Tag Archives: xảy ra

Điều gì diễn ra ở VN 20 năm tới?

17 Th2

-Chúng ta đang bung ra với một sức mạnh tiềm ẩn bị đè nén đến mấy chục năm. Và như vậy trong khoảng hai chục năm tới chúng ta cũng sẽ thấy những thay đổi ít ai ngờ.

Tết đến xuân về tưởng như chuyện muôn năm cũ, mà lạ thay vẫn mang đến không ít suy tư, không chỉ về những được – mất trong cuộc đời mà còn về những  biến thiên xã hội. Tết cũng là thời điểm ta nhận ra, ta không thể dửng dưng với xã hội xung quanh, thứ hàng ngày hàng giờ tạo nên một phần cuộc sống của mỗi người.

Với nước ta, quãng thời gian từ khi mở cửa rộng rãi với thế giới đến nay tuy mới chỉ hơn 20 năm nhưng dường như là một thời kỳ lịch sử rất dài. Có lẽ chưa bao giờ, xã hội Việt Nam có cuộc lột xác nhanh chóng như giai đoạn hơn 20 năm vừa qua.

Ám ảnh tôi ngày này, là những hình ảnh quá khứ trong câu chuyện được ông Lê Xuân Trinh, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, kể.

Năm 1991, ông Võ Văn Kiệt được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Khi đó, phần lớn quan chức Chính phủ vẫn còn đến cơ quan bằng …dép lê. Một trong những chỉ thị đầu tiên của ông Võ Văn Kiệt trên cương vị người đứng đầu Chính phủ là yêu cầu công chức đến nhiệm sở phải đi giày hoặc dép có cài quai hậu. Bạn có thấy ngạc nhiên và thú vị?

Việt Nam, Hàn Quốc, lớp trẻ, kinh tế, xã hội, năm mới

Những năm đầu thập kỷ 90 là thời gian đất nước bắt đầu thay đổi mạnh mẽ, khởi đầu với việc tái hội nhập kinh tế quốc tế. Để dễ hình dung, tôi sẽ điểm lại một vài dấu mốc.

Năm 1993 chúng ta bắt đầu tiến trình bình thường hóa quan hệ với các tổ chức tài chính, tiền tệ, thương mại quốc tế. Năm 1994 bắt đầu thành lập các tổng công ty 90, 91, tiền thân của các tập đoàn nhà nước “quả đấm thép” ngày nay. Đến năm 1995 là năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt-Mỹ, ký hiệp định khung về hợp tác với liên minh châu Âu, và cũng là năm Việt Nam chính thức trở thành thành viên của ASEAN. Những sự kiện này và rất nhiều sự kiện khác nữa đã đánh dấu điểm bắt đầu cho sự lột xác của đất nước sau những chuỗi ngày dài khó khăn.

Những thế hệ người Việt các giai đoạn 1950s, 1960s… thế kỷ trước, đã chứng kiến và trải nghiệm một cuộc sống với nhiều biến chuyển khó quên. Từ một xã hội bao cấp, tem phiếu trong đó tài sản mỗi người chẳng có gì ngoài những vật dụng tối thiểu nhất mua theo kiểu phân phối, đến nay ngay ở các thị trấn nhỏ giá nhà đất cũng đã cao không kém đất đai các thành phố nhỏ những nước phát triển.

Việt Nam, Hàn Quốc, lớp trẻ, kinh tế, xã hội, năm mới
Ảnh minh họa: Trần Chánh Nghĩa

Sau bao năm ở nước ngoài, giờ đây, nhớ về Hà Nội, tôi vẫn giữ nguyên ấn tượng những năm 90 thế kỷ trước, mỗi lần ghé thăm người thân ở làng Mễ Trì (phía tây Hà Nội). Nếu có đi về khuya, hai bên đường tối om, hoang vắng, chỉ nghe tiếng ếch kêu, hai bên bờ sông Tô Lịch hồi đó vẫn là vùng cây cối um tùm và bẩn thỉu. Vùng Cổ Nhuế cũng vậy, đất đai rộng rãi, nhà cửa thưa thớt.  Hoặc chỉ cần đi hơi xa khỏi trường ĐH Bách Khoa về phía nam theo đường Giải Phóng là đã thấy phong cảnh làng quê, ao chuôm.

Giờ đây, chính tại những vùng đất ấy, các khu đô thị sầm uất đang mọc lên hàng ngày với đường sá nhà cửa quy mô không kém gì các thành phố lớn của các nước phát triển hàng đầu ở phương tây.

 

Còn rất nhiều thay đổi chóng mặt khác từ vật chất đến tinh thần, cả xấu lẫn tốt, tác động sâu sắc đến từng con người, từng thế hệ người Việt ngày nay. Cuộc sống hiện đại ngồn ngộn sự kiện, báo chí tràn đầy tin tức. Dường như cả xã hội cùng hối hả trong một vũ điệu quay cuồng. Như một lẽ tự nhiên, rất nhiều người cùng chia sẻ một tâm trạng chung: vừa háo hức với những điều mới lạ sẽ đến, lại vừa âu  lo trước những thay đổi khó lường trong tương lai.

Tôi vẫn nhớ một bài báo nước ngoài mô tả xã hội Trung Quốc mấy năm trước. Rằng tất cả như một cái lò xo bị nén đến mấy chục năm bây giờ  khi lực nén ấy đột ngột giảm xuống thì lò xo bật lên rất mạnh. Làm biến đổi bộ mặt xã hội.

Tôi không khỏi liên tưởng đến chính xã hội ta. Với hình ảnh cái lò xo đang bung ra.

Tất cả vẫn đang bung ra với một sức mạnh tiềm ẩn bị đè nén và kìm hãm bao năm. Và như vậy trong khoảng hai chục năm tới chúng ta cũng sẽ thấy những thay đổi ít ai ngờ nổi, giống như cuộc lột xác mấy chục năm vừa qua. Chỉ có điều, nó sẽ đem đến nhiều điều tốt đẹp hơn hay lắm điều không mong muốn?! Cái lò xo đó có đủ mạnh mẽ để vượt qua những chướng ngại vật trên đường đi không, hay sẽ bị chúng làm cho chậm lại.

Những câu hỏi về tương lai như thế này không dễ gì giải đáp, cho dù luôn có hằng hà sa số nghiên cứu công phu về kinh tế-xã hội nhằm tìm cho ra câu trả lời.

Nhiều người thường so sánh Việt Nam và các nước láng giềng trong khu vực có bối cảnh tương đồng để xem bước đi trong 20 năm qua và tiên đoán tương lai. Tuy nhiên, ngay cả khi có những phân tích đáng tin cậy, ta cũng không thể tìm ra câu trả lời xác đáng. Bởi lẽ tồn tại rất nhiều khác biệt về thể chế kinh tế, cơ cấu xã hội. Những khác biệt đó đủ lớn để tạo nên một diện mạo rất khác sau cùng một quãng thời gian, cùng một điểm xuất phát.

Chọn lựa tốt nhất cho mỗi người năm mới là giữ lòng tin và kiên trì để tiếp tục đi trên những con đường đúng đắn, để hướng tới những mục tiêu bền vững của chính mình.

  • Thụy Vũ (từ Mỹ)

——-

LÀM THẾ NÀO ĐỂ TRÁNH XẢY RA CHIẾN TRANH TRUNG-NHẬT LẦN THỨ BA? – BS

22 Th3

Posted by News on March 21st, 2014

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)

Thứ hai, ngày 17/03/2014

(Bài viết của Trịnh Vĩnh Niên , giám đốc Trung tâm nghiên cứu Đông Á, Đại học quốc gia Singapore đăng trên trang mạng : Báo Liên hợp buổi sáng “ ngày 18/2)

Từ cuối nhà Thanh đến nay, Trung Quốc và Nhật Bản đã từng trải qua hai cuộc chiến tranh. Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất (năm 1894-1895), còn được gọi là Chiến tranh Giáp Ngọ. Cuộc chiến tranh này xảy ra trong thời kỳ Nhà Thanh thống trị Trung Quốc, vì vậy cũng được gọi là Chiến tranh Thanh-Nhật. Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai (năm 1937-1945) bùng nổ trong thời kỳ Quốc Dân Đảng thống trị Trung Quốc, từ lý luận mà nói là chiến tranh giữa Trung Hoa Dân Quốc với Nhật Bản. Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất kết thúc bằng thất bại của Trung Quốc, còn Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai, Trung Quốc là bên giành chiến thắng. Hai thời đại khác nhau, hai cuộc chiến, hai lần làm đút đoạn tiến trình hiện đại hóa của Trung Quốc. Năm 2014 lại là năm Giáp Ngọ, trùng với năm bùng nổ Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất, quan hệ Trung-Nhật lại gặp phải thời khắc gay gắt nhất từ khi Chiến tranh Triều Tiên kết thúc đến nay, chiến tranh Trung-Nhật lần thứ ba liệu có nổ ra hay không đã trở thành đề tài mà giới nghiên cứu chính sách và các chính trị gia tranh luận sôi nổi. Còn Trung Quốc hiện nay là nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa.

 

Mối quan hệ căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản đang không ngừng leo thang

Từ khi đảng Dân chủ Nhật Bản quốc hữu hóa đảo Điếu Ngư (Nhật Bản gọi là đảo Senkaku), mối quan hệ căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản luôn không ngừng leo thang. Trong vấn đề đảo Điếu Ngư, mục tiêu chiến lược của Trung Quốc thực chất là có giới hạn, đó là muốn Nhật Bản thừa nhận tính tranh chấp chủ quyền của quần đảo Điếu Ngư. Để đáp trả quá trình “quốc hữu hóa” của Nhật Bản, Trung Quốc bắt đầu tiến hành tuần tra thường xuyên đối với đảo Điếu Ngư. Nhật Bản không chấp nhận cục diện này, muốn thông qua việc tăng cường sức mạnh quân sự của mình để thay đổi cục diện này. Đương nhiên, Trung Quốc cũng áp dụng biện pháp chống kiềm chế. Nếu tình hình này tiếp tục leo thang, có thể dẫn tới bùng nổ chiến tranh. Tất cả những sự việc nảy sinh trong đầu năm Giáp Ngọ càng củng cố thêm sự tưởng tượng không có giới hạn của mọi người đối với chiến tranh Trung-Nhật lần thứ ba. Để nhanh chóng thúc đẩy công cuộc hiện đại hóa quân sự toàn diện, Nhật Bản tuyên bố mua vũ khí tiên tiến của các nước như Mỹ… Và nhân dịp Tết âm lịch của Trung Quốc, máy bay chiến đấu của Nhật Bản tiến vào Vùng nhận dạng phòng không trên biển Hoa Đông mà Trung Quốc mới thiết lập. Đồng thời, cuộc chiến ngoại giao của hai nước trong cộng đồng quốc tế cũng đang tiếp tục tiến hành. Bên cạnh việc nhìn thấy các hiện tượng leo thang, mọi người lại không nhìn thấy có bất kỳ nhân tố nào có thể khiến cho mối quan hệ hai nước hòa dịu.

Ở mức độ nào đó, vấn đề quần đảo Điếu Ngư chỉ là một trong những nguyên do khiến cho quan hệ Trung-Nhật xấu đi. Quần đảo Điếu Ngư chỉ là một cái cớ trong kế hoạch to lớn của Nhật Bản. Nhật Bản muốn mượn cớ này để trở thành “quốc gia bình thường”, một lần nữa trở thành nước lớn về quân sự. Quần đảo Điếu Ngư chỉ là lý do thoái thác tốt nhất để Chính phủ Nhật Bản chứng minh với quốc dân và cộng đồng quốc tế về việc tái quân sự hóa của mình. Trước kia, Nhật Bản cũng muốn mượn các vấn đề như “Triều Tiên”…, nhưng không có sức thuyết phục lớn hơn đối với quốc dân hoặc cộng đồng quốc tế. Hiện nay, việc Nhật Bản coi một nước lớn như Trung Quốc là “vấn đề”, thậm chí đe dọa, là có thể thể hiện tính hợp lý cúa mình với quốc dân và cộng đồng quốc tế. Vì vậy, rất nhiều người bắt đầu lo ngại chiến tranh Trung-Nhật lần thứ ba là không thể tránh khỏi.

Mọi người vừa không thể xem nhẹ và coi thường mối quan hệ ngày càng xấu đi giữa Trung Quốc và Nhật Bản, càng không thể chấp nhận một cách đơn giản lôgích bi quan “Trung Quốc và Nhật Bản chắc chắn sẽ xảy ra chiến tranh”, mà phải xem xét nhiều hơn đến việc làm thế nào để tránh xảy ra chiến tranh. Cái giá phải trả của chiến tranh là không thể lường trước, không chỉ là cái giá phải trả về tính mạng con người, kinh tế xã hội, mà còn là ký ức đau khổ mãi về sau. Bản thân vấn đề đảo Điếu Ngư là di sản của cuộc chiến tranh Trung-Nhật. Hơn nữa, xã hội hiện nay còn phải đối diện với mối đe dọa chiến tranh hạt nhân, một khi chiến tranh bùng nổ sẽ mang tính hủy diệt.

Trung Quốc phải coi trọng hơn nữa diễn biến của quan hệ Trung- Nhật, không thể lơ là thiếu cảnh giác đối với bất kỳ dấu hiệu nào khiến cho tình hình leo thang, để tránh cuối cùng đi vào lôgích chiến tranh. Trên thực tế, chí ít từ nhận thức của hai nước cho thấy quan hệ Trung-Nhật đã bước vào vòng tuần hoàn ác tính, đó là hai bên đều coi mọi hành động của đối phương là nhằm vào mình, và hai bên đều đang bắt đầu chuẩn bị cho các cuộc xung đột. Xã hội của Trung Quốc và Nhật Bản đều tồn tại một nhóm người, mà tâm lý chiến tranh của họ đang tăng lên. Phát triển đến giai đoạn nhất định, “Thuyết về Trung-Nhật chắc chắn sẽ xảy ra chiến tranh” sẽ diễn biến thành “Thuyết về chúng ta tất thắng”, Đến lúc này, rất khó có không gian để xoay chuyển tình thế.

Việc xử lý quan hệ vói Nhật Bản không thể luôn dừng ở giai đoạn cảm xúc

Việc xử lý quan hệ với Nhật Bản, điều chủ yếu nhất vẫn là cần có lý tính, không thể luôn dừng ở giai đoạn cảm xúc, Trung Quốc phải hiểu rõ mục tiêu chiến lược cao nhất trong giai đoạn hiện nay vẫn là hiện đại hóa bền vững, cũng có nghĩa là việc đối phó với Nhật Bản là để tránh khiến cho sự hiện đại hóa của Trung Quốc một lần nữa bị gián đoạn. Vừa không thể vì mối đe dọa đến từ Nhật Bản mà buộc phải gián đoạn sự hiện đại hóa, càng không thể vì chính sách đối với Nhật Bản của Trung Quốc không có lý tính mà tự gián đoạn sự hiện đại hóa về bản chất, quan hệ Trung-Nhật là quan hệ giữa ba nước Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ. Đương nhiên, trong xử lý quan hệ với Nhật Bản, Trung Quốc không thể tránh được việc phải trao đổi với Mỹ. Nhưng ở mặt này, Trung Quốc đặc biệt không thể đưa ra những phán đoán sai lầm đối với nhân tố Mỹ. Bản thân Trung Quốc không có bất kỳ ảnh hưởng mang tính thực chất nào đối với Nhật Bản, hành động đối với Nhật Bản, ngoài việc lên án bằng lời nói, Trung Quốc không có cách nào khác có hiệu quả hơn. Một trong những phán đoán của Trung Quốc được cho là nguyên nhân chủ yếu khiến cho Nhật Bản cứng rắn như vậy là do có Mỹ đứng đằng sau; nếu không có Mỹ, Nhật Bản sẽ không cứng rắn như vậy. Vì vậy, rất nhiều người Trung Quốc coi Mỹ còn quan trọng hơn Nhật Bản. Trung Quốc yêu cầu Mỹ không nên đứng về phía Nhật Bản, ngoài ra, cũng không có yêu cầu nào khác đối với Mỹ. Tuy nhiên, phán đoán này của Trung Quốc chỉ đúng một nửa, yêu cầu Mỹ không đứng về phía Nhật Bản là rất khó thỏa mãn. Cho dù sự tồn tại của đồng minh Mỹ-Nhật không có nghĩa là Mỹ chắc chắn sẽ đứng về phía Nhật Bản, Mỹ cũng có thể xem xét giữ lập trường tương đối trung lập. Nhưng có đồng minh Mỹ-Nhật, xác suất Mỹ đứng về phía Nhật Bản sẽ lớn hơn, và căn bản không có bất kỳ cơ hội nào Mỹ sẽ đứng về phía Trung Quốc. Nếu đặt lợi ích địa vị bá quyền toàn cầu của Mỹ để xem xét, thì Mỹ chắc chắn sẽ phải đứng về phía Nhật Bản. Đồng minh Mỹ-Nhật là sự kiểm nghiệm đối với khả năng bá quyền của Mỹ. Nếu Trung Quốc và Nhật Bản xảy ra xung đột, Mỹ không chút quan tâm, thì không chỉ ở châu Á, mà trên toàn thế giới, sẽ còn có nước nào tiếp tục tin tưởng Mỹ?

Mỹ có thể có ảnh hưởng đối với Nhật Bản, nhưng cùng với sự suy thoái tương đối của Mỹ, ảnh hưởng này trở nên có giới hạn. Cho dù về lý luận, Nhật Bản luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của đồng minh Mỹ-Nhật, nhưng cũng bắt đầu không còn tin tưởng Mỹ. Khi Yukio Hatoyama của đảng Dân chủ Nhật Bản lên nhậm chức thủ tướng, liền muốn theo đuổi địa vị cân bằng với Mỹ, hiện nay điều mà Shinzo Abe đang làm cũng là tương tự như Hatoyama, nhưng phương thức mà Shinzo Abe và Yukio Hatoyama áp dụng hoàn toàn trái ngược nhau, một người phản đối Trung Quốc, một người thân Trung Quốc. Yukio Hatoyama thân thiết với Trung Quốc khiến cho người Mỹ tìm được cái cớ, còn Shinzo Abe phản đối Trung Quốc thì không chỉ khiến cho Mỹ không tìm được cái cớ, trái lại còn phải giúp đỡ Nhật Bản. Hiện nay, Nhật Bản muốn dựa vào sức mạnh của Mỹ, để trở thành quốc gia bình thường, quay trở lại vũ đài quốc tế. Nhưng đồng thời, Nhật Bản cũng không phải là hoàn toàn tin tưởng Mỹ, mà muốn thông qua việc trở thành quốc gia bình thường để làm sống lại mình, bảo vệ mình. Điều này cũng cho thấy xu thế phát triển hiện nay của Nhật Bản đến giai đoạn nhất định chắc chắn tạo thành áp lực rất lớn đối với Mỹ. Nhật Bản trở thành quốc gia bình thường, có khả năng tự bảo vệ, thì Mỹ còn có thể tiếp tục hiện diện tại Nhật Bản và châu Á hay không?

Sự tồn tại đồng thời của những nhân tố phức tạp này cho thấy giữa Trung Quốc và Nhật Bản có thể tránh được lôgích “chắc chắn sẽ có một cuộc chiến”. Mục tiêu của Trung Quốc là kiềm chế Nhật Bản, không để cho Nhật Bản lại một lần nữa làm gián đoạn tiến trình hiện đại hóa của Trung Quốc.

“Bán chiến tranh lạnh” có lẽ sẽ khiến cho hai bên bình tĩnh

Một cuộc “bán chiến tranh lạnh” có lẽ sẽ khiến cho hai bên bình tĩnh. Điều quan trọng hơn nữa là “bán chiến tranh lạnh” với Nhật Bản cũng sẽ có lợi cho sự hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc. Tồn tại một “kẻ thù” bên ngoài không phải là sự việc xấu đối với quân đội Trung Quốc. Tất cả các cường quốc đều phải có “kẻ thù giả tưởng”. Không có kẻ thù, thậm chí không có “kẻ thù giả tưởng”, quân đội sẽ không có ý chí chiến đấu, không có tinh thần chiến đấu, sa vào cuộc sống xa xỉ, thậm chí xuất hiện hủ bại trên diện rộng. Điều này cũng chính là miêu tả hiện trạng của quân đội Trung Quốc. Những năm gần đây, mọi người luôn đưa ra câu hỏi “Liệu quân đội Trung Quốc có thể đánh trận hay không, có thể đánh thắng trận hay không?”, vấn đề này, đằng sau nó chính là sự lo ngại đối với hiện trạng của quân đội Trung Quốc. Không có “kẻ thù”, sẽ không có lực lượng quân đội hùng mạnh; không có lực lượng quân đội hùng mạnh, sẽ không có quốc gia hùng mạnh. Đến khi quân đội Trung Quốc hùng mạnh, có thể đánh thắng trận, mối đe dọa từ Nhật Bản hoặc bất kỳ quốc gia nào khác cũng sẽ tự biến mất.

Tương tự, Nhật Bản phải có áp lực từ bên ngoài để giải quyết các vấn đề do chiến tranh để lại. Chính do cái ô bảo hộ của Mỹ, Nhật Bản không chỉ không thanh toán các món nợ chiến tranh, mà lực lượng chính trị cánh hữu luôn thao túng lịch sử chiến tranh, đã tạo ra ấn tượng về một cuộc chiến tranh chính nghĩa cho dân chúng Nhật Bản. Vấn đề đền Yasukuni chính là như vậy. Từ thời Minh Trị Duy Tân đến nay, đền Yasukuni chủ yếu là nơi thờ tụng những người lính tử trận, vổn không phải là vấn đề chính trị. Vấn đề này là kết quả thao túng của phe cánh hữu chính trị Nhật Bản, do năm 1978 đền Yasukuni đưa các tội phạm chiến tranh loại A vào đền để thờ cúng mới trở thành vấn đề chính trị. Nhiều năm qua, trong nước Nhật Bản cũng luôn thảo luận vấn đề “phân loại thờ cúng”. Tất cả các vấn đề khác, ví dụ như vấn đề “phụ nữ giải khuây”, sách giáo khoa… nếu không có sức ép từ bên ngoài, thì Nhật Bản cũng sẽ không giải quyết. Trong trạng thái “bán chiến tranh lạnh”, nhũng vấn đề này nhiều khả năng sẽ trở thành vấn đề chính trị trong nước của Nhật Bản, và vấn đề duy nhất mà Trung Quốc và Nhật Bản phải đối diện chính là những va chạm có thể xảy ra về vấn đề quần đảo Điếu Ngư. Điều này đòi hỏi hai bên phải xây dựng cơ chế quản lý và kiểm soát khủng hoảng. Cho dù là bên nào, chỉ cần mối đe dọa đến từ đối phương đủ lớn, sẽ có mong muốn xây dựng cơ chế quản lý và kiểm soát kiểu này. Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, cơ chế quản lý và kiểm soát các mặt của Mỹ và Liên Xô cũng được xây dựng như vậy. Trong trạng thái “bán chiến tranh lạnh”, Trung Quốc và Nhật Bản có đủ thời gian để điều chỉnh chính sách, chiến lược và thái độ của mình đối với đối phương. Sau Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc có thể đối diện với mấy cục diện sau:

Một là, Trung Quốc lại một lần nữa hùng mạnh, giống như thời Nhà Đường hoặc giống như Mỹ ngày nay, thì Nhật Bản có thể thay đổi thái độ đối với Trung Quốc. Dựa vào cường quốc mạnh nhất là kinh nghiệm lịch sử của Nhật Bản. Trong tương lai, điều này không phải là không thể xảy ra.

Hai là, Trung Quốc lại một lần nữa hùng mạnh, đồng thời Nhật Bản cũng trở nên hùng mạnh. Trong tình hình này, Trung Quốc cũng có đủ khả năng ngăn chặn Nhật Bản chủ động khiêu khích, và cuốn vào chiến tranh một cách bị động, hai bên đạt đến một mức độ cân bằng. Cho dù tục ngữ Trung Quốc có câu “một quả núi không chứa hai con hổ”, tuy nhiên, quả “núi” này đủ lớn để dung nạp hai con hổ. Giống như lịch sử mấy nghìn năm cho thấy Trung Quốc và Nhật Bản tương đối độc lập, giao lưu trao đổi tương đối ít.

Ba là , hoặc là sẽ đợi đến sau này toàn bộ khu vực Đông Á phát triển đến mức độ giống như châu Âu, thì sự phát triển kinh tế sẽ đưa ra những yêu cầu điều chỉnh lớn hơn, và Chính phủ Trung Quốc và Nhật Bản cũng muốn hợp tác, như vậy sẽ xuất hiện tình hình giống như châu Âu.

Đối với Trung Quốc, trạng thái “bán chiến tranh Lạnh” như vậy cũng vô cùng quan trọng, về chính trị quốc tế, nước yếu không có quyền phát ngôn, “Vạc hậu tất sẽ bị đánh”, đây là chân lý hàng nghìn năm nay không thay đổi. Trung Quốc không có tham vọng tấn công nước khác, nhưng phải có khả năng để tránh bị tấn công. Tránh bị tấn công, điều này vẫn có tính không xác định rất lớn trong thời đại hiện nay. Muốn tránh bị tấn công, Trung Quốc vẫn phải nỗ lực, phải trong tình hình kiềm chế “sự tấn công từ bên ngoài”, tiếp tục thực hiện hiện đại hóa các mặt trong nước. Khi Trung Quốc thực sự trở thành cường quốc thế giới, đến lúc này các vấn đề quốc tế mà hiện nay đang phải đối diện sẽ có phương thức giải quyết tốt hơn và có hiệu quả hơn./

 

Nếu Mỹ tấn công Syria, hậu quả gì có thể xảy ra ? – TN

31 Th8
 

Nếu Mỹ tấn công Syria, hậu quả gì có thể xảy ra ?

31/08/2013 12:40

(TNO) Cuộc tấn công Syria bằng tên lửa của Mỹ có thể châm ngòi phản ứng dây chuyền bùng nổ từ Syria đến các đồng minh của nước này như Hezbollah và Iran, và đòn trả đũa có thể nhằm vào các mục tiêu của Mỹ hoặc Israel, trang ABC News hôm 29.8 dẫn lời các chuyên gia cho biết.

>> Mỹ công bố bằng chứng tấn công hóa học ở Syria
>> Rộ tin Mỹ sẽ nhẹ tay với Syria
>> Tổng thống Pháp: Có thể đánh Syria vào ngày 4.9
>> Anh rút lui, Mỹ vẫn quyết tìm đồng minh đánh Syria

Theo nhận định của các chuyên gia thì việc đánh giá tác động lan tỏa từ cuộc tấn công vào Syria chắc chắn nằm trong tính toán của chính quyền Obama, nhưng nó đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng và chính xác về mặt khoa học.

“Một cuộc tấn công quân sự thường có hậu quả không lường trước được”, ông Dan Byman, thành viên cao cấp về chính sách đối ngoại tại Viện nghiên cứu Brookings, nhận xét.

Hiện có 5 kịch bản mà Mỹ có thể phải đối mặt trong vài tuần tới, theo ABC News.

 

Những hậu quả có thể xảy ra nếu Mỹ tấn công Syria
 Lực lượng chính phủ Syria khai hỏa ở ngoại ô Damascus hôm 30.8 – Ảnh: AFP

 

1. Syria sẽ trả đũa

Syria đã đe dọa Mỹ và các đồng minh, đặc biệt là Israel, là sẽ trả đũa bất kỳ sự can thiệp nào của Mỹ vào cuộc nội chiến Syria.

Nếu Damascus bị tấn công, Tel Aviv sẽ bị đưa vào tầm ngắm, và một cuộc chiến toàn diện chống lại Syria sẽ đồng nghĩa với việc Israel cũng bị tấn công, hãng thông tấn Fars (Iran) dẫn lời một quan chức quân sự Syria cho biết.

“Nếu Syria bị tấn công, Israel cũng sẽ bị hủy diệt, và các nước láng giềng của Syria sẽ lần lượt tham gia vào cuộc tấn công này”, vị quan chức này nói.

Nhưng theo nhận định của các chuyên gia về chính sách của Mỹ thì có lẽ quân đội của tổng thống Assad không có khả năng phát động một cuộc tấn công quy mô lớn vào thời điểm này, vì đang phải tập trung lực lượng chiến đấu với quân nổi dậy, theo ABC News.

Bất kỳ chiến dịch trả đũa nào của quân đội Assad phần lớn sẽ có quy mô nhỏ và mang tính biểu tượng, với mục đích tạo tiếng vang và tìm kiếm sự hỗ trợ hơn là gây thiệt hại cho Mỹ và các đồng minh, nhà phân tích tại Trung tâm nghiên cứu chiến lược quốc tế Anthony Cordesman cho biết.

“Syria có thể thực hiện một số vụ trả đũa theo kiểu hình thức, nhưng về cơ bản, tất cả sức mạnh của quân đội đã đặt vào cuộc nội chiến”, ông Cordesman nói.

Syria sẽ mất nhiều hơn là được nếu thực hiện các vụ trả đũa có quy mô lớn, và dễ dẫn đến nguy cơ bị đáp trả khốc liệt bằng lực lượng tên lửa hùng hậu của Mỹ. Thay vào đó, chế độ Assad có thể thực hiện một số vụ trả đũa nhỏ lẻ nhằm đạt được lợi ích về mặt tuyên truyền, ông Cordesman cho biết thêm. 

2. Iran sẽ tấn công Israel

Giới lãnh đạo Iran cũng đã có những tuyên bố mạnh mẽ trong những ngày gần đây, cảnh báo Mỹ nên đứng ngoài cuộc xung đột ở Syria, và đe dọa sẽ trả đũa chống lại Israel nếu Syria bị tấn công.

Hãng thông tấn Fars dẫn lời một quan chức Iran nói rằng nước này sẽ “san bằng Israel, là nước gắn kết chặt chẽ với an ninh quốc gia của Mỹ”.

Nhưng theo nhận định của ông Cordesman thì trong trường hợp Iran tiến hành một cuộc tấn công vào Israel, Mỹ không chắc sẽ bảo vệ đồng minh của mình.

“Iran có thể cố gắng chứng minh sức mạnh của mình bằng cách sử dụng các thành phần của lực lượng Al Quds, hoặc tài trợ cho một cuộc tấn công của bên thứ ba vào bất kỳ mục tiêu nào của Mỹ, Israel và Jordan”, ông Cordesman nói.

Israel có thể sẽ phải tự mình phòng thủ. Mỹ có lý do rõ rệt để không dính quá sâu vào Israel khi nước này đang kêu gọi sự ủng hộ từ nhiều quốc gia Ả Rập, theo ông Cordesman.

Theo nhận định của ông Byman, nếu Iran lựa chọn không tấn công Israel hoặc Jordan, nước này vẫn có thể tăng cường hỗ trợ cho Assad.

“Iran và Nga có thể đẩy mạnh phản ứng của họ bằng cách gửi thêm nhiều tay súng, khuyến khích các tay súng từ Iraq và Li Băng, gửi vũ khí, đồng thời gia tăng áp lực ngoại giao”, ông Byman nói.

3. Các nhóm Hồi giáo cực đoan có thể trả đũa

Các nhóm Hồi giáo cực đoan và các nhóm quân sự như Hezbollah cũng có thể lên kế hoạch trả đũa chống lại các mục tiêu của Mỹ hoặc đồng minh.

“Hezbollah có thể phản ứng”, Cordesman nói, “Hành động cực đoan của các nhóm Hồi giáo luôn luôn là một khả năng rất dễ xảy ra”.

Tuy nhiên, mức độ phản ứng của các nhóm Hồi giáo cực đoan sẽ tùy thuộc vào cách thức mà Mỹ tiến hành can thiệp quân sự vào Syria. Iran có thể sẽ khuyến khích Hezbollah can dự Syria song thực tế nhóm quân sự này đã tham chiến tại đây.

Nhưng theo nhận định của Mike O’Halloran, thuộc Viện Brookings, thì có lẽ các nước lớn trong khu vực sẽ không muốn tạo cớ cho Mỹ tham gia sâu hơn vào cuộc nội chiến Syria.

“Tại sao cần phải đánh thức một người khổng lồ đang ngủ? Trong khi Mỹ chỉ miễn cưỡng can thiệp, ngay cả trong việc trang bị vũ khí cho quân nổi dậy… Vì vậy, có lẽ không bên nào thuộc phía ủng hộ Assad mong muốn thay đổi điều đó”, ông nói. 

4. Mỹ bị cáo buộc gây tội ác chiến tranh

Trong quá khứ, Mỹ đã từng phải chịu hậu quả vì làm giả thông tin tình báo, nên sự khẳng định của chính quyền Obama về việc quân đội Assad sử dụng vũ khí hóa học nhắm vào thường dân đã gây nhiều nghi ngờ, ông Cordesman cho biết.  

Một chiến lược mà Syria có thể sử dụng để trả đũa Mỹ là cáo buộc nước này gây tội ác chiến tranh, ông giải thích.

“Quan trọng nhất là những gì xảy ra sau cuộc tấn công. Syria có thể tập trung thu thập bằng chứng của bất kỳ thiệt hại nào về con người và tài sản, dù thật hay giả, nhằm cáo buộc Mỹ gây tội ác chiến tranh trước diễn đàn Liên Hợp Quốc”, Cordesman nói.

5. Mỹ răn đe thành công và bình an vô sự

Đề cập đến các hậu quả có thể xảy ra từ cuộc tấn công quân sự vào Syria, ông O’Halloran tin rằng chiến dịch có khả năng sẽ thành công.

Rõ ràng Tổng thống Obama chỉ quan tâm đến việc ngăn chặn sử dụng vũ khí hóa học và cũng không muốn can thiệp quá sâu rộng vào Syria. Vì thế, Tổng thống Assad sẽ không đến nỗi quá bồng bột để mang lại cho ông Obama một lý do nào đó để biện minh hoặc cảm thấy cần thiết can thiệp quân sự toàn diện vào Syria, ông O’Halloran cho biết.

“Tôi không nghĩ rằng mức độ can thiệp của Tổng thống Obama sẽ đi quá giới hạn trừng phạt và ngăn chặn việc sử dụng vũ khí hóa học, để thiết lập lại sự răn đe về vấn đề vũ khí hủy diệt hàng loạt và cách hành xử trên toàn thế giới”, ông nói.

Ngoài ra, ông còn cho biết ông Obama sẽ có cảm giác thành công nếu không có một cuộc tấn công bằng vũ khí hóa học nào xảy ra sau đó và Iran cùng CHDCND Triều Tiên lưu ý đến vấn đề này.

Nguyên Giang

>> Mỹ công bố bằng chứng tấn công hóa học ở Syria
>> Rộ tin Mỹ sẽ nhẹ tay với Syria
>> Tổng thống Pháp: Có thể đánh Syria vào ngày 4.9
>> Anh rút lui, Mỹ vẫn quyết tìm đồng minh đánh Syria
>> Nhà Trắng tiết lộ ‘bằng chứng vũ khí hóa học’ ở Syria
>> Syria quyết chống lại các cuộc tấn công của Mỹ và phương Tây
>> Dân Mỹ xuống đường biểu tình phản đối tấn công Syria

Liệu sẽ xảy ra khủng hoảng kinh tế ,dẫn đến khủng hoảng chính trị ở Việt Nam? – BS

12 Th8

 Liệu sẽ xảy ra khủng hoảng kinh tế dẫn đến khủng hoảng chính trị ở Việt Nam?

Posted by basamnews on August 12th, 2013

RFA tiếng Việt

Phạm Chí Dũng gửi RFA (*)
11-8-2013

Bài tham luận “Liệu sẽ xảy ra khủng hoảng kinh tế dẫn đến khủng hoảng chính trị ở Việt Nam?” của Tiến Sĩ Kinh tế Phạm Chí Dũng, một cây bút thường xuyên của RFA, dưới đây được đọc trong Cuộc hội thảo Hè năm 2013 tại Singapore với chủ đề “Cải cách ở Việt Nam đang đi về đâu?” trong hai ngày Thứ Hai 12 và Thứ Ba 13 tháng 8 2013..

 

1Những người cùng thời

Cùng với bối cảnh suy thoái kinh tế trầm kha và nhiều tiền đề cho khủng hoảng xã hội ở Việt Nam từ năm 2011 đến nay, vấn đề chủ quyền biển đảo và những đòi hỏi về dân chủ, nhân quyền đang được những người trong phong trào dân chủ ở Việt Nam áp sát hơn hẳn so với những năm trước.

Một sự kiện chưa từng có trong lịch sử thể chế đương đại là vào đầu năm 2013, một nhóm nhân sĩ, trí thức mang tinh thần phản biện yêu nước, còn gọi là nhóm “Kiến nghị 72”, đã nêu ra các khuyến nghị và khuyến cáo đối với đảng và chính quyền về các quyền lập hội, biểu tình, trưng cầu dân ý và cả về sự thay đổi phải có của điều 4 trong hiến pháp.

Hoạt động không chỉ mang tính lời nói như thế đang phản ánh bầu tâm tư rất nặng lòng của không chỉ công dân đối với chế độ, mà còn là tình cảm mong muốn một sự thay đổi tốt đẹp hơn, hoặc ít ra cũng đỡ xấu hơn, xuất phát từ chính những cán bộ lão thành, đảng viên và cả một bộ phận công chức, viên chức đương nhiệm.

Như một quy luật, phản biện không thể thiếu đất sống ở những nơi mà mầm non bị vùi dập. Xuất phát chỉ với một hành trang hạn hẹp, nhưng đến đầu năm 2012, cùng với hành động nổi dậy của người nông dân Đoàn Văn Vươn, giới blogger lề dân đã tạo cho mình được một tài sản đáng giá là truyền thông xã hội. Trong suốt năm 2012, bất chấp nhiều áp lực chính trị, một số blogger vẫn làm được những việc có ích cho xã hội, đặc biệt hỗ trợ quyền lợi chính đáng của dân oan đòi đất và dấy lên không khí về chủ quyền biển đảo. Cho đến đầu năm 2013, sau chuyến đi Roma của người đứng đầu đảng Nguyễn Phú Trọng, điều có vẻ ngẫu nhiên là một số cơ quan quản lý nhà nước về thông tin và cả một số lãnh đạo cao cấp của đảng đã phải thừa nhận thế đứng của giới truyền thông xã hội, về độ thông tin nhanh nhạy mà hoàn toàn có thể cạnh tranh và còn vượt hơn cả báo chí nhà nước.

Với những gì mà giới truyền thông xã hội đã gây ấn tượng và tích tụ cho đến ngày hôm nay, đó là cái gì, nếu không phải là một tiền đề đầu tiên và cực kỳ quan trọng cho một mẫu hình nào đó cho xã hội dân sự trong tương lai ở Việt Nam?

Sự tự do tương đối cho tới nay của giới truyền thông xã hội đã tạo nên một chân đứng đầu tiên về thông tin cho xã hội dân sự ở Việt Nam. Quan trọng hơn, chân đứng này còn đang được nối kết ngày càng mật thiết với giới truyền 2thông quốc tế. Nhiều vấn đề về an ninh biển Đông, an sinh xã hội, mâu thuẫn và xung đột mang tính xã hội, những chủ đề chính trị như sửa đổi hiến pháp và điều 4 độc đảng, dân chủ và nhân quyền, tự do tôn giáo… đã được nhiều báo nước ngoài trích dẫn và bình luận từ tin tức của giới truyền thông xã hội trong nước.

Ba giai đoạn trong trung hạn

Một cách thông thường và diễn ra theo kịch bản trì trệ mà không xảy ra một biến động đủ mạnh và đủ lớn ứng với một cuộc suy thoái nặng nề hoặc khủng hoảng kinh tế, nền chính trị vẫn kéo dài sự tồn tại của nó, còn những nguyện vọng đòi hỏi dân chủ hơn của các nhóm phản biện xã hội vẫn chỉ có thể đạt được một tầm mức không đủ cao. Sự phản ánh chân thực của báo chí nhà nước cũng vì thế sẽ chưa thể hiện được đúng với khả năng còn tiền ẩn và bầu tâm huyết của nó.

Nhưng nếu nền kinh tế bị sói mòn trầm trọng và kéo theo những biến động xã hội đủ mạnh, đó lại là điều kiện và sự gieo mầm cho các ý tưởng và hành động phản biện. Mức độ thăng trầm của xã hội và chính trị càng lớn, quy luật tất yếu là phản biện sẽ càng gia tăng sức ép của nó đối với thể chế.

Cũng có một quy luật chính trị – xã hội khác: trong bối cảnh nội bộ thể chế không thuận hòa và phát sinh nhiều mâu thuẫn – có thể là mâu thuẫn giữa các cá nhân hoặc giữa các nhóm lợi ích, nhóm thân hữu với nhau, đó là một điều kiện quan trọng để hoạt động phản biện phát triển, không chỉ bằng hoạt động thông tin và bình luận trên mạng, mà còn có thể hình thành những tổ chức sinh hoạt công khai theo đường lối ôn hòa. Nhóm “Kiến nghị 72” với nhiều nhân sĩ, trí thức đầu đàn là một minh chứng và một phương pháp luận như thế.

Trong cách nhìn của một bộ phận lãnh đạo đảng và chính quyền, hiện thời và trong thời gian tới, một lực lượng trí thức có tính độc lập, hay nói khác hơn là mang tính trung lập, có thể là cần thiết, với mục đích tạo nên một độ mở dân chủ nào đó cho khuôn mặt của chế độ, cũng là nhân tố có thể mang lại thiện cảm với các tổ chức và quốc gia trên thế giới quan tâm đến vấn đề dân chủ, nhân quyền và xã hội dân sự ở Việt Nam.

3Phản biện xã hội và phong trào phản biện của giới nhân sĩ, trí thức cũng có thể tương tác và tương ứng với những ưu thế mới trong tình hình mới. Và đó cũng là một điều kiện nữa để hoạt động phản biện có thể tiến xa hơn một bước: hình thành các nhóm công khai với sinh hoạt theo phương châm ôn hòa, bất bạo động.

Nếu cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra vào những năm 2016-2017, thời gian từ nay đến đó sẽ có thể được xem là quãng đường trung hạn trong 3-4 năm. Quãng đường đó có thể phải trải qua 3 giai đoạn:

1/ Giai đoạn thứ nhất: giải quyết những vấn đề gay cấn trong nội bộ và tạm kết thúc với thế cục chính trị nghiêng hẳn về một quan điểm và một nhóm chính khách nào đó. Trong giai đoạn này, nền kinh tế tạm phục hồi, chưa lộ ra những xung đột khủng hoảng và những phản ứng xã hội mang tính đối kháng. Hoạt động phản biện xã hội cũng có điều kiện để phát triển về lượng và chất, về mối liên kết chiều rộng và cả chiều sâu. Giai đoạn này có thể kéo dài từ giữa năm 2013 đến giữa năm 2015.

2/ Giai đoạn thứ hai: hành xử mang tính “hồi tố” của chính thể và nhóm chính khách chiếm ưu thế đối với những tiếng nói và hành động bị xem là đối lập, đối kháng và đi quá xa. Phong trao phản biện tạm lắng. Giai đoạn này có thể trùng với một cuộc suy thoái kép hoặc khủng hoảng kinh tế nổ ra trên thế giới, bắt nguồn từ Trung Quốc. Kinh tế Việt Nam cũng chìm sâu vào vòng xoáy khủng hoảng và bùng nổ nhiều xung đột về kinh tế và xã hội. Giai đoạn này có thể diễn ra từ giữa năm 2015 đến giữa hoặc cuối năm 2017.

3/ Giai đoạn thứ ba: khi tất cả cùng cộng hưởng ở một điểm: kinh tế, xã hội và cả chính trị mất kiểm soát, không phải bởi các lực lượng phản biện của trí thức, mà do phản ứng sống còn của chính người dân trước làn sóng suy thoái kinh tế kinh niên hoặc khủng hoảng kinh tế, tước đoạt những nỗ lực tồn tại cuối cùng của đời sống dân sinh. Khủng hoảng kinh tế càng trầm trọng, tính chất và quy mô phản ứng xã hội càng ghê gớm, có thể dẫn đến một sự thay đổi về chân đứng, thậm chí về bản chất nền chính trị của chế độ. Đây là giai đoạn mà phong trào phản biện xã hội mang tính ôn hòa sẽ thăng hoa. Giai đoạn này sẽ diễn ra nhanh chóng hơn hai giai đoạn trước, có thể vào nửa cuối năm 2017 và kéo sang năm 2018.

Giai đoạn thứ ba lại khiến xã hội Việt Nam sẽ phải trải qua một giai đoạn hệ quả tiếp nối, từ năm 2017-2018 trở đi, với quá trình ma sát thô và tương tác giữa các lực lượng chính trị cũ và mới, trước khi tiến tới một sự ổn định mới về4 chính trị và xã hội, phục hồi kinh tế. Giai đoạn tiếp theo này rất khó xác định về thời gian diễn biến, nhưng ít nhất phải mất 4-5 năm.

Với mỗi giai đoạn trên, xã hội dân sự ở Việt Nam đều có thể đạt được những bước tiến triển mong muốn, nếu những người thực hiện nó đủ chuyên cần, đoàn kết và sáng tạo.

Phản biện xã hội những năm tháng cận cảnh

Ngay trước mắt, điều mà đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam gọi là “cơ hội lịch sử” cho chuyến đi của ông Trương Tấn Sang đến Washington vào tháng 7/2013 cũng lại là một cơ hội khác cho hoạt động phản biện độc lập ở Việt Nam.

Dù không có nhiều kỳ vọng từ kết quả của cuộc gặp Obama – Sang, nhưng tình thế đã có một chuyển biến nhỏ và có thể hy vọng sẽ dẫn tới những chuyển biến lớn hơn. Nhà nước Việt Nam sau một thời gian dài im lặng, đang dần chấp nhận quan điểm phản biện về nhân quyền và dân chủ của người Mỹ và các tổ chức quốc tế, nhưng tất nhiên có tính điều kiện.

Nhưng cùng với những điều kiện song hành giữa kinh tế, chính trị và cả quân sự, trong vài năm tới lối mở cho dân chủ, nhân quyền và không khí phản biện ở Việt Nam sẽ rộng đường hơn. Phản biện và những hoạt động có tính tổ chức của nó sẽ có thể được công khai hóa trong một chừng mực và phạm vi nào đó.

Ngay từ bây giờ, đang rất cần đến một sự kết nối có tính thành tâm, hữu dụng và bài bản giữa các nhóm trí thức kiều bào Việt Nam ở nước ngoài với trí thức trong nước, không chỉ dừng ở tính chất đơn lẻ, mà nhằm xây dựng một phong trào phản biện chặt chẽ và có chiều sâu, với hàng loạt chủ đề thiết thân như:

5– Bảo vệ chủ quyền biển đảo, hạn chế sự phụ thuộc của nền kinh tế và chính trị Việt Nam vào Trung Quốc.

– Phản biện chống tham nhũng và các nhóm lợi ích, nhóm thân hữu.

– Bảo vệ quyền lợi của nông dân trước hành vi trưng thu đất đai bất hợp pháp và vô lối.

– Phản biện đối với chủ đề sở hữu trong Luật đất đai và cơ chế thu hồi đất đối với các dự án kinh tế – xã hội.

– Bảo vệ quyền lợi của công nhân và thị dân về điều kiện làm việc và an sinh xã hội.

– Đấu tranh chống tác động tiêu cực của một số doanh nghiệp đối với môi trường tự nhiên.

– Phản biện đối với một số vấn đề kinh tế gay gắt như nợ công quốc gia; nợ và nợ xấu; tính độc quyền của kinh tế quốc doanh và một số tập đoàn; ngân hàng; các thị trường đầu cơ như vàng, bất động sản; những ngành có liên quan mật thiết đến người tiêu dùng như điện, xăng dầu, nước…

– Thúc đẩy Quốc hội sớm ban hành Luật biểu tình, Luật lập hội, Luật trưng cầu dân ý.

– Thúc đẩy tiếng nói của trí thức độc lập tại Quốc hội.

– Thúc đẩy tính hợp hiến và hợp pháp hóa của quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do tôn giáo.

– Phản biện đối với các điều luật chính trị hóa hành vi phản phản biện như điều 79, 87, 88, 258 trong Bộ luật hình sự.6

– Phản biện đối với điều kiện giam giữ phạm nhân trong các trại giam.

– Hỗ trợ tinh thần và vật chất cho các gia đình có người bị giam giữ, liên quan đến yếu tố chính trị.

– Phản biện với chính những tiếng nói phản biện thiếu tinh thần xây dựng và đoàn kết.

Tương lai từ xã hội dân sự

Loạn lạc là đường cùng của nhân dân, và đường cùng của dân chúng lại rất thường là đường cùng của chế độ. Đó cũng là một bài học nhãn tiền cho những chính khách đương thời và những nhà quản lý xã hội trong tương lai.

Một trong những giải pháp tốt đẹp nhất cho xã hội Việt Nam trong tương lai chỉ có thể đến từ xã hội dân sự.

Song song với các mục tiêu ngắn hạn, những nhóm nhân sĩ và trí thức trong nước và ngoài nước cần phối hợp tiến hành nghiên cứu một đề án về xã hội dân sự Việt Nam trong tương lai, cho 15-20 năm tới, nhưng những tiền đề của mô hình xã hội dân sự ấy có thể được ứng dụng ngay trong 4-5 năm tới, nếu các điều kiện kinh tế – chính trị và xã hội cho phép.

Việc kêu gọi các tổ chức quốc tế về nhân quyền và dân chủ hỗ trợ cho đề án về xã hội dân sự là rất cần thiết.

Cuộc hành trình của phản biện xã hội và xã hội dân sự ở Việt Nam trong ít nhất 20 năm tới không chỉ là một sự thay đổi về tương quan kinh tế – chính trị, mà còn là một cuộc cách mạng về văn hóa và dân trí cho các tầng lớp nhân dân.

Thay đổi của xã hội cũng là hệ quả cho phản biện và cơ hội cho dân chủ. Phong trào phản biện dân chủ và những điều kiện cho một xã hội dân sự ở Việt Nam đang nằm trong xu thế và lộ trình trung hạn có thể trong giai đoạn 2013-2017, và nếu được tổ chức tốt, phong trào này có thể góp sức cho xã hội về những triển vọng lạc quan trong tương lai dài hạn của dân tộc.

Xã hội dân sự có thể làm cái điều mà một chính thể hiện thời không làm được: phục hồi và nâng cấp chất liệu văn hóa và nhân cách cho cả một dân tộc.

TS Phạm Chí Dũng

———–

(*) Thông tin bên lề:

Nhận lời mời của ban tổ chức hội thảo hè Singapore với chủ đề “Cải cách Việt Nam đang đi về đâu?”, do nhóm trí thức Việt kiều Viet-Study tổ chức sẽ diễn ra vào hai ngày 12 – 13/8/2013, nhà báo tự do Phạm Chí Dũng đã mua vé máy bay để chuẩn bị lên đường. Nhưng trước chuyến bay 4 ngày, một cơ quan an ninh đã phát tín hiệu về việc ông Dũng “không nên đi”, để từ đó đương sự nên tự hiểu rằng sẽ có động tác ngăn chặn ở sân bay Tân Sơn Nhất nếu vẫn đi. Do vậy, ông Dũng đã buộc phải trả lại vé máy bay.

Ông Dũng là trường hợp duy nhất chịu tác động ngăn chặn từ phía cơ quan an ninh, trong khi các thành viên khác của đoàn Việt Nam đi dự hội thảo hè Singapore không gặp trở ngại gì cho đến thời điểm này.

Cách đây một năm, nhà báo Phạm Chí Dũng đã bị bắt khẩn cấp với cáo buộc “âm mưu lật đổ chính quyền”. Sau hơn 4 tháng bị tạm giam điều tra, ông được tại ngoại và sau đó nhận quyết định đình chỉ điều tra. Từ thời điểm tháng 3/2013 đến nay, ông đã viết và cộng tác hơn 50 bài báo với các đài quốc tế Việt ngữ như BBC, RFI, RFA, VOA.

Tác động “tăng cường kiểm soát” đối với ông Dũng lại xuất hiện ngay sau bản tuyên bố chung Việt – Mỹ ra đời, trong đó có đề cập đến vấn đề nhân quyền. Phạm Chí Dũng  cũng là tác giả của khá nhiều bài bình luận trước, trong và sau cuộc gặp cấp cao Barak Obama – Trương Tấn Sang.

So với một số trường hợp khác bị ngăn chặn ở sân bay khi xuất ngoại, tác động ngăn chặn đối với nhà báo tự do Phạm Chí Dũng có kín đáo hơn.

Hai trường hợp gần đây bị hải quan và an ninh cửa khẩu ngăn chặn ngay tại sân bay là nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh trong chuyến đưa con trai đi Mỹ và nhà nghiên cứu Nguyễn Hoàng Đức đi Roma.

    • infooption
    • Click here to enable the button
      Twitter Dummy Image
    • Click here to enable the button
      Facebook Dummy Image

When you activate these buttons by clicking on them, some of your personal data will be transferred to third parties and can be stored by them. More information here.

This entry was posted on Monday, August 12th, 2013 at 01:51 and is filed under Chính trị. You can follow any responses to this entry through the RSS 2.0 feed. You can leave a response, or trackback from your own site.

3 Responses to “1948. Liệu sẽ xảy ra khủng hoảng kinh tế dẫn đến khủng hoảng chính trị ở Việt Nam?”

 
  1. Nguoi Sai Gon says:

    Di qua Singapore khong co Pham Chi Dung buon qua!

  2. dân chủ là để người dân được mở cái miệng ra, dân chủ là không bịt miệng dân(Hồ chí Minh) says:

    Nhà cầm quyền Việt nam sợ tiếng nói của người dân nói lên sự thật ở Việt Nam tại diễn đàn quốc tế (hội thảo Hè năm 2013 tại Singapore với chủ đề “Cải cách ở Việt Nam đang đi về đâu?”) nên cấm nhà báo Phạm Chí Dũng, vì anh dám nói thẳng, nói thật, và nhà nước không áp đặt được quan điểm của nhà nước cs đối với Anh.

  3. Lương Tâm says:

    Liệu sẽ xảy ra khủng hoảng kinh tế dẫn đến khủng hoảng chính trị ở Việt Nam? Đây là một câu hỏi hay! (và sự lý giải trong bài viết cũng có nhiều điều để suy ngẫm).

    Tại sao?

    Nhà nước dân chủ không có nghĩa là bất cứ quyết định nào của nhà nước cũng đều phải trưng cầu dân ý. Quyền lực của nhà nước thuộc về nhân dân không đồng nghĩa với việc từng người dân đều được trang bị vũ khí nóng.

    Nhà nước dân chủ phải là nhà nước luôn luôn biết lắng nghe ý kiến trái chiều và luôn luôn thấu hiểu những khó khăn của từng người dân. Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân phải là nhà nước luôn công khai và minh bạch tất cả các hoạt động và thông tin (là bí mật quốc gia thì có thời gian biểu cụ thể cho sự công bố và bạch hóa), người dân được quyền đòi hỏi người cầm quyền phải từ chức nếu phát hiện những sai lầm trong điều hành công việc của người này.

    Chúng ta là những chiến sĩ dân chủ? Sai!
    Chúng ta chỉ đang đấu tranh để có được một nhà nước thực sự dân chủ cho đất nước ta. Lịch sử sẽ xác định liệu chúng ta có phải là những chiến sĩ dân chủ thực thụ hay không. Nói luôn dễ hơn làm, ước muốn luôn màu hồng còn thực tế luôn lắm thử thách và chông gai.
    “Chúng ta” tức là những người có ân oán với cộng sản? Sai! “Chúng ta” là tất cả những ai muốn đất nước ta được hùng cường, dân tộc ta được văn minh, nhà nước ta được dân chủ.

    Chúng ta đang tán gẫu? Sai! Chúng ta đang trực tiếp chiến đấu. Mặt trận của chúng ta được gọi là truyền thông không có nghĩa chỉ là sự thông tin, đó còn là sự lý luận và sự ám thị.

    Nước chảy đá mòn. Góp gió thành bão.
    Ví thử đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt khác chi ai?

Có điều gì đó xảy ra ở đây

14 Th5
 

Có điều gì đó xảy ra ở đây

Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn những người đã dịch bài. Tôi đã đọc kỹ hai bản dịch và đã tự chọn những từ, những câu mình thấy sát với ý mình nhất. Kết luận của tôi là dịch thuật khó kinh khủng và tốn thời gian! Tôi cững xin nhấn mạnh đối với những ai mà lo ngại nội dung bài viết này: Tôi chỉ xin thận trọng trình bày một số quan sát của mình trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Hy vọng chuyện không đồng ý sẽ được coi là chuyện bình thường, vì về cơ bản tôi là bạn của Việt Nam. Có được không ạ?

———

(Lời của một bài hát…)

Có điều gì đó đang xảy ra ở đây, nó là cái gì thì chưa rõ…
Một kẻ có súng đứng ở đâu đó, bảo tôi phải cẩn thận đấy…

Tôi nghĩ (đã) đến lúc chúng ta dừng lại, bọn trẻ nghe xem âm tiếng đó, mọi người nhìn xem cái gì đang xảy ra

Giới tuyến chiến đấu đã được vạch, và không ai đúng nếu ai cũng sai
Những người trẻ nói điều họ suy nghĩ và rồi bị phản đối rất nhiều sau lưng.

Đã đến lúc chúng ta phải dừng lại, này mọi người, tiếng nói ấy từ đâu ra? Mọi người hãy nhìn xem chuyện gì đang xảy ra.

– Buffalo Springfield, bài hát “For What It’s Worth”, 1967.

Những sự việc quan trọng đang xảy ra ở Việt Nam. Hầu hết chú ý đều đồn về sự đàn áp của nhà nước, một thuộc tính của nền chính trị Việt Nam vẫn tiếp tục làm ô uế thanh danh của đất nước trên trường quốc tế. Tuy nhiên trong vòng vài tháng qua, Việt Nam đã có một số thay đổi trong nền văn hoá chính trị có tính quyết định và không thể chối cãi – một phát triển có ý nghĩa quan trọng hơn rất nhiều so với bản thân sự đàn áp.

Những thay đổi trong văn hóa chính trị đó có biểu hiện rất đa dạng. Chúng không chỉ bao gồm các kiến nghị của những thành phần nhân sĩ trí thức hay các hành vi thách thức đây đó, dù rằng ý nghĩa của những điều này thật không nên bỏ qua. Quan trọng hơn, trong một thời gian rất ngắn, Việt Nam đã phát triển một nền văn hóa chính trị sinh động và đa nguyên.

Nhận ra những thay đổi đó cũng có nghĩa là nhận ra cả những hạn chế của nó. Lái xe qua vùng nông thôn miền Trung Việt Nam chỉ một tuần trước đây, tác giả (mà có nhiều bạn thân ở Quảng Nam và Đà Nẵng, kể cả nhiều người trong bộ máy cầm quyền) được nhắc nhớ đến những yếu tố có tính Stalin mà đất nước này vẫn chưa thoát khỏi được. Tuy nhiên, điểm nổi bật là ở đây không còn diện mạo duy nhất của nền chính trị trong nước. “Chính trị như thường lệ” (“politics as usual” – một thành ngữ trong tiếng Anh có nghĩa gần “chính trị như thường lệ”) đang bị tấn công trên nhiều mặt trận và việc đáp trả trừng trị điển hình không còn hiệu lực nữa.

Vậy chính xác là điều gì đang xảy ra? Có ba tiến triển quan trọng nhất. Đầu tiên là một tâm lý ngày càng mạnh hơn ở Việt Nam, tồn tại ngay cả trong nhóm những người có thể tiếp cận với chính quyền, cho rằng thể chế xã hội và thể chế chính trị của đất nước đang cần được cấp thiết thay đổi. Ngoại trừ một số ít thành phần suy nghĩ ảo tưởng và ngoan cố bảo thủ phản ứng bất chấp, tất cả những người quan sát nghiêm túc nền kinh tế chính trị Việt Nam biết rằng đây là lúc phải thay đổi.

Kế đến, người dân Việt Nam đang tìm được tiếng nói của mình. Không chỉ còn đơn giản là một số ít ỏi tiếng nói bất đồng chính kiến dũng cảm sẵn sàng chịu đựng cơn thịnh nộ của nhà nước. Những lời kêu gọi thay đổi đang được phát ra từ các khu vực khác nhau, từ bên trong, bên ngoài, và tại các giới hạn của cấu trúc quyền lực. Những tiếng nói ấy đang xuất hiện rất đa dạng. Dù nói lên những điều khác nhau, nhưng những tiếng nói ấy đang ngày càng độc lập. Chúng đang mở ra. Và từ quan sát những gì đang xảy ra, có thể thấy rằng những tiếng nói ấy sẽ không thể sớm bị dập tắt.

Hiện nay, mỗi ngày hàng quân đoàn người Việt Nam đang sử dụng thế giới blog để bày tỏ quan điểm của mình. Những người trong đảng và nhà nước thường xuyên truy cập vào những phân tích độc lập. Và nghệ thuật bình luận chính trị đang phục hưng. Có thể thấy sự đổi mới trên Facebook, hiện đang được truy cập rộng rãi ở Việt Nam. Có thể thấy nó trên blog, bây giờ cũng gần như không bị chặn nữa. Và từ quan sát những gì đang xảy ra, có thể thấy rằng những tiếng nói ấy sẽ thể không sớm bị dập tắt.

(Dù vẫn còn giới ngu dốt, không có đầu óc, chỉ biết theo ai mà có quyền và dù mới đây có dấu hiệu có một lực lượng lạc hậu vẫn còn ý tấn công, Và tôi cững được biết không ít người thể hiện chính kiến chính đáng vẫn bị đe dọa. Đáng tiếc.)

Mới cuối tuần trước, hàng trăm người Việt Nam đổ ra các công viên ở Hà Nội, TP.HCM và Nha Trang để tham gia “dã ngoại” nhân quyền và tự do hội họp. Dù đã bị trấn áp và đe doạ, những hành động đó vẫn mang tính kiên trì. Và cho dù chỉ xảy ra chớp nhoáng, những hoạt động đó quả thật vẫn cứ là một kiểu Tocqueville của Việt Nam.

Điều này đưa chúng ta đến một yếu tố cuối cùng và có lẽ gây tò mò nhất: cuộc xói mòn chậm chạp của sự đàn áp của nhà nước. Đàn áp vẫn còn và vẫn khó chịu hơn bao giờ hết khi nó vung tay lên. Nhưng vì những lý do phức tạp và thời gian tồn tại không chắc chắn, đàn áp từng phổ biến tại Việt Nam đang tan biến đi. Ví dụ như, hôm nay, hình ảnh của những cuộc dã ngoại đang được tự do phổ biến trên mạng.

(Xin nêu quan điểm, việc có thông tin, có hình ảnh lưu hành một cách tương đối tự do đối với tôi là một tiến triển rất khích lệ. Ai mà muốn chống điều đó rõ ràng chính là những người phản động, cực kỳ bảo thủ, lạc hậu, và không giúp Việt Nam tiến lên. Giống như việc có hình ảnh của một số người bị đánh đập do hành vi bất chính đáng của một số ít công an có thể thành bằng chứng để xét xử. Dù các blogger Việt Nam có ý phê bình, hơn 99% trong số học là những người hoàn toàn có tinh thần trách nhiệm, xây dựng! Nên, tôi xin những bạn cầm quyền đựng sợ, nóng vội đàn áp như ở Trung Quốc.)

Lập luận chung cho rằng sức mạnh ngày càng tăng của chính trị đối lập (và đúng hơn xu hướng đa nguyên hóa trong nội bộ Đảng) là chủ yếu xuất phát từ các phe phái trong đảng, trong đó các nhóm đối lập nhận ra được lợi ích từ sự công khai đang tấn công lẫn nhau. Quan điểm hơi khác của tôi là việc này phản ánh một tư duy và nhận thức ngày càng lớn mạnh hơn trong hàng ngũ của Đảng, rằng việc trông cậy vào các kỹ thuật trấn áp (như ở Trung Quốc) là một con đường không khả thi và không mong muốn cho tương lai.

Đừng nhầm lẫn: môi trường chính trị ở Việt Nam vẫn còn đàn áp. Nhưng đó cũng là một môi trường chính trị đang thay đổi, sống động, và ngày càng thú vị. Nói chung, dự đoán những tiến triển chính trị trong chế độ độc tài là chuyện điên rồ. Tuy nhiên đối với tác giả bài này, có thể thấy được là thay đổi chính trị thực sự sẽ diễn ra ở Việt Nam trong vòng 5 năm tới. Có rất nhiều người tài năng và động lực trong, ngoài đảng và nhà nước đang tìm kiếm tiếng nói của họ. Ít nhất, với cuộc bàn luận chính trị ngày càng công khai, phát triển chính trị của Việt Nam đã bước vào một giai đoạn mới, tuy nó còn mơ hồ.

JL

HN Paris: Điều gì thực sự xảy ra 40 năm trước?

28 Th1

HN Paris: Điều gì thực sự xảy ra 40 năm trước?

Giữ chức Vụ trưởng Vụ châu Á- châu Đại dương Bộ Ngoại giao Pháp từ 1969-1975, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ trung gian giữa các bên đàm phán Hiệp định Paris, nhà ngoại giao Pháp Henri Froment-Meurice nhìn lại những gì thực sự xảy ra từ hơn 40 năm trước.

 

Hoài nghi

Ông Henri Froment-Meurice: …Năm 1969, tôi nhậm chức Vụ trưởng Vụ châu Á – Bộ Ngoại giao Pháp. Khi đó thì các cuộc hội đàm đã được tiến hành ở Paris. Với nước Pháp, vai trò thể hiện ở Hiệp định Paris vừa đơn giản, vừa phức tạp. Đơn giản vì với tư cách là chủ nhà khi đó, chúng tôi có đủ các điều kiện thuận lợi. Nước Pháp có quan hệ với tất cả các bên, với hai miền Bắc và Nam Việt Nam, dù chưa phải là quan hệ cấp đại sứ nhưng chúng tôi có phái đoàn ngoại giao ở Hà Nội và Lãnh sự quán ở Sài Gòn. Về mặt kỹ thuật, nước Pháp đơn giản là tạo được những điều kiện thuận lợi nhất cho các bên đàm phán.

Nhưng phức tạp, vì nước Pháp cũng có thể coi là một nhân tố trong đàm phán. Chúng tôi đóng vai trung gian trong các cuộc thương lượng, đưa ý kiến bên này đến bên kia, và đôi khi đưa ra cả các cam kết và ý tưởng.

Trong các điều khoản của Hiệp định Paris được ký kết, có không ít đến từ các đề xuất của Pháp. Trước đàm phán, miền Bắc Việt Nam cương quyết với điều kiện Mỹ rút quân, Washington kiên quyết phải có ngừng bắn ở miền Nam Việt Nam. Hiệp định Paris đã thỏa mãn được cả hai điều đó, tức vừa có ngừng bắn, vừa có một giải pháp chính trị sau khi Mỹ rút quân. Với nước Pháp, đó là điều rất đáng hài lòng.

Với cá nhân tôi, Hiệp định Paris mang lại cả sự hài lòng lẫn hoài nghi. Hài lòng vì chiến tranh kết thúc. Cuộc chiến Việt Nam gây ra quá nhiều mệt mỏi, tạo ra sự căng thẳng trong quan hệ quốc tế và để lại những thảm họa nhân đạo. Điều tốt nhất, đó là kết thúc chiến tranh. Nhưng bên cạnh đó là sự hoài nghi là Hiệp định này sẽ không được tôn trọng. Cảm giác đó giống như sau Hiệp định Geneve năm 1954.

Tôi nghĩ rằng với nhiều người Việt Nam, Hiệp định Paris được coi là một thắng lợi bởi đã đuổi được người Mỹ…

Anh nói điều mà chính tôi lo ngại lúc nãy. Hà Nội muốn đàm phán và đã ký một Hiệp định. Hiệp định này là một giải pháp chính trị, có việc thành lập một chính quyền chung ở miền Nam, có giải pháp về lực lượng thứ 3, có việc tiến tới bầu cử một cách hòa bình và dân chủ. Nhưng thực tế nó đã chỉ được coi như là một Hiệp định đình chiến. Sự hoài nghi của tôi chính vì lẽ đó: một khi người Mỹ rời đi, sẽ có rất ít khả năng hai miền Bắc, Nam Việt Nam không tiếp tục cuộc chiến.

Chúng ta tạm bỏ qua tranh luận này. Tôi muốn hỏi là với tư cách là người trong cuộc, theo ông tại sao cuộc đàm phán ở Paris kéo dài đến 5 năm trong khi ban đầu người ta nghĩ nó có thể trong vài tháng, hoặc cùng lắm là 1-2 năm?

Các bên đàm phán có những yêu cầu kiên quyết  không nhượng bộ. Phía miền Bắc Việt Nam quyết không chịu đàm phán với chính quyền Thiệu và đòi người Mỹ phải rút nhưng với người Mỹ thì không có chuyện bỏ rơi Thiệu. Đó là điều căn bản. Ngoài ra còn có những vấn đề khác, tuy ít quan trọng hơn. Đó là phải tìm kiếm một giải pháp chính trị kiểu gì ở miền Nam Việt Nam. Trước hay sau Thiệu, có hay không có Thiệu…

 

Những người ở miền Nam Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc, nhưng bị gọi đơn giản là “con rối của người Mỹ”.

 

Bên cạnh đó, vẫn còn một cuộc chiến tranh đang diễn ra mà khi đó không ai dám nói trước rằng người Mỹ sẽ thua vì rõ ràng tương quan lực lượng lúc đó không nghiêng về phía miền Bắc Việt Nam. Có các trận đánh trên các chiến trường, nhưng người Mỹ có sự vượt trội về không quân, về các máy bay ném bom rất hiệu quả đến tận những ngày cuối cùng của chiến tranh. Ngoài ra, có một bộ phận dân chúng ở miền Nam Việt Nam hoàn toàn chưa sẵn sàng để chấp nhận chủ nghĩa cộng sản, vì họ là những người “quốc gia”.

Ở đây tôi muốn đặt chủ đề này trong ngoặc kép. Ngày đó, tôi thực sự rất sốc khi một vài đồng hương của tôi trong chính phủ và Quai d’Orsay (BNG Pháp), coi Hồ Chí Minh là một người dân tộc chủ nghĩa tốt. Đúng, đó là một người dân tộc chủ nghĩa nhưng cũng là một người cộng sản.

Không thể quên hoàn cảnh quốc tế thời đó. Chúng ta đã có một cuộc chiến Triều Tiên, giữa những người cộng sản và những người dân tộc, kết thúc là sự chia cắt hai miền. Những người ở miền Nam Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc, nhưng bị gọi đơn giản là “con rối của người Mỹ”.

Đúng là chính quyền miền Nam VN được Mỹ hậu thuẫn nhưng cũng giống như miền Bắc được Liên Xô và Trung Quốc ủng hộ.

Ngày đó, với người Mỹ và cả chúng tôi, cuộc chiến ở Đông Dương là một mặt trận để ngăn chủ nghĩa cộng sản lan ra toàn châu Á. Không cần phải phủ nhận điều này bởi thời kỳ đó là Chiến tranh lạnh, giữa phương Tây và một bên do Liên Xô cầm đầu. Cần phải đặt tất cả vào bối cảnh.

Ông có viết trong cuốn “Nhật ký châu Á” của mình rằng ông tin chiến thuật của người Mỹ trong đàm phán Paris giống như những gì Henry Kissinger viết trên tờ “Foreign Affairs” tháng 1/1969. Tôi xin trích lại: đàm phán, ít nhiều trực tiếp, hoặc qua các “tín hiệu”, với Hà Nội về việc đồng rút các lực lượng, đàm phán đủ lâu để dần dần tạo được đối thoại giữa Sài Gòn và Mặt trận về cấu trúc chính trị tương lai của miền Nam (Việt Nam). Thời gian là yếu tố then chốt để Sài Gòn tự củng cố thực lực”. Từ chi tiết này, thì việc kéo dài đàm phán quá lâu cũng là ý của người Mỹ?

Không phải chỉ có người Mỹ khiến đàm phán kéo dài, vì đàm phán có 4 bên chứ đâu riêng người Mỹ. Nhưng tôi nhận thấy, có những giai đoạn cứng rắn giữa các bên khiến đàm phán không tiến triển.

Trong giai đoạn cuối của đàm phán, có một sự tắc nghẽn, đặc biệt là từ tháng 10/1972 đến tháng 01/1973. Tại sao Mỹ lại ném bom với cường độ ác liệt như thế? Ở đây tôi nghĩ có sự cứng rắn quá mức từ các phía. Lúc đó tôi đã không hiểu được những gì Hà Nội đang suy tính còn Sài Gòn thì rõ ràng là không hài lòng về việc tương lai của mình chỉ được đàm phán thông qua Lê Đức Thọ và Kissinger. Nói chung là đó là sự tắc nghẽn từ nhiều phía.

Theo ông biết, có một sức ép nào không, như từ Trung Quốc chẳng hạn?

Có thể, nhưng tôi hoàn toàn không biết chắc về điều này.

Bà Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn báo chí. Ảnh tư liệu.

Trở lại với các giai đoạn đàm phán. Ban đầu người Mỹ cương quyết không chấp nhận nói chuyện với Mặt trận. Là người làm nhiệm vụ con thoi giữa các bên, ông nhận thấy sự thay đổi của phía Mỹ bắt đầu từ thời điểm nào?

Thú thực là tôi không nhớ chính xác ngày tháng, nhưng theo sự hiểu biết của tôi, mọi thay đổi đều bắt đầu từ các cuộc hội đàm giữa Lê Đức Thọ và Kissinger.

Theo như tôi biết, Kissinger chưa bao giờ gặp bà Nguyễn Thị Bình và cấp phó của bà cũng không có tiếp xúc trực tiếp nào với các nhà ngoại giao Mỹ. Ban đầu, có sự từ chối giữa các bên, Mỹ không chấp nhận đối thoại với Mặt trận, Mặt trận không chấp nhận nói chuyện với Sài Gòn, nhưng cơ bản là thái độ từ phía chính quyền ông Thiệu.

Ông Thiệu không muốn có một bản Hiệp định được ký kết chỉ từ những đàm phán của Hà Nội và Washington nên phản đối và gây sức ép. Việc Mỹ chấp nhận Mặt trận và Hà Nội chấp nhận ông Thiệu vào bàn đàm phán là một sự nhượng bộ giữa các bên.

Điểm quan trọng nhất trong Hiệp định Paris là việc rút quân đội Mỹ ra khỏi Việt Nam. Điều này cũng nằm trong tầm nhìn và ý muốn của người Pháp, từ sau Tuyên bố Phnompenh của Tướng De Gaulle rằng Mỹ cần có một lộ trình rút quân và Đông Dương cần một giải pháp chính trị. Có sự thúc đẩy hay thuyết phục nào từ phía người Pháp với phía Mỹ trong chuyện này không?

Tuyên bố của tướng De Gaulle ở Phnompenh nói rằng Mỹ không thể chỉ dựa vào duy nhất giải pháp quân sự mà còn cần cả giải pháp chính trị. Đó là quan điểm cốt lõi của nước Pháp.

Các diễn biến ở Việt Nam cho thấy là rất ít có khả năng chỉ có một giải pháp quân sự đơn thuần từ bên này hay bên kia. Phía Mỹ cũng nhận ra rằng họ không thể trông cậy vào duy nhất giải pháp quân sự. Họ không thể đưa đến 300 ngàn quân vào Việt Nam để đẩy lùi quân đội miền Bắc ra khỏi miền Nam. Người Mỹ không thể hy vọng vào một chiến thắng hoàn toàn về quân sự. Tình thế đó là một ngõ cụt quân sự và Mỹ phải chấp nhận đàm phán.

Các ông Lê Đức Thọ, Xuân Thủy chắc cũng nói với người Mỹ điều chúng tôi cũng nói, tức dần dần phải tìm một giải pháp chính trị. Nhưng giải pháp chính trị kiểu gì? Cơ chế và thiết chế chính trị kiểu gì? Lịch trình ra sao? Một chính phủ hay hai chính phủ? Hai thành phần hay ba thành phần?…

Tôi tin rằng nước Mỹ khi đó có sự thay đổi lớn trong nội bộ. Có những phái diều hâu, phái ít diều hâu hơn. Nixon, tôi nghĩ, là nằm ở giữa. Cũng nên nhớ rằng năm đó (11/1969) là cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ và Nixon cần phải tái cử. Vì thế, người Mỹ cần phải có một kết quả hợp lý, một cái gì đó có thể coi là chiến thắng. Khi Hiệp định Paris được ký kết thì họ đã thắng ở điểm này, tức Thiệu vẫn ở đó trong khi Hà Nội thì muốn Thiệu phải ra đi trước đó.

Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, McNamara từng nhận định rằng “số cơ hội bỏ lỡ là không thể tin được”. Qua quan sát của ông trong từng đó năm, liệu có tồn tại thực sự những thời điểm mà đàm phán có thể kết thúc sớm hơn, thay vì phải sau những chiến dịch quân sự khốc liệt?

Thật khó trả lời câu hỏi này, vì tôi, thậm chí là cả Tổng thống George Pompidou cũng không biết được là Kissinger và Lê Đức Thọ bàn nhau những gì trong các cuộc gặp bí mật. Những gì tôi biết rõ nhất đó là có rất nhiều lần đàm phán thất bại, các đoàn đến rồi đi và chúng tôi làm trung gian nối lại.

Ở đây, tôi muốn nói đến một sự thay đổi từ chính quan điểm của nước Pháp. Sau khi tướng De Gaulle ra đi và George Pompidou lên làm Tổng thống, nước Pháp có một sự thay đổi rõ rệt trong quan điểm liên quan đến Hiệp định Paris, đó là ít can dự hơn. Tổng thống Pompidou không muốn chọc giận người Mỹ nữa. Chuyện Nixon muốn kết thúc chiến tranh, muốn rút quân khỏi Việt Nam, tốt thôi, đó là chuyện của họ, không nên gây phiền phức. Thái độ của nước Pháp đã là như thế cho đến khi kết thúc đàm phán ở Paris.

Ông có thể nói rõ hơn không?

Dưới thời Pompidou, quan hệ Pháp-Mỹ được cải thiện, vì chúng tôi hiểu rằng người Mỹ hoàn toàn không thích Tuyên bố Phnompenh của De Gaulle. Cá nhân tôi cũng bị sốc với tuyên bố đó của tướng De Gaulle. Sao lại có chuyện tướng De Gaulle đòi người Mỹ phải rời khỏi Việt Nam và ấn định một thời hạn rút quân.

Đặt giả thuyết là Tổng thống Mỹ đến Tunis hay Rabat trong thời kỳ chiến tranh của Pháp ở Algeria và tuyên bố là “người Pháp cần phải biến khỏi đây”. Có sốc không? Hoàn toàn sốc.

 

Dĩ nhiên, tuyên bố đó của tướng De Gaulle sẽ được các phong trào dân tộc và cộng sản hoan nghênh, nhưng vấn đề là nó lại được coi như “Kinh thánh” khiến các chính phủ kế tiếp tướng De Gaulle rất khó mà ít can dự vào chuyện ở Đông Dương. Tất nhiên, điều chính xác đó là tuyên bố đó đã nói được rằng không thể chỉ có một giải pháp quân sự mà cần phải có giải pháp chính trị.

Thời gian đã qua rất lâu. Ông đã tiếp xúc với nhiều nhân vật lịch sử của cả miền Bắc lẫn miền Nam Việt Nam. Cuối cùng, ấn tượng cá nhân ông giữ lại về họ là gì?

Tôi thường xuyên xuống Choisy le Roi (nơi ở của phái đoàn VNDCCH), đã nhiều lần tiếp xúc với các ông Xuân Thủy, Mai Văn Bộ, Võ Văn Sung, Hà Văn Lâu. Tôi cũng một vài lần gặp ông Lê Đức Thọ. Tôi cũng tiếp xúc với các nhân vật lớn của miền Nam, từ người trong chính quyền Sài Gòn cho đến những trí thức thuộc lực lượng thứ 3 mà nước Pháp rất ủng hộ. Tất cả họ đều là những người thông minh và đáng mến.

Những nhân vật ở miền Bắc là những người rất chủ động, rất cách mạng. Điều đó cũng không lạ gì vì trong quá khứ, người Pháp luôn nhìn nhận miền Bắc là mảnh đất của chính trị, của những trí thức. Ở đó, nước Pháp từng đặt trường Viễn Đông bác cổ và nhiều trường Đại học, trung học lớn. Những người miền Nam cởi mở hơn, kinh tế và của cải ở đến từ miền Nam nhiều hơn. Sau tất cả, tôi luôn có sự nể trọng rất lớn dành cho người Việt Nam.

+ Xin cảm ơn ông!

Bài phỏng vấn trực tiếp thể hiện phong cách và phân tích của nhà ngoại giao Pháp Henri Froment-Meurice về cuộc đàm phán Paris và các bên đàm phán. Những phân tích này đặt trong bối cảnh quốc tế của đàm phán Hiệp định Paris hơn 40 năm trước.

Ông Henri Froment-Meurice sinh năm 1923, là nhà ngoại giao kỳ cựu của Pháp. Ông từng làm Đại sứ Pháp tại Nhật năm 1952, Vụ trưởng Vụ châu Á-châu Đại dương – Bộ Ngoại giao Pháp từ 1969-1975; Đại sứ Pháp tại Nga từ 1979-1982; Đại sứ Pháp tại Đức từ 1982-1983. Ông là người trực tiếp làm trung gian đàm phán giữa các phái đoàn VNDCCH, VNCH, Mặt trận và Mỹ trong đàm phán Hiệp định Paris, trực tiếp làm việc dưới các đời Thủ tướng và Tổng thống Pháp (De Gaulle, George Pompidou, Valery Giscard d’Estaing).


Bùi Nguyễn (từ Paris)

Việt Nam : Trung ương Đảng không theo Bộ Chính trị, điều chưa từng xẩy ra – RFI

17 Th10

Việt Nam : Trung ương Đảng không theo Bộ Chính trị, điều chưa từng xẩy ra

Ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị 6, 15/10/2012

Ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị 6, 15/10/2012

Ngày 15/10/2012, Hội nghị của Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam kết thúc sau 2 tuần lễ họp kín. Một trong những điều đặc biệt gây bất ngờ được công luận chú ý từ hội nghị này là, Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam đã không chấp nhận đề nghị của Bộ Chính trị xin nhận một hình thức kỷ luật cho tập thể các lãnh đạo cao nhất và cho riêng cá nhân « một lãnh đạo », mà hầu như ai cũng biết là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Hội nghị Trung ương 6 của đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang khủng hoảng về nhiều mặt, trong đó, công luận đặt rất nhiều câu hỏi về vai trò của đảng Cộng sản, vai trò của Bộ Chính trị và Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam. Sau đây là phần nhận định của Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, từ Hà Nội.

 
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh (Hà Nội)

 
16/10/2012
 
 

 

RFI : Kính chào Tiến sĩ Lê Đăng Doanh. Như ông biết, ngày hôm qua, Hội nghị 6 của đảng Cộng sản Việt Nam vừa kết thúc, rất mong ông cho biết các nhận định của ông về quá trình diễn ra hội nghị này, về kết quả cũng như triển vọng của những diễn tiến tiếp theo.

Lê Đăng Doanh : Hội nghị 6 của Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam chắn chắn là một hội nghị hết sức quan trọng. Đây không phải một hội nghị có tính thủ tục bình thường. Hội nghị này có lẽ sẽ đi vào lịch sử như là một trong những nỗ lực hết sức cao của ban lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là chấn chỉnh lại tổ chức, chấn chỉnh lại kỷ luật của Đảng, và chuẩn bị cho những bước phát triển tới đây của Đảng.

Mọi người đã hết sức nóng lòng theo dõi, và trên mạng cũng có rất nhiều tin đồn đoán. Đến buổi tối ngày hôm qua, đài truyền hình Việt Nam đã đưa toàn văn bài của ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và thông cáo báo chí của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương.

Dĩ nhiên mọi người đều tập trung sự chú ý vào sự « phê bình và tự phê bình ». Điều đáng chú ý là, Bộ Chính trị đã 100% đồng ý là xin nhận khuyết điểm, và xin Ban Chấp hành Trung ương kỷ luật tập thể Bộ Chính trị và một thành viên, một Ủy viên của Bộ Chính trị. Điều đáng ngạc nhiên là sau đó, Ban Chấp hành Trung ương đã không đồng ý, cả kỷ luật Bộ Chính trị, cũng như kỷ luật « đồng chí » đó.

Điều này hơi ngạc nhiên, vì Ban Chấp hành lại chỉnh sửa quyết định của Bộ Chính trị. Và đấy là một điều từ trước đến nay hầu như chưa xảy ra. Và đây là một điều làm cho các nhà quan sát đang hết sức quan tâm, theo dõi, thảo luận, và mọi người đang chuẩn bị để xem xem rằng, sau Hội nghị Trung ương 6 thì diễn biến trong thực tế sẽ như thế nào.

RFI : Xin ông giải thích về cái thực tế gần như chưa có tiền lệ này trong nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam.

Lê Đăng Doanh : Bình thường thì Bộ Chính trị của đảng Cộng sản Việt Nam là một cấp lãnh đạo rất có uy tín, và thường thì, nếu Bộ Chính trị đã có quyết định, thì Bộ Chính trị có đủ uy tín, lập luận, sức thuyết phục, để thuyết phục được Ban Chấp hành Trung ương, để thuyết phục thực hiện quyết định mà 100% thành viên Bộ Chính trị đã đồng ý.

Việc Bộ Chính trị không thuyết phục được Ban Chấp hành Trung ương là điều khiến mọi người ngạc nhiên. Đây là điều mà tôi thấy hiện nay chưa giải thích được, và chưa biết được rằng hệ quả sẽ như thế nào ?

Bởi vì quá trình « phê bình và tự phê bình » này là quá trình đấu tranh nội bộ rất thẳng thắn và mất rất nhiều công sức, như ông Tổng bí thư đã nói. Tức là đã họp đến 21 ngày từ tháng Bảy cho đến vừa rồi. Rồi Trung ương lại họp thêm 15 ngày. Trong đó, riêng về chủ đề này đã họp 5 ngày. Tôi nghĩ rằng, đây là một điều rất không bình thường, và không biết rằng là sắp tới đây Bộ Chính trị sẽ thực hiện sự lãnh đạo của mình như thế nào, nếu như mà việc Bộ Chính trị quyết định 100% đồng ý rồi, mà ra đến Trung ương lại không thuyết phục được.

Đây là điều mà cá nhân tôi, đã từng phục vụ cho một số đồng chí lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam trong một thời gian tương đối dài, hết sức lấy làm chú ý. Và hiện nay tôi chưa có thể giải thích được điều này.

RFI : Dường như xét theo quy định của đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương của Đảng, về mặt chính danh là cấp lãnh đạo, còn Bộ Chính trị chỉ là cấp thay mặt trong một thời gian nhất định. Do đó, phải chăng việc Ban Chấp hành Trung ương có ý kiến ngược với Bộ Chính trị thì cũng là điều bình thường về nguyên tắc ?

Lê Đăng Doanh : Theo điều lệ Đảng thì Trung ương là cấp lãnh đạo cao nhất, và có quyền quyết định về những vấn đề quan trọng và Bộ Chính trị nếu có quyết định thì phải báo cáo ra Trung ương, để Trung ương cho ý kiến, sẽ chuẩn y, hoặc đồng ý, hoặc bác bỏ. Về điều lệ, thì rõ ràng là như vậy.

Song, thực tế là Ban Chấp hành Trung ương bầu ra Bộ Chính trị, và Bộ Chính trị là cơ quan lãnh đạo tiêu biểu, tập trung trí tuệ, uy tín, chịu trách nhiệm về đường lối. Bộ Chính trị chính là cơ quan chuẩn bị các quyết định của Trung ương. Về uy tín, về trình độ, về sức thuyết phục thì, thường cho đến nay, người ta thường trông đợi rằng, Bộ Chính trị có đủ sức thuyết phục, có đủ uy tín, và có đủ khả năng để trình bày, thuyết phục Ban Chấp hành Trung ương, theo các quyết định (của Bộ Chính trị), mà trong trường hợp này là 100% đồng ý. Vậy mà Trung ương lại không đồng ý và bác bỏ.

Về mặt điều lệ, quyết định của Trung ương là cao hơn và quyết định của Trung ương như vậy là hợp lý (hợp theo điều lệ của Đảng). Nhưng người ta sẽ đề ra câu hỏi : Uy tín, sức thuyết phục của Bộ Chính trị như thế nào ? Đấy là cái điều làm cho tôi suy nghĩ. Vả lại rằng, sau việc Trung ương quyết định như thế này, thì sắp tới đây, diễn biến của tình hình sẽ như thế nào ? Sẽ tốt lên, sẽ có một sự sửa chữa và chỉnh đốn hết sức nghiêm túc ? Nếu như điều đó chưa xảy ra, thì lúc bấy giờ Bộ Chính trị có thể có những quyết định như thế nào, và liệu Bộ Chính trị quyết định lần này, thì liệu có thuyết phục được Trung ương không ?

Điều này sẽ là một thách thức và đem lại những hệ quả mà trong thời điểm hiện nay tôi chưa có thể lý giải được hết.

RFI : Thưa Tiến sĩ, có một số người quan sát nhận xét rằng, trong hội nghị rất đặc biệt này, Bộ Chính trị của đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức nhận lỗi về phần mình và xin chịu kỷ luật. Như vậy, có bình luận rằng, đây là một thành công của ê-kíp lãnh đạo, đã biết đứng ra chịu trách nhiệm, không phải trước xã hội và quốc gia, trước đất nước, mà là trước Ban Chấp hành Trung ương, tức là trong nội bộ Đảng. Đây có thể nói là một thành công của ban lãnh đạo hiện nay, có phải không ?

Lê Đăng Doanh : Rõ ràng là như vậy, việc ông Tổng bí thư thay mặt Bộ Chính trị, với một giọng nói hết sức nghẹn ngào, đã nhận khuyết điểm, đã gây ra sự xúc động lớn, đã gây ra sự chú ý, bởi vì đây là một nỗ lực rất lớn của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị, của cá nhân ông Tổng bí thư.

Như vậy, thành công ở đây, theo tôi là thành công trong việc thể hiện sự nỗ lực chân thành và trách nhiệm đối với dân tộc, đối với Ban Chấp hành Trung ương. Nhưng người ta sẽ đặt câu hỏi là, tại sao Bộ Chính trị lại không thuyết phục được Ban Chấp hành Trung ương ?

Nếu như có kỷ luật này, thì tôi tin rằng, sức thuyết phục của Bộ Chính trị, và của đợt kiểm điểm « phê bình và tự phê bình », chắc chắn sẽ cao hơn. Nhưng điều này không xảy ra, vậy hệ quả sẽ là thế nào ? Sức thuyết phục và khả năng quyết đoán của Bộ Chính trị đến đâu trong thời gian tới đây ?

Bộ Chính trị đã có những quyết tâm như thế, đã có thảo luận kỹ như thế, rồi thì đã có một nỗ lực chân thành đến như thế, rồi ông Tổng bí thư đã có lời nhận khuyết điểm thống thiết đến như thế mà lại không thuyết phục được Ban Chấp hành Trung ương. Phải chăng Ban Chấp hành Trung ương có những cân nhắc khác ? Có những căn cứ khác với Bộ Chính trị chăng ? Và điều này, (sự mâu thuẫn) giữa lập luận của Ban Chấp hành Trung ương và lập luận của Bộ Chính trị, sẽ được lý giải ra làm sao ? Đấy là những điều cần phải được giải thích và làm rõ thêm.

Xin chân thành cảm ơn Tiến sĩ Lê Đăng Doanh.

Những biến cố có thể xảy ra ở Biển Đông

23 Th9

Những biến cố có thể xảy ra ở Biển Đông

 

Nguy cơ xảy ra xung đột trên Biển Đông đang tăng cao. Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Malaysia, Brunei, và Philippine mâu thuẫn trong những tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và quyền tài phán, nhất là quyền khai thác nguồn trữ lượng dầu khí được cho là rất dồi dào của khu vực.

Tranh chấp Senkaku: Tại sao Mỹ phải có trách nhiệm?/ Ỷ mạnh hiếp yếu?/ Chiến tranh sẽ nổ ra trên các vùng biển Đông Á/ Con đường thứ ba để hóa giải đối đầu Mỹ – Trung

 

Tự do hàng hải trong vùng biển cũng là vấn đề gây tranh cãi, đặc biệt giữa Mỹ và Trung Quốc xung quanh quyền hoạt động qua lại của các tàu quân sự Mỹ tại trong vùng đặc quyền kinh tế 200 dặm của Trung Quốc. Những căng thẳng này đang dẫn tới – và cũng chịu tác động bởi – nỗi e sợ đang lớn dần về sự gia tăng sức mạnh quân sự cũng như ý đồ của Trung Quốc trong khu vực. Trung Quốc đã và đang triển khai mạnh mẽ hoạt động hiện đại hóa các lực lượng bán quân sự trên biển cũng như năng lực hải quân để thực thi các yêu sách chủ quyền và quyền tài phán bằng vũ lực nếu cần thiết. Cùng với đó, Trung Quốc cũng đang ra sức tăng cường năng lực để có thể buộc các lực lượng Mỹ trong khu vực ở vào thế nguy hiểm trong xung đột; qua đó ngăn chặn hải quân Mỹ tiếp cận vùng biển tây Thái Bình Dương.

Những biến cố có thể xảy ra

Trong số những diễn biến xấu có thể xảy ra dẫn đến một cuộc đụng độ vũ trang tại Biển Đông, có ba biến cố đặc biệt đe dọa đến lợi ích của Mỹ cũng như các nước trong khu vực.

Biến cố nhiều khả năng diễn ra và cũng nguy hiểm nhất là cuộc đụng độ bắt nguồn từ các hoạt động quân sự của Mỹ trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc dẫn tới khiêu khích Bắc Kinh đáp trả bằng vũ trang. Mỹ hiểu rằng Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) hay tập quán quốc tế đều không cho phép lực lượng quân sự tất cả các nước tiến hành các hoạt động quân sự tại vùng đặc quyền kinh tế mà không thông báo trước hay không có sự chấp thuận của quốc gia ven biển. Trung Quốc cũng quả quyết các hoạt động trinh sát tiến hành mà không thông báo trước hay không có sự cho phép của quốc gia duyên hải này sẽ vi phạm luật nội địa của Trung Quốc và luật pháp quốc tế.

 

Ảnh minh họa

 

Trung Quốc luôn phản đối các chuyên bay trinh sát của Mỹ tiến hành trong vùng đặc quyền kinh tế của mình và thường hành động một cách quyết liệt, dẫn tới làm tăng nguy cơ xảy ra sự cố tương tự như vụ va chạm giữa máy bay trinh sát EP-3 của Mỹ với máy bay chiến đấu F-8 của Trung Quốc ở gần đảo Hải Nam vào tháng 4/2001. Một sự cố trên biển tương tự có thể bị châm ngòi bởi những tàu Trung Quốc quấy rối tàu tuần tra của hải quân Mỹ hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, như đã xảy ra năm 2009 với hai tàu hải quân Mỹ ImpeccableVictorious. Sự lớn mạnh đáng kể của hệ thống tàu ngầm Trung Quốc cũng làm tăng nguy cơ xảy ra xung đột, như đã thể hiện trong vụ tàu ngầm Trung Quốc va vào thiết bị phát hiện tàu ngầm của một tàu khu trục Mỹ vào tháng 6/2009.

Các máy bay trinh sát cũng như tàu tuần tra Mỹ đều không trang bị vũ trang, nên Mỹ có thể sẻ đối phó với thái độ nguy hiểm của máy bay và tàu Trung Quốc bằng cách phái những đoàn hộ tống có vũ trang đến yểm trợ. Bất kỳ tính toán sai lầm hay sự hiểu nhầm nào khi đó cũng có thể dẫn tới một cuộc đấu súng chết người, và sau đó là leo thang quân sự và khủng hoảng chính trị toàn diện. Và khi mà nghi kỵ cũng như cạnh tranh chiến lượ giữa hai cường quốc trở nên khốc liệt hơn thì nó cũng sẽ khiến cho việc kiểm soát một cuộc khủng hoảng như vậy càng khó khăn thêm gấp bội.

Biến cố thứ hai liên quan đến xung đột giữa Trung Quốc và Philippine xung quanh các trữ lượng khí tự nhiên, đặc biệt tại khu vực tranh chấp bãi Cỏ Rong, nằm cách đảo Palawan của Philippine 8 hải lý. Các tàu khảo sát dầu tại bãi Cỏ Rong theo hợp đồng đang bị sách nhiễu nhiều hơn bởi tàu Trung Quốc. Có tin đưa, hãng năng lượng Forum Energy của Anh dự kiến sẽ bắt đầu khoan lấy khí tại bãi Cỏ Rong trong năm nay, điều này có thể kích động một sự đáp trả quyết liệt từ phía Trung Quốc. Forum Energy chỉ là một trong số 15 gói thầu thăm dò mà Manila có ý định mời thầu trong những năm tới để thăm dò dầu khí ngoài khơi đảo Palawan. Bãi Cỏ Rong là “ranh giới đỏ” của Philippine, nên mọi biến cố tại đây đều có thể nhanh chóng leo thang thành bạo lực nếu Trung Quốc can thiệp ngăn chặn hoạt động khoan dầu.

Mỹ có thể cũng bị lôi kéo vào cuộc xung đột Trung Quốc-Philippine theo như cam kết trong Hiệp ước tương trợ phòng thủ ký kết với Philippine năm 1951. Hiệp ước nêu rõ, “Hai bên công nhận một vụ tấn công vũ trang trên khu vực Thái Bình Dương vào bất kỳ bên nào cũng sẽ gây nguy hiểm cho hòa bình và an ninh của bên đó và tuyên bố sẽ hành động để giải quyết các nguy cơ chung phù hợp với các quy định trong hiến pháp”.

Với quan hệ chính trị và quân sự ngày càng cải thiện giữa Manila và Washington, bao gồm một thỏa thuận sắp hoàn thành cho phép Mỹ mở rộng quyền tiếp cận các cảng biển và sân bay của Philippine để tiếp nhiên liệu và phục vụ tàu chiến và máy bay, Mỹ sẽ phải chấp nhận rủi ro rất lớn trong mỗi sự cố liên quan đến Trung Quốc-Philippine. Nếu không giải quyết tốt, Mỹ sẽ không chỉ làm tụt lùi mối quan hệ với Philippine mà còn đánh mất đi uy tín của mình với các đồng và đối tác trong khu vực. Nhưng nếu Mỹ quyết định cử tàu chiến tới đây thì lại sẽ là một sự liều lĩnh với một cuộc đối đầu hải quân.

Tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam liên quan tới các cuộc khảo sát địa chất hay hoạt động khai thác dầu khí cũng có khả năng châm ngòi cho một cuộc đụng độ quân sự. Trung Quốc đã liên tục quấy rối các tàu khải sát dầu khí của tập đoàn Petro Việt Nam thời gian qua khi đang hoạt động ngay trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Năm 2011, Việt Nam đã hai lần lên án hành vi cố tình phá hoại đường dây cáp của tàu khảo sát dầu khí. Mặc dù không phản ứng bằng vũ lực, nhưng Việt Nam khẳng định sẽ tiếp tục các nỗ lực khai thác các mỏ dầu mới và chắc chắn sẽ không lùi bước.

Những tín hiệu đáng báo động

Về mặt chiến lược, các tín hiệu đáng báo động thể hiện mức độ rủi ro xung đột cao, bao gồm các quyết định chính trị và tuyên bố của các quan chức cấp cao, nhận định của các hãng truyền thông chính thức và không chính thức, những thay đổi về hậu cần và đổi mới thiết bị quân sự. Trong các diễn biến ở trên, thì các tín hiệu đáng báo động về chiến lược tại Biển Đông có thể bao gồm những phát ngôn gay gắt của tất cả hay một số bên tranh chấp liên quan đến lợi ích lãnh thổ và chiến lược của họ. Đơn cử, Trung Quốc đã ngang nhiên coi Biển Đông là lợi ích cốt lõi. Hay như việc Bắc Kinh lớn tiếng đe dọa “không thể ngồi yên” để cho các nước khác “gặm nhấm” lãnh thổ Trung Quốc, một công thức mà trong quá khứ thường báo hiệu sự sẵn sàng sử dụng vũ lực. Lời lẽ cứng rắn cũng được các quan chức cấp cao Quân đội giải phóng nhân dân Trung Quốc (PLA) sử dụng trong các cuộc gặp với phía đối tác Mỹ. Trong khi đó, giọng điệu mang tinh thần chủ nghĩa dân tộc hơn của các trang truyền thông phi chính thức và các blog tiếng Hoa, cho dù không thể hiện chính sách chính thức, nhưng nó cũng có thể tạo ít nhiều áp lực lên giới lãnh đạo Trung Quốc phải hành động để bảo vệ lợi ích của nước mình.

Về chiến thuật, những tín hiệu đáng báo động là nguy cơ cao xảy ra xung đột tiềm tàng ở một thời điểm và vị trí cụ thể, bao gồm những thông báo và hồ sơ thương mại, những tuyên bố ngoại giao và/hoặc quân sự để cảnh báo bên tranh chấp kia ngừng các hoạt động khiêu khích, nếu không sẽ gánh chịu hậu quả, các cuộc tập trận quân sự nhằm đe dọa bên yêu sách khác, hay các điều chuyển tàu chiến đến khu vực tranh chấp. Những tuyên bố cũng như sự chuẩn bị bất thường của PLA có thể thể hiện sự sẵn sàng triển khai các công cụ quyết liệt hơn để ngăn chặn các tàu và máy bay Mỹ cũng như các nước khác.

Thúc đẩy các giải pháp giảm thiểu rủi ro trong khu vực

Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Trung Quốc đã nhất trí về các biện pháp đa phương nhằm giảm thiểu rủi ro và xây dựng lòng tin trong Tuyên bố chung về ứng xử của các bên tại Biển Đông (DOC) 2002, nhưng rồi hoặc vẫn chưa tuân thủ các điều khoản (như giải quyết tranh chấp lãnh thổ và quyền tài phán mà không đe dọa sử dụng vũ lực hay sử dụng vũ lực) hoặc không triển khai các đề xuất thực hiện các hoạt động hợp tác và xây dựng lòng tin.  Việc nối lại các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và ASEAN sau một thập niên gián đoạn mở ra tia hy vọng mang đến sức sống mới cho hoạt động hợp tác theo DOC.

Về đa phương, các cơ chế và thủ tục hiện hành đã có thể thúc đẩy an toàn hoạt động giữa các hải quân trong khu vưc. Mỹ, Trung Quốc và tất cả các thành viên ASEAN (trừ Lào và Myanmar) đều là thành viên của Hội nghị Hải quân Tây Thái Bình Dương (WPNS). Thành lập năm 1988, WPNS là nơi gặp gỡ của các nhà lãnh đạo hải quân trong khu vực hai năm một lần để thảo luận về an ninh biển. Năm 2000, hội nghị đã cho ra đời quy tắc về các cuộc đụng độ không báo trước trên biển (CUES), trong đó bao gồm các biện pháp an toàn và các thủ tục, cách thức để tạo điều kiện thông tin liên lạc khi tàu và máy bay tiếp xúc. Hơn nữa, còn có các cơ chế khác như Quy tắc Phòng ngừa đâm va trên biển (COLREGS) của Tổ chức Hàng hải Quốc tế và các quy tắc trên không của Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế. Ngoài ra, các lực lượng hải quân trong khu vực có thể hợp tác trong việc bảo vệ môi trường trên biển, các hoạt động nghiên cứu khoa học trên biển, các hoạt động tìm kiếm và cứu nạn và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai gây ra.

Xây dựng các cơ chế đối thoại mới cũng có thể đáng để xem xét. Diễn đàn Tuần duyên Biển Đông, theo mô hình Diễn đàn Tuần duyên Bắc Thái Bình Dương, hợp tác trên nhiều lĩnh vực an ninh hàng hải và các vấn đề pháp lý, có thể tăng cường hợp tác thông qua việc chia sẻ thông tin và kiến thức về cách thực hành tốt nhất. Việc tạo ra một trung tâm chia sẻ thông tin trên biển Đông cũng sẽ cung cấp một nền tảng để nâng cao nhận thức và giao tiếp giữa các bên liên quan. Trung tâm chia sẻ thông tin này cũng có thể phục vụ như một cơ chế trách nhiệm, nếu các nước được yêu cầu phải thu thập tài liệu của bất kỳ sự cố nào xảy ra và gửi đến trung tâm.

Đình Ngân theo CFR

%d bloggers like this: