên những tệ nạn xã hội. Những chức sắc tôn giáo Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Công Chính đòi tự do tôn giáo.

Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Phạm Hồng Sơn, Lê Thị Công Nhân, Trần Huỳnh Duy Thức lên tiếng kêu gọi cải cách chính trị. Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương cổ vũ thành lập công đoàn độc lập.

Nhờ can thiệp của quốc tế nhiều người đã được thả. Riêng Tạ Phong Tần, Bùi Minh Hằng, Lê Quốc Quân, Nguyễn Văn Lý vẫn còn bị giam giữ.

‘Còn vài chục tù nhân lương tâm’

Theo các tổ chức nhân quyền hiện còn vài chục tù nhân lương tâm ở Việt Nam.

Đối với người trong nước Hà Nội sẵn sàng bỏ tù, sách nhiễu, cấm cản di chuyển. Với người Việt hải ngoại, Hà Nội phản bác lại việc tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do dân chủ bằng cách nối kết những hoạt động này với biểu tượng cờ vàng.

Truyền thông trong nước cũng thường đưa ra lập luận rằng người hải ngoại tranh đấu chỉ vì muốn khôi phục lại chế độ Việt Nam Cộng hòa đã chết từ lâu.

Trong thập niên 1980 và đầu 90 những người lên tiếng cho tự do, nhân quyền tại Việt Nam là nhiều người đã có những gắn bó với sinh hoạt tại miền Nam trong hai mươi năm, như Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Văn Huy, Chân Tín, Đoàn Thanh Liêm, Nguyễn Đan Quế.

Sau có những tiếng nói từ miền Bắc của Trần Xuân Bách, Phan Đình Diệu, Trần Độ, Dương Thu Hương; hay từ những người miền Nam từng theo cộng sản như Nguyễn Hộ, Hà Sĩ Phu, Bảo Cự, Tạ Bá Tòng, Lữ Phương.

Khoảng mười năm trở lại đây, nhiều bạn trẻ từ mọi miền đất nước đã dấn thân tranh đấu: Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm), Huỳnh Thục Vy, Đinh Nguyên Kha, Phan Thanh Nghiên, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương.

Họ không có liên hệ đến quá khứ chiến tranh mà lớn lên trong một đất nước thống nhất. Sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, dù thông tin bưng bít, dù bị tuyên truyền, nhưng họ đã nhìn ra những sai lầm trong chính sách, những bức xúc trong xã hội và có những trăn trở về sự độc lập, vẹn toàn lãnh thổ.

Họ nhận ra rằng quyền căn bản của dân ghi trong Hiến pháp đang bị chà đạp. Họ nhìn thấy nguy cơ đất nước bị Trung Quốc xâm chiếm ngày một lớn. Họ đã lên tiếng. Họ muốn bày tỏ lòng yêu nước.

Và nhiều người đã phải vào tù. Nếu chưa bị bắt thì bị quấy nhiễu trong công việc, gia đình bị bao vây nhiều phía, từ đi lại đến đời sống kinh tế. Nhiều người khác bị buộc phải sống lưu vong.

Trong thập niên 1990, những người tù như Đoàn Viết Hoạt, Đoàn Thanh Liêm bị trục xuất khỏi Việt Nam trong khi đang thi hành bản án do nhà nước áp đặp lên.

Mấy tháng trước Cù Huy Hà Vũ đã bị trục xuất sang Hoa Kỳ. Hôm qua, Hà Nội lại đưa Điếu Cày Nguyễn Văn Hải thẳng từ nhà tù ra sân bay để đi Mỹ.

Xã hội Việt Nam ngày nay có tiến bộ và cởi mở hơn so với những năm ngay sau chiến tranh, nhưng cách đối xử của chính quyền cộng sản Việt Nam với những người bất đồng chính kiến, với tù nhân lương tâm vẫn không thay đổi.

Điều 4 Hiến Pháp Việt Nam nay không phù hợp xu thế thời đại. Các điều 79, 88, 258 luật hình sự là phản tiến bộ.

Qua các vụ xử tù nhân lương tâm, những ép buộc người bất đồng chính kiến phải lựa chọn ở tù hay lưu vong, như sự kiện Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, lãnh đạo Hà Nội khó có được một cái nhìn thiện cảm của thế giới.

Bài viết phản ánh quan điểm và cách hành văn của tác giả là một nhà báo tự do hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, California.

 

Phó Thủ tướng Việt Nam kêu gọi tăng cường quan hệ với Mỹ – RFA

3 Th10

 

Việt Hà, phóng viên RFA
2014-10-02
 

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

 

In trang này

10409233_10152750271494571_7314019466896549538_305.jpg

Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh tại buổi hội thảo về hiện tình quan hệ Việt – Mỹ do Trung Tâm Nguyên Cứu Quốc Tế và Chiến Lược của Hoa Kỳ tổ chức ở thủ đô Washington DC chiều thứ Tư 01/10/2014.

RFA

 

 

Nhân chuyến thăm Hoa Kỳ và họp bàn với Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, ông Phạm Bình Minh đã có một bài phát biểu về ngoại giao Việt Nam và quan hệ Việt Mỹ hướng tới kỷ niệm 20 năm quan hệ hai nước tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu quốc tế ở Washington DC.

Vì hòa bình và ổn định

Trong bài phát biểu khoảng 10 phút tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế (CSIS) ở Washington DC vào chiều ngày 1 tháng 10, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh ca ngợi những bước tiến đã đạt được trong quan hệ Việt Mỹ suốt 20 năm qua và nhìn nhận còn nhiều tiềm năng để cho mối quan hệ này tiếp tục phát triển vì hòa bình và ổn định của khu vực châu Á Thái Bình Dương:

“Có rất nhiều triển vọng cho hai nước để làm việc cùng nhau vì lợi ích của người dân hai nước và vì hòa bình, thịnh vượng của khu vực châu Á Thái Bình Dương. Đó là lý do vì sao hơn một năm trước, Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống Obama tuyên bố quan hệ hai nước là đối tác toàn diện để cung cấp một khuôn khổ rộng cho hợp tác song phương trên nhiều lĩnh vực để nắm bắt được những tiềm năng đó… khi chúng ta nhìn vào lễ kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ hai Việt Mỹ, cả hai nước đều tự hào vì những tiến bộ mỗi nước đạt được và những thách thức mà hai nước đã vượt qua.”

Có rất nhiều triển vọng cho hai nước để làm việc cùng nhau vì lợi ích của người dân hai nước và vì hòa bình, thịnh vượng của khu vực châu Á Thái Bình Dương.
-Phó TT Phạm Bình Minh

Ông Phạm Bình Minh điểm lại tóm tắt những thành tựu mà hai nước đã đạt được trong suốt 20 năm qua kể từ khi bình thường hóa quan hệ. Theo Bộ trưởng Phạm Bình Minh, 20 năm sau bình thường hóa quan hệ, thương mại hai chiều đã tăng hơn 130 lần so với thời gian đầu đạt 30 tỷ đô la vào năm 2013, và hai nước cũng đang tích cực đàm phán hiệp định đối tác xuyên Thái Bình dương TPP góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế tại Việt Nam. Về mặt quan hệ giữa nhân dân hai nước, kể từ khi bình thường hóa quan hệ đến nay, Việt Nam hiện đã trở thành nước đứng đầu khối ASEAN trong việc gửi sinh viên sang du học tại Mỹ. Con số sinh viên Việt Nam du học tại Mỹ là hơn 16.000 sinh viên. Bên cạnh đó hai nước cũng tiến hành một loạt các đối thoại cấp cao trong các lĩnh vực chính trị, quốc phòng, lao động và nhân quyền. Quan hệ hợp tác hai nước đã được mở rộng sang nhiều lĩnh vực như môi trường, thay đổi khí hậu, nhân đạo, cứu trợ thảm họa và việc Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc.

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam cũng ca ngợi thỏa thuận hạt nhân dân sự 123 được ký kết giữa Mỹ và Việt Nam vừa được quốc hội Mỹ phê chuẩn.

Bên cạnh những tiến bộ đã đạt được, người đại diện chính phủ Việt Nam cũng nhìn nhận những vấn đề còn lại trong quan hệ hai nước, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến cuộc chiến Việt Nam như chất độc da cam, và người Mỹ mất tích.

Thắt chặt quan hệ hơn nữa

20141001_144720.jpg
Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh tại buổi hội thảo về hiện tình quan hệ Việt – Mỹ do Trung Tâm Nguyên Cứu Quốc Tế và Chiến Lược của Hoa Kỳ tổ chức ở thủ đô Washington DC chiều thứ Tư 01/10/2014.

Nói về những khuyến nghị với chính phủ hai nước để tìm cách thắt chặt hơn nữa quan hệ Việt Mỹ, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đánh giá cao những khuyến nghị được đưa ra trong báo cáo của CSIS vể quan hệ Việt Mỹ có tựa tạm dịch là một Kỷ nguyên mới trong quan hệ Việt Mỹ, trong đó có một số khuyến nghị mà theo ông Phạm Bình Minh là đã để chờ đợi quá lâu. Đại ý các khuyến nghị được đưa ra trong báo cáo bao gồm việc sắp xếp chuyến thăm của Tổng thống Barack Obama đến Việt Nam vào năm 2015 nhân kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ, thúc đẩy các chuyến thăm và làm việc giữa các đoàn đại biểu quốc hội hai nước, tiến hành các đối thoại giữa chính phủ Mỹ và Bộ Công an Việt Nam về các vấn đề quyền con người, kết thúc các đàm phán TPP, nới lỏng lệnh cấm bán vũ khí sát thương dành cho Việt Nam…

Cuối bài phát biểu của mình, Bộ trưởng Phạm Bình Minh cũng đưa ra những đề nghị chung trong quan hệ hai nước:

Cả hai nước cần tăng gấp đôi nỗ lực của mình để làm sâu hơn quan hệ hai nước và làm việc trong khuôn khổ của ASEAN và các đối tác khác để đảm bảo hòa bình, ổn định và thịnh vượng trong khu vực và hơn thế.
-Phó TT Phạm Bình Minh

“Cả hai nước cần tăng gấp đôi nỗ lực của mình để làm sâu hơn quan hệ hai nước và làm việc trong khuôn khổ của ASEAN và các đối tác khác để đảm bảo hòa bình, ổn định và thịnh vượng trong khu vực và hơn thế. Hai nước nên làm việc tích cực hơn nữa với các nước khác để hoàn tất TPP. Với việc ASEAN xây dựng cộng đồng chung đến năm 2015, Việt Nam sẽ gia tăng nỗ lực để thắt chặt hơn quan hệ đối tác giữa ASEAN và Mỹ. Hòa bình, thịnh vượng và an ninh ở khu vực châu Á Thái Bình Dương đòi hỏi một Việt Nam mạnh hơn trong một ASEAN đoàn kết và sự tham gia của các nước có liên quan trên toàn thế giới, đặc biệt là Hoa Kỳ. Chúng ta không thể thay đổi lịch sử nhưng có thể làm thay đổi tương lai bằng cách làm việc cùng nhau.”

Trong phần trả lời các câu hỏi, Bộ trưởng Phạm Bình Minh cũng nói đến mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Theo ông, quan hệ giữa hai nước không có ảnh hưởng đến việc phát triển quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Mỹ:

“Chính sách ngoại giao của chúng tôi là đa dạng, đa phương, có nghĩa là chúng tôi phát triển quan hệ với tất cả các nước. Chúng tôi có quan hệ với các cường quốc. Với Trung Quốc, chung tôi có quan hệ đối tác chiến lược, với Mỹ, chúng tôi có quan hệ đối tác toàn diện. Phát triển quan hệ với một nước này không làm ảnh hưởng đến quan hệ của chúng tôi với các nước khác. Khi chúng tôi phát triển quan hệ với nước này thì điều đó không phụ thuộc vào quan hệ của chúng tôi với nước khác.”

Liên quan đến câu hỏi về việc dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, Bộ trưởng Phạm Bình Minh nói ông chào đón bất cứ những quyết định nào liên quan đến vấn đề này và mong muốn quan hệ hai nước sẽ còn bình thường hơn. Đây cũng là điều mà ông đã nói đến trong buổi nói chuyện tại Hiệp hội châu Á ở New York hôm 24 tháng 9. Tại đó, Bộ trưởng Phạm Bình Minh nói rằng lệnh cấm bán vũ khí sát thương là điều bất bình thường duy nhất trong quan hệ giữa hai nước.

 

Vatican – Việt Nam hướng tới thiết lập bang giao – RFI

30 Th9

 

Thanh Phương

 Vatican - Việt Nam hướng tới thiết lập bang giao
 

Đại diện không thường trú của Vatican Leopoldo Girelli tham gia cử hành thánh lễ tại Hưng Hóa, Sơn Tây ngày 25/11/ 2011.Reuters

Sau cuộc họp vòng 5 của Nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam-Tòa Thánh trong hai ngày 10 và 11/09/2014, Phòng báo chí Tòa Thánh đã công bố bản thông cáo chung, nhắc lại là Vatican vẫn nỗ lực tiến tới mục tiêu thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam và cùng với Giáo hội Công giáo Việt Nam, Tòa Thánh muốn “góp phần tích cực hơn nữa” vào việc phát triển trong các lĩnh vực mà Giáo hội Công giáo có những điểm mạnh, như y tế, giáo dục, từ thiện và các hoạt động nhân đạo.

Trong thông cáo chung nói trên, Tòa Thánh cũng cho biết là Đức Giáo hoàng Phanxicô “quan tâm theo dõi” những tiến triển gần đây trong quan hệ giữa Vatican và Việt Nam. Bản thông cáo mô tả không khí của cuộc gặp gỡ vừa qua tại Hà Nội là “thẳng thắn, chân thành và tôn trọng lẫn nhau”. Hai bên cũng đồng ý sẽ tổ chức cuộc gặp gỡ thứ 6 của Nhóm Công tác Hỗn hợp Tòa Thánh – Việt Nam tại Vatican. Thời điểm sẽ được ấn định sau.

Bang giao Hà Nội-Vatican đã bị gián đoạn vào năm 1975 khi miền Bắc Cộng sản chiến thắng miền Nam. Nhưng từ đó cho đến nay, hàng chục phái đoàn Tòa Thánh đã viếng thăm Việt Nam và đến năm 2007, hai bên đã bắt đầu thảo luận về việc tái lập quan hệ ngoại giao và nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam-Vatican đã được thiết lập từ năm 2009. Từ đó cho đến nay, nhóm công tác này thường xuyên họp luân phiên ở Hà Nội và Vatican. Trước cuộc gặp gỡ tại Hà Nội vừa qua, phái đoàn hai bên đã gặp nhau vào tháng 6 năm nay tại Tòa Thánh.

Đúng là trong chiều hướng phát triển Giáo hội Công giáo ở lục địa Châu Á, ngoài Trung Quốc, Giáo hoàng Phanxicô rất chú trọng đến Việt Nam, nơi có một cộng đồng Công giáo khá đông đảo ( 7% dân số ) và rất nhiệt thành. Khi đi thăm Hàn Quốc vừa qua, Ngài đã đề nghị thiết lập một đối thoại “ trong tình huynh đệ” với Việt Nam, cũng như với Trung Quốc.

Bản thân Đức Giáo hoàng Phanxicô vào tháng 3 vừa qua đã có dịp tiếp chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Sinh Hùng tại Vatican. Đây là lần đầu tiên kể từ khi lên nhậm chức, Đức Giáo hoàng gặpmột lãnh đạo chế độ Hà Nội và đây cũng là lần đầu tiên một chủ tịch Quốc hội Việt Nam đến thăm Tòa Thánh. Trong cuộc gặp gỡ với ông Nguyễn Sinh Hùng, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã có dịp đề cập đến tình hình của người Công giáo ở Việt Nam.

Trước ông Nguyễn Sinh Hùng, các lãnh đạo khác của Việt Nam cũng đã từng đến thăm Vatican như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và0 năm 2007 và Tổng bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng vào đầu năm 2013. Quan hệ giữa Vatican và Việt Nam đã tiến một bước quan trọng vào tháng 03/2011, khi Đức Giáo hoàng Benedicto 16 bổ nhiệm Ðức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli làm Ðại diện Tòa Thánh không thường trú đầu tiên tại Việt Nam.

Kể từ khi được bổ nhiệm cho đến nay, Đức cha Girelli đã đi thăm rất nhiều giáo phận, giáo xứ, dòng tu ở Việt Nam, cũng như tham gia cử hành nhiều thánh lễ. Trong những lần đi thăm đầu tiên, đại diện không thường trú của Tòa thánh đã gặp ít nhiều khó khăn, cản trở, nhưng trong bản thông cáo chung sau cuộc gặp gỡ tại Hà Nội vừa qua, Tòa Thánh nay nhìn nhận rằng Nhà Nước Việt Nam “đã tạo điều kiện dễ dàng” cho các cuộc viếng thăm công tác của Đức Tổng giám mục Girelli.

Nhưng nếu như quan hệ giữa Tòa Thánh và Việt Nam có vẻ như đang trong chiều hướng cải thiện, thì quan hệ giữa Giáo hội Công giáo Việt Nam với chính quyền vẫn còn gặp nhiều trắc trở, nhất là với các chính quyền địa phương. Ví dụ gần đây nhất là việc tổ chức ngày lễ Hành hương Đức Mẹ Măng Đen ở Kon Tum giữa tháng 9 vừa qua. Theo tin của Truyền Thông Chúa Cứu Thế, Sở Nội Vụ tỉnh Kon Tum đã gây khó khăn cho việc tổ chức ngày lễ Hành hương này qua việc ra một công văn rất cận ngày, với nội dung mang tính lạm quyền, đặc biệt là không cho phép tòa Tổng giám mục Kon Tum dùng chữ “Hành hương” và không cho đặt hòm công đức để thu tiền quyên góp.

Nói chung, trong quan hệ với Nhà nước, Giáo hội Việt Nam tuy vẫn có tinh thần cộng tác, nhưng muốn có một chỗ đứng riêng, để có thể đóng góp một cách hiệu quả cho việc phát triển đất nước. Thế nhưng, hiện nay, Giáo hội vẫn chưa được tạo điều kiện tham gia vào những lĩnh vực như giáo dục hay y tế và chính vì vậy mà trong bản thông cáo chung sau cuộc gặp gỡ vừa qua với phái đoàn Việt Nam tại Hà Nội, phái đoàn Tòa Thánh đã nhắc lại mong muốn này của giáo hội Việt Nam.

Nhân dịp cuộc họp lần thứ 5 của nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam- Tòa Thánh, hôm nay chúng tôi xin mời quý vị nghe phần phỏng vấn với Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh, kiêm chủ tịch Hội đồng Công lý và Hòa bình.

Đức cha Nguyễn Thái Hợp 24/09/2014

 

 

Nhìn lại ‘Cải cách Ruộng Đất’ ở Việt Nam – BBC

29 Th9

 

 

  • 18 tháng 9 2014

Mặc dù cuộc cải cách ruộng đất do Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện 60 năm về trước đã trôi qua, nhưng nhiều người vẫn chưa thể ‘quên được’ ‘sự thật’ vẫn chưa được Đảng nói ra hết, cũng như Đảng phải nhìn nhận ‘tội lỗi’ của mình, theo một khách mời của tọa đàm trực tuyến về “Cải cách ruộng đất” do BBC thực hiện hôm 18/9/2014.

Từ Moscow, hôm thứ Năm, ông Nguyễn Minh Cần, nguyên Phó Chủ tịch phụ trách Nông nghiệp của Hà Nội, nguyên cán bộ sửa sai cải cách ruộng đất của Đảng ở ngoại thành Hà Nội, một nhà bất đồng chính kiến nhiều năm tị nạn chính trị ở Nga, cho rằng Đảng và chính quyền phải ‘sám hối’. Ông nói:

“Bây giờ cải cách ruộng đất đã qua rồi, chúng ta muốn quên đi, nhưng mà sự thực không quên được. Vì sao, bởi vì tôi đã rất đồng ý với nhà văn Trần Mạnh Hảo, là vì trước hết Nhà nước, Đảng cầm quyền phải nói sự thật, phải nhìn nhận tội lỗi của mình, phải sám hối, mới xóa bỏ được hận thù.

“Mới xóa bỏ được: thôi, ta coi vấn đề cải cách ruộng đất là qua rồi. Điều đó nhà nước chúng ta không làm, cuộc triển lãm vừa qua không làm. Đó là điều thứ nhất tôi xin khẳng định như thế.

“Điều thứ hai là bây giờ rất cần một sự thay đổi về ruộng đất. Không phải là chúng ta làm một cuộc cải cách về ruộng đất theo kiểu của Trung Quốc, theo kiểu 1953 trước nữa, mà là phải đấu tranh để xóa bỏ điều ở trong Hiến pháp là quốc hữu hóa ruộng đất của nông dân và đem ruộng đất trả lại cho nông dân.”

‘Quyết tìm sự thật’

Nhà văn Trần Mạnh Hảo, một nhân chứng mà gia đình là ‘nạn nhân’ của cuộc cải cách, như ông tự giới thiệu, nói với cuộc tọa đàm từ Sài Gòn:

“Tôi cho rằng lịch sử phải được thể hiện một cách trung thực, nếu tất cả lịch sử bị bóp méo, và bị dối trá hóa, bị tuyên truyền nhảm, tức là bịa ra lịch sử để sự tuyên truyền, thì chừng đó, sau này dù thời gian sau này chăng nữa, con cháu chúng ta họ vẫn quyết tâm đi tìm sự thật.

“Bởi vì sự thật, chỉ có sự thật mới giải phóng được con người. Chỉ có sự thật mới giúp chúng ta nhìn nhận chân lý, cái gì sai, cái gì đúng, còn cứ bịa chuyện, cứ bịp bợm nhân dân, thì mọi thứ sẽ không bao giờ tốt đẹp.”

“Tôi không muốn nói lại cuộc cải cách ruộng đất, bởi vì vết thương của gia đình tôi, bố mẹ tôi. Bố tôi bị bắt, mẹ tôi phải nuôi ba đứa con, tôi phải đi bắt rận thuê để lấy gạo nấu cháo cho mẹ ăn và các em ăn, tức là rất là thảm.

“Đẩy gia đình chúng tôi vào thảm kịch có thể chết đói cả ba bốn mẹ con. Và cuộc cải cách ruộng đất tôi đã nhìn thấy nông dân ở làng đến lấy ở nhà tôi từng cái đũa, cái bát, cái mâm, cái hòn gạch, phá nhà, phá cửa, cướp hết toàn bộ những tài sản của gia đình chúng tôi, mà một gia đình lao động, không bao giờ là địa chủ.

“Và những gia đình bị bắn ở trong làng tôi cũng không bao giờ là địa chủ. Họ đã bắn, đã giết oan hàng mấy, hàng chục vạn người, thế thì làm sao mà có thể nói là một cuộc cải cách tốt đẹp được.”

‘Không có cơ sở’

Từ Paris, nhà văn Vũ Thư Hiên, tác giả của cuốn hồi ký chính trị “Đêm giữa ban ngày” đặt vấn đề liệu vào thời điểm tiến hành cuộc cải cách, Đảng có tiến hành một cuộc điều tra ‘đàng hoàng không’.

Nhà văn đặt câu hỏi cho ông Nguyễn Minh Cần:

“Thắc mắc của tôi là vào giai đoạn đó, có một cuộc điều tra về cải cách ruộng đất đàng hoàng không, thành lập được mấy đoàn điều tra, đã đi những địa phương nào để điều tra cải cách ruộng đất, trưởng phó đoàn là ai và báo cáo về cải cách ruộng đất để chuẩn bị cho cải cách ruộng đất có hay không?”

Khách mời từ Moscow trả lời:

“Sự thực ở đây là không chỉ riêng Hà Nội, mà cả toàn quốc, tỷ lệ 5% mà Hồ Chủ Tịch đưa ra, rồi vân vân, thì không có dựa trên một cơ sở điều tra nào cả,” cựu Phó Chủ tịch Hà Nội phụ trách nông nghiệp nói.

“Hoàn toàn không có một điều tra nông thôn để mà quyết định vấn đề thành phần, ruộng đất, rồi vân vân, ở trong nông dân như thế nào cả, nông thôn ra làm sao cả. Đấy là một sự thật.”

‘Không thể sửa được’

Về vấn đề sửa sai, ông Nguyễn Minh Cần thuật lại những gì mà ông đã trải nghiệm, cựu thành viên ủy ban sửa sai của Đảng ở Hà Nội nói:

“Ngay bản thân tôi, tôi là người phụ trách sửa sai ở ngoại thành Hà Nội, thì ông Võ Nguyên Giáp thời bấy giờ, Ủy viên Bộ chính trị, phụ trách Hà Nội trong việc sửa sai, chúng tôi bàn với nhau có bao nhiêu việc không thể nào sửa được.

“Vợ, chồng, con cái của người ta bị bắn chết thì hỏi sửa sai thế nào? Chúng tôi có mấy người liên lạc trong thời kỳ bí mật ở ngoại thành Hà Nội, thì đội cải cách về, chẳng hiểu thế nào mà họ nghèo, quy là địa chủ, bắn chết. Chúng tôi làm thế nào mà giải quyết được?

“Rồi nhà cửa người ta chia ra rồi, bây giờ sửa sai, chúng tôi phải trả lại cho những người đó, nhưng mà trả lại thế nào được? Khi mà nông dân đã nhận được nhà cửa thì họ được tin là phải trả lại, thì họ lấy ngói, lấy gạch rồi phá hết tất cả của người ta.

“Mà khi vào chia đấy, thì bao nhiêu gia đình được một ngôi nhà, thì những cây cảnh, những cái chậu v.v…, thì mình phá hết, thì bảo là trả lại thế nào?”

Các khách mời trong cuộc thảo luận cũng nhìn lại hai luồng ý kiến chính trên các mạng xã hội Việt Nam nhân cuộc triên lãm Cải cách Ruộng đất ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tại Hà Nội khai mạc rồi bị đóng cửa vì ‘lý do kỹ thuật’ sau khi vừa khai trương đầu tháng 9/2014.

Các ý kiến cũng nhằm sáng tỏ bối cảnh chung, tác động của Trung Quốc, việc tiến hành, vai trò của Ban lãnh đạo Việt Nam khi đó như việc lập các đoàn cải cách.

Cố chủ tịch Hồ Chí Minh
Ông Hồ Chí Minh đã thừa nhận Đảng sai lầm và tuyên bố ‘sửa sai’ sau cải cách ruộng đất.

Cuộc thảo luận cũng nhìn vào ý nghĩa, tác động của Cải cách Ruộng Đất với nông thôn, nông dân Việt Nam tới ngày nay.

‘Bài học lịch sử’

Thảo luận còn nêu ý kiến cần có một cuộc cải cách về đất đai hiện nay ở Việt Nam để giải quyết vấn đề tham nhũng đất, khiếu kiện khá phổ biến về đất đai.

Có khách mời cũng cho hay từ kinh nghiệm của Liên Xô thì sau năm 1991 vẫn không hề có sự nhìn lại về các cuộc cải tạo tiêu diệt nông dân thời Stalin.

Nhưng riêng với Việt Nam, có ý kiến thảo luận nói cần khép lại quá khứ dù không được quên những vụ tàn sát thời Cải cách Ruộng Đất.

Về bài học rút ra và thái độ đối với quá khứ, lựa chọn ứng xử trong hiện tại, ông Nguyễn Quang Thạch, nhà vận động ‘sách cho nông thôn’ nói với BBC:

“Lịch sử là thứ đã qua rồi, chúng ta không được phép quên lịch sử, mà chúng ta phải đánh giá sòng phẳng về nó.

“Chúng ta không quên quá khứ sai lầm của lịch sử, nhưng cũng không căm hận nó nữa, mà nên hành động để tạo dựng cho tương lai tốt hơn thôi.

“Chứ nếu chúng ta, như kiểu vừa rồi, là chỉ đưa trưng bày ra, phô diễn cho người ta, chỉ nói cái tốt, không nói cái sai, khuyết, để rồi cùng nhau nhìn nhận, và không lặp lạih những sai lầm trong tương lai.

“Cho câu chuyện tôi nghĩ là người Việt mình, chính quyền đã đến lúc phải đánh giá lại sai lầm của mình, và sau đó công bố rõ ràng, và chúng ta điều chỉnh chính sách đất đai để không tạo ra sự xung đột giữa chính quyền và người dân. Để không tạo ra sự dồn tích, sự căm phẫn trong đời sống cộng đồng.”

‘Mong cải cách mới’

Cũng hôm thứ Năm, bà Lê Hiền Đức, nhà hoạt động chống tham nhũng và vận động cho nhân quyền, nói với tọa đàm từ Hà Nội:

“Tôi lại muốn cải cách ruộng đất bây giờ nữa, nhưng trên tinh thần của tôi bây giờ là gì: tổ chức cải cách ruộng đất không phải là đấu tố như ngày xưa, nâng thành phần từ phú nông lên địa chủ để giết chóc, đàn áp nhau.

“Nhưng cải cách ruộng đất bây giờ là gì: để người nông dân của tôi bây giờ sống bằng đồng ruộng thì nhiều bà con nông dân đã căng khẩu hiệu là ‘Nông dân coi đồng ruộng như máu xương của mình’.

“Nhưng bây giờ mất hết ruộng, mất hết vườn, mất hết rừng, thì hỏi rằng còn gì nữa, vì vậy theo suy nghĩ của tôi, tôi lại mong muốn có cuộc cải cách, nhưng cải cách bây giờ đừng lặp lại những sai lầm dã man, tàn ác, giết chóc như những năm trước đây.

“Mà cải cách bây giờ là gì: để cho những người nông dân đứng lên tố cáo những bọn tham nhũng. Bây giờ có những người nông dân không còn nhà, không còn một tấc đất để sống, trong khi những kẻ tham nhũng có bốn, năm, bảy cái biệt thự, có hàng trăm héc-ta rừng để bóc lột nhân dân…

“Vì vậy theo tôi, tôi lại muốn có một cuộc cải cách ruộng đất mới,” nhà vận động năm nay 83 tuổi nói với cuộc tọa đàm của BBC từ Hà Nội.

Tin liên quan

  • Cải cách ruộng đất ‘không nhạy cảm nữa’
    18 tháng 9 2014
  • Triển lãm về cải cách ruộng đất
    11 tháng 9 2014
  • Triển lãm mất điện là ‘không bình thường’
    12 tháng 9 2014
  • Bàn về triển lãm Cải cách ruộng đất
    9 tháng 9 2014
  • ‘Không đề cập hệ lụy cải cách ruộng đất’
    9 tháng 9 2014
  • Cải cách Ruộng ̣đất: văn bản và ý kiến
    10 tháng 9 2014

 

PTT Phạm Bình Minh: Việt Nam biết rõ Trung Quốc

27 Th9

 

Bài phát biểu của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh tại Hội châu Á (Asia Society) ở New York chiều 24/9 nhận được sự quan tâm của cử tọa gồm nhiều nhân vật nổi bật trong giới học giả Mỹ.

Nhiều câu hỏi thẳng được ông Tom Nagorski, Phó Chủ tịch điều hành Hội châu Á; GS. Jerome A. Cohen, Viện luật pháp Hoa Kỳ – châu Á, ĐH Luật New York; ông Thomas Vallely của ĐH Harvard… đặt ra. Phó Thủ tướng không né tránh câu hỏi nào.

Một chủ đề nổi bật gần đây là chính sách đối ngoại của TQ, mà VN là nước ở gần nhất. Nhiều nước thấy khó hiểu, Tổng thống Philippines còn nói với New York Times rằng có lúc ông không hiểu nổi quan hệ với TQ. Vậy VN miêu tả mối quan hệ này như thế nào?

Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh: Quan hệ VN – TQ có một khuôn khổ là quan hệ đối tác chiến lược, mà Philippines chưa có. Ngoài quan hệ chính trị tốt, về kinh tế, TQ còn là đối tác thương mại lớn nhất của VN. Cả hai đều là nước XHCN, có quan hệ trên mọi kênh, giữa hai đảng, hai nhà nước, và nhân dân hai nước.

Đúng là VN có tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông với TQ. Philippines có thể không đoán được TQ, nhưng chúng tôi biết rõ TQ.

 

Qua vụ việc TQ hạ đặt giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của VN, bài học gì được rút ra để đảm bảo không lặp lại việc tương tự?

Khi TQ hạ đặt giàn khoan, vi phạm luật pháp quốc tế, chúng tôi đã kiên quyết bảo vệ quyền lợi của mình trên thực địa, đồng thời yêu cầu đối thoại với TQ.

Trong thời gian diễn ra sự việc, đã có hơn 40 cuộc trao đổi ở mọi cấp độ, bản thân tôi đã điện đàm với Bộ trưởng Ngoại giao TQ Vương Nghị và ủy viên Quốc vụ viện TQ Dương Khiết Trì. Chúng tôi đã tận dụng mọi kênh. Chúng tôi cũng có sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, những người đã lên tiếng quan ngại về hành động của TQ. Đó là những nhân tố mà chúng tôi cho là bài học hữu ích.

Có phải nhờ hơn 40 cuộc đối thoại mà TQ đã rút giàn khoan hay do những nguyên nhân khác?

Có nhiều cách giải thích: Do bão đến, nghĩa là chúng tôi được ông Trời giúp. TQ thì nói là giàn khoan đã hoàn thành nhiệm vụ.

Chỉ có thể giải quyết song phương

Ông đã nhấn mạnh vai trò của luật pháp quốc tế như một điểm mà phần lớn các nước trong khu vực chia sẻ, nghĩa là vẫn có một số ít chưa chia sẻ. Trong vấn đề Biển Đông, VN sẽ khôn ngoan nếu tận dụng được các thể chế pháp lý quốc tế để giải quyết tranh chấp. VN vẫn cân nhắc lựa chọn này như các lãnh đạo cao nhất đã tuyên bố chứ?

Chúng tôi muốn giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, bao gồm tất cả các biện pháp theo Hiến chương LHQ. Nếu đàm phán song phương đem lại kết quả thì đó là một biện pháp tốt. Chúng tôi đã đàm phán với TQ và đạt được thỏa thuận về cắm mốc biên giới trên bộ và phân định vịnh Bắc Bộ, nhưng bên ngoài thì chưa. Hành động pháp lý cũng là một biện pháp hòa bình.

Liệu VN có đồng ý với TQ giải quyết tay đôi vấn đề Biển Đông?

Quần đảo Hoàng Sa là vấn đề giữa TQ và VN, có thể giải quyết song phương. TQ đã cưỡng chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực các năm 1956 và 1974, hiện vẫn đang chiếm giữ. VN luôn muốn giải quyết bằng biện pháp hòa bình và đã yêu cầu TQ làm như vậy. Nhưng TQ vẫn khăng khăng Hoàng Sa là của mình. Đó là sự khác biệt trong lập trường.

Nhưng quần đảo Trường Sa có 5 nước (TQ, VN, Philippines, Malaysia và Brunei) và 1 vùng lãnh thổ (Đài Loan) cùng tranh chấp, thì phải tiếp cận đa phương.

Với mô hình phát triển của TQ, VN muốn học những điểm gì và không muốn học những điểm gì?

TQ đã nói muốn xây dựng CNXH đặc sắc Trung Hoa. VN cũng sẽ làm theo cách của mình.

Sao TQ phải khó chịu?

 

Vậy VN làm thế nào duy trì được độc lập bên cạnh một láng giềng khổng lồ không thể dời đi đâu, và Mỹ có vai trò như thế nào trong quan hệ này?

Tôi có thể nhắc lại phương châm đối ngoại của VN là “ba không”: không liên minh quân sự, không có căn sự quân sự của nước ngoài ở VN và không liên minh với nước này chống lại nước kia.

Mỹ có thể làm gì để giúp giải quyết các tranh chấp trong khu vực châu Á – TBD thay vì làm gia tăng căng thẳng?

Bất cứ sự tham gia của nước nào, bao gồm cả chính sách “xoay trục sang châu Á” của Mỹ, đều được hoan nghênh nếu đóng góp vào hòa bình và ổn định trong khu vực. Nhưng ngoài khía cạnh chính trị và an ninh, chúng tôi quan tâm hơn cả đến khía cạnh kinh tế, hoan nghênh các nước tăng cường kết nối, đầu tư, xây dựng hạ tầng… vào châu Á – TBD, vào Đông Nam Á, vào Việt Nam.

Về khả năng Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN, ông có thể cho biết quan điểm của nước mình?

20 năm trước, hai nước đã bình thường hóa quan hệ. Đến năm 2013, hai bên nâng tầm quan hệ lên đối tác toàn diện. Nghĩa là quan hệ đã bình thường, nhưng lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN lại không bình thường. Dỡ bỏ lệnh cấm sẽ là biểu hiện của một mối quan hệ bình thường.

 – Ông có lo là việc đó sẽ khiến TQ khó chịu, gây thêm rắc rối?

VN nếu không mua vũ khí từ Mỹ thì sẽ mua từ các nước khác, tại sao TQ phải khó chịu chứ.

– Ông có nhắc đến vai trò trung tâm của ASEAN, nhưng theo quan sát thì ASEAN cũng đang gặp thách thức trong việc duy trì đoàn kết và có tiếng nói chung?

Chính vì sự đoàn kết là quan trọng nhất với ASEAN nên chúng tôi có cơ chế để giải quyết các bất đồng nội khối. Ví dụ với vấn đề Biển Đông, năm 2012 ở Campuchia, lần đầu tiên trong lịch sử 45 năm của khối, các bộ trưởng ngoại giao đã không ra được tuyên bố chung. Nhưng đến 2014, ASEAN đã tìm lại được tiếng nói chung, lần đầu tiên ra được một tuyên bố riêng về Biển Đông.

Chung Hoàng(từ New York)

 

Nhìn lại ‘Cải cách Ruộng Đất’ ở Việt Nam – BBC

19 Th9

 

Cập nhật: 11:04 GMT – thứ năm, 18 tháng 9, 2014

Mặc dù cuộc cải cách ruộng đất do Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện 60 năm về trước đã trôi qua, nhưng nhiều người vẫn chưa thể ‘quên được’ ‘sự thật’ vẫn chưa được Đảng nói ra hết, cũng như Đảng phải nhìn nhận ‘tội lỗi’ của mình, theo một khách mời của tọa đàm trực tuyến về “Cải cách ruộng đất” do BBC thực hiện hôm 18/9/2014.

 

Từ Moscow, hôm thứ Năm, ông Nguyễn Minh Cần, nguyên Phó Chủ tịch phụ trách Nông nghiệp của Hà Nội, nguyên cán bộ sửa sai cải cách ruộng đất của Đảng ở ngoại thành Hà Nội, một nhà bất đồng chính kiến nhiều năm tị nạn chính trị ở Nga, cho rằng Đảng và chính quyền phải ‘sám hối’. Ông nói:

“Bây giờ cải cách ruộng đất đã qua rồi, chúng ta muốn quên đi, nhưng mà sự thực không quên được. Vì sao, bởi vì tôi đã rất đồng ý với nhà văn Trần Mạnh Hảo, là vì trước hết Nhà nước, Đảng cầm quyền phải nói sự thật, phải nhìn nhận tội lỗi của mình, phải sám hối, mới xóa bỏ được hận thù.

“Mới xóa bỏ được: thôi, ta coi vấn đề cải cách ruộng đất là qua rồi. Điều đó nhà nước chúng ta không làm, cuộc triển lãm vừa qua không làm. Đó là điều thứ nhất tôi xin khẳng định như thế.

Điều thứ hai là bây giờ rất cần một sự thay đổi về ruộng đất. Không phải là chúng ta làm một cuộc cải cách về ruộng đất theo kiểu của Trung Quốc, theo kiểu 1953 trước nữa, mà là phải đấu tranh để xóa bỏ điều ở trong Hiến pháp là quốc hữu hóa ruộng đất của nông dân

Ông Nguyễn Minh Cần

“Điều thứ hai là bây giờ rất cần một sự thay đổi về ruộng đất. Không phải là chúng ta làm một cuộc cải cách về ruộng đất theo kiểu của Trung Quốc, theo kiểu 1953 trước nữa, mà là phải đấu tranh để xóa bỏ điều ở trong Hiến pháp là quốc hữu hóa ruộng đất của nông dân và đem ruộng đất trả lại cho nông dân.”

‘Quyết tìm sự thật’

Nhà văn Trần Mạnh Hảo, một nhân chứng mà gia đình là ‘nạn nhân’ của cuộc cải cách, như ông tự giới thiệu, nói với cuộc tọa đàm từ Sài Gòn:

“Tôi cho rằng lịch sử phải được thể hiện một cách trung thực, nếu tất cả lịch sử bị bóp méo, và bị dối trá hóa, bị tuyên truyền nhảm, tức là bịa ra lịch sử để sự tuyên truyền, thì chừng đó, sau này dù thời gian sau này chăng nữa, con cháu chúng ta họ vẫn quyết tâm đi tìm sự thật.

“Bởi vì sự thật, chỉ có sự thật mới giải phóng được con người. Chỉ có sự thật mới giúp chúng ta nhìn nhận chân lý, cái gì sai, cái gì đúng, còn cứ bịa chuyện, cứ bịp bợm nhân dân, thì mọi thứ sẽ không bao giờ tốt đẹp.”

“Tôi không muốn nói lại cuộc cải cách ruộng đất, bởi vì vết thương của gia đình tôi, bố mẹ tôi. Bố tôi bị bắt, mẹ tôi phải nuôi ba đứa con, tôi phải đi bắt rận thuê để lấy gạo nấu cháo cho mẹ ăn và các em ăn, tức là rất là thảm.

Và những gia đình bị bắn ở trong làng tôi cũng không bao giờ là địa chủ. Họ đã bắn, đã giết oan hàng mấy, hàng chục vạn người, thế thì làm sao mà có thể nói là một cuộc cải cách tốt đẹp được

Nhà văn Trần Mạnh Hảo

“Đẩy gia đình chúng tôi vào thảm kịch có thể chết đói cả ba bốn mẹ con. Và cuộc cải cách ruộng đất tôi đã nhìn thấy nông dân ở làng đến lấy ở nhà tôi từng cái đũa, cái bát, cái mâm, cái hòn gạch, phá nhà, phá cửa, cướp hết toàn bộ những tài sản của gia đình chúng tôi, mà một gia đình lao động, không bao giờ là địa chủ.

“Và những gia đình bị bắn ở trong làng tôi cũng không bao giờ là địa chủ. Họ đã bắn, đã giết oan hàng mấy, hàng chục vạn người, thế thì làm sao mà có thể nói là một cuộc cải cách tốt đẹp được.”

‘Không có cơ sở nào cả’

Từ Paris, nhà văn Vũ Thư Hiên, tác giả của cuốn hồi ký chính trị “Đêm giữa ban ngày” đặt vấn đề liệu vào thời điểm tiến hành cuộc cải cách, Đảng có tiến hành một cuộc điều tra ‘đàng hoàng không’.

Nhà văn đặt câu hỏi cho ông Nguyễn Minh Cần:

“Thắc mắc của tôi là vào giai đoạn đó, có một cuộc điều tra về cải cách ruộng đất đàng hoàng không, thành lập được mấy đoàn điều tra, đã đi những địa phương nào để điều tra cải cách ruộng đất, trưởng phó đoàn là ai và báo cáo về cải cách ruộng đất để chuẩn bị cho cải cách ruộng đất có hay không?”

Sự thực ở đây là không chỉ riêng Hà Nội, mà cả toàn quốc, tỷ lệ 5% mà Hồ Chủ Tịch đưa ra, rồi vân vân, thì không có dựa trên một cơ sở điều tra nào cả

Ông Nguyễn Minh Cần

Khách mời từ Moscow trả lời: “Sự thực ở đây là không chỉ riêng Hà Nội, mà cả toàn quốc, tỷ lệ 5% mà Hồ Chủ Tịch đưa ra, rồi vân vân, thì không có dựa trên một cơ sở điều tra nào cả,” cựu Phó Chủ tịch Hà Nội phụ trách nông nghiệp nói.

“Hoàn toàn không có một điều tra nông thôn để mà quyết định vấn đề thành phần, ruộng đất, rồi vân vân, ở trong nông dân như thế nào cả, nông thôn ra làm sao cả. Đấy là một sự thật.”

‘Không thể sửa được’

Về vấn đề sửa sai, ông Nguyễn Minh Cần thuật lại những gì mà ông đã trải nghiệm, cựu thành viên ủy ban sửa sai của Đảng ở Hà Nội nói:

“Ngay bản thân tôi, tôi là người phụ trách sửa sai ở ngoại thành Hà Nội, thì ông Võ Nguyên Giáp thời bấy giờ, Ủy viên Bộ chính trị, phụ trách Hà Nội trong việc sửa sai, chúng tôi bàn với nhau có bao nhiêu việc không thể nào sửa được.

Vợ, chồng, con cái của người ta bị bắn chết thì hỏi sửa sai thế nào? Chúng tôi có mấy người liên lạc trong thời kỳ bí mật ở ngoại thành Hà Nội, thì đội cải cách về, chẳng hiểu thế nào mà họ nghèo, quy là địa chủ, bắn chết. Chúng tôi làm thế nào mà giải quyết được?

Ông Nguyên Minh Cần

“Vợ, chồng, con cái của người ta bị bắn chết thì hỏi sửa sai thế nào? Chúng tôi có mấy người liên lạc trong thời kỳ bí mật ở ngoại thành Hà Nội, thì đội cải cách về, chẳng hiểu thế nào mà họ nghèo, quy là địa chủ, bắn chết. Chúng tôi làm thế nào mà giải quyết được?

“Rồi nhà cửa người ta chia ra rồi, bây giờ sửa sai, chúng tôi phải trả lại cho những người đó, nhưng mà trả lại thế nào được? Khi mà nông dân đã nhận được nhà cửa thì họ được tin là phải trả lại, thì họ lấy ngói, lấy gạch rồi phá hết tất cả của người ta.

“Mà khi vào chia đấy, thì bao nhiêu gia đình được một ngôi nhà, thì những cây cảnh, những cái chậu v.v…, thì mình phá hết, thì bảo là trả lại thế nào?”

Khách mời tuần này là nhà văn Trần Mạnh Hảo từ Sài Gòn, nhà văn Vũ Thư Hiên từ Paris, bà Lê Hiền Đức từ Hà Nội, ông Nguyễn Minh Cần từ Moscow, và ông Nguyễn Quang Thạch từ Thái Bình.

Các khách mời cũng nhìn lại hai luồng ý kiến chính trên các mạng xã hội Việt Nam nhân cuộc triên lãm Cải cách Ruộng đất ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tại Hà Nội khai mạc rồi bị đóng cửa vì ‘lý do kỹ thuật’.

Các ý kiến cũng nhằm sáng tỏ bối cảnh chung, tác động của Trung Quốc, việc tiến hành, vai trò của Ban lãnh đạo Việt Nam khi đó như việc lập các đoàn cải cách.

Cố chủ tịch Hồ Chí Minh

Ông Hồ Chí Minh đã thừa nhận Đảng sai lầm và tuyên bố ‘sửa sai’ sau cải cách ruộng đất.

Cuộc thảo luận cũng muốn nhìn vào ý nghĩa, tác động của Cải cách Ruộng Đất với nông thôn, nông dân Việt Nam tới ngày nay.

Rút ra bài học gì?

Một số người tham gia thảo luận đã nêu ý kiến cần có một cuộc cải cách về đất đai hiện nay ở Việt Nam để giải quyết vấn đề tham nhũng đất, khiếu kiện khá phổ biến về đất đai.

Có khách mời cũng cho hay từ kinh nghiệm của Liên Xô thì sau năm 1991 vẫn không hề có sự nhìn lại về các cuộc cải tạo tiêu diệt nông dân thời Stalin.

Nhưng riêng với Việt Nam, có ý kiến thảo luận nói cần khép lại quá khứ dù không được quên những vụ tàn sát thời Cải cách Ruộng Đất.

Về bài học rút ra và thái độ đối với quá khứ, lựa chọn ứng xử trong hiện tại, ông Nguyễn Quang Thạch, nhà vận động ‘sách cho nông thôn’ nói với BBC:

Lịch sử là thứ đã qua rồi, chúng ta không được phép quên lịch sử, mà chúng ta phải đánh giá sòng phẳng về nó. Chúng ta không quên quá khứ sai lầm của lịch sử, nhưng cũng không căm hận nó nữa, mà nên hành động để tạo dựng cho tương lai tốt hơn thôi

Ông Nguyễn Quang Thạch

“Lịch sử là thứ đã qua rồi, chúng ta không được phép quên lịch sử, mà chúng ta phải đánh giá sòng phẳng về nó.

“Chúng ta không quên quá khứ sai lầm của lịch sử, nhưng cũng không căm hận nó nữa, mà nên hành động để tạo dựng cho tương lai tốt hơn thôi.

“Chứ nếu chúng ta, như kiểu vừa rồi, là chỉ đưa trưng bày ra, phô diễn cho người ta, chỉ nói cái tốt, không nói cái sai, khuyết, để rồi cùng nhau nhìn nhận, và không lặp lạih những sai lầm trong tương lai.

“Cho câu chuyện tôi nghĩ là người Việt mình, chính quyền đã đến lúc phải đánh giá lại sai lầm của mình, và sau đó công bố rõ ràng, và chúng ta điều chỉnh chính sách đất đai để không tạo ra sự xung đột giữa chính quyền và người dân. Để không tạo ra sự dồn tích, sự căm phẫn trong đời sống cộng đồng.”

‘Mong cải cách mới’

Bây giờ có những người nông dân không còn nhà, không còn một tấc đất để sống, trong khi những kẻ tham nhũng có bốn, năm, bảy cái biệt thự, có hàng trăm héc-ta rừng để bóc lột nhân dân… Vì vậy theo tôi, tôi lại muốn có một cuộc cải cách ruộng đất mới

Bà Lê Hiền Đức

Cũng hôm thứ Năm, bà Lê Hiền Đức, nhà hoạt động chống tham nhũng và vận động cho nhân quyền, nói với tọa đàm từ Hà Nội:

“Tôi lại muốn cải cách ruộng đất bây giờ nữa, nhưng trên tinh thần của tôi bây giờ là gì: tổ chức cải cách ruộng đất không phải là đấu tố như ngày xưa, nâng thành phần từ phú nông lên địa chủ để giết chóc, đàn áp nhau.

“Nhưng cải cách ruộng đất bây giờ là gì: để người nông dân của tôi bây giờ sống bằng đồng ruộng thì nhiều bà con nông dân đã căng khẩu hiệu là ‘Nông dân coi đồng ruộng như máu xương của mình’.

“Nhưng bây giờ mất hết ruộng, mất hết vườn, mất hết rừng, thì hỏi rằng còn gì nữa, vì vậy theo suy nghĩ của tôi, tôi lại mong muốn có cuộc cải cách, nhưng cải cách bây giờ đừng lặp lại những sai lầm dã man, tàn ác, giết chóc như những năm trước đây.

“Mà cải cách bây giờ là gì: để cho những người nông dân đứng lên tố cáo những bọn tham nhũng. Bây giờ có những người nông dân không còn nhà, không còn một tấc đất để sống, trong khi những kẻ tham nhũng có bốn, năm, bảy cái biệt thự, có hàng trăm héc-ta rừng để bóc lột nhân dân…

“Vì vậy theo tôi, tôi lại muốn có một cuộc cải cách ruộng đất mới,” nhà vận động năm nay 83 tuổi nói với cuộc tọa đàm của BBC từ Hà Nội.

Thêm về tin này

 

 

Ấn Độ -Việt Nam mở rộng hợp tác dầu khí ở Biển Đông – RFI

17 Th9

 

mediaTổng thống Ấn Độ công du Việt Nam. Ảnh ngày 15/09/2014.Reuters
 

Nhân ngày thứ hai trong chuyến công du Việt Nam của Tổng thống Ấn Độ Pranab Mukherjee,ngày 15/09/2014, hai nước đã ký kết 7 thỏa thuận quan trọng. Trong đó có thỏa thuận về hợp tác dầu khí song phương tại vùng Biển Đông, và việc cung cấp 100 triệu đô la tín dụng để Việt Nam mua thiết bị quốc phòng của Ấn Độ.

Trong bản Thông cáo chung công bố sau cuộc hội đàm giữa Tổng thống Ấn Độ và Chủ tịch nước Việt Nam Trương Tấn Sang, hai bên cùng kêu gọi các nước tôn trọng quyền tự do lưu thông trên Biển Đông. Thông điệp này được cho là nhắm vào Trung Quốc.

Một cách cụ thể, tập đoàn dầu khí quốc gia hải ngoại của Ấn Độ là ONGC Videsh Limited (OVL) đã ký với Petro Việt Nam một ý định thư nhằm tăng cường quan hệ hợp tác giữa hai bên trong lãnh vực thăm dò và khai thác dầu khí.

OVL đã từng tham gia thăm dò hai lô dầu khí 127 và 128 tại Biển Đông, trong một khu vực bị Bắc Kinh cho là thuộc chủ quyền Trung Quốc. Hiện nay, tập đoàn này được triển hạn khai thác một lô, nhưng thỏa thuận vừa ký kết sẽ mở rộng địa bàn hoạt động của OVL.

Phát biểu với nhật báo Mỹ Wall Street Journal, ông Đỗ Văn Hậu, lãnh đạo Petro Việt Nam xác nhận rằng « ONGC đã tiến hành thăm dò và khai thác dầu khí ở Việt Nam từ nhiều năm nay, thỏa thuận ký hôm nay sẽ mở đường cho việc hợp tác song phương tại những lô khác ngoài khơi Việt Nam. »

Ngoài ý định thư về hợp tác dầu khí, được báo chí Ấn Độ đánh giá là mang giá trị « chiến lược quan trọng », hai bên cũng ký Bản ghi nhớ về Hạn mức tín dụng trị giá 100 triệu đô la, để Hà Nội mua trang thiết bị trong lãnh vực quốc phòng.

Hồ sơ Biển Đông tất nhiên đã được hai bên thảo luận. Bản Thông cáo chung Việt-Ấn vào hôm nay đã kêu gọi tôn trọng « tự do » hàng hải ở Biển Đông, một nhận xét rõ ràng là nhắm vào Trung Quốc.

Điều 13 Bản Thông cáo chung ghi rõ :

« Hai bên nhất trí tự do hàng hải ở Biển Đông không thể bị cản trở và kêu gọi các bên liên quan kiềm chế, tránh đe dọa hoặc sử dụng vũ lực và giải quyết các tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình phù hợp với các nguyên tắc của luật pháp quốc tế được thế giới công nhận bao gồm Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).

Hai bên hoan nghênh cam kết chung của các bên liên quan tuân thủ và thực hiện DOC và hợp tác tiến tới thông qua COC trên cơ sở đồng thuận. Hai bên kêu gọi hợp tác đảm bảo an ninh các tuyến đường biển, an ninh biển, chống cướp biển và tiến hành các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn. »
 

 

%d bloggers like this: