Tag Archives: vonga1

Thế giới 24h: Triều Tiên xử tử một loạt quan chức – Vnn

22 Th10

 

Triều Tiên xử tử 12 quan chức, chính quyền Hong Kong và lãnh đạo phe biểu tình đối thoại, Chủ tịch Total thiệt mạng …Đó là những diễn biến nóng trên thế giới 24h qua.

Tin nổi bật

Triều Tiên, Total, Ukraina, thế giới 24h, Hong Kong

Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong Un xuất hiện sau 40 ngày vắng bóng. Ảnh Yonghap

Đài KBS dẫn lại nguồn tin từ Asia Press cho biết, trong khoảng thời gian Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un vắng mặt, chính quyền nước này đã xử tử 12 quan chức thuộc Đảng Lao động Triều Tiên, trong đó 10 người thuộc trung ương Đảng Lao động Triều Tiên đã bị xử bắn hôm 6/9 do tội lập tổ chức bí mật.

Ngoài ra, Bình Nhưỡng đã xử bắn hai người là vụ trưởng trung ương đảng Lao động và người còn lại là thư ký cấp cao của đảng Lao động hôm 11/10 vừa qua. Hai người này bị kết tội thông đồng với cựu Phó Chủ tịch Ủy ban quốc phòng Jang Song-thaek, người đã bị xử tử vào tháng 12 năm ngoái.
 
Theo báo Asia Press, các quan chức đảng Lao động và Bộ Bảo vệ an toàn quốc gia Triều Tiên đã chứng kiến các cuộc hành quyết này.

Báo này cho biết có thể đây là động thái “tử hình để nêu gương” trong nội bộ đảng Lao động Triều Tiên.

Tin vắn

– Các quan chức chính quyền Hong Kong và thủ lĩnh sinh viên biểu tình đã bắt đầu đối thoại cố gắng giải quyết những bế tắc chính trị vốn châm ngòi cho các cuộc biểu tình trên đường phố suốt 4 tuần qua.

– Các quan chức Nepal cho biết họ đang lên kế hoạch ban hành những kiểm soát chặt chẽ hơn đối với hoạt động leo núi. Động thái trên diễn ra 1 tuần sau vụ bão tuyết kinh hoàng khiến hàng chục du khách thiệt mạng.

– Vận động viên Nam Phi Oscar Pistorius đã bị kết án 5 năm tù giam vì tội giết bạn gái Reeva Steenkamp.

– Các nhà điều tra Nga tuyên bố “sự lơ đễnh, cẩu thả” là nguyên nhân gây ra vụ tai nạn máy bay khiến Giám đốc điều hành hãng Total và 3 thành viên phi hành đoàn thiệt mạng.

– Cựu Thủ tướng Australia Gough Whitlam, người có công chuyển đổi xã hội Australia trong những năm 70 của thế kỷ trước, đã qua đời ở tuổi 98.

– Người phát ngôn cho lực lượng Taliban ở Pakistan, Shahidullah Shahid đã bị sa thải sau khi bày tỏ lòng trung thành với Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng.

– Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ tổ chức cuộc gặp thượng đỉnh với người đồng cấp Hàn Quốc bên lề Hội nghị Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) tại Bắc Kinh vào tháng 11 tới.

– Quân đội Ukraina bác bỏ cáo buộc của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) cho rằng họ sử dụng bom chùm bừa bãi trong các cuộc giao tranh kéo dài 6 tháng qua với lực lượng đòi độc lập ở miền Đông nước này.

Tin ảnh

Triều Tiên, Total, Ukraina, thế giới 24h, Hong Kong

Thụy Điển đã triển khai 200 binh sĩ cùng trực thăng, tàu chiến tham gia chiến dịch tìm kiếm ‘tàu ngầm lạ” xuất hiện tại hải phận quốc gia Bắc Âu này.

Một loạt tàu chiến Thụy Điển truy tìm ‘tàu lạ’

 Thụy Điển cho biết quốc gia này đang phản ứng với một tình huống an ninh mới và sẽ không cho phép xảy rất cứ vi phạm nào vào vùng biển của họ. 

 

Phát ngôn

Triều Tiên, Total, Ukraina, thế giới 24h, Hong Kong

“Cho đến giờ, với quan điểm của họ (sinh viên), tôi e rằng chúng ta chỉ có thể đành chấp nhận sự bất đồng”,  Chánh văn phòng Chính quyền Hong Kong Carrie Lam, người đứng đầu nhóm đối thoại với sinh viên, phát biểu.

Ngày này năm xưa

Ngày 22/10

1879 – Thomas Edison lần đầu tiên thành công trong việc thử nghiệm đèn sợi đốt, với một dây tóc cácbon.

1962 – Khủng hoảng tên lửa Cuba: Tổng thống John F. Kennedy tuyên bố trên truyền hình rằng vũ khí hạt nhân Liên Xô được phát hiện ở Cuba và ra lệnh nâng tình trạng báo động quân sự lên mức DEFCON 3.

2012 – Liên đoàn Xe đạp Quốc tế ra tước 7 danh hiệu vô địch Tour de France và cấm thi đấu suốt đời đối với tay đua Lance Armstrong (hình) do cáo buộc sử dụng doping.

Hồng Hà

 

Mỹ gỡ bỏ một phần cấm bán vũ khí cho VN

3 Th10

 

Quyết định đã được Ngoại trưởng Mỹ John Kerry thông báo trong cuộc hội đàm với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh tại Washington, DC ngày 2/10 (giờ địa phương).

Theo thông báo trên website của Bộ Ngoại giao Mỹ, lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam được gỡ bỏ một phần.

vũ khí, Mỹ, Phạm Bình Minh, John Kerry, Biển Đông
Ảnh: AP
Các hãng thông tấn nước ngoài dẫn lời phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Jen Psaki ngày 2/10 cho biết: “Ngoại trưởng Mỹ đã thông báo với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh rằng Bộ Ngoại giao Mỹ đã tiến hành các bước nhằm cho phép việc chuyển giao các loại vũ khí phòng thủ liên quan đến an ninh hàng hải cho Việt Nam trong tương lai”.

Trong một cuộc họp báo khác, các quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết việc bán bất kỳ vũ khí cụ thể nào cho Việt Nam sẽ được đánh giá trên cơ sở từng trường hợp một theo đề nghị cung cấp thiết bị quốc phòng từ Việt Nam.

Các quan chức này cho biết trọng tâm là giúp đỡ Việt Nam tuần tra, phòng vệ trên Biển Đông và các loại vũ khí mà Mỹ sẽ bán cho Việt Nam có thể là các hệ thống vũ khí trên không và tàu chiến. Tuy nhiên, các quan chức này từ chối nêu cụ thể loại vũ khí nào có thể được cân nhắc bán cho Việt Nam.

Trong khi đó, hãng tin Reuters dẫn lời các quan chức cấp cao giấu tên của Mỹ cho biết Washington muốn hỗ trợ Việt Nam thông qua việc tăng cường khả năng giám sát và bảo vệ bờ biển của Việt Nam, đồng thời cũng nói thêm rằng máy bay do thám “sát thủ săn ngầm” P-3 có thể là một trong những thương vụ đầu tiên giữa 2 bên.

Reuters cho hay mong muốn thắt chặt quan hệ với Việt Nam đang nằm trong chiến lược tái tập trung về mặt kinh tế, chính trị và quân sự vào châu Á của Tổng thống Mỹ Barack Obama.

Phát biểu bên cạnh ông Phạm Bình Minh tại Washington ngày 2/10, ông Kerry cho biết: “Công bằng mà nói trong năm đầu tiên thiết lập quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước, chúng ta đã đạt được những bước tiến bộ đáng kể như Hiệp định hợp tác giữa hai Chính phủ về sử dụng hòa bình năng lượng hạt nhân (Hiệp định 123), hợp tác an ninh, kinh tế và các vấn đề quan trọng khác đối với cả hai nước chúng ta”, theo thông cáo trên website Bộ Ngoại giao Mỹ.

Đáp lại lời phát biểu của ông Kerry, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh nói: “Kể từ khi thiết lập quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước, chúng ta đã ghi nhận nhiều thành tựu trong tất cả lĩnh vực – kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng và các lĩnh vực khác”.

Xem clip Ngoại trưởng John Kerry và Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh phát biểu trước hội đàm:

 

Vẫn còn TPP

Trong phát biểu trước cuộc hội đàm tại Washington, DC, Ngoại trưởng John Kerry nhấn mạnh quan hệ Việt – Mỹ vẫn còn nhiều vấn đề tiếp tục phải làm.

“Chúng ta muốn cố gắng hoàn tất Hiệp định thương mại đối tác xuyên Thái Bình Dương, và Việt Nam đang làm việc rất nhiệt thành với chúng tôi để có thể hoàn tất điều đó. Chúng ta vẫn tiếp tục trao đổi về các vấn đề trong quan hệ song phương như nhân quyền, phát triển kinh tế, khả năng kinh doanh của công ty tư nhân. Đây là tất cả những điều quan trọng” – ông Kerry nói.

Ngoại trưởng Mỹ chào đón Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh thăm chính thức Mỹ.  

“Người mà tôi đã biết rất nhiều, nhiều năm. Lần đầu tiên tôi gặp ông khi ông là sinh viên tại Đại học Tufts ở Boston và chúng tôi đã gặp nhau rất nhiều lần khác trong các cuộc hành trình của tôi tới Việt Nam và trong lúc ông công tác ở đây”.

Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nhấn mạnh từ khi thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, hai nước đã có nhiều thành công trong tất cả các lĩnh vực – kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng, và các phương diện khác.

“Tôi đến Hoa Kỳ hôm nay để gặp gỡ và làm việc với các đồng sự Mỹ nhằm đánh giá lại mối quan hệ song phương giữa hai nước. Tôi đang mong chờ có các cuộc thảo luận hiệu quả về những vấn đề song phương, làm thế nào để tăng cường mối quan hệ của chúng ta, và cũng thảo luận về các vấn đề khu vực và quốc tế mà chúng ta cùng quan tâm” – Phó Thủ tướng nói.

L.Thư – T.An – H.Nhì – Clip: Bộ Ngoại giao Mỹ

 

Thế giới 24h: Mỹ, Nga từng mật đàm?

28 Th8

 

– Hãng AP đưa tin Nga, Mỹ từng mật đàm về Ukraina ở Phần Lan; Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế bị điều tra… là các tin đáng chú ý.

TIN LIÊN QUAN

Nổi bật

Tân Hoa xã ngày 27/8 dẫn thông cáo của Bộ Ngoại giao Nga cho hay, Moscow và Washington không hề tổ chức bất kỳ cuộc đàm phán bí mật nào về tình hình Ukraina.

“Chúng tôi thừa nhận rằng, các chuyên gia Nga, Mỹ thực sự đã gặp nhau vào cuối tháng 6, trên hòn đảo Boisto của Phần Lan”, bản thông cáo của Bộ Ngoại giao Nga nêu rõ.

Mỹ, Nga, Phần Lan, Ukraina, mật đàm, khủng hoảng
Trụ sở Bộ Ngoại giao Nga ở Moscow. (Ảnh: Itar-Tass)

Tuy nhiên, theo thông cáo, đây không phải là hội đàm chính thức cấp nhà nước, mà chỉ là cuộc tiếp xúc giữa những tổ chức phi chính phủ, cộng đồng học thuật Nga – Mỹ.

Theo Itar-Tass, Bộ Ngoại giao Nga cho biết thêm, giải pháp cho tình hình khủng hoảng Ukraina đã được thảo luận trong cuộc gặp này, nhưng “hoàn toàn được công khai”.

Trước đó, ngày 26/8, hãng tin AP dẫn lời một quan chức Bộ Ngoại giao Phần Lan cho biết, hồi tháng 6 năm nay, Mỹ – Nga đã mật đàm về tình hình Ukraina, ở Phần Lan.

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Phần Lan, bà Vesa Hakkinen nói rằng, bộ này đã giúp đỡ tổ chức cuộc gặp trên tại hòn đảo Boisto, ngoài khơi bờ biển phía nam Phần Lan.

Bà Vesa Hakkinen thừa nhận, cuộc khủng hoảng chính trị tại Ukraina là một trong các nội dung chính của cuộc gặp giữa Nga và Mỹ, nhưng từ chối cung cấp thêm chi tiết.

Sau khi thông tin trên bị rò rỉ, Văn phòng Tổng thống Phần Lan Sauli Niinisto ngày 26/8 ra tuyên bố, tổng thống nước này không tham gia cuộc mật đàm giữa Nga và Mỹ.

Tuy nhiên, chuyến công du hồi đầu tháng 8 của Tổng thống Phần Lan Sauli Niinisto đã dẫn tới những lời đồn, ông Niinisto đang hành động đại diện cho Liên minh châu Âu.

Cụ thể, trong chuyến công du này, Tổng thống Phần Lan Sauli Niinisto đã gặp Tổng thống Nga Vladimir Putin, sau đó tới Kiev hội đàm với Tổng thống Petro Poroshenko.

Tin vắn

– Tổng thống Nga Vladimir Putin tuyên bố đạt được thỏa thuận với người đồng cấp Ukraina Petro Poroshenko về việc nối lại đàm phán ba bên về năng lượng.

– Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov ngày 27/8 nói, chuyến hàng cứu trợ nhân đạo sắp tới mà nước này chuyển tới Ukraina sẽ không phải là “chuyến cuối cùng”.

– Bộ Ngoại giao Ukraina nói không loại trừ khả năng tiếp nhận đoàn xe viện trợ thứ hai từ Nga, nếu những điều kiện nhất định mà phía Kiev đưa ra được đáp ứng.

– Thủ tướng Ukraina  Arseny Yatseniuk ngày 27/8 cho biết rằng, quốc gia này cần sự “giúp đỡ thiết thực” của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).

– Chiến binh Nhà nước Hồi giáo (IS) đã hành quyết binh sĩ Syria và giam giữ một nhóm con tin sau khi chiếm đóng một căn cứ không quân tại đông bắc Syria.

– Iran trong ngày 27/8 tuyên bố rằng, quốc gia này đã bắt đầu tiến hành việc điều chỉnh thiết kế của lò phản ứng nước nặng Arak để hạn chế sản lượng pluton.

– Thủ tướng Ukraina Arseny Yatseniuk khẳng định, Kiev đã biết về kế hoạch của Nga nhằm ngừng các dòng khí đốt cung cấp cho châu Âu trong mùa đông tới.

– Các binh sỹ Nga thuộc sư đoàn dù 98 bị bắt ở Dzerkalne của Ukraina, cách Donetsk khoảng 50km được chuyển về trại tạm giam tại thủ đô Kiev, Ukraina.

– Quân đội Ukraina ngày 27/8 nói, một lượng lớn gồm xe tăng, vũ khí hạng nặng từ Nga đang hướng tới thị trấn do chính phủ kiểm soát, ở miền đông Ukraina.

– Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Tayyip Erdogan ngày 27/8 cho biết, tân Thủ tướng Ahmet Davutoglu sẽ công bố thành phần Nội các chính thức, vào ngày 29/8 tới.

– Các cơ quan truyền thông Malaysia ngày 27/8 cho biết, quân đội Mỹ và Malaysia đã lần đầu tiên tổ chức cuộc tập trận chung ở bang Sabah, gần biển Đông.

– Quân nổi dậy ở Syria, trong đó có Mặt trận Al-Nusra, một nhánh của al-Qaeda, đã giành quyền kiểm soát một cửa khẩu ở giữa Syria với cao nguyên Golan.

Tin ảnh

Mỹ, Nga, Phần Lan, Ukraina, mật đàm, khủng hoảng
Pháp chính thức mở cuộc điều tra Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế Christine Lagarde. (Ảnh: Reuters)

Phát ngôn

Tại cuộc gặp người đồng cấp Ukraina Petro Poroshenko ngày 26/8, Tổng thống Nga Vladimir Putin nói, Nga không thể đặt điều kiện ngừng bắn cho các bên tại Ukraina.

“Chúng tôi chỉ hỗ trợ nhằm tạo ra một môi trường tin cậy nhất có thể, để giúp các bên tham gia đàm phán và đây là điều mà chúng tôi muốn nói tới”, ông Putin khẳng định.

Kỷ niệm

Ngày 28/8/1945, Bộ Tài chính Việt Nam được thành lập. Đồng chí Phạm Văn Đồng được bổ nhiệm làm bộ trưởng.

Thanh Vân

 

Quá trình công bố Tài liệu ‘tuyệt đối bí mật’ – Vnn

22 Th8

 

Di chúc đã thể hiện cao độ tinh thần trách nhiệm của Người đối với Đảng, với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với thế hệ trẻ, với các tầng lớp nhân dân ta và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; phản ánh tập trung những tư tưởng, tác phong, đạo đức và tình cảm cao đẹp của Người.LTS:Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu loạt bài Kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mở đầu là bài viết của TS Lưu Trần Luân, NXB Chính trị Quốc gia, một trong số ít người may mắn được giao nhiệm vụ tham gia quá trình xuất bản toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên vào năm 1989, sau khi Ban Bí thư ra Thông báo “Về một số vấn đề liên quan đến Di chúc và ngày qua đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời lúc 9 giờ 47 phút ngày 2-9-1969. Bên cạnh Người lúc lâm chung là tập thể Bộ Chính trị, những học trò xuất sắc và cộng sự thân cận của Người.

Ngay chiều ngày 3-9-1969, Bộ Chính trị quyết định triệu tập Hội nghị bất thường Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp vào  để bàn và quyết định việc tổ chức Lễ quốc tang Hồ Chủ tịch với nghi thức trọng thể nhất, đồng thời quyết định công bố Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bác Hồ, di chúc, Hồ Chí Minh, 2/9, Quốc khánh

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhân cách lớn, một tư tưởng lớn. Ảnh tư liệu

Ngày 9-9-1969, Lễ quốc tang Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử hành trọng thể tại Quảng trường Ba Đình lịch sử. Di chúc của Người đã được Bộ Chính trị giao cho Nhà xuất bản Sự thật xuất bản và công bố cùng ngày quốc tang với số lượng lớn, được trình bày, in ấn trang trọng, tiện ích trong sử dụng và bảo quản được lâu dài, có thể xem như đỉnh cao của công nghệ in ở nước ta thời kỳ đó. Cùng với việc xuấtbản thành sách, sau Lễ quốc tang, Di chúc của Người được nhiều tờ báo từ Trung ương đến địa phương đăng tải, công bố cả bút tích Di chúc của Người trên trang nhất.

Cùng vớiviệc công bố Di chúc, ngày 29-9-1969, Bộ Chính trị raChỉ thị số 173-CT/TW về đợt sinh hoạt chính trị: “Học tập và làm theo Di chúc của Hồ Chủ tịch”.

Ở chiến trường, năm 1970, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tổ chức in Di chúc của Người tại cơ sở in bí mật ởSài Gòn và phát hành rộng rãi ở vùng giải phóng và các đơn vị lực lượng vũ trang.

Khi vĩnh biệt chúng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân một nhân cách lớn, một tư tưởng lớn, một sự nghiệp lớn và một thời đại đột xuất, rực rỡ trong lịch sử dân tộc – thời đại Hồ Chí Minh, mà Người còn để lại bản Dichúc lịch sử. Đảng ta xem đây là một trong những văn kiện quan trọng nhất trong di sản tư tưởng mà Người dặn lại cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các thế hệ người Việt Nam.

Ngày 9-9-1969, tại Lễ truy điệu trọng thể Chủ tịch Hồ Chí Minh, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn hứa trước anh linh Người: Nén đau thương thành hành động cách mạng, anh dũng phấn đấu, hăng hái vươn lên, đạp bằng mọi trở lực, chông gai, quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, quyết tâm xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, thực hiện lời thề danh dự trong giờ phút vĩnh biệt thiêng liêng này.

Bác Hồ, di chúc, Hồ Chí Minh, 2/9, Quốc khánh
Bản bút tích di chúc Bác Hồ đề “Tuyệt đối bí mật”. Nguồn: Cpv.org.vn

Tiếp tục sự nghiệp Người để lại, tập thể Bộ Chính trị – những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh – đã kiên định lãnh đạo đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đến ngày toàn thắng vào mùa Xuân năm 1975 lịch sử, thu giang sơn về một mối, thống nhất nước nhà về mặt nhà nước (1976), thực hiện trọn vẹn lời hứa trước anh linh Người.

Ngay sau khi Người qua đời, cũng như sau ngày thống nhất đất nước, căn cứ vào Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, chính sách lớn để thực hành đoàn kết trong Đảng, dân chủ rộng rãi, thường xuyên phê bình và tự phê bình, giáo dục cán bộ, đảng viên thấm nhuần đạo đức cách mạng, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; chăm lo giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ vừa “hồng”, vừa ”chuyên”; tiến hành nhiều kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội, v.v. để không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân; tích cực hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục khối đoàn kết trong phong trào cộng sản quốc tế… như Người căn dặn.

Trên cơ sở quyết định của Bộ Chính trị, các cơ quan lưu trữ, bảo tàng, viện nghiên cứu, học viện, nhà trường đã tiến hành nghiêm túc việc biên dịch, sưu tầm toàn bộ các bài nói, bài viết, bút tích của Người một cách có hệ thống.

Ngày 7-1-1978, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 07-NQ/TW về việc xuất bản Hồ Chí Minh Toàn tập, thành lập Hội đồng chỉ đạo việc biên tập và xuất bản do đồng chí Trường Chinh làm Chủ tịch. Bộ Hồ Chí Minh Toàn tập xuất bản lần thứ nhất gồm 10 tập, kéo dài trong 10 năm, từ năm 1980 đến cuối năm 1989 thì hoàn thành. Văn bản cuối cùng của tập 10 in bản Di chúc đã được báo Nhân Dân công bố ngày 10-9-1969, Hội đồng xuất bản bộ sách đánh giá: Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những văn kiện quan trọng nhất trong di sản tư tưởng quý báu của Người để lại, là ánh đuốc soi đường cho toàn Đảng, toàn dân ta và các thế hệ mai sau.

Di chúc đã thể hiện cao độ tinh thần trách nhiệm của Người đối với Đảng, với sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với thế hệ trẻ, với các tầng lớp nhân dân ta và phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; phản ánh tập trung những tư tưởng, tác phong, đạo đức và tình cảm cao đẹp của Người.

(Còn tiếp)

Đón đọc Phần 2: Hồi ký Bác Hồ viết di chúc của ông Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác và việc công bố những vấn đề mới trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

TS Lưu Trần Luân

*Trưởng ban sách Kinh điển – Lý luận, NXB Chính trị Quốc gia

Trong lễ tang của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đồng chí Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đọc lời điếu và công bố Di chúc của Người.

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

(công bố năm 1969)

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
————————-

Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

Đó là một điều chắc chắn.

Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng, thǎm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thǎm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp nǎm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

*
* *

Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là “Người thọ 70, xưa nay hiếm”.

Nǎm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là lớp người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoẻ có kém so với vài nǎm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.

Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?

Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.

TRƯỚC HẾT NÓI VỀ ĐẢNG – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

ĐOÀN KẾT là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hằng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

NHÂN DÂN LAO ĐỘNG ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh.

Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, còn nước, còn người, Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

VỀ PHONG TRÀO CỘNG SẢN THẾ GIỚI – là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!

Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình.

Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

*
* *

VỀ VIỆC RIÊNG – Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

*
* *

Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Hà nội, ngày 10 tháng 5 nǎm 1969

Hồ Chí Minh

(Theo Bác Hồ viết tài liệu Tuyệt đối bí mật-NXB Lý luận chính trị. Tuần Việt Nam dẫn lại theo Báo điện tử Đảng Cộng sản)

 

Đằng sau mỹ từ hữu hảo của ‘ông chủ’ TQ

22 Th8

 

 

Trong giao thương của châu Phi với TQ, bên đầu tư thực sự là ông chủ – những người đang thâu tóm và kiểm soát các con đường, bến cảng, nhà máy và nông trại.Theo lý thuyết kinh tế, thương mại đóng vai trò trong phát triển kinh tế thông qua hai cách, đó là (i) tăng số lượng hàng hóa thực tế và dịch vụ mà quốc gia đó bán ra bên ngoài, và (ii) nâng cao hiệu suất của lực lượng sản xuất. TQ dường như đáp ứng được cả hai điều này và nước này ngày càng giàu hơn nhưng cũng đói (tài nguyên) hơn.

Kể từ năm 1998, cùng với sự tăng trưởng và khả năng đáp ứng nhu cầu của thế giới về các mặt hàng thiết yếu như đồng, chì, nhôm, TQ cũng bắt đầu thấy khát tài nguyên thô và những gì nước này cần như ngũ cốc, thịt bò, bông gòn cho đến dầu mỏ thì châu Phi đều có thể cung cấp. Châu Phi có trà ở Kenya, cafe ở Uganda, hạt điều ở Mozambique và bông gòn ở Mali. Ngoài ra, châu Phi còn là nơi đảm bảo một nửa sản lượng của thế giới về bauxite, Chrome và Kim Cương và hơn một nửa sản lượng bạch kim.

Với dân số hơn 1,3 tỷ người trong đó cùng với tầng lớp trung lưu ngày càng tăng, quả thực châu Phi đang là mỏ vàng cho TQ. Nhìn vào nhịp độ thương mại hai bên liên tục tăng trưởng lên 2 lần, 3 lần và thậm chí là 4 lần qua các năm, có vẻ như tình hình giao thương rất ổn.

Nhưng thực tế TQ chọn châu Phi là đích đến của các loại hàng hóa rẻ tiền và kém chất lượng – những thứ đang dần dần bị các khách hàng châu Á làm ngơ, không chỉ vì chất lượng tồi mà còn bị nghi ngờ tiềm ẩn nhiều nguy cơ độc hại. Ngày nay, bạn có thể dễ nhìn thấy sự thống trị của hàng hóa và dịch vụ TQ ở tận hang cùng, ngõ hẻm của châu Phi. Từ quần áo, giày dép cho đến xe máy, đồ điện tử và đặc biệt là đồ gỗ nội thất (sản xuất tại chỗ).

châu Phi, Trung Quốc, đầu tư, viện trợ, đầu tư FDI
TQ ngày càng giàu hơn nhưng cũng đói (tài nguyên) hơn

Đổi lại, người châu Phi có gì cho ông “bạn lớn” của mình đây? Dĩ nhiên rồi, đó là dầu mỏ và khoáng sản và lương thực – những thứ làm cho đường hàng hải của thế giới đôi khi bị tắc nghẽn. Trong bối cảnh các nền kinh tế tại châu Á đã và đang tiến đến trình độ “sản xuất” công nghiệp, thì hầu hết các nước châu Phi vẫn đang dừng lạ ở “sản xuất nông nghiệp”.

Mặt khác, sự chênh lệch về trình độ giáo dục sẽ khiến cho nhiều nước châu Phi rất khó trở thành những nhà sản xuất hàng hóa phi nông nghiệp. Điều này khiến cho TQ có rất nhiều cơ hội để duy trì việc bán các sản phẩm hàng hóa kém chất lượng sang châu Phi với giá rẻ và góp phần đẩy các nhà sản xuất hàng hóa của các nước này vào rủi ro và rất dễ phá sản.

Một vấn đề nguy hại nữa cho lục địa đen: sự di cư ồ ạt của người TQ sang các nước này làm dịch vụ và công nhân cho các nhà máy và công ty khai khoáng do TQ đầu tư sẽ mang đến hai hệ lụy. Đó là (i) cạnh tranh và làm mất cơ hội lao động của người bản xứ, và (ii) dần dần cắm rễ và tạo nên những “Chinatown” mới, để rồi tiến tới kiểm soát các giao dịch thương mại của người bản địa theo cách mà người TQ vẫn hay làm tại các nước Đông Nam Á trước kia.

Một lần nữa châu Phi lại có thể thất bại trong cuộc chơi thương mại với TQ như họ đã từng thất bại với các khoản viện trợ đến từ Phương Tây. Tuy các khoản viện trợ của phương Tây luôn đi kèm các yêu cầu và ràng buộc về cải cách thể chế, nhân quyền, hay dân chủ, nhưng khi thất bại người ta chỉ có thể trách cứ và đổ lỗi cho nhau tại các cuộc hội thảo và cùng lắm là một vài phê phán nặng lời được viết trong các báo cáo đánh giá. Về cơ bản người dân châu Phi vẫn có thể gìn giữ được những gì họ đã có. Khi nhận các khoản viện trợ, bên cho là “Nhà Tài trợ, là đối tác phát triển”, còn trong giao thương với TQ, bên đầu tư thực sự là “ông chủ” – những người đang thâu tóm và kiểm soát các con đường, bến cảng, nhà máy và nông trại.

“Ông chủ” này chỉ thực sự dừng cuộc chơi lại khi nào những thứ (tài nguyên) của người châu Phi được chuyển hết về và cất giữ tại hai bên bờ của sông Hoàng Hà và Dương Tử. Khi đó, những con đường đẹp đẽ tại châu Phi không rõ sẽ ra sao khi xuống cấp vì mưa nắng. Và những sản phẩm phi nông nghiệp mà các nước châu Phi hằng hy vọng có thể sản xuất được từ sự hào phóng trong chuyển giao công nghệ từ TQ, có thể lại trở thành gánh nặng cho đất nước khi không biết bán cho ai!

Viễn cảnh có phần bất lợi cho các nước châu Phi đó, được che đậy bởi những mỹ từ mà mới nghe thì có vẻ rất “hữu hảo” của ông Hồ Cẩm Đào dành cho các vị khách đến từ châu Phi, nhưng nghe kỹ thì, vẫn như mọi khi, “đậm” mùi nước lớn như: “Trong những năm qua, Trung Quốc đã hỗ trợ châu Phi giải phóng thắng lợi và theo đuổi con đường phát triển…” Hay: “Cuộc gặp của chúng ta hôm nay sẽ đi vào lịch sử, chúng ta, những lãnh đạo của TQ và các nước châu Phi tụ họp tại đây trên tinh thần hữu nghị, hòa bình, hợp tác và phát triển…”

Thế mới thấy đối với TQ, cái gọi là “Viễn giao” cũng chính là “Cận công” khi thời cơ đến và mọi thứ ở gần trong tầm tay họ vậy.

Trần Văn Tuấn

*Tác giả là chuyên gia vận động phát triển về quyền con người, từng hoạt động tại nhiều nước, bao gồm các quốc gia châu Á và châu Phi. Bài viết có tham khảo cuốn Dead Aid – Why Aid Is Not Working and How There Is a better Way for Africa của Dambisa Moyo.

 

Thế giới 24h: Ngoại trưởng Mỹ bị nhục mạ – Vnn

21 Th8

 

Triều Tiên gọi Ngoại trưởng Mỹ là “con sói với bộ hàm gớm ghiếc”; Thế giới bàng hoàng trước vụ nhà báo Mỹ bị chặt đầu… là các tin đáng chú ý.

Nổi bật

Theo AP, hôm 20/8, trong cuộc công kích cá nhân mới nhất nhằm vào một quan chức cấp cao ở một quốc gia đối thủ, Triều Tiên đã gọi Ngoại trưởng Mỹ John Kerry là “một con sói với bộ hàm gớm ghiếc”.

Trong năm nay, Triều Tiên đã đưa ra một loạt lời lăng mạ đối với các lãnh đạo ở Washington và Seoul.

Triều Tiên, Mỹ, Ngoại trưởng, John Kerry, lăng mạ 

Ngoại trưởng Mỹ John Kerry. (Ảnh: AP)

Đáng chú ý là lời công kích mới nhất của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên nhằm vào ông John Kerry, người đứng đầu cơ quan ngoại giao Mỹ, lại chỉ xuất hiện trong một bản tin bằng tiếng Triều Tiên.

AP cho rằng, việc đó nhằm tạo nên tình cảm chống Mỹ và “đánh bóng” hình ảnh lãnh đạo ở trong nước giữa lúc Mỹ-Hàn đang tiến hành tập trận chung hàng năm mà Triều Tiên gọi là cuộc diễn tập xâm lược.

Phát biểu trong cuộc họp của Ủy ban Quốc phòng Triều Tiên, do nhà lãnh đạo Kim Jong Un đứng đầu, người phát ngôn của một cơ quan chính sách đã mô tả ông John Kerry như “một con sói đội lốt cừu”.

Phát ngôn viên này chỉ trích việc ông Kerry gần đây nói rằng Mỹ muốn chứng kiến hòa bình trên bán đảo Triều Tiên, dù Mỹ, Hàn sau đó vẫn tiến hành cuộc tập trận mùa hè mà Triều Tiên đã yêu cầu hủy bỏ.

Người phát ngôn của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cũng lên tiếng chỉ trích những lời bình luận của Ngoại trưởng Mỹ John Kerry về thành tích nhân quyền và các chương trình vũ khí của nước này.

“Hành vi của ông ta một lần nữa cho thấy bản chất thâm căn cố đế của Mỹ là một kẻ đạo đức giả đã dối lừa và nhạo báng nhân loại bằng đủ loại mánh khóe”, hãng KCNA dẫn tuyên bố của phát ngôn viên.

Tin vắn

– Cao ủy Pakistan tại Ấn Độ Abdul Basit cho biết, Islamabad vẫn hy vọng tăng cường quan hệ với New Delhi, bất kể tuần trước Ấn Độ đã hủy đàm phán giữa hai nước.

– Afghanistan yêu cầu phóng viên thường trú Matthew Rosenberg của New York Times rời khỏi nước này trong vòng 24 giờ tới, vì không hợp tác trong một vụ điều tra.

– Tướng Prayuth Chan-ocha, Tư lệnh lục quân Thái Lan, người lãnh đạo cuộc đảo chính ở nước này, nhiều khả năng sẽ được bầu chọn làm thủ tướng mới của Thái Lan.

– Tòa án ở Ai Cập đã tuyên án 25 năm tù giam đối với 17 người ủng hộ cựu tổng thống Mohamed Morsi liên quan tới các cuộc biểu tình chống chính phủ hồi năm ngoái.

– Tàu khu trục INS Sahyadri của Ấn Độ ngày 20/8 đã cập cảng Manila, bắt đầu chuyến thăm Philippines nhằm tăng cường hơn nữa mối quan hệ giữa hải quân hai nước.

– Ngày 20/8, các lực lượng quân đội của Ukraina đã nổ súng tấn công nhằm vào trung tâm của thành phố Donetsk tại miền đông, gây ra nhiều vụ nổ lớn tại khu vực này.

– Ít nhất 32 người thiệt mạng và 9 người khác vẫn còn mất tích, sau khi mưa dữ dội suốt đêm 19/8 gây ra lở đất ở nhiều khu vực dân cư thuộc Hiroshima, tây Nhật Bản.

– Iraq ngày 20/8 bày tỏ quan ngại trước những thông tin cho rằng, các phần tử thuộc Nhà nước Hồi giáo tự xưng đang buôn lậu dầu mỏ, tới những thị trường xuất khẩu.

– Tổng thống Liberia, bà Ellen Johnson Sirleaf đã thông báo áp đặt một lệnh giới nghiêm trên toàn quốc vào ban đêm, nhằm ngăn chặn virus Ebola lan tràn rộng rãi thêm.

– Ngoại trưởng Anh “kinh hoàng tột độ” trước vụ nhóm Nhà nước Hồi giáo tự xưng chặt đầu nhà báo Mỹ James Foley, đồng thời coi đây là hành động “vô cùng tàn ác”.

– Bộ trưởng Nội vụ Israel Gideon Saar biện minh về vụ không kích dải Gaza khiến vợ con của thủ lĩnh quân sự phong trào Hồi giáo Hamas Mohammed Deif thiệt mạng.

– Ai Cập hôm 20/8 lên tiếng kêu gọi Israel và Palestine nối lại cuộc đàm phán, đồng thời bày tỏ lấy làm tiếc trước hành động vi phạm thỏa thuận ngừng bắn tại dải Gaza.

– Sáng ngày 20/8, ít nhất 10 phiến quân và một nhân viên cảnh sát đã bị thiệt mạng, trong một vụ đụng độ tại tỉnh Ghazni, khu vực miền đông của đất nước Afghanistan.

– Tổ chức Nhà nước Hồi giáo cảnh báo Mỹ rằng, nhóm này sẽ tấn công người Mỹ tại bất kỳ nơi nào, nếu các cuộc không kích của Mỹ đánh trúng thành viên của nhóm.

– Khoảng 7.000 binh sỹ đến từ 5 nước thuộc Tổ chức hợp tác Thượng Hải đã có mặt tại khu tự trị Nội Mông, Trung Quốc, tham gia cuộc tập trận “Sứ mệnh hòa bình”.

Tin ảnh

Triều Tiên, Mỹ, Ngoại trưởng, John Kerry, lăng mạ

Nhà báo Mỹ James Foley, người bị nhóm Nhà nước Hồi giáo sát hại dã man và tung video lên mạng hôm 19/8. (Ảnh: Reuters)

Phát ngôn

Bà Diane Foley, mẹ của nhà báo James Foley, người vừa bị nhóm Nhà nước Hồi giáo giết hại, đã viết trên Facebook rằng, “chúng tôi không thể tự hào hơn nữa về Jim (tên thân mật của James). Con trai chúng tôi đã hiến dâng mạng sống mình để cố gắng cho cả thế giới biết những nỗi thống khổ mà người dân Syria đang phải gánh chịu”.

Kỷ niệm

Ngày 21/8/2001, Hội Chữ thập đỏ tuyên bố nạn đói đang tấn công Tajikistan, đồng thời kêu gọi viện trợ tài chính quốc tế cho Tajikistan và Uzbekistan.

Thanh Vân

 

Nhìn vào phong trào ‘thoát Trung’ – BBC

21 Th8

 

Cập nhật: 15:09 GMT – thứ ba, 12 tháng 8, 2014
Người Việt biểu tình phản đối Trung Quốc ở London hôm 18/5

Hàng vạn người Việt khắp nơi xuống đường phản đối TQ trong thời gian qua

Những đòi hỏi thay đổi mối quan hệ ‘vừa là đồng chí, vừa là anh em’ giữa hai nước cộng sản Việt Nam và Trung Quốc không phải là điều mới.

 

Nhưng việc các nhà lãnh đạo Bắc Kinh cho hạ đặt giàn khoan trong vùng biển mà Hà Nội coi là vùng kinh tế đặc quyền của mình đã thổi lửa làm bùng lên phong trào ‘thoát Trung’ đã âm ỉ từ lâu.

Thực tế có cáo buộc rằng người đang chịu án tù 12 năm, blogger Điếu Cày, tức Nguyễn Văn Hải, bị bắt hồi năm 2008 và bị kết án lần đầu 30 tháng tù giam một phần vì các hoạt động chống Trung Quốc.

Các cuộc biểu tình phản đối Bắc Kinh ở Việt Nam cũng để lại những hình ảnh và câu chuyện đáng nhớ.

Đảng viên Bấm Nguyễn Chí Đức đã bị công an, theo lời anh, “khống chế như một con lợn” và bị đạp vào mặt trong một lần đi biểu tình chống Trung Quốc hồi năm 2011.

Hai năm sau Bấm ông Đức viết đơn bỏ Đảng Cộng sản và trong các lý do ông đưa ra có “mối quan hệ thiếu minh bạch và bất tương xứng giữa Đảng Cộng Sản Việt Nam với Đảng Cộng Sản Tàu.”

Giàn khoan nổi trị giá hàng trăm triệu đô la mà Trung Quốc mang ra Biển Đông tạo ra điều mà nhiều người xem như cơ hội để Việt Nam nhìn lại quan hệ với Trung Quốc.

Nhìn từ góc độ quan hệ quốc tế, Giáo sư Jonathan London từ Đại học City University of Hong Kong nhận xét:

“Vấn đề không phải là thoát Trung vì Việt Nam vẫn luôn ở cạnh Trung Quốc và như vậy phải cố gắng để tạo ra quan hệ tốt nhất có thể tạo được… phải thay đổi cơ bản quan hệ giữa hai nước.

“Rất có ích khi so sánh quan hệ giữa Hàn Quốc và Trung Quốc so với quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc bởi vì chẳng bao giờ có chuyện Hàn Quốc sẽ gọi mình là em và Trung Quốc là anh.”

‘Thời kỳ đô hộ mới’

Chính quan hệ đồng chí và anh em giữa hai nước cộng sản ít ỏi còn lại trên thế giới làm cho nhiều người Việt Nam cảm thấy bất an.

Một khảo sát hồi tháng Bảy cho thấy người Bấm Việt Nam đứng thứ nhì trong số những nước không ưa Trung Quốc ở châu Á mà nước đứng đầu là Nhật Bản.

Ông Đặng Xương Hùng, cựu quan chức ngoại giao vừa Bấm từ bỏ Đảng Cộng sản sau 30 năm và hiện đang xin tị nạn tại Thụy Sĩ, nói:

“Muốn thoát Trung phải nhìn thấy âm mưu của Trung Quốc và phải nhìn thấy chính mình.

“Vì quyền lợi của quốc gia, của đất nước hay vì quyền lợi của Đảng Cộng sản Việt Nam hay của các phe nhóm lãnh đạo.

“Người Pháp [khi đô hộ Việt Nam] đã kéo Việt Nam thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc và bộ mặt của Việt Nam đã tách rời khỏi Trung Quốc. Chính người Pháp đã làm cho chúng ta Hiệp ước Pháp – Thanh [về biên giới].

Ông Hùng dẫn lời cựu Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch nói về hội nghị Thành Đô hồi năm 1990 khi các lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc bí mật ký thỏa ước về quan hệ song phương: “Đó là một thời kỳ đô hộ mới của Trung Quốc với Việt Nam.”

Cũng như nhiều người khác, vị cựu ngoại giao đòi phải công khai những gì ký kết ở Thành Đô và kêu gọi lãnh đạo Việt Nam cứng rắn hơn nhằm chống lại “cuộc chiến tranh không có súng đạn” của Bắc Kinh.

Ông nói: “Lãnh thổ, lãnh hải của chúng ta đã bị gặm nhấm dần dần và cách gặm nhấm của Trung Quốc rất êm dịu, tức là làm cho chúng ta có thể nghĩ họ sẽ không làm cho chúng ta mất một cái gì quá lớn để chúng ta giật nảy mình lên.

“Bằng những kỹ thuật mà chính chúng ta lại giải thích là chúng ta mất như thế là hợp lý như mất Bản Giốc, mất Ải Nam Quan.”

“Nó như cuộc chiến tranh không có súng đạn.”

Lũng đoạn kinh tế?

Một số người khác lại lo ngại về điều có thể coi là lũng đoạn kinh tế của thương lái và các nhà thầu Trung Quốc trong một số lĩnh vực.

Trung Quốc là bậc thầy về đưa đút lót trong khi Việt Nam là bậc thầy nhận đút lót.

Một nhà quan sát bình luận

Họ nói thương lái Trung Quốc được thoải mái thu mua nông sản mà không có giấy phép cần thiết.

Thực tế con số thống kê của Việt Nam và Trung Quốc về buôn bán giữa hai nước cũng khác nhau.

Có nhà quan sát nói trong khi Việt Nam cho biết họ nhập khẩu của Trung Quốc 28,8 tỷ đô la và xuất khẩu 12,8 tỷ sang nước láng giềng, con số tương ứng của Trung Quốc lại là 34 tỷ đô la và 16,2 tỷ đô la.

Vẫn nhà quan sát này nói nhà thầu Trung Quốc cũng thắng thầu phần lớn các dự án xi măng và nhiệt điện.

Lý do ông đưa ra là “Trung Quốc là bậc thầy về đưa đút lót trong khi Việt Nam là bậc thầy nhận đút lót.”

Những chuyên gia như ông Vũ Quang Việt, cựu quan chức thống kê cao cấp của Liên Hiệp Quốc, lại đặt câu hỏi tại sao các nhà thầu Việt Nam không thể thắng trong ngay cả những dự án tưởng chừng như đơn giản, không đòi hỏi công nghệ cao.

Tiến sỹ Việt nói thu nhập của người Việt ngày càng thấp so với người TQ

Ông cũng chỉ ra rằng Trung Quốc chỉ cần nhờ Nhật Bản giúp đỡ trong một dự án làm tàu cao tốc là họ đã có thể học để tự làm và thậm chí còn xuất khẩu được công nghệ sang Hoa Kỳ.

Tiến sỹ Việt nói cách phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào gia công của Việt Nam đã khiến khoảng cách thu nhập đầu người giữa Việt Nam và Trung Quốc càng tăng trong những năm vừa qua.

Sự tham gia của Trung Quốc vào những dự án khai thác tài nguyên như hai dự án bauxite hiện nay ở Tây Nguyên càng làm những người phản đối Trung Quốc thêm lo ngại.

Họ sợ rằng môi trường tự nhiên và môi trường sống của người thiểu số sẽ bị hủy hoại trong khi thế hệ tương lai sẽ không được thừa kế tài nguyên mà họ cho rằng đang bị khai thác tối đa.

Ủng hộ quốc tế

Một nhà quan sát khác, Tiến sỹ Nguyễn Quang A nói sự phụ thuộc Trung Quốc là khó tránh khỏi nhưng ‘lệ thuộc’ mới là điều cần xem xét:

“Cái ý mà tôi nghĩ rằng những thảo luận thoát Trung muốn nói là cố gắng làm sao để chúng ta không lệ thuộc, lệ thuộc chứ không phải là phụ thuộc, vào Trung Quốc về mọi mặt kể cả tư tưởng, kinh tế và quan trọng nhất là hoạt động chính trị, hoạt động ngoại giao, hoạt động quân sự của mình.”

Chúng ta có thể bỏ qua thoát Trung và thoát luôn cả châu Á như Nhật Bản hay Hàn Quốc đã làm. Họ đã thoát khỏi chính họ, thoát khỏi cả tư tưởng châu Á, những tư tưởng có tính chất bó hẹp … đến với những giá trị phương Tây để đưa đất nước đi xa hơn nữa.

Cựu quan chức ngoại giao Đặng Xương Hùng

Đây cũng là điều được nhà văn Võ Thị Hảo chia sẻ trong tọa đàm trực tuyến hồi đầu tháng này.

Bà nói: “Ở đây vấn là làm sao cho Việt Nam thoát khỏi sự lệ thuộc, thoát khỏi sự cũ kỹ lạc hậu. Càng vận hành thể chế này càng như sự tự sát nên phải thoát Trung và trước hết là phải thoát chính mình.

“Nếu không thoát Trung hay không thoát chính mình thì sẽ lao xuống dốc và đi về phía địa ngục.”

Tiến sỹ Jonathan London trong khi đó nhấn mạnh giờ đã là Thế kỷ 21 và Việt Nam cần thoát khỏi “quan hệ không tốt” với Trung Quốc.

Ông bình luận: “Vấn đề chủ yếu của Việt Nam là muốn chống lại những hành vi phi lý, hành hung của Trung Quốc thì chắc chắn phải có ủng hộ quốc tế và chỉ có một con đường duy nhất để lấy được sự ủng hộ quốc tế là cải cách trong nước.. để thế giới thấy Việt Nam là một nước nên ủng hộ.

“Việt Nam phải cho thế giới những lý do để ủng hộ vì thế tôi thấy vấn đề thoát Trung chủ yếu là vấn đề cải cách thể chế trong nước Việt Nam để có thể chế dân chủ, minh bạch và có thể đạt được [phát triển] kinh tế ở mức cao hơn.”

Ông Jonathan London nói Việt Nam cần ủng hộ quốc tế để thoát Trung

Nhà cựu ngoại giao Đặng Xương Hùng thậm chí nói Việt Nam cần ‘thoát Á’:

“Chúng ta có thể bỏ qua thoát Trung và thoát luôn cả châu Á như Nhật Bản hay Hàn Quốc đã làm.

“Họ đã thoát khỏi chính họ, thoát khỏi cả tư tưởng châu Á, những tư tưởng có tính chất bó hẹp … đến với những giá trị phương Tây để đưa đất nước đi xa hơn nữa.”

Mặc dù vậy, điều các chính trị gia cao cấp Việt Nam quan tâm hơn cả vào lúc này có lẽ là sự chuẩn bị cho Đại hội Đảng vào đầu năm 2016.

Một nguồn thạo tin bình luận rằng sẽ có những lãnh đạo sẵn sàng có cách tiếp cận thân Trung Quốc để đảm bảo sinh mạng chính trị của chính mình.

Thêm về tin này

 

 

Phát pháo lệnh trong cuộc chiến của ông Tập Cận Bình

21 Th8

 

Cuộc chiến chống tham nhũng của ông Tập bắt đầu từ khi nào? Nhiều cột mốc được giới quan sát đánh dấu, nhưng chắc chắn quan trọng nhất là Hội Nghị TW 3 (tháng 11/2013).

>>Điểm mặt những ‘con hổ’ quyền lực TQ sa lưới

Theo truyền thống của Đảng Cộng sản Trung Quốc, sau khi ra mắt ban chấp hành mới (hội nghị Trung ương 1) và bầu bán nhân sự (hội nghị trung ương 2), thì kỳ họp lần thứ 3 của Trung ương Đảng sẽ bàn về các vấn đề cải cách cốt lõi của những năm tiếp theo.

Từ khi Đặng Tiểu Bình chủ trương “thể chế hóa” lại thời gian cầm quyền của lãnh đạo, thì chu kỳ hai nhiệm kỳ (10 năm) được xem như luật bất thành văn. Các thế hệ lãnh đạo Trung Quốc sau Đặng đều tuân thủ nguyên tắc này. Dựa trên nguyên tắc đó, khởi đầu cho 10 năm lãnh đạo của mình, thế hệ thứ 5 do Chủ tịch Tập Cận Bình và Thủ tướng Lý Khắc Cường trong vai trò hạt nhân đang muốn phác thảo con đường cải cách tương lai. Hội nghị TW 3 có thể là phát pháo lệnh quan trọng tiên yếu như 1978 hay 1993.

Yếu tố thứ ba là sự chuyển động được đánh giá là không có tiền lệ trong quá trình chuẩn bị Hội nghị TW 3. Trước đại hội, bản kế hoạch mang tên 383 bao gồm ba trọng tâm. Một là tái cấu trúc lại sự phân bổ các yếu tố sản xuất như đất đai, nguồn vốn và lao động, vận dụng nguyên tắc của thị trường trong việc sản xuất, kinh doanh. Hai là phân định lại rõ ràng chức năng nhiệm vụ của các cơ quan trong bộ máy Nhà nước, qua đó đẩy mạnh quá trình cải cách hành chính. Ba là khai thông các thị trường từ trước đến giờ vốn nằm trong tay độc quyền của Nhà nước như dầu khí, điện lực hay đường sắt.

Các trọng tâm này, cộng với những yếu tố mang tính lịch sử trên, khiến cho Hội nghị TW 3 được kỳ vọng sẽ thiết kế lại con đường phát triển của đất nước đông dân nhất hành tinh trong thế kỷ 21. Quá trình thiết kế này mong muốn sẽ tạo dựng thế cân bằng cho tăng trưởng kinh tế bền vững, vừa hiện thực hóa các chính sách an sinh xã hội mới, nhằm giải quyết những “hệ quả” bất bình đẳng như hiện nay.

Tập Cận Bình, chống tham nhũng, đả hổ diệt ruồi, Chu Vĩnh Khang, Bạc Hy Lai, Từ Tài Hậu, Hội nghị TW 3
Ông Tập Cận Bình và các thành viên Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị TQ. Ảnh: Reuters

Quan trọng hơn, thành quả kinh tế và sự hài lòng về cuộc sống của người dân là chìa khóa đảm bảo cho việc xây dựng và bảo vệ “tính chính danh” của Đảng cầm quyền. Nó quyết định tương lai màu hồng hay màu xám của chính thể chính trị Trung Quốc. Yếu tố chính gây cản trở quá trình cải cách nằm ở sự phản đổi mạnh mẽ của rất nhiều các nhóm lợi ích khác nhau.

Các nhóm lợi ích ở đây gồm các tập đoàn kinh tế nhà nước, chính quyền địa phương, chế độ quản lý chính sách kinh tế quan liêu, các thành viên gia đình của giới tinh hoa chính trị và các giới doanh nhân có liên kết rộng rãi với Chính phủ. Khác với hai sự kiện cải cách vào năm 1978 và 1993, thế hệ lãnh đạo thứ 5 đối mặt với các thách thức lớn hơn rất nhiều, đó là việc phải đối mặt với những nhóm trong Đảng vốn đã được hưởng lợi ích quá lớn từ hệ thống kinh tế hiện tại.

GS Bùi Mẫn Hân, một chuyên gia về TQ, từ Trường Claremont McKenna (Mỹ) cho rằng chỉ có sử dụng các sức ép từ ngoài Đảng thì ông Tập mới có thể tiến hành cải cách thành công. Nói một cách khác, các nhóm lợi ích cá mập cần được đối trọng bằng các nhóm trí thức công, dân sự, cả những tầng lớp doanh nhân trung lưu đang chịu thiệt thòi từ cơ chế hiện nay. Nhưng tận dụng được những nhóm này không đơn giản. Nhiệt thành, quyết tâm phải cần cơ sở, hay ít nhất một sự liên tục.

Sự cộng hưởng từ nhiều thành phần để tham gia, đồng cảm và cuối cùng là ủng hộ cải cách cần một quá trình nuôi dưỡng. Quá trình này đã từng đứt đoạn nhiều lần trong quá khứ, mà gần đây nhất là sự kiện Thiên An Môn năm 1989. Lùi về sâu hơn nữa, bức tranh Đại nhảy vọt hay Cách mạng Văn hóa ghi sâu vào tiềm thức của mỗi người dân TQ về một lịch sử  hỗn loạn, đau thương và mất mát. Trung Quốc là một nước lớn về diện tích, lẫn con người. Những “thử nghiệm” mới, quyết liệt, vì thế, chưa chắc có thể thực hiện đại trà một cách nhanh chóng.

Quá trình thiết kế quốc gia của đất nước này từ 1949 đã trải qua nhiều thăng trầm biến đổi. Lúc lên, lúc xuống, lúc đứng lại dáo dác giữa ngã ba đường, lần mò từng bước như cách nói “dò đá qua sông”. Mỗi giai đoạn như vậy, trong nội bộ đều có các quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, xuyên suốt, tương quan giữa cải cách và thủ cựu, hướng ra thế giới hay dè dặt với bên ngoài vẫn mang một hằng số biện chứng: vượt rào nhưng không xé rào, thắng lợi nhưng không thể đồng hóa, và khẳng định cái này không nhất thiết là phủ địch sạch trơn cái kia. Sau Hội nghị TW 3, TQ sẽ có nhiều cải cách, điều này có thể. Nhưng hằng số biện chứng trên sẽ tiếp tục “như bóng với hình” cùng cải cách của nước này trong những năm sắp tới.

Cuộc chiến chống tham nhũng của ông Tập đang đi vào giai đoạn then chốt. Nó mang tính thời đại nhưng cũng gánh nặng từ quá khứ. Có thể, ông Tập qua những chiến dịch và chính sách của mình mong muốn sẽ đi vào tượng đài của các tiền bối, như Đặng Tiểu Bình.

Nguyễn Chính Tâm

 

CÓ NÊN ĐẶT VẤN ĐỀ THOÁT TRUNG? – BS

20 Th8

 

 

Posted by adminbasam on 20/08/2014

Nguyễn Thanh Giang

20-08-2014

Tôi không muốn nghe hai chữ “thoát Trung” vì nó đau lòng quá khi bị gợi lên cảm giác tủi buồn, yếm thế của sự trốn chạy.

Thật vậy. Thoát là gì? Từ điển Tiếng Việt giải nghĩa; Thóat là “ra khỏi nơi kìm hãm, nguy hiểm thoát chết trong gang tấc”. Thoát, muốn dịch ra tiếng Pháp phải dùng chữ sortir hoặc échapper. Muốn dịch ra tiếng Anh phải dùng một trong các chữ: to escape, to exit, to quit.

Thực tế, đã bao giờ chúng ta nhập vào đâu mà phải hò nhau thóat ra, đã bao giờ entrer đâu mà phải xin sortir. Và, việc gì mà phải “escape”.

Ông Hoàng Cao Khải chắc chắn không đúng khi nói: “Dân tộc Nam ta là Hán tộc không còn nghi ngờ gì nữa”.

Cũng không thể đồng ý với GS Nguyễn Văn Tuấn (Australia) trong bài “Một phiên bản của Tàu”:

Nói “tương đồng” thì có vẻ oai, chứ Tàu nó chỉ xem Việt Nam chỉ là một phiên bản của họ. Chính vì thế mà các quan chức Tàu có thể hống hách và ngổ ngáo trong các tuyên bố như là lời phán của cha mẹ dành cho con. Việt Nam có vùng vẫy hay suy nghĩ gì thì Tàu cũng đoán trước được, vì Việt Nam chỉ học từ Tàu thôi, và đâu có thầy nào (nhất là thầy Tàu) mà dạy cho trò 100% sở trường. Sự lệ thuộc ngoại bang nó ghê gớm ở chỗ làm cho dân tộc không còn tự chủ và độc lập trong suy nghĩ, và người ngoài nhìn vào với ánh mắt khinh thường.”

Hãy nghe Nguyễn Trãi dõng dạc tuyên cáo:

Như nước Đại Việt ta từ trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia
Phong tục Bắc Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương

Nguyễn Du thì từng dè bỉu Trung Quốc khi ông đi sứ ở bên ấy:

Hồn ơi! Hồn ơi! sao chẳng về?

Đông tây nam bắc không nơi tựa.

Lên trời xuống đất đều không ổn,

Đất Yên đất Dĩnh về làm chi?

Thành quách chẳng khác xưa nhưng lòng dân đã khác,

Bụi nhiều nhuốm bẩn dơ quần áo.

Đi ra thì xe ngựa, ở nhà thì vênh váo,

Ngồi bàn tán chuyện ông Quì ông Cao.

Không hề để lộ nanh vuốt ác độc.

Nhưng cắn xé người ngọt như đường!

Hồn có thấy cả trăm châu vùng Hồ Nam,

Toàn người gầy ốm có ai mập đâu.

(Bản dịch bài “Phản chiêu hồn”)

Nguyễn Trường Tộ cũng khẳng định:

Nước ta trên cũng có trời che, tức thiên văn, dưới cũng có đất chở, tức địa lý. Trong khoảng trời đất, nước ta cũng là một đất nước tốt lành hẳn hoi, đâu phải một miền phụ dung của Tàu” (Bản tấu “Về việc học thực dụng”).

Cha ông ta chưa bao giờ chiụ là một miền phụ dung, một phiên bản của Trung Quốc bởi vấn đề thoát Trung đã được đặt ra từ rất lâu. Không chỉ thóat mà còn chống, còn đánh. Không chỉ đánh cho …cút, đánh cho …nhào mà “Đánh một trận sạch sanh kình ngạc”, “Đánh cho dài tóc, đánh cho đen răng”. Đánh bằng quân sự, đánh bằng văn hóa. Mặt trận nào cúng quyết liệt, cũng dữ dội. Có thế ta mới còn được “Bốn ngàn năm ta lại là ta” ít nhất cho đến trước năm 1945 chứ. Chỉ tiếc rằng, do cần đạt mục tiêu giành quyền thống trị, những người cộng sản Việt Nam đã rước ảnh mấy ông Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông về treo lên bên trên cả bàn thờ Tổ quốc. Càng đáng căm giận hơn là, cho đến bây giờ, trong những người lãnh đạo còn có những kẻ/thằng do lú lẫn hay do cần nơi nương tựa vẫn dùng quyền hành cố ấn sâu đất nước vào vòng đô hộ của Trung Quốc!

Bây giờ đặt vấn đề “Thoát Trung” thì nghĩa là thóat cái gì?

Đọc một số bài viết, dự mầy buổi Hội thảo thấy ý kiến lộn xộn, ngổn ngang quá. Người thì cho rằng “Thoát Trung” chủ yếu phải là thóat về chính trị, về tư tưởng. Người lại bảo “Thoát Trung” về chính trị thật ra cũng là “Thoát Trung” về văn hóa, văn hóa quỳ lạy, văn hóa thảo dân, văn hóa giả dối … Người bảo muốn “Thoát Trung” phải diệt Cộng, người bảo muốn “Thóat Trung”, trước hết phải đổi tên Đảng …. Rồi hàng loạt câu hỏi nêu ra: “Thoát Trung” hay thoát Mác – Lênin?, “Thoát Trung” hay thoát Khổng Mạnh?, “Thoát Trung” hay thoát Hoa?, hay thóat Á?, hay là “giải Hán hóa”? vv…

Loanh quanh luẩn quẩn một hồi, có ý kiến như là tổng kết: “Rút cuộc, Thoát Trung là phải tự thoát” (Nguyễn Ngọc Lanh).

Tôi thì tôi nghĩ rằng, không nên hô hào thoát cái gì cả.

Thoát Trung ư?

Nhưng, nhà nghiên cứu Đinh Bá Anh nêu nhận xét mà tôi rất tán thưởng: “Trên nhiều phương diện, Trung Quốc còn “thoát Trung” một cách chủ động hơn, nhanh và xa hơn Việt Nam”; “cả tư duy và tầm nhìn của giới lãnh đạo lẫn ý thức của người dân về quyền và trách nhiệm ở Trung Quốc đều cao hơn ở Việt Nam” (Bài “Việt Nam có cơ hội thoát Trung?”).

Thóat Mác-Lenin ư?

Chủ nghĩa Mác-Lenin có cái phần xác rất thối tha với những đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản … nhưng có phần hồn khả dĩ thơm tho với những mộng tưởng; xóa áp bức, bất công, san sẻ tư bản về cho vô sản, thiết lập công bằng xã hội …

Thoát Khổng- Mạnh ư?

Đạo Nho đâu chỉ dạy “Trung quân” mà còn khẳng định “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Đạo Nho đâu chỉ có “Tam cương” mà còn có “Ngũ thường”. Trong ngũ thường thì đứng đầu là chữ nhân. Chữ lễ chỉ ở vị trí thứ ba: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Bản thân chữ “Nho” được giải thích là do chữ “Nhân” ghép với chữ “Nhu” mà chữ “Nhu” ở đây nghĩa là hội ý. Xem vậy đủ thấy trong chữ “Nho” cũng có hàm chứa yếu tố dân chủ đấy chứ.

Chủ nghĩa Mác-Lenin cũng như Đạo Nho, Đạo Phật, Đạo Gia tô, Đạo Hồi … đều có mặt sáng, mặt tối, yếu tố dương, yếu tố âm. Vấn đề là ta cần tiếp thu những gì và nên né tránh những gì trong đó chứ không nên phủi bỏ toàn bộ.

Xã hội Mỹ sở dĩ bền vững lâu dài và phát triển rực rỡ vì không cưỡng bức “thoát” cái gì cả mà tất cả các đạo đều được trân trọng. Đảng Cộng sản Mỹ vẫn hoạt động công khai, có trụ sở treo ảnh Mác, Lênin trang trọng, có cơ quan ngôn luận đàng hoàng (Daily Worker, People’s World). Nền văn hóa Mỹ không có bản sắc riêng nhưng là tích hợp của nhiều nền văn hóa. Mọi nền văn hóa đều được góp những bông hoa đẹp của mình trên cái nền cỏ xanh dân chủ nhân quyền bất diệt.

Lịch sử nhân loại từng có những trang đau thương do những kẻ hoạt đầu lợi dụng yếu tố này, yếu tố kia trong các đạo để trị vì những cộng đồng dân tộc bằng độc tài, chuyên chế. ĐCSVN cũng vậy, đã lợi dụng chủ nghĩa Mác-Lenin để huy động xương máu nhân dân cướp chính quyền rồi lại tiếp tục lợi dụng chủ nghĩa Mác-Lenin để duy trì ách thống trị hà khắc trên đầu nhân dân Việt Nam.

Mục tiêu “Thoát Trung” đặt ra có lẽ quá rộng, quá sâu nên mông lung không biết nhằm vào đâu, không biết thực hiện thế nào.

Có quá nhiều mục tiêu, nhiệm vụ cần đặt ra cho tình hình hiện nay: chống tham nhũng, chống lãng phí, chống độc tài đảng trị, chống cường quyền … nhưng khẩn thiết hơn cả phải là chống Đại Hán bành trướng, chống ách đô hộ từ xa của Trung Quốc, chống âm mưu xâm lăng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Tuy nhiên, đặt vấn đề “Thoát Trung” e không cụ thể.

Thay vì vận động “Thóat Trung” xin đề nghi nêu cao khẩu hiệu “Hãy cảnh giác với Bắc Triều”

Hãy khắc ghi vào tâm trí chúng ta khẩu hiệu “Hãy cảnh giác với Bắc Triều” bằng chỉ thị, nghị quyết, bằng thường xuyên nêu trong mục kiểm điểm ở các chi bộ Đảng, các buổi hội họp của các tổ chức dân sự, bằng thơ văn, nhạc, họa …

”Cảnh giác với Bắc Triều” thì các ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười không dại dột ký Thỏa ước Thành Đô 1990.

“Cảnh giác với Bắc Triều” thì Lê Khả Phiêu không mắc điều tiếng là đã bị chúng đưa gái ra nhử để rồi phải dâng tặng Ải Nam Quan, Vịnh Bắc Bộ ….

“Cảnh giác với Bắc Triều” thì Nông Đức Mạnh không ngu ngơ mời Trung Quốc vào khai thác Bauxite Tây Nguyên.

“Cảnh giác với Bắc Triều” thì Nguyễn Phú Trọng không tệ hại đến mức tạo tiền đề mở rộng cửa đón Trung Quốc và công an của họ tràn vào toàn bộ lãnh thổ Việt Nam (Xin mời đọc bài “Mấy nghi vấn đối với tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc do ông Nguyễn Phú Trọng ký kết” trong trang web www. nguyenthanhgiang.com).

“Cảnh giác với Bắc Triều” thì các tỉnh không “vô tư” bán nhiều khu rừng đầu nguồn trọng yếu, không cho thiết lập những Vũng Áng, Nghĩa Hưng ….

“Cảnh giác với Bắc Triều” thì các nhà quản lý không để Trung Quốc dễ dàng thắng thầu tới 90% các dự án kinh tế quan trọng.

“Cảnh giác với Bắc Triều” thì nhân dân không nhẹ dạ nghe thương lái Trung Quốc đào rễ hồi, trộn chè bẩn, bóc móng trâu, nuôi đỉa, nuôi ốc bươu vàng …

Thay vì chủ trương “Thóat Trung”, đề nghị hãy vận động mạnh mẽ cho xu hướng “Khuynh Tây”.

“Khuynh Tây” để tiếp thu sâu sắc những giá trị cơ bản của nhân loại tiến bộ, trong đó có dân chủ, nhân quyền.

“Khuynh Tây” để có nền giáo dục đào tạo nên những con người tài năng có tinh thần độc lập, ý chí sáng tạo, bản lãnh tự chủ.

“Khuynh Tây” để có nền hành chính phục vụ nhân dân đắc lực.

“Khuynh Tây” để nhanh chóng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

“Khuynh Tây” sẽ mặc nhiên đạt được mục tiêu “Thoát Trung”. Do “Khuynh Tây” mà ta thấy đấy, giới trẻ đã mặc nhiên “Thoát Trung” trong lĩnh vực ca vũ nhạc một cách ngoạn mục. Họ sống rất mạnh mẽ sôi động với những pop ballad, jaz, heavy metal, hip hop, dance sport, break dance… chứ còn ai chịu “hái chè bắt bướm” với “Lương Sơn Bá, Trúc Anh Đài” nữa đâu.

Niềm trông đợi rất tha thiết của “Khuynh Tây” trước mắt là để nhanh chóng thiết lập được Liên Minh Việt Mỹ đặng giữ lấy Biển Đông và tạo cơ hội đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa.

Trước tình hình một bộ phận trong giới lãnh đạo vẫn chủ trương tiềp tục coi Trung Quốc là bạn “4 tốt” “16 chữ vàng”, Mỹ là kẻ thù truyền thống; trước những nghi vấn xã hội: liệu Hoa Kỳ có thực tâm muốn liên minh với ta không, cần tổ chức nhiều cuộc Hội thảo, Tọa đàm nhằm giải quyết những vấn đề tư tưởng ấy. Từ đấy tạo sức ép để lãnh đạo phải từ bỏ ý đồ “ỷ Trung bảo toàn Đảng”, để vì dân vì nước mà “Khuynh Tây” và chủ động nỗ lực thiết lập liên minh với Hoa Kỳ.

Hà Nội 20 tháng 8 năm 2014

Nguyễn Thanh Giang

Số nhà 6, ngõ 125, đường Trung Văn

Quận Nam Từ Liêm – Hà Nội

Mobi: 0984 724 165

 

Phản hồi của ông Dương Trọng Đông, cựu sĩ quan quân đội – BS

20 Th8

 

Posted by adminbasam on 19/08/2014

DƯƠNG TRỌNG ĐÔNG – CỰU SĨ QUAN QUÂN ĐỘI

Đôi lời: Đây là bài phản hồi của ông Dương Trọng Đông, cựu sĩ quan QĐ, liên quan tới bài phỏng vấn của phóng viên Việt Lâm đăng trên VNN: Mỹ khiến TQ hiếu chiến hơn ở Biển Đông? cũng như liên quan đến tình hình Biển Đông, quan hệ Việt – Mỹ và Việt Trung. Tác giả cho biết, bài phản hồi này đã được gửi tới TBT báo VNN nhưng không nhận được trả lời, nên gửi đến trang Ba Sàm đăng để rộng đường dư luận.

18-08-2014

H1Là một sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam gần 30 năm trời, hẳn nhiên tôi quý trọng từng ngày, từng giờ hòa bình trên đất nước đã chịu nhiều đau thương của chúng ta. Càng quý trọng hòa bình, chúng tôi càng thấu hiểu giá trị của độc lập dân tộc (ĐLDT), chủ quyền quốc gia (CQQG) mà tôi và các đồng đội đã đổ bao mồ hôi, thậm chí cả xương máu để gìn giữ/bảo vệ.

Mời ông lướt qua (tôi biết ông rất bận nên không nhất thiết phải đọc hết) mục điểm tin & bài viết trong 4 ngày (chỉ 4 ngày gần đây nhất thôi) để ông thấy phần nào dã tâm bành trướng và hành động xâm lược của Trung Quốc. Không cần đọc bài, chỉ liếc qua các tít lớn chắc ông cũng dễ dàng nhận thấy ngay, ai là người đã/đang vi phạm trắng trợn ĐLDT, CQQG, AI LÀ BẠN, AI LÀ THÙ CỦA VIỆT TỘC lúc này. Ấy vậy mà TVN & VNN lại chạy một cái tít giật gân, chơi trò “mập mờ đánh lận con đen”, đánh tráo đối tác đang hỗ trợ Việt Nam ngày đêm bảo vệ biển đảo khỏi bị xâm lấn với kẻ xâm lược, hiếp đáp Việt Nam trong hơn hai tháng qua và ngay cả trong những ngày này.

Tôi không đủ nghiệp vụ báo chí để tranh luận với ông về nghệ thuật “mạ kền” tít, nhưng với cái tít đó (tôi mạn phép phóng cỡ chữ 20 để ông nhìn cho rõ) thì mọi trách nhiệm, thậm chí cả những tội ác (vì Trung Quốc không chỉ đâm/ dùng vòi rồng bắn nước mà còn cố tình húc chìm tàu Việt Nam rồi bỏ mặc – ông thấy Trung Quốc hành xử có khác gì cướp biển Xô-ma-li không?) đều do “đế quốc” Mỹ gây ra!!! (MỸ KHIẾN TRUNG QUỐC HÀNH XỬ NHƯ THẾ!!!).

Tôi cũng không phải là nhà đạo đức học để đôi co về chuyện Tàu lật lọng hay Mỹ đáng tin. Tuy nhiên, tôi thực sự bị sốc khi báo ông khuyên (theo tôi là hết sức nguy hiểm) rằng, nếu để Mỹ trở thành đối tác chiến lược của Việt Nam… thì đấy không phải là cách tiếp cận sáng suốt. Ngược lại, nó chỉ gây thêm đối đầu mà không đi tới giải pháp nào cả.

Nếu vậy, hóa ra phát biểu của Thủ tướng Việt Nam tại Diễn đàn Shangri-La thật thiếu sáng suốt, vì ông Nguyễn Tấn Dũng đã bày tỏ nguyện vọng VN muốn trở thành “đối tác chiến lược” với tất cả các nước P5, trong đó có cả Mỹ.

Tương tự, việc các lãnh đạo ta từ hai tháng qua, nhất là nửa đầu tháng 8 này đã hoan nghênh sự có mặt của nhiều đoàn cấp cao từ chính quyền và quốc hội Mỹ là bị “chệch hướng” chăng? Ngày 8/8, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định với TNS John McCain: “Đảng và Nhà nước Việt Nam coi Hoa Kỳ là một đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam”. Trước đó, ngày 5/8, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã cảm ơn Ủy ban Đối ngoại và Quốc hội Hoa Kỳ đã ủng hộ quan điểm của Việt Nam/ASEAN trong vấn đề Biển Đông.

Chiều 14/8, hoan nghênh Đại tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ lần đầu tiên thăm Việt Nam kể từ năm 1975, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam mong muốn cùng Hoa Kỳ nỗ lực đưa quan hệ hai nước tiếp tục phát triển trên tất cả các lĩnh vực ngày càng thiết thực hiệu quả. Đấy chính là mối quan hệ mà TNS John McCain tuyên bố trước các nhà báo tại Hà Nội ngày 8/8 sẽ được nâng lên thành “đối tác chiến lược” trong thời gian tới.

Cuối cùng, xin một lưu ý, người lập ra trang mạng để chúng ta có tin tức tổng hợp dưới đây hiện đang trong vòng lao lý. Ông thấy đấy, làm báo chửi Mỹ cật lực thì vinh thân, còn vạch tội ác Trung Quốc thì đi bóc lịch. Nói thế để ông thấy sự nghiệt ngã của thời cuộc hiện nay, cho nên góp ý xây dựng với ông, đừng dùng truyền thông để biểu diễn lập trường…

Xin gửi tới ông TBT và các đồng nghiệp của ông lời chào trân trọng.

DƯỚI ĐÂY LÀ ĐIỂM TIN & CÁC BÀI VIẾT CHỈ TRONG 4 NGÀY 15, 14, 13 VÀ 12/8 (CHƯA ĐẦY ĐỦ) VỀ VIỆT-MỸ-TRUNG-BIỂN ĐÔNG TRÊN TRANG BA SÀM:

Ngày 14/8:

– Giáo sư Trung Quốc đề xuất Bắc Kinh sửa luật, hợp pháp hóa ‘đường lưỡi bò’ (TN). –Trung Quốc âm mưu thiết lập ‘siêu hạm đội’ dầu khí ở biển Đông (XH). – Trung Quốc phát triển ồ ạt 10 tàu sân bay (DT). –  Nguyễn Chí Vịnh: ‘Không phải cứ nước lớn là có quyền nói to’ (VNN). – Bộ QP Ấn Độ: Cần thận trọng tỉnh táo trước sức mạnh quân sự Trung Quốc (GDVN).

 Cách buộc Trung Quốc thay đổi là ngăn họ xây hải đăng ở Hoàng Sa (GDVN). Học giả Mỹ Michael Auslin: “Những gì Bắc Kinh đang cố gắng làm là nói rằng: Không, không có tranh chấp. Không có tranh chấp ở quần đảo Senkaku. Không có tranh chấp ở quần đảo Trường Sa. Không có tranh chấp ở phần lớn Biển Đông hay bầu trời Hoa Đông vì Trung Quốc đang quản lý hiệu quả những khu vực này”. – Mỹ sẽ giám sát ‘các đảo đá, đảo san hô, và bãi cạn’ ở Biển Đông (VOA). – Mỹ-Úc thúc đẩy sáng kiến “đóng băng” mọi hoạt động khiêu khích tại Biển Đông (RFI). – Mỹ-Úc nhất trí mở rộng liên minh quốc phòng với Nhật Bản và Ấn Độ (RFI). – Nhật muốn đưa quân tới các đảo biên giới đề phòng Trung Quốc (DT). – Mỹ khiến Trung Quốc hành xử hiếu chiến hơn ở Biển Đông? (VNN). Nếu Mỹ bỏ mặc các nước, để Trung Quôc làm mưa, làm gió ở biển Đông, chắc là Trung Quốc sẽ bớt hung hăng?

Ngày 15/8:

– Ký ức Hoàng Sa – Bài 4: Anh nuôi không “danh” (Tin Tức).=>

– Trung Quốc đối mặt Việt Nam: Cuộc xung đột lớn trên Biển Đông (ĐCV). –“Trung Quốc sẽ ép Việt Nam, Philippines tới chỗ Mỹ không thể giúp” (GDVN).

– Trung Quốc ngang nhiên phát hành sách về đường lưỡi bò (LĐ). – Sách về đường lưỡi bò của Trung Quốc là bất hợp pháp, vô giá trị (NLĐ).  – Tịch thu, tiêu hủy sách vi phạm chủ quyền Việt Nam (TN).

– Về phát biểu của ông Lê Minh Lương tại Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN, Myanmar vừa qua: Trần Kinh Nghị: Im lặng là vàng (Ba Sàm). “Vẫn biết VN có lý của mình để theo đuổi cái gọi là “đường lối mềm dẻo khôn khéo” giữa các nước lớn trong vấn đề biển Đông, nhưng đâu nhất thiết phải nói ra những điều mà nếu không nói có khi còn khôn khéo hơn ấy chứ (!?)… .

– Bài viết của ông James Zumwalt, Trung tá Thủy quân Lục chiến Mỹ, nói về đoạn video Trung Quốc đã ra tay tàn sát những người lính Hải quân Việt Nam ngày 14-03-1988 ở Gạc Ma: Vụ thảm sát ‘thế giới chưa từng biết đến’ (US Daily Review/ Ba Sàm). “Chẳng có gì ngạc nhiên khi thủ phạm đã không nói gì về nó, nhưng đáng ngạc nhiên là cả nạn nhân cũng im lặng. ‘Tại sao’?” – Mời xem lại: Vì sao không gọi là “hải chiến” khi viết về cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền Trường Sa năm 1988? (Hữu Nguyên).

– VN, Nhật, Ấn Ðộ nên cải thiện quan hệ hợp tác để đối phó với TQ (VOA). – Ngoại trưởng Mỹ: Pháp luật là chìa khóa giải quyết tranh chấp Biển Đông (VOA). “Vấn đề này không chỉ giới hạn trong các yêu sách chủ quyền đối với các hòn đảo, các đảo san hô, các đảo đá và những quyền lợi kinh tế phát sinh từ những yêu sách đó. Nó liên hệ tới vấn đề là chúng ta có thể chỉ dựa vào sức mạnh hay không, hay là cần phải dựa vào những qui tắc, qui phạm toàn cầu và pháp trị và luật pháp quốc tế“.

– Trọng Đạt: Tổng thống Obama và học thuyết Nixon (Ba Sàm). “Trước khi can thiệp các nhà chính khách đều đã cẩn thận thăm dò ý kiến người dân, Quốc hội. Được sự ủng hộ của người dân và Quốc hội, Hành pháp mới bắt đầu tham chiến, can thiệp nhưng người dân thay đổi ý kiến rất nhanh… Nếu cuộc chiến VN thập niên 60 và cuộc chiến Iraq 2003 là sai lầm thì người dân và Quốc hội phải chịu trách nhiệm trước tiên chứ không thể đổ lỗi cho Hành pháp vì chính họ đã khuyến khích ông Tổng thống can thiệp vào“. Mời xem lại bài cùng tác giả: Thuyết Domino Trong Chiến Tranh Việt Nam (Việt Báo).

– Mỹ đi rồi Mỹ lại về: Đại tướng Mỹ Martin Dempsey thăm VN (BBC). – Tướng Mỹ thăm Việt Nam nhằm thúc đẩy hợp tác quân sự song phương (RFI). – Tham mưu trưởng Liên Quân Hoa Kỳ đến thăm Việt Nam (VOA). – Đại tướng của Hoa Kỳ Martin Dempsey: ‘Chuyến thăm Việt Nam là một dấu mốc quan trọng’ (TN).  – Bộ trưởng Quốc phòng tiếp Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Mỹ (TTXVN). – Hoa Kỳ và Việt Nam lần đầu tiên sau chiến tranh tiến hành hội đàm ở cấp cao (Kichbu).

– Mỹ muốn giúp VN giải quyết thách thức bảo vệ chủ quyền(VNN).  – “Hoa Kỳ sẽ tìm cách sớm bỏ cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam” (TTXVN). –Tiếp tục triển khai 5 nội dung hợp tác quốc phòng Việt Nam- Hoa Kỳ (Tin Tức).

– Vì sao Mỹ cần kế hoạch dỡ bỏ cấm bán vũ khí sát thương cho VN? (RFA). Ông Murray Hiebert, nghiên cứu chính trị Đông Nam Á của USCIS: “Tôi hoàn toàn nghĩ rằng đối với những vấn đề như quân sự, cấm bán thiết bị quân sự… sẽ được giải quyết bằng những đòi hỏi từ cả 2 phía, cần vạch ra cách thức giải quyết sự khác biệt về vấn đề nhân quyền. Tiến trình này cũng đòi hỏi phía Việt Nam cần dễ dãi hơn đối với những người nêu lên chính kiến của họ về vấn đề chính trị một cách bất bạo động“.

– GS. Mạc Văn Trang: “DĨ BẤT BIẾN ỨNG VẠN BIẾN” CỦA ĐẢNG LÀ GÌ? (Tễu). “Các đảng viên hãy thúc giục Đảng hồi tỉnh lại đi! Hãy đặt Tổ quốc trên hết; Không có gì quý hơn độc lập của Tổ quốc, Tự do, Hạnh phúc của nhân dân. Hãy trở về với tên Đảng Lao động Việt Nam (đảng của những người lao động trí óc và chân tay tiến bộ), trở về với tên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa và Hiến pháp 1946; trở về với “dân là gốc” và dứt khoát thoát khỏi nanh vuốt của Trung cộng để phát triển đất nước theo con đường dân chủ mà các quốc gia văn minh tiến bộ đang đi”.

Ngày 13/8:

– Đích đến trong chiến thuật mới của TQ (TVN). “Chiến thuật ‘ngư phủ chiến’ phiên bản mới sẽ là đợt sóng tiếp theo đánh đánh mạnh vào chủ quyền của các quốc gia khác. Mục đích của họ là độc chiếm biển Đông, cũng cố chủ quyền phi lý trong vùng “lưỡi bò” tự vạch ra“. Đâu rồi Hơn 44.000 tàu cá được Trung Quốc lùa xuống “chiếm” biển Đông mà báo đưa tin 10 ngày trước? Không chiếc nào dám bén mảng tới đánh cá trong vùng đặc quyền kinh tế của VN?

– Alexander Vuving: Vì sao Trung Quốc rút giàn khoan HD 981? (BVN). – Bùi Đức Lại: Giàn khoan HD đã rút nhưng vấn đề vẫn còn đó (Diễn Đàn). – “Trung Quốc sẽ tiếp tục chính sách hiếu chiến ở Biển Đông” (GDVN).  – Nhìn từ biển khi Trung Quốc giương oai (NYT/ Dân Luận). –Học giả Philippines: Không có bất kỳ thỏa hiệp Việt-Trung nào ở vụ 981 (GDVN).

– Mỹ tố cáo Trung Quốc gây căng thẳng ở Biển Đông (VOA). – Mỹ khẳng định: Chính hành động hung hăng của Trung Quốc làm Biển Đông căng thẳng (RFI).  – Mỹ kêu gọi các nước có tranh chấp ở Biển Đông duy trì hòa bình (VOA). – Biển Đông Về Đâu? (Việt Báo).

– Mỹ đặt “đá tảng” tại Thái Bình Dương (NLĐ).  – Mỹ-Ấn tăng cường vũ khí: Trung Quốc nóng gáy! (ĐV).  – Biển Đông : Tổng thống đắc cử Indonesia đề nghị làm trung gian hòa giải (RFI). – Úc và Mỹ khẳng định lợi ích ở biển Đông (PLTP).

– Trung Quốc ra sách về “đường lưỡi bò” (TP).  – Chủ tịch UB Châu Âu: Chia sẻ quan điểm của Việt Nam về “đường lưỡi bò” (DT).

– Tìm hiểu về Công ước Luật biển 1982: Chuyện kể từ bàn Hội nghị (*)  (Trần Kinh Nghị).

– Nga thử tàu ngầm thứ ba cho Việt Nam (BBC).

– Khai Mạc Hội nghị Đối ngoại đa phương thế kỷ 21 tại Hà Nội (RFA). – Coi trọng ngoại giao đa phương trong bảo vệ chủ quyền (VNN). – Bảo vệ chủ quyền nhưng không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực (GDVN). – Đến lúc VN tham gia định luật chơi? (BBC). Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: “Nay là thời điểm chúng ta cần và hoàn toàn có đủ điều kiện để chuyển mạnh từ tư duy tham gia tích cực sang chủ động đóng góp xây dựng, định hình luật chơi chung”. – VN cần chủ động tham gia xây dựng ‘luật chơi quốc tế’ (TN).

Ngày 12/8:

– “Kế hoạch lớn” thống trị Biển Đông của Trung Quốc (ĐSPL).  – Mục tiêu cuối cùng nào của TQ ở Biển Đông?(VNN).  – Trung Quốc phát hành sách “nói bậy” về Đường 9 đoạn (Soha).

– Diễn đàn khu vực ASEAN lần thứ 21 ra Tuyên bố Chủ tịch (VTV). Ngoại trưởng Mỹ John Kerry: “Chúng tôi đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử có tính ràng buộc COC. Và tôi nhấn mạnh vấn đề quan trọng là tất cả các bên phải làm rõ đòi hỏi chủ quyền theo luật pháp quốc tế và tiến hành theo quy trình pháp lý thông qua luật pháp,  thông qua trọng tài cũng như thông qua các quan hệ song phương“. – ASEAN có lập trường chung kiên quyết hơn về Biển Đông (Tin Tức).

– Phỏng vấn TS Đinh Hoàng Thắng: ASEAN và tham vọng của Trung Quốc trên biển Đông (RFA).  – ASEAN giúp được gì cho Việt Nam về chủ quyền lãnh thổ? (RFA).

– Hoa Kỳ mô tả Hội nghị ASEAN là trở ngại đối với Trung Quốc (VOA).  – Hoa Kỳ nỗ lực làm dịu căng thẳng Biển Đông (PNTP).  – Mỹ sẽ giám sát Biển Đông (VOA). – Mỹ sẽ giám sát Biển Đông để phòng ngừa hành vi gây hấn (Zing).  – Chính sách của Mỹ đối với tranh chấp Biển Đông từ 1995 đến nay (NCQT).

– John Kerry để Vương Nghị chờ nửa tiếng: Ẩn ý người Mỹ? (ĐV). “Có ý kiến cho rằng, có vẻ như người Mỹ muốn thử ‘giỡn mặt’ Trung Quốc xem phản ứng của họ ra sao, đồng thời muốn cho Trung Quốc thấy đâu mới là nước lớn“.

– Philippines bác tố cáo vi phạm Kế hoạch 3 hành động ở Biển Ðông (VOA).  – Ấn Độ kêu gọi tự do hàng hải ở Biển Đông (VOA).  – Ấn Độ đề nghị Chủ tịch TQ hoãn chuyến thăm(VNN).  – Ấn Độ đề nghị ông Tập hoãn chuyến thăm vì Việt Nam (ĐV). – Thách thức Trung Quốc, Nhật-Ấn đánh đổi gì? (ĐV).   – Thủ tướng Nhật muốn liên minh với tất cả các nước, trừ Trung Quốc (GDVN).   – Ngoại trưởng Trung Quốc đòi Nhật phải “nghiêm túc“ (MTG).  – Hoa Kỳ, – Ấn Độ tăng cường hợp tác quốc phòng (RFA).  –  Mỹ và Ấn Độ có thể trở thành đồng minh chiến lược? (GDVN).

DƯƠNG TRỌNG ĐÔNG – CỰU SĨ QUAN QUÂN ĐỘI

 

Làm sao bảo vệ chủ quyền biển đảo và tài nguyên thiên nhiên? – RFA

20 Th8

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2014-08-19

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này

Tàu sắt của Trung Quốc ngang nhiên đâm thẳng vào tàu cá Việt Nam

Tàu sắt của Trung Quốc ngang nhiên đâm thẳng vào tàu cá Việt Nam hồi tháng 7, 2014 ngay trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam

Source laodong/online

Trung Quốc lại tấn công tàu cá của ngư dân Việt Nam đánh bắt tại khu vực quần đảo Hoàng Sa mà họ dùng vũ lực chiếm từ chính quyền Việt Nam Cộng hòa hồi năm 1974.

Chính quyền Hà Nội và cơ quan chức năng đang làm gì để đấu tranh giành lại chủ quyền tại Hoàng Sa và bảo vệ nguồn lợi thủy sản cho ngư dân.

Gia Minh hỏi chuyện ông Trần Cao Mưu, tổng thư ký Hội Nghề Cá Việt Nam về những vấn đề liên quan đó. Trước hết trả lời câu hỏi về việc kiện Trung Quốc ra trước tòa án quốc tế vì đã vi phạm chủ quyền biển của Việt Nam, ông Trần Cao Mưu cho biết:

Ông Trần Cao Mưu: Chuyện kiện Trung Quốc cũng có ý kiến của các nhà luật gia, rồi nhiều tổ chức xã hội đề nghị chính phủ cần phải kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Đây chắc cũng là cái tính toán của chính phủ khi chúng ta có đủ điều kiện hay tập trung đầy đủ lý lẽ, đầy đủ sự kiện thì chúng ta kiện, chẳng có vấn đề gì cả. Vì kiện hoàn toàn đúng qui ước Luật biển năm 1982, chứ không có gì cả. Chính phủ Việt Nam cũng sẽ có những hình thức như thế nếu buộc chúng ta phải làm như vậy.

Gia Minh: Ngư dân cần phải sống hằng ngày, cần phải ra khơi, nếu chúng ta không có biện pháp kiên quyết thì ngư dân vẫn ảnh hưởng?

Ông Trần Cao Mưu: Vâng, cái đó không phải lần này mà trước đây rất nhiều lần rồi; nhưng với ngư dân Việt Nam thì cũng xem vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, nên họ cố bám biển, cố khai thác, và đảm bảo khẳng định chủ quyền của mình. Nên khó khăn thế, chứ khó khăn nữa họ vẫn tiếp tục khai thác.

Chuyện kiện Trung Quốc cũng có ý kiến của các nhà luật gia, rồi nhiều tổ chức xã hội đề nghị chính phủ cần phải kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Đây chắc cũng là cái tính toán của chính phủ khi chúng ta có đủ điều kiện hay tập trung đầy đủ lý lẽ, đầy đủ sự kiện thì chúng ta kiện

Ông Trần Cao Mưu

Còn về phía Nhà nước các cơ quan chức năng như lực lượng Kiểm ngư sẽ có những hộ trợ nhất định trong quá trình khai thác của ngư dân để có thể ngăn chặn hay giảm bớt sự hành hung thô bạo của phía Trung Quốc đối với ngư dân Việt Nam, và kịp thời ứng cứu những bất trắc đối với ngư dân Việt Nam khi xảy ra trên biển.

Gia Minh: Vừa qua có chương trình đóng tàu vỏ thép để hổ trợ, nhưng vấn đề này cũng gặp một số ý kiến; vậy vấn đề đóng những con tàu chắc chắn cho ngư dân đến nay được triển khai ra sao?

Ông Trần Cao Mưu: Nghị định 67 của chính phủ vào ngày 25 tháng 8 tới đây sẽ bắt đầu có hiệu lực. Khi có hiệu lực, các địa phương, các tỉnh sẽ triển khai. Việc đóng tàu cho ngư dân nằm trong chương trình đề án của chính phủ từ năm 2013 đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Như vậy đây là cơ hội để ngành nghề cá Việt Nam phát triển một cách hiện đại hơn và hoàn thiện hơn không chỉ lực lượng khai thác tàu ở vùng biển mà kể cả cơ sở dịch vụ, hậu cần và dịch vụ nghề cá như tàu mua sản phẩm, rồi dịch vụ về cảng cá, bến cá.

Đặc biệt trong chương trình của chính phủ kể cả điều tra, khảo sát nguồn lợi cũng như đào tạo thuyền viên để có khả năng sử dụng thành thạo những phương tiện hiện đại sắp tới. Để đến năm 2020 như đề án mà chính phủ đã phê duyệt là trở thành một quốc gia có nghề khai thác thủy sản hiện đại.

Gia Minh: Vừa qua, Bộ Nông nghiệp- Phát triển Nông thôn đã bác đề xuất của một số doanh nghiệp muốn nhập những tàu cá ở nước ngoài về. Ông thấy đó là một quyết định đúng đắn như thế nào?

Ngư dân Việt Nam thì cũng xem vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, nên họ cố bám biển, cố khai thác, và đảm bảo khẳng định chủ quyền của mình. Nên khó khăn thế, chứ khó khăn nữa họ vẫn tiếp tục khai thác

Ông Trần Cao Mưu

Ông Trần Cao Mưu: Đây là quyết định hoàn toàn đúng đắn của bộ vì Nhà nước đã quy định một đơn vị, một doanh nghiệp nhập tàu nào đó thì trước hết tàu phải chưa vượt quá 8 tuổi và thứ hai chất lượng máy phải trên 85%. Đây là quy định từ trước đến nay như thế nếu như cho phép nhập. Khi nhập vào hải quan Việt Nam và các cơ quan chức năng Việt Nam cũng phải kiểm tra, kiểm định. Vậy thì đối với việc nhập những con tàu 30-40 tuổi và chất lượng không đảm bảo như vậy thì Bộ Nông nghiệp- Phát triển Nông thôn quyết định không cho phép các đơn vị, các doanh nghiệp này nhập tàu là hoàn toàn đúng với qui định của Nhà nước.

Gia Minh: Còn chuyện duy trì nguồn lợi thủy sản như thế nào để có thể giúp cho người dân đánh bắt ổn định và không gây ô nhiễm môi trường, thì những biện pháp hội kiến nghị ra sao và các cơ quan chức năng đang thực hiện như thế nào?

Ông Trần Cao Mưu: Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản là mục tiêu lớn nhất của các quốc gia ven biển. Đối với Việt Nam đây cũng là mục tiêu đã thực hiện lâu nay rồi.Như biện pháp điều chỉnh lại kích thước mắc lưới, việc khai thác mang tính hủy diệt … từ những năm 80, 90 Bộ Thủy sản đã có những qui định rất chặt chẽ. Bây giờ Bộ Nông nghiệp-Phát triển Nông thôn đang tiếp tục và có những qui định khắc khe hơn. Đặc biệt hằng năm đối với việc bảo vệ và phát triển nguồn lợi Hội cũng đã động viên tất cả các tỉnh hội, các cơ sở hội ở địa phương kết hợp với chi chục Bảo vệ Nguồn lợi Thủy sản thả cá ra sông ngòi, ao hồ và ra biển để tăng thêm và tái tạo nguồn lợi thủy sản.

Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản là mục tiêu lớn nhất của các quốc gia ven biển. Đối với Việt Nam đây cũng là mục tiêu đã thực hiện lâu nay rồi.Như biện pháp điều chỉnh lại kích thước mắc lưới, việc khai thác mang tính hủy diệt…từ những năm 80,90

Ông Trần Cao Mưu

Việc kiểm tra, thanh tra nguồn lợi thủy sản được tăng cường như chuyện đánh mìn bị nghiêm cấm rồi chuyện dùng mắc lước có kích thước không đảm bảo, hay khai thác vào khu vực cá di cư, cá đẻ… Nhiều năm qua ngành thủy sản đã làm rất nghiêm túc, rất chặt chẽ vấn đề đó.

Gia Minh: Nói vậy nhưng đối với người vi phạm thì biện pháp chế tài nghiêm minh ra sao?

Ông Trần Cao Mưu: Trong pháp lệnh bảo vệ nguồn lợi thủy sản có biện pháp chế tài rồi. Nhưng không thể tránh khỏi sự vi phạm của người dân vì cuộc mưu sinh hằng ngày và nhận thức của một số ngư dân về việc phát triển và bảo vệ nguồn lợi. Nên chuyện vi phạm có xảy ra và thường xuyên xảy ra ở một số vùng miền nhất định. Các chi cục bảo vệ nguồn lợi thủy sản ở các tỉnh cũng đã ngăn chặn; nhưng triệt để thì chưa thể nói hết được.

Gia Minh: Việc giáo dục cho ngư dân cũng cần thiết?

Ông Trần Cao Mưu: Đúng, cần phải tăng cường thêm tuyên truyền. Trong chương trình khuyến nông, khuyến ngư, rồi chương trình tam nông của các đài truyền hình Việt Nam đều có nói đến, đều có tuyên truyền. Và trong những đợt tập huấn để nâng cao trình độ kỹ thuật thì không thiếu các bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Thực ra đây là vấn đề để đánh giá nếu vùng nào, đất nước nào bảo vệ tốt nguồn lợi thủy sản thì ngành thủy sản phát triển, nếu bảo vệ không tốt thì ngành thủy sản sẽ bị eo hẹp lại, vì cá không phải vô tận mà có điều kiện của nó.

Gia Minh: Cám ơn ông.

GIỠN MẶT VỚI OBAMA, TRUNG CỘNG SẼ MẤT VNCS VÀ PHI CHÂU! – TGM

19 Th8

Thảm kịch Do Thái – Palestine còn dài dài!
GIỠN MẶT VỚI OBAMA, TRUNG CỘNG SẼ MẤT VNCS VÀ PHI CHÂU!

Hà Nhân Văn

Bấy lâu nay, Nga Sô – Trung cộng ra mặt coi thường huyền ngọc Barack Obama, cả hai chủ quan đã quên rằng, sau huyền ngọc Barack còn Uncle Sam. Sáu năm trước Uncle Sam đã chọn chàng da đen – trắng để lãnh một sứ mạng vĩ đại lừng lững bước lên 2 đấu trường: Á Đông – Thái Bình Dương và Phi châu. Obama âm thầm giả bộ làng nhàng “passive”, dồn sức vào Obamacare để làm nên lịch sử. Sau khi hóa kiếp được Bin Laden, Hoa Kỳ chuyển trục từ Âu qua Á. Cho đến mùa Hè này, sau khi Bắc Kinh đưa giàn khoan “đá nổi trên biển cả” HD 981 vào thềm lục địa VN, tưởng rằng đi vào cõi không người, múa gậy vườn hoang. Bắc Kinh đã cống hiến cho Hoa Kỳ một cơ hội vàng, trở lại VN và ĐNA kéo theo Nhật Bản rồi Ấn Độ, hô phong hoán vũ, không mất một viên đạn, một xu teng, Hoa Kỳ trở lại VN thật “ngon lành”. Trong 2 tuần lễ đầu tháng 8, cựu TT Bill Clinton rồi 3 nghị sĩ Mỹ, Dân Chủ và Cộng Hòa, đầy quyền lực đến Hà Nội. Coi như cầm chắc Ông Ba Đỏ TC mất đồng chí VN mà Ông Ba đã dầy công mua chuộc, củng cố sau Thượng đỉnh Việt-Trung Thành Đô, Ông Ba đã giúp Uncle Sam “bất chiến tự nhiên thành”. VN đang chuyển hướng, xoay chiều. Nhật Bản đóng vai ủy nhiệm. Đài Loan nghiễm nhiên sẽ trở lại Hoa Lục qua ngả VN. Vào cuối năm 2014, Đài Loan sẽ là nước thứ 2 đầu tư nhiều nhất ở VN.

THƯỢNG ĐỈNH MỸ – PHI CHÂU

Đánh lạc hướng coi nhẹ Phi châu hơn cả các ông Clinton và Bush trẻ, thậm chí công du Phi châu, TT Obama không ghé qua quê cha Keyna. Đùng một cái, sau thời gian dài vận động và bố trí, tuần qua, TT Obama triệu tập Hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ – Phi châu lần đầu tiên trong lịch sử Mỹ. Hội nghị qui tụ 50 nước Phi châu, 42 nguyên thủ quốc gia lớn nhỏ tưng bừng kéo nhau đến Hoa Thịnh Đốn hội họp trong 3 ngày ở đại sảnh bộ Ngoại giao Mỹ. Thượng đỉnh Hoa Kỳ và Phi châu đã gửi một thông điệp không lời cho Bắc Kinh: Phi châu thuộc về thế giới văn minh hiện nay, Mỹ và Âu châu, nói nôm na quê mùa: Ông Ba Đỏ TC “hãy lui ra cho bà đi chợ!” 6 năm trước Uncle Sam chọn Obama, đến nay mới thấy Uncle chọn đúng người “right man, right time, right place”.

THẢM KỊCH DO THÁI – PALESTINE

Cuộc chiến Do Thái – Hamas lại bùng nổ, sau 72 giờ đình chiến. Vẫn như mấy lần trước, do Hamas tiếp tục tái gây chiến, bắn hỏa tiễn và rocket qua Do Thái. Tại sao có chuyện lạ đời vậy? Một bên đã thua trận vẫn tiếp tục gây chiến, đánh tới. Một bên, đại thắng vẫn tiếp tục thắng nữa trên khối dân đen, tay không. Số tử thương do Do Thái oanh tạc, pháo kích, xe tăng ào ạt trên dải Gaza đã lên đến gần 2000, đa số là phụ nữ, trẻ con. Phía Hamas, tử vong không đáng kể, Hamas dùng phụ nữ trẻ con làm lá chắn. Nhà thương, trường học và giáo đường Hồi giáo trở thành căn cứ của Hamas. Quân Do Thái hy sinh 63, dân Do Thái lại chỉ có 3 người chết, khoảng 9, 10 người bị thương do hỏa tiễn và rocket! Tuần báo The Economist, số chủ đề ra ngày 2-8-2014 với tựa đề lớn ngoài bìa “Thắng trận, thua cuộc chiến – Winning the battle, losing the war”. Theo Economist, thắng trận, thắng lớn nhưng Do Thái đã mất đi nhiều cảm tình với thế giới, chỉ còn 26% (trong số 23 nước thăm dò), chỉ hơn Nga Sô của Putin, xếp loại ngang với Pakistan, Bắc Hàn, Iran tận cùng thế giới. Trước đây, Do Thái rất được ngưỡng mộ, một quốc gia dân chủ thực sự, đoàn kết, thịnh vượng, nhiều sáng tạo và phát minh khoa học, nhất là từ năm 1976. Biệt động đội Do Thái đã giải cứu được con tin ở phi trường Uganda. Nhưng giờ đây, uy tín của Do Thái đã tiêu tan. Trong số các nước đứng hàng đầu được thế giới có cảm tình nhất là Đức quốc, Canada, Anh, Pháp, Nhật thì Do Thái tụt hậu, đứng hàng chót là một trong 5 nước đã mất hết cảm tình đối với thế giới là Nga, Bắc Hàn, Iran. Ngay tại Mỹ, dù được Quốc hội Mỹ yểm trợ tối đa, cảm tình dành cho Do Thái đã tuột dốc trong dân chúng Mỹ, chỉ còn 36%. Dù thông cảm Do Thái với lý do tự vệ và sinh tồn, thế giới đồng loạt lên án Do Thái đã quá tàn bạo và hiếu chiến trong các cuộc oanh kích tàn phá Gaza. Dư luận Mỹ, Âu e ngại rằng dân Palestine ở Tây Ngạn – West Bank sẽ nổi dậy, lửa hận thù lại bùng lên trong khối Hồi giáo Sunni Ả Rập. Do Thái sẽ bị cô lập, tứ bề thọ địch.

Cho đến nay, Do Thái đã trở thành một cường quốc kinh tế và khoa học kỹ thuật vào hàng số một ở Trung Đông, vượt cả Iran, dân số 8,2 triệu, trong một diện tích rất chật hẹp, 20,770 km2 chỉ canh tác được 14%. Ngân sách quốc gia dành 7.7% cho y tế, 6% cho giáo dục. Nhưng còn một “quốc gia” Do Thái vĩ đại khác, đứng sau, có mặt khắp Tây bán cầu và Âu châu, từ Đức quốc, Pháp, Ba Lan, Anh, Ý… đến Ba Tây, Argentina, Mexico, kể cả Cuba… và chủ yếu là Hoa Kỳ. Cộng đồng Do Thái Mỹ trên 6 triệu dân nhưng là một nước Do Thái ở Hoa Kỳ. Do Thái là một “đế quốc” tư bản, nắm ngân hàng, thị trường tài chính, chứng khoán, kể cả bảo hiểm, y tế, luật sư… Chỉ có 2 nước Canada và Do Thái là được giữ quốc tịch Mỹ, tức song tịch. Thanh niên Do Thái có thể về Do Thái thi hành nghĩa vụ quân sự … Lực lượng “vận động hành lang quốc hội Mỹ (lobby)” đông đảo nhất ở Hoa Thịnh Đốn, từ quốc hội đến Bạch ốc, Ngũ giác đài, báo chí và truyền thông.
Trước khi đi nghỉ hè 5 tuần, ngày cuối, Hạ viện Mỹ dẹp bỏ mọi chuyện, chỉ tập trung vào Do Thái, khẩn cấp chi 250 triệu cho Do Thái, riêng mấy khoản mua khí giới, đạn, bom… Dù vậy, Do Thái không thể còn “làm mưa làm gió” trên chính trường Mỹ như trước đây, huyền ngọc Obama đã và đang gồng mình cưỡng lại Do Thái. Vẫn tích cực bảo vệ Do Thái, ngay từ đầu nhiệm kỳ, Obama đã chuyển hướng, ông tiếp tục chính sách của Bill Clinton, không thể bỏ rơi Palestine, Hoa Kỳ vẫn không công nhận Jerusalem là thủ đô của Do Thái trong khi Do Thái quyết gạt Palestine ra khỏi đất thánh. Palestine trở thành quốc gia độc lập, thủ đô phải đặt ở West Bank. Obama vẫn cương quyết “một cách co giãn”, thủ đô Do Thái phải là Tel Alviv như từ ngày quốc gia Do Thái ra đời 1948. Do Thái hải ngoại không từ bỏ một đòn phép nào đánh phá chủ trương cho Palestine là một quốc gia và được chia Jerusalem với Do Thái. Chỉ một chủ trương Palestine phải là một quốc gia, Bill Clinton đã khốn khổ, thân bại danh liệt. Vụ ông Bill mang họa tình ái lăng nhăng với người đẹp Lewinsky, ông đã lọt vào tay quyền lực đen ghê tởm nào đó, chút nữa đã bị cách chức Tổng thống! Mẹ cô Lu là một yếu tố quyết định, bà là Mỹ Do Thái, cô Lu cho mẹ biết tinh khí của ông Bill vọt vào váy cô. Không hiểu cô Lu có máu Do Thái này thổi kèn Bill Clinton như thế nào mà kèn Bill phọt cả lên váy cô. Mẹ cô Lu chụp ngay cơ hội, giữ cái váy của cô, tang chứng rành rành. Ông Bill phải trả cái giá chủ trương Palestine phải thành một quốc gia.

Giáo hội Công giáo Mỹ và cả La Mã cũng điêu đứng về vụ sì-căng-đan ấu dục. Một số giáo phận Công giáo Mỹ phá sản vì bị kiện! Đó là cái giá mà Công giáo La Mã phải trả cho ĐGH Th. Gioan Phaolồ II chủ trương và cổ võ cho một Palestine trở thành quốc gia và chia 3 Jerusalem! Ngoài Do Thái, phải chia cho Palestine và một phần cho Thiên Chúa giáo bao gồm Chính Thống giáo, Tin Lành và Công giáo La Mã! Nhiệm kỳ 2, Obama bị đánh phá “tối tăm mặt mũi”, thậm chí tăng lương tối thiểu cho dân lao động cũng bị đánh phá, được mô tả như một “tổng thống tệ nhất”! Obama là một cái gai trước cộng đồng Do Thái, trước mắt diều hâu Netanyahu, một cựu tướng lãnh QĐ Do Thái, đắc cử Thủ tướng 2 nhiệm kỳ rồi! Ông diều hâu này là biểu tượng ý chí Do Thái. Cựu Ngoại trưởng Hillary Clinton nếu ra ứng cử Tổng thống, chắc hẳn sóng gió từ Do Thái Mỹ sẽ đổ ập tới.

Báo The Economist như một tiên liệu, Do Thái nếu tiếp tục hiếu chiến theo con đường “dân tộc” quá độ như hiện nay, Do Thái sẽ tự cô lập, sẽ có một ngày trong núi lửa hận thù. The Economist từ trước đến nay vẫn ủng hộ Do Thái, nay thì cực lực lên án, cảnh giác Do Thái. Âu châu đang coi Do Thái là dân kỳ thị chủng tộc (a racist). Do Thái đang trở về chủ nghĩa phân chủng như Nam Phi trước đây! Trên vùng đất Do Thái đang tồn tại còn có các dân tộc khác, ngoài Palestine, còn có sắc dân Druze, Ả Rập, Bahais… Jerusalem có bức tường Thương khóc tối thiêng liêng của Thiên Chúa giáo và Hồi giáo. Chẳng lẽ Do Thái lại bắt chước Trung Cộng vẽ vời chiếm đoạt 90% Biển Đông. Do Thái đừng quên bài học đẫm máu Phát xít Hitler tàn sát 6 triệu dân Do Thái. Thảm kịch lịch sử nào mà không có nguyên nhân. Trước khi bạo chúa Hitler lên cầm quyền, hầu hết các tiệm cầm đồ trên nước Đức trong tay Do Thái, địa ốc và ngân hàng cho vay nợ lãi trong tay tư bản Do Thái. Báo Economist nêu vấn đề cốt lõi: Gaza và tương lai Do Thái.
Liệu Do Thái có thể xóa bỏ bản đồ dải Gaza và tiêu diệt gọn khủng bố Hamas không? Hamas ở trong 1.8 triệu dân Gaza. Tháng 7 vừa qua, nhân chuyến công du của ĐGH Phan Xi Cô, Thủ tướng Do Thái tiếp ngài rất long trọng, tự nhiên ông khoe: “Đức Chúa Giêsu nói tiếng Do Thái”. ĐGH Phan Xi Cô trả lời ngay: “Không! Chúa Giêsu nói tiếng Ả Rập!”

TRỞ VỀ SÓNG GIÓ BIỂN ĐÔNG!

Hội nghị Ngoại giao Hiệp hội Đông Nam Á ASEAN khai mạc ngày 8-8 vừa qua tại thủ đô Miến Điện, có các nước liên hệ tham dự: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Bắc Hàn, Nam Hàn, Úc, Tân Tây Lan và Trung Cộng. Trước một ngày, ngoại trưởng 3 nước Phi Luật Tân, Mã Lai và Việt Nam họp riêng. TT Thein Sein rất khôn khéo cùng ngoại trưởng Miến đến chào mừng. Ba nước Việt – Mã – Phi họp riêng đi tới đồng thuận một lập trường về Biển Đông để đối phó với TC. NT John Kerry, dành 2 ngày cho hội nghị. Ngày 9-8, ông họp riêng với NT Việt Nam Phạm Bình Minh. Ông Kerry đầy lạc quan, “tươi ơi là tươi” vỗ vai PBM, tuyên bố: Quan hệ Việt Mỹ càng ngày càng phát triển hơn nữa. Tuy nước chủ nhà Miến Điện đã nói rõ: Miến Điện giữ vai trò trung lập (trong vấn đề Biển Đông) – theo AFP, ông Thein Sein rất vồn vã với 2 ngoại trưởng Mỹ, Nhật và đồng nghiệp ASEAN – nhưng rõ ràng người ta cảm thấy TT Thein Sein giữ một khoảng cách với NT Vương Nghị của TC (distance from…). Nhận xét chung, NT Vương Nghị và phái đoàn TC lạc lõng giữa các đồng nghiệp ASEAN, Mỹ và Úc. Kể cả Bắc Hàn cũng không còn thắm thiết mặn mà với đại đồng chí đàn anh Bắc Kinh!

Qua hội nghị này, rõ rệt 2 ngoại trưởng Mỹ và Nhật đã gắn bó với ASEAN, một thị trường 620 triệu dân, dường như đang tách dần TC. Cũng là do Bắc Kinh đã quá kiêu căng, ngoài vụ giàn khoan HD 981 rút trước thời hạn một tháng, TC lại tuyên bố “bản đồ dọc” mới, 9 đoạn tăng lên 10, chiếm 90% Biển Đông, tự Bắc Kinh đã đẩy ASEAN bám chặt vào Mỹ – Nhật, tự Bắc Kinh đã vạch áo cho ASEAN nhìn rõ cái mạnh cái yếu của Bắc Kinh, chi bằng bám vào Mỹ lúc này là thượng sách. Qua vụ máy bay dân sự MH 17 bị hỏa tiễn Nga bắn rớt ở Đông bộ Ukraine, Mã Lai ngả hẳn về Mỹ. Chính Bắc Kinh đã đẩy Phi Luật Tân, Mã Lai và VN vào một khối đối đầu với TC để bảo vệ chủ quyền Biển Đông. Tóm lại, TC trở thành đối tác rất lẻ loi trong hội nghị ngoại giao ASEAN kỳ này. Ta có câu: “Nắm người có tóc, không ai nắm kẻ trọc đầu”, vô hình chung, NT Vương Nghị trở thành kẻ trọc đầu giữa khối ASEAN, thậm chí Bắc Hàn còn lộ rõ vẻ lạnh lạt đối với phái đoàn Vương Nghị. Tuy nhiên, TC lại càng thêm cứng cựa! Dù Hoa Kỳ lên tiếng phản đối, VN, Phi và Mã Lai phản đối, TC vẫn khởi công xây 5 đài hải đăng ở Biển Đông để cắm mốc chủ quyền ở Biển Đông. Vô ích, chỉ gây thêm căm phẫn, đẩy nhanh ASEAN vào quỹ đạo Hoa Kỳ. Năm 2015, Mã Lai sẽ là chủ tịch luân phiên ASEAN, Đại sứ Lê Lương Minh tiếp tục làm Tổng thư ký ASEAN thêm 3 năm nữa trong nhiệm kỳ 5 năm. ASEAN sẽ đổi thành cơ chế Cộng đồng ĐNA như CĐ Liên Âu.

VN THOÁT KHỎI VÒNG TAY TC?

Bất cứ giá nào, TC cũng bám chặt VN, củng cố Hiệp ước phòng thủ chung Việt – Trung mà Phạm Văn Trà, Đại tướng Bộ trưởng Bộ QPVNCS đã đặt bút ký với sự chứng kiến của Nguyễn Tấn Dũng, khi còn là Phó Thủ tướng, không kể những mật ước VNCS đã ký kết với Bắc Kinh từ hội nghị Thành Đô, Tứ Xuyên năm 1990. Gió đã xoay chiều! Đây là cơ hội vàng để VN thoát khỏi tai họa Bắc xâm. Tin riêng của bản báo từ Hà Nội cho biết, phe Thái thú TBT Nguyễn Phú Trọng vẫn còn mạnh dù là thiểu số do Cục tình báo Hoa Nam đứng sau với 53 cơ sở đầu tư của TC ở 53 tỉnh và thành phố nhưng cũng không cản nổi cao trào chống TC mỗi ngày một mãnh liệt tuy còn âm thầm ngay trong lòng ĐCSVN và toàn dân. Nhân đà này, ngon trớn, Hoa Kỳ không bỏ lỡ cơ hội. HNV hơn một lần đã rộng bàn trên mục này, bộ ba “Viet Veterans” McCain, J. Kerry và Chuck Hagel là cột trụ chính sách mới của Mỹ ở VN. Đầu tháng 8, TNS Coker, nhân vật cao cấp trong UB Ngoại giao Thượng viện Mỹ (high ranking) đến Hà Nội, gặp Trương Tấn Sang và Dũng. Sang khẩn thiết nhờ Ns. Coker vận động quốc hội Mỹ tháo bỏ cấm vận vũ khí sát thương cho VN. Trước đó, cựu TT Bill Clinton thăm Hà Nội, CT Sang tiếp đón ông Bill rất long trọng, ân cần nhờ ông Bill vận động quốc hội và hành pháp Obama cho VN được mua vũ khí của Mỹ. Như quí độc giả đã rõ, TNS McCain và TNS Shelton, Dân Chủ, công du VN chỉ cách 2 ngày TNS Coker rời Hà Nội. Đây là chuyến công tác của 3 TNS Dân Chủ và Cộng Hòa với mục đích rõ rệt: An ninh, Nhân quyền và Mậu dịch Mỹ Việt. TNS McCain rời Hà Nội đầy lạc quan cho biết có thể tháng 9 này, Hoa Kỳ sẽ tháo bỏ lệnh cấm vận từng phần, sẽ bán vũ khí sát thương cho VN.

Tại sao lại dồn dập và khẩn cấp như vậy? Xin thưa, chỉ còn mấy tháng nữa, Hoa Kỳ rút khỏi A Phú Hãn, vũ khí tối tân còn đầy ắp trong các kho của Mỹ chưa dỡ bỏ, đưa về Mỹ mất công, tốn kém chuyên chở chi bằng bán bớt đi. Đây không phải là vũ khí phế thải mà là vũ khí tối tân, hiện đại của Hoa Kỳ, Ấn Độ cũng đang khát khao mua lại. Theo tin từ Hà Nội, giới lãnh đạo CSVN đang say mê hướng về món hàng sát thương còn tồn kho ở A Phú Hãn hay đâu đó ở Nam Á và các căn cứ ở Ấn Độ Dương. Vũ khí của Nga, kể cả máy bay phản lực và hỏa tiễn Nga đã xuống cấp so với Mỹ. Với VN, còn một điều hấp dẫn lý thú khác, giá cả có thể du di, nhiều trường hợp có thể trả “credit” lai rai đến một lúc Uncle Sam sẽ “tha nợ”!
Vấn đề còn lại tùy thuộc vào “thiện chí” của Hà Nội: vấn đề Nhân quyền. Với Hoa Kỳ vào lúc này, vấn đề gọi là an ninh, “cái mỹ an ninh” mới là quan hệ hàng đầu. Dân chủ, tự do và nhân quyền tuy là cốt lõi của tinh thần Mỹ nhưng vẫn có thể du di, tựa như “trả góp”. Nay CSVN thả một tù nhân lương tâm, mai lại tha một nhân vật đối kháng, cũng là cách trả góp cho món nợ nhân quyền. Gió đã xoay chiều. Ngón nghề của CSVN là nương theo chiều gió. Vấn đề còn lại vẫn ở trong tay Bắc Kinh. Giàn khoan HD 981 là một ẩn số. Sau khi xây xong 5 đài hải đăng và căn cứ tiếp liệu nổi ở đảo Gạc Ma, Bắc Kinh sẽ làm gì tiếp? Giàn khoan HD 981 sẽ chuyển về đâu? Giới lãnh đạo VN xưa nay vẫn là chờ thời đón gió. Nhưng cái mà CSVN không thể chờ được, đó là trục xoay của Uncle Sam với Nhật Bản và Ấn Độ phụ họa. Mỹ – Nhật phải hiện diện ở ĐNA mà VN là điểm chiến lược không thể thoái lui.

HÀ NHÂN VĂN
(10/8/2014)

 

TÔN TRỌNG SỰ THẬT, TRÂN TRỌNG TRI THỨC LÀ CƠ SỞ CHO TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI THÀNH CÔNG – BS

18 Th8

 

Posted by adminbasam on 17/08/2014

Đại tá Đỗ Mạnh Hiến

17-08-2014                                          

H1Lời mở đầu: Ngày 28/7/2014, 61 đảng viên đã ký Thư ngỏ gửi Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam với mở đầu “Từ nhiều năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã Áp đặt cho Dân tộc Đường lối sai lầm về xây dựng CNXH theo mô hình Xô-viết, được coi là dựa vào chủ nghĩa Mác-Lênin”. Phải chăng đây là nguyên nhân cốt lõi làm Việt Nam tuy có gần 40 năm Hòa bình – Thống nhất, song đến nay vẫn trì trệ, suy thoái?

Ngày 29/7/2014, khi làm việc với Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ bày tỏ: “ Chính phủ hết sức quan tâm, mong muốn lắng nghe được nhiều ý kiến tư vấn phản biện từ xã hội, các nhà khoa học, giới trí thức trên tinh thần dân chủ, khách quan, khoa học. Chính phủ cho rằng phản biện khoa học, tranh luận, thảo luận dân chủ là những cách thức để đi đến chân lý, là cơ sở cho những quyết sách khoa học và đúng đắn”, nhất là với các chương trình, đề án, dự án quan trọng của Đảng, Nhà nước như Tổng kết 30 năm Đổi Mới; Chuẩn bị Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 12; Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội,

Với mục tiêu thực hiện yêu cầu của Thủ tướng Chính phủ và quan niệm các sự việc trong hai ngày 28, 29/7/2014 có nhiều ý nghĩa với tiến trình Thay đổi tận gốc, sau đây xin đăng bài có tên trên của tác giả Đại tá Đỗ Mạnh Hiến (Ảnh trên, chụp ngày 5/8/2014).

ĐỔI MỚI TRƯỚC VÀ SAU ĐẠI HỘI VI NĂM 1986 THÀNH CÔNG TRƯỚC HẾT DO LÃNH ĐẠO ĐẢNG THỜI ĐÓ CHỈ RÕ “BA SỰ THẬT”.    

Sự thật thứ nhất:

Sự thật đầu tiên được Tổng Bí thư Trường Chinh, kiến trúc sư của Đổi mới chỉ ra là: Lãnh đạo đãPhạm những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về Chủ trương, Chính sách lớn” (không phải lãnh đạo là luôn đúng, còn sai là do tổ chức thực hiện). Nguyên nhân là : “Tả khuynh, Ấu trĩ, Duy ý chí, Trái quy luật khách quan… Khi đã mắc sai lầm lại Bảo thủ, Trì trệ, Không dũng cảm sửa chữa…” (Trường Chinh; Phát biểu tại Đảng bộ Hà Nội 19/10/1986; Văn kiện Đảng toàn tập; Tập 47, tr. 270.)

Vì thế, Đổi mới phải diễn ra trước hết trong Lãnh đạo:Cuộc đấu tranh diễn ra trong nội bộ Đảng, trong bộ máy Nhà nước và các đoàn thể, trong nội bộ nhân dân, trong từng cấp, từng ngành, và đấu tranh ngay trong chính bản thân mỗi chúng ta.” (Trường Chinh; Đổi mới là đòi hỏi bức thiết của đất nước và thời đại ; 1988)

Sự thật thứ hai:

Yếu kém, lạc hậu về Lý luận là Sự thật thứ hai được Tổng Bí thư Trường Chinh làm sáng tỏ. Theo ông vì Lý luận yếu kém, lạc hậu nên quyết định của Đảng không chính xác, mâu thuẫn nhau và đây không chỉ là thiếu sót của các cơ quan lý luận, tư tưởng, mà chủ yếu do nhận thức của Lãnh đạo Đảng:Thiếu sót của Trung ương là đã không sớm đặt vấn đề đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận đúng với tầm vóc chiến lược của nó; cách mạng đã chuyển sang thời kỳ Đổi mới nhưng công tác Tư tưởng và Tư duy lý luận của chúng ta không theo kịp sự chuyển biến của tình hình.” (Trần Nhâm; Trường Chinh với sự nghiệp Đổi mới đất nước ta ; Tr. 13.)

Sự thật thứ ba:

Không thẳng thắn trong thảo luận để tìm ra Đúng, Sai là Sự thật thứ ba được Tổng Bí thư Trường Chinh nêu ra: “… Không thẳng thắn nói hết ý kiến để cùng nhau thảo luận đi đến nhất trí, đã không kiên trì cái đúng, phân tích đầy đủ cái sai… Đó là khuyết điểm của Bộ Chính trị”. (Trường Chinh. Bài phát biểu tại cuộc họp Bộ Chính trị ngày 4/4/1986, Trích theo Đặng Phong, sđd. tr.302.)

Có thể nhận thấy, nếu không tiếp tục có thái độ kiên quyết Tôn trọng sự thật, Trân trọng tri thức như Tổng Bí thư Trường Chinh đã nói và làm sẽ khó đưa tiến trình Đổi mới hôm nay đi đến thành công.

“BA SỰ VIỆC” CẦN ĐƯỢC LÃNH ĐẠO ĐẢNG HIỆN NAY ƯU TIÊN XEM XÉT, TẠO CƠ SỞ CHO TIẾN TRÌNH ĐỔI MỚI THÀNH CÔNG

Từ năm 1991 đến nay (tức là từ Đại hội Đảng VII đến Đại hội Đảng XI) không thiếu các đảng viên có ý kiến phản biện đề nghị Đảng Đổi mới Chính trị – Đổi mới Thể chế, như Trần Xuân Bách với quan điểm Đa nguyên, Trần Độ, Đặng Quốc Bảo với quan điểm Phát huy Dân chủ, Nguyễn Trọng Vĩnh với quan điểm chống bành trướng, …, gần đây có nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An với quan niệm sửa “Lỗi hệ thống”, hay nguyên Ủy viên Ủy ban Kiểm tra TW kiêm Tổng Biên tập Tạp chí Kiểm tra Hà Tuấn Trung, trước Đại hội Đảng XI gửi Bộ Chính trị bài “Nên lấy Học thuyết Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng” và “Nên đổi lại tên Đảng là Đảng Lao động Việt Nam”. (Ảnh trên: Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và GS. Vũ Khiêu trong ngày Khoa học và Công nghệ đầu tiên 18/5/2014).

Hình thức phản biện cho Đảng là đa dạng, như nguyên Phó Trưởng ban Tổ chức TW Nguyễn Mạnh Can, Giám đốc Trung tâm Văn hóa người cao tuổi Việt Nam, từ nhiều năm đã đề nghị cần bắt đầu Đổi mới từ 9 bài học văn hóa có từ Cách mạng Tháng 8, nhất là về Đoàn kết, Trân trọng Trí thức, Dân chủ và Đa đảng. Ông hay nói nên nghiêm túc nghĩ vì sao một người thông tuệ như Cụ Hồ đã dành hẳn một thời gian dài viết Di chúc để dặn lại thế hệ mai sau, song không hề nhắc đến Chủ nghĩa Xã hội mà chỉ phấn đấu cho Việt Nam và Thế giới luôn “mới mẻ, tốt tươi” với những dòng cuối cùng của Di chúc: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Trong chống tham nhũng, có nhiều ý kiến phản biện tới từng sự việc, từng dự án, nhưng cũng không ít ý kiến cho là việc chống tham nhũng hiện nay chỉ là bắt cóc bỏ đĩa, oan sai nhiều, do mới chỉ chú ý đến hiện tượng mà bỏ qua thực chất là: Nguồn gốc và Môi trường nuôi dưỡng tham nhũng là tư tưởng Chính trị và mô hình Cầm quyền lạc hậu. Vì thế, để chống tham nhũng hiệu quả trước hết phải Đổi mới Chính trị – Đổi mới Cơ chế, vì khi Đảng còn đặt quyền lợi giai cấp tức quyền lợi Nhóm, trước quyền lợi Dân tộc, dù đó là “Nhóm lớn”, thì cuộc đấu tranh “chống Quyền lợi Nhóm” khó có thể thành công.

Có nhiều sự việc trong thực tiễn chứng minh các phản biện từ đảng viên và xã hội là phù hợp với xu thế phát triển và phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Để minh họa nhận định này sau đây xin chọn “Ba sự việc” liên quan trực tiếp đến sai lầm trong việc kiên định đường lối Mác-Lênin. Nhằm có những thay đổi kịp thời phục vụ sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ Quốc, “Ba sự việc” này cần được nghiêm túc nghiên cứu theo quan điểm “Ba Sự thật” đã được Tổng Bí thư Trường Chinh nêu rõ ở trên. Ba sự việc này được sắp xếp theo trình tự thời gian như sau:

Sự việc thứ nhất:

Tổng thống Braxin, bà Dilma Rousseff

Tối 11/4/2012 đã xẩy ra một sự việc liên quan tới hình ảnh Việt Nam với Quốc tế, sự việc mà không người Việt Nam yêu nước, có tự trọng nào muốn có. Đó là ngày 1/3/2012 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được Bộ Ngoại giao Braxin chính thức thông báo: “Tổng thống Dilma Rousseff rất vinh dự đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức Braxin với nghi lễ nguyên thủ quốc gia từ ngày 12 đến 15/4/2012…”. Tuy nhiên ngày 10/4/2012, sau khi Tổng Bí thư đọc diễn văn tại Trường Đảng cao cấp Ni-cô-lô-pết của Cu Ba: “Bản chất Thời đại không thay đổi”, “Kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân”,…, , thì ngay lập tức tối ngày 11/4/2014 phía Braxin chính thức thông báo Tổng thống Braxin hủy việc tiếp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với lý do “sức khỏe Tổng thống và chương trình của Tổng thống không được bố trí khoa học và phù hợp”. (Ảnh trên: Uy tín Tổng thống Dilma Rouseff lên cao và Đảng Lao động của bà có thể thắng tiếp nhiệm kỳ 2).

Sự việc thứ hai:

Tối 25/2/2013 đã xẩy ra một sự việc liên quan tới nguyện vọng và quyết tâm của Thế hệ trẻ. Đó là khi Tổng Bí thư phê phán một số ý kiến góp ý sửa đổi Hiến pháp là “suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống”, thì ngay lập tức với quan niệm “đang thực hiện quyền cơ bản của con người là tự do ngôn luận, tự do tư tưởng”, một trí thức trẻ đã thẳng thắn phản đối tư tưởng Toàn trị mà Tổng Bí thư đang thể hiện sống động: “Ông là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, nếu muốn dùng hai chữ “suy thoái” thì cùng lắm là ông chỉ có thể nói với những người đang là đảng viên cộng sản, ông không đủ tư cách để nói lời đó với nhân dân cả nước”. Vậy là trong mắt người thanh niên này, do đã đi ngược tư tưởng Đoàn kết của Cụ Hồ nên Đảng không còn là “Đảng Việt Nam” nữa, và như thế Tổng Bí thư của Đảng sẽ khó giữ vai trò Lãnh đạo dân tộc. Anh cũng bày tỏ dứt khoát nguyện vọng muốn một xã hội dân chủ, phát triển và thượng tôn pháp luật: “Tôi muốn tổ chức một Hội nghị Lập hiến, lập một Hiến pháp mới thực sự là ý chí của toàn dân Việt Nam”.

Sự việc thứ ba:

Ngày 28/7/2014 đã xẩy ra một sự việc liên quan tới mong muốn và chỉ dẫn của thế hệ trước. Vào ngày này, lần đầu tiên đã xuất hiện sự kiện 61 đảng viên, nhiều người là các tướng lĩnh, nhiều người đã giữ những chức vụ quan trọng trong Đảng, Nhà nước, song đều đã mang những năm tháng tươi đẹp nhất của cuộc đời để cống hiến cho chế độ như Lão Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nay đã gần tuổi 100, Thiếu tướng Lê Duy Mật,…, các cán bộ lão thành của Đảng như Trần Đức Nguyên, Hà Tuấn Trung, …, các nhà trí thức cao niên như GS. Đào Xuân Sâm, GS. Tương Lai, PGS. Hồ Uy Liêm,… đều nhất trí ký vào Thư ngỏ gửi Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó chỉ rõ và yêu cầu kịp thời sửa chữa các sai lầm cốt lõi về đường lối:

“… 1. Trước tình thế hiểm nghèo của đất nước, với trách nhiệm và vị thế của mình, Đảng Cộng sản Việt Nam tự giác và chủ động từ bỏ đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác-Lênin, chuyển sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ . …

2. … Thống nhất nhận định về mưu đồ và hành động của thế lực bành trướng Trung Quốc đối với nước ta, từ bỏ những nhận thức mơ hồ, ảo tưởng, có đối sách trước mắt và lâu dài bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ trong mọi tình huống, thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc, xây dựng quan hệ láng giềng hòa thuận, hợp tác bình đẳng, vun đắp tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.   … Việc kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế là cần thiết nhằm phát huy thế mạnh chính nghĩa của nước ta … Quan điểm “không liên minh với nước nào nhằm chống nước thứ ba” là tự trói buộc mình, không phù hợp với thực tế, cần phải thay đổi …

ĐÃ THAY ĐỔI TÍCH CỰC SONG CHƯA ĐỦ, VÌ THẾ CẦN THAY ĐỔI TẬN GỐC ĐỂ ĐẢNG TỪ CỦA GIAI CẤP THÀNH “ĐẢNG VIỆT NAM”

Chiều 29/7/2014, tại trụ sở Chính phủ đã diễn ra buổi làm việc giữa Chính phủ và Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam với sự có mặt của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, lãnh đạo một số bộ, ngành. Trong buổi họp, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề nghị Liên hiệp hội tiếp tục thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, đồng thời phối hợp chặt với các Bộ, ngành Chính phủ tham gia tư vấn, đánh giá các chương trình, đề án, dự án hết sức quan trọng của Đảng, Nhà nước như Tổng kết 30 năm Đổi Mới; Chuẩn bị Văn kiện cho Đại hội Đảng lần thứ 12; Xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội, … Thủ tướng bày tỏ “Chính phủ hết sức chú ý lắng nghe, mong muốn lắng nghe được nhiều ý kiến; càng phát huy dân chủ, càng nghe được nhiều ý kiến, càng tranh luận thì việc tiếp cận chân lý càng tốt, càng hiệu quả”. (Ảnh trên: Thủ tướng với Lãnh đạo Liên hiệp hội).

Nhận xét về điều này, PGS. TS. Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam, phát biểu với hy vọng xen lẫn nghi ngại: “Tôi nghĩ rằng, một đất nước phát triển lành mạnh là phải có sự đóng góp của người dân, đặc biệt của giới trí thức vào việc xây dựng các chính sách phát triển, … Lâu nay câu chuyện đóng góp ấy chưa thật nhiều nhất là hoạt động tư vấn phản biện giám định xã hội. Bây giờ Thủ tướng nói như vậy, hy vọng chuyện Thủ tướng khẳng định sẽ được thực hiện trong thực tế”.

Khó nói khác vì từ 1976 đến nay, không ít lần người dân đã hy vọng để rồi thất vọng, ví như Nghị quyết Hội nghị TW 5 Khóa VI về xây dựng Đảng khẳng định: “Đối với những vấn đề mới đặt ra, những vấn đề phức tạp còn có những ý kiến khác nhau, phải cùng nhau nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, lắng nghe ý kiến của quần chúng, của các chuyên gia và cán bộ khoa học, phát huy tự do tư tưởng, tranh luận thẳng thắn, dân chủ.” (Văn kiện Đảng toàn tập, tập 49, tr.267.) hay Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố tại Hội nghị TW 4, Khóa VI: “Những ý kiến khác nhau cũng thường xảy ra trong Bộ Chính trị, Ban bí thư, … Quan trọng là ý kiến khác nhau đó phải được nói ra, phải được thảo luận và tranh luận đến nơi đến chốn để đi đến thống nhất. … Hết sức tránh tình trạng một mình độc quyền chân lý, còn mọi người thì chỉ có quyền chấp hành thụ động, không dám tranh luận. Chúng ta phải tạo ra thói quen biết thảo luận và tranh luận.” (Văn kiện Đảng toàn tập, tập 48, tr.555). Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy “chân lý Mác-Lênin” vẫn độc quyền và đứng trên quyền lợi dân tộc và xu thế phát triển. (Ảnh trên: Thủ tướng làm việc với Liên hiệp hội ngày 29/7/2014).

Có thể lần này sẽ khác và phát biểu Tôn trọng Sự thực – Trân trọng Tri thức của Thủ tướng thực sự cho thấy tiến trình Đổi Mới đã tiến thêm một bước, bởi vì nội dung Thủ tướng vừa phát biểu ngày 29/7/2014 là hoàn toàn khác nội dung Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg do Thủ tướng ký ngày 24/7/2009, nhằm quy định hành lang cho công tác phản biện theo đúng “Đường lối”. Phải chăng việc trước hết phải gương mẫu tự Đổi mới chính mình của Thủ tướng đã mang hy vọng và quyết tâm cho những ai đang phấn đấu đưa đất nước tiến theo xu thế phát triển tất yếu.

Đó là chưa kể, trong hai năm 2013/2014 ở trong nước, ngoài nước xuất hiện nhiều Thay đổi tích cực, từ “Niềm tin Chiến lược” ở Diễn đàn Quốc tế Shangri-La 13, “Phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân”, “Thượng tôn Pháp luật” để “Kiến tạo Phát triển” ở Thông điệp Năm mới 2014, … đến xây dựng mối quan hệ quốc tế với quốc tế và các nước trong khu vực để chống Trung Quốc bành trướng xâm lược, việc hầu như không nhắc đến các cụm từ “suy thoái”, “4 tốt”, “16 chữ”, … cũng như thả một số người bất đồng chính kiến trước đây đã bị bắt.

Thực tiễn cho thấy, “Trên” và “Dưới” đã và đang có Thay đổi tích cực, song xã hội vẫn tiếp tục suy thoái. Nguyên do là Thay đổi chưa đến ngưỡng. Song có thể khẳng định, với xu thế tất yếu Dân chủ hóa, Toàn cầu hóa của Nhân loại, với truyền thống Đoàn kết, bất khuất và nhân văn của Dân tộc Việt Nam, có đủ cơ sở để hy vọng và tin tưởng toàn bộ Hệ thống Chính trị, nhất là bộ máy Lãnh đạo và Xã hội, sẽ “Diễn biến Hòa bình” để cùng Thay đổi dẫn đến Thành công.

Muốn vậy, việc phải làm đầu tiên là Thay đổi Tư duy Chính trị. Điều này là không thể khác khi phải biến ngay các Thách thức Lớn hiện hữu thành Cơ hội Lớn và Cơ hội lớn thành Hiện thực, cũng như phục vụ hai nhiệm vụ quan trọng là Tổng kết 30 năm Đổi mới và soạn thảo các Văn kiện cho Đại hội Đảng XII, nhằm từ một Đảng chỉ biết đặt quyền lợi giai cấp trước quyền lợi Dân tộc, có điều kiện để “Tự Diễn biến” theo hướng Đổi mới thành “Đảng Việt Nam” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, góp phần đưa Đảng, Dân tộc Việt Nam và Thế giới phát triển.  

Ngày 5 tháng 8 năm 2014

Đại tá Đỗ Mạnh Hiến

Nguyên Chính trị viên Đại đội 45, Trung đoàn 291, Bộ Tư lệnh Phòng không – Không quân.

Đơn vị Anh hùng trong Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”.

 

18 Th8

Đèn Cù: Giải thiêng cách mạng cộng sản Việt Nam

Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-08-14

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này

Nhật báo Người Việt sẽ xuất bản quyển sách tư liệu mang tựa đề Đèn Cù của nhà văn, nhà báo Trần Đĩnh vào cuối tháng 8 này

Nhật báo Người Việt sẽ xuất bản quyển sách tư liệu mang tựa đề Đèn Cù của nhà văn, nhà báo Trần Đĩnh vào cuối tháng 8 này

RFA files

 

 

Điều mong mỏi nhất của người đọc khi cầm lên quyển sách tư liệu dày 600 trang của Trần Đĩnh có lẽ sẽ là những tiết lộ về những toan tính, những âm mưu chính trị bên trong đảng cộng sản Việt nam trong gần 70 năm qua từ khi đảng này bước lên thống lĩnh đời sống chính trị Việt nam. Mong mỏi đó ở người đọc không phải là điều gây ngạc nhiên vì chính nhân thân của tác giả, người làm việc nhiều năm tại cơ quan tuyên truyền của đảng là báo Nhân dân, và hơn thế nữa ông là người có cơ hội tiếp cận những nhân vật lớn của đảng như Hồ Chí Minh, Trường Chinh,…

600 trang sách dẫn độc giả đi từ những âm mưu nhỏ giành giật quyền lực ở cơ quan cho đến âm mưu mang tính toàn cầu, mà trong đó tác giả cũng phải mất nhiều thời gian để nhận ra. Và điều đáng buồn hơn hết chính là những âm mưu đó đã đưa đến cuộc chiến Việt nam tương tàn hơn hai mươi năm mà hệ lụy cho đến ngày nay dường như chưa chấm dứt.

Đó là chuyện ông vua không ngai Lê Đức Thọ, người chỉ giữ chức vụ khiêm tốn trưởng ban tổ chức trung ương, nhưng nắm trong tay quyền sinh quyền sát trên không những sinh mạng chính trị mà cả sinh mạng vật lý của hàng triệu đảng viên ĐCSVN và những người dân Việt nam

Những lời đồn đoán về nền chính trị bí ẩn của đảng cộng sản Việt nam được tác giả xác nhận một cách rõ ràng, hoặc bởi chính mắt mình trông thấy, hoặc bởi những người trong cuộc kể lại.

Giải Thánh

Đó là chuyện ông vua không ngai Lê Đức Thọ, người chỉ giữ chức vụ khiêm tốn trưởng ban tổ chức trung ương, nhưng nắm trong tay quyền sinh quyền sát trên không những sinh mạng chính trị mà cả sinh mạng vật lý của hàng triệu đảng viên đảng cộng sản Việt nam và những người dân Việt nam.

Ông Lê Đức Thọ
Lê Đức Thọ​,tên thật là: Phan Đình Khải ​sinh ngày 10/10/1911,mất 13/10/1990​

Đó là chuyện các anh hùng của cuộc chiến tranh cách mạng do đảng cộng sản lãnh đạo, Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, thực chất đã không còn quyền lực gì từ những năm 60 của thế kỷ trước, mặc dù họ đã được đảng phong thánh.

Tác giả Trần Đĩnh đã giải thánh những anh hùng đó, giải thánh bằng những sự thật về cuộc sống bình thường của họ, mà tác giả mô tả một cách trần trụi nhất.

Hồ Chí Minh hóa ra không phải là một nhà cách mạng khắc kỷ bỏ hết mọi thứ riêng tư để hiến thân cho cách mạng và cho dân tộc. Qua lời kể của họa sĩ Phan Kế An, ông cũng có những đòi hỏi xác thịt bình thường nhất.

Hữu Thọ người đôi khi được báo chí chính thống hiện nay mô tả như một nhà báo đầy đạo dức và trách nhiệm nghề nghiệp, hóa ra là một kẻ bon chen, nhỏ nhen, làm tất cả để tiến thân trên những tầng nấc quyền lực của đảng.

Lê Duẩn, Tổng bí thư có quyền lực tuyệt đối của đảng cho đến chết, lại có những ý nghĩ rất ngộ nghĩnh về kinh tế quốc gia khi tuyên bố rằng cứ in tiền thoải mái vì nền kinh tế cộng sản của ông không hề có lạm phát. Cũng chính vị Tổng bí thư có vẻ bề ngoài điềm đạm ấy lại dùng vũ lực xốc cổ áo nhà triết học Trần Đức Thảo khi ông này nói rằng ông không hiểu những điều Tổng bí thư nói.

Qua việc giải thánh các nhân vật cách mạng, cuộc cách mạng cộng sản đã được giải thiêng, nó đơn giản trở thành một cuộc đấu tranh giành quyền lực của một nhóm người. Và cuộc đấu tranh quyền lực đó lại bị chi phối bởi một điều lạ lùng mang tên gọi Ý thức hệ.

Tác giả nói với chúng tôi về Ý thức hệ đó:

Mình không thể hiểu cái ràng buộc về ý thức hệ nó kinh khủng lắm. Con người ta không dám vượt khỏi cái  ranh giới của ý thức hệ  đã qui định được đâu. Anh phải có phe. Anh phải có đầu tàu, đầu tàu cách mạng ấy, Liên Xô lãnh đạo anh không được vi phạm không được phản bội. Anh nên nhớ ngày xưa trong đảng Cộng sản quốc tế, chi bộ của quốc tế là chi bộ của Liên Xô. Anh mà phản bội chi bộ ấy thì còn ra cái gì nữa, đúng không?

Đó là chuyện các anh hùng của cuộc chiến tranh cách mạng do đảng cộng sản lãnh đạo, Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, thực chất đã không còn quyền lực gì từ những năm 60 của thế kỷ trước, mặc dù họ đã được đảng phong thánh.

Âm mưu lớn đằng sau cuộc chiến tranh Việt nam

Chính Ý thức hệ này đã tạo nên một âm mưu lớn hơn mang tầm vóc toàn cầu, của những đồng chí phương Bắc của đảng cộng sản Việt nam, đó là nước Trung hoa cộng sản. Đây dường như là lần đầu tiên, một người trong lòng hệ thống là Trần Đĩnh xác định rõ rằng chính Trung Quốc đã đứng đằng sau lưng đảng cộng sản Việt Nam để khuấy động cuộc chiến tranh Việt Nam, mà tác giả không ngần ngại gọi nó là một cuộc nội chiến. Theo tác giả thì Trung quốc đã khuấy động chiến tranh bằng máu người Việt nam để đưa Trung Quốc ra đấu trường tranh giành quyền lợi của thế giới.

Phân tích của tác giả cho thấy rằng đảng cộng sản Việt Nam từ khi thành lập chưa bao giờ độc lập như họ thường tuyên bố. Trong cuộc chiến Việt nam huynh đệ tương tàn, đảng cộng sản Việt nam phụ thuộc vào Trung quốc. Chính vì lý do đó đã xảy ra vụ án Xét lại chống đảng mà những người được coi là thân Liên Xô như tác giả bị tống giam, thẩm tra bằng những bảng án miệng của Đảng. Rồi sau đó để làm vừa lòng Liên Xô, các nhân vật được xem là thân Trung quốc, đến phiên mình, lại bị tống giam không án.

Liên quan đến vụ án xét lại này, Trần Đĩnh cũng làm rõ rằng chính Lê Duẩn là người tôn vinh Mao Trạch Đông là lãnh tụ vô sản thế giới trong những năm 60, chứ không phải như dư luận từng xì xào trước đây rằng Trường Chinh là người thân Trung quốc vì ông chịu trách nhiệm những chết chóc đẫm máu của cuộc cải cách ruộng đất mà Trung quốc đứng đằng sau lưng.

Ông Võ Nguyên Giáp và lãnh tụ Hồ chí Minh năm 1945
Ông Võ Nguyên Giáp và lãnh tụ Hồ chí Minh năm 1945

Và đến phiên mình, khi Trường Chinh đã mất quyền lực thì ông cũng đánh đu theo dòng chính thống thân Trung quốc.

Trong những tư tưởng thân bên này thân bên nọ ấy đương nhiên quyền lợi dân tộc Việt nam bị quên đi, từ những năm cuối thập niên 50 những người cộng sản Việt nam đã tin rằng Trung quốc sẽ giữ giùm quần đảo Hoàng Sa!

Kinh hoàng cải cách ruộng đất

Và cuối cùng, trong những sự thật trần trụi mà tác giả mô tả, là sự thật chết chóc của cải cách ruộng đất dưới vỏ bọc mỹ miều đấu tranh giai cấp. Nếu trong Bên Thắng Cuộc của nhà báo Huy Đức, những thảm cảnh trên đường vượt biển tìm tự do của người Việt sau năm 1975 được mô tả rõ ràng như chì đen trên giấy trắng không kèm theo lời bình luận, thì thảm sát cải cách ruộng đất lại được Trần Đĩnh cất lên đầy thê lương như những câu hờ tang tóc trên đồng bằng Bắc bộ.

Trong những tư tưởng thân bên này thân bên nọ ấy đương nhiên quyền lợi dân tộc Việt nam bị quên đi, từ những năm cuối thập niên 50 những người cộng sản Việt nam đã tin rằng Trung quốc sẽ giữ giùm quần đảo Hoàng Sa!

Và ai là người chịu trách nhiệm về cuộc giết chóc hoang tàn mà chính đảng cộng sản Việt Nam cũng thừa nhận rằng đó là sai lầm? Cái nhìn cận cảnh của tác giả về Hồ Chí Minh, lãnh tụ lớn nhất của đảng lúc ấy, sau những cái chết của những địa chủ có công với cách mạng như bà Nguyễn Thị Năm, Cụ Cử Cáp,… làm cho người đọc nghĩ rằng những giọt nước mắt của Hồ Chí Minh mà nhiều người thấy qua hình ảnh từ trước đến nay không hoàn toàn là những giọt nước mắt.

 

 

Đèn Cù: Sống trong lòng chủ nghĩa cộng sản và thoát khỏi nó

Một đặc trưng cơ bản của chế độ cộng sản là tính toàn trị của nó. Nó muốn kiểm soát hết mọi thứ, kể cả suy nghĩ của người dân. Đèn Cù của Trần Đĩnh miêu tả những náo loạn tinh thần mà chủ nghĩa cộng sản đem lại cho một xã hội bình thường vì sự mong muốn toàn trị của nó.

Trong sự mong muốn toàn trị ấy, chủ nghĩa cộng sản bỏ qua cá nhân con người. Trần Đĩnh viết rằng định nghĩa về con người dưới chế độ cộng sản là một tổng hòa các mối quan hệ xã hội, và vì thế chính bản thân con người là không quan trọng nữa.

Trong xã hội mà đảng lãnh đạo nổi lên như một tổ chức siêu quyền lực. Mọi quan hệ giữa người và người với nhau như tình bạn cũng không quan trọng cái mà Trần Đĩnh gọi là tình đảng, vì tình đảng ấy cho những người cảm tình của nó đủ thứ, bảo vệ và che chắn cho những người có tình đảng ấy.

Theo tác giả, chủ nghĩa cộng sản đã lợi dụng hai góc tối tăm nhất của con người là nỗi sợ và lòng tham để thống trị họ. Ông lấy bản thân làm ví dụ. Ông biết rằng ông viết theo chỉ thị của ai đó, của đảng là một việc không nên làm, và khi đã lờ mờ nhận thấy thì cũng khó lòng bứt khỏi nó.

Và tôi bắt đầu lờ mờ nhận thấy ngoài bồi bút, tôi mang hai bộ mặt lệch nhau: om xòm ở tư cách kẻ lên án và câm nín với vai tội phạm bị đàn áp man rợ của chính bản thân.

Mà không phải chỉ có ông, một nhà báo không có vai vế trong đảng. Một vị đại công thần là Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng sợ hãi những cố vấn Trung quốc, vị Đại tướng phải nhắn nhủ các người thân tín của mình là phải dè chừng sự sưu tra lý lịch của những viên cố vấn ấy. Guồng máy cộng sản nội địa và cộng sản quốc tế luôn đè nặng một nỗi sợ lên những thành viên của họ.

Một loại xã hội mới được mà đảng cộng sản xây dựng nên được Trần Đĩnh mô tả: Đảng tạo ra hẳn một xã hội mới toanh cho loài người bất cần loài người có bằng lòng hay không. Đọc đoạn này độc giả dễ dàng liên tưởng đến tác phẩm gây chấn động ý thức hệ cộng sản vào những năm 50 của thế kỷ trước của Milovan Djilas mang tên Giai cấp mới, trong đó nhân vật số hai của đảng cộng sản Nam tư mô tả một giai cấp mới là gia cấp cộng sản lên ngôi nắm mọi quyền lực và quyền lợi. Nay Trần Đĩnh viết rằng trong sự bất cần loài người có đồng ý hay không ấy thì luật pháp chẳng có ý nghĩa gì cả.

Những nhân vật có thật trong Đèn Cù, từ những văn nghệ sĩ, trí giả như Đặng Thai Mai, Chế Lan Viên, đến những nhân vật chính trị đều hành xử trong một tình đảng và không pháp luật ấy. Mà ngay chính bản thân tác giả, ông cũng cho rằng có những lúc ông đã hành xử rất “cộng sản,” đó là khi ông đến gặp ông Trường Chinh, và được ông này khoe đứa cháu còn ẵm ngữa:

Bây giờ, ở trang giấy này, tôi thành thật xin lỗi người ông và người cháu đích tôn. Tôi đã phản ứng sặc mùi cộng sản: oán hận dai bền. Hôm ấy Trường Chinh có tình người hơn tôi. Nay tôi thật lòng xấu hổ. Nhất là khi đọc Cioran: “Hận thù có thể khiến con người dũng cảm nhưng chỉ bao dung mới làm cho con người có đạo đức.”

Mang những hận thù, oán hận ấy để đi giải phóng loài người như mục tiêu cao cả mà những nhà tư tưởng cộng sản đầu tiên đề ra thì quả là khó, Trần Đĩnh viết tiếp

Giải phóng con người là một thứ ngoa ngôn sặc mùi tâm thần. Giải phóng cho bản thân bình đẳng với dân còn làm không nổi, nói gì giải phóng loài người?

Và những mục đích cao đẹp đó chỉ đem vào cho chủ nghĩa cộng sản một đặc tính mà Trần Đĩnh dùng một danh từ của đầu thế kỷ 21 để miêu tả, đó là một loại thuốc lắc, ý thức hệ gây lắc, như những cơn điên lọan ở vũ trường.

Giải phóng con người là một thứ ngoa ngôn sặc mùi tâm thần. Giải phóng cho bản thân bình đẳng với dân còn làm không nổi, nói gì giải phóng loài người?

Trong cơn lắc say sưa đó, chế độ cộng sản trở nên, như Trần Đĩnh mô tả, là một chế độ hỗn hào, nó cho mình là đứng lên hết thảy mọi thứ. Điều này giải thích cho sự ngạc nhiên cách đây gần 40 năm khi những người dân miền Nam lần đầu tiên tiếp xúc với ngôn ngữ tuyên truyền từ những người cộng sản, khi họ gọi tất cả những nhân vật, những quốc gia không thuộc về phe của họ bằng những từ miệt thị, từ những viên tướng Mỹ, Pháp cho đến những nhà lãnh đạo chế độ Việt nam cộng hòa vừa sụp đổ.

Giữ mình và thoát cộng

Trong khung cảnh mờ mịch đầy kích động do đảng tạo ra ấy, vẫn còn có những con người bám víu được những mảnh lý lẽ, lương tri cuối cùng của mình.

Nguyễn Trung Thành, nhân vật đã giúp Lê Đức Thọ dựng nên vụ án xét lại chống đảng đã cố gắng đòi hỏi minh oan cho những nạn nhân. Vù là sự minh oan đó vẫn còn nằm dưới…công lý của Đảng.

Bản thân Trần Đĩnh cũng giải thích ông đã phải giữ mình như thế nào

Tôi đã giữ được y tứ với bản thân trước hết. May sao cái chất thú hoang nó đã giúp tôi giữ lấy nhân cách cho mình, cái nhân cách hết sức mong manh trong vòng vây của chủ nghĩa tập thể, cái chủ nghĩa nó không biết đến nhân cách. Cái gì dính đến nhân – con người – là nó ghét lắm.

Có lúc ông vẫn hy vọng là cứu giúp đảng cộng sản, mà ông đã tham gia vào thuở thanh niên hăng hái tưởng rằng đó là một lý tưởng sống. Cho đến sau khi cuộc chiến mà ông không ngần ngại gọi là cuộc nội chiến kết thúc. Khi bị khai trừ ra khỏi đảng cộng sản, ông trích lời bố ông rằng đó là một sự kiện vĩ đại của cuộc đời ông.

Cuốn sách được Trần Đĩnh hoàn thành vào năm 2014 của thế kỷ 21. Nhìn lại tư tưởng ủng hộ Liên Xô của ông và các đồng chí vào những năm chiến tranh lạnh, đối đầu với chủ nghĩa Mao, ông viết:

Có lẽ trong những người phản đối cộng sản, có một số rất ghét xét lại chúng tôi vì là “tay sai Liên Xô.” Họ nghe Ðảng nên không hiểu là do kiên trì phản đối nội chiến, chúng tôi đã bị khép tội chống Ðảng, phản động trong bóng tối bí mật bao la của Ðảng.

Lúc đó với chúng tôi, đào đâu ra Human Right Watch, ra Internet, ra Hạ viện Mỹ thông qua nghị quyết đòi Việt Nam tôn trọng nhân quyền, đào đâu ra các thứ blogs ngày ngày đòi thả chúng tôi v. v.?.

Điều này không khác những người cộng sản Đông Âu trước khi bức tường Bá Linh sụp đổ cũng từng hy vọng rằng họ có thể làm cho chủ nghĩa cộng sản trở nên có một khuôn mặt mang tính người hơn.

Và trước khi hoàn tất quyển sách này, Trần Đĩnh vẫn còn đề đạt những gì ông cho là nên làm với chính quyền hiện tại, vẫn còn mang tên cộng sản, nhưng đã tiến hành một cuộc hôn nhân nhiều gai góc với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa.

cựu nữ đồngchí gái trườngsơn

nơi gửi đồnghới

Không gì mới mẻ toàn những điều/những sự việc mà hầu hết những ai thường quan tâm đến vận mệnh quốc dân đã đều hay biết cả rồi.
Có mới mẻ chăng là tăng bồi thêm các tiểu tiết để minh chứng và làm gia tăng tính trung thực, vì chúng được viết lại từ chính những nhân chứng sống/nạn nhân sống/đảng viên sống/những kẻ từng ở hàng ngũ cao cấp của đảng Việt cộng sản, đã từng trực tiếp tham gia/góp phần, từng mục kích, từng trải nghiệm v.v… trong thời kỳ và giai đoạn xảy ra/có những sự thể ấy, nên nó có thể “nhức nhối” hơn những ai khác viết -nhất là người trung dung/không cộng sản/thuộc hàng ngũ đối phương đã từng viết về sự xuẩn động, tà ác, hung hiểm… của bầy bọn Việt công sản.

15/08/2014 10:59

Hồ Choa

nơi gửi Hà Nội

Giáo sư Tương Lai nói :”Thế giới không có Mác thì sẽ tốt đẹp hơn”. Tương tự :”VN không có cộng sản thì sẽ tốt đẹp hơn”.

15/08/2014 04:53

Y Dan

nơi gửi Tam Giang

Chi co nhung con nguoi hoc thuc thieu moi theo CS , Thieu long nhan , thieu luan ly dao duc cua con nguoi . Du sao , toi cung cam thay vui , vi ong van con ti luong tri cua con nguoi de noi len dieu nay .Sau nam 75 toi khong con duoc di hoc het pho thong , nhung toi cung da nhan ra , neu khong la con nguoi vo cam , man ro , thi khong the la nguoi CS .

14/08/2014 15:23

 

Nếu Việt Nam vỡ nợ công – RFA

18 Th8

 

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2014-08-15

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ

In trang này

Hoi-nghi-nganh-dau-tu-3-305.jpg

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại Hội nghị Ngành Kế hoạch và Đầu tư ở Đà Nẵng hôm 7/8/2014.

Courtesy chinhphu.vn

 

 

Gánh nợ quốc gia nguy ngập?

Phát biểu tại Đà Nẵng hôm 7/8/2014 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trấn an toàn dân: “Việt Nam dứt khoát không để vỡ nợ.”Thực tế gánh nợ quốc gia của Việt Nam nguy ngập thế nào mà Thủ tướng phải lên tiếng như vậy.

Trả lời Nam Nguyên, ông Bùi Kiến Thành một chuyên gia có nhiều kinh nghiệm về thị trường tài chính quốc tế từ Hà Nội nhận định:

“Thủ tướng nói như thế nhưng lấy cái gì để bảo đảm Việt Nam không vỡ nợ công. Nếu Việt Nam cứ tiếp tục đi vay nợ như thế này trong tình hình kinh tế không sáng sủa, doanh nghiệp chết hàng loạt. Kinh tế Việt Nam thì khó khăn mà mình cứ việc đi vay như thế thì lấy gì bảo đảm sẽ không vỡ nợ.”

Ngay từ đầu năm nay, TS Lê Đăng Doanh chuyên gia kinh tế độc lập ở Hà Nội đã bày tỏ sự đặc biệt quan ngại về tình trạng nợ công của Việt Nam. Ông nói:

“Theo tôi vấn đề nợ công rất là phức tạp, hiện nay cứ mỗi ba tháng ngân sách Nhà nước phải trả nợ nước ngoài khoảng 1 tỷ USD. Đấy là một khoản nợ không phải là nhỏ và số nợ công trong những năm gần đây đã tăng lên một cách nhanh chóng. Đấy cũng là một yếu tố rất đáng chú ý và rất đáng lo ngại.”

Theo tôi vấn đề nợ công rất là phức tạp, hiện nay cứ mỗi ba tháng ngân sách Nhà nước phải trả nợ nước ngoài khoảng 1 tỷ USD. Đấy là một khoản nợ không phải là nhỏ.
-TS Lê Đăng Doanh

Ngày 31/7/2014 vừa qua Argentina một quốc gia Nam Mỹ đã vỡ nợ lần thứ nhì, sau khi mất khả năng thanh toán 1,5 tỷ USD trái phiếu quốc gia cho cho hai quỹ đầu tư của Mỹ. Một trong các tổ chức đánh giá tín nhiệm là Fitch Ratings đã định giá trái phiếu Argentina xuống mức hạng Junk bond tức không khác gì giấy lộn. Như thế Argentina không thể vay tiền được nữa kể cả từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế, cho đến khi khả năng trả nợ được phục hồi.

Giả thiết trường hợp Việt Nam rơi vào tình trạng vỡ nợ thì điều gì sẽ xảy ra, chuyên gia Bùi Kiến Thành phát biểu:

“Nếu Việt Nam vỡ nợ, tất nhiên hệ số tín nhiệm của tín dụng đối với Việt Nam sẽ rất là thê thảm, trong trường hợp nhà nước muốn vay tiền chỉ số tín dụng từ BB sẽ rơi xuống B- và xuống hơn nữa….như thế làm sao Việt Nam có thể tồn tại trên thị trường tài chính quốc tế. Những chuyện ấy sẽ kéo theo làm cho một nước không thể ngóc đầu lên nổi. Chúng ta đã thấy chuyện đó xảy ra rồi, thí dụ bên Argentina vỡ nợ lần thứ hai kéo theo bao nhiêu hệ lụy của nền kinh tế.”

Từ hai năm qua, các đại biểu Quốc hội, chuyên gia đã lên tiếng báo động về tình trạng nợ công của Việt Nam. Báo động không những về cách tính nhằm giảm nhẹ tổng nợ công thực tế mà còn về tình trạng lãng phí nợ vay nước ngoài thực hiện tràn lan các dự án. Chuyên gia Bùi Kiến Thành nhận định:

“Phải tìm cách hãm lại gánh nợ công, hãm lại đầu tư công, hãm lại những thứ gọi là những phí phạm trong vấn đề quản lý nhà nước, hãm lại những cái rút ruột công trình, hãm lại vấn đề cán bộ nhà nước không kiểm tra đầy đủ chi tiêu nợ công.”

Theo báo điện tử VnEconomy, tại Hội nghị ngành kế hoạch đầu tư tổ chức tại Đà Nẵng ngày 7/8/2014 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo xin trích nguyên văn “Việt Nam dứt khoát không để vỡ nợ, phải bố trí đủ để trả nợ, chủ yếu là trả nợ phần đầu tư xây dựng trước. Trái phiếu cũng phải tính 5 năm. Tổng trái phiếu chính phủ và địa phương sẽ được tính kỹ, căn cứ vào bảo đảm nợ công rồi mới tính phát hành trái phiếu thế nào để có nguồn vốn bổ sung cho đầu tư phát triển nhưng đồng thời phải giữ vững an toàn cho nền tài chính quốc gia.”

Tính nợ công mập mờ?

no-cong-250.jpg
Ảnh minh họa. AFP PHOTO.

Báo cáo của Bộ Tài chính đưa ra tại hội nghị Đà Nẵng cho thấy tổng số nợ công tính đến cuối năm 2013 chỉ là 41,5% GDP. Đây là một chỉ số đẹp toàn hảo nhưng bị các chuyên gia ngoài chính phủ cho là một con số ảo. Theo các chuyên gia độc lập, cách tiếp cận vấn đề nợ công của Chính phủ Việt Nam hoàn toàn khác với thông lệ quốc tế.

Cách tính nợ công mập mờ tách rời những món nợ lớn của doanh nghiệp nhà nước mà chính phủ bảo lãnh gây ra nhiều tranh cãi trong giới chuyên gia.

Chuyên gia Bùi Kiến Thành nhận định:

“Chúng ta thấy tỷ lệ nợ công không rõ ràng, có thể nói là nhà nước không thực sự công bố hết nợ công, phần nợ công nào đi vay nước ngoài, nợ công nào đi vay trong nước; nợ công nào trực tiếp của Trung ương; nợ công nào của địa phương; nợ công nào nhà nước bảo lãnh cho các tập đoàn nhà nước… nếu mà cộng hết những cái đó lại thì không phải 50%-60% GDP như công bố mà có nhiều chuyên gia nói là có thể hơn 100% GDP. Vấn đề ở đây là nợ công và sự an toàn của nó là khả năng trả nợ. Phải có nền kinh tế phát triển tốt thì lúc đó mới có tiền vào ngân sách để trả nợ. Trong khi nền kinh tế Việt Nam ba bốn năm nay các doanh nghiệp chết hàng loạt thì làm sao có khả năng mà trả nợ nổi.”

Báo chí Việt Nam trích lời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kêu gọi sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho đầu tư phát triển. Đó là tiền đề cho sự thúc đẩy tăng trưởng, tạo nền tảng ổn định vĩ mô, tạo công ăn việc làm và đảm bảo an sinh xã hội.

Chúng ta thấy tỷ lệ nợ công không rõ ràng, có thể nói là nhà nước không thực sự công bố hết nợ công, phần nợ công nào đi vay nước ngoài, nợ công nào đi vay trong nước.
-Bùi Kiến Thành

Tuy vậy trên các diễn đàn, chuyên gia ngoài chính phủ trong ngoài nước nhiều lần kêu gọi Việt Nam cải cách thể chế, công khai minh bạch và dân chủ trong kinh tế thì mới có thể phát triển kinh tế bền vững. Tham nhũng đi đôi với lãng phí và đầu tư không hiệu quả. Chuyên gia Bùi Kiến Thành nhận định:

“Thanh tra kiểm tra không đủ cho nên bao nhiêu công trình bị rút ruột. Tất cả các vấn đề nó phải giải quyết chứ không thể để nhà nước bỏ ra 100 đồng mà vào trong công trình có 40-50 đồng còn lại thì bị ăn xén ăn bớt hết, tạo ra những công trình không có chất lượng rồi phải đầu tư thêm để sửa chữa những công trình ấy. Có những công trình không sửa chữa được, một con đường đã hỏng rồi như Đại lộ Thăng Long đi lên Láng Hòa Lạc làm chưa xong đã hỏng rồi, cái nền ở dưới nó hỏng thì phải đào hết nó lên để làm lại hai ba lần. Ông Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư nói là chi phí làm đường ở Việt Nam cao hơn bên Mỹ tới hai ba lần, như thế là làm sao? Không phải chỉ nói nợ công đó là bao nhiêu mà nợ công đó làm gì có ích lợi gì, tồn tại bao lâu. Cái nợ công đó tạo ra nợ công khác. Phải có những biện pháp khống chế vấn đề tiêu xài của nhà nước như thế nào đừng gây ra lãng phí.”

Không riêng nợ công và cách tính nợ công khác thường của Bộ Tài chính Việt Nam cho ra một con số đẹp, cách tính GDP tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam cũng gây cho giới chuyên môn một trận cười bất tận. Thời báo kinh tế Việt Nam trích lời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ngày 7/8 tại Hội nghị Đà Nẵng, xin trích nguyên văn: “Cách tính GDP của các tỉnh thành hiện nay là không xác thực và so với quốc tế thì không giống ai.” Thủ tướng yêu cầu các tỉnh thành từ nay phải tính toán xác thực không tô hồng hay làm sai lệch vì trong những năm qua tỉnh thành nào cũng báo cáo GDP tăng trưởng 10% tới 15% nhưng GDP cả nước chỉ tăng từ 5% đến 7%.

Theo các chuyên gia cách tính GDP không xác thực dẫn tới sai lầm dây chuyền trong nền kinh tế, từ kế hoạch phát triển cho đến đầu tư sai lạc và dàn trải kém hiệu quả. Lần đầu tiên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhìn nhận phương pháp tính GDP của Việt Nam không xác thực và phải mau chóng cải cách. Các kế hoạch kinh tế của 63 tỉnh thành ở Việt Nam dựa trên những con số tô hồng chuốt lục dẫn tới những sai lạc cho cả quốc gia.

Một đất nước với các chỉ số ảo về tăng trưởng GDP, nợ công không được công bố một cách đầy đủ và minh bạch thì khó có thể đảm bảo không có ngày vỡ nợ. Những khoản nợ công bị phung phí ngày hôm nay chính là gánh nặng cho các thế hệ Việt Nam mai sau.

 

Vạ lây và đắc lợi trong cuộc chiến của Putin

17 Th8

 

 

Cuộc đối đầu kinh tế giữa Nga và EU thời gian qua khiến trục quay kinh tế thế giới biến đổi lớn. Thiệt hại chưa biết bên nào phải gánh thì nhiều nước lại âm thầm hưởng lợi, hoặc vô tình thành vật hi sinh.

“Ngư ông đắc lợi”

Khi nền kinh tế thế giới đang điên đảo trước lệnh cấm vận, đáp trả lẫn nhau giữa Nga và Mỹ – EU thì một số quốc gia lại “cười thầm” vì vớ bẫm. Theo The Moscowtimes, lệnh cấm vận của Nga đối với nhiều loại thực phẩm của phương Tây lại là cơ hội lớn cho Brazil và các nước Mỹ La tinh.

Ông Seneri Paludo, thư kí chính sách nông nghiệp Brazil, khoe rằng hợp đồng nhập khẩu thịt các loại liên tục được kí kết kết giữa Nga và nước này. Là quốc gia xuất khẩu thịt gà, thịt bò và đậu nành hàng đầu thế giới, và cũng là quốc gia có sẵn nguồn tài nguyên đất nông nghiệp, rõ ràng Brazil đang đắc lợi.

Lượng thịt bò xuất khẩu sang Nga 6 tháng đầu năm nay chiếm tỷ trọng lớn nhất trong mặt hàng xuất khẩu, còn số đậu nành xuất sang Nga là 352.849 triệu tấn. Con số này tiếp tục tăng nhanh. Các mặt hàng nông sản khác như đường, cà phê, nước cam và chuối cũng tăng chóng mặt so với cùng kì năm trước. Trong năm 2013, xuất khẩu nông sản sang Nga của Brazil trị giá 2,27 tỷ USD. Brazil sẽ cần một thỏa thuận song phương với Nga trong thời gian tới vì đây là quốc gia duy nhất làm tăng đáng kể lượng xuất khẩu của Brazil, khiến nền kinh tế nước này thật sự khởi sắc.

kinh-tế, Trung-Quốc, Brazil, thực-phẩm, xuất-khẩu, nhập-khẩu, trái-cây, thực-phẩm.

Brazil là một trong những nước hưởng lợi nhiều nhất từ cuộc chiến kinh tế Nga -Mỹ, EU

Thay vì nhập khẩu trái cây từ EU và Mỹ như trước, Nga còn hướng sang Chile. Năm 2013, Chile xuất khẩu sang Nga 643 triệu USD chủ yếu là thực phẩm chế biến, cá hồi và hoa quả. Theo ông Felipe Manterola, người đứng đầu tập đoàn công nghiệp Silmon Chile, các công ty đang chuẩn bị để đáp ứng gia tăng nhu cầu thị trường tiêu dùng, đặc biệt là ở Nga.

Cùng với đó, các nước Mỹ la tinh cũng làm mọi cách tăng sản lượng ngô và đậu để bán cho người tiêu dùng xứ Bạch Dương. Nga cũng đã gặp gỡ nhiều đại sứ quán Mỹ La tinh để thảo luận thêm về khả năng tìm kiếm ác nhà cung cấp thực phẩm. Tất cả đã thay đổi từ khi Nga cấm nhập khẩu thực phẩm từ Mỹ và một số mặt hàng từ Liên minh châu Âu.

Một quốc gia khác cũng được hưởng lợi là Trung Quốc. Đây là cơ hội mà Trung Quốc không thể bỏ lỡ, nhất là trong lĩnh vực dầu khí và xây dựng cơ sở hạ tầng. Quốc gia này cũng đang xúc tiến xuất khẩu rau và trái cây cho Nga. Công ty Barong, Trung Quốc lên kế hoạch đầu tư 9,7 triệu USD, xây dựng siêu thị bán sỉ rộng 70.000 m2 và kho chứa 30.000 m2 với trang thiết bị hiện đại gần biên giới Viễn Đông với Nga.

Các công ty dầu khí Trung Quốc cũng “nẫng tay trên” những bản hợp đồng dầu khí lớn từ Mỹ khi các công ty này bị cấm tham gia vào thị trường dầu mỏ có trữ lượng 8,2 nghìn tỷ USD của Nga. Theo hãng tin Ria Novosti, Nga – Trung đã kí bản hợp đồng mua bán các gói khí đốt trị giá khoảng 400 tỷ USD trong vòng 30 năm.

Về tài chính, Bắc Kinh có cơ hội đẩy mạnh hợp tác với Moscow trong bối cảnh các ngân hàng phương Tây bị ra rìa. Nhiều nhà băng ở Hongkong sẵn sàng phục vụ các “Thượng đế” Nga nếu họ bị các ngân hàng Mỹ từ chối. Nhu cầu lớn bất ngờ của Nga đối với đồng đôla Hong Kong (HKD) đã đem lại thuận lợi cho phía Hong Kong. Theo tạp chí Wall Street, từ tháng 7/2014, chính quyền Hong Kong đã chi tới 8,4 tỷ USD để đảm bảo tỷ giá ổn định. Chính sách này của Hong Kong giờ được củng cố nhờ sức mua mạnh đồng tiền HKD từ Nga.

Chuyên gia Smolyaninov nhận xét, các quốc gia đang cạnh tranh với Nga về nguồn vốn ngoại tệ cũng được hưởng lợi khi các nhà đầu tư chuyển hướng sử dụng đồng tiền của họ khỏi thị trường Nga. Nhiều quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ, New Zealand, Belarus… cũng lợi lớn trong bối cảnh hiện nay.

kinh-tế, Trung-Quốc, Brazil, thực-phẩm, xuất-khẩu, nhập-khẩu, trái-cây, thực-phẩm.

Hy Lạp sẽ mất 200.000 du khách từ Nga và 50% lượng du khách từ Ukraina trong năm nay

“Trâu bò đánh nhau, ruồi muỗi chết”

Song, ngược lại, một số quốc gia châu Âu lại đang sống dở chết dở vì mối bất hòa giữa Nga và phương Tây – Mỹ. Một số quốc gia châu Âu lên tiếng sẽ kiện EU nếu nền kinh tế của những nước này bị ảnh hưởng, khiến cuộc sống của người dân gặp khó. Phần Lan cũng lập luận rằng, EU nên xem xét bồi thường thiệt hại cho các thành viên bị ảnh hưởng bởi lệnh cấm vận.

Năm 2013, hãng sữa Valio, Phần Lan đã xuất khẩu trị giá 300 triệu EUR sản phẩm sữa sang Nga nhưng năm nay, hãng đã phải ngừng sản xuất dây chuyền do thị phần giảm mạnh. Nga chiếm 10% lượng hàng hóa xuất khẩu của Phần Lan, do đó các chuyên gia cảnh báo nền kinh tế nước này có thể đương đầu với nền khủng hoảng mới.

Nga vốn là quốc gia nhập khẩu trái cây và rau quả lớn nhất của EU. Theo công ty đầu tư IHS, mỗi năm giá trị xuất khẩu của EU vào Nga lên đến 2 tỷ EUR. Năm 2013, Bỉ xuất sang Nga 490 triệu EUR, còn Hà Lan xuất khẩu sang 600 triệu EUR.

Tại Ba Lan, các nhân vật nổi tiếng trong nước đã phát động một chiến dịch “ăn táo, uống rượu táo” để giảm thiểu khó khăn cho nền kinh tế khi gần 700.000 tấn táo, chiếm 50% tổng sản lượng – bị cấm xuất khẩu sang Nga, thiệt hại có thể lên đến 500 triệu USD. Ba Lan cũng phải lên tiếng yêu cầu Mỹ giúp tiêu thụ lượng táo của họ từ tháng 8 này. Ngoài ra, một số công ty của Na Uy có nguy cơ bị phá sản, trong khi trước đây nước này xuất khẩu sang Nga 1 tỷ USD cá hồi mỗi năm.

Hy Lạp cũng bị ảnh hưởng vô cùng nặng nề khi sự mất giá gần đây của đồng rup Nga giữa hàng loạt lệnh trừng phạt. Tình hình tại Ukraina có thể khiến Hy Lạp mất thêm 200.000 du khách từ nước này và 50% lượng du khách từ Ukraina trong năm nay, tổng thiệt hại có thể lên đến 300 triệu euro.

Nhị Anh

 

Tướng Vịnh: ‘Không thể có hòa bình bằng sự áp đặt’ – VNE

16 Th8

 

“Việt Nam sẽ không bao giờ chấp nhận hòa bình thỏa hiệp, mọi quốc gia dùng sức mạnh quân sự cưỡng chiếm đều sẽ phải trả giá”, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Quốc phòng trả lời VnExpress bên lề Hội nghị Đối ngoại đa phương.

– Đối ngoại đa phương có những tác động như thế nào đối với lĩnh vực an ninh Quốc phòng thưa ông?

– Đây là lần đầu tiên chúng ta tổ chức hội nghị về việc Việt Nam tham gia vào các cấu trúc hợp tác đa phương của khu vực và thế giới, do Bộ Ngoại giao chủ trì. Nhiều học giả, chính khách nổi tiếng thế giới được mời tham dự cho thấy độ mở trong chính sách đối ngoại của Việt Nam: Chúng ta công khai minh bạch, hoạch định chính sách có sự tham gia của cộng đồng quốc tế. Về mặt quốc phòng, tác dụng của diễn đàn đa phương là phòng ngừa xung đột, chiến tranh.

Trước hội nghị này, chúng ta đã tham gia nhiều diễn đàn quốc tế. Thực tế cho thấy, tiếng nói của chúng ta có giá trị vì Việt Nam không chỉ quan tâm đến lợi ích quốc gia mình mà còn gắn với lợi ích quốc gia khác của khu vực và thế giới.

Sự kiện Biển Đông vừa qua là một ví dụ: những quan điểm của Việt Nam đưa ra tại các diễn đàn được hầu hết các nước ủng hộ. Không ai phản đối vì chúng ta cho cả thế giới thấy chính nghĩa của chúng ta gắn với lợi ích chung của cả khu vực trên cơ sở luật pháp mà quốc tế đã thừa nhận.

nguyen-chi-vinh-3-2230-1408103837.jpg

Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh: “Những quốc gia dùng sức mạnh áp đặt lên nước khác, sẽ phải trả giá”. Ảnh: Hoàng Thùy.

– Ông có phát biểu “Một quốc gia tự khu biệt, tự áp đặt ý chí của mình lên các vấn đề chung của thế giới thì thế giới sẽ hỗn loạn”, nhưng thực tế, sự hỗn loạn vẫn đang diễn ra, ông phân tích thế nào về thực tế này?

– Trong thế giới phẳng, lợi ích của mỗi quốc gia còn phụ thuộc vào sự phát triển chung của cộng đồng. Nếu một quốc gia tự áp đặt lên chính quốc gia mình và các quốc gia khác vì những lợi ích cục bộ thì sớm hay muộn họ sẽ phải trả giá và chuốc lấy thất bại.

Nhiều người cho rằng, quy luật chung hiện nay là lớn thắng bé, nhưng tôi cho rằng quy luật phát triển này sẽ không đạt được nền hoà bình bền vững cho đất nước. Một quốc gia có thể dùng sức mạnh cưỡng chiếm lợi ích của một quốc gia khác, nhưng nó sẽ mãi trở thành vấn đề nhức nhối mà họ sẽ phải đối mặt giải quyết. Không thể có hòa bình, ổn định và phát triển dựa trên sự áp đặt, cưỡng chiếm.

Nhìn lại lịch sử của chính Việt Nam sẽ thấy, mọi cuộc chiến tranh gây ra ở đất nước chúng ta đều bị bên ngoài áp đặt. Tuy nhiên chúng ta đều thắng. Thắng không phải vì chúng ta mạnh hơn, không chỉ vì nhân dân ta đoàn kết, mà còn bởi thế giới và chính đối thủ của chúng ta nhận ra đó là cuộc chiến tranh phi nghĩa.

– Trong mối quan hệ đa phương, lợi ích các nước rất khác nhau thậm chí mâu thuẫn. Việt Nam sẽ đối mặt với những thách thức nào trong việc bảo vệ chủ quyền, đặc biệt là khi ở nhiều quan hệ đa phương, Việt Nam rơi vào thế là tiếng nói của một nước nhỏ?

– Trong quan hệ quốc tế nói chung, việc cọ xát lợi ích dẫn đến mâu thuẫn là điều hoàn toàn dễ hiểu. Nhưng giữa các quốc gia chắc chắn sẽ có nhiều điểm đồng, lợi ích chung có thể khai thác. Quan hệ đa phương chính là để tìm ra những điểm đồng để hợp tác, đưa những cái khác biệt ra giải quyết. Tìm điểm đồng sẽ làm giảm bất đồng, xung đột. Sau đó xác định được luật chơi, thống nhất những nguyên tắc cơ bản mà các bên phải thực hiện.

Trong hội nghị diễn đàn đa phương vừa qua, Thủ tướng đã nhấn mạnh, chúng ta sẽ chuyển từ tích cực tham gia sang chủ động đóng góp vào việc xây dựng luật chơi. Điều này là hợp xu thế. Những định chế chung sẽ giúp các nước tránh xung đột và leo thang căng thẳng.

Đứng trước những thách thức, chúng ta công khai những hành xử đúng đắn của mình. Tôi muốn nhấn mạnh rằng, hành xử đúng đắn không phải chỉ nêu vấn đề chủ quyền của quốc gia mình mà còn là lợi ích của các nước khác, trong đó đặc biệt là an ninh của khu vực và thế giới. Ví dụ, Biển Đông không phải là của riêng một quốc gia nào, nếu nó bị độc chiếm bởi sức mạnh bất chấp luật pháp quốc tế thì các nước có an toàn không, hàng hải thế giới có được đảm bảo thông suốt, luật pháp quốc tế có còn được tôn trọng và thực hiện nữa hay không? Đó chính là vấn đề của cộng đồng quốc tế, không riêng Việt Nam.

Bài học lớn nhất trong kế sách bảo vệ Tổ quốc là cuộc chiến chỉ giành thắng lợi khi nó bảo vệ chính nghĩa. Chúng ta phải để thế giới nhận thức đầy đủ bài học này, ngăn chặn được những hành động thiếu kiềm chế của những quốc gia có ý định sử dụng vũ lực với Việt Nam. Chính sách trong quốc phòng Việt Nam là hoà bình và tự vệ. Nhưng hoà bình không phải là cầu hoà. Việt Nam sẽ không bao giờ chấp nhận một thứ hòa bình thỏa hiệp và áp đặt.

Nguyen-Chi-Vinh-1-1293-1408104336.jpg

Tướng Vịnh:”Đây là lúc cần tổ chức, đánh giá lại các lĩnh vực quan hệ song phương”. Ảnh: Hoàng Thùy.

– Trong quan hệ đa phương, một Hợp tác quân sự giữa các nước có chung mối quan ngại sẽ có những giá trị nào với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, thưa ông?

– Trong quan hệ đối ngoại nói chung trong đó có đa phương, Việt Nam không nhắm đến một nước nào cùng mình bảo vệ chủ quyền. Chúng ta cần sự đồng thuận của các quốc gia có chung lợi ích, cùng bị ảnh hưởng nếu chủ quyền của Việt Nam bị đe doạ.

Việc tham gia một liên minh với một nhóm nước nào đó cũng có nghĩa là tự khu biệt lợi ích trong một khuôn khổ cục bộ. Thế mạnh lớn nhất của chúng ta chính là lòng dân, là độc lập, tự chủ và quan hệ quốc tế rộng rãi theo phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa.

– Mọi sự phát triển đều cần dựa trên lòng tin, vậy mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc có thể được cải thiện như thế nào sau giai đoạn vừa qua?

– Tuy quan hệ song phương giữa Việt Nam – Trung Quốc có một số khác biệt, mâu thuẫn cần giải quyết, nhưng bên cạnh đó Việt Nam và Trung Quốc có nhiều lợi ích rất to lớn có thể dung hoà. Đây là lúc cần tổ chức, đánh giá lại các lĩnh vực quan hệ song phương.

Trung Quốc đưa ra ý kiến: gác tranh chấp để cùng phát triển. Chúng ta chỉ có thể chấp nhận điều này khi cùng thống nhất xác định tranh chấp ở đâu, theo đúng luật pháp quốc tế, không được đơn phương, đặc biệt là không được dùng vũ lực, hoặc vũ lực trá hình.

Lòng tin chiến lược được phát triển trên cơ sở những lợi ích chiến lược. Lợi ích chiến lược càng nhiều thì lòng tin càng có cơ sở. Đúng là có nhiều khó khăn, nhưng tôi thấy có cơ sở để Việt Nam – Trung Quốc đạt được sự hài hòa lợi ích để cùng phát triển.

Nhưng hãy chọn cái “gió không cuốn đi được” để đặt niềm tin.

  Hoàng Thùy

 

Mikhail Gorrbachov: “Tôi đã để cho Bức tường Berlin sụp đổ như thế đấy” – BS

15 Th8

Gorrbachov: “Tôi đã để cho Bức tường Berlin sụp đổ như thế đấy”

Posted by adminbasam on 20/10/2009

Tuyệt!

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

 

Thứ Năm, ngày 8-10-2009

Dưới đây là bài trả lời trên nhật báo La Repubblica (Italia) của nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô, nguyên Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorrbachov nhân kỷ niệm 20 năm ngày sụp đổ Bức tường Berlin. Gorrbachov sẽ đến Italia vào giữa tháng 10 để tham dự một hội thảo quốc tế do Diễn đàn chính trị thế giới (WPF) mà ông làm chủ tịch tổ chức để nhìn lại sự kiện lịch sử này.

20 năm sau, Mikhail Gorrbachov hồi tưởng lại những sự kiện đã xảy ra mà ít người biết đến trong sự sụp đổ của Bức tường Berlin. Ngồi trong phòng làm việc của mình ở Moscow, ông nói về những diễn biến của ngày ấy với một sự bình thản. Nhưng bản thân những lời nói của ông lại toát ra biết bao nhiêu tình cảm, sự hài lòng và cả những uất ức về những gì ông đã chứng kiến trong các năm 1988 và 1989, những năm tháng không thể nào quên đã tạo ra một phần của lịch sử thế kỷ 20. Ông nhớ lại những người dân Berlin đã hướng về phía ông mà kêu lên “Gorby”, hãy ở lại cùng với chúng tôi”, “Gorby tự do”. Ông nhớ lại những cuộc gặp mặt với các đảng cộng sản Đông Âu khác trong thời điểm lịch sử thế giới chuẩn bị sang trang mới, những cuộc điện đàm kéo dài với Thủ tướng Đức Helmut Kohl, với “đồng chí” Erich Honecker, người đứng đầu đảng cộng sản Đông Đức, những cuộc chiến nhằm duy trì “perestroika” (sự cải tổ chế độ kinh tế và chính trị của Liên Xô) trong đảng cộng sản Liên Xô và cả những nỗ lực của phương Tây trong việc ngăn chặn quá trình thống nhất nước Đức. “Tất cả đều chống lại tiến trình ấy. Thatcher khẳng định điều đó từ London, Mitterrand từ Paris, Andreotti từ Roma. Họ sợ. Họ muốn ngăn chặn người Đức thống nhất thành một quốc gia hùng mạnh trở lại và họ chờ đợi Liên Xô đưa xe tăng vào Đức cùng với quan lính của Gorrbachov. Trong những cuộc gặp gỡ chính thức, tôi luôn nói thẳng thắn với họ, từng người một về vấn đề nước Đức thống nhất. Thậm chí Mitterrand còn đến gặp tôi ở Kiev. Về câu chuyện này, tôi xin nói thẳng, chỉ có 2 dân tộc anh hùng, là người Đức và người Nga.”

– Gorrbachov, từ khi nào ngài nhận thấy rằng đã đến thời điểm để nước Đức thống nhất?

– Lịch sử không thể diễn ra trong một ngày và tôi không thể chỉ ra chính xác một ngày cụ thể nào. Trên thực tế, sự sụp đổ của Bức tường Berlin chỉ là hồi chót của một quá trình đã diễn ra từ rất lâu. Khi Liên Xô bắt đầu tiến hành một loạt thay đổi mang tính bước ngoặt, như tổ chức cuộc bầu cử đầu tiên, thì ở các nước Đông Âu khác, những cuộc cách mạng đầu tiên cũng diễn ra, theo cả cách êm đẹp và không êm đẹp, khi bắt đầu tiến trình giải trừ quân bị giữa Mỹ và Nga để chấm dứt Chiến tranh Lạnh, với việc tháo bỏ các đầu đạn hạt nhân, thì chúng tôi đứng trước một thực tế hết sức buồn bã, là nước Đức, chỉ nước Đức, đang đứng trước con đường lịch sử. Người Đức cảm thấy bị xúc phạm. Và tôi hiểu điều đó.

– Theo ngài, đâu là thời điểm bắt đầu cho việc tái thống nhất nước Đức?

– Chúng ta đang nói về năm 1988. Đấy là lúc ở Đức bắt đầu xuất hiện những cuộc biểu tình đầu tiên. Tại Moscow, chúng tôi nhận được các tin tức nói rằng các công dân Đông Đức đang tìm cách sang Cộng hòa Liên bang Đức thông qua ngả biên giới Hunggari, lúc đó đã mở cửa biên giới với Áo. Điều tương tự cũng xảy ra với đại sứ quán Đức ở Ba Lan và Tiệp Khắc, nơi mà người Đông Đức có thể xin tị nạn chính trị dễ dàng hơn. Số người làm đơn xin sang Tây Đức theo dạng này ngày càng lên cao và tới một con số khổng lồ vào mùa Hè năm 1989. Những điều đó xảy ra trước khi báo chí nắm được tình hình, rất lâu trước khi Hans-Dietrich Genscher (ngoại trưởng Đức bấy giờ) tuyên bố tại Praha, Tiệp Khắc (nay là Cộng hòa Séc và Slovakia), rằng nước này sẽ mở cửa biên giới với Cộng hòa liên bang Đức. Lịch sử đã được viết theo cách ấy và các sự kiện tiến triển theo từng ngày, với 2 khả năng duy nhất xảy ra, hoặc là chúng ta tìm cách để chế ngự chúng và phát triển theo ý chúng, hoặc là chúng ta bị chúng cuốn trôi.

– Như vậy là vào lúc đó, ngài cho rằng việc thống nhất nước Đức là không thể tránh khỏi?

– Những gì mà tôi biết được vào cuối năm 1988 là đã quá muộn để ngăn chặn các sự kiện này lại. Người Đông Đức không hề có ý định chấm dứt các cuộc biểu tình để trở về nhà và họ đấu tranh đến cùng, cho đến khi đạt được mục đích mới thôi. ngày 26/1/1989, trong khi ở Berlin đang diễn ra những cuộc biểu tình mới, tôi triệu tập một cuộc họp khẩn cấp của trung ương đảng cộng sản Liên Xô mở rộng, với sự có mặt của các đại diện tướng lĩnh quân đội, để hỏi ý kiến của họ. Tất cả cùng thống nhất rằng người Đức sẽ không chịu buông xuôi và họ không còn tuân lệnh của Liên Xô nữa.

– Đảng cộng sản Liên Xô không cảm thấy sợ hãi trước sự thống nhất của nước Đức sao?

– Đấy là một thời điểm hết sức nóng bỏng. Trong đảng nổ ra những cuộc đấu tranh nảy lửa chống lại tôi và chống lại perestroika. Lúc đó, hàng loạt cải cách về chính trị cũng như những cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên của chúng tôi được đưa ra bàn luận. Năm 1989, trung ương đảng họp ngay sau khi diễn ra cuộc bầu cử vào tháng 3 với kết quả rất đáng chú ý, là bầu cử tự do, danh sách ứng cử từ 7 đến 27 thành viên, thay vì một cái tên duy nhất như trước đây. Lần đầu tiên tất cả các tổ chức và lực lượng chính trị đưa ra các ứng viên của họ và cuối cùng, 35 bí thư ở các vùng của đảng không trúng cử. 84% các nghị sĩ quốc hội Liên Xô là đảng viên đảng cộng sản. Trong cuộc họp ấy, trung ương đảng không chấp nhận cho nước chúng tôi cũng như các quốc gia khác cấu thành khối các quốc gia trong hiệp ước Vacsava, có thể quyết định quyền tự chủ nếu như thay đổi những người lãnh đạo. Đấy là cơ hội để những người chống đối trong đảng đứng lên chống lại những cải cách chính trị và coi đó như là những đe dọa chết người đối với họ, và họ chống đối rất quyết liệt. Họ đã từng im lặng trong một thời gian dài, vì không có đủ can đảm để bước lên đấu tranh. Rất nhiều lần tôi đã phải dùng nắm đấm để đập lên bàn nhằm giữ trật tự.

– Thế còn những nhà lãnh đạo Đức thì sao?

– Năm 1989, tôi sang Đức 2 lần. Tháng 6/1989, tôi sang Bonn và gặp Kohl. Đó là một cuộc nói chuyện rất chân tình. Các nhà báo có hỏi tôi về việc liệu chúng tôi có bàn với nhau về các sự kiện xảy ra trên đất Đông Đức không. Dĩ nhiên là chúng tôi có thảo luận về điều ấy, nhưng chúng tôi không quyết định điều gì cả. Đấy không phải là một vấn đề có thể bàn bạc trên bàn. Chính lịch sử sẽ phán xét chúng tôi. Khi nào ư? Tôi và Kohl cùng đưa ra câu trả lời cứ như là chúng tôi cùng một lúc nhất trí với nhau về điều ấy: không phải thế kỷ 21. Tuy nhiên, các sự kiện đi theo một con đường khác. Điều mà chúng tôi thấy rõ ràng là không thể ngăn cản được những gì xảy ra trên đất Đức. Kohl đã gọi điện cho tôi nhiều lần và câu hỏi mà tôi luôn nghe là “Chúng ta phải làm gì đây?”. Tôi nói với ông ấy: “Ngài cứ bình tĩnh và không được làm bất cứ điều gì manh động, nếu không chúng ta sẽ gặp rắc rối lớn đấy”. Chính vào lúc ấy, ông ấy đưa ra 10 điểm bàn về việc để cho 2 nước Đức sát lại gần nhau, với một loạt lộ trình quan trọng cho việc thống nhất. Ở Moscow, chúng tôi không cảm thấy hào hứng lắm với việc làm của Kohl, nhưng chúng tôi hiểu là việc tiến hành bầu cử ở nước Đức thống nhất sau này đã buộc ông ấy phải hành động.

– Ngài thấy điều gì khi đến Berlin?

– Tôi tới Berlin vào ngày 6/10/1989, để kỷ niệm 40 năm ngày thành lập nước Cộng hòa dân chủ Đức. Tôi còn nhớ là vào lúc đó, tôi nhận thấy một bầu không khí bất ổn. Quyền lực của đảng đã không còn giúp họ kiểm soát được đất nước nữa. Đấy là một thực tế được thừa nhận, chưa nói gì đến các vấn đề có liên quan trực tiếp đến Bức tường Berlin. Có cảm giác là người Đức cảm thấy dường như mình đã bị bỏ rơi và lãng quên, chỉ riêng họ thôi, trong khi thế giới xung quanh đã thay đổi nhanh chóng, mà điều ấy thì bức tường lại ra sức ngăn cản. Người dân không còn chịu đựng được nữa. Từ nhiều tháng trước đó, các quảng trường luôn chật cứng những người biểu tình chống chế độ. Khi tôi sang đó, trong những sự kiện được tổ chức nhân 40 năm quốc khánh Đông Đức, có cả Fackelzug, lễ rước đuốc tuần hành, với sự tham gia của các đại diện từ 28 vùng trong cả nước. Đứng trước tôi có một nhóm thanh niên trẻ trung gào lên bằng tiếng Đức, “Gorrbachov, hãy ở đây một tháng nữa thôi”, “Gorby, tự do”. Thủ tướng Ba Lan Tadeusz Mazowiecki đến gặp tôi và nói: “Mikhail Sergeevich, ngài có hiểu tiếng Đức không?”. Tôi trả lời: “Đọc hiệp định bằng tiếng Đức thì khó, chứ những gì mà họ gào lên với tôi, tôi hiểu cả”. Ông ấy trả lời: “Thế thì bây giờ ngài sẽ hiểu rằng đấy chính là sự kết thúc”.

– Có đúng là Honecker đã tiết lộ với ngài một trong những rắc rối lớn nhất của ông ta không?

– Tôi đã gặp ông ấy trong những ngày đó và nói chuyện khá dài, ít nhất là 3 tiếng. Tôi quan sát ông ấy khá kỹ và tôi cảm thấy ông ấy không ổn lắm, tôi có cảm giác là dường như tất cả không hiểu được sự vĩ đại của những sự kiện đang xảy ra quanh họ, không biết được những gì mà họ phải đối đầu ở phía trước. Chính vì thế, ngày hôm sau, tôi đề nghị được gặp tất cả các ủy viên trung ương đảng cộng sản Đông Đức. Tôi không buộc tội ai cũng như không buộc ai phải phản ứng. Trung thành với nguyên tắc mà tôi đã chọn, tôi kể lại cho họ nghe về perestroika, về việc tại sao và như thế nào mà trong một số trường hợp, chúng ta đưa ra những quyết định chậm trễ khiến phải trả giá đắt và nếu ngược lại thì như thế nào. Trong một số trường hợp, chúng ta lại tỏ ra quá vội vã, tự đẩy chúng ta vào những tình huống hết sức khó khăn. Tôi nói rằng để nắm bắt được tiến trình đang xảy ra, cần phải hết sức thông minh. Thế rồi bài nói chuyện hôm đó trở nên nổi tiếng, và được đúc kết lại thành công thức “Ai đến chậm, lịch sử sẽ trừng phạt người đó.”

– Mikhail Sergeevich, các nhà lãnh đạo châu Âu phản ứng như thế nào. Họ muốn duy trì sự tồn tại của Bức tường Berlin ư?

– Ngoại trừ Mỹ ra, tất cả đều phản đối. Thacher khẳng định là bà không ủng hộ. Bà không nói điều này một cách công khai, mà nói trong một cuộc gặp chính thức với tôi. Andreotti chống lại và đặc biệt Mitterrand chống kịch liệt. Ông nói: “Tôi yêu nước Đức rất nhiều. Tôi muốn cứ duy trì hai nước Đức cùng lúc. Tất cả các nhà lãnh đạo Âu châu đều sợ, nhưng họ lại không đưa ra được bất cứ đề xuất nào về việc làm sao để đối phó với tình hình. Tôi nói rõ với họ là tôi muốn bức tường sụp đổ và nước Đức cần thống nhất, nhưng họ muốn chúng tôi ngăn cản họ lại, bằng quân đội của Gorbachov. Tất cả đều đến gặp tôi, từng người một, và yêu cầu một cách công khai. Mitterrand thậm chí còn sang tận Kiev để bàn bạc với tôi về vấn đề này.

– Ngài có hối hận điều gì không?

– Tôi đã nghĩ đến điều này hàng nghìn lần trong những năm qua, rằng điều gì có thể sẽ xảy ra, nếu như quân đội và xe tăng sẽ rời trại để lên đường đến Berlin. Chắc chắn sẽ có đổ máu. Thế chiến thứ 3 có thể sẽ tới. Tôi bây giờ có thể tin chắc vào điều đó. Phần còn lại, thì tôi đã nói ngay từ đầu, với lãnh đạo các nước trong khối Vácsava, rằng Liên Xô sẽ không can thiệp vào nội tình nước họ. Họ có thể không tin tôi, nhưng tôi luôn giữ lời. Chúng tôi không hề nhúng tay vào bất cứ việc gì liên quan họ. Và đấy chính là bi kịch lớn của họ.

* Mời đọc thêm: Cựu Ngoại trưởng Liên Xô Eduard Shevardnadze: “Tôi đã góp phần vào việc kết thúc chiến tranh lạnh”.

 

VN trước trò chơi bá quyền của TQ

15 Th8

 

 

Nhỏ không có nhất thiết là yếu và lớn không đồng nghĩa với mạnh. VN có thể có sức mạnh và ảnh hưởng nếu biết cách sử dụng sức mạnh mềm – TS Nguyễn Hùng Sơn.

LTS: VietNamNet trân trọng giới thiệu phần cuối  của Bàn tròn trực tuyến TQ trỗi dậy và lựa chọn nào cho VN?

Kỳ 1: Vì sao không ai muốn TQ giành địa vị thống trị?

Kỳ 2:Mỹ khiến TQ hiếu chiến hơn ở Biển Đông?

Làm sao buộc TQ tuân thủ cam kết?

Nhà báo Việt Lâm: Đại sứ Bindenagel đã nhấn mạnh rằng phải đảm bảo luật lệ số một ở Biển Đông là không thay đổi các đường biên bằng vũ lực. Nguyên tắc này đã được quy định trong luật pháp quốc tế như Công ước LHQ về Luật Biển, hay trong Tuyên bố chung DOC ký giữa ASEAN và Trung Quốc. Nhưng thực tế cho thấy, dù TQ là một bên tham gia cam kết, họ vẫn sẵn sàng phớt lờ, thậm chí vi phạm chúng. Theo các khách mời, có cách nào để giải quyết thách thức có lẽ là lớn nhất hiện nay, đó là làm sao để buộc TQ tuân thủ luật chơi chung?

TS Nguyễn Hùng Sơn: Tôi nghĩ đây là một câu hỏi gai góc. Bởi vì đối với TQ, rất khó để buộc họ tuân thủ một điều gì đó trừ phi chính họ nhận thấy lợi ích của họ sẽ được đảm bảo tốt nhất nếu họ tôn trọng các cam kết này.

biển Đông, TQ, VN

Từ trái qua phải, TS Nguyễn Hùng Sơn, Viện phó Viện Biển Đông, cựu Đại sứ Mỹ tại Đức JD Binnadel và nhà báo Việt Lâm. Ảnh: Lê Anh Dũng

Chẳng hạn như phải làm sao để thuyết phục TQ rằng tuân thủ UNCLOS có lợi cho chính họ. Chúng ta có thể nói với TQ rằng sự tăng trưởng kinh tế thần kỳ của nước này dựa trên sự bùng nổ của thương mại toàn cầu và điều này sẽ không thể xảy ra nếu các đại dương rơi vào hỗn loạn, nếu luật biển không được các quốc gia tôn trọng và nếu như không có tự do lưu thông hàng hải. Do vậy, Trung Quốc phải nhận thức được rằng chính lợi ích quốc gia lâu dài của họ đòi hỏi họ phải bảo đảm tự do hàng hải và trật tự trên biển cũng như duy trì nguyên trạng trật tự dựa trên luật lệ hiện nay.

Tôi tin rằng TQ không tư duy chỉ với một bộ óc. Còn có những người dân TQ, những người thực sự hiểu Luật Biển, những người thực sự hiểu và nhận thấy lợi ích quốc gia của TQ trong việc hội nhập đầy đủ với cộng đồng quốc tế.

Tuy nhiên, có những nhóm lợi ích khác ở TQ, chẳng hạn như nhóm diều hâu, họ theo đuổi những lợi ích ích kỷ của nhóm mình thay vì lợi ích quốc gia. Họ đang tạo ra trò chơi ngắn hạn của nhóm mình dựa trên tổn thất của đất nước về lợi ích và hình ảnh. Chúng ta cần chỉ cho người TQ thấy điều đó. Và một khi TQ nhận ra được điều đó, tôi tin là họ có thể hành xử khác đi.

Đại sứ Bindenagel: Tôi cho rằng dẫn chứng mà TS Sơn vừa nêu ra rất hữu ích. Sau cùng thì ngoại giao vẫn còn cơ hội. Sứ mệnh của ngoại giao là nhận diện những lợi ích đó và sắp xếp sao cho có kết quả đúng.

Hãy xem sự thịnh vượng kinh tế của TQ kể từ thời Đặng Tiểu Bình. Rõ ràng, chính việc gia nhập WTO đã góp phần quan trọng tạo nên kì tích này. Thế nhưng dù TQ đã tham gia WTO song tình trạng vi phạm bản quyền sở hữu trí tuệ vẫn thường xuyên diễn ra. Đến một lúc nào đó, sở hữu trí tuệ ở TQ sẽ phát triển đến mức mà Chính phủ TQ buộc người dân phải tuân thủ cam kết. Đây chính là những động lực mà tôi nghĩ chúng ta cần phải tạo ra khi ứng phó với TQ.

Do đó, Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP có thể đóng vai trò quan trọng trong tiến trình này. Khi TPP được thông qua, nó sẽ tạo ra một thị trường rộng lớn với hơn 800 triệu người tiêu dùng. Và chúng ta phải chỉ ra cho họ thấy lợi ích của họ, chỉ ra sự liên quan đến những vấn đề khác, chẳng hạn chỉ ra họ có các quan hệ kinh tế xuyên Thái Bình Dương, Đại Tây Dương và WTO và những lợi ích đó đang bị thách thức bởi những gì xảy ra ở Biển Đông, tuyến đường biển của 60-80% thương mại toàn cầu. Làm thế nào chúng ta có thể liên hệ những lợi ích của họ đến nhu cầu giải quyết các tranh chấp lãnh thổ một cách hoà bình.

Vậy chúng ta có thể làm được điều đó thông qua con đường ngoại giao như thế nào? Làm sao định hình một cấu trúc khả thi cho phép xoay chuyển các lợi ích hướng đến một kết quả đúng đắn?

Đây cũng là chủ đề mà Diễn đàn Toàn cầu Boston đang tập trung bàn thảo hiện nay. Nhưng để làm được điều đó, đòi hỏi sự minh bạch và phải dứt khoát bác bỏ những yếu tố mang hơi hướm ý thức hệ hay dân tộc chủ nghĩa.

Nếu chúng ta có thể gắn kết lợi ích với các nguyên tắc, chúng ta sẽ gây dựng được nền tảng cho một cấu trúc khả thi để đảm bảo an ninh trong khu vực.

biển Đông, TQ, VN 

Sau mỗi bài học, ASEAN trưởng thành hơn

Nhà báo Việt Lâm: Thế thì diễn đàn nào sẽ là nơi thích hợp để bàn thảo những vấn đề này đây? Theo các ông, ASEAN và các cơ chế của nó có còn thích hợp để thảo luận ứng xử với TQ khi mà những sự kiện vừa qua ở Biển Đông cho thấy ASEAN đã không thể hiện được sự đoàn kết và quyết tâm mạnh mẽ khi đối diện với TQ. Đây cũng là nội dung câu hỏi của bạn đọc Linh Xuân.

Đại sứ Bindenagel: Tôi cho rằng cấu trúc của ASEAN chưa đủ trưởng thành. Nhưng mặt khác tôi cũng sẽ không bác bỏ cấu trúc đó. Tôi sẽ nói rằng bạn cần phải quay về với ASEAN và thúc đẩy các cuộc thảo luận cùng nhau. Còn Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á lại là một cơ cấu khác, vì đây là một nhóm lớn hơn. Ngoài ra, chúng ta có thể giải quyết song phương. Có rất nhiều vấn đề bạn có thể giải quyết song phương trong khuôn khổ đa phương.

Về phần Mỹ, trong các cuộc thảo luận với TQ, chúng tôi luôn nhấn mạnh rằng chúng tôi có thể hỗ trợ tìm kiếm các giải pháp hoà bình cho những tranh chấp hiện nay. Chúng tôi cũng làm rõ quan điểm rằng một số hành động khiêu khích đã vượt quá giới hạn.

Tôi nghĩ là ASEAN có thể làm rõ điều đó, rằng đâu là giới hạn không được vượt qua. Hi vọng rằng sẽ không có cuộc khủng hoảng nào xảy ra ở Biển Đông. Nhưng theo thời gian, chúng ta có thể xây dựng sự hiểu biết và cởi mở cho phép ASEAN có thể có những bước đi chưa từng có trước kia.

TS Nguyễn Hùng Sơn: Tôi nghĩ có những chỉ trích đối với ASEAN là bởi  người ta đặt quá nhiều kỳ vọng vào tổ chức này. Thử tưởng tượng xem nếu không có ASEAN thì sao? Đâu sẽ là nơi để bạn thảo luận DOC? Đâu là nơi để thúc đẩy an ninh hàng hải ở Đông Nam Á.  

Trong bối cảnh mà ngoại giao có vai trò quan trọng để ngăn ngừa những tính toán sai lầm và tăng cường hợp tác, liệu những điều đó có thể xảy ra không khi thiếu vắng những cơ chế mà ASEAN đã tạo ra. Vì thế, tôi không phủ nhận sự thực rằng ASEAN đã không đủ khả năng ngăn chặn một số vụ việc xảy ra trên biển Đông, nhưng sau mỗi sự vụ, ASEAN đã học được bài học nào đó và trở nên tiến bộ hơn.

Lấy ví dụ ngay sự kiện giàn khoan vừa qua, ASEAN đã ra tuyên bố mạnh mẽ nhất trong 20 năm trở lại đây khi chỉ trích đích danh TQ đã gây ra vụ việc. Và không chỉ với tư cách một nhóm, từng thành viên ASEAN cũng đã thúc đẩy chính sách Biển Đông của họ theo hướng làm sao để trở thành người chơi tích cực hơn, đóng góp vào việc duy trì hoà bình trên Biển Đông.

Đặc biệt ngay cả những nước không có tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông cũng đóng góp vào tiến trình này. Ví dụ, Thái Lan và Myanmar, cũng đã đóng góp rất tích cực để thúc giục ASEAN đạt được một tuyên bố chung với TQ. Dĩ nhiên, không có gì xảy ra ngay sau một đêm, chúng ta cần kiên nhẫn với ASEAN. Cho họ thời gian và họ sẽ trưởng thành.

Đại sứ Bindenagel: Cùng với sự tham dự của Mỹ?

TS Nguyễn Hùng Sơn: Đúng vậy. Đó cũng là một trong những mục đích của ASEAN.

Đại sứ Bindenagel: Tôi hiểu điều đó. Tôi tin rằng Mỹ có lợi ích khi hiện diện ở khu vực này, đồng thời chúng tôi cũng có lợi ích khi các điểm nóng ở đây được giải quyết một cách hòa bình. Và nếu bây giờ chưa giải quyết được thì chí ít cấu trúc mà chúng ta đang đề cập đến sẽ cho phép các chính phủ hoặc giới doanh nghiệp sử dụng các kênh ngoại giao để tìm kiếm các cách thức thay đổi thực trạng theo hướng tích cực hơn.

Tuy nhiên, tôi muốn bổ sung một cách thận trọng rằng ngoại giao nếu không có thực lực quân sự hỗ trợ thì cũng giống như một dàn giao hưởng không có nhạc cụ. Tôi không nói rằng cần phải sử dụng sức mạnh quân sự, nhưng bạn cần phải có năng lực để buộc đối phương tôn trọng cam kết. Chuẩn bị cho xung đột chính là cách hữu hiệu để ngăn ngừa xung đột.

biển Đông, TQ, VN 

Phối hợp nhuần nhuyễn song phương và đa phương

Nhà báo Việt Lâm: Đây là một luận điểm khá thú vị. Vậy ông nghĩ sao về đề xuất của một số học giả Mỹ tại cuộc hội thảo của Diễn đàn Toàn cầu Boston tuần trước, rằng Mỹ cần phải hỗ trợ từng nước ứng phó với áp lực từ TQ?

Đại sứ Bindenagel: Không, tôi không đồng ý với quan điểm này. Tôi nghĩ rằng điều quan trọng là các bên tham gia tranh chấp giải quyết song phương với TQ, bên cạnh việc tận dụng các kênh đa phương. Trong trường hợp của Việt Nam và TQ, hai bên cần có các cuộc đối thoại song phương ở các cấp độ khác nhau trong chính phủ nhằm đảm bảo rằng các bên không tính toán sai lầm.

Về lâu dài, các cuộc đối thoại song phương cần có sự tham gia của các nhóm khác nhau, có thể là các think-tank như Học viện Ngoại giao, giới doanh nhân, quân đội. Những nhóm này có thể ngồi lại với nhau để bàn thảo về các kịch bản có thể xảy ra, khả năng nào là khả thi, kết quả có thể là gì?

Tôi đã từng tham gia đàm phán giải quyết vấn đề kim cương máu [1] giữa cộng đồng doanh nghiệp và các nhóm đấu tranh xã hội. Các nhóm này gần như đã phá hủy ngành công nghiệp kim cương. Nhưng đến cuối cùng họ đã ngồi lại với nhau và cùng thảo luận xem kết quả tốt nhất có thể đạt được là gì. Hai bên cùng đồng ý thiết lập hệ thống chứng nhận nguồn gốc để kiểm soát kim cương, nhờ đó số lượng kim cương từ vùng chiến sự đã được giảm hẳn và gần như loại bỏ ra khỏi thị trường. Tất nhiên, tôi không tin rằng các quốc gia có thể đàm phán song phương thành công với TQ bởi sự chênh lệch về vị thế và thực lực. Do đó, như tôi đã nhấn mạnh, cần phải có sự phối hợp nhuần nhuyễn giữa song phương và đa phương. Nhưng không phải là tham gia liên minh chống TQ. Như tôi nói ngay từ đầu, Mỹ và VN sẽ không thành lập liên minh để chống TQ. Điều đó sẽ không hiệu quả.

TS Nguyễn Hùng Sơn: Tôi đồng ý với ý kiến của ông Đại sứ là không thể có một cấu trúc đơn lẻ nào giúp giải quyết mọi vấn đề. Tôi nghĩ rằng khả thi hơn cả là một kiến trúc an ninh khu vực, như chúng tôi thường gọi, trong đó bao gồm các cơ chế song phương và đa phương phục vụ cho các nhóm người chơi khác nhau. Các cơ chế này có thể có nhiều hình thức, chính thức hoặc không chính thức, miễn sao chúng giúp loại bỏ những mơ hồ, thiết lập một tầm nhìn và  nhận thức rõ ràng trong các tay chơi. Đấy là lý do vì sao ASEAN với tư cách một người chơi quan trọng trong khu vực đã ra sức thúc đẩy việc hình thành một khuôn khổ nhiều tầng nhiều lớp, với nhiều tiến trình đa phương mà ở đó các quyền thành viên khác nhau, mục đích khác nhau. Đôi khi, những cơ chế này bị chỉ trích là chồng lấn lên nhau, song theo quan điểm của ASEAN, chúng phù hợp với lợi ích đa dạng của các nước trong khu vực cũng như giúp bình ổn một khu vực đang có rất nhiều bất ổn.

Nhà báo Việt Lâm: Vâng, nhân đây độc giả có một câu hỏi dành cho TS Nguyễn Hùng Sơn. Chúng ta thấy rằng để ứng phó với sự trỗi dậy của TQ, nhiều nước vừa và nhỏ trong khu vực đã điều chỉnh chính sách đối ngoại của mình, vận động khôn khéo để tạo cân bằng và giành lợi thế. Còn VN thì sao?

TS Nguyễn Hùng Sơn: Trước hết, tôi phải nói rằng nhỏ không hẳn là yếu và lớn không nhất thiết là mạnh. Cho dù có diện tích lớn như Trung Quốc thì điều đó cũng không có nghĩa rằng Trung Quốc rất mạnh. Bản thân TQ đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề nội tại, và theo một cách nào đó thì TQ vẫn có nhiều điểm yếu. Và VN, cho dù là một nước nhỏ cũng không có nghĩa là chúng ta yếu. Chúng ta có thể có sức mạnh và ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế nếu VN biết cách sử dụng sức mạnh mềm. Hãy nhìn vào Singapore, một nước nhỏ như vậy nhưng không ai dám nói rằng họ yếu ớt về mặt chính trị. Họ đã thể hiện được sức mạnh vượt ra ngoài tầm vóc của họ.

Vậy thì đâu là lựa chọn cho VN? Tôi nghĩ lựa chọn của VN là đi với cộng đồng quốc tế và được cộng đồng quốc tế bảo vệ. Điều đó có nghĩa rằng chúng ta phải hội nhập và hợp tác đầy đủ với cộng đồng quốc tế. Chúng ta nên ủng hộ những luật chơi mà cộng đồng quốc tế đã tán thành, đó là luật pháp quốc tế. Chúng ta nên nỗ lực ủng hộ việc thực thi luật pháp quốc tế. Cụ thể là chúng ta nên làm rõ và diễn giải luật pháp quốc tế trong bối cảnh ở Biển Đông, cũng như thúc đẩy cho cách thức diễn giải đó được tất cả các quốc gia trong khu vực, trong đó có TQ, chấp thuận.

Chúng ta cần đóng góp làm cho ASEAN mạnh lên và có tiếng nói mạnh mẽ trên sân khấu quốc tế. Nếu ASEAN có thể gây ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế trong khu vực, khi đó VN cũng sẽ có vị thế và ảnh hưởng tốt hơn. Tôi tin rằng đây là cách tiếp cận mà VN, với tư cách là một nước vừa/nhỏ, nên cân nhắc trong bối cảnh một thời đại mà người ta đang phải chứng kiến ngày càng nhiều các trò chơi bá quyền.

Đại sứ Bindenagel: Tôi thích cách mô tả này. Nhưng tôi muốn thêm vào một chút, là VN có thể mở rộng đến tầm toàn cầu. Các bạn có Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương, có WTO. Chỉ riêng trong những tổ chức này, vai trò mà VN có thể đóng góp sẽ thực sự có ý nghĩa quan trọng bởi những tổ chức này đã thiết lập được một khung luật chơi.

Tất nhiên đây là những vấn đề khó đối với VN. Bởi để có tiếng nói và vị thế toàn cầu, VN cần phải cải tổ nền kinh tế, lắng nghe người tiêu dùng toàn cầu để hiểu được nhu cầu của họ là gì. Đảm bảo rằng các nguy cơ trong chuỗi cung ứng mà các bạn tham gia được giải quyết. Bởi nếu không, khả năng xảy ra những vụ bê bối như vụ các nhà máy thực phẩm cung ứng hàng kém chất lượng cho KFC hay Mc Donald ở TQ sẽ hủy hoại tất cả.

Bất kể vị trí nào mà VN muốn giành được trong chuỗi cung ứng này thì tên tuổi và thương hiệu của VN cũng phải gắn với chất lượng cao, sự tin cậy và an toàn. Khi đó, VN sẽ thể hiện được mình ở tầm vóc toàn cầu chứ không chỉ trong khu vực nữa.

Nhà báo Việt Lâm: Cuộc thảo luận hôm nay rất thú vị và có nhiều điểm cần phải được bàn sâu thêm. Rất tiếc là không còn thời gian nữa. Xin  cảm ơn hai vị khách mời đã tham gia bàn tròn hôm nay. Xin cảm ơn quý độc giả đã quan tâm theo dõi.

VietNamNet

 

Mỹ muốn giúp VN giải quyết thách thức bảo vệ chủ quyền

15 Th8

 

 

– Chiều 14/8, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp Đại tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ đang có chuyến thăm làm việc 4 ngày tại VN, theo lời mời của Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng QĐND VN.

TIN LIÊN QUAN

Mỹ, chủ quyền, Biển Đông
Ảnh: VOV

Đây là chuyến thăm đầu tiên của Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ đến VN kể từ năm 1975.

Đánh giá cao kết quả cuộc hội đàm giữa Đại tướng Martin Dempsey và Thượng tướng Đỗ Bá Tỵ cũng như những thỏa thuận mà hai bên đạt được, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng chuyến thăm sẽ là một đóng góp quan trọng cho sự phát triển quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước.

Cho rằng tiềm năng và lĩnh vực hợp tác giữa hai bên còn rất lớn, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định Việt Nam mong muốn cùng Hoa Kỳ, 2 bên nỗ lực đưa quan hệ 2 nước tiếp tục phát triển trên tất cả các lĩnh vực ngày càng thiết thực hiệu quả.

Thủ tướng nhất trí và ủng hộ việc tiếp tục triển khai 5 nội dung hợp tác quốc phòng mà hai bên đã thỏa thuận, trong đó có hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh như khắc phục hậu quả chất da cam/dioxin, rà phá bom mìn còn sót lại; hợp tác trong lĩnh vực đào tạo tiếng Anh cho sỹ quan quân đội VN; hợp tác và hỗ trợ VN tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ, sớm dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN.

Về phần mình, Đại tướng Martin Dempsey khẳng định chuyến thăm của ông là một cam kết đối với hòa bình và ổn định trong khu vực và mong muốn của Hoa Kỳ trở thành đối tác tốt của VN.

Ông chia sẻ với đánh giá rằng hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở châu Á – Thái Bình Dương, nhất là ở Biển Đông và Hoa Đông đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi những đòi hỏi phi lý và hành động xác lập chủ quyền dựa trên sức mạnh đơn phương. Điều này không chỉ đe dọa Việt Nam, các nước ASEAN mà còn đe dọa tới lợi ích của các nước, trong đó có Hoa Kỳ.

Đại tướng cho rằng Hoa Kỳ và các nước trong khu vực có những mối quan tâm chung và những quan ngại được nêu ra là có cơ sở khi một nước lớn muốn định hình khu vực này theo ý đồ của họ. Ông Martin Dempsey cũng nhấn mạnh rằng các nước, trong đó có Hoa Kỳ đều có trách nhiệm duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không trong khu vực; ủng hộ việc giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước LHQ về Luật biển năm 1982, không đơn phương sử dụng sức mạnh, sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực.

“VN và các nước trong khu vực hoàn toàn yên tâm rằng Hoa Kỳ sẽ luôn nhắc lại quan điểm này” – ông nói.

Đại tướng Martin Dempsey khẳng định Hoa Kỳ cam kết hợp tác quốc phòng với VN trong 5 lĩnh vực đã thỏa thuận; cam kết chặt chẽ và nỗ lực cùng với VN giải quyết hậu quả chiến tranh và coi đây là vấn đề mà Hoa Kỳ coi trọng và ưu tiên. Hoa Kỳ cũng ủng hộ Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ; mong muốn hợp tác trong lĩnh vực an ninh hàng hải và giúp VN giải quyết những thách thức về bảo vệ chủ quyền trên biển.

Ông cũng cho biết phía Hoa Kỳ sẽ tìm ra lộ trình và cách thức để sớm dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN. “Hiện số lượng những người trong chính phủ, quốc hội, giới ngoại giao và quân đội ủng hộ dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho VN ngày càng lớn” – Đại tướng Martin Dempsey khẳng định.

H.Anh

 

Phạm Xuân Nguyên: “Việt Nam thiếu tác phẩm lớn vì thiếu tư duy lớn” – RFI

14 Th8

 

Bìa sách " Nổi Buồn Chiến Tranh" của Bảo Ninh, một trong những tác phẩm gây tiếng vang lớn ở Việt Nam đầu thập niên 1990.

Bìa sách ” Nổi Buồn Chiến Tranh” của Bảo Ninh, một trong những tác phẩm gây tiếng vang lớn ở Việt Nam đầu thập niên 1990.
Thanh Phương

Vì sao văn học Việt Nam vẫn không có những tác phẩm lớn? Đó là câu hỏi đã nhiều lần được đưa ra thảo luận trong những năm gần đây. Chưa nói đến những tác phẩm có tác động mạnh đến thế giới hoặc được thế giới biết đến nhiều, trong những năm gần đây nền văn học Việt Nam có phần nào im ắng, không còn xuất hiện nhiều những hiện tượng như Nguyễn Ngọc Tư với “Cánh đồng bất tận” hay trước đó là Nguyễn Huy Thiệp với “Tướng về hưu” hay Bảo Ninh với “Nổi buồn chiến tranh”, trong khi sách dịch các tác phẩm của thế giới thì tràn ngập thị trường Việt Nam.

Như vậy, có thể lý giải như thế nào cho tình trạng này? Trả lời phỏng vấn RFI Việt ngữ qua điện thoại từ Hà Nội, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, tác giả cuốn tiểu luận phê bình “ Nhà văn như Thị Nở”, được xuất bản cách đây vài tháng, cho rằng cái chính đó là thế hệ nhà văn hiện nay còn thiếu tính chuyên nghiệp và quan trọng hơn là thiếu những tư duy lớn, lý do về hạn chế tự do sáng tác ở Việt Nam chỉ là một phần nguyên nhân thôi. Sau đây mới quý vị nghe phần phỏng vấn nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên.

RFI : Thưa nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, cách đây vài tháng ông có cho ra mắt độc giả cuốn tiểu luận phê bình đầu tiên của ông, tựa đề « Nhà văn như Thị Nở », điểm lại các tác phẩm văn học từ đầu thế kỷ 20 cho đến nay. Trước khi nói về tình trạng của văn học Việt Nam hiện nay, ông có đánh giá như thế nào về những chuyển biến của văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 đến nay ?

Phạm Xuân Nguyên : Trong thế kỷ 20, nền văn học Việt Nam chuyển từ quỹ đạo của nền văn học Trung đại sang văn học Hiện đại. Chúng ta biết rằng chữ quốc ngữ được dùng để viết văn chương theo kiểu Tây là từ cuối thế kỷ 19 cho đến 30 năm đầu thế kỷ 20. Đó là giai đoạn giao thời, giai đoạn chuyển tiếp, khi nền văn học Việt Nam đi từ giai đoạn Trung đại của hệ thống văn học phương Đông, đến khi phương Tây vào, chủ yếu là Pháp, đem theo những hệ thống, thể loại, quan điểm văn học mới. Từ đó mới tạo ra ví dụ như thơ mới, mà các nhà phê bình gọi là cuộc « cách mạng trong thơ ca ».

Rồi đến nhóm « Tự lực Văn đoàn », với những tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam,v.v…. Rồi một loạt những bùng nổ văn học mà chúng ta vẫn quen gọi là giai đoạn văn học 1932-1945. Có thể nói đó là sự hình thành nền văn học Việt Nam theo trào lưu của thế giới, theo các quan niệm, loại hình, thể loại văn học của thế giới. Từ đó cho đến hiện nay, văn học Việt Nam cũng vận động theo sự vận động của văn học thế giới, mặc dù do những hoàn cảnh lịch sử, như cách mạng, chiến tranh, thường bị gián đoạn, bị lệch pha so với thế giới.

Cho đến bây giờ, thời kỳ của thế giới phẳng, trong nước mở cửa ra nước ngoài và thời đại của tin học, tuy có vẻ cập nhật hơn, nhưng thật ra bao giờ văn học Việt Nam cũng đi sau văn học thế giới. Tuy vậy, nó cũng phát triển đồng hành với thế giới. Về mặt trào lưu, lý thuyết, văn học Việt Nam thế kỷ 20 bước sang thế kỷ 21 cũng là nằm trong quỹ đạo đấy, mà trong nước, giới phê bình vẫn gọi là quá trình « hiện đại hóa văn học dân tộc ». Hiện đại hóa ở đây có nghĩa là đưa văn học dân tộc, văn học trong nước đi ra với văn học thế giới và bắt kịp văn học thế giới.

RFI : Thưa ông Phạm Xuân Nguyên, đầu thế kỷ 20, với nhóm Tự lực Văn đoàn, chúng ta có những tên tuổi lớn như là Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, hay Nguyễn Công Hoan. Gầy đây chúng ta có những nhà văn có những tác phẩm lớn như Nguyễn Huy Thiệp chẳng hạn. Gần hơn nữa, chúng ta có những nhà văn trẻ như là Nguyễn Ngọc Tư. Nhưng trong những năm gần đây, người ta có cảm tưởng là không còn có những tác phẩm gây tiếng vang lớn, những tác phẩm chất lượng cao như những năm trước. Theo ông, lý do vì sao ?

Phạm Xuân Nguyên : Câu hỏi đặt ra là vì sao chúng ta chưa có những tác phẩm lớn, chưa có những tác phẩm đạt tầm nhân loại, đi ra thế giới được ? Hay như vừa rồi, người ta cũng đã đặt câu hỏi là Việt Nam đã có những đóng góp gì mang tầm cở thế giới, ví dụ như những phát minh khoa học, tư tưởng triết học, tác phẩm nghệ thuật, tác phẩm văn học lớn, để trở thành giá trị của nhân loại ?

Nhìn lại thì ta thấy là sự đóng góp của Việt Nam cho thế giới còn rất ít. Nói riêng về văn học, câu hỏi lớn vẫn là : hình như chúng ta không có tác giả lớn, hình như chúng ta không có tác phẩm lớn ? Dường như vẫn có sự bất cân xứng giữa cái mà văn học thế giới đưa vào Việt Nam với cái mà văn học Việt Nam đưa ra thế giới.

Có thể nói là chúng ta dịch được rất nhiều, nhất là hiện nay. Các tác phẩm lớn, các tác giả lớn của thế giới vào Việt Nam rất dễ dàng và nhanh chóng. Đọc xong rồi thì mọi người giật mình tự hỏi rằng thế thì văn học Việt Nam được thế giới biết đến như thế nào ?

Về những tác giả Việt Nam được biết đến nhiều nhất hiện giờ thì có lẽ phải kể đến Nguyễn Huy Thiệp và Bảo Ninh. Các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp được dịch ra hầu hết các thứ tiếng chính của thế giới. Rồi nhà văn Bảo Ninh với cuốn tiểu thuyết cho đến bây giờ vẫn là duy nhất của ông, « Nổi buồn chiến tranh », cũng được dịch ra rất nhiều thứ tiếng và cũng được đánh giá rất cao.

Thế thì câu hỏi đặt ra : Vì sao Việt Nam chưa có tác phẩm lớn ? Những câu trả lời đã được đưa ra. Ví dụ như hình như chúng ta vẫn cứ quẩn quanh ở những vấn đề của Việt Nam, mà chúng ta chưa chạm tới cái phần nhân loại trong Việt Nam, của Việt Nam, bởi vì suy cho cùng, văn học rất mang tính dân tộc, rất mang tính địa phương, nhưng dù là người Nga, hay Pháp, hay Mỹ thì cũng là con người trên hành tinh này, với những vui buồn, sướng khổ, những đau đớn, những hạnh phúc, những suy tư và cảm nhận đều là của con người.

Thế thì tại sao những tác phẩm lớn của thế giới có thể lay động được người đọc, dù là ở nơi nào trên hành tinh này, kể cả ở Việt Nam ? Còn tại sao ở Việt Nam, văn học có vẻ vẫn còn mang tính cục bộ, địa phương, ít mang tính nhân loại ? Có phải do nhà văn Việt Nam kém tài không ? Hay là do hoàn cảnh phát triển của văn học Việt Nam không được tự do, cởi mở ?

Có một thời thì đúng là có những hạn chế tự do sáng tạo. Bây giờ có cởi mở hơn, nhưng vẫn có những hạn chế. Còn về phía chủ thể của người cầm bút, phải chăng là do họ thiếu tính chuyên nghiệp, tức là thiếu suy nghĩ về những chủ đề đề tài lớn, quan trọng, và đầu tư lao động nghệ thuật để thể hiện những chủ đề, đề tài đó ? Hiện nay rất ít nhà văn suy tư trên những chủ đề lớn, vấn đề lớn, những đề tài mà dù câu chuyện trong tác phẩm rất nhỏ, nhưng khi viết ra vẫn lay động được người đọc.

Câu hỏi khác nữa : Phải chăng các nhà văn hiện nay xa rời đời sống của dân tộc, của nhân dân ? Có phải là họ chỉ quẩn quanh trong những vấn đề của cá nhân, vụn vặt, mà không dám phản ánh, suy tư về những vấn đề lớn ? Cũng có một phần lý do là đấy. Nhà văn Nguyễn Quang Thiều, một gương mặt cũng nổi bật của thế hệ sau 75, bây giờ là phó chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, cũng nói là hình như các nhà văn Việt Nam hiện nay không sống với đời sống bây giờ.

RFI : Có thể là họ tránh đụng chạm đến những chủ đề bị coi là nhạy cảm ?

Phạm Xuân Nguyên : Vâng. Nếu có cái sự tránh né đó thì đấy cũng là bản lĩnh của nhà văn và cũng là khuyết điểm của nhà văn. Anh tránh né có thể là vì anh sợ đụng chạm, sợ liên lụy, sợ rầy rà. Nhưng mặt khác cũng là do anh không đủ sức, không đủ tầm để xử lý đề tài đó.
Ví dụ rất ít những tác phẩm đặt ra những vấn đề lớn của dân tộc Việt Nam, tất nhiên không phải đặt ra một cách trừu tượng, mà thông qua một thế hệ, một gia đình…Nhà văn trong nước hay hải ngoại cũng thế thôi. Có lần trao đổi với nhà văn hải ngoại ở Cali nhân dịp đi sang Mỹ tháng 5 vừa qua, tôi có nói rằng : Nếu nói là trong nước ít tự do sáng tạo hơn, còn bị những rào cản, kiểm duyệt, thế thì các nhà văn hải ngoại, sống ở các xứ sở tự do, không bị những cái đó, thực tế cũng không có những tác phẩm lớn.

Phải chăng người Việt mình không tư duy lớn được ? Vấn đề này phải được đặt rộng hơn nữa : Chúng ta không có một truyền thống triết học, truyền thống tư tưởng, truyền thống văn học đạt đến những tầm kích nhân loại, nói những vấn đề của dân tộc, buộc người trong nước đọc nó mà phải sởn da gà lên, phải rùng mình để cùng nghĩ về dân tộc, về đồng loại, và từ đó đi ra thế giới.

RFI : Thưa ông, trước khi nói đến những tác phẩm có tác động lớn đến thế giới, thì chúng ta phải có những tác phẩm có tác động lớn đối với dư luận trong nước. Vấn đề là trong thời gian gần đây rất khó tìm ra những « hiện tượng văn học » như những năm trước. Vì sao ? Phải chăng là do nhà văn bây giờ lo kiếm cơm hơn là sáng tác về đề tài có thể gây phản ứng, gây tranh luận ?

Phạm Xuân Nguyên : Chúng ta vẫn có một đời sống văn học. Sách vẫn in ra nhiều. Các nhà văn vẫn viết. Nhưng khó tìm một tác phẩm, tác giả gây được những tác động lớn đến dư luận xã hội. Ví dụ như Nguyễn Huy Thiệp, khi xuất hiện với những truyện ngắn của anh như “Tướng về hưu”, “Không có vua”, “Muối của rừng”, rồi những chuyện về lịch sử như “ Kiếm sắt”, “Vàng lửa”, “Phẩm tiết”, ông đã gây ra một biến động xã hội rất lớn. Ai cũng đọc, ai cũng bình luận, đưa đến thay đổi về cách đọc, cách đánh giá.

Năm 1988, cách đây hơn 25 năm, tập truyện ngắn đầu tiên của Nguyễn Huy Thiệp “Tướng Về Hưu” đã gây tiếng vang lớn, vì nhà văn đó hình như không phải là làm văn chương nữa, mà đã trở thành như một diễn đàn của xã hội, như là tiếng nói của xã hội, phản ánh một thực tại, lý giải một thực tại và cách phản ánh, lý giải ấy khác với văn chương trước đó, khiến người ta phải giật mình, phải đi ra khỏi thói quen, lối mòn, phải nhìn lại thực tại sau khi đọc tác phẩm của nhà văn bằng một con mắt khác.

Hồi đó chưa ai biết Nguyễn Huy Thiệp là ai cả, thế mà một nhà văn tầm cở như Nguyễn Khải, sau khi đọc “Tướng về hưu” còn hoảng sợ nói rằng: “ Tôi cầm bút cả đời, nhưng may ra tôi viết được một phần ba truyện như vậy”. Nguyễn Huy Thiệp chưa biết là ai, nhưng đã động tay vào cái lâu đài văn học của chúng ta, tức là đưa đến một cách nhìn khác.

Bảo Ninh cũng vậy. Người ta vẫn viết về chiến tranh, nhưng hình như tất cả vẫn viết theo một lối viết chung. Những tác phẩm khác đều miêu tả chiến tranh khốc liệt, gian nan, kinh khủng, nhưng rồi cũng ngợi ca chiến thắng. Còn ở đây tác giả đã đặt ngay cái tên “Nổi buồn chiến tranh”. Sau khi đã vòng vo đổi tên thành “Thân phận tình yêu”, cuối cùng tác phẩm này cũng trở về với cái tên cúng cơm là “ Nổi buồn chiến tranh”. Một nhà văn lúc đó chưa có tên tuổi gì, nhưng đã viết về cuộc chiến từ nổi buồn, hoàn toàn khác trước.

Chúng ta nói đến hai tác giả ấy để nói rằng một tác giả lớn, một tác phẩm lớn là khi tác phẩm của họ có khi còn vượt ra khỏi văn chương. Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh bằng các tác phẩm của họ đã lay động được tâm thức của xã hội, lay động được cảm xúc của xã hội.

Sau những cách viết như thế thì người ta sẽ không viết như củ được nữa. Sau “Nổi buồn chiến tranh”, người ta không thể viết về chiến tranh như cũ được nữa và sau khi có Nguyễn Huy Thiệp rồi thì người ta đã viết khác. Các nhà văn này đi vào văn học bằng một cái nhìn mới, viết đúng với cảm nhận của họ.

Cũng như Nguyễn Ngọc Tư là một ca rất lạ. Cô không sống ở những trung tâm văn hóa, không sống ở thủ đô, mà ở một miền tận cùng đất nước. Truyện của cô cũng hoàn toàn là những câu chuyện lấy cảnh, vật và người của miền quê đồng bằng sông nước Cửu Long ra tận Cà Mau, nhưng tài năng của cô và cách viết của cô khiến người ta đọc vào mà không thấy đó là chuyện của vùng miền Nam bộ, mà là chuyện của thân phận, của con người, đặc biệt là chuyện “Cánh đồng bất tận”. Nhà văn nào cũng muốn tác phẩm mình viết ra đều là tác phẩm hay, nổi bật, một mặt đó là tài năng, nhưng một mặt nữa hình như là nền văn hóa, nền tư tưởng của cộng đồng để làm bệ đở cho nhà văn còn thấp.

RFI: Như vậy phải chăng một phần lỗi là do nền giáo dục Việt Nam không phải là một nền giáo dục cởi mở, giảng dạy cho học sinh những trào lưu tư tưởng, những triết lý khác nhau của thế giới, để thế hệ bây giờ có những suy nghĩ sâu xa hơn?

Phạm Xuân Nguyên: Cũng có một phần lỗi của giáo dục, nhưng nhìn rộng ra thì đúng là dân tộc ta không quen tư duy, hiểu theo nghĩa tư duy theo lý thuyết, tư duy theo hệ thống, tư duy bằng những phạm trù trừu tượng. Tư duy về những vấn đề bản thể luận, nhận thức luận cũng rất ít.

Và cũng do đó, các nhà văn của chúng ta viết được một tác phẩm đầu nhờ năng khiếu, nhờ khả năng ban đầu, rồi sau đó thì cạn vốn, không viết được nữa và cùn mòn rất nhanh. Đặc biệt là các nhà văn của chúng ta cũng lười, ít đọc lý thuyết, học hỏi kinh nghiệm viết của nước ngoài. Nhìn về mặt bút pháp, nghệ thuật, văn chương Việt Nam cũng còn nghèo nàn lắm, đơn điệu lắm. Rất ít những người tìm tòi, thử nghiệm. Đấy là nguyên nhân.

Còn nói về lỗi vủa giáo dục thì cũng đúng. Cái cách dạy văn trong nhà trường, cũng như cách phân tích tác phẩm văn học trong nhà trường cũng không tạo ra được một lớp độc giả to lớn trong văn học, bởi vì không chỉ nhà văn tạo ra độc giả, mà độc giả cũng tạo ra nhà văn, vì nó có một sự quan hệ qua lại nào đó. Điều này có thể lý giải phần nào vì sao chúng ta chưa có những tác phẩm lớn, tác phẩm hay, tức là những tác phẩm đánh động được tâm thức của cộng đồng, đọc xong có thể thay đổi tâm thức, nhận thức và buộc người đọc khi đọc xong phải nhìn lại thực tại, cuộc sống bằng một con mắt khác.

RFI: Chúng ta không còn gặp lại những hiện tượng như “Cánh đồng bất tận”, phải chăng bởi vì Nguyễn Ngọc Tư và những tác giả trước đó như Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh đã gặp nhiều rắc rối khi cho ra những tác phẩm gây tiếng vang như vậy?

Phạm Xuân Nguyên: Thật ra điều này không phải là nguyên nhân chính. Nói các nhà văn sợ rắc rối, sợ liên lụy, sợ vượt rào nên không viết ra là làm sang cho họ. Thật ra thì các nhà văn của chúng ta lười lắm. Chưa thấy ai tập trung, đi sâu vào một đề tài nào đó và tìm tòi cách thể hiện nó. Các nhà văn của chúng ta vẫn cứ sản xuất đều đều và bằng lòng với những tác phẩm chỉ kể ra một câu chuyện và kết thúc trong khuôn khổ cái câu chuyện ấy mà thôi. Nếu anh suy nghĩ mãi về một đề tài, thì anh sẽ tìm được ví dụ như một thứ thơ, một cốt truyện và từ đó đi sâu, tìm cách thể hiện cốt truyện đó như thế nào cho nó thật là ám ảnh, thật ra day dứt.

Đọc lại Nguyễn Huy Thiệp ta sẽ thấy là mỗi truyện ngắn của ông ấy đều có một tư tưởng. Có thể nói là các nhà văn của chúng ta hiện nay không có một tư tưởng. Nếu nhà văn có tư tưởng thì đọc vào sẽ thấy khác ngay. Có thể đề tài đó được người ta khai thác chán rồi, nhưng nhà văn vẫn có thể có một cách nhìn khác, có cách thể hiện khác và đọc xong thì người ta phải giật mình.

Hoàn cảnh xã hội, môi trường sáng tác chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ là chủ thể của nhà văn, bởi vì nhà văn luôn luôn tự do đối với chính mình, không một gông cùm nào, một rào cản, một chế độ kiểm duyệt nào có thể bẻ gẫy được nhà văn, nếu nhà văn không tư bẻ gẫy mình. Cái chính là ở nhà văn, ở cái lao động sáng tạo, lao động văn học của nhà văn là phải nghiêm túc, chuyên nghiệp, chứ không thể đổ lỗi cho hoàn cảnh được.

Những nhà văn lớn trên thế giới cũng là bài học đấy thôi. Nếu lấy một ví dụ rất gần Việt Nam, ta có thể chọn nhà văn đoạt giải Nobel Văn học 2012 là Mạc Ngôn. Mạc Ngôn cũng viết trong hoàn cảnh như các nhà văn Việt Nam, thậm chí ông còn bị kỷ luật. Thế nhưng ông đã tạo ra một vùng quê Cao Mật của ông trong tiểu thuyết. Rồi ông viết toàn bộ tác phẩm của ông, xoáy sâu vào đời sống của nông dân Trung Quốc và từ đó xâu chuỗi lại, tạo dựng lại để buộc người ta phải nhìn lại cái hiện thực xã hội Trung Quốc qua những biến thiên cách mạng, biến động xã hội.

Còn các nhà văn của chúng ta, có người viết được ít cuốn rồi thôi, buông lơi. Ít có nhà văn nào tập trung đi xuyên suốt một chủ đề nào đó. Tính chuyên nghiệp của nhà văn là ở chỗ đó. Viết thường xuyên, viết đều đặn, những phải là có hệ thống, xuyên suốt một chủ đề. Không thể hôm nay viết về nông thôn, ngày mai thích thì lại nhảy sang thành thị, đang viết chiến tranh thì lại viết sang những thứ khác, mà không có một sợi dây liên tục, không tập trung vào một chủ đề, đề tài xuyên suốt toàn bộ sự nghiệp của mình, rồi bằng khả năng văn học, đóng góp cho xã hội một cách nhìn, cách nhận thức. Cho nên vấn đề chính vẫn là từ chủ thể nhà văn.

RFI: Xin cám ơn nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên.

 

 
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên

 
01/08/2014
 
 

TỪ KHÓA : Việt Namnhà vănVăn họcTạp chí

 

Toà án VN ‘không nhân danh công lý’ – BBC

14 Th8

 

 

Cập nhật: 09:45 GMT – thứ sáu, 25 tháng 7, 2014

Câu nói của Chủ tịch Sang bộc lộ ra một vấn đề của tư pháp Việt Nam

Trong buổi làm việc với cán bộ tòa án nhân dân tối cao hôm 15/7, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã phát biểu: Tòa án phải mang lại công lý cho mọi người.

Câu nói này bộc lộ đằng sau đó cả một vấn đề to lớn của hệ thống tư pháp.

 

Có một điều ít người biết đó là lâu nay tòa án chưa bao giờ đem ‘công lý’ đến cho mọi người.

Đây chỉ là lối nói ẩn dụ muốn gây sự chú ý, và vấn đề cũng đáng phải chú ý thật vì: Từ ‘công lý’ hoàn toàn vắng bóng trong nền tư pháp Việt Nam.

Có thật vậy không?

Tìm hiểu qua gần trăm bản án và quyết định của tòa án thì thấy không có một từ ‘công lý’ nào.

Tìm hiểu một số bản cáo trạng của viện kiểm sát và bản kết luận điều tra của cơ quan điều tra thì cũng không thấy từ ‘công lý’.

Xét một số văn bản luật quan trọng quy định việc xét xử thì thấy: Bộ luật tố tụng hình sự, bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính đều không có từ công lý.

Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự hay luật tổ chức tòa án cũng không có từ công lý.

Dường như có một sự mặc cảm tâm lý gượng gạo không được tự nhiên khi sử dụng từ công lý

Do không có điều kiện để khảo sát hết, nhưng hình như từ ‘công lý’ không được sử dụng trong các văn bản tư pháp, từ kết luận điều tra, cáo trạng đến bản án đều không dùng từ công lý.

Thực tế trong 9 năm hành nghề luật sư, đã làm việc tại hàng trăm phiên tòa và không biết bao nhiêu buổi làm việc với điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán tôi đều không thấy họ nhắc đến hai từ ‘công lý’.

Nhưng vì sao từ công lý lại không được nhắc đến trong các văn bản tố tụng và hiếm khi được nói ra từ miệng các cán bộ tư pháp thì hình như mọi người đều chưa nhận ra lý do.

Ngoài xã hội thì sao?

Tòa án thuộc hệ thống tư pháp ‘không được quyền’ mạnh hơn bên hành pháp

Xem xét báo chí thì thấy cũng ít khi sử dụng từ công lý hoặc có bài nhắc đến thì hóa ra là những sự vụ chẳng lấy gì làm lớn lao hay nghiêm túc.

Những bài báo viết về các vụ án đa phần chỉ viết một chiều không công tâm khách quan, lời lẽ thì nặng phần đả kích nên khi từ công lý được nhắc đến thì lại thấy kệch cỡm sáo rỗng.

Dường như có một sự mặc cảm tâm lý gượng gạo không được tự nhiên khi sử dụng từ công lý.

Những cơ quan ngôn luận lớn như Đài truyền hình, đài tiếng nói đôi khi cũng lớn tiếng kêu gọi thực thi công lý nhưng là trong các vụ kiện quốc tế khi Việt Nam đòi bồi thường về chất độc màu da cam hay các vụ kiện về cá basa.

Người dân khi có việc liên quan tới tòa án thì cũng chẳng bao giờ thấy nói đến công lý. Trong đời sống thường nhật nếu có ai nhắc đến công lý thì luôn kèm theo sự cảm thán.

Chẳng thế mà trong đời sống đã có một câu nói tới nay đã thành quen thuộc đó là: Công lý chỉ là một diễn viên hài.

Câu nói đã phản ánh sự thất vọng đối với nền tư pháp vắng bóng công lý song cũng kết hợp với yếu tố hài để xoa dịp nỗi oán thán vì trong làng nghệ sĩ hài Việt Nam có một người tên là Công lý.

Vậy phải chăng nền tư pháp Việt Nam không có khả năng đem lại công lý?

Điều đó không hẳn đúng, nhưng rõ ràng có một sự rất bất bình thường khi từ công lý bị chối bỏ không được sử dụng trong nền tư pháp.

Điều này có liên quan thế nào với việc hệ thống tòa án lâu nay hoạt động yếu kém biểu hiện qua các tệ trạng như xử án oan sai, tình trạng chạy án, nhận hối lộ, nhũng nhiễu đương sự bằng cách kéo dài thời gian giải quyết án.v.v.

Nữ thần công lý

Chúng ta biết rằng hệ thống pháp luật Châu Âu với một lịch sử lâu đời đã tạo nên biết bao thành tựu cho nhân loại, trong đó nhiều khái niệm, hình tượng và chế định pháp lý giờ đã trở thành phổ quát cho toàn thế giới.

Nhiều khái niệm và chế định pháp lý của pháp luật Việt Nam là sản phẩm vay mượn từ hệ thống pháp luật Châu Âu.

Tòa án nước ngoài nhân danh công lý để xét xử nhưng tòa án ở Việt Nam thì không

Nhưng có những hình tượng pháp lý mặc dù đã là phổ quát nhưng lại gặp khó khăn khi du nhập vào Việt Nam, ví như hình tượng Nữ thần công lý.

Nữ thần công lý là hình tượng một người phụ nữ có một dải băng che mắt mang ý nghĩa tránh sự chi phối ảnh hưởng từ bên ngoài để giữ sự công tâm khách quan, một tay cầm cán cân để phân định đúng sai phải trái, tay kia cầm thanh gươm biểu tượng của quyền uy tòa án.

Nữ thần công lý có nguồn gốc từ thời văn minh La Mã, là hình tượng tín ngưỡng mang yếu tố tâm linh được tôn vinh và hy vọng đem đến công lý cho con người.

Niềm tin công lý theo đó xuất phát từ niềm tin tôn giáo, là thuộc tính tâm hồn được khơi nguồn từ một thực thể mang tính thần thánh, trong khi đó ở Việt Nam chính thể hiện tại là vô thần.

Đây là chướng ngại lý giải vì sao hình tượng nữ thần công lý không được phổ biến ở Việt Nam và từ ‘công lý’ không được nhắc đến trong nền tư pháp.

Nhân danh gì?

Hệ thống tòa án được thiết kế trên cơ sở học hỏi hệ thống tòa án Phương Tây, nhưng một số khái niệm hay hình tượng do không phù hợp nên khó vận dụng vào Việt Nam như hình tượng nữ thần công lý.

Điều này dẫn đến là khi bị khuyết thiếu những thành tố để cấu thành nên một hệ thống hoàn chỉnh thì người ta đã xoay sở để có được thành tố phù hợp đắp vào chỗ còn thiếu.

Ví như vấn đề tòa án xét xử nhân danh cái gì?

Tòa án nước ngoài nhân danh công lý để xét xử nhưng tòa án ở Việt Nam không nhân danh công lý, thay vào đó tòa án nhân danh nhà nước hay nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nhưng sự bù đắp kiểu này lại gây ra những bất cập mà nếu mổ xẻ ra sẽ cho thấy những điều vô lý.

Nếu tòa án nhân danh nước cộng hòa thì không ổn, vì đất nước mặc dù cao quý nhưng không có tinh thần, không có tâm hồn nên đất nước không được cho là thực thể có khả năng đoán định đúng sai đem lại công lý.

Nếu nhân danh nhà nước thì cũng không ổn, vì nhà nước chỉ là sản phẩm công cụ của con người, có thể trở thành một bên đương sự đối trọng với người dân.

Trong hệ thống pháp luật đã có một luật là Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, vậy khi Nhà nước có sai phạm và trở thành một bên đương sự thì làm sao Nhà nước vừa là người phán quyết đem lại công lý vừa là đương sự được?

Hệ thống tư pháp là sản phẩm vay mượn từ bên ngoài nhưng các chế định pháp lý đã bị uốn chỉnh sao cho phù hợp với thực tế trong nước, nhưng vì nhiều nguyên do khác nhau nó trở thành một hệ thống không hoàn chỉnh.

 

Nền tư pháp đã rất kém trong việc đảm bảo công lý và xử lý tội phạm

Bài toán khó

Nhà nước đã nhận ra những điều bất cập của hệ thống tư pháp nên đã có chủ trương sửa đổi cải cách tư pháp và Chủ tịch nước là Trưởng ban chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương.

Chủ tịch nước yêu cầu tòa án phải mang lại công lý cho mọi người, đây có thể là một ẩn ý sâu xa chứa đựng một chủ trương lớn.

Theo đó trách nhiệm nặng nề được giao cho tòa án làm sao hóa giải các mâu thuẫn để đưa hình tượng nữ thần công lý vào hệ thống tư pháp vốn không theo tôn giáo nào.

Tức là nội hóa một triết thuyết pháp lý quan trọng của thế giới.

Nhưng tòa án có thể biến khó thành dễ bằng việc sử dụng chữ ‘công lý’ trong các bản án để đem ‘công lý’ đến cho mọi người.

Nếu muốn tòa án còn làm được gì hơn thế, đem đến công lý thực chất cho mọi người thì phải nâng cao vị thế chính trị và mở rộng quyền hạn pháp lý cho tòa án.

Nhưng vấn đề là một khi tòa án lớn quyền thì lại là mối đe dọa đối với các chủ thể khác.

Lâu nay quyền tư pháp yếu hơn rất nhiều so với quyền hành pháp.

Chính phủ đã thụ hưởng sự an toàn từ một nền tư pháp yếu.

Nền tư pháp đã rất kém trong việc đảm bảo công lý và xử lý tội phạm.

Chủ trương cải cách tư pháp đã có nhưng việc này khó thể thành công nếu vẫn chối bỏ ‘công lý’ và quyền tư pháp vẫn bị kìm giữ trong tình trạng yếu kém như lâu nay.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của luật sư Ngô Ngọc Trai, Giám đốc Công ty luật Công chính từ Hà Nội.

Thêm về tin này

 

 

Mỹ khiến TQ hành xử hiếu chiến hơn ở Biển Đông?

14 Th8

 

Khi Tổng thống Obama tuyên bố quần đảo Senkaku nằm trong diện bảo hộ của Hiệp ước an ninh Mỹ – Nhật, Trung Quốc đã rút lui và căng thẳng hạ nhiệt. Vấn đề là ở Biển Đông đang thiếu vắng một cấu trúc cho phép các bên có thể phán định được đâu là giới hạn không nên bước qua, từ đó ngăn chặn những toan tính sai lầm – cựu Đại sứ Mỹ tại Đức nhận định.

LTS:VietNamNet trân trọng giới thiệu phần 2 cuộc bàn tròn với chủ đề: Sự trỗi dậy của Trung Quốc và lựa chọn cho Việt Nam.

Phần 1:Vì sao không ai muốn TQ giành địa vị thống trị?

Biển Đông, Putin, Giàn khoan, Nga, Trung Quốc, Trường Sa, Hoàng Sa, bằng chứng chủ quyền, tòa quốc tế
Từ trái qua phải: TS Nguyễn Hùng Sơn, Đại sứ Bindenagel và Nhà báo Việt Lâm

Vai trò của Mỹ

Nhà báo Việt Lâm: Chúng ta đã phân tích các khía cạnh liên quan đến sự trỗi dậy của Trung Quốc. Trong một cục diện mới đang hình thành hiện nay thì Mỹ có vai trò như thế nào?

Đại sứ Bindenagel: Tôi cho rằng có một sự hiểu lầm cơ bản về vai trò của Mỹ trong cách nhìn nhận của Trung Quốc, hay thậm chí của một số nước láng giềng. Điều này dường như đang thay đổi sau khi Trung Quốc trở nên hiếu chiến hơn. Câu hỏi dành cho Mỹ là liệu Mỹ có thể đóng vai trò gì khi Trung Quốc trỗi dậy?

Trước tiên, phải nói rằng những cuộc chiến tranh trên bộ, như chiến tranh Việt Nam và Triều Tiên là câu chuyện thời Chiến tranh Lạnh. Và Chiến tranh Lạnh đã qua được 25 năm rồi. Nhiều nhà phân tích khi nhìn vào Mỹ thường hay nói rằng Mỹ vẫn đang tiếp tục Chiến tranh Lạnh. Điều đó hoàn toàn sai. Chúng tôi không làm như vậy. Kiểu tư duy Chiến tranh Lạnh đã kết thúc nhưng Mỹ vẫn phải đóng vai trò ở khu vực này. Bởi vì trước hết, chúng tôi là một cường quốc Thái Bình Dương, cho nên chúng tôi có mọi quyền để hiện diện ở đây. Những gì mà Mỹ đang cố gắng thực hiện là đảm bảo ổn định khu vực.

Tôi muốn làm một so sánh với kinh nghiệm của Châu Âu. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, Mỹ nhanh chóng rút khỏi châu Âu. Sau đó Mỹ bị Liên Xô thách thức và phải quay trở lại. Vì vậy, Mỹ đã quay lại châu Âu với tư duy Chiến tranh Lạnh nhằm kiềm tỏa Liên Xô. Tuy nhiên, Mỹ cũng triển khai một số chiến lược khá tương đồng với cuộc tranh luận hiện nay ở khu vực. Chúng tôi đỡ đầu cho Cộng đồng Than Thép. Ý tưởng này nhằm tạo dựng tình hữu nghị giữa Đức với các nước láng giềng, một quốc gia đã có tới 20 cuộc chiến tranh với các nước xung quanh trong vòng 200 năm qua. Những thành viên của cộng đồng này là kẻ thù cũ và họ không có cách nào bước qua quá khứ hận thù cho đến khi họ đề xuất ý tưởng về chia sẻ tài nguyên chung. Đó là nền tảng của Cộng đồng Than Thép, hai loại tài nguyên đã từng gây ra chiến tranh. Nhờ mô hình này mà suốt hơn 70 năm qua các nước châu Âu đã cùng tồn tại hòa bình. Mặc dù có xảy ra một số cuộc xung đột quân sự ở ngoại vi, như ở Slovenia hay ở Ukraine hiện nay nhưng khu vực ngoại vi này nằm ngoài mối quan hệ chia sẻ thị trường chung, hoạt động chung, phát triển tài nguyên và hợp tác chính trị hiện nay trong EU.

Rõ ràng kinh nghiệm từ EU có thể cung cấp cho chúng ta một cách thức tiếp cận để giải quyết căng thẳng hiện nay ở châu Á – Thái Bình Dương. Vai trò của Mỹ ở Châu Âu cũng là vai trò mà chúng tôi muốn ở châu Á. Đó là đem các bên ngồi lại với nhau, hợp tác với nhau và nỗ lực đảm bảo rằng sẽ không có xung đột xảy ra.

Vấn đề là Mỹ có thể dựa vào cấu trúc nào ở châu Á- Thái Bình Dương? Liệu Mỹ có thể khuyến khích sự hình thành của một cấu trúc tương tự như Cộng đồng Than-Thép ở châu Âu hay không? Ở Biển Đông các nước có nhiều lĩnh vực có thể hợp tác với nhau, như đánh bắt cá, thăm dò và khai thác dầu khí…Tôi được biết Việt Nam và Trung Quốc đã ký thỏa thuận cùng hợp tác khai thác tài nguyên chung trên vịnh Bắc Bộ. Đấy là một dẫn chứng cho thấy có những chỗ mà Trung Quốc có thể sẵn lòng phát triển một mối quan hệ có lợi cho cả hai bên mà không cần phải tỏ ra hung hăng hay lấn lướt đối phương. Tôi tin rằng chính phủ Mỹ đang cân nhắc đến những sáng kiến tương tự.

Nhà báo Việt Lâm: Một bạn đọc gửi câu hỏi tới Đại sứ Bindenagel. Ông có nghĩ rằng chính vì cách ứng xử mềm yếu của Mỹ đối với Trung Quốc đã khuyến khích Trung Quốc hành động quyết đoán hơn hay không?

Đại sứ Bindenagel: Tôi nghĩ rằng đây là một câu hỏi hay. Tôi sẽ nói ngay là không phải như vậy. Bởi vì xét trên khía cạnh cấu trúc thì Mỹ có hiệp ước an ninh song phương với Nhật Bản và Hàn Quốc. Những thỏa thuận này cung cấp một cấu trúc mà dựa vào đó Trung Quốc có thể phán đoán được phản ứng của Mỹ sẽ là gì nếu họ đối đầu với hai nước này. Dẫn chứng tôi đã nhắc tới là quần đảo Senkaku. Khi Trung Quốc tuyên bố thiết lập Vùng Nhận dạng Phòng không (ADIZ), lực lượng Phòng vệ Nhật Bản đã cử máy bay đến khu vực này để thách thức Trung Quốc. Tình hình trở nên bất ổn và nguy hiểm cho đến khi Tổng thống Obama có chuyến công du đến Nhật hồi tháng Tư và tuyên bố quần đảo Senkaku thuộc diện bảo hộ của Hiệp ước an ninh Mỹ – Nhật. Sau đó, Trung Quốc đã rút lui.

Vấn đề là đang thiếu vắng một cấu trúc cho phép tìm kiếm các giải pháp cho xung đột ở Biển Đông mà dựa vào cấu trúc đó có thể đưa ra phán định đâu là ranh giới và hành động nào được coi là khiêu khích. Liệu một cấu trúc như vậy có thể xoay quanh ASEAN khi mà ASEAN phát triển hay không? Hay là một cấu trúc sinh ra từ Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á?

Một số người ở Mỹ đề xuất rằng Mỹ nên trở thành một đối tác chiến lược của Việt Nam đã đối phó với Trung Quốc. Đó không phải là một cách tiếp cận sáng suốt. Ngược lại, nó chỉ gây them đối đầu mà không đi tới giải pháp nào cả. Do đó, câu hỏi thực sự cần đặt ra là cấu trúc nào sẽ có tính khả thi để đảm bảo cho hai phía không tính toán sai, để họ có thể hiểu được đâu là giới hạn không nên bước qua.

TS Nguyễn Hùng Sơn: Tôi chia sẻ với câu hỏi của độc giả. Tôi nghĩ rằng Mỹ có vai trò chủ chốt trong việc duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực này. Người ta có thể lập luận từ hai góc nhìn ngược chiều nhau rằng chính sự suy yếu của Mỹ đã khuyến khích Trung Quốc trở nên quyết đoán hơn hoặc ngược lại chính sự mạnh tay của Mỹ đã thôi thúc Trung Quốc phải hành xử quyết đoán.

Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng đang có một sự mơ hồ dẫn đến nhận thức sai lầm trong nội bộ Trung Quốc, từ đó dẫn đến Trung Quốc có những tính toán sai và hành động không chính đáng. Tôi đồng ý với quan điểm của Đại sứ Bindenagel về sự cần thiết phải có một cấu trúc song cấu trúc này phải làm rõ những mập mờ hiện nay và đảm bảo ổn định ở khu vực. Tôi thấy một trong những việc mà ASEAN đang làm cho khu vực là tạo ra sự minh bạch trong khu vực. Chúng tôi diễn giải và tường minh ý đồ và mục tiêu của các bên trong khu vực, đưa các bên ngồi lại để tránh hiểu lầm. Bởi vì hiểu lầm có thể dẫn đến tính toán sai và tính toán sai đôi khi sẽ vô cùng nguy hiểm về mặt chiến lược. Đó là vai trò của cấu trúc đó và cũng chính là vai trò của ASEAN ở khu vực.

Biển Đông, Putin, Giàn khoan, Nga, Trung Quốc, Trường Sa, Hoàng Sa, bằng chứng chủ quyền, tòa quốc tế
TQ hung hăng dùng vòi rồng tấn công tàu VN. Ảnh: Hoàng Sang

Các đế chế có thể sụp đổ vì toan tính sai lầm

Đại sứ Bindenagel: Tôi muốn nhấn mạnh vào luận điểm mà TS Sơn vừa trình bày, đó là sự tính toán sai lầm. Bài học từ Chiến tranh Thế giới thứ nhất cho thấy để tránh chiến tranh thì yếu tố có vai trò cốt tử là các nhà lãnh đạo các quốc gia không được có phán đoán hay tính toán sai lầm về những gì đang diễn ra. Những gì chúng ta đang bàn thảo ở đây cũng là tìm ra cách thức nào để có thể hiểu được điều gì đang thực sự diễn ra. Liệu rằng sự kiện giàn khoan là sáng kiến của một nhóm lợi ích nào đó, hay nó được thúc đẩy bởi các nhà lãnh đạo ở Bắc Kinh? Câu trả lời sẽ dẫn đến hai kết quả và hai cách giải quyết rất khác nhau. Bạn có thể phản đối giàn khoan hoặc bạn có thể phản đối Trung Quốc. Ý tôi là phản đối vụ việc hay phản đối cả một quốc gia.

Hãy nhớ lại thảm họa đối với cả châu Âu khi chiến tranh bùng phát năm 1914 do đế chế Nga Sa  hoàng, đế chế Áo-Hung, đế chế Otoman sụp đổ. Bài học lịch sử cho thấy, các đế chế có thể suy vong do những toan tính sai lầm.

Nhà báo Việt Lâm: Từ những gì mà Đại sứ và Tiến sỹ Sơn vừa phân tích, có thể suy ra rằng nguy cơ chính là lãnh đạo và các nhóm lợi ích ở Trung Quốc đánh giá quá cao quyền lực và sức mạnh của họ trong khi lại đánh giá quá thấp phản ứng từ cộng đồng quốc tế?

Đại sứ Bindenagel: Điều đó hoàn toàn đúng. Hãy xem xét vai trò của Mỹ ở đây. Tôi lấy một ví dụ liên quan đến nhận thức của Trung Quốc về vai trò của Mỹ trong khu vực. Khi Mỹ quyết định gửi một số ít quân đến Australia, động thái đó đã bị xem là khiêu khích. Trong khi đối với chúng tôi, hành động này hoàn toàn không có mục đích khiêu khích gì cả. Chúng tôi chỉ đơn thuần hiện diện tại đây để có thể đảm bảo tự do giao thương hàng hải và duy trì trật tự quốc tế vì sự thịnh vượng mà khu vực đã đạt được từ thương mại.

Ngoài ra, còn có một loạt các vấn đề khác mà Mỹ không hề muốn khiêu khích ai nhưng vẫn bị buộc tội là khiêu khích. Rõ ràng đang tồn tại một nhận thức sai từ phía bên kia.

Có hay không một liên minh Trung – Nga?

Nhà báo Việt Lâm: Xin được chuyển sang chủ đề khá nóng gần đây là sự hình thành các liên minh trong khu vực liên quan đến sự trỗi dậy của Trung Quốc. Độc giả Thu Hà có câu hỏi dành cho hai vị khách mời: Mới đây Trung Quốc và Nga đã ký hợp đồng khí đốt khổng lồ, theo đó Trung Quốc sẽ trở thành đồng minh chính của Nga. Trên nhiều vấn đề khác, người ta cũng thấy Nga chia sẻ quan điểm chung với Trung Quốc. Theo các ông, liệu một liên minh Trung – Nga có tái xuất hiện hay không. Tính bền vững của liên minh nếu có này sẽ như thế nào và tác động ra sao đến cán cân quyền lực ở châu Á – Thái Bình Dương?

TS Nguyễn Hùng Sơn: Tôi khá do dự khi phải dùng từ liên minh, một thuật ngữ mang hơi hướm của thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Chúng ta đang sống trong một thế giới toàn cầu hóa, nơi mà ngày càng có nhiều hợp tác giữa các quốc gia. Tuy nhiên, bản chất của các mối quan hệ hợp tác này hoàn toàn khác xa thời Chiến tranh Lạnh. Khi các nước hình thành một liên minh, họ có thể đồng ý với nhau và hợp tác về mọi vấn đề. Những mối quan hệ hợp tác này hình thành dựa trên các vấn đề và trong khi các nước tăng cường hợp tác trong một lĩnh vực nào đấy thì đồng thời họ có thể bất đồng hoặc cạnh tranh với nhau ở các lĩnh vực khác. Đó là bản chất của các quan hệ quốc tế ngày nay.

Do vậy, chúng ta nên thoát khỏi lối nghĩ về các liên minh hình thành dựa trên ý thức hệ giống như thời Chiến tranh Lạnh. Điều đó có nghĩa rằng hợp tác dầu khí Trung-Nga vừa qua là một diễn biến quan trọng về địa chính trị bởi một mặt thỏa thuận này làm gia tăng mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa Trung Quốc và Nga. Mặt khác, nó gây ra cảm tưởng rằng hai nước này đang liên minh với nhau để chống lại sự hình thành của một liên minh khác, tạo ra một ấn tượng của thời kỳ Chiến tranh Lạnh trong quan hệ quốc tế. Điều nguy hiểm là nó có thể gửi một thông điệp sai lầm đến các nước khác, khiến cho họ phải lựa chọn đứng về bên nào, hay phải nêu lập trường mà vốn họ không cần phải làm vậy. Vì lẽ đó, tôi nghĩ chúng ta nên cẩn thận và không diễn giải quá mức những diễn biến này.

Đại sứ Bindenagel: Tôi hoàn toàn đồng ý với anh Sơn. Theo tôi, thỏa thuận cung cấp khí đốt là một thỏa thuận kinh tế. Và nếu tôi xem xét nó dưới góc độ kinh tế, tôi sẽ nói rằng thỏa thuận này rất có lợi cho Trung Quốc. Đó là bởi vì Nga đang cần tìm kiếm các nguồn cung khí đốt thay thế nhằm duy trì sự ổn định cho nền kinh tế của họ.

Tuy nhiên, tôi không cho rằng đó là một thỏa thuận chiến lược gì cả. Nó là một thắng lợi của Trung Quốc, vì thế cán cân mối quan hệ đang nghiêng về phía nước này. Hiển nhiên là ông Putin cần có một tuyên bố chính trị rằng ông ấy có lựa chọn thay thế đối với EU trong bối cảnh phải đối mặt với sự trừng phạt của phương Tây. Đây là một sự cân bằng mang tính đánh đổi.

Một lần nữa, tôi đồng ý rằng cần phải hết sức điềm tĩnh xem xét vấn đề để không tính toán sai. Chiến tranh Lạnh đã qua lâu rồi. Một số người nói rằng Putin đang làm hồi sinh thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Đúng là ông ấy muốn đưa nước Nga vươn dậy một lần nữa. Nhưng bây giờ không phải là Chiến tranh Lạnh, không phải là xung đột dựa trên ý thức hệ như xưa nữa. Chúng ta đã chứng kiến những thay đổi thực sự khác biệt đã diễn ra suốt 25 năm qua kể từ khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt. Thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh được xây dựng dựa trên nguyên tắc duy trì các tiến trình và chuẩn mực. Một trong những luật chơi mà các nước đều phải tôn trọng là không ai được phép dùng vũ lực để xê dịch các biên giới. Việc ông Putin đã làm với Crimea là một thách thức nghiêm trọng. Và đó cũng là một tín hiệu rất xấu cho Đông Á, cả Đông Bắc và Đông Nam Á. Bởi vì nếu điều đó trở thành luật chơi quốc tế, rằng họ có thể dùng vũ lực để thay đổi các đường biên giới, chúng ta sẽ đối diện với một thế giới hoàn toàn khác.

Bởi vậy, thách thức hiện tại là làm sao bảo vệ được chuẩn mực quốc tế rằng các đường biên không được phép thay đổi bằng vũ lực. Đó phải là nguyên tắc số một ở Biển Đông. Ở đây phải không có chỗ cho những thay đổi dựa trên vũ lực. Các nước có thể đàm phán với nhau, các nước có thể ở vị thế mạnh hơn hay yếu hơn, nhưng ít nhất thì theo quan điểm của tôi, và tôi cũng tin rằng đó là lập trường của chính phủ Mỹ rằng vũ lực là điều không thể chấp nhận được.

(Còn tiếp)

  • VietNamNet

 

Thế giới 24h: “Mỹ không muốn đối đầu với TQ”

13 Th8

 

– Ngoại trưởng Mỹ tuyên bố Washington không muốn đối đầu với Bắc Kinh; Mỹ tăng hiện diện quân đội ở Australia… là các tin nóng.

TIN LIÊN QUAN

Nổi bật

Mạng Channel News Asia cho biết, hôm 12/8, Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã kêu gọi Trung Quốc trở thành một đối tác hợp tác, và nói rằng Washington không muốn đối đầu hay xung đột với Bắc Kinh.

Người đứng đầu cơ quan ngoại giao Mỹ đưa ra phát ngôn trên tại Australia, nơi ông đến tham dự hội nghị tham vấn bộ trưởng ngoại giao, quốc phòng Australia và Mỹ (AUSMIN) được tổ chức hàng năm.

Mỹ, Trung Quốc, biển Đông, Australia, đối đầu, xung đột
Ngoại trưởng Mỹ John Kerry. (Ảnh: Telegraph)

“Chúng tôi hoan nghênh Trung Quốc nổi lên, với tư cách là một đối tác toàn cầu, đầy hy vọng, một cường quốc kinh tế, một thành viên mang tinh thần xây dựng, và tham gia đầy đủ vào cộng đồng quốc tế”.

“Chúng tôi muốn Trung Quốc tham gia trên tinh thần xây dựng, dù về biển Đông hay liên quan tới Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên cũng như các vấn đề khác mà chúng ta đang phải đối mặt”, ông Kerry nói.

Những phát biểu trên đây được Ngoại trưởng Mỹ John Kerry tuyên bố trong bối cảnh phía Bắc Kinh đưa ra lời cáo buộc cho rằng, Washington cố ý châm ngòi cho những căng thẳng ở khu vực biển Đông.

Trước đó, đề xuất do Mỹ đưa ra ở hội nghị ASEAN tại Myanmar cuối tuần qua, bao gồm việc “đóng băng” mọi hành động khiêu khích trên biển Đông, đã vấp phải phản ứng lạnh nhạt từ phía Trung Quốc.

Tân Hoa xã cáo buộc Washington “đổ thêm dầu vào lửa” và “xúi giục các nước trong khu vực có những quan điểm cứng rắn hơn chống lại Trung Quốc” dẫn tới những nghi ngờ về động cơ thực sự của Mỹ.

“Mỹ đã khiến nhiều nơi trên thế giới trở nên hỗn loạn sau khi họ đặt chân vào, giống như những gì đang xảy ra ở Iraq, Syria, Libya, và hy vọng biển Đông không phải là địa điểm tiếp theo”, Tân Hoa xã viết.

Tuy nhiên, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Mỹ Marie Harf lên tiếng đáp trả rằng Mỹ không gây ra bất ổn trên Biển Đông. “Chính các hành động khiêu khích của Trung Quốc đã gây ra điều này”, bà Harf nói.

Hôm 11/8, một quan chức của Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết rằng, Mỹ sẽ theo dõi tình hình tại khu vực biển Đông, để xem những bước đi, nhằm làm giảm leo thang căng thẳng, có được thực hiện hay không.

Tin vắn

– Hãng tin Jiji cho hay, Bộ Quốc phòng Nhật Bản quyết định đóng mới 2 chiếc tàu khu trục Aegis đồng thời tăng cường ngân sách cho năm tài khóa 2015.

– Linh mục Tây Ban Nha Miguel Pajares, bệnh nhân Ebola đầu tiên ở châu Âu, đã qua đời chỉ vài ngày sau khi được đưa từ Liberia về quê nhà để điều trị.

– Sáng 12/8, một đoàn 280 xe tải của Nga đã lên đường đến đông Ukraina, một ngày sau khi hai nước đạt được thỏa thuận, về cứu trợ nhân đạo quốc tế.

– Tư lệnh không quân Nga Viktor Bondarev cho biết, khoảng 200 chiến đấu cơ và trực thăng mới, sẽ được cung cấp cho không quân Nga trong năm nay.

– Tư lệnh không quân Nga Viktor Bondarev cho biết, Nga sẽ bắt đầu phát triển loại máy bay, thay thế máy bay đánh chặn MiG-31 Foxhound, vào 2017.

– Bộ trưởng Giao thông Vận tải Malaysia Liow Tiong Lai nói, chuyên gia pháp y đã nhận dạng được 16/43 nạn nhân người Malaysia trên máy bay MH17.

– Ngày 12/8, Mỹ và Australia đã ký một thỏa thuận lịch sử về cho phép quân đội Mỹ hiện diện tại các căn cứ quân sự trên lãnh thổ Australia 25 năm nữa.

– Các tờ tiền giấy mới phát hành trị giá 5.000 Won của CHDCND Triều Tiên không còn có hình ảnh lãnh tụ Kim Nhật Thành, báo chí Hàn Quốc đưa tin.

– Phát ngôn viên quân khu miền Đông của Nga Alexander Gordeyev cho biết, ngày 12/8, Nga đã bắt đầu tập trận tại quần đảo Kuril, ở Thái Bình Dương.

– Theo AP hôm 12/8, lực lượng an ninh Philippines bắt giữ cựu tướng quân đội tên Jovito Palparan vốn bị truy nã từ lâu, vì cáo buộc bắt cóc hai sinh viên.

– Ngoại trưởng John Kerry nói Mỹ sẵn sàng cải thiện quan hệ với Triều Tiên, nhưng cảnh báo Bình Nhưỡng sẽ chịu thêm sức ép và bị cô lập, nếu đối đầu.

Tin ảnh

Mỹ, Trung Quốc, biển Đông, Australia, đối đầu, xung đột
Mỹ đã ký thỏa thuận triển khai 2.500 lính thủy đánh bộ đến Darwin, miền bắc Australia. (Ảnh: Breibat)

Phát ngôn

Trả lời tờ Asahi, Tổng thống mới đắc cử của Indonesia, ông Joko Widodo tuyên bố, nước này sẵn sàng làm trung gian để xoa dịu căng thẳng trong các tranh chấp lãnh thổ tại biển Đông.

“Việc giải quyết bằng ngoại giao là cần thiết. Nếu cần, Indonesia sẵn sàng đóng vai trò trung gian. Chúng tôi không chấp nhận giải quyết bằng biện pháp quân sự”, ông Joko Widodo nói.

Kỷ niệm

13/8/1927 là ngày sinh của lãnh tụ Fidel Castro, nhà hoạt động cách mạng nổi tiếng của Cuba.

Thanh Vân

 

Đích đến trong chiến thuật mới của TQ

13 Th8

 

– Chiến thuật “ngư phủ chiến” phiên bản mới sẽ là đợt sóng tiếp theo đánh đánh mạnh vào chủ quyền của các quốc gia khác. Mục đích của họ là độc chiếm biển Đông, cũng cố chủ quyền phi lý trong vùng “lưỡi bò” tự vạch ra.

Các cơ quan thông tấn TQ đã phát đi tin tức và hình ảnh về đội tàu cá khổng lồ, gần 5 vạn đang ồ ạt tiến xuống biển Đông khai thác ngay sau khi lệnh “cấm” hết hiệu lực vào cuối tháng 7.

TS. Renato Cruz De Castro, Đại học De La Salle của Philippines cảnh báo: “Đây là động thái mới của TQ sau khi rút giàn khoan ra khỏi vùng biển của Việt Nam. TQ đã tỏ ra ngày càng“chuyên nghiệp” hơn trong việc lấn chiếm biển đảo bằng việc sử dụng chính sách “bên miệng hố chiến tranh”, họ mở rộng tầm hoạt động mọi nơi trên biển Đông bằng việc trang bị đầy đủ tất cả những gì cần thiết cho đội tàu đánh cả khổng lồ của mình xâm nhập vào lãnh hải những nước có chủ quyền mà TQ tự coi là của họ”.

Chúng tôi đã kiên trì 17 năm và bị mất đảo

Chia sẻ bên lề hội thảo biển Đông ở TP.HCM vừa qua,  TS. Renato Cruz De Castro nói, trường hợp bãi cạn Scarborough là bài học chung cho các quốc gia quanh biển Đông khi đối phó với thủ thuật của TQ. 

Ngày 8/4/2012, 8 tàu đánh cá TQ thâm nhập quanh bãi cạn Scarborough. Tổng thống Philippines Bennigno Aquyno lệnh cho Hải quân điều tàu PRP Gregorido del Pilar thực hiện nhiệm vụ tuần tra và khẳng định chủ quyền của Philippines.  

Ngày 10/4/2012, tàu tuần tra phát hiện 8 tàu cá TQ đang thả neo nên tiến hành kiểm tra, phát hiện tên các tàu cá TQ một số lượng lớn san hộ, ngọc trai và cá mập khai thác trái phép. Ngay lúc đó, các tàu cá TQ phát tín hiệu, lập tức hai tàu hải giám của TQ xông vào giữa, giải thoát cho 8 tàu cá TQ rút chạy. Hai tàu hải giám TQ ngang ngược yêu cầu tàu chiến Philippines rút lui vì “đây là lãnh hải của TQ”.  

Tổng thống Philippines ra lệnh điều tàu bảo vệ bờ biển đến thay thế cho tàu chiến của Hải quân rút về do muốn giảm căng thẳng với TQ.

Ngay lập tức, TQ cử tàu tuần ngư hiện đại Yuzheng – 310 phối hợp cùng hai tàu dân sự khác tiến vào khu vực bãi cạn Scarborough. Bộ Ngoại giao TQ lên tiếng cảnh cáo Philipines “Không được leo thang gây căng thẳng làm phức tạp thêm tình hình”. 

Tàu TQ với công suất lớn, số lượng đông đã bao vây chiếc tàu tuần tiểu nhỏ của Philippines không cho nhận tiếp tế. Ngày 15/4/2012, Bộ Ngoại giao TQ tiếp tục “yêu cầu Philippines rút tàu bảo vệ bờ biển ra khỏi vùng biển Hoàng Nham (tên TQ đặt cho bãi cạn Scarborough)”.

Philippines đã bị TQ chiếm thế thượng phong ngay trên lãnh hải của mình. Các động thái tiếp theo đã từng bước đẩy lùi chủ quyền của Philippines tại đây.

Trung Quốc, biển Đông, Philippines, chủ quyền, tàu cá
Tàu cá bọc sắt của TQ trên biển Đông
Bài học được TS. Renato Cruz De Castro rút ra là: Ngay thời điểm ban đầu TQ đã có chủ đích, họ đẩy tình thế vào bế tắc một cách có tính toán, ép Philippines rút tàu chiến khi đối mặt với hai tàu dân sự.  Sau đó gia tăng tàu dân sự có trang bị vũ khí”.

Sự kiện TQ chiếm bãi cạn của Philippines chính là “giọt nước tràn ly” khiến Philipines không thể kiên nhẫn hơn sau 17 năm “song phương” với TQ. Philippines quyết định đưa ra Tòa án quốc tế.

Ông Chito Sta. Romana, Thạc sĩ Quan hệ quốc tế và Ngoại giao, Chủ tịch Hội nghiên cứu về TQ của Philippines ngậm ngùi: “Đó là kết quả 17 năm kiên nhẫn của chúng tôi để xử lý tranh chấp với TQ một cách hòa bình và hữu nghị”. 

Chiến thuật “ngư phủ chiến”

Với một đội tàu khổng lồ 44.000 chiếc, hơn nhiều lần tổng số tàu của các nước ven biển Đông, lực lượng này được trang bị nhiều phương tiện hiện đại vượt trội tàu cá các nước trong khu vực, thừa khả năng phủ khắp biển Đông. TQ đang thực hiện chiến thuật “xâm chiếm bằng ngư phủ”, “ngư phủ chiến” như cách đã thực hiện để chiếm bãi cạn Scarborough của Philippines.

TS. Renato Crus De Castro nhận định rằng nhiều năm qua TQ gần như không làm gì để hạn chế đội tàu đánh cá dày đặc của mình xuất hiện trong các cuộc đối đầu hàng hải ở châu Á. Ngược lại, đội tàu cá khổng lồ của TQ đang được hoàn thiện và sử dụng như công cụ xâm lược mềm, được hổ trợ bằng lực lượng hải giám, kiểm ngư và máy bay trực thăng.

Trung Quốc, biển Đông, Philippines, chủ quyền, tàu cá
TS. Renato Cruz De Castro, Đại học De La Salle của Philippines

Sau vụ đưa giàn khoan vào lãnh hải của VN, chiến thuật “ngư phủ chiến” phiên bản mới sẽ là đợt sóng tiếp theo đánh đánh mạnh vào chủ quyền của các quốc gia khác. Lực lượng tàu cả khổng lồ của TQ không chỉ đơn giản là khai thác tài nguyên, hải sản, xua đuổi, đâm chìm tàu cá của ngư dân Việt Nam. Mục đích của họ là độc chiếm biển Đông, cũng cố chủ quyền phi lý của họ trong vùng “lưỡi bò” tự vạch ra. 

Đối phó với chiến thuật này, các nước như Việt Nam có rất ít sự lựa chọn. Về số lượng tàu cá thì không có nước nào trên thế giới có thể đủ tàu cá để ngăn chặn kiểu “một chọi một”. Nếu dùng tàu hải giám hay kiểm ngư thì cũng không thể vì số lượng tàu cá quá đông, đồng thời trong đoàn tàu cá này có tàu hải giám đi kèm bảo vệ. Và càng không thể dùng tàu hải quân vì đây là cái bẫy TQ giăng sẵn để ra tay.

Năm 2012, sau hai tháng gây căng thẳng với Philippines ở bãi cạn Scarborough, TQ lập tức tuyên bố thành lập đơn vị hành chính mới để quản lý trên 1.000 cư dân trên nhóm đảo thuộc Hoàng Sa và Trường Sa. Tiếp theo giới lãnh đạo quân sự TQ phê duyệt kế hoạch điều động quân đội ra đóng giữ và “bảo vệ ngư dân TQ”.

Chủ tịch Viện nghiên cứu biển Nam Trung Hoa của TQ có trụ sở tại đảo Hải Nam đã công khai tuyên bố: “ Mục tiêu của TQ là từng bước xác lập chủ quyền đối với tất cả bãi nổi trên biển Đông, trong đó có hơn 40 hòn đảo hiện đang bị các nước Việt Nam, Philippines và Malaysia chiếm giữ bất hợp pháp!”.

Chiến lược “hợp tác” và hành động “thay đổi nguyên trạng”

Các nhà nghiên cứu biển Đông của Philippines đã kết luận về chiến lược hành động của TQ rằng: “ Lịch sử ngoại giao của TQ trong tranh chấp trên biển Đông là hình thức tuyên bố hợp tác, tiếp theo đó là hành vi thay đổi nguyên trạng, tiếp theo nữa là hợp tác rồi lại thay đổi… Cứ như vậy tiếp nối nhau, mỗi lần họ chiếm thêm một khu vực”.

Trung Quốc, biển Đông, Philippines, chủ quyền, tàu cá
Đội tàu đánh cá của TQ được máy bay hộ tống.

Chiến thuật này được áp dụng với Việt Nam và Philipines.  Nghiên cứu của TS.  Renato Crus De Castro đã dẫn chứng hàng loạt trường hợp TQ ra tay với Việt Nam và Philippines.      

Tại Philippines, ngày 2/3/2011. Hai tàu hải giám của TQ đã đe dọa và yêu cầu một tàu khảo sát của Philippines rời khỏi bãi Cỏ Rong (Recto) nằm cách đảo Palawan ở Tây Philippines 80 km. Bộ Ngoại giao Philippines đã gởi công hàm phản đối tới Đại sứ quán TQ ở Manila. Tính đến lần đó TQ đã gây hấn như vậy 7 lần. Việt Nam cũng đã bị như vậy. Tàu tuần tra TQ đe dọa và cắt cáp tàu thăm dò dầu khí đang tiến hành khảo sát địa chấn cách bờ biển Việt Nam 120 km, nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam.

Trước những phản đối ngoại giao của Việt Nam và Philippines, Bộ Ngoại giao TQ bao giờ cũng tuyên bố giống nhau: “ TQ có chủ quyền không thể tranh cãi”.

Hành vi dùng đội tàu cá 44.000 chiếc đổ bộ xuống biển Đông nằm trong chiến thuật thay đổi nguyên trạng của TQ lần này là sự tiếp nối vụ giàn khoan, đẩy các nước ven bờ biển Đông phải tìm kiếm đối sách phải đối phó một cách bị động. Nếu cứ tiếp tục “tay bo” thì chắc chắn không nước nào có đủ sức mạnh cơ bắp để ngăn chặn. Hoặc có thể sa vào bẫy của TQ đang chờ chực.

Tính đến cuối 2013, đã có hơn 50.000 tàu cá của TQ được lắp đặt hệ thống dẫn đường vệ tinh Bắc Đẩu. Các chủ tàu cá chỉ phải trả 10% cước phí dịch vụ, còn lại 90% do nhà nước  hỗ trợ. Chiến lược “ngư phủ chiến” được chuẩn bị từ trước sẽ thực sự là bài toán cho các nước ven biển Đông.

Vì vậy, bài học của Philippines sau khi sử dụng các biện pháp ngoại giao là phải sử dụng biện pháp pháp lý dù biết rằng TQ không bao giờ chấp nhận.

Trên trang mạng của Cục hải sự quốc gia Trung Quốc ngày 31-7 đăng tải thông báo số 0168 – năm 2014 với nội dung như sau: Kể từ 12h00 ngày 01-8 lệnh cấm đánh bắt cá tại khu vực biển Đông sẽ chính thức kết thúc, tất cả tàu cá thuộc các tỉnh duyên hải như Hải Nam, Quảng Tây, Quảng Đông được phép ra khơi đánh bắt cá.

Tân Hoa Xã Trung Quốc ngày 31-7 đưa tin, hiện tất cả tàu cá đánh bắt ở biển Đông đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc ra khơi, chỉ tính riêng tỉnh Hải Nam- tỉnh có diện tích rộng nhất giáp biển Đông đã có tới 9000 tàu đánh bắt xa bờ đang chờ ‘tiếng còi” kết thúc lệnh cấm, để ồ ạt ra khơi.

  • Duy Chiến

 

Tiến tới Đại hôi XII: ĐẢNG KHÔNG ĐƯỢC ‘ĐỨNG TRÊN TẤT CẢ’ ! – BVB

12 Th8

 

Ý kiến đề xuất đối với việc chuẩn bị và tiến hành Đại hội Đảng lần thứ XII           < Mọi biểu hiện cài cắm, đăt để nhân sự                                           đều mất  DÂN CHỦ>

 

* NGUYỄN TRỌNG VĨNH

Rất mong có dân chủ thực sự đối với văn kiện cũng như vấn đề nhân sự.

Trong kiểm điểm tình hình, rất mong Đảng thể hiện tinh thần thực sự cầu thị dám nhìn thẳng vào yếu kém và sai lầm.

  1. Đề nghị tập trung kiểm điểm sâu 2 lĩnh vực: Kinh tế xã hội và Quốc phòng là 2 lĩnh vực có nhiều vấn đề.

          1. Về kinh tế xã hội: Bên cạnh một số mặt làm được, yếu kém và thiệt hại rất nhiều, hàng vạn doanh nghiệp ngừng hoạt động và phá sản, hàng mấy vạn công nhân viên mất việc, ngân sách giảm nguồn thu, người cày không có quyền sở hữu ruộng đất, nông dân bị cưỡng chế thu hồi đất tùy ý, bán chác làm giàu cho các nhà đầu tư, nhà cao tầng quá nhiều, thừa ế, các tập đoàn kinh tế nhà nước và ngân hàng thất thoát rất lớn, khoáng sản mất nhiều mà thu về cho ngân sách không mấy, hàng nông sản chủ yếu là xuất thô, hàng công nhiệp xuất khẩu phần lớn là gia công, nhập siêu hàng năm trên dưới 20 tỷ đô la, nợ nần chồng chất, v.v. khiến tài chính kiệt quệ, kinh tế sa sút nghiêm trọng, tụt hậu xa so với các nước xung quanh. Kết quả là đất nước có tài nguyên phong phú mà dân nghèo nước yếu, lệ thuộc.

                        2.Về xã hội: chưa bao giờ trộm cướp nhiều như bây giờ, “xã hội đen” hoành hành công khai, lực lượng công an cũng chưa bao giờ đông như hiện nay mà không chặn đứng hành động đập phá của những phần tử quá khích ở Bình Dương ngay từ đầu để những việc đốt phá tha hồ lan rộng làm hại nhà nước và đất nước. Những sự việc vợ giết chồng, chồng giết vợ, con đánh mẹ, cháu giết bà vì không xin được tiền, anh em đâm chém nhau vì tranh giành tài sản, con cướp nhà đuổi bố mẹ ra đường… hầu như trên mặt báo ngày nào cũng đọc thấy.

                          3.Về quốc phòng: Thời bình mà phong tướng nhiều hơn thời chiến, quan tâm phong tướng hơn giáo dục lòng yêu nước, ý thức cảnh giác thường trực cho bộ đội. Xác định không đúng đối thủ. Đầu tư không thích đáng cho lực lượng vũ trang để tăng phương tiện, trang thiết bị, vũ khí, khí tài hiện đại nhằm ứng phó với tình hình xấu nhất. Nhiều điểm xung yếu về quốc phòng đã bị bán, cho thuê dài hạn hoặc cho Trung Quốc thầu: Tây Nguyên, cảng Vũng Áng, cảng Cửa Việt, từ Cửa Việt đến chân núi đất hẹp nhất dễ bị cắt ngang khi có chiến tranh, một đoạn bãi biển Đà Nẵng, khoảng gần 20 km phía Đông đường Quốc lộ từ Kỳ Anh đến chân đèo Ngang, họ xây tường cao, không biết làm gì trong đó, 3.000 hecta rừng biên giới… Những nơi họ mua, thuê, người Việt Nam không được vào xem xét, họ xây dựng công trình quân sự bí mật cũng chẳng ai hay. Trong nội địa nước ta, hàng vạn người Trung Quốc nhập cảnh không phép thành “đội quân thứ 5” và thiếu gì gián điệp, ở cấp cao của ta cũng có người của họ.

Nham hiểm hơn nữa Trung Quốc đổ tiền đổ của vào Campuchia và Lào, 2 nước đã thấm đậm máu của bộ đội Việt Nam, hòng nắm 2 nước nhằm bao vây, cô lập ta. Họ diệt những cán bộ cao cấp của 2 nước bạn có quan hệ thân thiện với nước ta.

Nguy cơ nước ta trở thành thuộc địa kiểu mới hoặc một chư hầu của bành trướng Đại Hán, mất độc lập đương trở thành hiện thực.

Biết bao chiến sĩ cách mạng đã bị tra tấn tù đày, không ít người đã bỏ mình trong các lao tù của thực dân Pháp, không ít vị lãnh đạo ưu tú đã hy sinh trên máy chém và họng súng của kẻ thù mới có “Cách mạng tháng Tám”. Biết bao máu xương của hàng triệu đồng bào, bộ đội đã đổ ra trong 2 cuộc kháng chiến mới có độc lập, thống nhất mà nay sẽ lại rơi vào cảnh Bắc thuộc một lần nữa thì đau xót biết chừng nào! Uất hận biết chừng nào!!

  1. Vấn đề nhân sự Đại hội càng phải thật dân chủ.

Trong bầu cử đại biểu cũng như bầu cử Ban chấp hành các cấp nên có số dư ít nhất 25% để người bỏ phiếu có điều kiện lựa chọn. Không nên nêu vấn đề “sợ phân tán phiếu” mà vấn đề là “quyền dân chủ” trong bầu cử mới quan trọng. Đảng viên chính thức không phạm pháp, không bị xử lý kỷ luật Đảng đều được ứng cử, đề cử, không bị gạt vì bất cứ lý do nào. Số Ban chấp hành cũ dự kiến cùng với số ứng cử, đề cử lập thành một danh sách chung xếp theo thứ tự A. B. C không phân biệt.

Để bầu Ban Thường vụ các cấp cũng như bầu Bộ Chính trị cũng cần có số dư: ví dụ để bầu Ban Thường vụ 7 người cần giới thiệu 9 hoặc 10 người; Nếu bầu Bộ Chính trị 15 người, cần giới thiệu ra 20 người. Bầu các vị trí chủ chốt: Bí thư cấp ủy các cấp và Tổng bí thư cũng nên có số dư, tối thiểu là 2 người (không cho rút), nếu độc diễn như từ trước đến nay thì B.C.H mất quyền lựa chọn và người duy nhất được giới thiệu bất kể như thế nào cũng trúng.

Ban chấp hành Trung ương là rất quan trọng, phải gồm những đảng viên có đức, tài thực sự, có lòng vì nước vì dân. Không để cho tình hình “mua quan bán chức” ngoài xã hội len vào trong Đảng. Nếu có những đảng viên nào chạy chọt để mong có một chân trong B.C.H.T.Ư hoặc một chức gì thì đó là những đảng viên thoái hóa biến chất, cá nhân vụ lợi, nếu vì nhận tiền mà cơ cấu những đảng viên thoái hóa biến chất đó vào B.C.H.T.Ư là “tạp hóa” Đảng, là phá nước, phá Đảng, làm giảm chất lượng và uy tín của Đảng. Nhân dân càng mất lòng tin vào Đảng. Bộ Chính trị, bộ phận thường trực của B.C.H.T.Ư chỉ đạo công việc thường xuyên, rất quan trọng phải gồm những đảng viên có phẩm chất và tài năng xuất sắc hơn cả trong Đảng, có tinh thần dân tộc độc lập, tự chủ, ý chí tự lực, tự cường, có tư duy dân chủ, thật sự lấy dân làm gốc, mới có hy vọng đưa đất nước ra khỏi tình hình khủng khoảng hiện nay và nguy cơ mất nước.

Đề nghị Đại hội đồng thời với việc bầu B.C.H.T.Ư bầu cả Ban Kiểm tra (hoặc Ban Giám sát) để theo dõi việc thực hiện nghị quyết của Đại hội, chỉ đạo công tác kiểm tra và đủ thẩm quyền xử lý kỷ luật ủy viên Trung ương nếu có sai phạm.

III. Đến bây giờ, người có suy nghĩ đều cho rằng CNCS mà Max Enghel đề ra là ảo tưởng, không bao giờ thực hiện được “Thế giới đại đồng, làm ăn chung, sung sướng như nhau”. Ngay đến CNXH cũng vậy. Từ khi mô hình XHCN Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, chưa ai nêu ra được mô hình nào khác, tiêu chí ra sao, nguyên tắc nội dung thế nào. Vậy thì nói xây dựng CNXH là nói suông, không trên cơ sở nào.

Ở nước ta cũng nói “xây dựng CNXH, định hướng XHCN” nhưng nó như thế nào, cái gì là CNXH trong nhà nước ta, không ai chỉ ra được. Mang danh là “nước XHCN” mà người dân không được hưởng cái gì là “phúc lợi”, ngược lại, bao nhiêu thứ tăng: tăng giá xăng dầu, giá điện, nước, tăng học phí, viện phí… đều đổ lên đầu người dân hứng chịu.

Ở Trung Quốc cũng vậy thôi. Tuy họ vẫn nói là “xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc” nhưng từ khi Đặng Tiểu Bình nói: “Mèo trắng mèo đen, mèo nào bắt được chuột là mèo tốt” thì họ đã rẽ sang đường khác rồi. Hơn nữa gần đây, Tập Cận Bình nêu khẩu hiệu “giấc mộng Trung Hoa” thế là Đảng CS Trung Quốc đương xây dựng một thứ “Đế chế Đại Hán tộc” bá chủ thiên hạ, đâu phải là CNXH!

Ở nước ta, nên thôi nói “lấy CN Mác – Lênin” mà chỉ nên nói: “ lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng” là đầy đủ, vì lãnh tụ Hồ Chí Minh đã chọn lọc tiếp thu những gì là văn minh, tiến bộ, khoa học của thế giới, kể cả những gì là hay, là tốt của các tôn giáo, Khổng Tử, Tôn Trung Sơn kết hợp với truyền thống dân tộc. Cũng nên thôi nói xây dựng CNXH mà chỉ nên nêu mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh” như nghị quyết Đảng đã từng nêu là đúng.

Đã không có CS chủ nghĩa, XHCN thì tên Đảng nên trở về là “Đảng Lao động Việt Nam”, sau này sửa Hiến pháp, lấy lại tên nước là “Việt Nam dân chủ cộng hòa” để dễ hòa đồng với các nước trên thế giới.

Lãnh đạo với cai trị khác nhau. Từ sau Hội nghị Thành Đô đến nay, Đảng cai trị, độc đoán chứ không phải lãnh đạo. Có những chủ trương, chính sách không sát, không đúng, ai có ý kiến khác thì cho là suy thoái, ai dám nói thẳng, dám chỉ trích chế độ, đấu tranh đòi dân chủ, dân quyền thì đàn áp bỏ tù. Yêu cầu hiện nay là Đảng đổi mới tư duy, tự cải biến, từ bỏ cai trị, thực hiện đúng ý nghĩa lãnh đạo, thâm nhập nắm được nguyện vọng của dân, đề ra chủ trương, chính sách hợp lòng dân, hợp yêu cầu phát triển đất nước, tự khắc dân theo, Đảng không mất vị trí lãnh đạo. Đảng cần có tư duy dân chủ, và tác phong thực tế. Bộ phận lãnh đạo không chỉ đi ôtô xuống nghe cấp ủy báo cáo, phát biểu ý kiến chỉ đạo rồi về, mà cần có các cách vi hành để nắm được thực chất tâm tư nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, thấy rõ tình hình thực tế, trên cơ sở đó mới đề ra được những chủ trương sát, đúng. Đảng lãnh đạo chứ không làm thay chức trách, nhiệm vụ của Chính quyền, không đại diện cho Chính quyền.

Đảng đề ra đường lối, chủ trương và mục tiêu chung cho từng thời kỳ và yêu cầu đối với các mặt hoạt động, các phương châm, nguyên tắc cần quán triệt, Chính phủ và các ngành làm kế hoạch thực hiện, Đảng không bao biện làm thay. Đảng theo dõi quá trình thực hiện. Nhiệm vụ quan trọng của lãnh đạo là chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng cho trong sạch, giáo dục đảng viên lòng yêu nước và tinh thần tiên phong gương mẫu.

Trong hơn 90 triệu dân, Đảng chỉ là bộ phận nhỏ và cũng nằm trong lòng Tổ quốc. Tuy có vị trí lãnh đạo, nhưng Đảng không được đứng trên Nước, Đảng cũng phải tôn trọng các quyết định của Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân (sắp tới Quốc hội mới phải thực sự là Quốc hội của dân. Không phải như Quốc hội hiện nay chỉ có 15% là người ngoài Đảng).

Trên đây là những lời nói thẳng với tinh thần xây dựng của một đảng viên 99 tuổi, gần đất xa trời, đã theo Đảng gần 80 năm.

Sầm Sơn, 2-8-2014

  1. T.V.

/Tác giả gửi BVN/

 

Bài phát biểu của Thủ tướng tại Hội nghị “Đối ngoại đa phương thế kỷ 21” – BVB

12 Th8

 

Báo Tin tức trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng tại Hội nghị “Đối ngoại đa phương thế kỷ 21 và khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam”.

Thưa các đồng chí và quý vị đại biểu

Thưa các bạn và các vị khách quý Hôm nay, tôi rất vui mừng tham dự Hội nghị về “Đối ngoại đa phương thế kỷ 21 và khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam”. Đây là một chủ đề rất quan trọng, có ý nghĩa thiết thực. Đối ngoại đa phương ngày càng khẳng định vai trò, vị trí của mình trong đời sống chính trị – kinh tế – đối ngoại của thế giới và cũng là một bộ phận quan trọng trong chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Thay mặt Chính phủ Việt Nam, tôi nhiệt liệt chào mừng Quý vị đại biểu trong nước và quốc tế. Tôi hoan nghênh và đánh giá cao sự tham dự của các diễn giả quốc tế. Sự chia sẻ của Quý vị và các bạn về kinh nghiệm đối ngoại đa phương sẽ rất có ích cho việc hoạch định và triển khai chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới để Việt Nam chúng tôi có thể đóng góp tích cực và hiệu quả hơn cho cộng đồng quốc tế.
Thưa Quý vị và các bạn Đối ngoại Việt Nam, trong đó có đối ngoại đa phương, đã có những đóng góp to lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong lịch sử hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, đối ngoại đã mang lại những thành công vang dội trên mặt trận đa phương, với những dấu ấn lịch sử của các Hội nghị Geneva 1954, Hội nghị Paris 1973, góp phần kiến tạo hòa bình, giành và bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất đất nước. Tiếp tục phát huy mạnh mẽ trong thời kỳ đổi mới, đối ngoại đa phương đã góp phần quan trọng đưa Việt Nam ra khỏi thế bị bao vây cấm vận, từng bước mở rộng quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế, thúc đẩy các mục tiêu phát triển, bảo vệ và duy trì môi trường hòa bình, tạo điều kiện thuận lợi trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Việt Nam ngày nay là thành viên tích cực, có trách nhiệm của nhiều tổ chức, diễn đàn quan trọng ở khu vực và thế giới như Liên hợp quốc, WTO, ASEAN, APEC, ASEM… Chúng ta thật sự tự hào trước những bước trưởng thành của đất nước trong các hoạt động đối ngoại đa phương. Nổi bật là việc nước ta đã đảm nhận thành công cương vị Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc khóa 2008-2009 và vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2010. Chúng ta cũng đã tổ chức thành công nhiều sự kiện đa phương lớn mang tầm vóc quốc tế, giành được sự tín nhiệm, ủng hộ của bạn bè trên thế giới, vị thế đất nước không ngừng được nâng cao. Trong quá trình tham gia và hội nhập vào đời sống quốc tế, Việt Nam luôn nhận thức rõ vai trò quan trọng của các thể chế, các diễn đàn đa phương đối với các vấn đề an ninh và phát triển của khu vực và thế giới. Bước sang thế kỷ 21, nhất là từ sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, chúng ta đang chứng kiến những chuyển dịch mạnh mẽ trong nền tảng kinh tế thế giới cũng như trong tương quan lực lượng quốc tế. Và quá trình toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng đã thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động đa phương và liên kết ở các cấp độ – cả khu vực, liên khu vực và quốc tế. Trong môi trường an ninh và phát triển đang chuyển biến rất nhanh và sâu sắc, tất cả các nước lớn nhỏ đều đứng trước nhu cầu tăng cường hợp tác, liên kết để cùng giải quyết các vấn đề chung cấp bách. Các thách thức toàn cầu ngày càng nhiều và phức tạp, nằm ngoài khả năng giải quyết của từng quốc gia và từng khu vực. Đó là việc bảo vệ hòa bình và an ninh quốc tế, ngăn ngừa và giải quyết xung đột, đến các vấn đề liên quan tới liên kết kinh tế, tài chính, tự do hóa thương mại, đầu tư… cũng như việc hợp sức ứng phó với khủng hoảng và các thách thức an ninh phi truyền thống. Thế giới đang hướng đến cục diện “đa cực” cùng với xu thế dân chủ hóa phát triển mạnh mẽ trong quan hệ quốc tế. Tất cả các quốc gia đều rất coi trọng các thể chế, các phương thức giải quyết đa phương, nhằm phục hồi kinh tế, mở rộng không gian phát triển, tạo thêm thế và lực trong cục diện mới. Trong đó châu Á – Thái Bình Dương đang đi đầu về xu hướng liên kết đa tầng nấc và đã trở thành một trung tâm kinh tế, chính trị năng động. Ngày nay, từ cấp độ tiểu vùng, khu vực đến liên khu vực, toàn cầu và trong mọi lĩnh vực, chúng ta đều cảm nhận được về tầm quan trọng và sự tác động của các thể chế hợp tác đa phương.
Thưa các Đồng chí và quý vị đại biểu, Đại hội lần thứ XI của Đảng đã đánh dấu bước chuyển quan trọng về tư duy đối ngoại. Chúng ta chủ trương “triển khai đồng bộ, toàn diện, có hiệu quả các hoạt động đối ngoại” trên tất cả các kênh song phương và đa phương, dựa trên sự phối hợp chặt chẽ giữa ngoại giao Nhà nước – đối ngoại Đảng và đối ngoại nhân dân. Đại hội XI của Đảng cũng đề ra chủ trương “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế” và đã được cụ thể hóa bằng Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị và Chương trình hành động của Chính phủ, theo đó hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn của Đảng và Nhà nước ta, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trên cơ sở các chủ trương lớn của Đảng – Nhà nước và xu thế chung của thế giới, chúng ta cần xác định đối ngoại đa phương là bộ phận rất quan trọng trong tổng thể chính sách đối ngoại và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Đối ngoại đa phương là phương tiện hữu hiệu để chúng ta triển khai đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập quốc tế. Các thể chế, các diễn đàn đa phương là nơi Việt Nam bảo vệ và thúc đẩy các lợi ích an ninh và phát triển; nâng cao vị thế của đất nước và hài hòa với các lợi ích chung; cùng chung tay giải quyết các thách thức toàn cầu và xây dựng quan hệ đối tác bình đẳng, cùng có lợi trên cơ sở đề cao vai trò của luật pháp quốc tế. Đồng thời, đây cũng là nơi chúng ta thể hiện tinh thần Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Trong công cuộc bảo vệ chủ quyền của đất nước, đặc biệt trong tình hình Biển Đông hiện nay, chúng ta cần coi trọng vai trò, tiếng nói của các thể chế, các diễn đàn đa phương, đặc biệt là Liên hợp quốc, ASEAN, Phong trào Không liên kết. Chính sự đoàn kết, ủng hộ mạnh mẽ của các bạn bè quốc tế tại các diễn đàn đa phương đối với lập trường chính nghĩa của Việt Nam đã góp phần quan trọng đề cao chủ trương giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, các nguyên tắc ứng xử của khu vực, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực. Thưa các Đồng chí và quý vị đại biểu Đây là lần đầu tiên chúng ta tổ chức hội nghị toàn quốc để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của đối ngoại đa phương. Đây cũng là lần đầu tiên chúng ta bàn về chủ đề này với sự tham gia, đóng góp của nhiều diễn giả là chính khách hàng đầu của thế giới và Việt Nam – những người dày dạn kinh nghiệm về đối ngoại và đặc biệt là đối ngoại đa phương. Tôi đề nghị Hội nghị cùng các diễn giả, đại diện các tổ chức quốc tế thảo luận để giúp tìm ra các biện pháp hữu hiệu đẩy mạnh đối ngoại đa phương, phục vụ hiệu quả cho bảo đảm môi trường hòa bình và phát triển của Việt Nam trong thời kỳ chiến lược mới. Thứ nhất, cần đề xuất những định hướng cả trước mắt và dài hạn cho đối ngoại đa phương của Việt Nam trong thời kỳ mới. Hội nghị cần làm rõ những yêu cầu, nhiệm vụ mới của đối ngoại đa phương, những thuận lợi và thách thức trong triển khai thực hiện. Sau gần 30 năm đổi mới, chúng ta có thuận lợi lớn là thế và lực của đất nước đã tăng lên rất nhiều. Việt Nam ngày nay là thành viên tích cực của ASEAN và hầu hết các tổ chức khu vực, quốc tế quan trọng, có quan hệ ngoại giao với 184 quốc gia và tạo dựng khuôn khổ quan hệ ổn định, sâu sắc với các đối tác hàng đầu. Mặt khác, chúng ta cũng đứng trước những thách thức to lớn từ sự thay đổi sâu sắc của cục diện đa phương và môi trường chiến lược ở khu vực và thế giới. Thứ hai, cần phải đổi mới tư duy, cách nghĩ, cách làm, cách thức phối hợp liên ngành trong hoạt động đối ngoại nói chung và trong triển khai đối ngoại đa phương. Đây là thời điểm chúng ta cần và hoàn toàn có đủ điều kiện để chuyển mạnh từ tư duy “tham gia tích cực” sang “chủ động đóng góp xây dựng, định hình luật chơi chung”.
Tôi mong rằng Hội nghị sẽ thảo luận kỹ về phương thức xử lý hài hòa các mối quan hệ quan trọng, như mối quan hệ giữa lợi ích, quan tâm của Việt Nam với lợi ích, quan tâm chung của khu vực và thế giới; giữa lợi ích song phương với lợi ích đa phương; giữa lợi ích tổng thể với lợi ích của mỗi ngành… Chúng ta cần coi trọng việc đóng góp thiết thực vào xây dựng Tầm nhìn ASEAN sau 2015 và Chương trình nghị sự phát triển sau 2015 của Liên hợp quốc. Thứ ba, cần làm rõ những biện pháp để tăng cường thống nhất nhận thức và đồng thuận giữa các cấp, các ngành, địa phương, doanh nghiệp và người dân về tầm quan trọng của đối ngoại đa phương trong hội nhập quốc tế toàn diện phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Thứ tư, Bộ Ngoại giao và các Bộ, ngành thành viên Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế cần bàn sâu các biện pháp cụ thể nhằm xây dựng, kiện toàn các cơ chế phối hợp liên ngành và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ngoại giao đa phương, phù hợp với chuyển biến của tình hình và đáp ứng nhu cầu mới của đất nước. Đồng thời, cần có biện pháp khuyến khích, tăng cường sự tham gia, đóng góp nhiều hơn của các cơ quan nghiên cứu, các địa phương, doanh nghiệp trong nỗ lực chung này. Đây là nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công trong triển khai thực hiện chính sách. Các bài học, kinh nghiệm, đề xuất và khuyến nghị tại Hội nghị có ý nghĩa quan trọng để nâng tầm đối ngoại đa phương của Việt Nam. Giai đoạn 10 – 20 năm tới rất then chốt đối với nước ta khi chúng ta nỗ lực hình thành Cộng đồng ASEAN vào năm 2015, tham gia các liên kết kinh tế sâu rộng, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đồng thời hoàn tất nhiều cam kết quốc tế lớn có thời hạn vào năm 2015 – 2020. Đây là yêu cầu và nhiệm vụ rất mới của đối ngoại nước ta. Đối ngoại đa phương đã tỏ rõ tầm quan trọng và sẽ tiếp tục phát huy vai trò của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, góp phần tạo thêm thế và tăng thêm lực cho đất nước trong cục diện mới đang định hình. Nhân dịp này, thay mặt Chính phủ và nhân dân Việt Nam, tôi chân thành cảm ơn và mong tiếp tục nhận được sự hợp tác, hỗ trợ hiệu quả của Liên hợp quốc, WTO, ASEAN, các tổ chức quốc tế, khu vực, các học giả, các nhà nghiên cứu và những người bạn thân thiết của Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới cũng như trong nỗ lực triển khai chính sách đối ngoại đa phương của đất nước chúng tôi. Chúc Hội nghị thành công tốt đẹp Chúc quý vị đại biểu sức khỏe, hạnh phúc. TTXVN/Tin tức

 

Buôn bán vũ khí, sức mạnh không lời của Putin

12 Th8

 

 

– Nga dưới thời Tổng thống Vladimir Putin đã trở thành nước xuất khẩu vũ khí lớn nhất thế giới và có lẽ phương Tây khó ngăn được bước thế mạnh xuất khẩu này của Nga, kể cả khi vũ khí được bán sang các thị trường mà Mỹ không hề muốn.

Vượt mặt Mỹ

Số liệu Viện nghiên cứu Hòa bình quốc tế Stockholm vừa công bố cho thấy, xuất khẩu vũ khí của Nga trong năm 2013 lần đầu tiên đã vượt Mỹ với doanh thu nhiều hơn 2 tỷ USD với sự tăng trưởng mạnh mẽ 35%.

Tờ International Business Times ngay lập tức đặt câu hỏi rằng: liệu Mỹ đã đánh mất các thị trường vũ khí quốc tế và Nga sắp soán toàn diện ngôi vị số một của Mỹ – với mức xuất khẩu bình quân lên tới 7 tỷ USD/năm.

Chưa có dự báo nào về vị thế của Mỹ ở các thị trường vũ khí quốc tế trong thời gian tới bởi Mỹ vẫn đang áp đảo về số lượng DN vũ khí trong tốp 100 công ty lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, nhiều số liệu và phân tích cho thấy, giá cả thấp, chỉ bằng khoảng 30-40% so với các sản phẩm gần tương đương của Mỹ và chất lượng đang ngày được cải thiện của vũ khí Nga đang cạnh tranh gay gắt với Mỹ.

Điều đáng nói là Nga dưới thời Tổng thống Putin đang tập trung vào hai con bài chiến lược là năng lượng và vũ khí quân sự. Hồi tháng 7/2014, Tổng thống Putin đánh giá cao những tiến bộ trong hoạt động thương mại xuất khẩu vũ khí của nước này và cho rằng Nga sẽ đảm bảo sự phát triển của hệ thống hợp tác quân sự nhằm tăng cường sự hiện diện của đất nước này trong thị trường vũ khí toàn cầu.

Nga, Mỹ, EU, vũ-khí, xuất-khẩu, máy-bay, tên-lửa, công-nghệ, Vladimir-Putin, Trung-Quốc
Nga dưới thời Tổng thống Vladimir Putin đã trở thành nước xuất khẩu vũ khí lớn nhất thế giới.

Theo công bố của Nga, trong nửa đầu năm 2014, nước này xuất khẩu vũ khí đạt trị giá 5,6 tỷ USD, một con số được Tổng thống Vladimir Putin coi là rất ấn tượng. Giá trị các đơn đặt hàng cũng đã tăng vọt từ mức 35 tỷ USD hồi đầu năm lên gần 50 tỷ USD hồi đầu tháng 7.

Trong kế hoạch, Nga dự kiến sẽ tăng doanh số vũ khí lên 50 tỷ USD vào năm 2020, đảm bảo giành vị trí đứng đầu các nước xuất khẩu vũ khí trên thế giới thế giới. Đặc biệt, ông Putin cho rằng Nga nên duy trì vị trí thống trị trong việc cung cấp tàu hải quân trên thế giới với dự báo cho rằng các nước sẽ bơm khoảng 100 tỷ USD để trang bị đội tàu trong vài năm tới.

Trong khoảng 5 năm vừa qua, Nga đã trở thành nước dẫn dầu trong xuất khẩu tàu và tàu ngầm và chiếm 27% thị phần thế giới trong lĩnh vực này.

Rất nhiều mặt hàng vũ khí của Nga có doanh thu tăng vượt bậc 40-60% trong vài năm gần đây, tập trung vào các mặt hàng như súng, tên lửa và các loại máy bay chiến đấu như: hệ thống tên lửa Buk M1-2, các loại máy bay chiến đấu SU30, MIG-29, Mi-35…

Đây là các mặt hàng có thể góp phần giúp Nga dưới thời Putin xác lập ngội vị số một trong lĩnh vực sản xuất và xuất khẩu vũ khí.

Chiến lược lợi đôi đường

Không hề giấu giếm, Tổng thống Putin trong gần 15 năm cầm quyền vừa qua đã cho thấy rõ các quân bài chiến lược để giúp Nga nổi lên trở lại là một cường. Trong đó không thể bỏ quan năng lượng và xuất khẩu vũ khí quân sự.

Nga, Mỹ, EU, vũ-khí, xuất-khẩu, máy-bay, tên-lửa, công-nghệ, Vladimir-Putin, Trung-Quốc
Rất nhiều mặt hàng vũ khí của Nga có doanh thu tăng vượt bậc 40-60% trong vài năm gần đây.

Quân bài khí đốt đã được ông Putin áp dụng nhiều lần với Ukraine. Nó cũng là quân bài để đe dọa một Liên minh châu Âu đang theo Mỹ để áp hàng loạt các lệnh trừng phạt lên Nga.

Tuy nhiên, vũ khí có lẽ mới là quân bài hiểm của Nga trong bối cảnh rất nhiều nước ở châu Phi, châu Á và Trung Đông đang chạy đua vũ trang, tăng cường chi tiêu lớn cho vũ khí, khí tài. Với quân bài này, Nga dùng một mũi tên trúng nhiều đích.

Trong bối cảnh trật tự thế giới có dấu hiệu thay đổi, căng thẳng leo thang ở nhiều nơi, Nga đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu và sản xuất vũ khí hiện đại để nâng cao năng lực quốc phòng của mình cũng như xuất khẩu để thu ngoại tệ.

Với những nỗ lực đầu tư không ngừng nghỉ vào sản xuất và xuất khẩu vũ khí, Nga đã lần đầu tiên vượt Mỹ về xuất khẩu trong lĩnh vực này. Trong thời gian tới, vị trí của Mỹ có thể tiếp tục bị đe dọa bởi châu Phi, châu Á và Trung Đông là các thị trường trọng điểm của nước Nga, nhất là trong bối cảnh Mỹ và châu Âu đang thực thi các biện pháp trừng phạt Nga lên một số lĩnh vực như quốc phòng, năng lượng và tài chính.

Trong khi đó, vị trí ông trùm xuất khẩu vũ khí của Mỹ còn bị đe dọa bởi ngân sách quốc phòng của các nước trong khu vực Tây Âu, trung Âu và bắc Mỹ, bao gồm cả Mỹ đang giảm đi trông thấy.

Một điểm đang khiến cho vũ khí Nga hấp dẫn nhiều nước như Trung Quốc, Ấn Độ… là chất lượng vũ khí của Nga đang được nâng nhưng giá thành lại khá thấp, chỉ bằng 30-40% so với hàng gần tương đương của Mỹ.

Ngay cả EU vốn là đồng minh của Mỹ, giao thương vũ khí với Nga cũng khá sôi động. Động thái Pháp cố bán cho Nga hai chiếc tàu sân bay trực thăng ngay thời điểm EU đang thảo luận các biện pháp trừng phạt lên Nga vừa qua cho thấy nhiều nước vẫn muốn hợp tác với Kremlin về phương diện này. Ước tính mỗi năm EU xuất khẩu 300 triệu euro vũ khí sang Nga và ở chiều ngược lại, nhập khoảng 3,2 tỷ euro vũ khí từ Nga.

Với Trung Quốc, vũ khí của Nga, nhất là các máy bay chiến đấu đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của nước này. Và Trung Quốc có thể sẽ trở thành một bạn hàng lớn của Nga trong nhiều năm tới.

Văn Minh

 

Mục tiêu cuối cùng nào của TQ ở Biển Đông? -Vnn

12 Th8

 

Nếu hành xử của Bắc Kinh khiến láng giềng phải tìm kiếm sự giúp đỡ từ Washington thì điều đó chỉ gây rắc rối cho TQ khi tự họ đẩy mình vào thế cô lập trong khu vực và đối đầu trực tiếp với Mỹ.

TQ, Biển Đông, bản đồ 9 đoạn, chủ quyền, ASEAN, Gạc Ma Trường Sa, Mỹ, giàn khoan
Ảnh: AP

Mùa bão đã bắt đầu ở Biển Đông. Nhưng nguy hiểm hơn những trận cuồng phong phá hủy nhà cửa, cây cối là một cơn bão chính trị đang đe dọa hòa bình tại một trong những điểm nóng nhất thế giới.

Trong vài tháng qua, TQ đã có nhiều tranh chấp với các láng giềng Đông Nam Á ở Biển Đông khi tiến hành hàng loạt biện pháp mạnh để khẳng định yêu sách chủ quyền với các đảo, bãi cạn và bãi ngầm trong khu vực mà những nước khác có chủ quyền.

Quan chức ngoại giao, quốc phòng cấp cao Mỹ đã thẳng thừng cáo buộc TQ gây bất ổn trong khu vực và đe dọa láng giềng. Cam kết nhiều lần lặp lại của TQ về “phát triển hòa bình”, về “hữu nghị, chân thành, cùng có lợi và toàn diện” với Đông Nam Á trở nên xáo mòn. Thêm vào đó là sự mơ hồ về những mục tiêu của Bắc Kinh.

Thậm chí ngay ở chính Bắc Kinh cũng có sự mơ hồ về những động thái của họ, giữa phe ôn hòa và phe chủ trương dùng sức mạnh. Theo giới phân tích, nếu hành xử của Bắc Kinh khiến láng giềng phải tìm kiếm sự giúp đỡ từ Washington thì điều đó chỉ gây rắc rối cho TQ khi tự họ đẩy mình vào thế cô lập trong khu vực và đối đầu trực tiếp với Mỹ.

“Một số người trong hệ thống đang tự hỏi, liệu việc này có gây phản ứng ngược”, Christopher Johnson, một nhà phân tích TQ tại Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) nói.

Cố thay đổi thực tế thực địa

Mục tiêu mơ hồ nhưng những gì trong thực tế mà TQ đang làm ở Biển Đông lại trở nên rõ ràng.

Ngày 1/1, họ áp đặt quy định yêu cầu bất kỳ ai đánh bắt ở vùng biển mà họ yêu sách chủ quyền (lên tới 90%) ở Biển Đông, phải có sự cấp phép từ nhà chức trách TQ. Tháng 3, tàu phòng vệ bờ biển TQ đã ngăn chặn binh lính Philippines tiếp cận tàu tiếp tệ ở bãi Thomas II.

Trong vài tháng qua, tàu nạo vét TQ đã được điều động để làm đảo nhân tạo ở Johnson South Reef (tức đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam) và thậm chí dự định xây đường băng ở đây. Tháng 5, công ty Dầu khí ngoài khơi quốc gia TQ đã đưa giàn khoan trái phép tới vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN. TQ đã điều động đội tàu hộ tống hùng hậu đi theo giàn khoan này…

Mọi động thái trên đều vi phạm thỏa thuận DOC mà TQ đã ký với ASEAN 12 năm trước khi các bên cam kết “tự kiềm chế trong việc tiến hành các hành động có thể làm phức tạp hay leo thang tranh chấp, ảnh hưởng tới hòa bình và ổn định”.

“TQ rất tranh thủ cơ hội, thúc đẩy và tăng tốc những gì họ có thể, chiếm giữ nhiều nhất những gì họ có thể”, David Arase, giảng viên chính trị quốc tế tại Đại học Johns Hopkins nói. 

Bằng việc tiến hành từng bước nhỏ để tránh khiêu khích Washington hành động nhằm hỗ trợ các đồng minh trong khu vực, TQ đang cố gắng “làm nản lòng” các đối thủ tuyên bố chủ quyền và “khiến họ phải từ bỏ quyền lợi của mình”, ông nói.

TQ luôn khẳng định hành động của họ là hợp pháp, rằng họ có “chủ quyền không tranh cãi” với toàn bộ các đảo ở Biển Đông cùng vùng nước lân cận bất chấp những khu vực này cách đất liền bao xa hay gần với đường bờ biển của các nước khác thế nào. 

Bắc Kinh đưa ra bản đồ 9 đoạn khẳng định yêu sách chủ quyền ở Biển Đông, nhưng bản thân họ chưa từng giải thích rõ ràng về tấm bản đồ này. Nhưng đang cố gắng bảo vệ tấm bản đồ ấy bằng cách thay đổi sự thực trên thực địa.

Không thể bao biện

Cái giá mà TQ phải trả cho sự áp chế láng giềng cũng không nhỏ. Hành xử của TQ gần đây đã khiến cộng đồng quốc tế lên tiếng chỉ trích, khiến khu vực thêm lo ngại và bất an. Một cuộc thăm dò tháng 7 của Trung tâm nghiên cứu Pew cho biết, đa số người dân ở 8/10 quốc gia láng giềng TQ lo ngại các tham vọng lãnh thổ của TQ có thể dẫn đến xung đột quân sự.

Các láng giềng TQ giờ đây không còn tin khẳng định của Bắc Kinh rằng, họ có thể trực tiếp giải quyết bất đồng trong tranh chấp lãnh thổ. Cũng không có nước nào nhiệt tình hưởng ứng lời kêu gọi của ông Tập Cận Bình về một hệ thống an ninh mà TQ làm trung tâm thay thế hệ thống cũ mà Mỹ nắm giữ suốt 70 năm qua. 

Ông Tập nói trong một hội nghị quốc tế ở Thượng Hải hồi tháng 5 rằng: “Người châu Á cần điều hành các công việc của châu Á, giải quyết các vấn đề châu Á và duy trì an ninh châu Á”.

Những mục tiêu quan trọng hàng đầu và dài hạn của TQ trong yêu sách chủ quyền hàng hải, theo Rory Medcalf – phụ trách chương trình an ninh quốc tế Viện Lowy, là “đảm bảo rằng không có điều gì xảy ra ở Biển Đông mà không có sự can dự của TQ” và “đảm bảo tự do tối đa cho lực lượng hải quân để trở thành người chơi chiếm ưu thế trong vùng biển này”.

Các cố vấn chính sách cho chính phủ TQ cho rằng, những mục tiêu này có thể dễ dàng đạt được nếu các láng giềng TQ tin tưởng hơn; họ đang thúc giục việc tái lập lại quan hệ ngoại giao của TQ trong khu vực. 

“Hải quân TQ có thể đánh bại mọi lực lượng hải quân ASEAN. Vấn đề là có đáng để làm điều đó”, Xue Li, trưởng ban chiến lược quốc tế Viện Khoa học xã hội TQ nói. 

“Biển Đông có thể là một chiến trường thực sự và điều đó rất có hại với tương lai TQ”, Zhu Feng thuộc Đại học Nam Kinh, TQ nhận định. 

Thái An(theo csmonitor)

 

Thông điệp Biển Đông từ Nawpyidaw

11 Th8

 

Những thông điệp về Biển Đông ở Nawpyidaw không chỉ là câu chuyện sống còn của ASEAN về sự đoàn kết, khẳng định “vai trò trung tâm” trong duy trì hòa bình, an ninh và hợp tác khu vực.

Có lẽ 7 điểm mục cụ thể liên quan đến Biển Đông trong Thông cáo chung hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 47 (AMM 47) tuần qua tại Nawpyidaw, Myanmar là những thông điệp mạnh mẽ, quyết tâm hơn so với những văn bản cùng tầm mức từ trước đến nay.

Từ hội nghị của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN tháng 5 vừa qua cho đến hội nghị ở Nawpyidaw, những định hình ứng xử chịu tác động của vụ việc TQ hạ đặt trái phép giàn khoan trong vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa của VN.

Biển Đông, ASEAN, tự do hàng hải, DOC, COC
 

Vấn đề Biển Đông không còn là câu chuyện của một hội nghị riêng rẽ. ASEAN đã từng có không phải chỉ một hay những cơ hội hiếm hoi thử thách bản lĩnh, trách nhiệm về nỗ lực chung trong việc duy trì một khu vực hòa bình, ổn định.

Sự việc ở Cấp cao Phnom Penh 2012 từng là một bài học lớn về chuyện đoàn kết, nhưng đến vụ việc giàn khoan hồi tháng 5 cho thấy Biển Đông luôn không lặng sóng thực sự đòi hỏi định hình ứng xử, bản lĩnh và hành động trách nhiệm hơn của mỗi thành viên theo cách rõ ràng, nhất quán và không thể thất thường.

Ở AMM 47, các thành viên ASEAN chia sẻ nhận thức “tiếp tục quan ngại sâu sắc về những diễn biến gần đây làm gia tăng căng thẳng ở Biển Đông”, đồng thời gắn mức độ quan ngại này với tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh biển cũng như tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông. Đặc biệt, ASEAN cũng như các đối tác nhất trí không để tái diễn những hành động vi phạm tương tự giàn khoan, ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định ở khu vực.

Nhưng như điệu valse không thể thành, nếu chỉ có một phía. ASEAN lần này chỉ rõ trách nhiệm của TQ qua việc nhấn mạnh hơn nữa tầm quan trọng về cam kết chung của các nước thành viên ASEAN và TQ đối với hòa bình, ổn định, an ninh hàng hải, tin cậy lẫn nhau, và sự cần thiết tạo lập các điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết hòa bình các tranh chấp.

“Công cụ” DOC trong một thời gian dài bị “nhờn” khi có những hành xử đơn phương phá vỡ các nguyên tắc, cam kết chung, đe dọa hòa bình, an ninh và ổn định. Việc chỉ ra yêu cầu thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố DOC một cách tổng thể, nhất là nhắc rõ điều 4 và 5 được các thành viên ASEAN ở AMM 47 đặc biệt thúc giục tuân thủ.

Bất kể nước nào hưởng lợi về tự do an ninh hàng hải, dù gián tiếp hay trực tiếp, đều hiểu rằng tôn trọng pháp quyền, tuân thủ luật pháp quốc tế là cách hành xử văn minh nhất để hóa giải mọi tranh chấp, đóng góp cho việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và hợp tác phát triển ở khu vực.

Bởi vậy, ở AMM 47, các Bộ trưởng ASEAN đã “thúc giục các bên liên quan thực hiện kiềm chế và tránh các hành động gây phức tạp tình hình và làm phương hại đến hòa bình, ổn định và an ninh ở Biển Đông; giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, bao gồm đối thoại thân thiện, tham vấn và thương lượng, phù hợp với các nguyên tắc được công nhận của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước LHQ về Luật biển 1982”.

Các Bộ trưởng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì đà tham vấn và khẩn trương làm việc nhằm sớm đạt được COC, tiếp theo những kết quả mang tính xây dựng của hội nghị Quan chức cao cấp (SOM) ASEAN-TQ lần thứ 7 về thực hiện DOC ở Thái Lan, và cuộc họp Nhóm công tác chung ASEAN-TQ lần thứ 10, 11 về thực hiện DOC tại Singapore và Indonesia hồi tháng 4 vừa qua.

Quả bóng giờ đã được chuyền cho phía TQ vốn luôn chần chừ, câu giờ suốt thời gian qua. Trong bối cảnh gia tăng những thách thức an ninh ở Biển Đông, với những “bài học” của DOC để lại như việc mất đến 9 năm mới có bản hướng dẫn thực hiện, ASEAN đã ngả rõ sự đồng thuận tuyệt đối về sự cần thiết đàm phán thực chất Bộ quy tắc ứng xử (COC) có tính ràng buộc pháp lý.

ASEAN có mục tiêu lớn nhất cận kề, đó là thành lập Cộng đồng chung vào năm 2015. Biển Đông có thể được coi là cuộc thử lửa bản lĩnh của ASEAN khi mà sự phát triển thịnh vượng trên mọi mặt chỉ có thể đạt được dựa trên nền tảng hòa bình, an ninh ổn định và cùng hợp tác phát triển.

Đặt vấn đề trong ra-đa quan tâm chung, gắn ứng xử với hành động trách nhiệm, sự đóng góp bản lĩnh tự cường của tất cả mọi thành viên rõ ràng là sự trải nghiệm thiết thực để ASEAN trở thành một Cộng đồng mạnh thực sự của khu vực.

VN trong các hội nghị đã chia sẻ đánh giá của ASEAN và các đối tác về việc cần phải đẩy mạnh nỗ lực chung nhằm bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác ở khu vực, trong đó có hòa bình, an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở Biển Đông.

Bày tỏ quan ngại sâu sắc về các vụ việc gây căng thẳng gần đây, đặc biệt là việc hạ đặt trái phép giàn khoan trong vùng biển VN, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nhấn mạnh việc không để tái diễn những hành động vi phạm tương tự; đề cao các nguyên tắc của ASEAN như đã được nêu trong Tuyên bố Nguyên tắc 6 điểm và Tuyên bố của các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN ngày 10/5/2014, trong đó nhấn mạnh tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước LHQ về Luật biển, Tuyên bố DOC; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, kiềm chế, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; triển khai đầy đủ và hiệu quả DOC, nhất là quy định tại điều 5 về không được có các hành động làm phức tạp tình hình, đồng thời cần thúc đẩy thương lượng thực chất để sớm đạt được COC.

  • Linh Thư

 

%d bloggers like this: