Tag Archives: VN:

Giáo sư Carl Thayer đánh giá một số động thái của quân đội VN – GDVN

3 Th12

 

Giáo dục Quốc phòng

Bình Nguyên

02/12/14 13:35

(GDVN) – Việt Nam liên tục phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với nhiều nước ở gần và ở xa trong năm 2014 chính là kết quả của việc thực hiện Nghị quyết 22.

Báo Học giả ngoại giao có trụ sở tại Nhật Bản ngày 2/12/2014 đã đăng tải bài phân tích của Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia về quốc phòng, Biển Đông tại Học viện Quốc phòng Australia đề cập nhận định của ông về một số động thái gần đây của quân đội Việt Nam trên khu vực Biển Đông.

Đây là lần đầu tiên chiến hạm của Hải quân Việt Nam cập cảng của Philippines kể từ khi Việt Nam thống nhất hai miền năm 1975.

Bài viết là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị phản ánh góc nhìn, sự đánh già của một trong những học giả, chuyên gia danh tiếng về một trong những chủ đề quan trọng nhất của Việt Nam trong công cuộc bảo vệ chủ quyền lãnh hải, lãnh thổ thiêng liêng trong bối cảnh tình hình khu vực, quốc tế ngày càng có những diễn biến phức tạp, khó lường.

Theo nhận định của Giáo sư Carl Thayer, Việt Nam đang đẩy mạnh chiến lược hợp tác phòng thủ đa dạng đặc biệt chú trọng đến các vấn đề liên quan đến hàng hải với các nước bạn bè cả gần lẫn xa.
Giáo sư Carl Thayer cũng điểm lại sự kiện giữa tháng 11/2014 vừa qua khi Hải quân Việt Nam điều động hai tàu chiến hiện đại nhất của mình tham gia các chuyến viếng thăm hữu nghị chưa từng có tiền lệ đến các nước Indonesia, Brunei và Philippines.

Trước đó, ngày 5/11/2014, cũng là hai chiến hạm hiện đại nhất của quân đội Việt Nam mang tên Đinh Tiên Hoàng (HQ 011); Lý Thái Tổ (HQ 012) đã thực hiện chuyến thăm khởi hành từ quân cảng Cam Ranh đến cảnh Tanjung Priok của Indonesia nơi cắt ngang qua đường xích đạo Trái Đất.

Các chiến hạm của quân đội Việt Nam chở theo tổng cộng 228 sỹ quan và thủy thủ đoàn dưới sự dẫn đầu của Phó đô đốc Nguyễn Văn Kiệm, Phó tham mưu trưởng Hải quân Việt Nam.

Hai chiến hạm của Việt Nam khi đi cũng mang theo 1 chiếc trực thăng săn ngầm Ka-28. Đây cũng là lần đầu tiên Hải quân Việt Nam tiến hành thăm viếng hữu nghị nước ngoài có mang theo các trang bị hiện đại.

Giáo sư Carl Thayer cho rằng các hoạt động này của chiến hạm Việt Nam có thể xem như là tín hiệu cho thấy Việt Nam thực sự đã quyết định đẩy mạnh chiến lược phòng thủ của mình.

Giáo sư Carl Thayer (ảnh internet)

Theo phân tích của Giáo sư Carl Thayer, việc Việt Nam tiến hành các chuyến thăm bằng chiếm hạm đến các nước thuộc khu vực Đông Nam Á cũng là hoạt động đáp lại sự nhiệt tình từ các chuyến viếng thăm với cấp độ tương tự của các chiến hạm của hải quân Brunei, Indonesia cũng như Philippines đến các cảng biển của Việt Nam.

Điểm lại một bản tin đăng trên báo Quân đội nhân dân của Việt Nam, Giáo sư Carl Thayer cho biết mục đích của chuyến thăm đến các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á của tàu chiến Việt Nam thời gian vừa qua là “xây dựng lòng tin và củng cố tình hữu nghị, hợp tác, hiểu biết chung cũng như sự tin cậy của Hải quân nhân dân Việt Nam và Hải quân các nước Indonesia, Brunei, Philippines”.

Trước đó, trong tháng 3/2014, Hải quân Việt Nam cũng đã điều 1 tàu quân y mang số hiệu HQ 561 tham gia vào một cuộc diễn tập đa phương mang tên Tập trận Komodo do các bộ trưởng quốc phòng các quốc gia thuộc Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) cùng 8 đối tác khác (ADMM Plus) tổ chức tại Indonesia.

Ngày 12/11/2014, hạm đội tàu chiến của Hải quân Việt Nam đã đến cảng Tanjung Priok của Indonesia và lưu lại đây 3 ngày trong đó tham gia nhiều sự kiện như chào đón, chiêu đãi, giao lưu bóng chuyền, đá bóng, gặp gỡ các quan chức của Hải quân nước chủ nhà.

Trong chuyến viếng thăm Indonesia này các tàu hải quân của Việt Nam cũng đã tham gia vào một cuộc diễn tập tìm kiếm và cứu hộ với các tàu hải quân của đối tác Indonesia.

Tiếp sau đó, các tàu hộ vệ mang tên lửa của Hải quân Việt Nam đã khởi hành đến cảng Muara/Darussalam của Brunei vào ngày 19/11/2014. Chuyến đi này đã đánh dấu đây là lần đầu tiên tàu hải quân Việt Nam đặt neo tại Brunei.

 
 
 
 
 
Play
Current Time 0:00
/
Duration Time 0:00
Remaining Time -0:00
Stream TypeLIVE
Loaded: 0%
Progress: 0%
0:00
Fullscreen
 
00:00
Mute
Playback Rate
1
 
Subtitles

  • subtitles off
Captions

  • captions off
Chapters

  • Chapters
 
Truyền thông nước ngoài đưa tin về sự kiện tàu chiến Việt Nam đến Philippines

Đây cũng được xem là chuyến thăm đáp lễ chuyến viếng thăm của tàu tuần tra KDN Daruleshan, con tàu tuần tra khơi xa của Hải quân Brunei đã đến thăm cảng Hải Phòng của Việt Nam vào tháng 4 cùng năm nay.

Tháng 12/2013, Việt Nam và Brunei đã cùng nhau ký kết một Văn kiện ghi nhớ (MOU) trong đó nhấn mạnh vấn đề hợp tác hải quân song phương và sau đó đã cùng nhau thiết lập một đường dây nóng hải quân.

Báo Quân đội nhân dân của Việt Nam đã chỉ ra rằng “các lực lượng vũ trang của Việt Nam và Brunei đã nâng cao hoạt động hợp tác thông qua trao đổi các chuyến thăm viếng của các phái đoàn thuộc nhiều cấp khác nhau, chia sẻ thông tin, tình báo, huyến luyện học viên, chống hải tặc, diễn tập tìm kiếm, cứu hộ”.

Trong 3 ngày lưu lại Brunei, thủy thủ đoàn trên các chiến hạm của Việt Nam đã tham gia nhiều sự kiện giao lưu đáng chú ý. Ngày 20/11/2014, Phó đô đốc Nguyễn Văn Kiệm đã có cuộc gặp gỡ ngoại giao với Tư lệnh Hải quân và Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang Brunei trước khi hạm đội rời Brunei đến thăm một nước tiếp theo vào ngày 21/11.

Ngày 24/11/2014, các tàu hộ vệ mang tên lửa và trực thăng săn ngầm của Việt Nam đã cập cảng South Harbor của Philippines đánh dấu điểm dừng chân thứ 3 và cũng là cuối cùng của chuyến hành trình dài xuyên Đông Nam Á.

Đây là lần đầu tiên chiến hạm của Hải quân Việt Nam cập cảng của Philippines kể từ khi Việt Nam thống nhất hai miền năm 1975. Vị tư lệnh của Hải quân Việt Nam – Phó đô đốc Nguyễn Văn Kiệm đã đích thân mời các đối tác ngoại giao của nước chủ nhà lên thăm các khinh hạm của Việt Nam.

Trong chuyến thăm Philippines, Phó đô đốc Kiệm cũng đã hội đàm với Phó tư lệnh Hải quân Philippines – Admiral Caesar Taccad; Tư lệnh cảnh sát Malina cũng như tổ chức một cuộc diễn tập chung với nước chủ nhà trong đó có nội dung tìm kiếm và giải cứu.

Các tàu chiến của Việt Nam rời Philippines lên đường về nước vào ngày 26/11/2014.

Trước đó, theo tư liệu của Giáo sư Carl Thayer viện dẫn, tháng 10/2010, quân đội Việt Nam và quân đội Philippines đã ký kết văn kiện ghi nhớ hợp tác quốc phòng. 1 năm sau đó (2011), Hải quân Việt – Phi tiếp tục ký văn kiện ghi nhớ về tăng cường quan hệ song phương, chia sẻ thông tin.

Năm 2012, quan hệ Việt – Phi tiếp tục có bước phát triển mới. Tháng 3/2012 cả Việt Nam và Philippines đã thống nhất được một số nội dung, trong đó nhấn mạnh đến quy tắc giao thiệp tại một khu vực cụ thể ở quần đảo Trường Sa…

Tháng 3/2014, Việt Nam và Philippines đã thiết lập một nhóm làm việc chung, đồng thời phác thảo một chương trình hợp tác quốc phòng giai đoạn 2014-2015.

3 tháng sau đó, tức vào tháng 6/2014, các thủy thủ của Việt Nam đóng quân trên đảo Song Tử Tây (tên quốc tế Southwest Cay) ở quần đảo Trường Sa đã tham gia giao hữu bóng chuyền với các binh sỹ Hải quân Philippines. Hiện tại Việt – Phi đang xúc tiến đối thoại quốc phòng song phương ở cấp thứ trưởng.

Hoạt động hợp tác song phương giữa hải quân Việt Nam và Philippines đã được bắt đầu từ năm 1999 khi cả hai quốc gia này ký kết văn kiện hợp tác quốc phòng. Việt – Phi cũng đã nhiều lần tổ chức tuần tra, trao đổi thông tin, thiết lập đường dây nóng và cùng nhau giải quyết các vấn đề liên quan đến đánh bắt hải sản trái phép.

Theo Giáo sư Carl Thayer, trong năm 2014, Việt Nam cũng đã xúc tiến các chương trình hợp tác quân sự với nhiều quốc gia trong khu vực khác. Trong tháng 8 cùng năm Singapore cũng đã chào đón một phái đoàn hải quân của Việt Nam tham gia một cuộc tập trận chống khủng bố tại khu vực Vịnh Aden.

Ngày 24/11/2014, Thứ trưởng quốc phòng, Tư lệnh Hải quân Việt Nam – Đô đốc Nguyễn Văn hiến đã tiếp đón một phái đoàn cao cấp của Hải quân Thái Lan do Đô đốc Chansuvanich dẫn đầu.

Tại sự kiện này, Đô đốc Nguyễn Văn Hiến đã đề nghị Việt Nam và Thái Lan cần tăng cường hợp tác trong lĩnh vực hải quân, cụ thể là các vấn đề liên quan đến đào tạo nhân sự, hậu cần và công nghệ.

Bên cạnh việc thăm viếng các nước trong khu vực Đông Nam Á bằng các tài chiến hiện đại nhất của mình, Việt Nam còn tổ chức đón tiếp tàu chiến Vendémiaire của Hải quân Pháp thăm cảng Tiên Sa, Đà Nẵng từ 15 đến ngày 19/11/2014.

Đây là chuyến thăm nằm trong khuôn khổ quan hệ hợp tác quốc phòng song phương Pháp – Việt trong 2014. Tàu chiến của Pháp cũng đã cùng tham gia diễn tập kìm kiếm và cứu hộ với hải quân nước chủ nhà.

Ngày 18/11/2014, Tư lệnh Hải quân Việt Nam đã tổ chức một cuộc hội thảo đánh giá kết quả của chương trình nội địa hóa các tàu tên lửa Molniya thuộc lớn Rarantul Project 1241 tại nhà máy đóng tàu Ba Son theo hợp đồng hợp tác với Cục thiết kế Trung ương Almaz của Nga.

Trong chương trình này, hai tàu tên lửa Molniya thuộc lớn Rarantul Project 1241 đã được bàn giao cho Hải quân Việt Nam trong tháng 6 trước đó sau khi kết thúc thành công thử nghiệm bắn đạn thật trên biển.

Cuộc hội thảo do tư lệnh hải quân chỉ đạo đã kết luận tiếp tục hoàn thành xây dựng thêm 4 chiếc tàu hộ hệ tên lửa Molniya thuộc lớn Rarantul Project 1241.

Đầu tháng 12/2014, Việt Nam đã nhận thêm chiếc tàu ngầm Kilo thứ 3 mang tên HQ 194.

Ngày 27/11/2014 Thông tấn xã nga Itar-Tass loan báo rằng Việt Nam và Nga đã ký kết một văn kiện liên chính phủ trong đó nới lỏng các hạn chế, cho phép tàu chiến Nga có thể đến cảng Cam Ranh của Việt Nam dễ dàng và thuận tiện hơn.

Theo Giáo sư Carl Thayer, thỏa thuận này của Nga – việt tương tự như thỏa thuận đã đạt được giữa Nga và Syria đối với cảng biển Tartus. Văn kiện hợp tác Nga – Việt được hai bên ký kết nhân chuyến thăm Moscow của Tổng bí thứ ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng.

Theo Bộ quốc phòng Nga, trong tương lai, tàu chiến Nga muốn vào Cam Ranh chỉ cần thông báo trực tiếp cho chính quyền quản lý cảng trước khi cập bến.

Theo các nhà quan sát, thỏa thuận Nga – Việt thực sự là tín hiệu cho thất Việt Nam đang tạo điều kiện cho cả Hải quân Nga lẫn hải quân của nhiều nước khác có thể dễ dàng tiến hành các chuyến thăm đến Việt Nam.

Mặc dù Việt Nam đã tuyên bố cho phép tất cả các lực lượng hải quân nước ngoài sử dụng các cơ sở ở Cam Ranh miễn là đáp ứng các yêu cầu thương mại nhưng Việt Nam luôn dành cho Nga những ưu tiên đặc biệt bởi Nga là một trong nhưng đối tác chiến lược và tin cậy nhất của Việt Nam và Nga cũng là nước giúp đỡ Việt Nam nhiều nhất trong công cuộc xây dựng hạm đội tàu ngầm.

Việt Nam và Nga hiện đang được cho là cùng nhau thảo luận một thỏa thuận xây dựng một trung tâm hậu cần ở Vịnh Cam Ranh để phục vụ các chiến hạm của Hải quân Nga, tương tự như những gì Nga và Syria đã đạt được cùng nhau ở cảng Tartus.

Theo Giáo sư Carl Thayer, việc Việt Nam liên tục phát triển quan hệ hợp tác quốc phòng với nhiều nước ở gần và ở xa trong  năm 2014 chính là kết quả của việc thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quốc phòng về hội nhập quốc tế hay còn được biết đến với cái tên Nghị quyết 22 (ban hành ngày 10/4/2013)

Vietnam’s step up in defense cooperation in 2014 is a result of guidelines issued by the Ministry of National Defense and Politburo resolution no. 22 (April 10, 2013) on international integration (Nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế).

Phần III của Nghị quyết 22 nêu rõ phải: “Tăng cường các hoạt động hợp tác song phương trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng với các quốc gia láng giềng, các nước ASEAN, các cường quốc, bạn bè truyền thống; dần dần làm sâu sắc và nâng cao hiệu quả hợp tác”.

Ông Carl Thayer cho rằng sự tích cực của Hải quân Việt Nam trong hoạt động hợp tác, giao lưu quốc phòng diễn ra đúng vào thời điểm thích hợp.

Tháng 12 này Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ tổ chức phiên họp toàn thể lần thứ 10 Uỷ ban Trung Ương. Tại phiên họp này ban hành các tài liệu hướng dẫn đối với các chính sách lớn sẽ được đệ trình lên Đại hội Đảng lần thứ 12 sẽ diễn ra vào đầu năm 2016.

Theo GS Carl Thayer, nhiều khả năng sau khi diễn ra Đại hội Đảng lần thứ 12 sẽ diễn ra vào đầu năm 2016 ngân sách dành cho quốc phòng sẽ được duy trì nhịp độ tăng để tiếp tục thực hiện các chương trình hiện đại hóa các lực lượng hải, không quân cũng như hợp tác quốc phòng quốc tế.

 
 
Giáo sư , Carl Thayer , đánh giá , một số , động thái , của , quân đội , VN
Giáo sư Carl Thayer đánh giá một số động thái của quân đội VN

Chủ đề : Quốc Phòng Nhân Dân Việt Nam
Chủ đề : BÌNH LUẬN QUÂN SỰ
Chủ đề : BIỂN ĐÔNG – HOA ĐÔNG – HOÀNG HẢI

 

 

‘Xã hội dân sự VN sẽ tiến triển mạnh’ – BBC

29 Th11

 

  • 27 tháng 11 2014

Tiến sỹ, bác sỹ Trần Tuấn
Tiến sỹ Trần Tuấn lạc quan về triển vọng của xã hội dân sự ở Việt Nam.

Mặc dù có khó khăn, xã hội dân sự ở Việt Nam đang tìm được chỗ đứng, phát huy vai trò của mình, theo ý kiến các nhà quan sát và hoạt động từ Việt Nam.

Xã hội dân sự đang khẳng định vai trò không những trong ‘thực tiễn’ mà còn trong ‘tác động’ tới sửa đổi, hình thành chính sách của nhà nước, vẫn theo ý kiến phát biểu tại cuộc Tọa đàm Trực tuyến trên Google Hangout của BBC hôm 27/11/2014.

Tiến sỹ Trần Tuấn, một nhà nghiên cứu về chính sách và phát triển cộng đồng thuộc Vusta (Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam), nói với Tọa đàm:

“Chúng tôi thấy rằng trong những năm vừa qua đã có sự phát triển, chúng tôi gọi là gia tốc tăng lên ngày càng nhanh, đặc biệt trong 5 năm qua.

“Vào khoảng hai năm gần đây, thấy rằng có sự phát triển, tiếng nói của xã hội dân sự bắt đầu dần đi vào, ngoài những vấn đề thực tiễn, nhưng đồng thời trong cả vấn đề chính sách, hoặc những tác động để thay đổi chính sách đã bắt đầu có được.

“Cho nên, trong trung hạn và dài hạn, chúng tôi nghĩ, trong thời điểm khoảng 3-5 năm tới sẽ thấy một sự thay đổi một cách mạnh mẽ hơn nữa của xã hội dân sự.

“Đặc biệt tiếng nói của xã hội dân sự trong vấn đề nghiên cứu, tác động chính sách và những vấn đề đi dần vào các lợi ích của người dân được đặt lên trên bàn để thảo luận trong vấn đề cân bằng lợi ích với các bên doanh nghiệp, cũng như bên về các lợi ích của nhà nước.”

Triển vọng lâu dài

Về triển vọng lâu dài của xã hội dân sự, nhà nghiên cứu cho rằng Việt Nam sẽ theo kịp bước của thế giới văn minh để có chỗ đứng cho định chế này.

Tiến sỹ Trần Tuấn nói: “Còn về mặt lâu dài, chúng tôi nghĩ rằng chắc chắn Việt Nam sẽ phải chung bước với sự tiến bộ của thế giới văn minh này, có nghĩa là phát triển xã hội phải đứng trên trụ cột có nhà nước, có thị trường và có xã hội dân sự.

“Trong đó tôi nghĩ vai trò hiện nay, lúc này đang cần là cần có sự đi đầu của những các nhà hoạt động dân sự, chúng tôi gọi là thực tiễn, để lấy thực tiễn buộc thay đổi chính sách và điểm thứ hai nữa là phải có sự vào cuộc của các nhà khoa học.

“Tôi nghĩ rằng đã đến lúc các nhà khoa học phải thể hiện mình, hay nói khác đi phải ‘lột xác’ so với trước. Bởi vì chúng ta thấy rằng trước đây so với bây giờ, thực tiễn bây giờ đòi hỏi các nhà khoa học phải gắn với thực tiễn hơn rất nhiều.

“Và nếu làm được việc đấy, cứ trước hết nhắm vào các vấn đề mà tôi cho rằng, chưa nói gì đến các vấn đề chính trị, thì ít nhất là vấn đề về an sinh xã hội, về vấn đề y tế, giáo dục v.v…, cũng đủ để mà xã hội dân sự, các tổ chức xã hội dân sự thể hiện được tiếng nói của mình.”

‘Không thể đảo ngược’

Nhà xã hội học, Tiến sỹ Lê Bạch Dương, chuyên gia trong lĩnh vực phát triển xã hội, cho hay ông lạc quan về triển vọng của xã hội dân sự ở Việt Nam.

Ông nói với Tọa đàm của BBC: “Tôi khá là lạc quan, tôi nghĩ là xã hội dân sự đương nhiên sẽ tiếp tục phát triển, và điều kiện khách quan ở Việt Nam hiện nay cũng đang mở ra những cơ hội.

“Chẳng hạn Việt Nam hiện nay, đang hội nhập rất mạnh mẽ, tham gia rất nhiều những diễn đàn quốc tế song phương, đa phương, ký kết rất nhiều những công ước v.v…

“Rồi những nguồn thông tin toàn cầu thông qua hệ thống Internet, thông qua những tài liệu thông tin, những giòng di cư dịch chuyển, rồi người dân Việt Nam bây giờ cũng đi du lịch, rồi người nước ngoài vào Việt Nam và sự tham gia của những nhà tài trợ, những tổ chức quốc tế vào Việt Nam.

“Bên cạnh giúp cho Việt Nam phát triển về mặt kinh tế, về mặt thể chế, cũng có rất nhiều những chương trình khuyến khích, thậm chí đặt vấn đề bắt buộc phải có sự tham gia của người dân, tham gia của những tổ chức cộng đồng.

“Và bằng sự tham gia như vậy thì các tổ chức cộng đồng hay những tổ chức phi chính phủ, không những chỉ tiếp cận được với những nguồn thông tin kiến thức mà còn có được những kỹ năng phát triển xã hội dân sự rất tốt.

“Có những mối liên kết vượt ra ngoài biên giới quốc gia, cho nên tôi nghĩ triển vọng đấy là không thể đảo ngược được và xã hội dân sự đang từng bước trưởng thành, tôi nghĩ như vậy. Nói chung là tôi rất lạc quan và đó là quan điểm chung của tôi về triển vọng của xã hội dân sự.”

‘Xu thế tất yếu’

Mặc dù vai trò và triển vọng của xã hội dân sự Việt Nam là như vậy, nhưng theo ông Lê Bạch Dương, định chế này đang gặp một số khó khăn, thách thức nhất định.

Nhà xã hội học nói với Tọa đàm: “Tất nhiên là nó cũng có những khó khăn, chẳng hạn như vấn đề khung pháp lý ở Việt Nam như các anh chị biết chưa có được khung pháp lý tạo điều kiện cho xã hội dân sự phát triển tốt.

“Rồi nhận thức xã hội còn có những hạn chế, rồi những vấn đề nguồn lực, nhân lực vẫn còn có những giới hạn, tuy nhiên tôi tin rằng xu thế đó đang ngày càng tích cực hơn.”

Bà Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, tức blogger Mẹ Nấm, nói với Tọa đàm từ Nha Trang:

“Tôi cũng đồng ý và thấy lạc quan về tình hình phát triển của xã hội dân sự, bởi vì xã hội dân sự là một trong những điều kiện tiên quyết, tiến trình phát triển của đất nước cần xã hội dân sự.

“Vì vậy, là một trong những người đi đầu, tôi nghĩ dù có khó khăn thì nhất định nó sẽ phải phát triển vì đó là xu thế tất yếu không thể nào thay đổi trong thời điểm hiện tại.”

‘Bảo vệ nhân quyền’

Mới đây tại Hà Nội diễn ra một cuộc Tọa đàm về bảo vệ “người bảo vệ nhân quyền” ở Việt Nam với sự tham gia của đại diện nhiều đoàn ngoại giao, sứ quán nước ngoài.

Được hỏi vì sao vấn đề này được đặt ra và ‘bảo vệ nhân quyền’ có quan hệ gì với xã hội dân sự hay không, hay là nằm ngoài thiết chế này, blogger Nguyễn Tường Thụy, một nhà báo độc lập từ Hà Nội tham dự sự kiện, nói với Tọa đàm của BBC:

“Trước hết là nó không hề nằm ngoài một chút nào cả.

“Bằng chứng là chủ trương của buổi tọa đàm này là mời tất cả các tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam tham gia và đã có nhiều tổ chức tham gia.

“Như là ngày hôm qua (26/11), trong buổi tọa đàm ấy có Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị, Hội Nhà báo Độc lập, Hội Anh em Dân chủ, Hội Bầu bí Tương thân, Mạng lưới Bloggers, No-U Sài Gòn, No-U Hà Nội, hay là Hội Phụ nữ Nhân quyền.

“Cho nên điều này, các tổ chức này không có gì độc lập và khác biệt với các tổ chức dân sự của xã hội dân sự Việt Nam hiện nay,” ông Thụy nói.

‘Đương nhiên liên hệ’

Cũng về vấn đề này, nhà xã hội học Lê Bạch Dương bình luận:

“Tôi cũng hoàn toàn đồng ý với ý kiến của anh Tường Thụy là không có gì mà có thể nói là nằm ngoài sự quan tâm của xã hội dân sự cả.

“Vấn đề bảo vệ những người ‘bảo vệ nhân quyền’, tôi thấy rằng cái này đương nhiên là một vấn đề mà xã hội dân sự phải quan tâm, và cái nhận thức của xã hội dân sự, của những tổ chức xã hội dân sự, cũng trong thời gian khoảng hơn mười năm nay, đã được nâng lên hơn rất nhiều.

“Rất nhiều tổ chức xã hội dân sự cũng đang làm những vấn đề liên quan đến quyền. Và tôi có thể nói hầu hết các tổ chức cộng đồng hay những tổ chức phi chính phủ hiện nay, không ít thì nhiều, đều đề cập những vấn đề liên quan đến nhân quyền.

“Hoặc là bình đẳng giới, hoặc những vấn đề quyền kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, cho nên việc bảo vệ những người ‘bảo vệ nhân quyền’ thì tôi hình dung, tôi có thể khẳng định luôn nó chính là một trong những cái là mối quan tâm của các tổ chức xã hội dân sự và tất nhiên sự tham gia là ở các quy mô khác nhau.

“Và tôi cũng đồng ý với các ý kiến của các anh chị trước là chúng ta đừng giới hạn xã hội dân sự chỉ ở những tổ chức có đăng ký, mà đây có thể là những mạng Internet hay là những nhóm người dân cùng chia sẻ những mối quan tâm khác nhau.

“Cho nên khi đã trở thành một vấn đề quan tâm chung, thì sự bảo vệ ‘những người đứng ra bảo vệ’ những vấn đề quyền của người dân thì đương nhiên tôi nghĩ nó có mối liên hệ,” Tiến sỹ Lê Bạch Dương nói với Tọa đàm.

‘Một sự dũng cảm’

Blogger Nguyễn Tường Thụy nói với Tọa đàm rằng nhiều tổ chức trong xã hội dân sự ở Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong có ‘phép thành lập’, và ông nói thêm ngay chỉ việc lập ra tổ chức ‘đã là một sự dũng cảm’.

Ông giải thích: “Sở dĩ tại sao các tổ chức trong tình trạng xã hội dân sự mới thành lập, hình thành trong vài năm trở lại đây, hiện tới nay khoảng 30 tổ chức, thì tất cả các tổ chức này, không một tổ chức nào được cấp phép thành lập.

“Và họ cho rằng những tổ chức này thành lập là trái với Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, bởi vì (với) các tổ chức này, họ rất sợ danh từ ‘xã hội dân sự’.

“Nói xã hội dân sự là họ cho rằng là cái gì đấy đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, là hoạt động lật đổ, là hoạt động chống phá, chính vì vậy, những tổ chức hoạt động dân sự thành lập ra đã là một sự dũng cảm rồi.

“Và khi thành lập ra phải đối mặt với tất cả những sự nguy hiểm, sự sách nhiễu, phiền toái và họ không được nhà nước, chính quyền và các cơ quan Đảng ủng hộ họ.”

Bình luận về ý kiến tại sao có một số tổ chức được đưa vào trong luật, còn một số khác lại không được, Tiến sỹ Trần Tuấn nói:

“Đất nước Việt Nam hiện nay của chúng ta được xuất phát trên mô hình xã hội chủ nghĩa, và trong mô hình xã hội chủ nghĩa thì Đảng lãnh đạo và các đoàn thể xã hội phục vụ cho triển khai các đường lối của Đảng. Cho nên đó là lý do tại sao được đưa vào.

“Còn chúng ta đang bàn đến vấn đề của Việt Nam hiện nay, trong giai đoạn bước vào để hòa nhập với thế giới, trong toàn cầu hóa, thì chắc chắn sẽ có sự hình thành tổ chức xã hội dân sự. Và quá trình này muốn đưa được vào luật, hoặc để có sự cho chúng ta hiểu được, chắc chắn đòi hỏi chính các tổ chức xã hội dân sự phải thể hiện được mình.

“Để chứng minh được rằng đấy là những hoạt động thiết thực cho sự phát triển của xã hội và bên cạnh đó phải có những bài viết về mặt lý thuyết, những cơ sở để đưa ra”.

‘Đi đầu khó khăn’

Theo ông Tuấn, trong thời gian qua ở Việt Nam đã xuất hiện một số tổ chức thuộc khối xã hội dân sự đem lại những ‘lợi ích cho dân, vì dân và bởi dân’, nhưng theo ông những người đi đầu ‘chắc chắn sẽ gặp những khó khăn’.

Nhà nghiên cứu chính sách phát triển cộng đồng giải thích:

“Bởi chính sự hình thành mà chúng tôi gọi là sự ổn định và kiểu tư duy ‘nhà nước quản lý và Đảng lãnh đạo’ và mô hình cấu trúc xã hội chủ nghĩa trước kia, nó sẽ còn nằm dài trong xã hội một thời gian dài nữa.

“Cho nên sự dị ứng đối với các tổ chức do dân, bởi dân, vì dân lập ra phục vụ cho các hoạt động của dân nó sẽ tồn tại một thời gian.

“Và những người đi tiên phong chắc chắn gặp những trở ngại.

“Tôi nghĩ rằng, bên cạnh đó, các nhà khoa học phải đóng một vai trò trong quá trình này, bởi vì chỉ có thể bằng các bài viết, bài phân tích để gợi mở, đi song song với các hoạt động thực tế mới có thể giúp cho người ta, tôi tạm gọi là ‘ngộ ra’ vấn đề này.

“Và thời gian ngộ ra lâu hay chóng là nó phụ thuộc vào sự quyết tâm của chúng ta đến đâu.”

‘Tiến bộ số lượng’

Từ Hà Nội, Luật sư Lê Thị Công Nhân bình luận với Tọa đàm về sự tiến bộ trong phát triển của xã hội dân sự ở Việt Nam hiện nay.

Nữ luật sư nói: “Thứ nhất có một sự tiến bộ về mặt số lượng, khoảng hai năm gần đây chúng ta thấy nở rộ lên các tổ chức tự do người dân thành lập về những mục đích khác nhau, ví dụ như mục đích giúp đỡ trẻ em nghèo về vấn đề học hành ở miền núi, hoặc là giúp đỡ về vấn đề từ thiện trong các bệnh viện, hoặc giúp đỡ thăm nuôi những tù nhân lương tâm như là Hội Bầu bí Tương thân mà tôi tham gia đồng sáng lập v.v…

“Thì rất nhiều những tổ chức chúng ta thấy là họ tự công bố thành lập, và khi tôi đọc luật quốc tế, tôi thấy rằng việc tự công bố cũng là một yếu tố thể hiện ý chí của những cá nhân thành lập đó, một cách rõ ràng và mạnh mẽ nhất và tạo nên giá trị của hội, nhóm đó.

“Ở những nước văn minh phát triển như ở bên Úc, bên Mỹ chẳng hạn, các hội nhóm này có thể đăng ký ở những ủy ban dân chính tùy vào từng đất nước, giống như ở Việt Nam là cơ quan nội vụ, sở nội vụ, có thể không cần phải đăng ký, nhưng trong quá trình hoạt động của họ, họ phải tuân thủ những gì mà họ thỏa thuận với nhau trước đó và họ không được vi phạm các quy định của pháp luật.

“Và không làm tổn hại đến những giá trị mà ngay cả quy định pháp luật chưa quy định, tức là tính tự giác của họ cực kỳ cao. Và khi nhìn lại hai năm gần đây ở Việt Nam, tôi thấy rằng sự phát triển như vậy rất là đáng mừng về mặt số lượng.

“Còn về mặt chất lượng, tôi không cảm thấy có quá nhiều bi quan, mặc dù nó chưa được như chúng tôi mong đợi,” Luật sư nêu nhận xét với BBC.

Tin liên quan

  • Thách thức với xã hội dân sự VN
    27 tháng 11 2014
  • Tọa đàm về người bảo vệ nhân quyền ở VN
    26 tháng 11 2014
  • Ý nghĩa của Diễn đàn Xã hội Dân sự
    23 tháng 9 2013
  • Làn gió mới lướt qua Xã hội dân sự VN
    10 tháng 7 2014
  • Các tổ chức dân sự VN: Tốt hay xấu?
    15 tháng 9 2014
  • Điếu Cày nhận giải thưởng tự do báo chí
    27 tháng 11 2014

 

Nghe du khách Mỹ nói thật về VN 10 năm trước

28 Th10

 

Khi sang đến Hà Nội, tôi lại gặp vẻ mặt lạnh lùng. Trước hết, lối vào nhà hành chính của sân bay đóng chặt, khiến chúng tôi phải đứng đợi ngoài mưa một lát.

Lời người dịch: Năm 2006, Terry Borton, TS giáo dục học (Đại học Harvard), nguyên Tổng biên tập Tạp chí The weekly Reader, lần đầu tiên tới Việt Nam và đã ghi lại những ấn tượng mới mẻ*. Người dịch được em gái ông, nhà văn Lady Borton chuyển cho bài viết này.

Sau gần 10 năm, hẳn rằng có những thực tế được đề cập trong bài viết ít nhiều không còn cập nhật. Song về tổng thể, đến nay, cái nhìn khách quan của một du khách phương xa thiết nghĩ vẫn sẽ hữu ích, đáng suy ngẫm với chúng ta. Từ lý do đó, người dịch lựa chọn chuyển ngữ bài viết, để chuyển đến độc giả VN như một góc nhìn tham chiếu.

Là một công dân Mỹ tới Việt Nam lần đầu, tôi đã từ Hà Nội đi thăm ngay các vùng quê miền Bắc. Đến đâu cũng vậy, cả thành thị lẫn nông thôn, tôi đều được đón tiếp nồng nhiệt. Tôi bị choáng ngợp bởi vẻ đẹp miền quê, bởi người dân lao động cần cù, bởi tốc độ tăng trưởng chóng mặt của đất nước này. Đâu đâu tôi cũng gặp những nụ cười nồng hậu, những tấm lòng rộng mở.

Nhưng tôi xin được mạn phép bày tỏ với những người bạn mới ở Việt Nam của tôi, và với quý bạn đọc rằng, đối với các du khách, bộ mặt đang hướng ngoại Việt Nam lại khác xa với những gì mà người dân trong nước bày tỏ.

Vì vậy xin được mạo muội giải thích và đề xuất một số biện pháp làm cho những ấn tượng đầu tiên về Việt Nam tương thích với những gì tôi nghĩ thực sự là cốt cách của đất nước này. (Và, bởi vì chưa từng nhìn đất nước mình theo góc nhìn của một du khách lần đầu tới Hoa Kỳ, tôi nghĩ rằng những gì mình định góp ý với Việt Nam ở đây cũng có ích cho chính nước Mỹ).

***

Tiếp xúc đầu tiên của tôi với giới chức Việt Nam là tại một sứ quán, nơi tôi đến làm thị thực nhập cảnh. Phòng chờ hoàn toàn trống không, ngoại trừ một tấm bản đồ Việt Nam dùng để trang hoàng. Không có bất kỳ tranh ảnh, sách báo nào được trưng bày. Lặng ngắt, không nhạc điệu, bài ca.

Làm sao đây để sứ quán Việt Nam lôi cuốn được mối quan tâm của du khách về đất nước, con người, về nền văn hoá Việt, mà không gây tốn kém? Nên chăng, treo lên tường những tấm ảnh đẹp của những phóng viên ảnh rực rỡ tài năng của Việt Nam? Bày lên bàn những tập sách mỏng quảng bá về du lịch? Làm đầy thinh không bằng tiếng đàn bầu réo rắt phát đi từ máy ghi âm? Tóm lại, phòng đợi ở sứ quán cần trở thành một “cổng chào” thực thụ của Việt Nam.

(Còn nếu “xông xênh” hơn về kinh phí, có lẽ nên kiến tạo một phòng trưng bày các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, hoặc một góc bày đồ cổ như bảo tàng qui mô nhỏ. Thậm chí, có thể thuê hẳn một chuyên gia Việt Nam về kiến trúc nội thất, để làm cho mọi thứ thực sự “bắt mắt”).

***

Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Hải quan, Việt Nam, du khách, du lịch, khách quốc tế, Mỹ, ấn tượng Việt Nam, tiếp viên hàng không, trà
Sân bay Nội Bài, nơi đón tiếp rất nhiều du khách quốc tế. Ảnh: Ngọc Hà

Các nhân viên phòng lãnh sự hẳn là rất thạo việc, vì họ hoàn thành thủ tục cấp thị thực chỉ mất có một ngày. Nhưng rõ ràng đã không có ai nhắc nhở rằng, còn một phần chức trách nữa của họ, đó chính là làm sứ giả chào đón du khách của Việt Nam. Trông có vẻ ảm đạm và chán chường, các cán bộ sứ quán đã chưa bày tỏ được nụ cười rực sáng và tiếng chào vồn vã đậm chất Việt Nam.

Ở bên Mỹ, thành phố nào cũng có một siêu thị gọi là Wal-Mart. Công ty khổng lồ này còn nhiều điều để phê phán, chê bai. Tuy nhiên, hễ ai sang Hoa Kỳ và bước chân vào một siêu thị Wal-Mart, sẽ gặp ngay một nhân viên  “tiếp tân” tới chào mừng. Trên lưng áo đồng phục màu xanh của người tiếp tân Wal-Mart có dòng chữ lớn: “Tôi có thể giúp ích gì cho bạn?” (How May I Help You?). Nếu bạn cần đến họ, họ sẽ chỉ dẫn ngay, vô cùng ân cần. Các nhân viên này không nhất thiết đã là người thân thiện, bản tính ưa giúp đỡ, chẳng qua họ được huấn luyện kỹ càng để bày tỏ vẻ mặt hiếu khách, nồng nhiệt cho Wal-Mart.

***

Khi sang đến Hà Nội, tôi lại gặp vẻ mặt lạnh lùng. Trước hết, lối vào nhà hành chính của sân bay đóng chặt, khiến chúng tôi phải đứng đợi ngoài mưa một lát. Rồi một công an cửa khẩu mở cửa, nhưng dĩ nhiên, không với vẻ mặt của một  “tiếp tân”. Phòng làm thủ tục nhập cảnh cũng khá là khô khan và trơ trụi, với một số công an cửa khẩu đứng ở các góc. Những cảnh tượng thế này diễn ra ở khá nhiều nơi trên thế giới. Có thể đây là liệu pháp tâm lý làm cho những kẻ “không được hoan nghênh” phải tự bộc lộ mình. Nhưng nó cũng khiến mọi người phải cảm thấy ớn lạnh.

Những tờ khai nhập cảnh không được phát khi chúng tôi còn ở trên máy bay, và không có ai tại cửa khẩu làm chức trách chỉ dẫn. Hành khách tự tìm đến các bàn bày đầy những tờ khai. Nhưng chúng đều được ghi bằng tiếng Việt, thứ tiếng tôi không biết đọc. Tôi lọ mọ từ bàn nọ sang bàn kia, lần mò đống tờ khai, nhưng than ôi, tất cả chúng đều được viết bằng tiếng Việt.

Thật may, khi còn ở trên máy bay tôi gặp một thiếu phụ Việt Nam tuyệt vời. Chị lại gần xem tôi làm ăn thế nào, và bắt đầu dịch cho tôi. Rồi chị dịch cho tất cả các hành khách nước ngoài. Nhờ có chị chúng tôi được vào Việt Nam một cách an toàn. Nhưng chúng tôi không mấy phấn khởi về khâu làm thủ tục nhập cảnh.

Giải quyết vấn đề này thì ai cũng biết là vừa dễ, vừa rẻ. In các tờ khai bằng vài thứ tiếng, như các nước khác vẫn làm. Ở đầu trang in thêm “Kính chào quý khách, Welcome, Bienvenue”. Và luôn kiểm tra để các tờ khai tiếng Anh luôn có trên các bàn tại nơi làm thủ tục.

Trộm nghĩ, sao không thể có một bóng áo dài tha thướt làm tiếp tân tại phòng đợi nhỉ, với nụ cười Việt say đắm lòng người? Nếu khâu răn đe cần phải có tại cửa khẩu để phát giác các vị khách bất hảo, nên chăng, lồng các khuôn mặt “tiếp tân” vào đây?

***

Đường vào Hà Nội dấy lên trong lòng tôi một nỗi băn khoăn mới. Vì cố ngắm những cánh đồng lúa xanh rì, đan xen những ngôi nhà ba tầng mới xây cất đẹp đẽ, mà không được. Choán lấy tầm mắt tôi là những bảng biển quảng cáo đồ sộ, nghễu ngện đứng sóng đôi cạnh nhau, làm tôi chẳng thể thưởng ngoạn cảnh đồng quê của xứ sở được tới thăm.

Đập vào mắt là vô số sản phẩm ngoài nước được long trọng quảng cáo ở Việt Nam để làm căng hầu bao các công ty quốc tế. Tôi không chống lại đầu tư nước ngoài, vì nó giúp Việt Nam tăng trưởng nhanh hơn so với việc chỉ xoay xở bằng nội lực. Nhưng Việt Nam rất giàu về vốn văn hoá dân tộc và di sản thiên nhiên, và đang phải quyết liệt tranh đấu để bảo vệ các giá trị này. Việc lối vào Hà Nội được che chắn bởi bức trường thành những tấm biển quảng cáo làm tôi tự vấn: liệu Việt Nam có cưng chiều các công ty nước ngoài hơn những đứa con mình? Phần quốc nội của nền kinh tế thể hiện ở đâu?

Rõ ràng không thể cấm đoán, hay tháo dỡ những bảng quảng cáo, bởi chưng ở bên Mỹ chúng cũng đứng đầy hai bên đường cao tốc. Nhưng nên chăng, cân nhắc kỹ về địa điểm và tương quan, sao cho việc quảng cáo phản ảnh được vị thế của các doanh nghiệp Việt Nam.

Phải chăng nhà nước nên hỗ trợ mạnh hơn việc DN Việt Nam quảng bá sản phẩm, dịch vụ của mình. Và có thể dùng ngay các bức ảnh sẵn có của Việt Nam Thông tấn xã hay Báo Ảnh Việt Nam để tạo dựng cho người nước ngoài hình ảnh đẹp về đất nước, con người, về tiềm năng nền kinh tế Việt Nam.

Thậm chí Việt Nam có thể dấn những bước đi mạnh dạn hơn. Khi Singapore giành được độc lập, quốc gia này còn nghèo hơn Việt Nam bây giờ. Nhưng quyết định ban đầu của nhà nước này là xây dựng một đại lộ có cảnh quan đẹp chạy từ sân bay về trung tâm đô thị này. Chính phủ Singapore muốn dùng con đường đặc biệt này làm cho mỗi du khách phải choáng ngợp bởi viễn cảnh mà quốc đảo này sẽ đạt tới.

Và quả thực như vậy, khi đến Singapore, điều đầu tiên tôi cảm nhận được chính là cái đại lộ diễm lệ này. Phải chăng Việt Nam cũng nên nghĩ tới một tiếp cận như vậy cho lối vào Thủ đô. Còn về lâu về dài, dự án này cần nhân rộng ra. Vì mỗi lần sang Singapore, tôi lại thấy dải xanh của thành phố được lan toả thêm. Nay quốc đảo này đã trở nên một công viên lớn, đầy bóng mát, với môi trường sinh thái được cải thiện.

***

Tôi nhận thấy khi đã ở Việt Nam, tôi được mời uống trà ở mọi nơi tôi tới, từ mái nhà tranh tới những gian đại hội sang trọng. Đây không giống như “nghi lễ thưởng trà” như ở Mỹ, trái lại, nó rất thân mật. Bạn được đón tiếp vồn vã, và còn được mời uống thêm café hay nước giải khát. Dân tộc nào cũng có thuần phong mỹ tục, nhưng tập quán tiếp khách này của người Việt vẫn thật là độc đáo.

Chẳng phải bởi con người bất cứ đâu cũng thấy rằng “tạo ấn tượng ban đầu” luôn rất quan trọng. Và nếu điều đó quan trọng với mỗi cá nhân, thì hẳn nhiên nó càng quan trọng đối với các quốc gia – đại diện cho hàng triệu cá nhân đó.

Vậy phải chăng đã đến lúc Việt Nam “pha trà đãi khách” ngay từ nơi quan khẩu?

Và phải chăng đã đến lúc thể diện của Việt Nam tại các sứ quán và sân bay lấy lại vẻ tươi tắn cởi mở, để đường đến Hà Nội lại đẹp như ngày nào.

Tác giả:Terry Borton – Người dịch: Lê Đỗ Huy

* Tên gốc bài viết của Terry Borton là “Vietnam: Warm Heart, Cold Official Face? – A Visitor’s  First Impressions”.

 

VN muốn mua vũ khí gì của Mỹ? – BBC

19 Th10

 

  • 18 tháng 10 2014

Việt Nam quan tâm máy bay tuần tra biển P3

Hoa Kỳ mới đây đã tuyên bố dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam.

Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết việc dỡ bỏ chỉ được áp dụng cho các mục đích an ninh hàng hải.

Việt Nam không tiết lộ muốn mua thiết bị gì của Mỹ.

Tuy vậy, theo chuyên gia lâu năm về Việt Nam, giáo sư người Úc Carl Thayer, Việt Nam đang muốn mua máy bay tuần tra biển P3 của Mỹ.

P3 sẽ giúp mở rộng khả năng tuần tra trên biển của Hải quân Việt Nam với thời gian lâu hơn và khả năng bao quát rộng hơn bất kỳ loại máy bay tuần tra nào Việt Nam hiện đang có.

Tuy nhiên, chưa rõ liệu P3 có được trang bị tên lửa chống tàu và chống tàu ngầm hay không. Điều này phụ thuộc vào yêu cầu trong đơn đặt hàng của Viêt Nam (nếu có) và phải được Mỹ thông qua. Đây có thể sẽ là mặt hàng ưu tiên của Việt Nam sau khi đạt được dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí của Mỹ, giáo sư Thayer nhận định.

Hải quân Mỹ đang thay thế các máy bay P3 của họ bằng loại P8 tân tiến hơn do Boeing sản xuất. Do đó, Việt Nam có thể đạt được mức giá ưu đãi hơn nếu mua các máy bay P3 đã qua sử dụng này của Mỹ.

Giáo sư Thayer cũng cho hay, các nguồn tin của Mỹ cho thấy Washington sẵn sàng bán tàu tuần tra cho Việt Nam; tuy nhiên chưa có thông tin rõ là tàu lớp nào.

Điểm nổi bật là Washington sẵn sàng bán các tàu tuần tra có vũ trang cho Hà Nội. Các quan chức Mỹ cũng cho biết đây sẽ là mặt hàng ưu tiên cho Việt Nam.

Một mặt hàng khác cũng được Việt Nam quan tâm là radar ven biển, theo giáo sư. Các radar hiện đại của Mỹ sẽ giúp tăng cường khả năng giám sát biển của Hải quân Việt Nam.

Trong khi đó, tạp chí The Economist ngày 11/10 đưa tin, với việc dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận Việt Nam có thể đặt mua máy bay do thám đã qua sử dụng của Mỹ cùng các phụ tùng cho máy bay quân sự.

Sau cuộc gặp năm 2013 giữa Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang, Hoa Kỳ và Việt Nam thiết lập quan hệ “đối tác toàn diện”

Trong tương lai, giáo sư Thayer cho rằng thậm chí Việt Nam có thể đặt mua nhiều hơn các vũ khí của Mỹ từ máy bay chiến đấu cánh quạt A-29 Super Tucano cho đến máy bay tuần tra biển P8.

Tác động lên quan hệ Việt – Mỹ

Việc dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí thể hiện sự gia tăng mức độ tin cậy lẫn nhau trong mối quan hệ Việt – Mỹ.

Điều này cũng mở ra cơ hội hợp tác sâu rộng hơn giữa hai nước, đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh quốc phòng.

Hãng tin Reuters trích dẫn một quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ cho hay đây là bước đầu tiên rất quan trọng sẽ tạo ra sự hợp tác trong tương lai.

Nếu Việt Nam sử dụng các tàu quân sự và vũ khí của Mỹ, cơ hội hợp tác giữa hải quân hai nước cũng sẽ được nâng cao khi mà việc mua bán vũ khí sẽ được thực hiện cùng với đào tạo và huấn luyện kỹ năng vận hành.

Tin liên quan

  • Một cái nhìn khác về quan hệ Việt-Mỹ
    7 tháng 10 2014
  • Ai quyết định Ngoại trưởng Minh đi Mỹ?
    7 tháng 10 2014
  • TQ và VN sẽ ‘kiểm soát tranh chấp biển’
    17 tháng 10 2014
  • VN hoan nghênh Mỹ nới cấm vũ khí
    3 tháng 10 2014

 

Các tổ chức dân sự VN: Tốt hay xấu? – BBC

16 Th9

 

Cập nhật: 10:51 GMT – thứ hai, 15 tháng 9, 2014

“Có vẻ như nhà cầm quyền hiện nay ở Việt Nam đang dùng truyền thông báo chí cố vẽ ra bộ mặt xấu xí của các hội đoàn trong xã hội dân sự tự do”

Chỉ riêng trong khoảng từ cuối năm 2013 đến nay, tại Việt Nam đã có hàng loạt các tổ chức dân sự tự do được hình thành.

 

Hiện tượng này đã thu hút được sự chú ý đặc biệt của dư luận trong và ngoài nước.

Đã có nhiều lời biểu dương tán tụng sự góp mặt của các tổ chức đó trong các sinh hoạt chính trị xã hội tại Việt Nam, nhưng cũng có cả những chê trách, thị phi, ví dụ điển hình nhất là sau những chuyện “cơm không lành, canh chẳng ngọt” trong Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam.

Vai trò của các tổ chức dân sự

Thông thường, các tổ chức dân sự vốn hoạt động trong lĩnh vực công. Nhưng nằm bên ngoài các hoạt động của nhà nước, nó đóng vai trò cốt tủy của xã hội dân sự.

Xã hội dân sự là nơi các công dân cùng nhau theo đuổi sự phát triển chung của một lĩnh vực nào đó trong cộng đồng.

Họ sinh hoạt bình đẳng với nhau, cùng nhau thảo luận và bàn bạc để tìm ra cách thức tổ chức và phát triển cộng đồng, họ bày tỏ các mối quan tâm về tư tưởng tôn giáo, chính trị, kinh tế, trao đổi thông tin, thực hiện các mục tiêu nhằm bảo vệ các lợi ích chung…

Hoạt động của các tổ chức dân sự phi chính phủ góp phần thúc đẩy xã hội phát triển cân bằng về chính trị, văn hóa, tư tưởng, thắt chặt quan hệ giữa người với người…

Đặc biệt, vì là những tổ chức có nhiều người tham gia (số lượng thường không hạn chế) cho nên tiếng nói của các tổ chức, hội đoàn trong xã hội dân sự có sức mạnh tác động đến chính sách vận hành đất nước của nhà cầm quyền trong một quốc gia.

Vậy xã hội dân sự góp phần quan trọng (không thể thiếu) bổ khuyết cho dân chủ, và thực thi công lý.

Tuy nhiên, biết được tầm quan trọng của các tổ chức, hội đoàn dân sự, nhà cầm quyền độc tài bao giờ cũng tìm cách khuynh loát, bí mật hoặc công khai điều khiển các tổ chức dân sự tự do.

“Ở VN hiện nay hàng trăm hội đoàn đều nằm trong sự quản lý của cái gọi là Mặt trận Tổ quốc”

Ở Việt Nam hiện nay đang có hàng trăm các hội đoàn, nhưng tất cả đều nằm trong sự quản lý của cái gọi là Mặt trận Tổ quốc, và bị giam lỏng trong “Nghị Định về tổ chức hoạt động và quản lý hội” (Sắc lệnh102/SL/L004 ngày 20/5/1957, văn bản mới nhất số TT-BNV 03/2013 NĐ-CP).

Các tổ chức như Công đoàn, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Bảo vệ Bà mẹ Trẻ em, Hội Nghề cá vv.., vị trí chủ tịch hội đều là do các đảng viên cốt cán của Đảng Cộng sản nắm giữ.

Các hội đoàn vì vậy đều hoạt động theo sự chỉ đạo và sự kiểm soát gắt gao của nhà cầm quyền.

Vì tình trạng trên, việc ra đời của các tổ chức dân sự tự do nằm ngoài vòng kiểm soát của chế độ, đã là một bước đột phá quan trọng, nhằm cân bằng sự phát triển của xã hội nói chung và tạo nền móng cho một xã hội dân sự đúng nghĩa.

Tuy nhiên, giống như một em bé tập đi, các tổ chức dân sự mới hình thành tại Việt Nam sẽ có những chuệch choạc, xáo trộn, thiếu thống nhất, thiếu kinh nghiệm tổ chức là điều dễ hiểu, mà câu chuyện khá ồn ào của Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam vừa qua giữa một số thành viên chủ chốt với nhau là ví dụ điển hình.

Thách thức

Bên cạnh đó, người ta không thể bỏ qua một yếu tố hết sức quan trọng, đó là sự phá hoại của chế độ độc tài, mặc dù trước áp lực quốc tế, nhà nước cộng sản không thể cấm việc thành lập các hội đoàn tự do.

Vì vậy, để ngăn chặn sự lớn mạnh của các tổ chức xã hội dân sự họ chỉ còn cách ngầm thao túng, lũng đoạn, gây bè phái chia rẽ, và làm suy yếu các tổ chức đó ngay từ lúc nó còn đang non yếu.

Những ngày còn hoạt động tại Sài Gòn, Việt Nam, người viết bài này còn nhớ rõ vào khoảng tháng 04/2008, trong một cuộc thẩm vấn của công an an ninh (TP HCM) Sài Gòn, một viên trung tá có nói: “Các anh cứ thành lập đảng đi, chúng tôi sẽ cho nhiều người của chúng tôi tham gia, sau đó chúng tôi sẽ bầu cử công khai để hạ bệ các anh xuống”.

Trong một tổ chức dân sự cụ thể, việc ai đó tham gia các hội đoàn này là tự do, do đó sẽ vô cùng đơn giản nếu nhà cầm quyền muốn đưa người của họ vào để gây rối. Vì vậy, một thực tế mà các nhà tổ chức lập hội phải đối mặt đó là, có thể có sự hiện diện của công an an ninh trong chính các tổ chức dân sự đó

Trong một tổ chức dân sự cụ thể, việc ai đó tham gia các hội đoàn này là tự do, do đó sẽ vô cùng đơn giản nếu nhà cầm quyền muốn đưa người của họ vào để gây rối. Vì vậy, một thực tế mà các nhà tổ chức lập hội phải đối mặt đó là, có thể có sự hiện diện của công an an ninh trong chính các tổ chức dân sự đó, nhất là đối với các tổ chức có khả năng (đúng hơn là tiềm năng) định hướng dư luận như Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam.

Tuy không chính thức công nhận các hội đoàn dân sự tự do hiện nay ở Việt Nam bằng văn bản, nhưng chế độ cầm quyền đang buộc phải làm lơ trước sự ra đời của hàng loạt các hội đoàn.

Đây chính mối nguy hiểm tiềm tàng với họ ngay cả khi họ đã cài cắm được người vào các tổ chức dân sự đó, một khi chính những nhân sự đó nhận thức được ra là mình đang làm một công việc không trong sáng!

Cách nay chỉ khoảng dăm năm, người ta e ngại, thậm chí sợ hãi khi nhắc đến các cụm từ “tự do”, “dân chủ”, “cộng sản”, “độc tài”.., thì ngày nay việc chấp nhận cho ra đời các hội đoàn độc lập đã là một bước lùi đáng kể của nhà cầm quyền. Và tất nhiên, đó hiển nhiên là một bước tiến của dân chủ.

Có vẻ như nhà cầm quyền hiện nay ở Việt Nam đang dùng truyền thông báo chí cố vẽ ra bộ mặt xấu xí của các hội đoàn trong xã hội dân sự tự do, nhằm ngăn cản người dân tham gia: Nào là hoạt động vì tiền hải ngoại, nào là hải ngoại giật dây, nào là tranh đua quyền lực, thậm chí ghen ăn tức ở.., nhưng chắc chắn công luận luôn biết gạn đục khơi trong và sẽ nhìn ra ngọn ngành tất cả!

Ở khía cạnh tinh thần, nếu người ta sớm thỏa mãn với việc ra đời của những hội đoàn dân sự tự do ví dụ như Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam thì quả thật là họ đã tự tin quá mức. Con đường trước mặt của xã hội dân sự Việt Nam sẽ còn nhiều khó khăn vất vả…

Mặt khác, các tổ chức dân sự tự do cũng buộc phải chấp nhận quy luật đào thải, giống như việc hình thành các công ty.

Hàng năm mỗi quốc gia có thể xuất hiện hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn công ty mới đủ loại…., nhưng cũng có thể có con số tương đương các công ty khác phải tuyên bố phá sản.

Dẫu vậy, người ta vẫn hoàn toàn có thể tin rằng: Không một thế lực nào có thể cưỡng lại sự phát triển đi lên của xã hội dân sự!

Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn của tác giả, hiện đang sống tại Sydney, Australia.

Thêm về tin này

 

 

VN rút tham tán ở Campuchia về nước – BBC

13 Th9

 

Cập nhật: 08:06 GMT – thứ sáu, 12 tháng 9, 2014

Người Khmer Krom dọa tiếp tục biểu tình

Tin cho hay Bộ Ngoại giao Việt Nam sẽ rút tham tán sứ quán Việt Nam tại Phnom Penh, ông Trần Văn Thông, về nước.

Ông Thông là người đã gây tranh cãi khi nói hồi tháng Sáu rằng miền đất Nam Bộ thuộc về Việt Nam từ lâu trước khi Pháp chuyển giao cho Việt Nam. Phát biểu của ông đã khiến một số người Khmer Krom, tức xuất xứ từ vùng này, tức giận vì cho rằng đất đai mà họ gọi là Kampuchea Krom đã bị Việt Nam thôn tính.

 

Cộng đồng Khmer Krom ở Phnom Penh đã tổ chức một số cuộc biểu tình trước tòa đại sứ Việt Nam để đòi xin lỗi, và dọa sẽ tiếp tục biểu tình cho tới khi có phản hồi chính thức của chính quyền cả Việt Nam và Campuchia.

Ông Trần Văn Thông, người nói thạo tiếng Khmer, cũng là phát ngôn viên của sứ quán.

Thứ Năm 11/9, Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Quang Vinh đã có cuộc hội kiến với Ngoại trưởng Campuchia Hor Namhong tại Phnom Penh. Tân đại sứ Việt Nam tại Vương quốc Campuchia, ông Thạch Dư, cũng có mặt.

Theo Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Campuchia Koy Kuong, vấn đề Khmer Krom đã được đề cập tới trong cuộc gặp.

Ông Koy Kuong nói với các nhà báo: “Các nhà ngoại giao Việt Nam xác nhận rằng họ sẽ gửi công hàm tới Bộ Ngoại giao Vương quốc Campuchia về việc rút người phát ngôn sứ quán về nước”.

Ông không giải thích rõ lý do, nhưng nói theo thông lệ ngoại giao quốc tế, hành động rút nhà ngoại giao thường xảy ra khi có vấn đề gì đó.

BBC đã tìm cách liên lạc với sứ quán và ông Trần Văn Thông nhưng không được.

Vẫn biểu tình

 

‘Nam Bộ là lãnh thổ không thể tách rời của VN’

00:03:56

Tham tán chính trị Đại sứ quán Việt Nam tại Phnom Penh Trần Văn Thông nói cuộc biểu tình trước sứ quán hôm 8/7 là ‘trái pháp luật’.

Nghemp3

Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.

Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

Quyết định rút ông tham tán về nước được cho là có thể giải tỏa phần nào căng thẳng xung quanh phát biểu của ông.

Tuy nhiên, một số nguồn tin nói ông Trần Văn Thông cũng sắp mãn hạn phục vụ tại Campuchia.

Các nhà tổ chức biểu tình Khmer Krom thì nói việc này không giúp ngăn chặn được kế hoạch biểu tình họ đã hoạch định vào đầu tháng tới.

Đại diện cộng đồng Khmer Krom ở Phnom Penh nói với BBC cuộc biểu tình lớn dự tính sẽ được tổ chức từ 1/10-5/10 và họ đang làm thủ tục xin phép chính quyền.

Tuy nhiên, một nhà tổ chức nói: “Nếu không có phép chúng tôi vẫn làm”.

Trong khi đó, Việt Nam khẳng định “lập trường của Việt Nam rõ ràng và nhất quán” về các cuộc biểu tình của người Khmer Krom.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình được báo điện tử VnExpress dẫn lời nói hôm 11/9: “Việt Nam đề nghị chính quyền Campuchia có các biện pháp hữu hiệu ngăn chặn các hoạt động sai trái, không phù hợp với quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa Việt Nam và Campuchia”.

Thêm về tin này

 

 

‘Lãnh đạo VN cần biết rõ bạn và thù’ – BBC

6 Th9

 

Cập nhật: 13:23 GMT – thứ năm, 4 tháng 9, 2014

Kiến nghị nói Việt Nam nên kết bạn với các nước phương Tây từng là cựu thù

Chính quyền Việt Nam phải giải trình cho người dân rõ về những gì mà họ đã ký kết với Trung Quốc tại Hội nghị Thành Đô cách nay hơn 20 năm, một số vị tướng tá về hưu trong quân đội và công an Việt Nam vừa lên tiếng.

Đây là một trong bốn điểm mà 20 vị tướng tá ký tên vào bản kiến nghị đề ngày 2/9 gửi đến Chủ nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu.

 

Trao đổi với BBC, Đại tá Bùi Văn Bồng, người từng là cán bộ cao cấp trong báo Quân đội nhân dân, đã xác nhận tính xác thực của bản kiến nghị này.

Ông Bồng cũng bình luận về những đồn đoán liên quan tới nội dung thỏa thuận giữa hai bên từ Hội nghị Thành Đô.

“Chủ quyền đất nước là của toàn dân chứ không phải của các nhà lãnh đạo Đảng,” ông nói, “Cho nên với cương vị lãnh đạo Đảng mà quyết định vận mệnh, lãnh thổ quốc gia là sai hoàn toàn.”

“Hội nghị Thành Đô vẫn đang là một tấm màn bí mật,” ông nhận định.

“Từ khi hội nghị Thành Đô xong, hầu như đường lối đổi mới của Đảng xoay chuyển hẳn. Trong 24 năm vai trò của Đảng ngày càng yếu, uy tín kém đi.”

 

“Đảng phải giải trình về hội nghị Thành Đô’

00:09:20

Đại tá Bùi Văn Bồng nói lý do ông và các cựu tướng tá khác có kiến nghị 4 điểm với các lãnh đạo Việt Nam.

Nghemp3

Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.

Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

Kiến nghị được đưa ra vào lúc này, theo ông Bồng, là nhân lúc Đảng đang chuẩn bị văn kiện cho Đại hội 12 để đóng góp ý kiến cho Đảng.

Ngoài điểm về Hội nghị Thành Đô, các vị cựu tướng tá còn thúc giục giới lãnh đạo cam kết cho điều họ gọi là “không được dùng quân đội và công an đàn áp nhân dân, ghi nhận thỏa đáng sự hy sinh của các thương binhh liệt sỹ trong cuộc chiến năm 1979 với Trung Quốc, và xác định chính xác bạn và thù.”

“Chúng tôi (những người ký kiến nghị) muốn có sự đổi mới trong các lãnh đạo sao cho có dân chủ, có lợi cho dân và đúng với bản chất truyền thống của quân đội và công an,” ông Bồng nói.

‘Kẻ thù truyền kiếp’

Quân đội Việt Nam phải trung thành với Đảng theo quy định Hiến pháp

Ông giải thích là những vấn đề nêu lên trong các kiến nghị là ‘bức xúc từ lâu lắm rồi’, nhất là việc công an và quân đội được trưng dụng để ‘đàn áp dân’ trong các vụ cưỡng chế thu hồi đất.

Về kiến nghị xác định rõ ràng bạn thù, ông Bồng nói ông không rõ quân đội Việt Nam hiện nay xác định bạn thù như thế nào nhưng bản thân ông cho rằng ‘Trung Quốc là kẻ thù truyền kiếp của Việt Nam vì họ luôn lăm le xâm lược Việt Nam’.

“Pháp với Mỹ là kẻ thù của thời loạn, của hoàn cảnh thế giới nằm trong kế hoạch của các nước tư bản đế quốc một thời,” ông nói thêm.

Hội nghị Thành Đô 1990

Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng hoan nghênh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười thăm Thành Đô, Tứ Xuyên từ ngày 3 đến ngày 4/9 năm 1990, họ cũng hoan nghênh Cố vấn Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng cùng đi.

Bản kiến nghị thu hút được 20 chữ ký của các tướng tá về hưu, đứng đầu là Trung tướng Lê Hữu Đức, cựu cục trưởng Cục Tác chiến Bộ Tổng Tham mưu.

Ngoài ra còn có năm vị thiếu tướng quân đội khác cũng tham gia ký tên, bao gồm các ông Trần Minh Đức, cựu phó tư lệnh Hậu cần ở Thừa Thiên-Huế, Huỳnh Đắc Hương, cựu tư lệnh kiêm chính ủy Quân tình nguyện Việt Nam tại Lào, Lê Duy Mật, cựu tư lệnh kiêm phó tham mưu trưởng Quân khu 2, Bùi Văn Quỳ, cựu phó tư lệnh chính trị Bộ đội Tăng-thiết giáp và Nguyễn Trọng Vĩnh, cựu chính ủy Quân khu 4, cựu đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc.

Đại tá Bồng nói rằng 20 chữ ký này ‘chỉ là sự tập hợp điển hình’ bởi vì các ông ‘không có thời gian kêu gọi vận động mọi người’.

“Trong tâm tư của các cựu chiến binh thì họ ủng hộ đông lắm nhưng khi lên tiếng ủng hộ thì họ sợ sệt thế này thế kia. Có khi bị cho là suy thoái tư tưởng,” ông Bồng nói.

Xem thêm tư liệu không phải của BBC về ‘Bấm Hội nghị Thành Đô 1990‘.

Thêm về tin này

 

 

VN: ‘Nhóm lợi ích’ không bảo thủ? – BBC

26 Th8

 

Cập nhật: 14:24 GMT – thứ hai, 25 tháng 8, 2014

Bài của ông Phạm Chí Dũng (phía trên hình) thu hút nhiều ý kiến

Hai bài viết của tác giả Nguyễn An Dân và bài viết của tác giả Phạm Chí Dũng mới đây trên BBC đã gây ra sự tranh luận ồn ào và thú vị về các luồng quan điểm.

Tôi cũng thấy có nhiều nội dung tham gia bàn luận của các thành viên Hội Nhà Báo Độc Lập.

 

Trong đó có hai ý kiến bày tỏ nghiêm túc của hai hội viên theo tôi đánh giá là có uy tín cao trong dư luận, đó là ý kiến của nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh và của Linh mục Lê Ngọc Thanh.

Xin phép chia sẻ với hai quan điểm này trước hết

Phản biện đáng quý

Trước tiên, tôi thấy rằng các hội viên HNBĐL đã thể hiện tình đoàn kết trong lúc này, rất đáng quý. Cái đáng quý hơn nữa là bài viết phản biện của ông Nguyễn An Dân được BBC Việt Ngữ, trang Việt Nam Thời Báo – cơ quan ngôn luận và các trang mạng cá nhân của các thành viên trong Hội đăng lại.

Qua đó giúp dư luận thấy rõ lợi ích như Linh Mục Lê Ngọc Thanh nói, đó là phía nào cũng tôn trọng tính đa nguyên trong báo chí độc lập. Đó là cái được lớn nhất mà cộng đồng cần lúc này.

Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh có nói đồng tình và chưa đồng tình một số điểm trong cả các bài viết của cả Nguyễn An Dân lẫn Phạm Chí Dũng. Đây là sự thẳng thắn đáng quý của người làm báo. Nhất là ông công khai bày tỏ việc không đồng tình cái này, cái kia trong các bài viết của ông chủ tịch hội mà ông đang tham gia. Rất hoan nghênh tinh thần này của nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh.

Ông Chênh đã tán thành quan điểm của Ông Dân về việc ở Việt Nam không có khái niệm phe lợi ích.

Chính khách có quan điểm chính trị nào đó và việc họ tham nhũng khi cầm quyền là hai phạm trù tách bạch không liên quan đến nhau.

Phe nào thì ông nào cũng giàu như nhau, cái khác chăng giữa họ là thái độ ứng xử trong các tình huống chính trị, qua đó quần chúng mới tạm quy ra phe cải cách và phe bảo thủ.

Chính khách có quan điểm chính trị nào đó và việc họ tham nhũng khi cầm quyền là hai phạm trù tách bạch không liên quan đến nhau.

Chúng ta có thể thấy rõ qua nhiều ví dụ, như vừa rồi tổng thống Nicholas Sarkozy, người có tư duy dân chủ ở Pháp, một đất nước có nền dân chủ tốt, cũng bị tạm giữ để điều tra cáo buộc tham nhũng.

Như vậy tham nhũng và dân chủ có thể đồng hành được trong một chính khách.

Do đó tách bạch ra hai phe lợi ích và bảo thủ như Ông Dũng nói là không đúng về mặt lý luận thực tiễn.

Như vừa qua công an Việt Nam đang cho điều tra các vụ việc có nghi vấn tham nhũng – bao che lợi ích nhóm mà theo dư luận cho là “có liên quan đến một số cá nhân trong phe bảo thủ”.

Nếu các nhân vật trong phe bảo thủ đó cương quyết làm rõ các vụ này khi đang nắm chức vụ, thì nó có lùm xùm kéo dài qua nhiều năm hay không ? Hai ông này ở phe nào, hay là vừa bảo thủ vừa lợi ích.

Nói “phe bảo thủ đang thanh trừng “phe lợi ích” nghe giống như việc họ tự thanh trừng..chính họ.

Công dân và hội đoàn

Ông Phạm Chí Dũng (trái) hiện là Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập ở Việt Nam

Việc ông Huỳnh Ngọc Chênh nói nếu thành viên nào đó trong Hội Nhà báo Độc lập ‘thiên về phe bảo thủ’ thì cũng không ảnh hưởng đến tính độc lập của Hội là đúng…một nửa.

Đúng một nửa vì là nhà gì thì cũng là công dân và hoàn toàn có quyền thiên về một quan điểm chính trị hay một phe phái nào đó.

Nhưng nửa còn lại là sai, khi không viết báo, ai cũng có quyền thực hiện những việc ủng hộ phe nhóm theo ý mình, nhưng khi viết trong tư thế nhà báo càng phải có trách nhiệm nghề nghiệp.

Viết và nhận định các sự kiện theo sự thật khách quan, lý luận phải có cơ sở, thông tin phải có nguồn gốc rõ ràng.

Theo tôi thì bài báo ‘Đả hổ đập ruồi’ đã thiếu đi các tính chất đó. Như nói là phe bảo thủ có công trong việc nâng tầm quan hệ Việt-Mỹ lên quan hệ hàng đầu nếu có đúng thì cũng thiếu.

Việc bỏ quên đã không nói ra phe này còn đang giữ quan hệ anh em với Trung Quốc là thiếu.

Ông Chênh viết,

“Nếu trong thực tế, phe bảo thủ không có động thái hoặc không có mong muốn cải thiện quan hệ ngoại giao với Mỹ thì liệu những bài báo của anh Dũng có ích lợi gì cho phe bảo thủ?”

Đặt vấn đề này rất hay. Lợi ích gì nếu có, thì chỉ có phe bảo thủ biết. Tuy nhiên tôi có thể góp một ý là, nó có thể làm nhân dân bị phe bảo thủ mê hoặc vào các bước đi thân Mỹ nửa vời của phe này và ủng hộ thiếu khách quan trong cuộc đua nắm quyền tại Đại hội Đảng 12 tới.

Coi chừng nhân dân bị hố nặng vì chả có thay đổi gì trong quan hệ Việt-Trung khi phe bảo thủ vì có nhân dân ủng hộ mà thắng thế.

Phe nào đang kềm chế việc phá vỡ quan hệ anh em của Việt Nam với Trung Quốc – đúng hơn là quan hệ huynh đệ giữa hai đảng cộng sản Trung – Việt – qua việc chưa phê chuẩn việc khởi kiện Trung Quốc, cũng như vẫn cử phái đoàn cao cấp qua Trung Quốc học tập trong khi có giàn khoan, mà lại là phái đoàn của Ban bảo vệ nội bộ trung ương.

Chúng ta không hiểu thực tế bên trong đảng mà chỉ nghe những gì họ nói để nhận định ai ở phe nào.

Việc một ông thủ tướng nói “không chấp nhận hòa bình hữu nghị, viễn vông, lệ thuộc” và việc một ông tổng bí thư “im lặng là vàng” trong suốt vụ giàn khoan, sẽ làm nhân dân cảm nhận điều gì và đánh giá gì?

Trong vấn đề Trung Quốc, ngay cả nói thì chỉ có ông thủ tướng dám nói thẳng, ông Chủ tịch nói một phần, còn ông Tổng Bí Thư thì im lặng hoàn toàn khi bắt đầu vụ giàn khoan.

Phe nào đang kềm chế việc phá vỡ là quan hệ huynh đệ Trung – Việt?

Nói mà còn không nói được, thì liệu có hi vọng là sẽ làm gì hay không?

Với chính khách, yêu cầu là nói và làm đi đôi, nó khác với dân chúng có thể không nói mà làm.

Ngay như Hội Nhà báo Độc lập, dù có nhiều cái mà Hội chưa đạt đến vì mới thành lập, nhưng chính ông chủ tịch cũng phải nói trước “Hội sẽ thế này, Hội mong muốn thế kia…” đó thôi, còn làm được hay không, là vấn đề khác nữa. Đó chính là cái cần chú ý.

Cá nhân và tổ chức

Trong bài viết của mình, linh mục Lê Ngọc Thanh phản biện bài viết của tác giả Nguyễn Quang (bài viết “Nhà báo độc lập hay nhà báo…độc hại” đăng trên trang Tin Tức Hàng Ngày) thì tôi chưa bàn lúc này.

Tôi chỉ tham gia góp ý phần nội dung của linh mục Thanh khi phản biện ông Dân có xu hướng chỉ trích cá nhân theo kiểu “bỏ bóng đá người” khi dẫn ra tư thế chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập, trong khi anh Phạm Chí Dũng viết bài trên tư cách cá nhân.

“Cách thức kéo nhân thân ra để đánh ngã đối thủ còn thấy ở ông Nguyễn An Dân viết trên BBC tiếng Việt:

“Điều này vừa sai vừa ủng hộ bảo thủ, cả hai điều đều phản lại tính chất độc lập của một nhà báo độc lập, lại là Chủ tịch Hội Nhà Báo Độc Lập” Xin các nhà báo hãy tranh luận cách trong sáng, đừng mang một tiêu chuẩn do mình định ra rằng độc lập phải thế này, chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập phải thế kia để đánh giá người khác về quan điểm.”

Linh mục Thanh nói thế là đúng nhưng thiếu, vì ở đây có độc lập cá nhân và độc lập tổ chức.

Linh mục Thanh (bìa phải) nói thế là đúng nhưng thiếu, vì ở đây có độc lập cá nhân và độc lập tổ chức

Nếu là một nhà báo tự do, không là thành viên của tổ chức nào, nhà báo ấy có quyền tự do trong bày tỏ tư duy và quan điểm, nhưng khi là thành viên của một tổ chức, cần chú ý những gì mình viết ra (hành nghề) có gây ảnh hưởng cho tổ chức hay không?

Khi đã tham gia vào tổ chức, thì độc lập tổ chức phải đặt trên độc lập cá nhân. Tự do cá nhân nhưng ảnh hưởng không tốt cho tổ chức thì không tổ chức nào tán đồng. Lãnh đạo là tấm gương, không chỉ khi ở trụ sở, mà ngay cả khi sinh hoạt, hành động hàng ngày cũng cần chuẩn mực.

Bà nông dân có thể chửi thề khi dạy con ít ai trách, bà chủ tịch hội phụ nữ chửi thề khi dạy con, người ta trách chứ.

Ông Phạm Chí Dũng khi trích dẫn các phát biểu của các quan chức, chuyên gia trong bối cảnh, chỉ trích dẫn ra một phần phát biểu trong bối cảnh để rồi đưa ra đánh giá cho kết quả toàn diện bối cảnh, thế là không khách quan – là một nửa sự thật chứ gì nữa

Trên tư cách một người lâu nay ủng hộ ông Phạm Chí Dũng, tôi trông mong một lời cáo bạch chính thức đến bạn đọc của ông Phạm Chí Dũng, đúng tư thế một nhà báo cần làm khi nêu ra vấn đề sai dù sau đó âm thầm nhờ sửa nhưng bài đã đăng rồi. Đó là trách nhiệm nêu gương cần có của một nhà báo và lãnh đạo một hiệp hội nhà báo.

Cũng nói như linh mục Thanh, hình như đang có nhiều quan điểm khác nhau về nhà báo độc lập, vậy xin hỏi dư luận, các tiêu chuẩn về danh hiệu nhà báo độc lập là gì?

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả ký bút danh là Trần Văn Hải từ Hà Nội.

Thêm về tin này

 

 

VN trước trò chơi bá quyền của TQ

15 Th8

 

 

Nhỏ không có nhất thiết là yếu và lớn không đồng nghĩa với mạnh. VN có thể có sức mạnh và ảnh hưởng nếu biết cách sử dụng sức mạnh mềm – TS Nguyễn Hùng Sơn.

LTS: VietNamNet trân trọng giới thiệu phần cuối  của Bàn tròn trực tuyến TQ trỗi dậy và lựa chọn nào cho VN?

Kỳ 1: Vì sao không ai muốn TQ giành địa vị thống trị?

Kỳ 2:Mỹ khiến TQ hiếu chiến hơn ở Biển Đông?

Làm sao buộc TQ tuân thủ cam kết?

Nhà báo Việt Lâm: Đại sứ Bindenagel đã nhấn mạnh rằng phải đảm bảo luật lệ số một ở Biển Đông là không thay đổi các đường biên bằng vũ lực. Nguyên tắc này đã được quy định trong luật pháp quốc tế như Công ước LHQ về Luật Biển, hay trong Tuyên bố chung DOC ký giữa ASEAN và Trung Quốc. Nhưng thực tế cho thấy, dù TQ là một bên tham gia cam kết, họ vẫn sẵn sàng phớt lờ, thậm chí vi phạm chúng. Theo các khách mời, có cách nào để giải quyết thách thức có lẽ là lớn nhất hiện nay, đó là làm sao để buộc TQ tuân thủ luật chơi chung?

TS Nguyễn Hùng Sơn: Tôi nghĩ đây là một câu hỏi gai góc. Bởi vì đối với TQ, rất khó để buộc họ tuân thủ một điều gì đó trừ phi chính họ nhận thấy lợi ích của họ sẽ được đảm bảo tốt nhất nếu họ tôn trọng các cam kết này.

biển Đông, TQ, VN

Từ trái qua phải, TS Nguyễn Hùng Sơn, Viện phó Viện Biển Đông, cựu Đại sứ Mỹ tại Đức JD Binnadel và nhà báo Việt Lâm. Ảnh: Lê Anh Dũng

Chẳng hạn như phải làm sao để thuyết phục TQ rằng tuân thủ UNCLOS có lợi cho chính họ. Chúng ta có thể nói với TQ rằng sự tăng trưởng kinh tế thần kỳ của nước này dựa trên sự bùng nổ của thương mại toàn cầu và điều này sẽ không thể xảy ra nếu các đại dương rơi vào hỗn loạn, nếu luật biển không được các quốc gia tôn trọng và nếu như không có tự do lưu thông hàng hải. Do vậy, Trung Quốc phải nhận thức được rằng chính lợi ích quốc gia lâu dài của họ đòi hỏi họ phải bảo đảm tự do hàng hải và trật tự trên biển cũng như duy trì nguyên trạng trật tự dựa trên luật lệ hiện nay.

Tôi tin rằng TQ không tư duy chỉ với một bộ óc. Còn có những người dân TQ, những người thực sự hiểu Luật Biển, những người thực sự hiểu và nhận thấy lợi ích quốc gia của TQ trong việc hội nhập đầy đủ với cộng đồng quốc tế.

Tuy nhiên, có những nhóm lợi ích khác ở TQ, chẳng hạn như nhóm diều hâu, họ theo đuổi những lợi ích ích kỷ của nhóm mình thay vì lợi ích quốc gia. Họ đang tạo ra trò chơi ngắn hạn của nhóm mình dựa trên tổn thất của đất nước về lợi ích và hình ảnh. Chúng ta cần chỉ cho người TQ thấy điều đó. Và một khi TQ nhận ra được điều đó, tôi tin là họ có thể hành xử khác đi.

Đại sứ Bindenagel: Tôi cho rằng dẫn chứng mà TS Sơn vừa nêu ra rất hữu ích. Sau cùng thì ngoại giao vẫn còn cơ hội. Sứ mệnh của ngoại giao là nhận diện những lợi ích đó và sắp xếp sao cho có kết quả đúng.

Hãy xem sự thịnh vượng kinh tế của TQ kể từ thời Đặng Tiểu Bình. Rõ ràng, chính việc gia nhập WTO đã góp phần quan trọng tạo nên kì tích này. Thế nhưng dù TQ đã tham gia WTO song tình trạng vi phạm bản quyền sở hữu trí tuệ vẫn thường xuyên diễn ra. Đến một lúc nào đó, sở hữu trí tuệ ở TQ sẽ phát triển đến mức mà Chính phủ TQ buộc người dân phải tuân thủ cam kết. Đây chính là những động lực mà tôi nghĩ chúng ta cần phải tạo ra khi ứng phó với TQ.

Do đó, Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP có thể đóng vai trò quan trọng trong tiến trình này. Khi TPP được thông qua, nó sẽ tạo ra một thị trường rộng lớn với hơn 800 triệu người tiêu dùng. Và chúng ta phải chỉ ra cho họ thấy lợi ích của họ, chỉ ra sự liên quan đến những vấn đề khác, chẳng hạn chỉ ra họ có các quan hệ kinh tế xuyên Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và WTO và những lợi ích đó đang bị thách thức bởi những gì xảy ra ở Biển Đông, tuyến đường biển của 60-80% thương mại toàn cầu. Làm thế nào chúng ta có thể liên hệ những lợi ích của họ đến nhu cầu giải quyết các tranh chấp lãnh thổ một cách hoà bình.

Vậy chúng ta có thể làm được điều đó thông qua con đường ngoại giao như thế nào? Làm sao định hình một cấu trúc khả thi cho phép xoay chuyển các lợi ích hướng đến một kết quả đúng đắn?

Đây cũng là chủ đề mà Diễn đàn Toàn cầu Boston đang tập trung bàn thảo hiện nay. Nhưng để làm được điều đó, đòi hỏi sự minh bạch và phải dứt khoát bác bỏ những yếu tố mang hơi hướm ý thức hệ hay dân tộc chủ nghĩa.

Nếu chúng ta có thể gắn kết lợi ích với các nguyên tắc, chúng ta sẽ gây dựng được nền tảng cho một cấu trúc khả thi để đảm bảo an ninh trong khu vực.

biển Đông, TQ, VN 

Sau mỗi bài học, ASEAN trưởng thành hơn

Nhà báo Việt Lâm: Thế thì diễn đàn nào sẽ là nơi thích hợp để bàn thảo những vấn đề này đây? Theo các ông, ASEAN và các cơ chế của nó có còn thích hợp để thảo luận ứng xử với TQ khi mà những sự kiện vừa qua ở Biển Đông cho thấy ASEAN đã không thể hiện được sự đoàn kết và quyết tâm mạnh mẽ khi đối diện với TQ. Đây cũng là nội dung câu hỏi của bạn đọc Linh Xuân.

Đại sứ Bindenagel: Tôi cho rằng cấu trúc của ASEAN chưa đủ trưởng thành. Nhưng mặt khác tôi cũng sẽ không bác bỏ cấu trúc đó. Tôi sẽ nói rằng bạn cần phải quay về với ASEAN và thúc đẩy các cuộc thảo luận cùng nhau. Còn Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á lại là một cơ cấu khác, vì đây là một nhóm lớn hơn. Ngoài ra, chúng ta có thể giải quyết song phương. Có rất nhiều vấn đề bạn có thể giải quyết song phương trong khuôn khổ đa phương.

Về phần Mỹ, trong các cuộc thảo luận với TQ, chúng tôi luôn nhấn mạnh rằng chúng tôi có thể hỗ trợ tìm kiếm các giải pháp hoà bình cho những tranh chấp hiện nay. Chúng tôi cũng làm rõ quan điểm rằng một số hành động khiêu khích đã vượt quá giới hạn.

Tôi nghĩ là ASEAN có thể làm rõ điều đó, rằng đâu là giới hạn không được vượt qua. Hi vọng rằng sẽ không có cuộc khủng hoảng nào xảy ra ở Biển Đông. Nhưng theo thời gian, chúng ta có thể xây dựng sự hiểu biết và cởi mở cho phép ASEAN có thể có những bước đi chưa từng có trước kia.

TS Nguyễn Hùng Sơn: Tôi nghĩ có những chỉ trích đối với ASEAN là bởi  người ta đặt quá nhiều kỳ vọng vào tổ chức này. Thử tưởng tượng xem nếu không có ASEAN thì sao? Đâu sẽ là nơi để bạn thảo luận DOC? Đâu là nơi để thúc đẩy an ninh hàng hải ở Đông Nam Á.  

Trong bối cảnh mà ngoại giao có vai trò quan trọng để ngăn ngừa những tính toán sai lầm và tăng cường hợp tác, liệu những điều đó có thể xảy ra không khi thiếu vắng những cơ chế mà ASEAN đã tạo ra. Vì thế, tôi không phủ nhận sự thực rằng ASEAN đã không đủ khả năng ngăn chặn một số vụ việc xảy ra trên biển Đông, nhưng sau mỗi sự vụ, ASEAN đã học được bài học nào đó và trở nên tiến bộ hơn.

Lấy ví dụ ngay sự kiện giàn khoan vừa qua, ASEAN đã ra tuyên bố mạnh mẽ nhất trong 20 năm trở lại đây khi chỉ trích đích danh TQ đã gây ra vụ việc. Và không chỉ với tư cách một nhóm, từng thành viên ASEAN cũng đã thúc đẩy chính sách Biển Đông của họ theo hướng làm sao để trở thành người chơi tích cực hơn, đóng góp vào việc duy trì hoà bình trên Biển Đông.

Đặc biệt ngay cả những nước không có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông cũng đóng góp vào tiến trình này. Ví dụ, Thái Lan và Myanmar, cũng đã đóng góp rất tích cực để thúc giục ASEAN đạt được một tuyên bố chung với TQ. Dĩ nhiên, không có gì xảy ra ngay sau một đêm, chúng ta cần kiên nhẫn với ASEAN. Cho họ thời gian và họ sẽ trưởng thành.

Đại sứ Bindenagel: Cùng với sự tham dự của Mỹ?

TS Nguyễn Hùng Sơn: Đúng vậy. Đó cũng là một trong những mục đích của ASEAN.

Đại sứ Bindenagel: Tôi hiểu điều đó. Tôi tin rằng Mỹ có lợi ích khi hiện diện ở khu vực này, đồng thời chúng tôi cũng có lợi ích khi các điểm nóng ở đây được giải quyết một cách hòa bình. Và nếu bây giờ chưa giải quyết được thì chí ít cấu trúc mà chúng ta đang đề cập đến sẽ cho phép các chính phủ hoặc giới doanh nghiệp sử dụng các kênh ngoại giao để tìm kiếm các cách thức thay đổi thực trạng theo hướng tích cực hơn.

Tuy nhiên, tôi muốn bổ sung một cách thận trọng rằng ngoại giao nếu không có thực lực quân sự hỗ trợ thì cũng giống như một dàn giao hưởng không có nhạc cụ. Tôi không nói rằng cần phải sử dụng sức mạnh quân sự, nhưng bạn cần phải có năng lực để buộc đối phương tôn trọng cam kết. Chuẩn bị cho xung đột chính là cách hữu hiệu để ngăn ngừa xung đột.

biển Đông, TQ, VN 

Phối hợp nhuần nhuyễn song phương và đa phương

Nhà báo Việt Lâm: Đây là một luận điểm khá thú vị. Vậy ông nghĩ sao về đề xuất của một số học giả Mỹ tại cuộc hội thảo của Diễn đàn Toàn cầu Boston tuần trước, rằng Mỹ cần phải hỗ trợ từng nước ứng phó với áp lực từ TQ?

Đại sứ Bindenagel: Không, tôi không đồng ý với quan điểm này. Tôi nghĩ rằng điều quan trọng là các bên tham gia tranh chấp giải quyết song phương với TQ, bên cạnh việc tận dụng các kênh đa phương. Trong trường hợp của Việt Nam và TQ, hai bên cần có các cuộc đối thoại song phương ở các cấp độ khác nhau trong chính phủ nhằm đảm bảo rằng các bên không tính toán sai lầm.

Về lâu dài, các cuộc đối thoại song phương cần có sự tham gia của các nhóm khác nhau, có thể là các think-tank như Học viện Ngoại giao, giới doanh nhân, quân đội. Những nhóm này có thể ngồi lại với nhau để bàn thảo về các kịch bản có thể xảy ra, khả năng nào là khả thi, kết quả có thể là gì?

Tôi đã từng tham gia đàm phán giải quyết vấn đề kim cương máu [1] giữa cộng đồng doanh nghiệp và các nhóm đấu tranh xã hội. Các nhóm này gần như đã phá hủy ngành công nghiệp kim cương. Nhưng đến cuối cùng họ đã ngồi lại với nhau và cùng thảo luận xem kết quả tốt nhất có thể đạt được là gì. Hai bên cùng đồng ý thiết lập hệ thống chứng nhận nguồn gốc để kiểm soát kim cương, nhờ đó số lượng kim cương từ vùng chiến sự đã được giảm hẳn và gần như loại bỏ ra khỏi thị trường. Tất nhiên, tôi không tin rằng các quốc gia có thể đàm phán song phương thành công với TQ bởi sự chênh lệch về vị thế và thực lực. Do đó, như tôi đã nhấn mạnh, cần phải có sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa song phương và đa phương. Nhưng không phải là tham gia liên minh chống TQ. Như tôi nói ngay từ đầu, Mỹ và VN sẽ không thành lập liên minh để chống TQ. Điều đó sẽ không hiệu quả.

TS Nguyễn Hùng Sơn: Tôi đồng ý với ý kiến của ông Đại sứ là không thể có một cấu trúc đơn lẻ nào giúp giải quyết mọi vấn đề. Tôi nghĩ rằng khả thi hơn cả là một kiến trúc an ninh khu vực, như chúng tôi thường gọi, trong đó bao gồm các cơ chế song phương và đa phương phục vụ cho các nhóm người chơi khác nhau. Các cơ chế này có thể có nhiều hình thức, chính thức hoặc không chính thức, miễn sao chúng giúp loại bỏ những mơ hồ, thiết lập một tầm nhìn và  nhận thức rõ ràng trong các tay chơi. Đấy là lý do vì sao ASEAN với tư cách một người chơi quan trọng trong khu vực đã ra sức thúc đẩy việc hình thành một khuôn khổ nhiều tầng nhiều lớp, với nhiều tiến trình đa phương mà ở đó các quyền thành viên khác nhau, mục đích khác nhau. Đôi khi, những cơ chế này bị chỉ trích là chồng lấn lên nhau, song theo quan điểm của ASEAN, chúng phù hợp với lợi ích đa dạng của các nước trong khu vực cũng như giúp bình ổn một khu vực đang có rất nhiều bất ổn.

Nhà báo Việt Lâm: Vâng, nhân đây độc giả có một câu hỏi dành cho TS Nguyễn Hùng Sơn. Chúng ta thấy rằng để ứng phó với sự trỗi dậy của TQ, nhiều nước vừa và nhỏ trong khu vực đã điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình, vận động khôn khéo để tạo cân bằng và giành lợi thế. Còn VN thì sao?

TS Nguyễn Hùng Sơn: Trước hết, tôi phải nói rằng nhỏ không hẳn là yếu và lớn không nhất thiết là mạnh. Cho dù có diện tích lớn như Trung Quốc thì điều đó cũng không có nghĩa rằng Trung Quốc rất mạnh. Bản thân TQ đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề nội tại, và theo một cách nào đó thì TQ vẫn có nhiều điểm yếu. Và VN, cho dù là một nước nhỏ cũng không có nghĩa là chúng ta yếu. Chúng ta có thể có sức mạnh và ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế nếu VN biết cách sử dụng sức mạnh mềm. Hãy nhìn vào Singapore, một nước nhỏ như vậy nhưng không ai dám nói rằng họ yếu ớt về mặt chính trị. Họ đã thể hiện được sức mạnh vượt ra ngoài tầm vóc của họ.

Vậy thì đâu là lựa chọn cho VN? Tôi nghĩ lựa chọn của VN là đi với cộng đồng quốc tế và được cộng đồng quốc tế bảo vệ. Điều đó có nghĩa rằng chúng ta phải hội nhập và hợp tác đầy đủ với cộng đồng quốc tế. Chúng ta nên ủng hộ những luật chơi mà cộng đồng quốc tế đã tán thành, đó là luật pháp quốc tế. Chúng ta nên nỗ lực ủng hộ việc thực thi luật pháp quốc tế. Cụ thể là chúng ta nên làm rõ và diễn giải luật pháp quốc tế trong bối cảnh ở Biển Đông, cũng như thúc đẩy cho cách thức diễn giải đó được tất cả các quốc gia trong khu vực, trong đó có TQ, chấp thuận.

Chúng ta cần đóng góp làm cho ASEAN mạnh lên và có tiếng nói mạnh mẽ trên sân khấu quốc tế. Nếu ASEAN có thể gây ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế trong khu vực, khi đó VN cũng sẽ có vị thế và ảnh hưởng tốt hơn. Tôi tin rằng đây là cách tiếp cận mà VN, với tư cách là một nước vừa/nhỏ, nên cân nhắc trong bối cảnh một thời đại mà người ta đang phải chứng kiến ngày càng nhiều các trò chơi bá quyền.

Đại sứ Bindenagel: Tôi thích cách mô tả này. Nhưng tôi muốn thêm vào một chút, là VN có thể mở rộng đến tầm toàn cầu. Các bạn có Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, có WTO. Chỉ riêng trong những tổ chức này, vai trò mà VN có thể đóng góp sẽ thực sự có ý nghĩa quan trọng bởi những tổ chức này đã thiết lập được một khung luật chơi.

Tất nhiên đây là những vấn đề khó đối với VN. Bởi để có tiếng nói và vị thế toàn cầu, VN cần phải cải tổ nền kinh tế, lắng nghe người tiêu dùng toàn cầu để hiểu được nhu cầu của họ là gì. Đảm bảo rằng các nguy cơ trong chuỗi cung ứng mà các bạn tham gia được giải quyết. Bởi nếu không, khả năng xảy ra những vụ bê bối như vụ các nhà máy thực phẩm cung ứng hàng kém chất lượng cho KFC hay Mc Donald ở TQ sẽ hủy hoại tất cả.

Bất kể vị trí nào mà VN muốn giành được trong chuỗi cung ứng này thì tên tuổi và thương hiệu của VN cũng phải gắn với chất lượng cao, sự tin cậy và an toàn. Khi đó, VN sẽ thể hiện được mình ở tầm vóc toàn cầu chứ không chỉ trong khu vực nữa.

Nhà báo Việt Lâm: Cuộc thảo luận hôm nay rất thú vị và có nhiều điểm cần phải được bàn sâu thêm. Rất tiếc là không còn thời gian nữa. Xin  cảm ơn hai vị khách mời đã tham gia bàn tròn hôm nay. Xin cảm ơn quý độc giả đã quan tâm theo dõi.

VietNamNet

 

Làn gió mới lướt qua Xã hội dân sự VN – BBC

13 Th7

 

Cập nhật: 04:37 GMT – thứ năm, 10 tháng 7, 2014

Nguyễn Tiến Trung nay đã được trả tự do

 

Những người bạn trẻ mới ra tù như Nguyễn Tiến Trung và Đỗ Thị Minh Hạnh đều thốt lên với gương mặt rạng rỡ đến ngỡ ngàng “Thật không thể tin nổi!”.

 

Những ráng xuân bị lặng dập trong chốn lao tù cũng là những mùa xuân nở hoa ngoài đời. Sau vài ba năm nằm trong phòng giam kín mít và bị cô lập tuyệt đối với thế giới bên ngoài, người cựu tù nhân lương tâm bước ra cửa trại giam và không thể tin vào mắt mình khi chứng kiến những vòng tay chan chứa rộng mở.

Khác vô cùng những năm trước, giờ đây không một cựu tù nhân lương tâm nào bị cô độc ở Việt Nam. Mối tình đang nở hoa trong lòng họ chính là xã hội dân sự.

Hoài niệm

Hãy hoài niệm.

Từ cuối năm 2012 trở về trước, chưa từng có khung cảnh ấm áp ân tình của số đông những người cùng cảnh và cả những người chưa có cơ hội rơi vào cảnh ngộ tù đày vì bất đồng chính kiến.

Cho đến tháng Chạp năm 2012, luật sư Công giáo Lê Quốc Quân còn bị bắt giam và sau đó bị xử án với tội danh trốn thuế, dù tất cả đều biết rõ anh chính là một cái gai nhọn chống Trung Quốc. Cũng vào thời điểm đó, cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ bị phía Hoa Kỳ đình hoãn vô thời hạn do “thành tích nhân quyền thụt lùi sâu sắc” của Hà Nội. Bầu không khí khi đó ngột ngạt, u ám và đầy đe dọa.

Còn giờ đây, mùa xuân của xã hội dân sự dường như đang bắt đầu tỏa nắng. Gần hai chục tổ chức dân sự độc lập từ Bắc vào Nam. Vào tháng 5/2014, lần đầu tiên 16 hội đoàn dân sự độc lập ngồi sát bên nhau trong một tinh thần thống nhất rất cao về chủ đề cần kíp phải xây dựng tổ chức công đoàn độc lập.

Có thể so sánh giai đoạn này ở Việt Nam với thời kỳ bắt đầu xuất hiện Công đoàn đoàn kết ở Ba Lan vào những năm 70…

Rõ là xã hội dân sự ở Việt Nam đang hình thành những tiền đề của nó. Một cách nào đó, có thể so sánh giai đoạn này ở Việt Nam với thời kỳ bắt đầu xuất hiện Công đoàn đoàn kết ở Ba Lan vào những năm 70, hay phong trào “Hiến chương 77” ở Tiệp Khắc cuối thập kỷ 70, và cuối cùng là con sóng dập dồn ở Liên bang Xô viết với phong trào dân chủ của Viện sĩ Sakharov – người từng hai lần giành giải thưởng Lenin – vào những năm cuối của thập kỷ 80 của thế kỷ 20.

Còn ở Việt Nam, nếu có thể nói về một phong trào dân sự quy tụ tương rộng rãi sự tham gia của các thành phần trong và ngoài nước thì đó chính là Phong trào “Kiến nghị 72” của giới nhân sĩ, trí thức vào đầu năm 2013. Vượt hẳn những biểu hiện cá lẻ của những năm trước, phong trào này đã tập hợp được gần 15.000 chữ ký trên mạng về những vấn đề động trời trong bối cảnh còn nguyên thể chế độc đảng ở Việt Nam, như yêu cầu hủy bỏ điều 4 hiến pháp, quân đội chỉ trung thành với Tổ quốc chứ không phải với đảng…

Mọi chuyện đều có logic diễn biến từ quần thể xã hội sang tâm lý cá nhân. Thật đáng ngạc nhiên, nhưng lại không quá khó hiểu khi một cựu cán bộ tuyên giáo như ông Vi Đức Hồi lại rắn rỏi đến thế ngay sau khi ra tù vào đầu năm 2014. Tâm trạng lạc quan phơi phới ở con người này ngay lập tức làm cho người tiếp xúc hiểu rằng điều luật 88 về “tuyên truyền chống nhà nước” cùng những năm tháng đếm lịch đã chỉ khiến trong ông hun đúc hơn đức tin tìm đến sự thật. Ít nhất, sự thật đó là hình ảnh Hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam đã sẵn lòng đón chờ ông bên ngoài, cánh cửa rỉ sét của trại giam, thay cho khuôn mặt nhàu nát của thể chế cầm quyền.

Không phải cổ tích

Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam thành lập hôm 4/7

Thực ra, câu chuyện đơm hoa kết trái của xã hội dân sự không phải là cổ tích.

Vào tháng 8/2013, lần đầu tiên đã diễn ra một sự kiện làm cho giới đấu tranh dân chủ nhân quyền trong nước và hải ngoại phải bật lên vì kinh ngạc: nữ sinh Phương Uyên được trả tự do ngay tại tòa Long An vào buổi chiều phiên xử phúc thẩm, trong khi vào buổi sáng chính quyền và công an sở tại vẫn còn say sưa trấn áp những người biểu tình đòi trả tự do cho cô. Thật quá ít người có thể tin rằng mức án sơ thẩm đến 6 năm dành cho Phương Uyên lại có thể ra đi nhẹ bẫng đến thế.

Chỉ đến đầu năm 2014, một thông tin mới rò rỉ qua kênh ngoại giao đã lý giải cho câu chuyện lẽ ra đáng gọi là cổ tích trên: Phương Uyên nằm trong danh sách 5 tù nhân chính trị mà phía Hoa Kỳ đề nghị chính quyền Việt Nam thả. Vào thời điểm yêu cầu này được Washington nêu ra, Hà Nội lại quá sốt sắng săn tìm một cái ghế trong Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc cùng một chỗ ngồi trong Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP).

Mọi chuyện trên đời đều có cái giá riêng của nó. Để có được ít giây phút hàn huyên với nhau như giờ đây, xã hội dân sự đã phải câm lặng quá nhiều năm. Nhưng đến lượt giới cầm quyền Việt Nam, họ lại phải trả một cái giá tối thiểu khi ít nhất phải tự hạ thấp thể diện trong con mắt cộng đồng quốc tế. Chính sách thả tù nhân lương tâm cũng vì thế đã bắt đầu có hiệu lực một cách vô cùng kín đáo.

Liên tiếp trong hai tháng Hai và Ba năm 2014, 5 tù nhân lương tâm là Đinh Đăng Định, Nguyễn Hữu Cầu, Vi Đức Hồi, Cù Huy Hà Vũ và Nguyễn Tiến Trung đã tạo nên một sự kiện thả người chưa từng có tiền lệ trong lịch sử chế độ cầm quyền ở Việt Nam từ năm 1975. Trước đó một chút, Văn đoàn độc lập Việt Nam và Hội cựu tù nhân lương tâm Việt Nam đã gần như đồng loạt ra đời. Một hội đoàn khác là Hội nhà báo độc lập Việt Nam cũng bắt đầu được bàn tới.

Chính vào lúc này, giới dân chủ nhân quyền và cả những người quan tâm đến vận mạng chính trị nước nhà lại có thể cảm nhận về một giai đoạn mới có thể đang hình thành.

Hẳn là chuyến viếng thăm Hà Nội vào tháng 2/2014 của nữ thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ Wendy Sherman đã không hoài phí. Tiếp theo lời hứa hẹn “sẽ giúp đỡ” của Ngoại trưởng John Kerry cũng tại Hà Nội vào tháng 12/2013, bà Sherman thậm chí còn biểu cảm lãng mạn với nhận xét “Xã hội dân sự là một trong những điểm thú vị nhất trong quan hệ giữa hai quốc gia”.

Mọi chuyện quả là khá thú vị, thú vị cho đến khi một trong những nhà hoạt động công đoàn độc lập đầu tiên ở Việt Nam là Đỗ Thị Minh Hạnh đã được đặc cách phóng thích trước thời hạn thụ án tù giam đến gần ba năm. Và cũng không có bất kỳ một điều kiện nào được chính quyền kèm theo. Hay nói cách khác, mọi điều kiện đều bị Minh Hạnh bác bỏ.

Chính vào lúc này, giới dân chủ nhân quyền và cả những người quan tâm đến vận mạng chính trị nước nhà lại có thể cảm nhận về một giai đoạn mới có thể đang hình thành. Có thể một lần nữa sau thời điểm tháng 7/2013 với cuộc tái giao thoa Việt – Mỹ tại Nhà Trắng, xã hội dân sự có cơ hội để nở hoa.

Một làn gió mới của mùa xuân đang mơn man trên mái đầu non trẻ của xã hội dân sự. Vào đúng ngày kỷ niệm Bản tuyên ngôn độc lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ 1776, Hội nhà báo độc lập ra đời.

Chẳng cần nhìn đâu xa xôi và cũng chẳng nên chờ đợi thêm một kích thích tố mới mẻ hơn, đã đến lúc có thể bàn về câu chuyện Công đoàn độc lập và Hội luật gia độc lập tại Việt Nam; và làm thế nào để xã hội dân sự Việt Nam thượng tôn một tinh thần độc lập dân tộc, lồng trong thời buổi phải dấy lên chút ý chí chống ngoại xâm còn sót lại, cho hiện tồn và cho cả những năm tháng mai sau.

Bài phản ánh quan điểm và văn phong riêng của tác giả, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, hiện ở TP HCM.

Thêm về tin này

 

VN ‘chuẩn bị cho tình huống xấu’ với TQ – BBC

3 Th7

 

Cập nhật: 10:11 GMT – thứ tư, 2 tháng 7, 2014

Cuộc họp chính phủ hôm 1/7

 

Chính phủ Việt Nam cho biết đã chuẩn bị cho ‘tình huống xấu’ với Trung Quốc, trong lúc ý kiến chuyên gia nói Bắc Kinh sẽ không chọn cách cắt giao thương.

 

“Với tình huống xấu xảy ra, hoạt động giao thương kinh tế thương mại với Trung Quốc đình trệ thì cần mở rộng thị trường”, ông Nguyễn Văn Nên, Chủ nhiệm văn phòng chính phủ, được báo Dân Trí dẫn lời nói trong cuộc họp chính phủ hôm 1/7.

“Trong các tình huống đó, tuy có ảnh hưởng nhưng không quá lớn đến mức chúng ta không giải quyết được”.

“Thực ra các kịch bản này đã được đề ra từ lâu. Với đường lối độc lập tự chủ của Việt Nam, các cấp lãnh đạo nhà nước đã nêu yêu cầu làm sao để nền kinh tế Việt Nam không quá phụ thuộc vào thị trường nào”, ông nói thêm.

Căng thẳng trên Biển Đông từ khi Bắc Kinh đưa giàn khoan vào vùng biển mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền đã gây nhiều lo ngại rằng nền kinh tế Việt Nam, vốn dựa vào Trung Quốc để làm nguồn cung vật liệu và sản phẩm trung gian cho nhiều ngành xuất khẩu, sẽ bị ảnh hưởng tiêu cực.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng Trung Quốc sẽ không muốn quan hệ thương mại với Việt Nam bị xấu đi.

Trả lời BBC ngày 2/7, tiến sỹ Vũ Minh Khương, giảng viên tại Đại học Quốc gia Singapore, nói “khả năng Trung Quốc đóng cửa hoàn toàn là không có”.

“Nếu Việt Nam bị thiệt hại một thì Trung Quốc cũng bị thiệt hại thêm nhiều lần.”

“Hơn ai hết, Trung Quốc rất sợ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, mà cách hành xử vừa qua của Trung Quốc đối với khu vực và thế giới đã tạo ra những trở lực rất lớn cho Trung Quốc phát triển nhanh chóng.”

“Việt Nam phải chủ động trong những tình huống có thể xảy ra và xem tình huống hiện nay là động lực để cải cách toàn diện, trong đó có những cải cách lâu nay vẫn ngần ngại.”

‘Hy sinh cho thế hệ sau’

 

Việt Nam vẫn ‘thiếu sẵn sàng’

00:05:29

Tiến sỹ Vũ Minh Khương nói Việt Nam không phải thiếu nguồn lực để ‘trỗi dậy’, mà là thiếu “sự sẵn sàng về tâm thế”.

Nghemp3

Bạn cần mở JavaScript lên và cài phần mềm Flash Player mới nhất để nghe/xem.

Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

Theo ông Khương, Việt Nam cần chú trọng vào việc “vượt trên đầu” những người muốn ngăn trở mình, thay vì chỉ “đối đầu”.

“Đây là một nguyên lý rất quan trọng để Việt Nam trỗi dậy trong những thập kỷ tới”, ông nói.

“3 chữ C: Con người, cơ chế, chiến lược sẽ cho Việt Nam khả năng vượt lên đầu và tránh đối đầu.”

“Cần tìm những người có lòng với đất nước, cần có hệ thống chính trị sẵn sàng đổi mới cơ chế để cho phép người tài được cống hiến hết khả năng của mình và từ nhiệm khi đã hoàn thành nhiệm vụ.”

Ông cho rằng căng thẳng hiện nay là động lực để Việt Nam tái cân bằng điều mà ông gọi là sự ‘rối loạn về cơ cấu thương mại’.

“Việt Nam xuất sang Trung Quốc chỉ hơn 15 tỷ đôla, hầu hết là hàng nông sản, nguyên liệu, trong khi nhập hơn 35 tỷ đôla. Đó là mức thâm hụt rất lớn”, ông nói.

“Việt Nam nhập siêu rất nhiều hàng tiêu dùng và nguyên vật liệu, nhưng không có tính chất gì về công nghệ hay giá trị cao cả, chỉ tham giá rẻ, chấp nhận chất lượng thấp.”

“Trong ngắn hạn mà nói thì mọi rối loạn về thương mại đều gây sốc cho nền kinh tế, nhưng đó là cú sốc buộc Việt Nam phải chấn chỉnh cơ cấu thương mại mất hợp lý quá lâu dài”.

“Thế hệ ngày này phải chấp nhận những hy sinh gian khổ rất lớn để thế hệ sau có thể thừa hưởng những thành quả mà thế hệ này đã tạo ra.”

‘Không thiếu nguồn lực’

Tiến sỹ Vũ Minh Khương nói nỗ lực của Việt Nam hiện nay không bằng Hàn Quốc và Đài Loan thời Chiến Tranh Lạnh

Ông Khương cho rằng Việt Nam không thiếu nguồn lực mà thiếu ‘tâm thế’ để vượt lên.

“Đài Loan và Hàn Quốc gặp rất nhiều thách thức trong thời Chiến Tranh Lạnh và tài trợ của thế giới vào họ rất hạn chế, chủ yếu là từ Mỹ,” ông nói với BBC trong cuộc phỏng vấn ngày 2/7.

“Nhưng tôi quan sát kinh nghiệm của họ thì thấy các nhà đầu tư giúp đỡ họ đều cảm thấy kinh ngạc vì nỗ lực của những nước này vượt xa kỳ vọng của nhà viện trợ.”

“Trong khi đó, nếu nhìn lại các dự án của Việt Nam thì phần lớn đều bị đánh giá thấp hơn kỳ vọng hoặc trung bình thấp.”

“Như vậy vấn đề ở đây là sử dụng nguồn lực thế nào để vượt lên chứ không phải là thiếu nguồn lực.”

“Ba chữ C mà tôi nói: con người, cơ chế, chiến lược, mới là cái Việt Nam đang thiếu.”

“Cần phải có quyết tâm lớn từ Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam. Rất nhiều bạn bè quốc tế cũng rất sẵn sàng tư vấn để giúp Việt Nam phát triển.”

“Có điều họ có coi trọng sứ mệnh đưa đất nước trở nên phồn vinh hay không, hay vẫn bám lấy thứ ý thức hệ giáo điều, lợi ích cá nhân và những thứ mơ hồ khác?”

Thêm về tin này

 

VN chưa bao giờ từ bỏ chủ quyền ở Hoàng Sa

2 Th7

 

 

Theo luật pháp quốc tế, sự kiện triều đình nhà Nguyễn hay thực dân Pháp không thường xuyên hay tích cực hành xử chủ quyền Hoàng Sa trong một thời gian không cấu thành yếu tố quần đảo Hoàng Sa, một phần hay toàn phần, bị Việt Nam từ bỏ chủ quyền.

 

LTS: Chuyên gia Khoa học Không gian Hoa Kỳ – Thái Văn Cầu đã có bài tham luận tại hội nghị về biển Đông ở Quảng Ngãi vừa qua. Bài nghiên cứu nêu lên một số góc cạnh then chốt của luật pháp quốc tế và những chứng cứ lịch sử chứng minh chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Tuần Việt Nam xin giới thiệu quan điểm của ông để độc giả theo dõi.

Trong cuộc gặp bên lề Hội nghị Thượng đỉnh Hạt nhân vào cuối tháng 3 năm 2014 ở The Hague, Hà Lan, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình kêu gọi Mỹ “nên có thái độ công bằng và khách quan, phân rõ phải trái và cần làm nhiều hơn để tìm ra giải pháp thích hợp và cải thiện tình hình” trong tranh chấp Biển Đông và Biển Hoa Đông.

Đáp lại, Tổng thống Mỹ Barack Obama “nhấn mạnh việc tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề này dựa trên đối thoại và luật pháp quốc tế và bày tỏ Mỹ tiếp tục ủng hộ cho nỗ lực này.”

Cuộc gặp giữa lãnh đạo hai nước mạnh hàng đầu thế giới, tuy ngắn ngủi, nói lên tính chất nghiêm trọng trong tranh chấp lãnh hải giữa các nước thành viên ASEAN, Nhật Bản với Trung Quốc.

Mục đích của bài nghiên cứu này nhằm xét đến một số góc cạnh then chốt của luật pháp quốc tế, qua đó liên hệ đến nỗ lực bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa của Việt Nam.

Cơ chế quốc tế để giải quyết tranh chấp trên đất liền hay trên biển giữa các nước là Toà án Quốc tế (ICJ), Toà án Quốc tế về Luật Biển (ITLOS), Toà án Trọng tài theo Phụ lục VII của Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển (UNCLOS), Toà án Trọng tài Đặc biệt theo Phụ lục VIII của UNCLOS.

Hoàng Sa, Việt Nam, Trung Quốc, chủ quyền, Mỹ
Việt Nam có Hoàng Sa – Trường Sa trên bản đồ cổ thế giới

ICJ hiện hữu từ năm 1946; ba Toà án còn lại hình thành sau khi UNCLOS có hiệu lực năm 1994. ICJ và ITLOS đòi hỏi mọi bên trong tranh chấp đồng ý tham gia vào quá trình thưa kiện.

Việt Nam chưa bao giờ đánh mất chủ quyền

Dựa vào hoạt động của chính quyền Quảng Đông vào những năm đầu thế kỷ XX, Marwyn S. Samuels, sử gia Mỹ, cho rằng Trung Quốc hành xử chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa, hay ít nhất là ở đảo Phú Lâm, thuộc Hoàng Sa, hơn 10 năm trước khi Pháp tuyên bố chủ quyền.  Lập luận này chưa đúng về mặt lịch sử và đã phạm các sai lầm nghiêm trọng.

Thứ nhất, theo chứng cứ lịch sử của phương Tây và của Việt Nam, trong hơn 200 năm, trước khi bị Pháp áp đặt chế độ thuộc địa, Việt Nam hành xử chủ quyền ở Hoàng Sa đúng theo những tiêu chuẩn của luật pháp quốc tế ở thời điểm trước Công ước Berlin hay như quy định trong Công ước này năm 1885 rằng nơi chiếm hữu phải là đất vô chủ (terra nullius) hay đất bị từ bỏ (terra derelicta), bộ phận chiếm hữu thuộc cơ chế quốc gia, và sự chiếm hữu được thông báo.[1]

Sau khi ký kết Hiệp ước Thiên Tân với nhà Thanh năm 1885, Pháp hoàn tất chế độ thuộc địa ở Việt Nam, và nắm quyền đại diện cho Việt Nam trong quan hệ quốc tế.

Trong những năm đầu thế kỷ XX khi người Tàu hay người Nhật hiện diện ở Hoàng Sa, Hoàng Sa không còn là đất vô chủ, như công ty Nhật Mitsui Bussan Kaisha hoạt động ở đảo Phú Lâm trong thập niên 1920 thừa nhận: “Khi được thẩm vấn, người Nhật Bản làm chủ doanh nghiệp này nói rằng đại diện của công ty Mitsui Bussan Kaisha của họ đâu dám tự tiện tiến hành việc khai thác vào cuối năm 1920 mà không thông báo trước cho Tư lệnh Hải quân Sài Gòn, và vị tư lệnh này, đứng về quan điểm quân sự, đã không thấy cần thiết ra lệnh cấm đoán… chính quyền Pháp đã thấy không cần thiết phải hủy bỏ sự cho phép hầu như chính thức mà tư lệnh Hải quân đã cung cấp một cách hơi dễ dãi, (vì) người Nhật đã hành xử đúng phép tắc đối với nhà chức trách Pháp và họ không hề phủ nhận quyền của Pháp đối với các đảo Hoàng Sa”.

Sau khi Quốc gia Việt Nam được hình thành năm 1949, Pháp trao trả cho Việt Nam quyền hạn trong quan hệ quốc tế. Khi cơ hội đến, phái đoàn Quốc gia Việt Nam chính thức tuyên bố chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam trước sự hiện diện của 51 nước tham dự Hội nghị San Francisco năm 1951.

Thứ hai, theo luật pháp quốc tế, sự kiện triều đình nhà Nguyễn hay thực dân Pháp không thường xuyên hay tích cực hành xử chủ quyền Hoàng Sa trong một thời gian không cấu thành yếu tố quần đảo Hoàng Sa, một phần hay toàn phần, bị Việt Nam từ bỏ chủ quyền.

Trong vụ kiện Tây Sahara, ICJ đề cập đến đặc tính của một vùng đất có thể gây ảnh hưởng đến đời sống, hoạt động xã hội và chính trị trong vùng đất ấy.

Trong vụ kiện giữa Hà Lan và Mỹ về đảo Palmas, Max Huber, chuyên gia Thụy Sĩ về luật pháp quốc tế, có ý kiến cho rằng khi một nhóm đảo hình thành một đơn vị, số phận của các đảo chính quyết định số phận các đảo còn lại. Nói một cách khác, hành xử chủ quyền ở một nhóm đảo, như một đơn vị, không đòi hỏi hành xử chủ quyền ở từng đảo riêng biệt trong nhóm đảo đấy.

Monique Chemillier-Gendreau, chuyên gia Pháp về luật pháp quốc tế, đề cập đến quan điểm của Max Huber khi nói về hành xử chủ quyền của Pháp ở Trường Sa, và quan điểm này cũng ứng dụng trong hành xử chủ quyền ở Hoàng Sa.

Trong vụ kiện giữa Cameroon và Nigeria, ICJ nhận xét, “từ khi dành được độc lập, Cameroon có hoạt động, qua đó, rõ ràng cho thấy là nước này không cách nào từ bỏ chủ quyền vùng Bakassi”. ICJ quyết định trao chủ quyền vùng Bakassi cho Cameroon.

Sir Robert Yewdall Jennings, chuyên gia Anh về luật pháp quốc tế, đưa ý kiến về nguyên tắc từ bỏ chủ quyền (abandonment), “quốc gia có chủ quyền chỉ cần chứng minh là không có ý từ bỏ chủ quyền hay không chấp nhận đòi hỏi chủ quyền của quốc gia khác”.

Monique Chemillier-Gendreau nêu ý kiến, “Triều đình Việt Nam bị suy yếu bởi cuộc chinh phục và bởi chính sách của Pháp nhanh chóng biến đổi quy chế bảo hộ thành thuộc địa, (nên) tiếng nói của họ về biển đảo gần như không được nghe đến. Tuy nhiên khi có cơ hội, họ vẫn lên tiếng.”

Tóm lại, phán xử của ICJ, quan điểm của chuyên gia luật pháp quốc tế, và chứng cứ lịch sử của Việt Nam và của phương Tây cho thấy Việt Nam đã không đánh mất chủ quyền biển đảo, một phần hay toàn phần, như Marwyn S. Samuels hay các tác giả khác lập luận một cách sai lầm, trong giai đoạn từ đầu thập niên 1850 cho đến giữa thập niên 1920, khi Toàn quyền Đông Dương chính thức tuyên bố chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa.

Nguyên tắc “không làm xáo trộn sự ổn định”

Trong nhiều năm qua, rất nhiều học giả từng cho rằng đây là vấn đề lâu dài.

Trong giải quyết tranh chấp giữa hai nước, ICJ vẫn sử dụng nguyên tắc “quieta non movere” hay “không làm xáo trộn sự ổn định”. ICJ có thể đưa phán xét thuận lợi cho nước đang chiếm giữ một vùng đất, vùng biển, mặc dù chủ quyền ban đầu không thiết lập rõ ràng, nhưng có hành xử thích hợp trong một thời gian.

Trong vụ kiện giữa Norway và Sweden, nguyên tắc này là một trong những yếu tố khiến Sweden nhận được quyết định thuận lợi về Grisbadarna Banks.

Trong vụ kiện giữa Bahrain và Qatar, nguyên tắc này cũng là một trong những yếu tố khiến Bahrain nhận được quyết định thuận lợi về quần đảo Hawar.

Nguyên tắc “quieta non movere” không được giới nghiên cứu biết đến nhiều, nhưng Giản Quân Ba, một học giả Trung Quốc, từng gián tiếp nói về nguyên tắc này hơn ba năm trước: “Nếu Bắc Kinh không thể giải quyết vấn đề tranh chấp và xác lập chủ quyền ở những hòn đảo và vùng lãnh hải trước năm 2020, đây sẽ là một thách thức lớn đối với Trung Quốc, bởi vì theo một nguyên tắc của luật quốc tế, nếu một quốc gia chiếm đóng một vùng đất thành công trong hơn 50 năm, vùng đất đó có thể trở thành một phần của lãnh thổ nước này. Nhưng với điều kiện tiên quyết là việc chiếm đóng đó không bị các nước khác phản bác.”

Theo Wu Shicun, Giám đốc học viện nghiên cứu Biển Đông cấp quốc gia duy nhất của Trung Quốc, tranh chấp Biển Đông bắt đầu trở nên căng thẳng vào đầu thập niên 1970.

Mặc dù chưa thấy hiện hữu bằng chứng hỗ trợ con số 50 năm như một đòi hỏi cho nguyên tắc “quieta non movere” nhưng có một số điểm nên ghi nhận. Suốt gần 20 năm, sau khi hai nước bình thường hoá quan hệ, Trung Quốc vẫn tận dụng thời gian để xây dựng lực lượng cho tham vọng độc chiếm Biển Đông như: Trung Quốc hiện có quan toà đại diện trong hai cơ chế luật pháp quốc tế ICJ và ITLOS; Trung Quốc hoàn tất hàng trăm luận án tiến sĩ, hội thảo về đề tài Biển Đông trong thập niên 2000; hải quân Trung Quốc lớn mạnh và hiện diện rộng khắp trên Biển Đông…

Hậu quả là sự hiện hữu một khoảng cách giữa Việt Nam và Trung Quốc trong nỗ lực nghiên cứu luật pháp quốc tế cũng như trong các lãnh vực khác liên hệ đến Biển Đông.

Việt Nam và Trung Quốc thường xuyên phản đối hành động của nước đối tác liên quan đến Biển Đông và khẳng định chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa (hay Tây Sa-Nam Sa, theo cách gọi của Trung Quốc).

Trong vụ kiện giữa Nicaragua và Honduras trong Biển Caribbean, ICJ nhận định rằng sự liên tục khẳng định chủ quyền vùng biển liên hệ của Nicaragua là không đầy đủ so với cách hành xử chủ quyền của Honduras. Khiếm khuyết này của Nicaragua trở thành một trong những yếu tố khiến Honduras nhận được quyết định thuận lợi.

Quyết định trên của ICJ cho thấy rằng phản đối hành vi xâm phạm chủ quyền là điều kiện cần trong luật pháp quốc tế, nhưng nó không phải là điều kiện đủ để bảo vệ chủ quyền đất nước.

Theo M. Taylor Fravel, chuyên gia Mỹ về quan hệ quốc tế, từ khi thành lập CHNDTH năm 1949 cho đến nay, trong tổng số 23 cuộc tranh chấp lãnh thổ hay lãnh hải giữa Trung Quốc với các nước láng giềng, Trung Quốc giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán 17 lần và sử dụng vũ lực 6 lần. Trong đó, 3 lần sử dụng vũ lực là với Việt Nam: Tại Hoàng Sa năm 1974, khu vực biên giới cực Bắc năm 1979, và Trường Sa năm 1988. Ba lần còn lại là với Đài Loan, Ấn Độ và Liên Xô.

Hiến chương Liên hiệp quốc có Chương I, Điều 2, Khoản 4, ngăn cấm thành viên của tổ chức Liên hiệp quốc đe doạ hay sử dụng vũ lực chống toàn vẹn lãnh thổ hay độc lập chính trị của thành viên khác.

Hiến chương Liên hiệp quốc cũng có Chương VII, Điều 51, đề cập đến quyền tự vệ cá nhân hay quyền tự vệ tập thể khi thành viên bị tấn công vũ trang.

Trong hơn 30 năm nay, học giả Trung Quốc và một số học giả phương Tây có quan điểm thuận lợi cho Trung Quốc, trực tiếp hay gián tiếp, bóp méo hay làm lu mờ sự thật khi lập luận Trung Quốc đã thực hiện “quyền tự vệ” hay bảo vệ “toàn vẹn lãnh thổ” trong xung đột biển đảo với Việt Nam.

Mặc dù nguyên tắc “quieta non movere” chưa thấy được ICJ nêu lên trong trường hợp sử dụng vũ lực chiếm đóng bất hợp pháp, nhưng Trung Quốc khôn khéo kết hợp nguyên tắc “quieta non movere” và thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của họ để thúc đẩy cán cân thuận lợi trong chứng cứ lịch sử và pháp lý về chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa. Từng bước tăng cường sức mạnh cho đòi hỏi “đường lưỡi bò” của họ trên Biển Đông.

(Còn nữa)

 Thái Văn Cầu

———-

Chú thích:

 

[1] Từ Đặng Minh Thu, “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, 2007 http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai11/200711_TuDangMinhThu.htm

 Trong tiếng Việt, hai từ “nhà nước” và “quốc gia” đồng nghĩa với nhau, và đã được sử dụng trong một số nghiên cứu về luật pháp quốc tế và chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa. Trong tham luận này, khi nói về “states”, như quy định trong Công ước Montevideo, người viết sử dụng từ quốc gia, thay vì từ nhà nước, để có sự thống nhất trong giới nghiên cứu Biển Đông.

Từ nhà nước, khi sử dụng, giới hạn vào Điều 1, Khoản c, trong Công ước Montevideo.

 “Montevideo Convention on the Rights and Duties of States”,1933

http://www.cfr.org/sovereignty/montevideo-convention-rights-duties-states/p15897

(Xem thêm “Đại Nam Quấc âm Tự vị” của Huình-Tịnh Paulus Của, tập II, in năm 1896, tr. 236, hay “Từ điển Tiếng Việt”, Văn Tân chủ biên, in lần thứ hai năm 1977, tr. 643.)

Chứng cứ Việt Nam hành xử chủ quyền biển đảo trên Biển Đông trong hơn 300 năm qua được tư liệu cổ phương Tây ghi nhận chi tiết và rõ ràng: Tư liệu cổ Hà Lan, “Dagh-Register gehouden int Casteel Batavia vant Passerende daer ter plaetse als over geheel Nederlandts-India”, (Nhật ký Batavia của Công ty Hà Lan-Đông Ấn), [1634], 1898, tr. 434-435, đề cập đến một tai nạn đắm tàu của công ty ở Hoàng Sa năm 1633 và quan chức địa phương của Chúa Nguyễn đã tịch thu trái phép hàng hoá từ chiếc tàu này. Duijcker (hay Duycker), đại diện của Toàn quyền Batavia, liên lạc với Đàng Trong (hay Quinam, theo cách gọi của Hà Lan), yêu cầu giải quyết. Chúa Nguyễn Phúc Lan cho biết là quan chức có hành động sai trái này đã bị xử chém. Thay vì bồi thường hàng hoá, Chúa Nguyễn cho phép Hà Lan hưởng một số đặc quyền thương mại. Xem thêm:

Bộ Ngoại giao VNCH, “White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands”, 1975, tr. 18-19

Hoàng Anh Tuấn, “Silk for Silver: Dutch-Vietnamese Relations, Tonkin 1637-1700”, 2007, tr. 63-66

John Kleinen, “Lion and Dragon: Four Centuries of Dutch-Vietnamese Relations”, 2008, tr. 24-28

Báo Pháp Le Monde, số 2060 ngày 9-10 tháng 9 năm 1951, đưa tin trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu khẳng định chủ quyền Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam trước 51 nước tham dự Hội nghị San Francisco.

[

VN thông báo với thế giới mối đe dọa TQ

25 Th5

 

 

Trước câu hỏi của NHK liệu VN đang quốc tế hóa vụ giàn khoan 981, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh nói VN muốn thông báo cho thế giới mối đe dọa thật sự, một sự vi phạm luật pháp quốc tế của TQ.

 

VietNamNet ghi lại nội dung Thứ trưởng Ngoại giao VN Phạm Quang Vinh trả lời đông đảo báo chí quốc tế tại họp báo quốc tế ở Manila, Philippines, bên lề Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) Đông Á 2014 vừa diễn ra. Các câu hỏi liên quan những giải pháp ngoại giao của VN trước hành động TQ hạ đặt giàn khoan sai trái vào sâu 80 hải lý trong vùng thềm lục địa, vùng đặc quyền kinh tế của VN.

 

giàn khoan, Trung Quốc, Biển Đông, chủ quyền
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Diễn đàn Kinh tế thế giới ( WEF) Đông Á 2014

CNN: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói rằng VN xem xét hành động pháp lý. Xin ông có thể cho biết thêm biện pháp pháp lý nào Việt Nam đang xem xét để chống TQ trong vấn đề này?

VN kiên trì các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp và sẽ tiếp tục như vậy trên cơ sở phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm cả các biện pháp được quy định trong Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển.

Strait Times Singapore: Ngài Thủ tướng có phát biểu rằng VN sử dụng tất cả các kênh đối thoại. Vậy sẽ đi về đâu sau khi đã sử dụng hết tất cả kênh đối thoại?

VN sẽ tiếp tục sử dụng mọi cơ hội và mọi kênh đối thoại, kể cả đàm phán với TQ. Cho đến nay, chúng tôi đã có hơn 20 cuộc tiếp xúc với TQ. Và chúng tôi sẽ tiếp tục làm việc này. Vì sao? VN sẽ sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế. Các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế đã được đề cập trong phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Xin được hỏi về khả năng VN sử dụng các hành động pháp lý. Liệu VN sẽ tham gia vụ kiện của Philippines hay là VN sẽ đưa một vụ kiện riêng của mình? Khi nào việc này sẽ diễn ra?

Chúng tôi sẽ bảo vệ vùng biển của mình và sẽ sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển.

VN có xem xét tiến hành biện pháp pháp lý tập thể cùng với Philippines và Nhật Bản trong các tranh chấp trên biển, như vậy hành động pháp lý chống TQ sẽ mạnh hơn?

Chúng tôi sẽ sử dụng mọi biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế để bảo vệ chủ quyền và các vùng biển của VN.

Thủ tướng có nói về vấn đề thương mại và giao thông ở Biển Đông? Các vấn đề này sẽ bị tác động như thế nào?

Tình hình hiện nay là hết sức nguy hiểm đối với hòa bình, ổn định và an ninh, an toàn hàng hải. Các bạn thấy giàn khoan được hạ đặt sâu vào trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN, đi cùng với nhiều tàu hộ tống, trong đó có các tàu quân sự, máy bay. Nếu tình hình này không được ngăn chặn, khi đó nó sẽ là mối đe dọa thực sự đối với đường giao thông biển.

Yêu cầu rút giàn khoan và vẫn duy trì quan hệ với TQ

Reuters: VN đã có các tiếp xúc với TQ. Kết quả của các hoạt động tiếp xúc này?

Cho đến nay, chúng tôi đã có hơn 20 cuộc tiếp xúc với TQ. Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao của chúng tôi đã có hai cuộc điện đàm với người đồng cấp của TQ, trong đó có Bộ trưởng Ngoại giao TQ.

NHK: Tiếp tục về vấn đề hành động pháp lý, tôi được biết VN đã gửi một văn bản đến Liên hợp quốc. Xin cho biết tính chất của văn bản này là gì? VN đưa vấn đề ra Diễn đàn Kinh tế thế giới. Có phải là VN đang quốc tế hóa vấn đề không?

Chúng tôi đang thông tin cho cả thế giới, cộng đồng quốc tế, tất cả các nước về mối đe dọa đối với hòa bình và ổn định, sự vi phạm luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển; do vậy, chúng tôi đã thông báo cho Liên hợp quốc cũng như cho các nước ASEAN. Đây là việc thông báo về một mối đe dọa thật sự, một sự vi phạm luật pháp quốc tế.

VN dự kiến TQ sẽ có phản ứng như thế nào?

Đề nghị bạn hỏi họ.

VN có sẵn sàng với những phản ứng tiêu cực từ TQ?

VN luôn coi trọng quan hệ hợp tác và hữu nghị với TQ. Chúng tôi sẽ nỗ lực làm tất cả để đưa giàn khoan ra khỏi vùng biển của Việt Nam đồng thời duy trì quan hệ hữu nghị với TQ. Chúng tôi đang cố gắng làm việc này.

Channel News Asia: Xin cho biết ai đứng đằng sau những vụ việc gây rối tuần trước ở VN?

Đã có một số người lợi dụng vi phạm pháp luật VN và đã có hành vi gây rối như trên. Nhưng Chính phủ VN đã có các biện pháp kịp thời. Hiện nay, tình hình đã ổn định, các doanh nghiệp đã trở lại làm việc bình thường.

Thủ tướng nói những người vi phạm sẽ bị nghiêm trị. Xin ông có thể cho biết về các hình thức nghiêm trị?

Những người này sẽ bị nghiêm trị theo pháp luật VN, kể cả việc đưa ra tòa xét xử.

Có bao nhiêu người sẽ bị trừng trị và các hình thức trừng trị là như thế nào?

Hàng trăm người gây rối đã bị tạm giữ. Theo đúng trình tự tố tụng, chúng tôi sẽ điều tra, xem xét. Người nào không có tội sẽ được thả, người nào có tội sẽ bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật.

Xuân Linh (ghi)
 

Phát biểu trước phần hỏi, đáp của báo chí, Thứ trưởng Phạm Quang Vinh trao đổi kết quả hoạt động của Thủ tướng Diễn đàn Kinh tế thế giới Đông Á 2014.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có một lịch trình hoạt động dày đặc, tham dự và phát biểu tại phiên khai mạc toàn thể Diễn đàn cùng Tổng thống Philippines, Tổng thống Indonesia Yudhoyono, Phó Thủ tướng Myanmar và Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế thế giới Schwab.

Trong phát biểu tại phiên khai mạc toàn thể, Thủ tướng đã đặc biệt lưu ý về tình hình rất nghiêm trọng đang diễn ra ở Biển Đông, đe dọa nghiêm trọng hòa bình, ổn định và an ninh, an toàn hàng hải, tự do hàng hải trong khu vực.

Đó là do việc TQ hạ đặt trái phép giàn khoan vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN. VN cực lực phản đối sự vi phạm này và tiếp tục phối hợp cùng các nước ASEAN, cộng đồng quốc tế để buộc TQ rút giàn khoan và các tàu hộ tống ra khỏi vùng biển của VN.

“Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng trình bày về chính sách của VN coi trọng quan hệ hữu nghị và hợp tác với TQ, sử dụng mọi cơ hội và mọi kênh đối thoại để yêu cầu TQ rút giàn khoan và các tàu hộ tống ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN. Nhưng cho đến nay, câu trả lời của TQ vẫn là duy trì việc hạ đặt giàn khoan trái phép và các tàu hộ tống trong khu vực đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN. VN tiếp tục sử dụng các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế để buộc TQ phải rút giàn khoan và các tàu hộ tống ra khỏi vùng biển của VN” – ông Vinh cho biết.

CLIP: TQ dùng lượng tàu khủng chiếm biển VN

8 Th5

 

 http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/174251/clip-tq-dung-luong-tau-khung-chiem-bien-vn.html

– Cao điểm có lúc TQ sử dụng 80 tàu, trong đó có 7 tàu quân sự gồm tàu hộ vệ tên lửa và tàu tuần tiễu tên lửa tấn công nhanh. Một nhóm tàu cá vũ trang và tàu quân sự đã vào cách đảo Lý Sơn 50-60 hải lý.

 

Tại cuộc họp báo chiều 7/5, ông Trần Duy Hải, Phó chủ nhiệm UB Biên giới quốc gia cho hay, VN đề nghị TQ giải quyết tranh chấp liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán tại Biển Đông thông qua đàm phán và các biện pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế, bao gồm Hiến chương LHQ và Công ước LHQ về luật Biển năm 1982.

Trong khi đó, phía TQ cho rằng “hoạt động của giàn khoan HD-981 là hoạt động dầu khí bình thường của TQ ở khu vực phía nam đảo “Trung Kiến” (tức đảo Tri Tôn) thuộc quần đảo “Tây Sa” (tức quần đảo Hoàng Sa của VN) không liên quan gì đến thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của VN.

TQ cũng cho rằng đây là “khu vực thuộc vùng biển của quần đảo “Tây Sa” (tức quần đảo Hoàng Sa của VN) và hoạt động lần này là hoạt động thăm dò dầu khí bình thường trong vùng biển do TQ quản lý, “không có tranh chấp”. Phía VN đã hoàn toàn bác bỏ và kiên quyết không chấp nhận quan điểm sai trái này của phía TQ.

“Việc phía TQ bất chấp giao thiệp của phía VN vẫn không rút giàn khoan nói trên cùng các tàu dịch vụ dầu khí và các tàu bảo vệ ra khỏi vùng biển của VN rõ ràng là hành động cố tình và có chủ ý xâm phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của VN, vi phạm các quy định có liên quan của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về luật Biển 1982, trái với tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông. Hành vi và thái độ của TQ cũng đi ngược lại các thỏa thuận và nhận thức chung giữa lãnh đạo hai nước và Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển VN-TQ. Các văn kiện này đều nhấn mạnh việc các bên cần kiềm chế, không làm phức tạp thêm tranh chấp và tiến hành đàm phán, thương lượng để giải quyết bất đồng” – ông Hải nói.

Xem thêm thông tin về các nỗ lực ngoại giao của Việt Nam do ông Trần Duy Hải cung cấp:

 

Ông Ngô Ngọc Thu, Phó Tư lệnh, Tham mưu trưởng Cảnh sát biển cho hay, khoảng 40 tàu tham gia bảo vệ giàn khoan HD981 ngày 2, 3/5. Đến 12h00 ngày 7/5, TQ đã huy động, lúc cao nhất 80 tàu các loại, trong đó có 7 tàu quân sự gồm: Tàu hộ vệ tên lửa 534 và tàu tuần tiễu tên lửa tấn công nhanh số hiệu 753; cùng 33 tàu hải cảnh, hải giám, ngư chính; và các tàu vận tải, tàu cá. Ngoài ra hàng ngày còn có hàng chục tốp máy bay hoạt động trên khu vực. Một nhóm tàu cá vũ trang và tàu quân sự đã vào cách đảo Lý Sơn 50-60 hải lý.Khi các tàu thực thi pháp luật của VN ra kiểm tra, ngăn chặn việc xâm phạm trái phép của giàn khoan HD981, các tàu bảo vệ của TQ, được sự yểm trợ của máy bay, có hành động hung hăng, chủ động đâm thẳng vào các tàu, dùng vòi rồng công suất lớn phun nước vào các tàu của VN nhằm làm hư hỏng tàu thuyền và các trang thiết bị trên tàu, gây thương tích cho thủy thủ trên tàu.

Lúc 12h ngày 7/5, tàu hải cảnh 3411 đâm vào tàu CSB8003. TQ sử dụng đồng thời máy bay số hiệu 8321 bay trên không phận tàu CSB8003 để uy hiếp.

Các tàu TQ được trang bị vũ khí đều mở bạt che súng, pháo để sẵn sàng sử dụng bất cứ lúc nào, gây tình trạng hết sức căng thẳng trên thực địa.

Xem thêm thông tin do ông Ngô Ngọc Thu cung cấp:

 

Trong khi đó, theo đại diện Cục Kiểm ngư (Bộ NN&PTNT), ông Ngô Mai Thịnh cho hay, lực lượng bảo vệ của TQ đã tiếp cận có hành động mở bạt pháo đe dọa, uy hiếp các tàu kiểm ngư VN. Các tàu hải cảnh chủ động húc đẩy, đâm va với tốc độ cao, góc tiếp cận lớn, rú còi, chiếu đèn pha, phun nước áp lực cao làm hư hại đến các tàu kiểm ngư VN.

Xem thêm thông tin do ông Ngô Mai Thịnh cung cấp về hành động tấn công của tàu TQ:

 

Xuân Linh – Xuân Quý

Debug: ADS tracking link http://vietnamnet.vn/chinh-tri

 

VN cầu siêu cho chiến sỹ tử trận ở Hoàng Sa, tỏ ý hòa giải – VOA

29 Th4

 

 
Hồi đầu năm nay, một cuộc xuống đường ở Hà Nội để đánh dấu 40 năm ngày xảy ra trận hải chiến Hoàng  Sa đã ‘bị cản trở’.

Hồi đầu năm nay, một cuộc xuống đường ở Hà Nội để đánh dấu 40 năm ngày xảy ra trận hải chiến Hoàng Sa đã ‘bị cản trở’.

 
CỠ CHỮ +
Một quan chức trong nước cho biết Việt Nam tổ chức cầu siêu cho các chiến sỹ, trong đó có cả những người thuộc quân lực Việt Nam Cộng hòa, từng ngã xuống bảo vệ quần đảo Hoàng Sa.

Trả lời báo chí về chuyến đi tới quần đảo Trường Sa kéo dài từ 16 tới 28/4 với sự tham gia của một số người Việt sinh sống ở hải ngoại, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn được dẫn lời nói rằng Việt Nam ‘ghi nhận sự hy sinh của những người lính Việt Nam cộng hòa trong lực lượng hải quân đã bảo vệ Hoàng Sa năm 1974’.

Nhận xét về việc làm này, ông Lữ Công Bảy, cựu thượng sỹ Việt Nam Cộng hòa từng tham gia trận hải chiến ở Hoàng Sa năm 1974, nói rằng đó là ‘một nghĩa cử hay’.

Anh em của Việt Nam Cộng hòa chiến đấu để bảo vệ đất nước Việt Nam, chứ không phải chiến đấu để bảo vệ bất cứ một chế độ nào. Thành ra bây giờ mà được công nhận như vậy thì anh em mà tham gia trận hải chiến Hoàng Sa rất là vui và những linh hồn của những người tử trận chắc cũng vui. Lịch sử bao giờ cũng công bằng đối với tất cả mọi người mà. Rồi một ngày nào đó tất cả những người mà nằm xuống cũng phải được phục hồi danh dự cho tất cả những người anh em đã hy sinh để bảo vệ Hoàng Sa.

Ông Bảy nói: “Anh em của Việt Nam Cộng hòa chiến đấu để bảo vệ đất nước Việt Nam, chứ không phải chiến đấu để bảo vệ bất cứ một chế độ nào. Thành ra bây giờ mà được công nhận như vậy thì anh em mà tham gia trận hải chiến Hoàng Sa rất là vui và những linh hồn của những người tử trận chắc cũng vui. Lịch sử bao giờ cũng công bằng đối với tất cả mọi người mà. Rồi một ngày nào đó tất cả những người mà nằm xuống cũng phải được phục hồi danh dự cho tất cả những người anh em đã hy sinh để bảo vệ Hoàng Sa”.

Nhà ngoại giao từng có những phát biểu gây tranh cãi trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt cho biết ông đã mời về ‘một số nhà báo, một số người chống đối [Việt Nam] rất cực đoan’ nhằm chứng minh ‘chúng ta đang làm tốt nhiệm vụ thay họ giữ gìn chủ quyền của Tổ quốc’.

Ông Sơn cho rằng một số người Việt ở hải ngoại ‘đã nghe thông tin một chiều, hiểu không đúng về tình hình đất nước, đặc biệt là chủ quyền biển đảo’.

Khi được hỏi việc cầu siêu cho các chiến sỹ Việt Nam cộng hòa từng ngã xuống ở Hoàng Sa có phải là một trong các bước đi tiến tới hòa giải dân tộc, bác sĩ Nguyễn Quốc Quân, một nhà hoạt động dân chủ người Mỹ gốc Việt, cho rằng đó chỉ là một ‘hành động tuyên truyền’.

Ông Quân nói: “Tôi thấy đó chỉ là những hành động lẻ tẻ, có tính cách tuyên truyền, chứ không có tính cách hoàn toàn là chính sách. Nhà cầm quyền Cộng sản phải đưa ra một chính sách với thực tâm. Hòa giải với người trong nước đã rồi xin hãy nói chuyện với chúng tôi.  Họ phải hòa giải với những người như hòa thượng Thích Quảng Độ, linh mục Nguyễn Văn Lý, bác sỹ Nguyễn Đan Quế, hay là ông Nguyễn Văn Đài, Phạm Hồng Sơn trước đã”.

Chủ tịch Ủy ban Quốc tế Yểm trợ Cao trào Nhân bản hoạt động ở bang Virginia cho rằng Việt Nam ‘phải thành tâm’ trong vấn đề hòa hợp – hòa giải.

Tôi thấy đó chỉ là những hành động lẻ tẻ, có tính cách tuyên truyền, chứ không có tính cách hoàn toàn là chính sách. Nhà cầm quyền Cộng sản phải đưa ra một chính sách với thực tâm. Hòa giải với người trong nước đã rồi xin hãy nói chuyện với chúng tôi. Họ phải hòa giải với những người như hòa thượng Thích Quảng Độ, linh mục Nguyễn Văn Lý, bác sỹ Nguyễn Đan Quế, hay là ông Nguyễn Văn Đài, Phạm Hồng Sơn trước đã.

“Tôi vẫn chưa thấy có dấu hiệu gì có tính cách đồng nhất từ trên xuống dưới, hay chủ trương của Đảng Cộng sản muốn hòa hợp, hòa giải. Những lời mà ông Nguyễn Thanh Sơn nói 10 câu tôi không thấy đúng một câu nữa thì làm sao mà chúng tôi tin được”, bác sĩ Quân nói.

VOA Việt Ngữ không thể liên lạc được với Thứ trưởng Nguyễn Thanh Sơn để nghe phản hồi của ông về nhận xét của bác sĩ Quân.

Tuy nhiên, trả lời báo chí Việt Nam, ông Sơn nói rằng ‘hố sâu hận thù sẽ ngăn cách mãi nếu không có những giải pháp đột phá, nếu không có những con người tiên phong dám ngồi lại với nhau, không có những cầu nối chân thành’.

Việt Nam chuẩn bị kỷ niệm tròn 40 năm ngày gọi là thống nhất đất nước trong khi một số người Việt ở Mỹ gọi là ‘ngày quốc hận’.

Trong khi đó ông Bảy cho rằng ‘chỉ có hòa hợp, hòa giải thì Việt Nam mình mới mạnh được’.

Ông Bảy nói: “Bây giờ mình chỉ có kẻ thù duy nhất là Trung Quốc thôi chứ còn người Việt Nam với nhau, anh em cùng một nước mà mấy chục năm nay cứ nghi ngờ, nghi kỵ rồi thậm chí chống phá lẫn nhau. Tôi thấy không hay chút nào. Tôi chỉ mong hòa hợp hòa giải, và đó là mong muốn duy nhất của tất cả người Việt Nam”.

Ngoài các chiến sĩ  hy sinh ở Trường Sa và Hoàng Sa, Thứ trưởng Sơn cho biết cũng cầu siêu để ‘tưởng nhớ và thương tiếc’ các thuyền nhân mà ông gọi là ‘các nạn nhân chiến tranh đã ra đi và bị chết trong cuối thập kỷ 1970, đầu thập kỷ 1980’.

Hồi đầu năm nay, một cuộc xuống đường ở Hà Nội để đánh dấu 40 năm ngày xảy ra trận hải chiến Hoàng  Sa đã ‘bị cản trở’, trong khi truyền thông trong nước đã mạnh dạn hơn khi đề cập tới trận chiến đẫm máu mà hơn 70 chiến sỹ thuộc hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh.

Chính phủ Việt Nam chưa công nhận 74 người ngã xuống trong trận chiến kéo dài từ ngày 17/1  tới 19/1/1974 là liệt sĩ.

 

Chính trị VN: ‘Thả tù chỉ là chiến thuật’ – BBC

17 Th4

 

Cập nhật: 15:45 GMT – thứ ba, 15 tháng 4, 2014
Các nhà lãnh đạo Việt Nam từ trái sang - Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang

Ông Thayer nói các nhà lãnh đạo Việt Nam chỉ thay đổi vì lợi ích trước mắt

 

Nhà quan sát Carl Thayer nói việc thả các nhà bất đồng chính kiến mới đây chỉ là chiến thuật thay vì là chiến lược của Hà Nội.

 

Trả lời BBC từ Hà Nội, nơi ông đang tham dự hội nghị về Việt Nam với sứ mạng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc, giáo sư Thayer từ Đại học New South Wales, Australia, nói:

“Việt Nam chịu sức ép của Hoa Kỳ liên quan tới TPP (Hiệp định Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương) và Hiệp định [hạt nhân dân sự giữa Hoa Kỳ và Việt Nam] 123 do nhân quyền được coi là điều kiện của cả hai văn bản này.

“Bởi vậy Việt Nam đã hành động nhanh chóng để gỡ bỏ những rào cản vốn có thể khiến Quốc hội Hoa Kỳ không thông qua hai hiệp định này.”

Ông Thayer cũng nói Bộ Chính trị Việt Nam đã ra nghị quyết từ năm ngoái về việc gia nhập càng nhiều tổ chức đa phương càng tốt và chuyện thả tù nhân của Hà Nội là cố gắng để thực hiện nghị quyết này.

Mặc dù vậy vị giáo sư cũng nói việc thả người chỉ là chiến thuật chứ không phải chiến lược của Việt Nam.

Ông nhận định chính trị nội bộ ở Việt Nam có thể làm cho mọi thứ thay đổi kể cả sự nhượng bộ tạm thời hiện nay.

“Trước khi vào Tổ chức Thương mại thế giới WTO Việt Nam cũng thả một số nhà bất đồng chính kiến.

“Nhưng sau đó họ bắt còn nhiều hơn.”

Ông Thayer cho rằng tình hình càng phức tạp và dễ thay đổi khi chỉ còn hai năm nữa là đến Đại hội Đảng sắp tới.

“Có thể sẽ có những tiếng nói chỉ trích mà họ không thể chấp nhận được.

“Và khi đó sẽ có sức ép phải dập tắt những chỉ trích đó.”

Kiếm ghế tổng bí thư?

Họ vừa thả những người bất đồng chính kiến vừa dò xét phản ứng của Hoa Kỳ.

Giáo sư Carl Thayer

Nhà quan sát Việt Nam lâu năm cho rằng Việt Nam đang mặc cả với Hoa Kỳ và cũng đang để ý tới tư cách mới của họ trong Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc.

“Họ vừa thả những người bất đồng chính kiến vừa dò xét phản ứng của Hoa Kỳ.

“Bởi vì cũng sẽ có những ý kiến nói rằng thả để làm gì nếu cuối cùng Quốc hội Hoa Kỳ vẫn không thông qua TPP và Hiệp định 123.”

Ông Thayer cũng cho rằng Việt Nam sẽ chỉ có những động thái vừa đủ để Washington có thể nói với Quốc hội rằng Hà Nội đã có những cố gắng và Hà Nội cũng hiểu Hoa Kỳ cũng có những lợi ích và quan tâm ngoài nhân quyền.

Ông chỉ ra rằng Chủ tịch Trương Tấn Sang đã được mời tới Nhà Trắng ngay cả khi Việt Nam không đạt những tiến bộ về nhân quyền mà Hoa Kỳ đòi hỏi.

Về lâu về dài, ông Thayer nói, Việt Nam sẽ giữ chính sách bảo thủ cố hữu với những người chỉ trích họ.

Vị giáo sư nói ông không tin rằng nhân sự mới trong dịp Đại hội Đảng sẽ diễn ra trong hai năm tới sẽ có những thay đổi cấp tiến.

Ông cũng bình luận rằng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng muốn chuyển sang làm tổng bí thư Đảng Cộng sản sau hai nhiệm kỳ thủ tướng và ông muốn là một “tổng bí thư mạnh”.

Điều đó đồng nghĩa với chuyện ông Dũng phải có một ‘thủ tướng đồng minh’, người mà hiện chưa có dấu hiệu rõ ràng nào về chuyện ai sẽ là một thủ tướng như thế nếu ông Dũng thực sự có thể trở thành tổng bí thư tại đại hội Đảng tới đây.

Thêm về tin này

 

‘VN lạm phát tướng trong thời bình’ – BBC

21 Th3
Cập nhật: 16:11 GMT – thứ năm, 20 tháng 3, 2014
Thăng hàm cấp tướng ở Việt NamCó ý kiến nói Việt Nam đã phong quá nhiều tướng trong thời bình

Việt Nam đang bị lạm phát về tướng lĩnh và sỹ quan cao cấp trong các lực lượng vũ trang, từ công an tới quân đội, mặc dù quốc gia hiện trong thời bình, theo một cựu quan chức Văn phòng Quốc hội Việt Nam.

Việc phong tướng phải dành cho các vị trí trực tiếp và thực sự có chức năng thống lãnh, chỉ huy chiến tranh, chiến đấu chống tội phạm, mà không nên áp dụng cơ chế quan chức theo lối văn phòng, đáo hạn lại lên chức.

 

Và không có chức năng, nhiệm vụ liên quan các lĩnh vực trên thì không nên thăng tướng, theo luật sư Trần Quốc Thuận, cựu Phó Chủ nhiệm Thường trực Văn phòng Quốc hội.

Bình luận với BBC hôm 20/3/2014, nhân dịp hai cơ quan là Bộ Quốc phòng và Bộ Công an Việt Nam ‘xin ý kiến’ Chính phủ về hai dự luật sửa đổi về sỹ quan thuộc hai ngành này, đặc biệt liên quan tới phong tướng lĩnh cao cấp, ông Thuận nói:

“Việc phong tướng dĩ nhiên liên quan tới vấn đề quân số, các tổ chức quân đội, nhưng nó cũng liên quan tới thành tích, chứ không chỉ tổ chức mở rộng đến đâu thì tự nhiên phong lãnh đạo, phong tướng lãnh tới đấy… Nó không hẳn gì đảm bảo cái tốt, mà chỉ tạo nặng nề cho bộ máy, chi tiêu tốn phí tiền thuế của nhân dân.

“Còn việc tướng lĩnh, thì người ta cho rằng tướng lĩnh phải thông qua chiến trận, thông qua thành tích, chứ không phải thông qua triển khai bộ máy thì tự nhiên có tướng lĩnh.”

“Bên công an có nhiều tướng quá, nhưng các vụ tham nhũng không thấy phá, không thấy phát hiện, không thấy truy bức, tìm được người; tội phạm thì phát triển ngày càng nhiều, thì hiện tượng đó cũng là không bình thường”

Luật sư Trần Quốc Thuận

Bình luận về việc người lãnh đạo ngành công an, Bộ trưởng Trần Đại Quang đề xuất với chính phủ áp dụng thăng thêm hàm đại tướng với chức vụ Thứ trưởng là Phó Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, với lý do người chỉ đạo ‘khi Bộ trưởng đi vắng’ cần tới hàm vị này, đồng thời điều này để ‘phù hợp thực tiễn và tương quan với quân đội’, luật sư Thuận nói thêm:

“Bên công an có nhiều tướng quá, nhưng các vụ tham nhũng không thấy phá, không thấy phát hiện, không thấy truy bức, tìm được người, tội phạm thì phát triển ngày càng nhiều, thì hiện tượng đó cũng là không bình thường,

“Còn người đó phải cần phong tướng thì mới làm việc này, việc kia được, nhưng phong tướng lĩnh phải trên cơ sở là đấu tranh phòng chống tội phạm, rồi phòng chống tham nhũng, thì đó là vấn đề nóng bỏng nhất ở Việt Nam, về mặt công an vừa qua, thành tích chống tham nhũng thấy còn mờ nhạt, rất là yếu.”

‘Phải sửa lại luật’

Cựu quan chức lãnh đạo Văn phòng Quốc hội nói:

“Người ta dựa vào mô hình tổ chức, ví dụ nó là một cục, một tổng cục, một bộ phận tương đương như vụ, cục, thì đứng đầu, trong luật quy định là tướng, cho nên đó là điều không bình thường…

Tướng lĩnh trong ngành công anBộ Công an đề xuất quy định thêm một hàm Đại tướng dành cho Thứ trưởng thường trực

“Trong ngành công an, bây giờ phải sửa luật lại, phải quy định lại là những người không phải là thực hành quyền thống lãnh, chỉ huy này khác, đánh trận hay chống tội phạm hay chống tham nhũng, thì họ cũng là những người cán bộ, công chức bình thường, bây giờ đeo quân hàm quan này kia, cho nên rất không bình thường.”

“Có đơn vị chúng tôi làm việc có tới hàng năm, sáu, bảy, chín, mười đại tá… thì đó là một câu chuyện liên quan tới vấn đề cốt tử là phải sửa luật sỹ quan quân đội nhân dân, và trong đó có sỹ quan của công an có luật điều đó, tự nhiên họ dựa vào đó và họ phong và tạo nên điều mà gọi là lạm phát tướng lĩnh, lạm phát sỹ quan.”

Trong đề xuất sửa luật sỹ quan trong các lực lượng vũ trang hiện nay, có điều luật cho thấy từ cấp đại tá để được thăng hàm lên cấp thiếu tướng, phải có bốn năm thử thách, nhưng giữa các cấp tướng, không có quy định về thời gian thử thách này.

Bình luận về điều này, cũng như khả năng có vai trò, quyền lực của nhân dân trong việc giám sát các vụ thăng hàm cấp tướng và sỹ quan cao cấp, luật sư Thuận nêu quan điểm:

“Bây giờ tướng lĩnh nhiều, tướng lĩnh không qua thử thách, mà tướng lĩnh chỉ huy những người cầm vũ khí, thì điều đó phải đáng suy nghĩ lắm, mà đòi hỏi phải công khai các tiêu chí thế này, thế khác…

“Cho nên pháp luật Việt Nam mù mờ, mà quyền lực, bộ máy giao cho nhiều người, mà những người đó không qua đào tạo, không qua được thử thách, mà không biết ý tâm của người đó như thế nào, mà nếu họ cầm súng, họ có quyền lực trong tay, đôi khi nó không là điều tốt mà nó là tai họa.”

‘Phong tướng làm gì?’

Đây không phải lần đầu tiên trong công luận đặt ra câu hỏi về khuynh hướng được cho là lạm phát tướng tá ở Việt Nam, cũng như đặt câu hỏi về tính hợp lý, căn cứ của việc thăng hàm với số lượng ‘tràn lan’ các sỹ quan cao cấp trong lực lượng vũ trang, cả quân đội, lẫn công an.

Bên lề một phiên họp Quốc hội vào ngày 28/10/2013, Tiến sỹ Đỗ Văn Đương, Ủy viên thường trực Ủy ban Tư pháp Quốc hội Việt Nam đã lên tiếng với truyền thông trong nước và phần nào chỉ ra nguyên nhân.

“Đất nước mình còn khó khăn, tướng thì phải trận mạc chứ nhà văn, nhà báo, giám đốc doanh nghiệp làm kinh tế thì phong tướng làm gì? Theo tôi, những đối tượng đó đã có hình thức tôn vinh khác”

TS Đỗ Văn Đương

Ông nói: “Ở Việc Nam, riêng lực lượng vũ trang thì đồng lương gắn với cấp hàm. Cho nên lãnh đạo cấp phó cũng phong tướng…”

“Những trường hợp trót phong rồi thì nên giữ nguyên trạng, tới đây sửa Luật công an nhân dân, sĩ quan công an nhân dân và sĩ quan quân đội nhân dân thì phải hạn chế lại.

“Khi những người hiện tại về hưu rồi vài năm tới mới bớt tướng đi được. Đất nước mình còn khó khăn, tướng thì phải trận mạc chứ nhà văn, nhà báo, giám đốc doanh nghiệp làm kinh tế thì phong tướng làm gì? Theo tôi, những đối tượng đó đã có hình thức tôn vinh khác.”

Tuy nhiên, có vẻ như giải pháp cho ‘lạm phát tướng lãnh’ không chỉ liên quan tới ‘hình thức tôn vinh khác’, mà trên thực tế, tăng số lượng và quy mô tướng lãnh, sỹ quan cao cấp trong quân đội và công an, còn liên quan tới chế độ chính sách và ngân sách do người dân đóng góp để trả lương, bổng, phúc lợi cho các tướng lãnh này.

Trong một cuộc trao đổi với BBC từ trước, một chuyên gia về chính sách công thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư bình luận về cơ chế thăng hàm lâu nay vẫn được thực hiện.

“Nếu ba năm một lần tăng lương như vậy, thì lương sẽ rất lớn, và cứ đặc biệt tăng lương như thế,” PGS. TS Phạm Quý Thọ, Chủ nhiệm Bộ môn Chính sách công, Học viện Chính sách và Phát triển nói.

“Đặc biệt trong trường hợp thăng quân hàm hiện nay cũng như thế, số sỹ quan cấp tá, cấp tướng rất nhiều, tất nhiên những ai được đảm nhiệm những chức vụ nhất định như cục trưởng, cục phó, hoặc lãnh đạo cao hơn, thứ trưởng hoặc các chức khác, thì người ta sẽ tiếp tục được duy trì.”

“Việc thăng quân hàm cấp tướng phải xem xét chặt chẽ cả ba yếu tố: Tiêu chuẩn là căn cứ để xét quyết định thăng quân hàm, đồng thời gắn với nhu cầu và thời gian tích luỹ để xem xét”

Bài trên Quân đội Nhân dân 28/2/2014

“Nếu cứ tăng đều đặn cả về quân hàm và lương bổng như vậy, mà quân hàm đi kèm theo chế độ lương bổng, sẽ gây một áp lực về lương rất lớn,” ông Thọ nói với BBC.

Bên Trung Quốc, nước có mô hình thể chế giống Việt Nam nhưng dân số đông hơn nhiều (1,3 tỷ), cho đến tháng 7/2011, toàn bộ Quân Giải phóng chỉ có 191 vị tướng, theo Tân Hoa Xã.

Vấn đề ‘tiêu chuẩn phong tướng’ cũng được chính báo Bấm Quân đội Nhân dân ở Việt Nam nêu ra, gần nhất là trong tháng 2/2014.

Tuy nhiên, tờ báo không nói rõ hiện có bao nhiêu sỹ quan mang hàm cấp tướng tại ngũ ở Việt Nam.

Vì sao VN tránh được bi kịch thánh chiến?

8 Th3

 

Tâm lý ‘vái tứ phương’ khiến người Việt bao dung hơn, thân thiện, dễ dàng tiếp nhận sự khác biệt hơn. Các giá trị dung hòa lẫn nhau khiến Việt Nam không xảy ra chiến tranh tôn giáo hay thánh chiến.

LTS: Nhà báo Nguyễn Phương Mai, 37 tuổi, có bằng TS về giao tiếp đa văn hóa (Intercultural Communication) tại ĐH. Utrecht, Hà Lan. Chị là chuyên gia đào tạo về kỹ năng mềm, và giảng dạy môn Đàm phán/ Giao tiếp Đa văn Hóa tại ĐH Khoa học ứng dụng Amsterdam, Hà Lan và là nhà báo tự do. Chị đã đặt chân tới hơn 80 quốc gia khác nhau.

Nguyễn Phương Mai là tác giả cuốn “Tôi là một con lừa” xuất bản năm 2013. Ngày 12/3 sắp tới chị sẽ cho ra mắt cuốn tiếp theo, “Con đường Hồi giáo”, sau chuyến đi qua 13 nước Trung Đông thời kỳ hậu Mùa Xuân Ả Rập.

Tuần Việt Nam có cuộc trò chuyện với TS Nguyễn Phương Mai về ảnh hưởng của tôn giáo, tín ngưỡng tới sự phát triển xã hội, và quan điểm tự do của phụ nữ.

tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa, xã hội, Nguyễn Phương Mai
TS Nguyễn Phương Mai. Ảnh: Lê Anh Dũng

‘Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài’

Những dịp đầu năm, mùa lễ hội, cũng là dịp để những nhà nghiên cứu, nhà văn hóa.. nhìn nhận vào sự ảnh hưởng và tác động của tôn giáo, tín ngưỡng, thế giới tâm linh vào đời sống con người. Chị có thể chia sẻ những kinh nghiệm của chị. Sự tác động này ở những quốc gia chị từng biết, có khác ở Việt Nam?

Thế giới chia ra ba nhánh tín ngưỡng: 1) đa thần giáo: thờ nhiều thần thánh như thần Mặt Trăng, thần Mặt trời… 2) độc thần giáo: thờ một Thượng Đế toàn năng duy nhất, gồm có đạo Do Thái, Thiên Chúa, đạo Hồi… 3) nhân thánh giáo: thờ người trần như Phật giáo, Khổng giáo, đạo ông bà…

Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á có xu hướng nghiêng về nhánh thứ ba: thờ những con người được suy tôn thành thần thánh. Điều đó giải thích việc có đền thờ các danh nhân, anh hùng dân tộc ở Việt Nam.

Suốt mấy ngàn năm dựng nước, người Việt luôn phải chống chọi với đủ các thế lực ngoại xâm khác nhau, là nơi giao hòa của nhiều nhánh cành văn hóa và tôn giáo khác nhau nên tâm thế của họ là “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, luôn có xu hướng biến chuyển để phù hợp. Người Việt du nhập rất nhiều tôn giáo. Trên bàn thờ của người Việt có thể có vừa có chúa Giê-xu, vừa có ảnh tổ tiên ông bà.

Trong miền Nam, người theo tam giáo có thể đến vái đền của đạo Hindu thờ linga, người Chăm Bà ni ngoài thờ Thượng Đế của đạo Hồi còn thờ thần mưa, thần gió. Đạo Cao Đài thuần Việt thờ cả một ông vua bên Thổ Nhĩ Kỳ. Linh vật giáo cũng rất phổ biến ở nước ta với niềm tin vào sự linh thiêng của sông, suối, hòn đá, bụi cây (thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề). Sự biến đổi mình để phù hợp với hoàn cảnh để tồn tại thấm vào và thể hiện ra ngay ở tôn giáo. Chính vì sự hòa trộn tôn giáo này mà chúng ta có tâm lý vái tứ phương,

Từ góc độ tích cực, sự phong phú đó khiến người Việt bao dung hơn, thân thiện, dễ dàng tiếp nhận sự khác biệt hơn. Các giá trị được lặn vào, dung hòa lẫn nhau; không loại trừ và mâu thuẫn. Chính điều đó khiến Việt Nam không xảy ra những cuộc chiến tranh tôn giáo lớn, không xảy ra bi kịch thánh chiến như ở các nước Trung Đông, châu Âu.

tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa, xã hội, Nguyễn Phương Mai
Tâm lý dễ chấp nhận văn hóa, tôn giáo khác khiến ngày lễ Noel cũng thành một ngày vui ở Việt Nam. Ảnh: Lê Anh Dũng

Khi thần thánh ‘mua’ được, giá trị tâm linh biến đổi

Những sự lộn xộn nơi đền chùa, lễ hội, buôn thần bán thánh… khiến người ta đang đặt những câu hỏi về giá trị của thế giới tâm linh. Điều này nên lý giải thế nào?

Nên bắt đầu từ câu hỏi: Tại sao có tôn giáo và taị sao tôn giáo vẫn còn tồn tại?

Thứ nhất, tôn giáo được hình thành từ khao khát có thể tìm ra câu trả lời cho muôn vàn dấu hỏi: Tại sao chúng ta ở đây? Chúng ta sinh ra từ đâu? Tại sao có sông núi biển trời?..vv. Bằng cách đó, tôn giáo hình thành với tư cách một khoa học.

Thứ hai, tôn giáo tồn tại để thỏa mãn hoài bão về sự bất tử, toàn năng, thống trị vũ trụ của loài người. Khát khao đó được phản chiếu thành hình ảnh thánh thần và Thượng Đế, bất sinh bất diệt, nhìn rõ tứ phương vũ trụ.

Thứ ba, tôn giáo có chức năng duy trì đạo đức xã hội. Niềm tin vào luật nhân quả, vào thiên đường và địa ngục sẽ góp phần vào việc hối thúc con người sống thiện hơn. Khi xã hội ổn định, người dân sống ngay thẳng, thiện tâm, thế giới tâm linh cũng vậy.

tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa, xã hội, Nguyễn Phương Mai
Bìa cuốn sách Con đường Hồi giáo

Nhưng khi niềm tin mất đi, đạo đức khủng hoảng, kinh tế khủng hoảng, người dân sẽ chỉ còn niềm tin và bấu víu vào thế giới tâm linh. Đáng buồn thay, đây không những là sự bấu víu mà còn là sự bóp méo thế giới tâm linh. Những kẻ suy kiệt niềm tin này không những tìm sự chở che ở thế giới thần thánh mà thậm chí còn cho rằng thần thánh có thể đút lót, tham nhũng bằng tiền.

Đó là sự bắt đầu của những hành động báng bổ thần thánh, bởi thần thánh lúc đó đã “mua” được.  Chẳng hạn như những quan tham đi chùa cầu xin thần thánh ban phước cho những phi vụ làm ăn vô đạo.

Khi người ta tin rằng tôn giáo không còn chức năng trấn giữ đạo đức xã hội, thậm chí tôn giáo có thể “phản bội” các giá trị đạo đức, giúp đỡ kẻ ác kẻ tham, thì hẳn nhiên con người trở nên hoang mang, xã hội sẽ bấn loạn. Thần thánh trở thành âm binh, xấu tốt không còn phân biệt. Chung quy gốc rễ của vấn đề là sự khủng hoảng niềm tin.

Điều này có xảy ra ở những quốc gia khác, vùng tôn giáo khác?

Khi niềm tin bị mất đi là khi tôn giáo trở nên đắt hàng nhất. Đó không phải là quy luật nhưng xảy ra khá phổ biến ở một số quốc gia đang phát triển trên thế giới. Khi tôn giáo lên ngôi đó cũng là khi quyền lực lên ngôi. Mà quyền lực thì đương nhiên là có khả năng làm băng hoại con người.

Quyền lực tối thượng sẽ dẫn đến khả năng phá hủy tối đa.

(Còn nữa)

Hoàng Hường(Thực hiện)

 

Cùng tác giả:

>>Đừng để truyền thông ‘lề trái’ giễu ‘lề phải’

>> Sẽ không còn nhục hình như ‘vụ Nguyễn Thanh Chấn’?

>> Có sự cố, chỉ ngay kẻ phải “giơ đầu” chịu

VN cáo buộc Mỹ ‘can thiệp chuyện nội bộ’ trong vụ án LS Lê Quốc Quân – VOA

23 Th2

 

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Jen Psaki nói bản án của luật sư Quân không phù hợp với quyền tự do bày tỏ quan điểm, các nghĩa vụ của Việt Nam theo Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Jen Psaki nói bản án của luật sư Quân không phù hợp với quyền tự do bày tỏ quan điểm, các nghĩa vụ của Việt Nam theo Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị

 
CỠ CHỮ +

21.02.2014

Việt Nam phản bác việc Hoa Kỳ chỉ trích thành tích nhân quyền của Hà Nội trong vụ xử luật sư nhân quyền Lê Quốc Quân.Nhà bất đồng chính kiến, blogger Lê Quốc Quân, bị giữ y án 30 tháng tù giam tại tòa phúc thẩm 18/2 về tội danh ‘trốn thuế’ sau các hoạt động ôn hòa cổ xúy dân chủ-nhân quyền-đa đảng và tự do tôn giáo tại Việt Nam.

Hoa Kỳ, EU, và các tổ chức bảo vệ nhân quyền trên thế giới đã lên tiếng bày tỏ quan ngại và phản đối bản án mà họ xem là có động cơ chính trị dành cho ông Quân.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ, Jen Psaki, ngày 18/2 nói bản án của luật sư Quân không phù hợp với quyền tự do bày tỏ quan điểm, các nghĩa vụ của Việt Nam theo Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị, cũng như những cam kết thể hiện trong Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền.

Đáp lại phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình tại cuộc họp báo thường kỳ ngày 20/2 tuyên bố “Phát biểu này là không phù hợp và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.”

Ông Bình cũng nhắc lại lập luận lâu nay của Hà Nội đối với các chỉ trích từ quốc tế, rằng: “Ở Việt Nam không có cái gọi là ‘tù nhân lương tâm’. Những người vi phạm pháp luật bị xử lý theo đúng các quy định của pháp luật.”

Nguồn: Vietnam’s Ministry Of Foreign Affairs website

Người dân không kỳ vọng VN cải thiện sau Kiểm điểm Nhân quyền UPR – VOA

6 Th2

 

 
CỠ CHỮ +

05.02.2014

Buổi Kiểm điểm Nhân quyền Định kỳ Phổ quát UPR của Việt Nam đang diễn ra tại trụ sở Liên hiệp quốc ở Geneva, từ 2 giờ rưỡi đến 6 giờ chiều nay 5/2 (giờ địa phương).

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc mở đầu bản báo cáo dài hơn 20 trang của phái đoàn chính phủ Việt Nam tại buổi kiểm điểm UPR rằng: “Chính phủ Việt Nam đã tăng đôi các nỗ lực thực thi các chính sách nhân quyền kể cả những khuyến nghị được Hà Nội chấp thuận từ đợt UPR lần trước vào năm 2009.”

Đây là đợt UPR thứ nhì của Việt Nam, nhưng lại là lần đầu tiên Hà Nội báo cáo thành tích nhân quyền trước Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc trong tư cách là thành viên của Hội đồng, nhiệm kỳ 2014-2016.

Vấn đề nhân quyền của Việt Nam nhiều lắm từ quyền tự do đi lại đến tự do bỏ phiếu, nhưng tôi quan tâm nhất là quyền tự do ngôn luận, vấn đề tiên quyết để Việt Nam hội nhập và khá hơn trong tương lai…
Lê Bảo từ Sài Gòn.

Phiên kiểm điểm UPR diễn ra giữa các vi phạm nhân quyền ‘khốc liệt’ tại Việt Nam_ theo đánh giá của giới bảo vệ nhân quyền quốc tế_với số người chỉ trích nhà nước bị bắt giam ngày càng tăng, những vụ đàn áp thô bạo các sinh hoạt cổ xúy dân chủ-nhân quyền trong nước ngày một leo thang, cùng các quy định siết chặt hơn quyền tự do ngôn luận và tự do internet.

Kỳ UPR 4 năm một lần được xem là quan trọng đối với Hà Nội và được quốc tế đặc biệt chú ý trong bối cảnh thực trạng nhân quyền Việt Nam đang bị cộng đồng thế giới lên án gay gắt.

Người dân Việt Nam đón nhận sự kiện quan trọng và đáng chú ý này như thế nào?

Anh Lê Bảo từ Sài Gòn cho biết:

“Tôi theo dõi sát vì Việt Nam vừa gia nhập Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc. Có luồng dư luận cho rằng Việt Nam vào Hội đồng này chủ yếu là để tránh sự chỉ trích chứ không phải để cải thiện nhân quyền. Hơn nữa là vì trước giờ vi phạm nhân quyền tại Việt Nam dày đặc, công khai dù nhân quyền được bảo đảm trong Hiến pháp. Vấn đề nhân quyền của Việt Nam nhiều lắm từ quyền tự do đi lại đến tự do bỏ phiếu, nhưng tôi quan tâm nhất là quyền tự do ngôn luận, vấn đề tiên quyết để Việt Nam hội nhập và khá hơn trong tương lai.”

Những gì diễn ra trong cuộc sống hằng ngày ở đây vẫn như thế, không thay đổi gì cả. Chả thay đổi gì đâu. Nhìn cuộc sống xung quanh mọi thứ đang tồi tệ đi rất nhiều từ kinh tế tới nhân quyền….
Lâm Nguyễn từ Hà Nội.

Lâm Nguyễn, một thanh niên tại thủ đô Hà Nội, nói trong số các vấn đề nhân quyền nổi cộm của Việt Nam, anh quan tâm đến tình trạng tù nhân lương tâm và quyền đất đai của nông dân bị tước đoạt. Tuy nhiên, anh không hy vọng UPR sẽ giúp tạo ra những chuyển biến tích cực tại Việt Nam:

“Em không hy vọng gì đâu ạ. Họ muốn cải thiện thì họ đã có thừa thời gian để làm rồi. Ngay những việc nhỏ như họ cấm nhà báo Phạm Chí Dũng sang Geneve nhân dịp UPR này đã cho thấy trong thâm tâm họ không muốn cải thiện rồi. Thật sự những gì đang xảy ra trong nước, họ đang làm những việc hoàn toàn trái với những gì họ đang báo cáo trước Hội đồng. Những gì diễn ra trong cuộc sống hằng ngày ở đây vẫn như thế, không thay đổi gì cả. Chả thay đổi gì đâu. Nhìn cuộc sống xung quanh mọi thứ đang tồi tệ đi rất nhiều từ kinh tế tới nhân quyền.”

Ngọc Cầm, một cư dân miền Bắc, cho biết cô không lưu tâm đến sự kiện UPR vì không nghĩ nó có tác dụng rõ rệt:

“Không có quan tâm sự kiện này, bởi vì thấy nó cũng không mang lại ý nghĩa gì nhiều.”

Một bạn trẻ tên Tâm ở Trà Vinh nói dù anh có quan tâm đến sự kiện báo cáo UPR nhưng rất sợ chia sẻ cảm nghĩ về vấn đề nhân quyền ‘nhạy cảm’ ở Việt Nam:

“Có đọc báo, có nghe, có biết. Nói chung tình hình Việt Nam thì từ từ cải thiện. Người dân ai cũng quan tâm vấn đề này không phải riêng tôi, nhưng thôi cái này nói không được.”

Kiểm điểm Nhân quyền Phổ quát trước Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc là một phần trong quy trình UPR, cơ chế được thành lập từ năm 2006 nhằm đánh giá thành tích nhân quyền của tất cả các quốc gia thành viên Liên hiệp quốc, tạo cơ hội cho các nước cải thiện nhân quyền dựa trên những khuyến nghị của thế giới.

Nói chung tình hình Việt Nam thì từ từ cải thiện. Người dân ai cũng quan tâm vấn đề này không phải riêng tôi, nhưng thôi cái này nói không được.
Tâm từ Trà Vinh.

Trong kỳ kiểm điểm đầu tiên năm 2009, Hà Nội đã bác bỏ nhiều đề nghị cải thiện về tự do báo chí, tự do ngôn luận, vốn là những quan tâm chính đối với bức tranh nhân quyền Việt Nam lâu nay. Trong số này có khuyến nghị đảm bảo cho người bị giam giữ tiếp cận với đại diện pháp lý không bị ngăn trở, bớt áp dụng luật an ninh để hạn chế dân thảo luận về dân chủ-đa đảng hay chỉ trích chính phủ, hay cho phép truyền thông tư nhân độc lập.

Trong bài báo cáo tại Liên hiệp quốc lần này, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc dẫn đầu phái đoàn Việt Nam tại UPR cho biết những khuyến nghị bị Hà Nội bác trong lần UPR trước là do không tương ứng với các điều kiện ở Việt Nam.

Ông Ngọc nói, tuy vậy, nhà nước Việt Nam vẫn nghiên cứu nghiêm túc các khuyến nghị đó về khả năng thực thi.

Theo các tổ chức bảo vệ nhân quyền thế giới, ngay cả với một số khuyến nghị Hà Nội đã chấp thuận liên quan đến tôn trọng quyền tự do bày tỏ quan điểm công dân cũng không được cải thiện mà bằng chứng là kể từ UPR lần trước đến nay chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục đàn áp các ngòi bút, các blogger biểu đạt tư tưởng độc lập, các nhà hoạt động, và các nhà bảo vệ nhân quyền trong nước.

Ngược lại, Hà Nội nói nhân quyền Việt Nam không ngừng được cải tiến và nâng cao.

Thứ trưởng Kim Ngọc tuyên bố Việt Nam đã đáp ứng 80% trong số 123 khuyến nghị về nhân quyền mà các nước đưa ra cho Hà Nội năm 2009.

Người dân không kỳ vọng Việt Nam cải thiện sau Kiểm điểm Nhân quyền UPR
// //

//

Ông Ngọc nói thêm rằng các nỗ lực của Việt Nam nhằm đảm bảo việc bảo vệ và phát huy nhân quyền không chỉ là nhiệm vụ của nhà nước mà là một tiến trình cộng gộp có sự tham gia của tất cả các bên liên quan đặc biệt là mỗi công dân.

Trong số các câu hỏi phía Hoa Kỳ đưa ra chất vấn Việt Nam tại phiên UPR lần này bao gồm liệu Hà Nội có trả tự do cho những công dân đang bị giam giữ vì thực hiện quyền con người hay không.

TS Trần Công Trục giải đáp về Luật Biển: Lịch sử hình thành và phát triển Luật Biển VN? – infonet

31 Th1

Ngày 21 tháng 6 năm 2012, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật Biển Việt Nam.

 
TS Trần Công Trục, Nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ

TS Trần Công Trục trả lời: Căn cứ vào lịch sử quản lý biển của Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ, Luật Biển Việt Nam đã hình thành và phát triển qua các giai đoạn như sau:

          – Trước năm 1884.

          – Từ năm 1884-1954

          – Từ năm 1954- 1976

          – Từ năm 1976 đến nay.

          – Thời kỳ trước năm 1884, các nhà nước phong kiến Việt Nam đã quan tâm đến việc khai thác và quản lý biển: chủ yếu là tổ chức khai thác các nguồn lợi từ biển như mở cửa thông thương với các nước phương Tây: Vân Đồn năm (1010-1788); Hội An (thế kỷ XVII-XVIII). Sự phát triển thương mại thông qua đường biển đòi hỏi phải triển khai các hoạt động tương ứng nhằm quản lý biển và chống nạn cướp biển trên các cùng biển tiếp giáp với đất liền và các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

          – Dưới thời thuộc Pháp (1884-1954): Ngay sau khi thiết lập chế độ thuộc địa tại Nam Kỳ, chế độ bảo hộ tại Trung Kỳ và Bắc Kỳ, Pháp đã chú trọng tới việc áp dụng các luật lệ về biển của “Mẫu Quốc”: Nghị định 9/12/1926 quy định áp dụng Luật 1/3/1888 cấm người nước ngoài đánh cá trong lãnh hải rộng 3 hải lý cho các thuộc địa của Pháp. Ngày 22/9/1936, Bộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp ký ban hành Nghi định quy định vùng đánh cá Đông Dương là 20km tính từ ngấn nước thủy triều thấp nhất. Đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, Pháp đã nhân danh Nhà nước Việt Nam tổ chức bảo vệ, quản lý, như: đồn trú, tuần tra, thành lập đơn vị hành chính, xây trạm khí tượng, đài vô tuyến điện, trạm đèn biển…

          – Luật biển giai đoạn 1954-1976: Việt Nam Cộng hòa, với tư cách là chủ thể trong quan hệ quốc tế theo qui định của Hiệp định Giơ ne vơ, là thành viên của hơn 30 tổ chức quốc tế, đã có mặt tại Hội nghị của LHQ về Luật Biển lần thứ 1 tại Giơ ne vơ năm 1958. Tuyên bố ngày 27/4/1965, Việt Nam Cộng hòa đã chính thức thiết lập chiều rộng lãnh hải rộng 3 hải lý. Ngày 01 tháng 4 năm 1972, VNCH tuyên bố vùng đánh cá đặc quyền rộng 50 hải lý tính từ ranh giới ngoài của lãnh hải. Năm 1967, Tổng thống VNCH đã tuyên bố về thẩm quyền riêng biệt và quyền kiểm soát trực tiếp trên thềm lục địa tiếp giáp với lãnh hải. Năm 1970, VNCH thông qua luật dầu khí. Ngày 9/6/1971 công bố sơ đồ phân chia 33 lô dầu khí trên thềm lục địa theo quan điểm đơn phương của mình. Trong thời gian này, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có yêu sách và chưa công bố một văn bản quy phạm pháp luật nào về biển, ngoại trừ đã ký một số Hiệp định nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1957, 1960, 1963.     

          -Thời kỳ sau năm 1976:

          Sau khi chính quyền VNCH sụp đổ, Chính phủ Cách mạng lâm thời Công hoà Miền Nam Việt Nam trở thành người đại diện chính thức của nhân dân miền Nam Việt Nam. Vì vậy tại phiên họp ngày 07 tháng 5 năm 1975, Uỷ ban kiểm tra tư cách thành viên tham gia Hội nghị của LHQ về Luật Biển lần thứ 3 đã tuyên bố công nhận quyền đại diện của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Sau khi thống nhất đất nước, quyền đại diện tham gia Hội nghị này là Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Đoàn đại biểu của VN tham dự Hội nghị đã ủng hộ việc xác lập lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền về kinh tế 200 hải lý theo như Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 12 tháng 5 năm 1977 về các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam. Việt Nam đã trở thành nước đầu tiên trong khu vực Đông Nam châu Á thiết lập vùng Đặc quyền về kinh tế 200 hải lý.

Về Thềm lục địa, Việt Nam khẳng định quan điểm dựa theo nguyên tắc kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của Quốc gia ven biển ra cho đến mép ngoài của rìa lục địa. Việt Nam cũng tham gia vào nhóm ủng hộ nguyên tắc công bằng áp dụng trong phân định các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các Quốc gia ven biển đối diện hoặc kế cận.

Ngoài ra, Việt Nam còn ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để tăng cường công tác quản lý biển vừa nâng cao hiệu quả của công tác này vừa phù hợp với xu thế chung của Luật Biên quốc tế. Ngày 21 tháng 6 năm 2012, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam đã thông qua Luật Biển Việt Nam.

Hồng Chuyên (chọn đăng)

VN, TQ cam kết duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông – VOA

24 Th1
 
Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình

Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình

 
CỠ CHỮ +

23.01.2014

Các nhà lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc cam kết duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông, không lâu sau khi các qui định mới của Bắc Kinh về nghề cá ở vùng biển có tranh chấp gặp phải sự chỉ trích mạnh mẽ của nhiều nước, từ Việt Nam, Philippines cho tới Hoa Kỳ và Nhật Bản.

Theo tin của Tân Hoa Xã, cam kết này được đưa ra trong cuộc điện đàm hôm thứ tư (22-1-2014) giữa Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Bản tin nói thêm rằng đôi bên đồng ý giải quyết tranh chấp thông qua thương thuyết song phương và thảo luận hữu nghị để duy trì ổn định ở Biển Đông.

Trong khi đó, tin của chính phủ Việt Nam nói rằng đôi bên kiên trì phối hợp duy trì hòa bình, ổn định trên Biển Đông theo đúng các nhận thức và thỏa thuận chung giữa lãnh đạo cấp cao hai nước.

Tin về cuộc điện đàm giữa hai nhà lãnh đạo Việt-Trung được loan tải không lâu sau khi Trung Quốc công bố các qui định mới, bắt đầu có hiệu lực từ đầu năm nay, để đòi tàu thuyền nước ngoài xin phép chính quyền Trung Quốc trước khi đến đánh cá hoặc thăm dò trong vùng biển của đường 9 đoạn đứt khúc, thường được gọi là “đường lưỡi bò”.

Khu vực này là nơi có những yêu sách chủ quyền chống lấn nhau giữa Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan, Philippines, Malaysia và Brunei.

Để đáp lại hành động được cho là “ngang ngược” của Bắc Kinh, chính phủ ở Hà Nội đã tái khẳng định yêu sách chủ quyền ở Biển Đông và nói rằng tất cả những hành động của bất kỳ nước nào trong vùng này mà không có sự chấp thuận của Việt Nam đều là bất hợp pháp và không có hiệu lực.

Hoa Kỳ cũng chính thức lên tiếng phản đối hành động của Trung Quốc mà họ cho là “khiêu khích và gây nguy hiểm.”

Ngoài ra, chính phủ Nhật Bản, là nước đang có một vụ tranh chấp gay gắt với Trung Quốc về chủ quyền của một nhóm đảo ở Biển Hoa Đông, cũng nói rằng qui định mới của Trung Quốc là một mưu toan nhằm đơn phương thay đổi hiện trạng trong khu vực và vi phạm Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển.

Nguồn: Xinhua / Tuoi Tre

 
 

Giáp Ngọ và Con Ngựa Kinh Tế VN – Alan Phan

19 Th1
January 18, 2014 By 24 Comments

4 Tín Hiệu Cho Kinh Tế Việt Nam

T/S Alan Phan

 

12/12/2013

(Bài viết đã đăng trên báo Xuân Giáp Ngọ của Doanh Nhân xuất bản ngày 11 Jan 2014)

Sau một đêm đông dài, mọi người đều mong đợi và sẵn sàng cho mùa xuân mới. Tết Giáp Ngọ có là một khởi đầu của hồi phục sau giai đoạn suy thoái đã kéo dài từ 2009? Theo kinh nghiệm của kinh tế thế giới, chu kỳ suy thoái thường kéo dài trung bình khoảng 5 năm. Do đó nếu chúng ta là một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa và đã hội nhập, nhiều chuyên gia sẽ kết luận cuối 2014, chúng ta sẽ thấy ánh sáng le lói cuối đường hầm.

Nhưng Việt Nam luôn là một ngoại lệ với nhiều nghịch lý. Nền kinh tế này thực ra là một hỗn hợp cùa những mảnh sáng, tối, không rõ ràng và chịu nhiều ảnh hưởng của các nhóm lợi ích nhỏ nhưng đầy quyền lực. Do đó, các dự đoán thường dựa trên nhiều giả thuyết và măc định, tuỳ cảm quan cá nhân và theo đơn đặt hàng của vài nhóm lợi ích, kể cả chánh phủ. Tuy nhiên, dù có cá tính khá đặc thù, chúng ta vẫn có thể đoán bắt xu hướng chung về một hướng đi dựa trên các sự kiện và hành xử đã xẩy ra trong những năm vừa qua.

4 sự kiện theo tôi có thể là móc ngoặc của một chu kỳ mới trong 5 năm sắp đến. Khó có thể nói một hai sự kiện có thể là lực đẩy chính, vì nhiều tương quan không cân bằng lắm trong bối cảnh thay đổi thường trực của thế giới ngoài kia cũng như tác động của các phản ứng xã hội và chính trị trong nước. Mỗi người chúng ta đều có thể rút ra kết luận khác nhau từ 4 sự kiện gốc này và đều có thể đúng hay sai.

Theo phong tục của ngày Tết cổ truyến, hãy bắt đầu bằng “good news” (tin tốt).

1.      Sự phát triển của khu vực FDI (đầu tư nước ngoài):

Diểm nổi bật của nền kinh tế Việt trong 2 năm vừa qua là sự quay lại của các nhà đầu tư FDI. Nhiều lý do khách quan: (a) gia tăng phí tổn sản xuất tại Trung Quốc (b) thiếu kiên nhẫn với những thị trường mới mở ở ASEAN như Myanmar, Laos, Kampuchea (c) chánh sách khuyến mãi khá tích cực của chánh phủ Việt để mong một cú hích mới chống suy thoái và (d) thị trường nội địa vẫn còn nhiều tiềm năng (e) suy thoái làm giảm giá bán các doanh nghiệp Việt trong nhiều phi vụ M&A và (f) chánh sách đón đầu TPP của Hàn Quốc, Đài Loan và ngay cả Trung Quốc.

Với một đầu tư lớn vào các nhà máy lắp ráp điện tử, tập đoàn Samsung đã chiếm hơn 20 tỷ USD về xuất khẩu, tương đương với hơn 14% của GDP nước nhà. Nhiều FDI nhỏ hơn đến từ các nước Á Châu bắt đầu vào Việt Nam tìm kiếm cơ hội và kết quả của các hoạt động hiện tại sẽ thể hiện trong tăng trưởng của khu vực FDI trong nhiều năm tới.

Đầu tư FDI sẽ mang lại các lợi ích thiết thực như tạo việc làm cho nhân công, nâng cao chất lượng quản lý của doanh nhân Việt nhờ cạnh tranh, và có thể giúp nguồn cầu của chứng khoán và bất động sản phần nào. Ở bình diện khác, sự gia tăng FDI sẽ làm suy yếu các doanh nghiệp Việt (tư nhân và nhà nước) và tạo nên một lực chủ đạo mới nằm ngoài sự kiểm soát của chánh quyền và các nhóm lợi ích hiện tại. Vốn có lòng yêu nước cao độ, người dân Việt Nam có thể bất mãn sâu xa với sự lệ thuộc mới vào “giới tư bản nước ngoài”. Mọi phản ứng chánh trị bất lợi sẽ khiến dòng tiền FDI đổi chiều với hệ quả là một suy thoái mới.

2.      Con thiên nga đen TPP (Hiệp Định Thương Mại Xuyên Thái Bình Dương)

Đây là một sự kiện khá bất ngờ cho các nhà hoạch định kinh tế Việt Nam. Mục tiêu của Mỹ khi đề xướng TPP là để ngăn chận phần nào sự bành trướng kinh tế của Trung Quốc tại Đông Á. Mỹ gần như không có nhiều lợi ích về việc mở cửa thị trường của mình cho Việt Nam hay ngược lại, vì suốt 8 năm từ WTO, Việt Nam luôn hưởng lợi xuất siêu từ giao thương với Mỹ.

Tuy nhiên, chiến lược chánh trị của Mỹ tại Đông Á muốn lôi kéo Việt Nam ra khỏi tầm ảnh hưởng chặt chẽ của Trung Quốc, ít nhất là muốn Việt Nam trung lập trong mọi tranh chấp Mỹ-Hoa. TPP là một phần quà kinh tế để mua chuộc đồng minh chiến lược này. Do đó, vấn đề nhân quyền Việt dù bị Quốc Hội Mỹ chống đối cũng không cản được sự gia nhập của Việt Nam vào TPP.

Nhưng phân tích kỹ hơn, lợi ích từ hàng rào thuế quan cho các ngành may mặc, giầy dép, đồ gỗ…có thể bị trung hoà bởi những thiệt hại kinh tế cho Việt Nam vì sự cạnh tranh của nông sản ngoại nhập, cũng như việc siết chặt bản quyền trí tuệ trong ngành IT.

Một điểm tích cực khác của TPP là áp lực của các công đoàn Hoa Kỳ về việc lập hội hay đình công, cũng như đòi hỏi về sự cải tổ các doanh nghiệp nhà nước và nhu cầu về sự minh bạch của nhiều định chế .

 

Tuy nhiên, cái nhìn tổng thể cho thấy kinh tế Việt Nam có thể không vượt qua được những thách thức để thoát khỏi suy thoái hiện tại. Hệ quả sẽ là một nền kinh tế trì trệ kéo dài hàng thập kỷ, và theo thời gian, Việt Nam sẽ càng mất dần lợi thế cạnh tranh, nhất là cho những doanh nghiệp nội. Hai yếu tố tiêu cực chính có triển vọng làm trật đường rày con tàu kinh tế Việt Nam.

 3.      Sự can thiệp thường xuyên của chánh phủ

Hiến pháp mới của Việt Nam xác định thêm một lần nữa quyết tâm của lãnh đạo Việt Nam “nắm quyền chủ đạo” kinh tế qua sự tồn tại và kiểm soát các doanh nghiệp nhà nước. Do đó, mọi biện pháp hành chánh, tài chánh hay ngân sách trong tương lai đều sẽ gia tăng quyền lực của chánh phủ. Viễn cảnh một Việt Nam với nền kinh tế thị trường tự do, liên thông với kinh tế toàn cầu là một ảo tưởng.

Theo lịch sử kinh tế hiện đại, không một quốc gia nào cô lập trong một chánh sách chỉ huy từ Trung Ương hay chánh phủ có thể cất cánh và cạnh tranh hữu hiệu với sự năng động của các nền kinh tế thị trường khác. Mọi động lực để sáng tạo, cải tổ hay tranh đua của lãnh vực tư nhân lần hồi sẽ bị thui chột bởi những thành công phi lý toàn dựa trên quan hệ. Lãnh đạo bởi một tầng lớp zombies, dù từ khu vực nào, sẽ kéo dài suy thoái và trì trệ. Khi các doanh nghiệp nội địa yếu kém, các công ty FDI sẽ nắm quyền kiểm soát các vận hành của kinh tế Việt Nam. Họ sẽ có những mục tiêu và lợi ích riêng và không để chánh phủ can thiệp sâu xa vào nội bộ của họ.

Nếu chánh phủ dùng quyền lực để “force the issue” (làm theo ý mình) thì khối FDI sẽ bắt đầu rút khỏi Việt Nam, đẩy nền kinh tế lún sâu thêm vào suy thoái.

4.      Nơ xấu và sự ổn định của hệ thống ngân hàng

Trong những thách thức cốt lõi lớn nhất, số nợ xấu từ các ngân hàng cũng như doanh nghiệp nhà nước là một bài toán gần như không giải pháp. Ở một khía cạnh, hành động cứng rắn quá sẽ gây sụp đổ của một số ngân hàng nhỏ với hiệu ứng “domino’ đe doạ; ở một thái cực khác, in thêm tiền để trả nợ cho người gởi tiền ngân hàng sẽ gây nạn lạm phát phi mã. Ở giữa là những biện pháp nửa vời, không giải quyết vấn đề mà chỉ “dấu bụi dưới thảm” đợi ngày sau hay thế hệ lãnh đạo sau lo tìm giải pháp theo tình hình lúc đó.

Mà thời gian để che đậy càng ngày càng gần chốt đáo hạn. Mỹ có từ ngữ tài chánh “day of reckoning” (ngày phải kết toán) để mô tả tình huống này.

Quyết định của chánh phủ về vấn đề này cũng sẽ cho thấy định hướng nào cho kinh tế Việt Nam trong 5 năm tới?

 

Mùa xuân luôn mang theo hy vọng mới và những giấc mơ đẹp cho tương lai. Nhưng những bộ quần áo Tết rồi cũng phải xếp lại, và các ngày nghỉ vui vẻ bao giờ cũng chóng qua. Khi quay lại với công việc thường nhật, chúng ta sẽ phải làm gì? Câu trả lời không đến từ chúng ta, những người đích thực “làm” kinh tế, mà từ một tháp ngà nào đó của các ngài lãnh đạo và nhóm tay chân. Phải chăng đó là bi kịch của kinh tế Việt Nam?

 

Alan Phan

 

Vận động cho nhân quyền VN trước cuộc kiểm điểm UPR của Hà Nội – VOA

14 Th1
 
Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc điều hành BPSOS, người đứng đầu ban vận động Chiến dịch xóa bỏ tra tấn ở Việt Nam’ và ‘Chiến dịch Đòi tự do cho tù nhân lương tâm Việt Nam'.
 
Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc điều hành BPSOS, người đứng đầu ban vận động Chiến dịch xóa bỏ tra tấn ở Việt Nam’ và ‘Chiến dịch Đòi tự do cho tù nhân lương tâm Việt Nam’.
x
Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc điều hành BPSOS, người đứng đầu ban vận động Chiến dịch xóa bỏ tra tấn ở Việt Nam’ và ‘Chiến dịch Đòi tự do cho tù nhân lương tâm Việt Nam'.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc điều hành BPSOS, người đứng đầu ban vận động Chiến dịch xóa bỏ tra tấn ở Việt Nam’ và ‘Chiến dịch Đòi tự do cho tù nhân lương tâm Việt Nam’.

CỠ CHỮ +

13.01.2014

Các chiến dịch vận động nhân quyền Việt Nam được tiến hành ráo riết tại Mỹ trước cuộc Kiểm điểm Nhân quyền Định kỳ Phổ quát (UPR) của Hà Nội ở Liên hiệp quốc.Hai cuộc vận động mang tên ‘Chiến dịch xóa bỏ tra tấn ở Việt Nam’ và ‘Chiến dịch Đòi tự do cho tù nhân lương tâm Việt Nam’ được Ủy ban Cứu người Vượt biển BPSOS phối hợp với các tổ chức bảo vệ nhân quyền đồng loạt phát động, với cao điểm là cuộc điều trần của thân mẫu nhà hoạt động đang bị giam cầm Đỗ Thị Minh Hạnh tại trụ sở Quốc hội Hoa Kỳ ngày 16/1.Bà Trần Thị Ngọc Minh sẽ cùng với thân nhân các tù nhân lương tâm khác trên thế giới điều trần trước Ủy hội Nhân quyền Tom Lantos lúc 10 giờ sáng thứ năm tuần này về thực trạng bị giam cầm, tra tấn của các nhà bất đồng chính kiến.

Đây là các nỗ lực mới nhất kêu gọ cho nhân quyền Việt Nam trước khi Hà Nội báo cáo thành tích nhân quyền lần thứ nhì theo thể thức UPR bốn năm một lần tại Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc vào ngày 5/2 tới đây.

Trong cuộc trao đổi với VOA Việt ngữ, người đứng đầu ban vận động, Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, Giám đốc điều hành BPSOS cho biết thêm chi tiết về các chiến dịch này:

Tiến sĩ Thắng: ‘Chiến dịch xóa bỏ tra tấn ở Việt Nam’ được phát động tại Mỹ, trên toàn thế giới, và ngay tại Việt Nam với sự tham gia của các tổ chức, cá nhân có uy tín trong và ngoài nước, của người Việt cũng như của quốc tế.

VOA: Với phạm vi phát động rộng như vậy, xin ông cho biết nội dung hoạt động của chiến dịch và cách vận hành như thế nào?

Tiến sĩ Thắng: Nội dung của chiến dịch là vận động quốc tế đặc biệt trong hoàn cảnh Việt Nam sắp ra kiểm điểm định kỳ về nhân quyền UPR tại Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc. Vấn đề tra tấn ở Việt Nam hiện nay rất phổ cập. Đó là mối quan tâm lớn của chính phủ Hoa Kỳ, Liên hiệp quốc, và nhiều quốc gia tự do dân chủ khác. Chúng tôi huy động sự tham gia của quần chúng và các tổ chức xã hội dân sự đang hình thành trong nước đóng vai trò theo dõi, báo cáo các vi phạm về vấn đề tra tấn. Chúng tôi hy vọng sẽ áp lực Việt Nam ban hành luật để áp dụng vào thực tế Công ước Chống tra tấn mà Việt Nam vừa ký kết, chẳng hạn như có biện pháp trừng trị những kẻ tra tấn và bồi thường cho nạn nhân.

VOA: Các cá nhân, tổ chức trong nước theo dõi và báo cáo tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Bước tiếp theo, trên phạm vi quốc tế, chiến dịch sẽ vận động đến các cơ quan nào cụ thể?

Tiến sĩ Thắng: Liên hiệp quốc có một báo cáo viên đặc biệt về vấn đề tra tấn. Một khi có các báo cáo, vấn đề sẽ được xem xét xem đúng là có tình trạng tra tấn hay không, và vị báo cáo viên này sẽ liên lạc với Việt Nam để phối kiểm, đặt vấn đề với chính quyền Hà Nội. Bộ Ngoại giao Mỹ và chính phủ Hoa Kỳ nói chung rất quan tâm đến nạn tra tấn đang diễn ra tại Việt Nam. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng phối hợp với các tổ chức quốc tế chuyên về chống tra tấn để theo dõi, xóa bỏ tình trạng tra tấn ở Việt Nam.

VOA: Các trọng tâm thường thấy trong công cuộc vận động nhân quyền Việt Nam lâu nay là vận động phóng thích tù nhân lương tâm hay lên án các vi phạm nhân quyền. Vấn đề chống tra tấn giờ đây trở nên nổi bật phải chăng vì Việt Nam vừa ký Công ứơc Chống tra tấn với Liên hiệp quốc, hay có một yếu tố quan trọng nào khác để đây trở thành một điểm nhấn trong chiến dịch hiện tại?

Tiến sĩ Thắng: Việt Nam trong nhiều năm hứa hẹn với quốc tế, đặc biệt với Mỹ, rằng sẽ ký vào Công ước Chống tra tấn vì tra tấn là một hình thức vi phạm nhân quyền trầm trọng nhất trong tất cả các hình thức khác. Hoa Kỳ đã tập trung vào lĩnh vực này trong nhiều năm. Khi ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc, Việt Nam muốn chứng tỏ thiện chí bằng cách ký vào bản Công ước mà họ đã hứa hẹn từ nhiều năm. Đây là một cơ hội để chúng ta phát động một chíên dịch dài hạn và rộng khắp để xóa bỏ tận gốc rễ nạn tra tấn ở Việt Nam.

VOA: Song song với ‘Chiến dịch xóa bỏ tra tấn ở Việt Nam’, BPSOS cũng phát động và tiến hành ‘Chiến dịch Đòi phóng thích tù nhân lương tâm’ với cuộc điều trần ngày 16/1 tại Ủy hội Nhân quyền Tom Lantos, Quốc hội Mỹ. Trong số các nhân chứng ra điều trần sắp tới có mẹ của nhà hoạt động Đỗ Thị Minh Hạnh. Vì sao trường hợp của cô Hạnh được chú ý trong dịp này mà không phải là một nhân vật bất đồng chính kiến nào khác?

Tiến sĩ Thắng: Chúng tôi chọn lọc khá kỹ lưỡng. Trường hợp cô Hạnh là giao điểm của ba chiến dịch mà chúng tôi đang tiến hành. Thứ nhất, về chống tra tấn, cô Hạnh là nạn nhân bị tra tấn rất trầm trọng trong tù.

Thứ hai, cô là một tù nhân lương tâm, phù hợp với chiến dịch của chúng tôi đòi trả tự do cho tất cả tù nhân lương tâm tại Việt Nam. Thứ ba, chúng tôi vận động gắn kết điều kiện nhân quyền vào thương ước Hợp tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương TPP giữa Mỹ với Việt Nam, trong đó quyền của người lao động là một trong những vấn đề rất nổi bật mà chúng tôi đang muốn thúc đẩy. Cô Hạnh vì đấu tranh cho quyền của người lao động trong nước mà bị đi tù với bản án rất nặng.

Vận động cho nhân quyền VN trước cuộc kiểm điểm UPR của Hà Nội
// //

//

VOA: Khác với những lần điều trần trước chỉ xoay quanh riêng vấn đề của Việt Nam, lần này nói về vấn đề tù nhân lương tâm quốc tế với các nhân vật ra điều trần là thân nhân của nhiều tù nhân lương tâm tại nhiều nước khác nhau trên thế giới. Điểm nổi bật này có sức mạnh thế nào so với các cuộc điều trần riêng về vấn đề Việt Nam trước nay?

Tiến sĩ Thắng: Ủy hội Nhân quyền Tom Lantos cố gắng đẩy phong trào tranh đấu cho tù nhân lương tâm trên quy mô toàn thế giới và ở Quốc hội Hoa Kỳ, huy động các dân biểu và thượng nghị sĩ tham gia vì vấn đề tù nhân lương tâm là mấu chốt để thay đổi tình trạng vi phạm nhân quyền trên thế giới. Đây là khởi đầu của năm 2014 để lôi kéo sự quan tâm, chú ý, và nhập cuộc của tất cả các dân cử liên bang Hoa Kỳ, Bộ Ngoại giao Mỹ, và tất cả các tổ chức nhân quyền lớn nhỏ trên thế giới và tại Mỹ.

VOA: Là người trong ban vận động, ông kỳ vọng hiệu quả tức thì ngay sau cuộc điều trần lần này sẽ như thế nào?

Tiến sĩ Thắng: Hiệu quả tức thì là tạo nên ý thức trong tất cả những người tham dự và rộng hơn về tình trạng nhân quyền, đặc biệt là tình trạng của những người đã đứng ra để đấu tranh nhân quyền cho người khác. Thứ hai, sẽ có những hành động cụ thể để giải cứu, đòi tự do cho những tù nhân lương tâm như ở Việt Nam.

VOA: Kế hoạch vận động tiếp nối, cho đến kỳ kiểm điểm nhân quyền phổ quát UPR của Việt Nam, sẽ như thế nào?

Tiến sĩ Thắng: Bước tiếp theo, chúng tôi sẽ phổ biến bản phúc trình được nghiên cứu từ 2 năm nay với những chi tiết, thông tin, dữ kiện rất chi li, có phối kiểm về tình trạng tra tấn ở Việt Nam. Tài liệu này sẽ được sử dụng làm căn bản để tranh đấu đòi Việt Nam phải thay đổi chính sách, luật lệ để chấm dứt nạn tra tấn. Trong phúc trình này có từng mốc điểm một chúng tôi đưa ra yêu cầu Việt Nam từng bước thực hiện với sự chú ý của quốc tế và sự kiểm soát, theo dõi, và báo cáo của chính người dân trong nước.

VOA: Xin chân thành cảm ơn ông về thời gian dành cho cuộc nói chuyện này.

 

‘Thiệt thòi do truyền thông VN định hướng’ – BBC

28 Th12
Cập nhật: 12:00 GMT – thứ sáu, 27 tháng 12, 2013

Sau một thời gian định cư tại châu Âu, tôi nhận ra điều khác biệt cơ bản nhất của truyền thông nước ngoài là họ truyền tải các sự vụ mắt thấy tai nghe bằng những thông tin đa chiều.

Tuy nhiên tại Việt Nam, truyền thông còn gánh thêm một nhiệm vụ chính trị là tuyên truyền và định hướng cho bộ máy chế độ.

 

Chính điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến thái độ và nhận thức của công chúng.

Khi tổng thống Nam Phi Nelson Mandela qua đời, truyền hình Thụy Sỹ đã có một bộ phim tài liệu mô tả chi tiết về tiểu sử cuộc đời ông.

Thụy Sỹ là quốc gia hiền hòa và trung lập, nên chiến thắng của Mandela trước chủ nghĩa độc tài Apartheid đã khiến ông trở thành một vĩ nhân trong mắt người dân và báo chí.

Tuy nhiên điều đó cũng không ngăn phim phóng sự nêu ra những chi tiết như Mandela đã từng là một người đánh bom khủng bố, và ông ruồng bỏ người vợ già để cưới một cô vợ trẻ hơn…

Nelson Mandela là một vĩ nhân, nhưng ông cũng hành nghề chính trị và từng có những hành động tầm thường.

Nếu như bộ phim này được chiếu ở Việt Nam, thì chắc chắn các chi tiết như thế sẽ bị biên tập cắt bỏ.

“Chỉ một nửa sự thật thì không còn là sự thật. Và công chúng Việt Nam đã bị thiệt thòi rất nhiều khi tiếp cận thông tin vì chủ trương định hướng này”

Bởi vì nền báo chí truyền thông cách mạng Việt Nam luôn được định hướng đã là vĩ nhân thì con người không được quyền có tỳ vết!

Giới làm báo trong nước vẫn truyền tai nhau câu chuyện một tổng biên tập nổi tiếng của một tờ báo lớn đã phải ra đi chỉ sau hai nốt nhạc do cho đăng thông tin nhạy cảm về chuyện đời tư của một lãnh tụ.

Điều này không có gì lạ, khi gần 800 đầu báo in, báo mạng, truyền hình… chính thống đều được chi phối bởi một tổng biên tập tối cao là Ban Tuyên giáo Trung ương.

Chỉ một nửa sự thật thì không còn là sự thật. Và công chúng Việt Nam đã bị thiệt thòi rất nhiều khi tiếp cận thông tin vì chủ trương định hướng này.

Định hướng cả địa danh

“Nelson Mandela là một vĩ nhân, nhưng ông cũng hành nghề chính trị và từng có những hành động tầm thường.”

Cách đây không lâu, tôi tình cờ gặp một phóng viên truyền hình Thụy Sỹ trong một buổi dã ngoại do trường của con trai tôi tổ chức, ông là một trong các phụ huynh.

Trước khi định cư tại Thụy Sỹ, nghề nghiệp của tôi cũng là phóng viên truyền hình nên chúng tôi đã trao đổi khá nhiều thông tin thú vị về nghề nghiệp.

Khi tôi hỏi phóng viên Thụy Sỹ có tác nghiệp theo định hướng chính trị và có gặp rào cản kiểm duyệt gắt gao gì khi đề cập tới các vấn đề xã hội nhạy cảm không, ông đã rất ngạc nhiên và hỏi ngược lại:

“Không, tại sao lại thế? Nghề nghiệp của chúng ta là phản ánh trung thực các thông tin xã hội, và chúng ta phải là người chịu trách nhiệm về điều đó. Ở nước bạn không như vậy sao?”

Còn nhớ khi còn công tác tại một kênh truyền hình dành cho kiều bào khoảng ba năm trước, ê-kip thực hiện nội dung chương trình chúng tôi đã phải khổ sở thế nào khi đối phó với chủ trương từ lãnh đạo đài buộc phải cắt bỏ tất cả các từ có liên quan tới địa danh Sài Gòn, thay vào đó là cụm từ Thành phố Hồ Chí Minh.

Phim nào vi phạm sẽ bị gác vô thời hạn.

Chủ trương đưa ra cứng nhắc tới nỗi biên tập, phóng viên nào cũng vò đầu bứt tóc tìm những cụm từ thay thế nếu không muốn chương trình bị treo lại vì các chương trình do chúng tôi phụ trách đều có liên quan tới địa danh này.

“Những cách gọi quen thuộc như ẩm thực Sài Gòn, người Sài Gòn… cũng trở nên khiên cưỡng khi phải buộc phải sửa lại thành người dân thành phố Hồ Chí Minh, ẩm thực thành phố Hồ Chí Minh”

Khổ nỗi, những bộ phim tài liệu về thành phố Sài Gòn xưa không thể sử dụng tên địa danh thành phố Hồ Chí Minh mới có sau 1975, vì điều đó thật sự tréo ngeo chẳng chút ăn nhập với nội dung hình ảnh.

Những cách gọi quen thuộc như ẩm thực Sài Gòn, người Sài Gòn… cũng trở nên khiên cưỡng khi phải buộc phải sửa lại thành người dân thành phố Hồ Chí Minh, ẩm thực thành phố Hồ Chí Minh.

Thế nhưng mọi tranh luận đều không mang lại kết quả, lệnh trên vẫn ban ra một là sửa một cách máy móc như quy định, hai là phim bị biên tập của đài gác lại.

Chúng tôi không có lựa chọn khác hơn. Có lẽ người ta sợ rằng nhắc tới Sài Gòn là nhắc tới một quá khứ không mấy vẻ vang, là khiến liên tưởng tới một chế độ cũ, cho dù điều đó là một sự thật hiển nhiên của lịch sử?

Và đây chỉ là một trong những ví dụ nhỏ về việc định hướng chính trị trong nghề nghiệp truyền thông của tôi trước đây tại Việt Nam, điều mà không phải ai ngoài nghề cũng biết.

Xa định hướng là phản động?

Mới đây, thông tin Triều Tiên tử hình công khai 80 công dân vì tội danh xem trộm truyền hình Hàn Quốc đã gây sốc trong dư luận.

“Soi mói mọi góc đen tối của những người làm nghề chính trị là điều kiêng kỵ ở Trung Quốc và Việt Nam”

Thế nhưng điều này không lạ với những người thuộc lớp trung lưu tại Việt Nam, khi một giai đoạn lịch sử “nghe đài địch” cũng được coi là một trọng tội tương đương với việc tiếp tay truyền bá tư tưởng phản động, phản bội tổ quốc.

Truyền thông đã tích cực đánh tráo khái niệm “Tổ quốc” và “chế độ” để hạn chế tối đa quyền tiếp cận thông tin đa chiều của công chúng.

Tôi đã tham khảo khá nhiều ý kiến của bạn bè đang sống tại nhiều nước châu Âu và Mỹ, và đều nhận được câu trả lời rằng ở nước họ bạn có quyền phát ngôn và tiếp cận thông tin đa chiều thỏa mái, miễn là đừng gây tổn thất tới thông tin bí mật quốc gia như cụ thể vụ Snowden đình đám tại Mỹ, hoặc gây bạo động đổ máu.

Đó là quyền tự do ngôn luận của công dân, và được bảo vệ bởi hiến pháp.

Không khó tìm thấy những thông tin đại loại một người nông dân chỉ tay vào mặt lãnh đạo Úc và gọi bà là ‘kẻ nói dối’, hay những thói xấu của nguyên thủ quốc gia trên các phương tiện truyền thông Phương Tây, bởi vì công chúng coi quyền được biết và soi mói mọi góc đen tối của những người làm nghề chính trị là việc bình thường.

Thế nhưng tại Bắc Triều Tiên, Trung Quốc và Việt Nam, đó là điều kiêng kỵ.

Nếu phát ngôn những gì trái với truyền thông định hướng, bạn sẽ dễ dàng bị quy vào các tội danh hình sự với khái niệm hết sức vu vơ như “truyền bá tư tưởng phản động, nói xấu chế độ, xúi giục người khác chống lại chế độ…” như ví dụ về hàng loạt vụ bắt giữ ồn ào nhắm vào những người khác quan điểm gần đây.

Điều đó khiến tôi liên tưởng tới hình ảnh một cậu chàng to khỏe sẵn sàng trừng phạt đứa trẻ hàng xóm vì dám chê cậu ‘không đẹp, không hoành’.

Vấn đề ở chỗ là chính bản thân cậu chàng biết đứa trẻ nói đúng, và vì thiếu tự tin vào bản thân mình nên cậu lựa chọn phương án bắt nó ngậm miệng trước khi có nhiều người hơn công khai đồng thuận.

“Người dân tiếp xúc với truyền thống định hướng một chiều lâu ngày sẽ vô tình tự triệt tiêu tư duy nhìn nhận vấn đề bằng con mắt đa chiều, đó là một vấn đề không thể phủ nhận được trong ý thức hệ của rất đông bộ phận người Việt hiện nay”

Dù rằng đứa trẻ kia không thể, và không hề có ý định xâm hại cậu chàng bằng vũ lực.

Hệ lụy tất yếu

Người ta vẫn nói rằng nếu một sự việc cực kỳ vô lý được lặp đi lặp lại nhiều lần thì sẽ có lúc nó nghiễm nhiên trở thành có lý.

Người dân tiếp xúc với truyền thống định hướng một chiều lâu ngày sẽ vô tình tự triệt tiêu tư duy nhìn nhận vấn đề bằng con mắt đa chiều, đó là một vấn đề không thể phủ nhận được trong ý thức hệ của rất đông bộ phận người Việt hiện nay.

Chỉ cần lướt qua các trang mạng xã hội Việt Nam, mỗi khi có ý kiến phản biện các vấn đề xã hội chúng ta sẽ dễ dàng bắt gặp những ý kiến kiểu “phản động, nói xấu chế độ, quay lưng lại bôi nhọ tổ quốc…” bất chấp rằng họ chưa từng có dịp trải nghiệm điều người khác nói tới, và cũng không chịu bỏ thời gian suy ngẫm học hỏi.

Họ khó chấp nhận cái mới, cái khác lạ với những điều vẫn được nghe thấy mỗi ngày. Và khi bước chân ra ngoài thế giới rộng lớn, họ gặp vô vàn khó khăn, thiệt thòi bởi không được định hướng phù hợp.

Và đó chỉ là một hệ lụy nhãn tiền bởi bộ máy truyền thông định hướng.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng và văn phong của tác giả Hương Vũ hiện sống tại Neuchatel, Thụy Sỹ.

VN bị thúc giục cải thiện nhân quyền – BBC

12 Th12
Cập nhật: 11:25 GMT – thứ tư, 11 tháng 12, 2013
Chính quyền Việt Nam giải tán buổi hoạt động cổ súy nhân quyền trong nước hôm 8/12

Anh, Đức, Mỹ vừa đồng loạt ra tuyên bố kêu gọi Việt Nam tôn trọng quyền con người và mở đường cho các thanh sát viên quốc tế về nhân quyền.

Động thái này diễn ra vào dịp ngày kỷ niệm Bản Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền được Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua, ngày 10/12.

 

Bấm Thông cáo đăng tải trên trang web Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội nói “Hoa Kỳ và Việt Nam đã tái khẳng định cam kết của hai nước về ủng hộ Tuyên ngôn Nhân quyền trong Quan hệ Đối tác Toàn diện Hoa Kỳ-Việt Nam được Tổng thống Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang công bố hồi tháng 7”.

“Thông điệp rất rõ ràng: Hoa Kỳ ủng hộ một nước Việt Nam vững mạnh, thịnh vượng và độc lập, đồn thời tôn trọng nhân quyền và pháp quyền.”

Tuyên bố của phía Hoa Kỳ nhấn mạnh việc Việt Nam “đạt được tiến bộ rõ ràng về nhân quyền có tầm quan trọng quyết định” trong quan hệ giữa hai nước và “có tác động đến mọi khía cạnh của chính sách đối ngoại”.

“Chúng tôi đều đồng thuận rộng rãi rằng những tiến bộ đáng kể về nhân quyền là điều cần thiết để có quan hệ song phương chặt chẽ hơn và để củng cố vững chắc hơn nữa những lợi ích mà chúng ta đã đạt được trên một loạt các lĩnh vực gồm kinh tế, chính trị, xã hội, và an ninh.”

“Chúng tôi kêu gọi chính phủ Việt Nam thực hiện các bước cụ thể để cải thiện thành tích của mình, bao gồm cả việc trả tự do cho tất cả các tù nhân lương tâm, cho phép mọi người Việt Nam được bày tỏ ý kiến của bản thân, và bảo vệ tự do tôn giáo trên toàn quốc.”

Đại sứ Mỹ David Shear cho biết: “Chỉ ít tháng sau cuộc họp giữa Tổng thống và Chủ tịch của hai nước chúng ta, Việt Nam đã ký Công ước Liên Hiệp Quốc về Chống Tra tấn và đã chủ động liên lạc với Báo cáo viên Đặc biệt về Tự do Tôn giáo và Tín ngưỡng để thu xếp một chuyến thăm Việt Nam vào mùa thu.”

Mở đường cho chuyên viên Liên Hiệp Quốc

“Việc Việt Nam đạt được tiến bộ rõ ràng về nhân quyền có tầm quan trọng quyết định trong quan hệ giữa hai nước và có tác động đến mọi khía cạnh của chính sách đối ngoại”

Tuyên bố của Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội

Trong Bấm tuyên bố chung đưa ra hôm 9/12, Đại sứ Cộng hòa Liên bang Đức, Jutta Frasch, và Phó Đại sứ Vương Quốc Anh, bà Lesley Craig, nói việc trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc “đặt Việt Nam trước một cơ hội và trách nhiệm to lớn”.

Đại diện của Anh, Đức thừa nhận “Việt Nam đã đạt được kết quả to lớn trong việc thực thi các quyền xã hội và kinh tế”, tuy nhiên, “đáng tiếc là tại Việt Nam, nhiều người bị giam giữ vì công khai bày tỏ chính kiến”.

“Liên minh châu Âu và các nước thành viên ước tính có hàng chục tù nhân chính trị tại Việt Nam, đa số bị giam giữ vì thực hiện quyền tự do chính kiến và tự do hội họp của họ. Các tổ chức phi chính phủ đánh giá thấp Việt Nam trong việc tôn trọng các quyền dân sự và chính trị.”

Qua tuyên bố này, Anh và Đức cũng kêu gọi Việt Nam mở đường cho các thanh sát viên Liên Hiệp Quốc về nhân quyền:

“Liên Hiệp Quốc đã cử ra những chuyên gia khác nhau được ủy quyền tìm hiểu những vấn đề nhân quyền chuyên biệt … Các chuyên gia này chỉ có thể thực hiện một chuyến thăm thực địa tại một nước thành viên nếu có lời mời của nước đó.”

“Trong thực thế nhiều nước đã đưa ra lời mời thường xuyên (standing invitation) đối với các chuyên gia, có nghĩa là một lời mời có giá trị lâu dài. Cho đến nay Việt Nam chưa đưa ra lời mời thường xuyên đó,” tuyên bố viết.

Hồi 12/11, Việt Nam lần đầu tiên giành ghế thành viên Hội đồng Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc với kết quả 184 trên 192 phiếu bầu, xếp cao nhất về số phiếu trong số 14 thành viên mới, trong đó có Cuba, Trung Quốc.

VN nói gì về Vùng phòng không ở Hoa Đông?

6 Th12
– Việt Nam nói gì về khả năng ảnh hưởng của Vùng nhận diện phòng không (ADIZ) của TQ đối với các chuyến bay quốc tế của mình cũng như khả năng ADIZ được thiết lập ở Biển Đông?

 

vùng phòng không, Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Đông, tàu sân bay, Biển Đông, chủ quyền

 

Phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình

 

Các câu hỏi nêu ra cho phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình, người chủ trì họp báo thường kỳ của Bộ chiều 5/12 tại Hà Nội.

Trước câu hỏi về quan điểm trước việc Trung Quốc tuyên bố thiết lập Vùng nhận diện phòng không (ADIZ) ở biển Hoa Đông, ông Lê Hải Bình nói: “Việt Nam theo dõi với sự quan tâm sâu sắc các diễn biến tại biển Hoa Đông cũng như quan ngại của các bên liên quan”.

Ông Bình cho hay Việt Nam mong muốn các bên liên quan kiềm chế, giải quyết ổn thỏa bất đồng thông qua đối thoại và các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đảm bảo an ninh, an toàn cho các đường bay quốc tế, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực.

Liên quan câu hỏi khả năng ảnh hưởng ADIZ của Trung Quốc ở biển Hoa Đông đối với các chuyến bay quốc tế của Việt Nam, ông dẫn thông tin các cơ quan chức năng cho biết những chuyến bay quốc tế đi và đến Việt Nam bay qua khu vực biển này “hiện vẫn diễn ra bình thường”.

“Thông tin về các chuyến bay đều được thông báo cho nhà chức trách của các quốc gia liên quan theo đúng quy định và thông lệ quốc tế” – ông Bình khẳng định.

Trước việc Trung Quốc cử tàu sân bay Liêu Ninh thực hiện hoạt động huấn luyện ở Biển Đông và lo ngại khả năng Trung Quốc sẽ thiết lập ADIZ ở Biển Đông, phó phát ngôn Bộ Ngoại giao nêu rõ:

“Mọi hoạt động của các bên ở Biển Đông cần tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia liên quan, tuân thủ luật pháp quốc tế, phù hợp với tinh thần Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), đóng góp cho hòa bình, ổn định ở khu vực, không gây căng thẳng và làm phức tạp thêm tình hình”.

Thủ tướng dự cấp cao ASEAN-Nhật Bản ở Tokyo

Theo phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ thăm chính thức Nhật Bản, tham dự hội nghị cấp cao kỷ niệm 40 năm quan hệ đối thoại ASEAN – Nhật Bản và hội nghị cấp cao Mekong – Nhật Bản lần thứ 5 tại Tokyo từ 13 – 15/12 tới theo lời mời của Thủ tướng Shinzo Abe.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ có cuộc hội đàm với ông Shinzo Abe. Hai bên sẽ trao đổi các phương hướng để tăng cường hơn nữa mối quan hệ đối tác chiến lược Việt – Nhật.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng sẽ dự đối thoại với các doanh nghiệp hàng đầu Nhật Bản, tiếp lãnh đạo cơ quan hợp tác phát triển Nhật Bản (JICA)…

Hồng Nhì

Cải cách Trung Quốc có tác động VN? – BBC

11 Th11

Cải cách Trung Quốc có tác động VN?

Phạm Chí Dũng

Gửi cho BBC từ Sài Gòn

 

Cập nhật: 11:03 GMT – chủ nhật, 10 tháng 11, 2013
Đảng Cộng sản Trung QuốcBan lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc tiếp tục đứng trước câu hỏi về cải tổ

Một cuộc họp đặc biệt, Hội nghị trung ương 3 khóa 18 của đảng Cộng sản Trung Quốc, đang được tổ chức từ ngày 9 đến 12/11/2013, nhằm đưa ra “những cải cách sâu sắc, toàn diện”.

“Những sai trái trong hệ thống và cơ chế phải bị loại bỏ” – như một nội dung trong thông báo sau phiên họp do Tổng bí thư Tập Cận Bình chủ trì, cho thấy Trung Quốc đang muốn thực hiện mục tiêu chưa có tiền lệ tính từ thời Cách mạng Văn hóa đến nay.

 

Những lĩnh vực sẽ phải cải cách mạnh mẽ, gồm thủ tục hành chính, các ngành công nghiệp độc quyền, đất đai, hệ thống thuế và tài chính, quản lý tài sản nhà nước, chính sách mở cửa và cải cách. Theo đó, chính phủ sẽ sử dụng các công cụ thuế và tài chính để giám sát thị trường ở tầm vĩ mô.

Điểm trùng hợp là hội nghị trung ương 3 của Trung Quốc diễn ra cùng thời gian với kỳ họp quốc hội cuối năm 2013 tại Việt Nam.

Nội tình Đảng cộng sản và Quốc hội Việt Nam có lẽ cũng đang diễn ra “những cải cách chưa từng có”, kể từ thời điểm ban hành hiến pháp 1992 đến nay. Trong suốt nửa đầu năm 2013, lần đầu tiên chính thể được xem là “toàn trị” ở quốc gia này buộc phải chấp nhận một kiến nghị chưa từng có của gần 15.000 công dân về bãi bỏ chế độ độc đảng cùng một số nội dung liên quan đến tính độc quyền trong các lĩnh vực then chốt.

Tuy nhiên cho tới nay, điều được hy vọng về một cuộc cải cách chưa từng có ở Việt Nam lại đang được Ban thường vụ quốc hội hứa hẹn sẽ chưa từng có một thay đổi đáng kể nào, từ điều 4 Hiến pháp về chế độ “đảng lãnh đạo toàn diện” đến các tranh cãi về tên nước, lực lượng vũ trang, tổ chức nhà nước, sở hữu đất đai, kinh tế quốc doanh và độc quyền doanh nghiệp nhà nước…

‘Đặc quyền đặc lợi’

“Sự đổi thay này không xảy ra vào các nhiệm kỳ chấp chính của những đời tổng bí thứ trước đây như Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, mà lại xảy ra có phần đột ngột trong khẩu khí “diệt cả ruồi lẫn hổ” của tổng bí thư mới là Tập Cận Bình”

Một phác thảo của Hội nghị trung ương 3 tại Trung Quốc đáng được chú ý: Trong lĩnh vực công nghiệp độc quyền, nhà nước sẽ dỡ bỏ kiểm soát đối với việc nhập khẩu dầu khí. Ngành công nghiệp viễn thông sẽ được tái tổ chức nhằm khuyến khích cạnh tranh.

Đầu tư vào ngành đường sắt sẽ được đa dạng hóa, ngành điện và hệ thống giá điện sẽ được cải cách.

Sau mấy thập niên đóng kín, một số ngành kinh tế “mũi nhọn” như đường sắt, viễn thông, dầu khí và cả ngân hàng đang có cơ may được trút bớt gánh nặng độc quyền sang các thành phần kinh tế khác.

Nhưng đáng chú ý hơn, sự đổi thay này không xảy ra vào các nhiệm kỳ chấp chính của những đời tổng bí thứ trước đây như Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, mà lại xảy ra có phần đột ngột trong khẩu khí “diệt cả ruồi lẫn hổ” của tổng bí thư mới là Tập Cận Bình.

Mới vào giữa năm nay, nguyên bộ trưởng đường sắt Lưu Chí Quân của Trung Quốc đã bị kết án tử hình vì tội nhận hối lộ và lạm quyền.

Từ tháng 6/2013, Trung Quốc đã hai lần phải giảm quyền trong phê duyệt dự án. Khoảng 310 loại phí do chính quyền địa phương lập nên đã bị xóa bỏ…

Trong khi đó, ở Việt Nam vẫn chưa có bất cứ tín hiệu nào về công cuộc xóa bỏ nạn độc quyền và đặc lợi.

Sau những phát hiện đột biến vào năm 2011, Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam cùng với Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã bị báo chí và dư luận người dân xem là một trong những thủ phạm đẩy nền kinh tế vào tình trạng tiêu điều do đầu tư trái ngành cùng số lỗ trên 40.000 tỷ đồng, kéo theo các chiến dịch tăng giá xăng dầu không ngừng nghỉ nhằm trút lỗ lên đầu 90 triệu dân chúng, gần 4 triệu đảng viên, 2 triệu công chức và toàn bộ lực lượng vũ trang.

Cũng cho tới nay, tấm lưng còng người dân Việt Nam vẫn phải “cõng” đến 432 loại phí – một trong những biểu tả đậm đà nhất nhằm hoàn chỉnh “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

“Nguồn gốc tội ác”

Hình minh họaTác giả cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn chưa có cải tổ gì đáng kể về đường lối cầm quyền thời gian qua

Một cải cách dự kiến khác cũng rất đáng lưu tâm của Trung Quốc là điều chỉnh cơ chế sở hữu đất đai. Từ nhiều năm qua, tình trạng thu nhập của chính quyền địa phương phụ thuộc tiền bán đất chính là một trong những nguyên nhân gây ra quá nhiều tranh chấp giữa chính quyền và người dân.

Khiếu kiện và biểu tình đất đai cũng là một vấn nạn ở Trung Quốc trong nhiều năm qua. Mỗi năm, quốc gia đông dân nhất thế giới này lại xảy ra đến hàng trăm ngàn cuộc khiếu kiện, so với hàng chục ngàn ở Việt Nam.

Lần này, ban soạn thảo kế hoạch cho Hội nghị trung ương 3 Trung Quốc đã đề xuất cho phép đất sở hữu tập thể và đất sở hữu nhà nước được gia nhập thị trường đất phi nông nghiệp.

Theo đó, nông dân có quyền sở hữu tập thể trong việc bán đất và được đền bù thỏa đáng dựa trên tiêu chuẩn thị trường. Chính quyền địa phương sẽ không còn được mua đất của dân với giá quá thấp rồi bán lại cho các công ty xây dựng hoặc doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh với giá cao hơn nhiều. Cải cách trong lĩnh vực này được đề xuất tiến hành trong 3 giai đoạn: 2013-2014, 2015-2017 và 2018-2020.

Nếu chế độ sở hữu đất đai được mở rộng sang hình thức tập thể ở Trung Quốc, đó sẽ là cơ hội cho chính thể của quốc gia này được gia cố hơn trong con mắt dân chúng.

Nhưng ở Việt Nam, sau vụ người nông dân Đoàn Văn Vươn năm 2012, dường như những người cầm quyền vẫn chưa rút ra được một bài học sắc giá nào về lòng dân và câu chuyện nước nâng thuyền nhưng cũng sẽ lật thuyền. Trên toàn quốc vẫn diễn ra không ngớt các cuộc thu hồi đất bất công và dẫn tới những cuộc cưỡng chế thô bạo, đôi khi làm chết dân. Người ta có thể chứng kiến nhan nhản tình trạng này trong mấy năm qua ở Bắc Giang, Nam Định, Hưng Yên, Bắc Ninh, cả Dương Nội thuộc ngoại thành Hà Nội, hoặc Thủ Thiêm ở TP.HCM…

Nguồn cơn được nhiều người dân xem là “nguồn gốc tội ác” mà đã gây ra nạn cường hào ác bá cướp bóc đất đai chính là chế độ sở hữu đất đai toàn dân, mà cho đến nay vẫn không được thay đổi, bất chấp quá nhiều kiến nghị của các nhóm trí thức, nhân dân trong nước và ở hải ngoại.

Cải cách hay là chết?

“Theo giới quan sát, Bộ chính trị Bắc Kinh đang phải đối mặt với nguy cơ sụp đổ, và tương lai đó sẽ không kéo dài quá lâu, từ 7-10 năm tới.”

Dù vậy, não trạng của những người trong đảng vẫn hầu như chưa thoát khỏi “bóng đè” của “sở hữu đất đai toàn dân.”

Bất chấp việc quyền định đoạt và mua bán phải thuộc về người dân, cho tới nay Ủy ban thường vụ quốc hội vẫn thay mặt cho “tuyệt đại đa số cử tri” để thể hiện chỉ đạo của tổng bí thư về “Cương lĩnh đảng quan trọng hơn hiến pháp”, tức nhiều khả năng sẽ không có bất kỳ thay đổi nào về chế độ sở hữu đất đai trong hiến pháp mới.

Thậm chí, vấn nạn mà dân oan kêu gào khắp nơi về việc thu hồi đất đối với “các dự án kinh tế – xã hội” vẫn đang được duy trì một cách đầy nghi ngờ. Gần đây, những tờ báo trong nước đã phải hé lộ về những vụ “lobby” chính sách nào đó của các nhóm lợi ích bất động sản kết hợp với các nhóm thân hữu chính trị.

Chính đảng cầm quyền ở Trung Quốc sẽ không thể tồn tại nếu không tự thay đổi. Sự thay đổi ấy sẽ phải thể hiện bằng một cuộc cải cách, nếu không đủ xứng đáng làm nên một cuộc cách mạng toàn diện thì tối thiểu cũng phải giúp cho chế độ độc đảng có lý do để kéo dài thêm một thời gian nữa.

Theo giới quan sát, Bộ chính trị Bắc Kinh đang phải đối mặt với nguy cơ sụp đổ, và tương lai đó sẽ không kéo dài quá lâu, từ 7-10 năm tới.

Được xem là người bạn “môi hở răng lạnh” và gắn bó với những người đang muốn khuếch trương chủ thuyết “Nhân nghĩa lễ trí tín” của Khổng Tử, đảng cầm quyền ở Việt Nam sẽ phải tự tìm ra một lối thoát cho mình để không phải rước lấy nỗi căm phẫn hồi tố vẫn đang trên đà trào dâng dữ dội của đại đa số dân chúng.

“Cải cách hay là chết!” – một số quan chức Việt Nam đã thốt lên bức cảm thầm kín ấy bên ngoài hành lang, ngay sau khi kết thúc những cuộc họp chi bộ và thảo luận nghị trường đầy tính khoa trương và giáo điều.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, một nhà báo tự do đang sống ở TP. Hồ Chí Minh.

Những bức ảnh về chiến tranh VN ám ảnh người Mỹ – Vnn

3 Th10

Những bức ảnh về chiến tranh VN ám ảnh người Mỹ

Cuộc chiến tranh Việt Nam không chỉ để lại ấn tượng sâu sắc và dài lâu đối với những người lính Mỹ mà còn ám ảnh cả toàn nước Mỹ.

TIN BÀI KHÁC:

 

Một nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ khi cuộc chiến nổ ra, một cuốn sách mới có tựa đề: “Việt Nam: Cuộc chiến thực sự” đã giới thiệu khoảng 300 bức ảnh AP giàu tính lịch sử nhất, từ bức ảnh hòa thượng tự thiêu trên phố của Malcolm Browne tới hình ảnh em bé 9 tuổi chạy trốn khỏi một cuộc tấn công bom napalm của Nick Út hay bức ảnh tử hình một tù nhân quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Tác giả Pete Hamill đã tỏ lòng kính trọng đối với các phóng viên ảnh dũng cảm đến kinh ngạc của AP, những người đã đưa tin từ chiến trường để chia sẻ sự thật đau lòng về cuộc chiến. AP đã giành được 6 giải Pulitzer, bao gồm 4 bức ảnh đưa tin về cuộc chiến tranh Việt Nam.

“Trải qua cuộc chiến tranh kéo dài nhiều năm ở Việt Nam, các phóng viên AP đã chứng kiến nhiều trận đánh hơn bất kỳ ai khác,” Hamill giải trích trong lời mở đầu. “Đây là cuốn sách cho thấy họ đã làm tốt thế nào…Từ Việt Nam, các phóng viên ảnh đã chỉ cho thế giới cách nhìn nhận về chiến tranh.”

bức ảnh, AP, chiến tranh, Việt Nam 

Cuốn sách “Việt Nam: Cuộc chiến thực sự” được nhà sách Abrams xuất bản vào ngày 1/10 tại Mỹ và Canada.

bức ảnh, AP, chiến tranh, Việt Nam

Bức ảnh này do phóng viên ảnh người Đức Horst Fass chụp. Bức ảnh cho thấy trực thăng Mỹ đổ súng máy xuống cánh đồng khi bộ binh Mỹ tấn công doanh trại của Quân đội giải phóng miền Nam Việt Nam ở phía bắc Tây Ninh, gần biên giới Campuchia vào tháng 3/1965.

bức ảnh, AP, chiến tranh, Việt Nam 

Henri Huet, phóng viên chiến trường Pháp, là tác giả của bức ảnh về những người lính nhảy dù giơ cao súng khi lội qua sông trong một cuộc truy lùng vị trí của quân giải phóng miền Nam Việt Nam ở khu vực rừng rậm huyện Bến Cát, Bình Dương vào ngày 25/9/1965.

bức ảnh, AP, chiến tranh, Việt Nam
Thi thể của một lính nhảy dù Mỹ bị bắn trong trận chiến trong rừng rậm gần biên giới Campuchia bị rơi khỏi một chiếc trực thăng vào ngày 14/5/1966.

bức ảnh, AP, chiến tranh, Việt Nam 

Bác sĩ Joseph Wolfe, giữa, điều trị cho một binh sĩ bị thương trong khi các y tá khác hỗ trợ tại Charlie Med, một bệnh viện tạm thời tại căn cứ Hải quân Khe Sanh vào tháng 3/1968.

bức ảnh, AP, chiến tranh, Việt Nam 

Bức ảnh do phóng viên Peter Gregg Arnett, người New Zealand chụp. Trong ảnh là lính hải quân Mỹ đổ bộ lên bãi biển Đà Nẵng vào tháng 4/1965.

bức ảnh, AP, chiến tranh, Việt Nam 

Hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu trên đường phố Sài Gòn để phản đối sự ngược đãi Phật giáo của chính phủ miền Nam Việt Nam vào ngày 11/6/1963 qua ống kính của Malcolm Wilde Browne, một phóng viên kiêm nhiếp ảnh gia người Mỹ.

bức ảnh, AP, chiến tranh, Việt Nam
Một phụ nữ ở gần Tây Ninh dắt con chạy khỏi ngôi nhà bị lính Việt Nam Cộng hòa đốt cháy vào tháng 7/1963.

bức ảnh, AP, chiến tranh, Việt Nam 

Hải quân Mỹ nổi lên từ hố cá nhân tại phía nam khu Phi quân sự sau đêm thứ ba giao tranh với quân đội Giải phóng miền Nam Việt Nam vào tháng 9 năm 1966.

Sầm Hoa (Theo Daily Mail)

VN ‘phạt nặng’ hành vi vi phạm chủ quyền – BBC

5 Th9

VN ‘phạt nặng’ hành vi vi phạm chủ quyền

Cập nhật: 07:46 GMT – thứ tư, 4 tháng 9, 2013
Tàu Bình Minh 2 của PetroVietnamTàu Bình Minh 2 của PetroVietnam

Chính phủ Việt Nam ban hành nghị định xử phạt nặng nước ngoài thăm dò khai thác dầu khí trái phép trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam, nhưng không nói rõ sẽ siết chặt chế tài bằng cách nào.

Nghị định 97/2013/NĐ-CPdo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký hôm 27/8/2013 “quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí dầu mỏ hóa lỏng”.

 

Văn bản nghị định mà BBC có nêu rõ quy định được áp dụng với các “cá nhân, tổ chức nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này trên lãnh thổ Việt Nam”.

Có lẽ đây là lần đầu tiên các mức phạt tiền được quy định cụ thể và chi tiết cho các hành vi của nước ngoài vi phạm lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Theo đó, cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài có “hành vi xâm phạm vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm nghiên cứu, tìm kiếm thăm dò dầu khí” sẽ bị phạt tiền từ 900 triệu tới 1 tỷ đồng (45.000 – 50.000 đôla Mỹ), đồng thời phải chịu hình phạt bổ sung là trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Hành vi khai thác dầu khí trái phép trong vùng biển chủ quyền của Việt Nam cũng có mức chế tài tương tự.

Ngoài ra, Nghị định 97 cũng quy định khá chi tiết về các mức phạt, xử lý các hành vi vi phạm khác như về an toàn, an ninh, môi trường, hợp đồng, ứng phó sự cố tràn dầu và vận chuyển khí trên đất liền.

Chương 3 của Nghị định tập trung vào các sai phạm trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu, còn Chương 4 về kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng.

Thi hành

Nghị định 97 có hiệu lực từ ngày 10/10/2013.

Tàu Trung Quốc bị cáo buộc cắt cáp tàu Bình Minh 2 năm 2012Tàu Trung Quốc bị cáo buộc cắt cáp tàu Bình Minh 2 năm 2012

Theo nghị định, bộ đội biên phòng và cảnh sát biển có thẩm quyền xử phạt hành chính và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính liên quan đến hoạt động tìm kiếm, thăm dò, vận chuyển và khai thác dầu khí.

Tuy nhiên, việc xử lý các vi phạm thuộc dạng nói trên chắc chắn không dễ dàng, nhất là trong bối cảnh còn tranh chấp chủ quyền tại một số vùng biển.

Lâu nay, Trung Quốc đã tiến hành thăm dò khai thác dầu khí tại nhiều khu vực mà Việt Nam nói là của mình đồng thời dọa dẫm các công ty nước ngoài muốn làm ăn với Việt Nam tại các vùng biển đó.

Theo thông lệ, Việt Nam thường tuyên bố phản đối nhưng không mấy tác dụng.

Tàu Trung Quốc năm 2012 còn gây hấn cắt cáp thăm dò của tàu dầu khí Việt Nam, gây căng thẳng song phương.

Mới đây, hôm 3/9 Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng có cuộc hội đàm ở Nam Ninh, Trung Quốc, trong đó hai ông nhắc lại mong muốn “phát triển hòa bình” ở Biển Đông.

Ông Lý được dẫn lời nói: “Hai nước cần tăng cường tiếp xúc đối thoại, kiểm soát thoả đáng bất đồng, phấn đấu biến những thách thức do vấn đề trên biển trở thành cơ hội hợp tác, tạo môi trường tốt đẹp cho việc triển khai sự hợp tác dự án quan trọng giữa hai bên”.

%d bloggers like this: