Lưu trữ | VĂN RSS feed for this section

“Con đĩ của nhân loại” đã ngự trị trái đất ra sao? – VHNA

29 Th9

  •   ĐỖ MINH TUẤN
  • Chủ nhật, 20 Tháng 9 2015 06:39
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
 

K.Marx nói “Đồng tiền là con đĩ của nhân loại”. Nhưng đây là một con đĩ có quyền lực ghê gớm nhất, có thể chi phối tất cả thế gian, từ giới trí thức, đến tôn giáo và khoa học, biến tất cả thành hàng hoá và kẻ làm thuê cho nó. Những thông tin về sự thao túng ngày càng tăng của nó trong các lãnh địa được coi là cao quý thiêng liêng nhất của nhân loại cho ta thấy đã đến lúc thế giới phải đoàn kết lại để chống lại “con đĩ siêu đẳng” này, không phải bằng bạo lực mà bằng nhân tính, bản lĩnh và trí tuệ, vì sự tồn vong của những giá trị mà nhân loại đã từng kiêu hãnh đưa tới cho hành tinh của cây xanh, khoa học, tình yêu và thi ca.

Trí thức với đồng tiền

Một học giả Nga đã nhận xét tinh tế rằng: có ba dấu hiệu của giới trí thức về mặt nguyên tắc phân biệt nó với các nhóm xã hội khác: thái độ đối với sự giàu có, với lịch sử và với nhà nước. Trong tất cả các trường hợp, ba thái độ này đều là hỗn hợp của sự khinh bỉ, nôn nóng và ganh tị. Theo ông, đây là điều đặc biệt tiêu biểu đối với giới trí thức Pháp và Nga, dù cho trong các nước Anglo-Saxon những tâm trạng tương tự ở thế kỷ vừa qua cũng tăng lên đáng kể.

Hình ảnh công tử Bạc Liêu đốt tiền làm đóm soi tìm đồng tiền rơi cho người đẹp và hình ảnh Serge Gainsbourg, một trí thức Pháp, đốt tờ 500 FR châm thuốc lá ngay trên truyền hình khá tiêu biểu cho thái độ coi khinh  tiền bạc đặc trưng cho trí thức này.

Những thái độ coi khinh tiền bạc của nhiều trí thức Pháp được bảo đảm bởi những huyền thoại về một nước Pháp văn hoá từng mang những chân lý có giá trị phổ quát toàn cầu. Nước Pháp từng được Clemenceau coi là người lính của Thượng đế trong quá khứ, người lính của văn minh trong hiện tại và người lính của lý tưởng trong tương lai. Ấy vậy mà cùng với sự phát triển của Tân lục địa, đồng tiền  đã làm lu mờ những huyền thoại của cựu lục địa và báo thù ngoạn mục với thái độ khinh miệt của trí thức nơi đây.

Từ chỗ là “con đĩ của nhân loại” (K.Marx) đồng tiền đã ngày  càng trở thành biểu tượng thiêng liêng mang ý nghĩa đời sống, mang tự hào dân tộc, mang sức mạnh tương lai. Từ chỗ coi khinh sự giàu có, các trí thức cựu lục địa đã bắt đầu quen với lý tưởng làm giàu, bắt đầu trang sức bằng các chỉ số phát triển kinh tế, bắt đầu bị cuốn theo ma lực của cuộc sống tiêu dùng và không ngại ngần làm thơ ca ngợi những con buôn và những tiện nghi.

Andre Gide, từ những năm 50 đã linh cảm thấy quyền lực tương lai của đồng tiền khi nhận xét rằng các xã hội tư bản quy mọi thứ về tiền, nhưng các xã hội khác rồi cũng thông qua quyền lực và  những con đường khác để đi đến đồng tiền. Ðồng tiền một khi đã lên ngôi lý tưởng, nó có thể mua được cả quyền lực, cả nhân cách, cả truyền thống, cả đức tin. Thậm chí, có  tỷ phú đã ngạo mạn tuyên bố: “Cái gì không mua được bằng tiền thì sẽ mua được bằng rất nhiều tiền”. Đồng tiền mua được cả ghế Tổng thống. Năm 1996, bảy nhà tư bản lớn nhất nước Nga, cũng là bảy người nắm  quyền kiểm soát với truyền thông đại chúng lúc bấy giờ đã hợp tác với nhau để đảm bảo cho Tổng thống Enxin đắc cử thêm một nhiệm kỳ. Tổng thống và các đảng cầm quyền của nhiều  cường quốc khác cũng không tránh khỏi sự chi phối của đồng tiền thông qua các tập đoàn tài chính.

Trong khi không ít trí thức cựu lục địa đang hăm hở sám hối, đi tiên phong trong thời đại toàn cầu hoá, say sưa với những khái niệm kinh tế học thời thượng vừa mới nhập vội, xin lỗi và ve vãn đồng tiền, đưa nó lên ngôi chúa tể, biến nó thành thước đo hạnh phúc và tiến bộ của một dân tộc thì lại có những trí thức ở các xứ sở giàu có phê phán thói tâng bốc đồng tiền, đòi đặt đồng tiền về đúng vị trí của nó. Thậm chí, một huyền thoại trong thế giới tài chính là G.Soros (Mỹ) đã phản đối việc lấy  lấy tổng sản phẩm quốc dân (GNP) làm thước đo phát triển vì, theo ông, làm như vậy có khác gì chấp nhận đồng tiền như một giá trị đích thực, một giá trị tự thân. Ông cho rằng, trên thực tế thì GNP cao chưa phản ánh sự tiến bộ xã hội. Trong một nước bệnh Aids đang hoành hành thì GNP tăng lên vì người ta phải tốn nhiều chi phí xử lý căn bệnh thế kỷ này.Vì thế, vận dụng thước đo đồng tiền sẽ không thể biết thế giới đang tiến lên hay đang đi giật lùi.

Theo Soros, các giá trị đích thực không thể dùng đồng tiền để đo lường, phải có những thước đo tiến bộ khác phản ánh được những chỉ số vô hình như hạnh phúc và quyền tự chủ của công dân. Nét đặc sắc riêng của các giá trị đích thực là chúng tự bản thân đã chứa đựng các giá trị nội tại, bất luận chúng đã chiếm lĩnh được vị trí chủ đạo hay chưa. Các giá trị đích thực khác xa với các  giá trị thị trường ở chỗ tự thân nó đã có giá trị, có quyền lực, không cần phải cạnh tranh để tự khẳng định như giá trị thị trường. G. Soros- Khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản toàn cầu-NXB Khoa học xã hội năm 1999, trang 429.

Thực tế phát triển cho thấy những điều Soros nói là rất sâu sắc. Sự bành trướng của kỹ nghệ trong phạm vi toàn cầu đã làm suy giảm những điều kiện nảy sinh và dung dưỡng trí thông minh, luân lý, tình thương và những phẩm chất cần cho cuộc sống cộng đồng- từ cộng đồng nhỏ là gia đình, đến các cộng đồng lớn hơn trong xã hội. Những không gian gia đình, cộng đồng truyền thống bị phá vỡ đã làm giảm chất  lượng sống của con người một cách sâu sắc.

Người ta đã thấy cuộc sống gia đình trong các xã hội phát triển kinh tế trở nên nghèo nàn, đơn điệu, trong đó những đứa trẻ không còn được hô hấp trong bầu dinh dưỡng tình cảm, tâm linh và trí tuệ như ngày xưa. Gia đình bị chia cắt, vỡ nát không gian tình cảm, cha mẹ bị ném tới cơ quan công xưởng, trẻ em trở thành những vị “thiền sư” luôn dán mắt vào Tivi hay computer để sống với thế giới ảo đầy bạo lực và hoang tưởng. Gia đình lại dạy chúng cách hành xử giản đơn kiểu duy lý thực dụng, mọi thứ có thể quy ra luật và tiền, mọi mục đích trở nên cụ thể ở tầm gần và mọi mâu thuẫn trong đời sống được giải quyết một cách giản đơn và thô bạo, thiếu một bàn tay khéo léo, bao dung và mềm mại của tình người và của thời gian.

Khi công nghệ và nhịp sống man rợ một cách lấp lánh này được du nhập vào thế giới thứ ba, nó mang theo cả những căn bệnh xã hội nói trên nhưng ở mức trầm trọng hơn, vì các xã hội nghèo không có hệ miễn dịch từ truyền thống pháp trị và kỹ trị. Tuy nhiên, khi đánh giá về phát triển, người ta thường quên đi những sự thụt lùi hay phá sản trong các lĩnh vực vô hình như văn hoá, tình cảm, ý nghĩa, tâm linh. Đó là nơi người trí thức nhạy cảm về ý nghĩa và giá trị.

 Nếu như những luận điểm này được phát ra từ một kẻ đạo văn hay một học giả khiêm tốn chỉ nói những điều đã tiêu hoá vào trong bụng mình, ghét thói  trích dẫn khoe khoang thì hẳn là kẻ phát ngôn sẽ bị nhiều người coi là bảo thủ và gàn dở. Người ta sẽ bĩu môi cho rằng trong khi cả thế giới đua nhau làm giàu, vinh quang nhờ cạnh tranh và buôn bán thì mình vẫn cứ khư khư ôm lấy những giá trị trừu tượng cổ hủ theo kiểu các hủ nho, các ẩn sĩ tự phong là “Vua không ngai”, các thi sĩ ước mơ “Một mái nhà tranh hai trái tim vàng”! Nhưng may thay, đó lại là những ý tưởng phát ra từ miệng trùm tài chính thế giới, một phù thuỷ trong vương quốc đồng tiền. Thông tin chính xác và cập nhật về suy tư của người trí thức đương đại, khiến ta  thấy tin hơn ở tổ tiên và những giá trị nhân văn đang bị nhiều người chối bỏ để chạy theo giá trị thị trường.

Tôn giáo với đồng tiền

Vào thế kỷ thứ 7, Vua Hồi giáo đầu tiên đã lập ra một hệ thống tiền tệ quốc tế, với đồng tiền đúc mà hình dạng và quan niệm rất gần với đồng tiền hiện đại. Những đồng Dinar vàng này đã được các xứ sở Trung Ðông rất ưa thích, đến nỗi những Vương quốc Kito giáo do các đạo quân Thập tự chinh thiết lập đã phải đúc ra những đồng tiền mô phỏng đồng Dinar để kiếm lời, bất chấp đó là những đồng tiền tôn vinh Thánh Allah. Sau khi bị Giáo hoàng phát hiện, những tín đồ Thiên chúa đúc tiền theo mẫu tiền Hồi giáo đã bị rút phép thông công, nhưng người ta vẫn phải đúc một đồng tiền mới của Thiên chúa giáo giống hệt đồng Dinar, chỉ thêm vào cây Thánh giá và dòng chữ Arập tôn vinh Thiên chúa.

Trong khi Thiên Chúa giáo và một số tôn giáo khác ngày càng thế tục hoá  thì Hồi giáo vẫn kiên trì với những nguyên tắc khắt khe. Chính vì thế, cái quan niệm cho rằng Hồi giáo xung khắc với lợi nhuận đã ngự trị trong một thời gian dài hạn chế sự tham gia của các tín đồ Hồi giáo vào các lĩnh vực kinh doanh. Những người trí thức có cái  nhìn cởi mở không thoả mãn với định kiến này đã cố truy tìm trong Kinh Coran những ý tưởng khuyến khích các tín đồ Hồi giáo kinh doanh. John Nabish, nhà tương lai học người Mỹ đã phát hiện ra rằng Muhammad từng nói: “Một thương gia chân thật và đáng tin cậy sẽ được tập hợp lại vào Ngày tận thế cùng với các nhà tiên tri, những người tử vì đạo và những người công chính”( Những xu hướng lớn của Châu Á làm thay đổi thế giới, NXB Trẻ, 1998) Người ta khẳng định rằng cả Kinh Coran và bản thân Muhammad tin vào một hệ thống dựa trên tiến thủ cá nhân và phần thưởng cá nhân. Trên thực tế, ngày càng có nhiều tín đồ Hồi giáo nắm quyền lãnh đạo các công ty lớn ở Châu Á, nhất là ở Malaysia và Indonesia, họ đóng vai trò quan trọng trong việc hiện đại hoá Châu Á. Ở Malaysia, phái Hồi giáo Al alqum đã thu hút được hơn một triệu tín đồ và bành trướng thành một kiểu doanh nghiệp lớn, nhưng sau đó đã bị chính quyền đất nước này đình chỉ, buộc đóng cửa các cơ sở hoạt động tôn giáo và kinh doanh.

Trước sự thành công về kinh tế của các nước Châu Á, nhiều người cho rằng đó là do Khổng giáo với quan niệm coi trọng gia đình và cộng đồng đã tạo nên động lực cho sự phát triển thần kỳ. Nhưng có ý kiến lại cho rằng chính sự phát triển của kinh tế Ðông Á đã tạo ra danh tiếng cho Khổng giáo chứ bản thân Khổng giáo coi giàu có và điạ vị  chỉ là thứ phù vân. Max Weber và một số học giả bài bác Khổng giáo cho rằng tôn giáo này  không hợp với phương Tây, không thể thích hợp với kinh tế thị trường. Nhưng những người muốn tìm kiếm cơ sở phát triển kinh tế và hiện đại hoá trong Khổng giáo đã chủ trương sáng tạo ra một nền kinh tế thị trường kiểu luân lý phương Ðông. Các học giả cho rằng tuy có vẻ gò bó con người trong tôn ty trật tự, nhưng Khổng giáo luôn đòi trách nhiệm hai chiều. Khổng giáo không chỉ đơn thuần ủng hộ cho việc phục tùng chính quyền mà còn là trách nhiệm của chính quyền về cả đạo đức và nghĩa vụ. Khổng giáo xây dựng nên một xã hội rất trật tự từ dưới đáy lên hơn là từ trên đi xuống, nhấn mạnh đến các bổn phận đạo đức của cuộc sống gia đình như là một viên gạch cơ bản xây dựng  nên xã hội. Sự liên kết trong phạm vi  gia đình có vị trí quan trọng hơn các loại quan hệ cao hơn, kể cả các bổn phận với giới cầm quyền chính trị. Trên thực tế, chính những liên hệ gia đình dòng tộc là một trong những yếu tố quan trọng giúp cho người Hoa hải ngoại trở thành những doanh nhân vĩ đại nhất thế giới, cuối thế kỷ 20 đã quản lý 541 tỷ đô-la, trở thành nền kinh tế lớn thứ ba của thế giới sau Hoa  kỳ và Nhật Bản. Bí quyết kinh doanh của người Hoa chung quy lại là con người và các mối tiếp xúc mang tính gia đình, tạo nên hàng chục ngàn mạng lưới giống như mạng Internet.

Xem ra, các tôn giáo dù nguyên gốc có vẻ xa lạ với kinh doanh và tiền bạc đến đâu cũng có thể được người thời nay lôi vào khai thác phục vụ cho công việc làm giàu. Thậm chí, ở quê hương Khổng tử  đã có tới 29 loại thức uống và 8 loại thức ăn mang tên Ngài. Những hậu duệ của Ngài còn tung ra một loại rượu mạnh mang tên Khổng tử dù Ngài không hề khuyến khích các đệ tử của mình uống rượu. Rượu Khổng tử bán rất chạy vì người ta đã dùng chính lời Khổng tử dạy về chia sẻ của cải làm khẩu hiệu tiếp thị: “Nếu con có một chai chai rượu, con cũng phải cho anh em mình một chai” (!). Thế mới hay, cơ chế thị trường có thể biến tên tuổi thánh nhân và tư tưởng của thánh nhân thành tem nhãn, bao bì và hàng hoá để bán chạy một mặt hàng đi ngược lại ý nguyện thánh nhân. Nếu tất cả các loại hàng hoá của con cháu Khổng tử đều mang tên Ngài thì e rằng sẽ đến ngày có cả nhà chứa Khổng tử, sòng bạc Khổng tử và băng đảng mafia Khổng tử.                             

Khoa học với đồng tiền

Khoa học với những phát minh sáng chế kỳ diệu của nó thực sự đã trở thành một hành trang đáng tự hào nhất của nhân loại khi bước vào thiên niên kỷ mới. Nhưng khoa học ở thế kỷ 21 không còn niềm kiêu hãnh của một sức mạnh tự do như khoa học các thế kỷ trước, vì khoa học giờ đây đã trở thành hàng hoá trên phạm vi toàn cầu, trở thành nô bộc của đồng tiền và đánh mất logic phát triển tự thân trong sứ mạng sinh lời cho các ông chủ mới vốn từ ống tay áo của khoa học kỹ thuật chui ra.

Khoa học đã từng nếm mùi nô lệ Nhà thờ từ thời Trung cổ. Phải mất bao nhiêu công sức đấu tranh, các trường Ðại học mới dược Giáo hoàng ban cho những đặc quyền tự do đầu tiên, phỏng theo các quyền tự do của tu sĩ. Trong nhiều thế kỷ, sự phát triển của khoa học được quyết định bởi lô gíc duy nhất: vì sự tiến bộ của tri thức chứ không lệ thuộc vào bất kỳ một lý do sinh lợi nào. Nhưng sự phát triển của công nghiệp với những thăng trầm của nó đã dần dần biến khoa học thành một  thứ hàng hoá, nhà khoa học thành kẻ làm thuê.

Từ đầu thập kỷ 80, trong tất cả các nước phát triển các trường Ðại học với cac trung tâm nghiên cứu lớn đã bắt đầu gắn chặt hoạt động nghiên cứu của mình với các ngành công nghiệp dưới những hình thức: đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cho công nghiệp, liên kết nghiên cứu các dự án dài hạn theo đơn đặt hàng của công nghiệp. Các nhà khoa học tìm thấy hứng thú mới trong mối duyên khoa học-công nghiệp, vì ở đó họ được bổ sung kinh phí, thiết bị và con người, họ được hưởng lợi từ các công trình nghiên cứu. Ngày càng nhiều các hãng của Mỹ, Nhật, Ðức, Pháp liên hệ hợp tác với các nhóm Ðại học ở nước ngoài. Từ năm 1987 đến 1989, riêng hãng dược phẩm Upjohu của Anh đã tung ra bảy dự án nghiên cứu của các trường Ðại học ở Anh, Ðức, Tây Ban Nha, Pháp và Thuỵ Ðiển làm các nước này lo lắng về sự thất thoát chất xám và bí mật quốc gia. Năm 1986, quỹ nghiên cứu của các trường Ðại học Mỹ đã được hưởng kinh phí từ các công ty nước ngoài là 76,2 triệu đô la. (Tạp chí  Người đưa tin UNESCO số 11, tháng 12-2001).

Ảnh hưởng của các công ty với các trường Ðại học và các trung tâm nghiên cứu ngày càng tăng dưới nhiều hình thức. Các khoa học cơ bản, nhất là các khoa học nhân văn bị bỏ rơi vì không sinh lời trực tiếp, các nhà khoa học bị định hướng vào các nhãn mác hàng hoá cụ thể mất đi quyền thể nghiệm và phiêu lưu, các phát minh không được công bố rộng rãi cho toàn nhân loại như xưa mà bị nhốt trong tủ kín của các ông bầu, các giảng đường, các cuộc hội thảo khoa học  và các phòng thí nghiệm tôn nghiêm, bị tập trung vào các hợp đồng thương mại thuân tuý và được trang hoàng bằng các logo và các biển quảng khổng lồ, sặc sỡ.

Tại Mỹ, đầu những năm 1990, Viện công nghệ Massachusetts (MIT) đã gây tai tiếng lớn khi cho phép các công ty chỉ cần chi trả 10.000-50.000USD là có thể tiếp cận và sử dụng mọi thành quả nghiên cứu  dù là bí mật của trường. Ðại học Toronto (Canada) đã ký với các Công ty những hợp đồng tài trợ  bí mật có trị giá lên tới 30 triệu đô la, đổi lại các công ty được quyền chi phối hướng nghiên cứu và khai thác các thành quả nghiên cứu của trường. Thậm chí, trường Ðại học California Berkely đã cho phép công ty này được quyền cấp bằng sáng chế cho một phần ba các công trình nghiên cứu và được quyền biên tập các công trình xem có nên cho công bố hay không! Hợp đồng này đã được coi là một vụ cướp bóc tài nguyên công cộng gây phản ứng mạnh mẽ chưa từng thấy. (Tạp chí  Người đưa tin UNESCO số 11, tháng 12-2001) Một trong những nguyên nhân của thảm trạng này là các nhà nước ngày nay đã cắt giảm nhiều ngân sách tài trợ cho các công trình nghiên cứu cơ bản khiến cho giới khoa học bị lệ thuộc vào túi tiền của các công ty. Ở một số nước, nhất là những nước kém phát triển, thì sự quan tâm tài trợ của nhà nước lại hay biến khoa học thành công cụ rửa tiền hay phương thức tham nhũng. Nhiều dự án gọi là công trình khoa học quốc  gia thực chất chỉ là một mớ kiến thức cũ rích, xào xáo để lấy tiền nhà nước chia nhau.

Sự phát triển của thị trường khoa học đã tạo nên hiện tượng Brain drain – sự thu hút trí thức từ các nước ngoại vi về các nước trung tâm. Ấn độ là nước có tỷ lệ kỷ lục về di cư của các nhà khoa học: Ðã có tới khoảng 50.000 người đến Mỹ và 10.000 người đến Anh và Canada. Do biết thu hút các trí thức từ các nước. Chỉ riêng năm 1973 nước Mỹ  đã tiết kiệm được 883 triệu đô-la chi phí giáo dục, còn các nước đang phát triển thì thiệt hại 320 triệu đô-la.

Sự di tản trí thức là một hiện tượng rất cũ, đã có từ khi Platon phục vu bạo chúa ở Syracure, Galilée đặt mình dưới sự bảo trợ của Viên, các anh em Casini được Lu-i XVI mời với giá rất cao để xây dựng Ðài Thiên văn Paris…Ðó là những lý do khiến nhiều nhà khoa học bớt áy náy về đạo đức khi đem tài năng của mình đến những nơi mà nó được thừa nhận, dù đó không phải là Tổ quốc mình (Thực trạng khoa học và kỹ thuật-NXB Khoa học xã hội, năm 1996)./.

 
 
 
 

Tinh thần hòa giải dân tộc – VHNA

17 Th9

  •   HỒ BẠCH THẢO
  • Thứ bảy, 12 Tháng 9 2015 08:27
  • font size giảm kích thước chữ tăng kích thước chữ
 

Phải nói ngay rằng, trong hoàn cảnh kẻ thù  chờn vờn ngoài cửa ngõ, việc hoà giải dân tộc là điều bắt buộc; lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc chứng minh rõ điều đó.

Thời nước ta mới lấy lại được độc lập, Lê Hoàn, tức vua Lê Đại Hành, dành ngôi của nhà Đinh [980]. Vị vua mới này, có đủ bản lĩnh duy trì khối đoàn kết quốc gia, tạo sức mạnh chiến thắng quânTống trên đường xâm lăng. Thay vì thông lệ“ Một phenthay dổi sơn hà” thường có chủ trương “ Nhổ cỏ, phải nhổ cho hết rễ”; vua Lê Đại Hành đã giữ mạng sống vua cũ Đinh Toàn, phong chức Vệ vương. Đinh Toàn hợp tác với chính quyền mới; mãi đến năm 1001, trong một trận chống giặctử trận. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép “Giặc bày trận hai bên bờ sông chống lại, quan quân bị hãm giữa sông, vua cũ là Vệ vương Toàn trúng tên chết tại trận. Vua [Lê Đại Hành] kêu trời 3 tiếng, rồi thúc quân đánh, giặc tan vỡ.” (1)

Đến đời  nhà Trần có cuộc khủng hoảng rất lớn, tưởng chừng có thể làm lung lay cả triều đại . Bấy giờ Chiêu Thánh Hoàng hậu [tức Lý Chiêu Hòang], chánh cung của vua Trần Thái Tông không có con. Thái sư Trần Thủ Độ rắp mưu đem Công chúa Thuận Thiên họ Lý, [vợ của An Sinhvương Liễu, anh ruột nhà vua] lúc bấy giờ đang có thai ba tháng, làm vợ vua Trần Thái Tông, để mong có con nối dõi. Việc làm loạn luân này, khiến Liễu tức giận họp quân trên sông cái nỗi loạn. Đến hai tuần sau, Liễu tự lượng thế cô khó lòng chống được, ngầm đi thuyền độc mộc, giả làm người đánh cá đến chổ vua Thái Tông xin hàng:

“Lúc ấy vua đang ở trong thuyền, anh em nhìn nhau khóc. Trần Thủ Độ nghe tin, đến thẳng thuyền vua , rút gươm thét lớn:

-Giết thằng giặc Liễu.

Vua giấu Liễu trong thuyền, vội vàng bảo Thủ Độ:

-Phụng Càn Vương [tước hiệu cũ của Liễu thời triều Lý ]đến hàng đấy.

Rồi lấy thân mình che cho Liễu.”(2)

Nhà vua lại cử Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn con An sinh vương Liễu làm tổng chỉ huy quân đội; việc làm nàybiểu lộ tinh thần hoà giải vàtấm gương can đảm, dám dùng người giỏi. Hưng Đạo vương ,lập công đầu trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, cũng là nhân vật triệt để thực hiện tình đoàn kết. Sử chép An sinh vương Liễu vẫn ôm mối thù xưa, lúc sắp mất cầm tay Trần Quốc Tuấn giối giăng rằng:

“Con mà không vì cha lấy thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắt được.”

Quốc Tuấn ghi điều đó trong lòng, nhưng không cho là phải.

Lại có lần Quốc Tuấn đem chuyện ấy vờ hỏi Hưng nhượngvương Quốc Tảng. Quốc Tảng thưa:

-Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ.

Quốc Tuấn rút gươm kể tội:

-Tên lọan thần là đứa con bất hiếu mà ra.

Định giết Quốc Tảng. Con trưởng Hưng Vũ Vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Quốc Tuấn mới tha. Rồi ông dặn Hưng Vũ Vương:

– Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng. (3)

Lúc này vua tôi, quân dân một lòng, nội bộ đoàn kết vững vàng; nên có thể đánh tan âm mưu chia rẽ của kẻ ngọai xâm, cầm đầu bởi vua Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt .

Dưới thời quân Minh cai trị, sau những cuộc phấn đấu của tôn thất nhà Trần như  Giản Định Đế, Trần Quí Khoách bị thất bại; con cháu nhà Trần gồm Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi, cháu ngoại Tư đồ Trần Nguyên Đán,lặn lội vào Thanh Hoá phò Lê Lợi. Những bậc đại trí như Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi thừa biết rằng một khi thành công, chưa hẳn nhà Lê đã dung tha cho con cháu nhà Trần cũ; nhưng vì đại nghĩa chống ngoại xâm, họ đã hợp tác nhiệt thành, dành lại độc lập cho nước nhà.

Thời Lê mạt, bậc khoa bảng nỗi tiếng Tiến sĩ Ngô Thời Nhậm hợp tác với  nhà Tây Sơn. Ông hiến kế tạm rút quân từ thành Thăng Long về Tam Điệp, như “ cho chúng tạm ngũ trọ một ít ngày”; để cuối cùng làm nên đại thắng, đánh tan đạo quân xâm lăng của Tôn Sĩ Nghị.

Ôn qua lịch sử từ các đời Tống, Trần, Lê, Nguyễn khẳng định tinh thần đoàn kết hoà giải, là yếu tố hàng đầu để giữ nước.

Tiếp đến câu hỏi quan trọng cần được đặt ra; nên làm gì để hoà giải:

Thứ nhất;  thiết tưởng cần có tinh thần rộng rãi, chấp nhận người khác có thể có cái nhìn khác mình; không nên chấp nhất hẹp hòi, kèn cựa nhau từng chi tiết vụn vặt. Ca dao cổ có câu:

Thương nhau cau sáu, bổ ba,

Ghét nhau cau sáu, bổ ra làm mười.

Các bạn trẻ ngày nay không biết ăn trầu, nên không biết đến sự trân trọng của miếng trầu ngày xưa.Tống Sử ghi lại phúc trình của viên Sứ thần Tống Cảo trình lên lên vua Tống Thái Tông về chuyến đi An Nam; dịp này Cảo được mời ăn trầu như sau “ [Lê] Hoàn gìm ngựa, cúi đầu, sau khi hỏi thăm sức khoẻ Thiên tử, buông cương cùng đi. Lúc bấy giờ đem trầu cau ra mời, nhai trên lưng ngựa; đó là phong tục hậu đãi tân khách.” (4)

Nay trở lại câu ca dao trên, ý nghĩa nằm trong bối cảnh thời xưa, hôn nhân quyết định bởi cha mẹ, tục ngữ có câu “Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”; trai gái không thể biểu lộ một cách thẳng thắn “Anh yêu em, em yêu anh” như ngày nay. Bấy giờ người con gái tuy bị động, nhưng cũngkín đáo tìm cách biểu lộ tình cảm minh, qua việc têm trầu mời khách nhà trai. Trường hợp thương người con trai thì quả cau đáng bổ làm 6 miếng, thì bổ thành 3 miếng, khiến miếng cau to, xơi với trầu đặm đà hơn; nếu không bằng lòng thì tỏ thái độ khác, bằng cách bổ nhỏ trái cau thành 10 miếng. Vậy “cau sáu, bổ ba” biểu tượng sự cởi mở, hoà hợp.

Liên hệ thực tế, qua bài Tiếc Thương Trần Hạnh của anh Nguyễn Ngọc Giao đăng trên Diễn Đànngày 7/9/2015, nhắc đến cụ thân sinh anh Trần Hạnh là người tin Phật, có lẽ không muốn cho con cháu ôm lấy cái “nghiệp” quá khứ,để tư tưởng và hành động được tự do; nên đã nén lòng đốt chiếc áo vấy máu của ông nội anh Hạnh:

 “Mấy năm sau, ông qua Mỹ theo diện HO. Hạnh kể lại cái tết đầu tiên, họp mặt đầy đủ toàn thể gia đình ở California. Ông mang ra cái áo cũ, còn thấy vết máu. Đó là cái áo của cụ thân sinh bị chết tết Mậu Thân ở Huế, mà một người chú của Trần Hạnh đã gìn giữ cho con cháu dòng họ. Không một lời, ông đã đốt cái áo ấy, như người ta đốt vàng mã trong ngày tết gia đình sum họp tưởng nhớ tổ tiên.”

Sau đó trên Vietnam-issue, tôi tham gia, có bài viết của anh Hoàng Ngọc Tuấn, cũng là người bạn anh Hạnh, bảo rằng có một vài điểm anh Giao kể lại, anh Tuấn chưa được nghe, và thuật lại sự kiện trên như sau:

Mấy năm sau đó, khi gia đình đã đến định cư ở Mỹ, trong cái Tết sum họp đầu tiên ở California, cha của anh có kể cho tất cả các con một câu chuyện rằng, trước khi rời Việt Nam, ông đã thắp nhang khấn vái trước bàn thờ cha của ông và xin phép được đốt một di vật. Đó là chiếc áo vấy máu của cụ khi cụ bị  chết  trong Tết Mậu Thân mà gia đình còn giữ lại cho con cháu tưởng niệm. Ông đã khấn vái rằng nhờ phước đức tổ tiên mà bây giờ cả gia đình sắp qua Mỹ để sống một cuộc đời mới, nhưng vì quá xa xôi và chưa biết đến khi nào mới có thể trở về với quê cha đất tổ, nên ông xin đốt di vật này và cầu nguyện cho hương linh của cụ được mỉm cười nơi chín suối.”

Tôi thấy qua 2 bài, anh Giao và anh Tuấn thuật lại đại thể giống nhau; chẳng khác gì hai tấm ảnh chụp nghiêng từ hai bên trái, bên phải của một chân dung. Hai tấm hình tuy có chung mũi, nhưng lổ tai trái, phải khác nhau; chi tiết anh Giao có, chưa hẳn anh Tuấn đã có. Bởi vậy tôi tâm đắc bài của anh Hiệp, cũng trong Vietnam-issue, biểu lộ tinh thần thông cảm cởi mở, như sau:

(1) Anh H N Tuấn nói là anh “chưa bao giờ nghe Hạnh nói…” không có nghĩa là Trần Hạnh không nói câu nói của cha anh cho những người khác.

Anh H N Tuấn cũng sai khi nói là ai ở miền Nam trước 75 sẽ ngạc nhiên khi cha anh Hạnh dặn dò cố gắng học hành không nên tham gia chính trị.

Dặn dò này thật sự rất phổ thông cho những sv sắp sửa du học ở các nước phương Tây. Ngay cả tôi cũng được cha mẹ dặn dò như vậy. Vì ở miền Nam biết rằng một số sv du học đã tham gia phong trào phản chiến và gây khó khăn cho gia đình và chính phủ VNCH. Năm 1973, các sv du học ở Cộng hòa Liên bang Đức đã phản đối TT thiệu khi ông công du Âu châu với hệ quả là chinh phủ VNCH cấm không cho sv du học qua Đức nữa và không cho gia đình chuyển ngân cho sv

(2) Cũng vậy, Trần Hạnh “chưa bao giờ nói..” cho anh HN Tuấn, không có nghĩa là Trần Hạnh không nói cho Nguyễn Ngọc Giao vì tùy đối tượng anh Hạnh sẽ nói những gì cần trong bối cảnh khác nhau. Anh Giao thuộc phe phản chiến trước đây nên câu nói “Bỏ qua đi. Nếu bên mình thắng có lẽ đối xử với bên kia còn tệ hơn” thích hợp hơn khi anh Hạnh và gia đình qua Pháp gặp gia đình anh Giao chứ anh không nói cho anh HN Tuấn làm gì . Cho nên tôi nghĩ anh HN Tuấn có thể vội vã khi nói anh Giao là tưởng tượng đặt ra. A benefit of the doubt should be given here.

(3) Những lời kể về đốt chiếc áo máu của anh H N Tuấn và anh N N Giao thuật lại có chi tiết khác nhau nhưng làm sao không nghì có thể là do trí nhớ của mổi cá nhân hơi trệch. Tôi đã gặp và quen biết anh H N Tuấn và anh N N Giao và qua các cơ hôi nói chuyện và tiếp xúc tôi đề thấy cả hai đều là những người đàng hoàng, có integrity mặc dầu nhận định và chính kiến khác nhau.

Thứ hai; nên thành thật, bắt đầu từ những điểm đồng thuận, rồi từ từ khai triển ra những chỗ dị biệt. Có vài bạn cực đoan nói rằng không có gì đồng thuận với Cộng sản cả. Xin trả lời; ít ra chúng ta cũng đều ăn cơm, hãy nói về cơm trước, còn phở và hủ tíu tạm hoãn lại sau. Một khi đã thông cảm rồi, thì hiểu rằng cơm, bánh phở, bánh hủ tíu, cũng từ gạo mà ra! Về điểm này tôi có chút kinh nghiệm, xin được phép thuật lại:

Trước năm 2007, tôi gửi một số bài viết đăng trên báo Talawas của nhà văn Phạm Thị Hoài. Từ nhân duyên này, tôi được quen với anh D. tại Hà Nội. Anh là người rất thích  khảo cứu lịch sử, muốn giúp tôi in sách tại Hà Nội. Tôi gửi anh bản dịch những văn bản trongThanh Thực Lục, liên quan đến chiến tranh Thanh-Tây Sơn. Anh liên lạc với N. X. B. Hà Nội, thuộc Thành uỷ Hà Nội, để nhờ xuất bản. Khoảng năm 2008 tôi về Hà Nội, được ông Giám đốc N. X.B. Hà nội, Thạc sĩ Nguyễn Khắc Oánh mời đi ăn. Trong bữa tiệc tiệc, ngoài các anh làm việc cho N.X.B tôi quên tên, còn có nhà văn Đào Hùng con cụ Đào Duy Anh và anh D; bữa tiệc vui vẻ,  ông G.Đ hứa sẽ xuất bản sách.

Sau đó khoảng 1 năm, bộ Thanh Thực Lụcxuất bản tại Việt Nam, bộ này trước kia in tại Mỹ gọi là Cao Tông Thực Lục. Tiếp đó N.X.B. có dự định  xuất bản 1.329 văn bản Minh Thực Lục liên quan đến Việt Nam do tôi dịch và tái bản Thanh Thực Lục. Qua sự trung gian của anh D., tôi làm việc với một số chuyên viên sử học trong nước qua internet, nhưng không biết tên, biết mặt. Chúng tôi làm việc có hiệu quả, thỉnh thoảng có một vài bất đồng nhưng đã giải quyết được. Ví dụ văn bản về việc Trương Phụ được Minh Thái Tông thăng chức, tôi đã dịch, nhưng không được đưa vào; họ căn cứ vào tiêu chí chỉ in những văn bản liên quan đến Việt Nam thôi, nên tôi đành nhượng bộ. Có những đoạn bị sửa, tôi biện luận lại, thì được họ nhượng bộ.

Năm 2010 bộ Minh Thực Lục in xong và Thanh Thực Lục tái bản; tháng 11 tôi về nước, anh D. báo cho N.X.B biết. N.X.B. cho tổ chức lễ ra mắt sách tại hội trường thư viện Hà Nội. Trong buổi ra mắt sách, anh D. đảm trách điều hành, trên bàn thuyết trình ngoài ông G.Đ. Nguyễn Khắc Oánh, còn có các PGS. Tiến sĩ Nguyễn Minh Tường, PGS. Tiến sĩ Tạ Ngọc Liễn, nhà nghiên cứu Hán Nôm Phạm Hoàng Quân. Bây giờ tôi mới biết ba vị này đã từng làm việc với tôi trên internet, qua trung gian của anh D. Đến lượt trình bày, tôi chỉ nêu lên 2 ý của người xưa: Thứ nhất cụ Nguyễn Văn Tố từng có ý kiến rằng Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim tuy tạm đủ, tuy nhiên cần dịch tất cả các sử liệu nước ngoài, đặc biệt là Bắc sử, để bổ sung vào kho tàng lịch sử nước nhà. Thứ hai trong thư Phan Đình Phùng gửi Hoàng Cao Khải, nhận định lịch sử nước ta là chỗ dựa bất biến vững chắc nhất. Hội trường rất đông người, nhưng tôi chỉ nhớ một vài vị phát biểu ý kiến như: Dân biểu quốc hội Dương Trung Quốc, Cựu Lãnh sự VN tại Quảng Châu Dương Danh Di, PGS. Ngô Đức Thọ, PGS. Trần Thị Băng Thanh, nguyên Viện trưởng Hán Nôm Trần Nghĩa; nói chungkhông ai phản đối việc làm của tôi.

Phải nói rằng tôi rất muốn in sách lịch sử trong nước, vì một ám ảnh thời niên thiếu. Đó là thời Cải cách ruộng đất năm 1955; tôi sống tại huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh; thời đó xung quanh tôi, thanh thiếu niên nam nữ hát rầm ran bài hát sau đây:

Thằng phong kiến thường hay nói rằng,

Giàu nghèo hay đói no, đều do tại số,

Đừng nghe lời quân giantham,

Bần cố trung nông ta ơi!…..”

“Thằng phong kiến” tức các triều đại quân chủ nước ta từ họ Hồng Bàng cho đến nhà Nguyễn; theo tác giả bài hát này thì các triều đại này đều xấu. Cho dù tôi có viết cả trăm bài để cải chính vấn đề này cũng không tác dụng; nên chỉ lẳng lặng dịch nguyên văn các văn bản từ sử Trung Quốc về việc phấn đấu giữ nước của vua chúa nước ta thời xưa, chữ nào nghĩa nấy, có nguyên văn chữ Nho đính kèm, chắc có tác dụng hơn.

Đúng như tôi nghĩ, khoảng một năm sau một bạn trẻ trong nước gửi Email cho tôi, cho biết trong khi đọcMinh Thực Lục anh rất cảm động việc con gái vua Lê Lợi mới 9 tuổi, bị Nội quan Mã Kỳ đánh phá nhà, bắt đem về Trung Quốc. Nhưng sau khi thoả thuận với Vương Thông để quân Minh rút lui, đất nước được hoà bình; vua Lê Lợi vì việc nước, phải dằn lòng quên thù riêng, cấp thuyền cho Mã Kỳ trở vể Trung Quốc an toàn. Sau đó nhà vua tỏ ra mềm dẻo gửi thư sang Trung Quốc xin lại con (5), nhưng bị vua Tuyên Đức báo tin rằng con đã chết! (6)

Ngoài ra với những điều nhận xét sau đây, tôi cảm thấy không bị làm khó, trong việc in sách:

– Gần 3.000 trang sách trong bộ Minh Thực Lục, và 600 trang trong Thanh Thực Lục, hoàn toàn không có những từ liên quan đến hiện đại, như đảng Cộng sản v v…(7)

– Theo yêu cầu của tôi, tại trang đầu bộ Thanh Thực Lục có ghi hàng chữ sau đây “ Kính dâng hương linh Thân phụ và Thân mẫu, ông bà Hồ Lê Phồn”; mặc dù qua lý lịch ai cũng biết thân phụ và thân mẫu tôi là địa chủ, chết trong cải cách ruộng đất.

Chú thích:

1.   Đại Việt Sử Ký Tòan Thư, tập 1, trang 230.

2.  Đại Việt Sử Ký Tòan Thư, tập 2, trang 16.

3.   Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập 2, trang 80.

4. Tống Sử, quyển 488, Liệt Truyện thứ 247, Ngoại Quốc: Quyển thứ 4, Giao Chỉ.

5.Văn bản về tờ biểu của vua Lê Lợi gửi cho vua Tuyên Đức, có đoạn như sau : [805] Ngày 11 tháng 2 năm Tuyên Đức thứ 4  [ 15/3/1429]

……Nhân thần có chút tình riêng: thần trước đây bị quan quân xua đuổi, trong lúc thảng thốt để mất  con gái nhỏ mới 9 tuổi. Dò la được biết Nội quan Mã Kỳ mang về, tiến dâng làm quan nô tỳ. Thần tội to như gò núi đã được tha, nghĩ đến gia đình chỉ mong được đoàn tụ, xin sắc chỉ tha cho về để được vẹn tình cha con, Thần đáng ghi khắc vào tâm cốt, cảm ơn không bao giờ quên.”

( Minh Thực Lục v. 18, t. 1218-1219; Tuyên Tông q. 51, t. 3b-4a )

6. Văn bản vua Tuyên Đức trả lời có đoạn như sau:

[ 809 ] Ngày 28 tháng 3 năm Tuyên Đức thứ 4 [ 1/5/1429 ]

…Riêng dụ ngươi về việc ngươi tâu rằng có con 9 tuổi bị Mã Kỳ thu dưỡng đem về kinh sư, muốn được đoàn tụ. Nghe việc này động lòng trắc ẩn, Trẫm là cha mẹ của thiên hạ lai nỡ để cho một trẻ nhỏ không được gần người thân ư! Nên đã ra lệnh tìm hỏi ngay việc này. Nhưng con gái ngươi vì không hợp thủy thổ, nên bị bênh mất đã lâu. Tình thương yêu cha con người người giống nhau, nhưng phần số mỗi người thì đã định; bảo riêng để ngươi biết….( Minh Thực Lục v 18, tr. 1258-1260; Tuyên Tông q. 52, tr. 10b-11b ) 

7.Minh Thực Lục hiện có trong các thư viện Mỹ như: Library of Congress, ISBN:9786045500613; UC Berkeley Libraries, Call No. DS556.58.C5m56 2010 V.3.Thanh Thực Lục: Cornell University Library

Từ Nguyễn Trường Tộ tới bộ ngũ: “Vĩnh-Quỳnh-Tốn-Tố-Khôi” – NCLS

9 Th9

  

 Nguyễn Trường Tộ

IMG_8091

Nguyễn Ngọc Lanh

Ba thế hệ trí thức với hoài bão nâng cao dân trí

Cụ Nguyễn Trường Tộ và “bộ ngũ” sống cách nhau tới hai thế hệ. Trong khoảng thời gian 50 hoặc 60 năm ấy, chen vào giữa họ, là thế hệ các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh. Không ai thật sự có quyền lực trong tay. Các cụ được trọng vọng là do những gì tích lũy trong óc. Có uy tín là nhờ thái độ đối với xã hội, nhân quần. Sản phẩm của mỗi người đều chỉ là những suy nghĩ, do tự mình thể hiện trên giấy – mà không thể nhờ vả làm giúp, hoặc sai bảo ai làm thay…

Tất cả các vị này đều sinh ra từ thế kỷ 19 – cách nay hàng trăm năm, nhưng các vị đều là trí thức đúng nghĩa – mặc dù đầu thế kỷ 20 mới có khái niệm “trí thức để có thể phân loại “người có học” khác trí thức ở chỗ nào. Đó là những người vừa “có học” lại vừa có tư duy phản biện xã hội. Chính do tư duy phản biện, họ bị chế độ thực dân và phong kiến – nói chung là những chế độ độc tài – kỳ thị, cảnh giác, kể cả lên án, thậm chí bị lên án từ nhiều phía. Nhưng tất cả đều bất khuất và sử dụng phương thức phù hợp để thể hiện lòng yêu nước và thực hiện hoài bão nâng cao dân trí. Thời nay, con cháu Phan Chu Trinh và “bộ ngũ” – thế hệ thữ năm – vẫn tiếp tục sự nghiệp cha ông.

Đại diện ba thế hệ trí thức với hoài bão nâng dân trí (thời kỳ giữ nước và mất nước)
Thế hệ Tên Năm sinh Biện pháp chính
1 Nguyễn Trường Tộ 1830-1871 Canh tân đất nước. Khuyên dùng chữ Nôm
2 Phan Bội Châu 1867-1940 Xây dựng lực lượng, kết hợp giác ngộ người dân
2 Phan Chu Trinh 18721926 Nâng cao dân trí
3a Nguyễn Văn VĩnhPhạm Duy Tốn

Nguyễn Văn Tố 

Phạm Quỳnh

1882-193618831924

18891947

18921945

Phổ biến chữ quốc ngữCải tiến ngôn ngữ Việt

Tiếp thu tinh hoa nhân loại

Nâng cao dân trí

3b Phan Khôi 1887-1959 Phản biện xã hội, nâng cao dân trí

Chuyển giao thế hệ. Dựa vào các tư liệu chính thức, có thể nói:

– Từ khi thực dân Pháp nổ súng đánh Đà Nẵng, nền độc lập nước ta bị đe dọa nặng nề, nhưng vẫn còn cơ may cứu được – nếu kịp canh tân theo các kiến nghị của Nguyễn Trường Tộ. Nhiều ý kiến đồng tình với nhận định này. Thời cơ bị lỡ, triều đình chỉ còn cách dốc toàn lực chống ngoại xâm, nhưng thất bại có thể đoán trước. Trước sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản, tất cả các nước nông nghiệp lạc hậu – như nước ta (trừ Nhật, kịp canh tân) – đều rơi vào tay thực dân. Vậy, thử hỏi: Các cuộc khởi nghĩa riêng lẻ ở nước ta – rất trơ trọi – làm sao có thể thành công, cho dù rất anh hùng, dũng cảm?

– Khi thực dân Pháp đã đặt được nền móng cai trị vững vàng, đa bắt đầu thực thi các chương trình khai thác và xây dựng dài hạn, dẫu Phan Bội Châu – với tầm nhìn rộng hơn những người đi trước (Đông du, gây dựng lực lượng kết hợp giác ngộ người dân) – vẫn không thể thành công. Mọi người nhận ra: Con đường bạo động chỉ đưa đến thất bại. Do vậy, cùng thời với Phan Bội Châu, từ rất sớm, Phan Chu Trinh chủ trương đấu tranh ôn hòa, với phương châm và biện pháp: Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Đến nay, được nhiều người coi là phù hợp.

– Thế hệ trí thức tiếp nối xứng đáng của cụ Phan Chu Trinh – ngoài các đồng chí từ Pháp về nước – thì điển hình là “bộ tứ” (Âu học) và Phan Khôi (Hán học âu hóa). Xếp họ thành “bộ ngũ” sợ rằng hơi bị khiên cưỡng.

Nguyễn Trường Tộ: Cách làm đúng, không gặp thời?

Từ điển mở wikipedia coi cụ Nguyễn Trường Tộ là danh sĩ, chí sĩ. Đó là sự tổng kết những gì cụ đã thực hiện – thành công và thất bại – trong cuộc đời ngắn ngủi của mình. Có lẽ chỉ hai việc là có kết quả thiết thực, tồn tại đến nay:

– Thiết kế và chỉ đạo xây một tu viện, do vậy được xem là “kiến trúc sư”. Wikipedia ghi như sau: Trong quãng thời gian năm 18621864, bằng sự hiểu biết của mình, ông đã thiết kế và chỉ đạo việc xây cất ở Sài Gòn tu viện Dòng Thánh Phaolô (nay ở số 4 đường Tôn Đức Thắng). Đây là một công trình kiến trúc theo kiểu châu Âu có quy mô và có giá trị bền vững cho đến tận ngày nay.

– Giúp việc đào kênh. Truyện “Sự tích ông Nguyễn Trường Tộ” kể:

Năm Tự Đức 19, Bính Dần (1866), ngũ nguyệt (tháng 5), Bộ sai quan Tổng đốc Nghệ An là Hoàng Tá Viêm ra đào Kênh Sắt… Người viết thư cậy ông Tộ đi khám xem hình đất, thế đất, chỉ lối cho mà đào… Kênh hoàn thành, ông Tộ có làm bài thơ mừng Kênh Sắt .

– Còn việc dành cả đời để làm: đã thất bại. Đó là kiên trì dâng vua mấy chục “bản điều trần” đưa ra những kế sách chấn hưng đất nước, mong giữ được độc lập tự chủ, trong khi thực dân đã đi qua giai đoạn giao thương, thật sự chuyển sang giai đoạn vũ trang xâm lược (1858). Vậy có còn cơ hội canh tân hay không? Số bài viết về cụ Nguyễn dù đã rất nhiều, nhưng chuyện này vẫn phải bàn tiếp.  

Hoàn cảnh và thời thế

Nếu coi năm 1850 là trung điểm của thế kỷ 18, thì cụ Nguyễn Trường Tộ sinh trước đó 21 năm (1829-1830) và mất sau đó 21 năm (1871). Đây cũng là thời gian quân Pháp và Tây Ban Nha đánh Đà Nẵng nhưng không thành công (1858), chúng kéo vào Nam Bộ, chiếm của ta ba tỉnh miền Đông (1862). Ngay sau sự kiện này, ba bản điều trần quan trọng nhất của cụ Nguyễn đã được gửi lên vua (1863). Tiếp đó, Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây (1867)… Cụ từ trần 2 năm trước khi Pháp kéo ra xâm chiếm Bắc Bộ (1873). Tóm lại, các kiến nghị canh tân của cụ được viết khi tiếng súng xâm lược đang lan rộng cả nước. Câu hỏi là trong hoàn cảnh như vậy, nếu triều đình thực hiện ngay tất cả mọi kiến nghị của Nguyễn Trường Tộ, liệu nước ta có thoát được ách thực dân?

Thực tế, triều đình chỉ lo thương lượng “chuộc” lại các tỉnh đã mất và khi nhận ra dã tâm xâm lược của thực dân, thì sự phòng thủ hoàn toàn thụ động và bất cập. Đã có lần vua Tự Đức tiếp kiến cụ, nhưng hầu hết các kiến nghị không được thực hiện, thậm chí không được phúc đáp. Duy có một kiến nghị tưởng sẽ thành hiện thực là mở trường kỹ thuật ở Huế khi cụ cùng giám mục Gauthier được triều đình cử đi Pháp mua sắm sách vở, tài liệu và mộ giảng viên. Rút cuộc cũng thất bại.  

Theo wikipedia, ngày 10 tháng 1 năm 1867, phái đoàn đáp tàu L’orne đi Pháp. Trong 8 tháng ở đây, họ đã mua sách vở, dụng cụ, máy móc…để lập trường học kỹ thuật ở Huế. Ngoài ra, Giám mục Gauthier cũng đã tới Bộ Ngoại giao Pháp, Bộ Hàng hải và Thuộc địa Pháp để xin tài trợ cho các chương trình của mình; đồng thời tiếp xúc với một số thương gia và kỹ nghệ gia người Pháp. Ngày 25 tháng 11 năm 1867, phái đoàn trở về Việt Nam. Ngày 29 tháng 2 năm 1868, phái đoàn về tới Huế. Cùng theo về còn có hai Linh mục, một giáo dân (bác sĩ Hemaiz5) và một người thợ máy (tất cả đều là người Pháp, và đều do Giám mục Gauthier vận động được). Sau khi xem xét các thứ mua về cho trường học và các thứ mà Bộ Hàng hải Pháp gửi tặng, vua Tự Đức cho phép Giám mục Sohier được xây trường học kỹ thuật trên mảnh đất đã đề nghị (nằm giữa nhà thờ Kim Long và Tòa Giám mục Huế). Theo tờ tấu của Viện Cơ mật đề ngày 4 tháng 3 năm 1868, thì sau đó các thành viên trong đoàn đều được nhà vua ban thưởng tiền và lụa…

Nhưng rồi trường vẫn không mở được. Tại sao? Có hai khả năng, chưa rõ cái nào là thực: 1) triều đình thủ cựu, hủ bại; 2) gác lại vì những việc khác khẩn cấp hơn.

Trình độ, tầm nhìn

– Từ nhỏ, học chữ Hán, tuy không đỗ đạt, không bằng cấp (có ý kiến cho rằng cụ thuộc gia đình nhiều đời theo đạo Thiên Chúa, do vậy bị cấm dự các khoa thi), nhưng cụ vẫn đủ trình độ dùng thứ chữ này viết rất nhiều bản Điều Trần lên triều đình đề nghị những cải cách mà cụ cho là cần thiết để canh tân đất nước.

– Được một giám mục dạy tiếng Pháp, được ra nước ngoài nhiều lần, cụ đủ trình độ phiên dịch cho những cuộc tthương lượng Việt-Pháp giữa các nhân vật cao cấp đại diện triều đình với các tướng lĩnh quân đội đại diện nước Pháp. Cụ cũng dịch các văn bản và sách chữ Hán sang chữ Pháp. Nhưng quan trọng hơn, cụ tự nâng tầm hiểu biết và tầm nhìn cao và rộng hơn hẳn các sĩ phu và vua quan trong nước. Điều kỳ lạ, cụ là người duy nhất ở nước ta nhìn ra xu thế của thời đại, trong đó văn minh công nghiệp sẽ chinh phục và thay thế nền văn minh nông nghiệp. Số bài viết về khát vọng canh tân đất nước và sự tiếc nuối do chưa gặp thời của nhân vật này quả là không thiếu.

Thời nay, ai cũng thấy một điều hiển nhiên; đó là… từ cách nay 150 năm, các nước tư bản chủ nghĩa đua nhau đi tìm thuộc địa với sức mạnh của công nghiệp, thì khó mà nước nông nghiệp nào chống lại được – nếu không kịp thời canh tân. Cuối cùng, thoát ách thực dân chỉ có Nhật. Sợi chỉ xuyên suốt là: Vứt bỏ chủ nghĩa Khổng-Mạnh (đã trở thành phản động), mở rộng cửa, mở rộng giao thương, đón nhận nền văn minh mới, đồng thời lấy đó làm phương tiện canh tân toàn diện đất nước. Tóm lại, chế độ phong kiến Nhật Bản diễn biến hòa bình một cách ngoạn mục sang chế độ tư bản. Cụ thể, đó là chế độ quân chủ có hiến pháp – mà sau này cụ Phạm Quỳnh ở nước ta theo đuổi.

Nguyễn Trường Tộ có thể so sánh với thủ tướng Okubo Toshimichi (1830-1878) – một trong ba người (tam kiệt) nhìn xa trông rộng ở Nhật, và sinh cùng thời với Nguyễn Trường Tộ. Điều khác nhau là khi Okubo Toshimichi đã là thủ tướng, có đủ quyền trong tay để thực hiện mọi dự định, thì cụ Tộ còn phải hồi hộp chờ triều đình phán xét những đề nghị – với văn phong thừa lễ độ – của mình.

Xin hãy xem, và sẽ kinh ngạc biết bao về bản “Thiên hạ phân hợp đại thế luận” năm 1863 (Luận về các thế lớn “hợp và chia” trong thiên hạ) – mà cụ gửi triều đình.

Trích: Thiênhạ phânhợp đạithế luận“.

Ngày nay các nước phương Tây đã bao chiếm suốt từ Tây Nam cho đến Đông Bắc, toàn lãnh thổ châu Phi cho tới Thiên Phương, Thiên Trúc, Miến Điện, Xiêm La, Tô Môn Đáp Lạp, Trảo Oa, Lữ Tống, Cao Ly, Nhật Bản, Trung Quốc và các đảo ở ngoài biển, kể cả Tây châu, không đâu là không bị chẹn họng bám lưng.

Nước Nga thì từ Tây Bắc đến Đông Nam gồm tất cả các nước Đại Uyển, Cốt Lợi Cán, Mông Cổ và các xứ ở Bắc Mãn Châu, không đâu là không chiếm đất và nô dịch dân những nơi đó.

Ở trên lục địa, tất cả những chỗ nào có xe thuyền đi đến, con người đi qua, mặt trời, mặt trăng soi chiếu, sương mù thấm đọng thì người Âu đều đặt chân đến, như tằm ăn, cá nuốt. Ở đâu thuận với họ thì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa. Ai hòa với họ thì được yên, ai cự lại thì dùng binh lực giao tranh; trong thiên hạ không ai dám kháng cự lại họ

Song bản điều trần này và các bản khác đều không được phúc đáp.

Tóm tắt nội dung các bản điều trần (wikipedia)

Về chính trị:

Đầu tiên, trình bày Những thế lớn phân và hợp trong thiên hạ (“Thiên hạ phân hợp đại thế luận”, 1863) để có chiến lược tổng thể thích hợp, đồng thời đề xuất “Kế ly gián giữa Anh và Pháp” (1866). Không hề ảo tưởng về dã tâm của thực dân Pháp, nhưng ông rất sáng suốt chủ trương tạm hòa hoãn với Pháp, gợi ý với nhà vua về lợi ích lớn của việc “Mở rộng quan hệ với Pháp và các nước khác” (1871)…

Về nội chính:

Ông đề nghị triều đình tinh giản bộ máy chính quyền để đỡ hao tốn công quỹ, xác định rõ chức năng công việc của từng loại quan lại để khỏi phải có rất nhiều người ăn lương mà không biết làm gì. Mặt khác, nên có chính sách đối với những nho sinh để họ không thể dựa vào chút chữ nghĩa, trốn tránh nghĩa vụ đối với nước nhà. Ngoài ra, muốn cho đội ngũ viên chức giữ được thanh liêm thì phải tạo điều kiện cho họ làm giàu chính đáng…

Về tài chính:

Ông đề nghị sắp đặt lại hệ thống thuế khóa cho thật công bằng hợp lý. Muốn thế phải đo đạc lại ruộng đất, kê khai nhân khẩu, tăng thuế người giàu và hàng xa xỉ ngoại nhập, đánh thuế thật nặng vào những tệ nạn như cờ bạc, rượu chè,…Ngoài ra, còn phải khuyến khích nhà giàu bỏ tiền ra cho vay, và vay tiền của nước ngoài…

Về kinh tế:

Ông đề nghị chấn hưng “nông, công, thương nghiệp” để làm cho dân giàu nước thịnh, bằng những hành động cụ thể như: tổ chức khai hoang, bảo vệ rừng, thành lập các đoàn tàu đem hàng nông sản đi bán, cử người thăm dò tài nguyên, khai thác mỏ, thành lập các cơ sở sản xuất công nghệ và đào tạo thợ kỹ thuật…Và để nền kinh tế cả nước có thể giao thông dễ dàng, thì phải chú ý đến việc làm mới và tu bổ đường bộ và đường thủy….

Về học thuật:

Ông đề nghị cải cách “việc học, việc thi” để chọn được nhân tài hữu ích. Không nên tiếp tục lối học “máy móc, tín điều” kiểu Trung Hoa. Đáng chú ý là việc ông đề nghị đem các môn khoa học vào trong chương trình học, nhất quyết phải dùng quốc văn (chữ Nôm) để dạy học và soạn sách, kể cả trong các giấy tờ hành chính…

Về ngoại giao:

Ông chủ trương quan hệ mềm mỏng với Pháp, và không chỉ có Pháp mà còn phải đặt ngoại giao với nhiều nước khác như AnhTây Ban Nha… Phải biết lợi dụng mâu thuẫn giữa các nước này để có lợi cho mình. Phải đào tạo được các thông dịch viên giỏi công việc và tiếng nước ngoài…

Về võ bị:

Ông đề nghị cải tu võ bị nhằm tăng chất lượng của quân đội, như tổ chức lại đội ngũ, cho quân lính được học tập các binh pháp mới, mua sắm tàu thuyền và vũ khí, xây dựng phòng tuyến cả ở thành thị lẫn nông thôn, đề phòng quân Pháp xâm lược lan ra cả nước…

Bên cạnh đó, ông còn đề nghị cải cách về các mặt khác như văn hóa, tôn giáo, bảo tồn di tích lịch sử, v.v…Tuy nhiên, phần lớn những đề nghị của ông đã không được triều đình nhà Nguyễn nghe theo do tầm nhìn hạn hẹp của họ và hạn chế của thời đại .

Thái độ người đương thời

– Người đủ quyền lực thực hiện các đề xuất của Nguyễn Trường Tộ là vua Tự Đức và triều đình thời đó. Thực tế, họ chẳng làm gì. Sự thất bại đã được Nguyễn Trường Tộ kết tinh trong hai câu thơ lúc cuối đời: “Nhất thất túc thành thiên cổ hận / Tái hồi đầu thị bách niên cơ” (Một bước lỡ, thành muôn kiếp hận / Ngoảnh đầu nhìn lại: đã trăm năm”. Dễ hiểu tâm trạng tác giả, nhưng chưa ai biết “một bước lỡ” (nhất thất túc) của cụ là gì, vào lúc nào, trong hoàn cảnh nào…

Vị giám mục suốt đời gắn bó với cụ còn cho rằng cụ chết vì bị đầu độc. Tuy nhiên, ông không đưa ra được chứng cứ.

– Chủ thuyết Nho giáo chiếm địa vị thống trị khi Gia Long chọn hoàng tử Đảm làm kế vị (vua Minh Mệnh) chính là lực cản lớn nhất để thực thi mọi canh tân. Đây là thứ chủ nghĩa biện minh cho sự cai trị của chế độ phong kiến; còn “canh tân” thực chất là đổi mới theo tư bản chủ nghĩa, mà khởi đầu là mở rộng giao thương – trong nước và ngoài nước – để giai cấp tư sản ra đời. Rất nhất quán, triều đình chủ trương “đóng cửa”. Tự Đức lại là vị vua rất uyên thâm Nho giáo, quanh vua, các vị trọng thần chủ yếu xuất thân khoa cử. Trong khi đó Nguyễn Trường Tộ là “vô danh”, lại là người theo công giáo, phải tự giới thiệu bản thân với triều đình – về quá trình thu nhận kiến thức thời đại – để mong được triều đình “lắng nghe” và hỏi han tới. Ngoài các định kiến, đây còn là lúc tiếng súng xâm lược đã nổ ran và lan tỏa. Các cuộc nổi loạn của nông dân chưa dẹp xong… Cùng thời gian này, vua Nhật đã giao chức cao cho các nhà cải cách; trong khi đất nước không bị đe dọa bởi xâm lược vũ trang.

Nói nước ta chưa có điều kiện và thời cơ để canh tân, thì đúng hơn là nói ta bỏ lỡ thời cơ, dù đã có bộ não của Nguyễn Trường Tộ.

Tình hình rối ren tới mức có những việc tưởng sẽ được thực hiện mười mươi, như mở một trường kỹ thuật – đã tốn tiền mua đủ sách, thiết bị, thầy, đất… kể cả ban thưởng cho những người có công – rốt cuộc, đành chịu phí tổn lớn mà vẫn phải phế bỏ chủ trương.

– Chuyện đề xuất dùng chữ Nôm thay chữ Hán. Chữ Nôm có ưu điểm là đọc lên người Việt hiểu ngay, nhưng để “đọc được” nó, phải tốn công học chữ Hán và tốn công “đoán” xem nên đọc thế nào. Mặc dù thời đó chữ quốc ngữ đã rất phổ dụng trong giáo hội, nhưng Nguyễn Trường Tộ chưa thể dại dột đề xuất dùng nó thay thế chữ Hán. Vì chắc chắn sẽ thất bại, thậm chí còn mắc tội. Tội này liên quan tới ý thức hệ: Không thể để thứ chữ của tà đạo thay thế chữ của “thánh hiền”. Thực tế, phải nửa thế kỷ  sau, và phải dùng quyền lực của chính phủ bảo hộ (trên quyền vua) mới phế bỏ được chữ Hán, thay bằng quốc ngữ. Ra quyết định “thay” là một chuyện, còn phổ cập nó, nâng cấp nó trong ngôn ngữ tiếng Việt là chuyện khác hẳn. Đó là công của “bộ tứ” học giả, trước hết là Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh.  

Thái độ hậu thế với Nguyễn Trường Tộ

Nói chung là khâm phục, tiếc nuối và thương cảm.

– Khâm phục. Biết ơn một danh sĩ có công trong quá khứ không có gì phải bàn. Tuy nhiên, vẫn có những ý kiến cực đoan. Chẳng hạn, xuất phát từ chủ ý chống đạo Thiên Chúa (đây mà mâu thuẫn tôn giáo) người ta nhân thể hạ thấp Nguyễn Trường Tộ. Đừng tốn công tranh cãi và sa đà vào đây.

Đối lại, cũng có trường hợp đề cao quá mức cần thiết vị danh nhân này, với ý định kết tội thật nặng vua quan nhà Nguyễn – do vậy, cũng quá mức cần thiết.

– Tiếc nuối. Như trên đã nêu, hoàn cảnh nước ta thời Nguyễn Trường Tộ có nhiều khác biệt quan trọng với hoàn cảnh Nhật Bản lúc đó. Căn gốc sâu xa từ lịch sử đất nước chưa cho phép nước ta – cách nay 150 năm – tiếp nhận chủ nghĩa tư bản, mặc dù đã xuất hiện nhân vật Nguyễn Trường Tộ, nhưng lẻ loi, đơn độc, thiếu một cơ sở xã hội. Thời thế chưa cho phép xuất hiện anh hùng. Sự tiếc nuối cao độ trong các bài viết hiện nay liệu có phải do bực mình với tình trạng nhiều lần bỏ lỡ các cơ hội thời hiện đại?

– Thương cảm. Dẫu sao, khâm phục và tiếc nuối là tình cảm xuất hiện sau khi dùng lý trí phân tích vấn đề. Còn thương cảm là điều tự nhiên có trong trái tim con người khi thấy đống loại gặp thất bại oan ức. Ví dụ sau khi đọc 2 câu thơ của Nguyễn Trường Tộ?. Tuy nhiên…

Những người sống ở thời nay hãy tự thương cảm chính mình

– Ví dụ, một nửa nhân loại chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx, trong đó có nước ta. Không thể nói chuyện may-rủi ở đây. Sau khi Marx và Engels mất, cách mạng vô sản chia thành hai hướng phát triển: Hướng theo Lenin và hướng theo Kaustky, Berstein. Điều có thể tiếc nuối là cả hai hướng đều có mục tiêu XHCN, chọn hướng nào cũng là cách mạng; nhưng khác nhau là dùng bạo lực, hay đấu tranh ôn hòa. Liệu có đáng tiếc nuối khi đa số dân ta thời xưa nghĩ rằng muốn đuổi thực dân Pháp ắt phải dùng bạo lực? Chuyện này cần bàn vào lúc khác. 

Bài học

Vua Nhật được coi là Minh Trị mà tự mình chẳng cần làm gì nhiều, chỉ cần một quyết định duy nhất, nhưng sáng suốt: Vứt bỏ chủ nghĩa Khổng-Mạnh; dù nó biện minh cho ngôi báu. Các việc còn lại, đã có các nhà cải cách thực hiện. Cách mạng duy tân ở Nhật – thực chất là cách mạng tư sản – chậm hơn cách mạng Pháp cả trăm năm. Vậy mà nay Nhật có kém gì Pháp?

Bài học này tới nay có còn giá trị?

GIẢI THƯỞNG HỘI NHÀ VĂN 2014: THÊM MỘT KỲ LÈO LÁ, XÚ UẾ – vannghecuocsong.com

3 Th2

Về giải thưởng Hội Nhà văn 2014: Thêm một kỳ giải thưởng lèo lá, xú uế của một cơ chế Hội Nhà văn mục rã, bè cánh, lợi ích nhóm, đưa thơ dở văn nhạt vào bất chấp dư luận, lấy tiền thuế nhân dân bố thí bạn bè. Sau bài Sóng gió giải thưởng trên báo Tiền phong http://www.tienphong.vn/van-nghe/song-gio-giai-thuong-814914.tpo , nhà triết học số 1 châu Á Nguyễn Hoàng Đức lên tiếng:

GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC MẶT TRẬN
ĐÃI NGỘ NHỮNG ĐẦU GẤU HẠ CÁNH AN TOÀN

Paul Nguyễn Hoàng Đức

Mỗi năm nhìn giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam lại liên tưởng tới hợp tác xã gia công. Thử nhìn, nước ta mỗi đầu sách in ra với 90 triệu dân số chỉ có quanh co khoảng 1000, nếu luộc hết cỡ khoảng dăm nghìn, trong khi đó mỗi đầu sách ở nước Nhật dân số cũng chỉ hơn ta gấp ba lần nhưng ra cả triệu bản, nghĩa là mỗi đầu sách được đón đọc gấp khoảng một nghìn lần nước ta.

Sức đọc phản ánh nền văn học, sức đọc văn học của ta chỉ ngang cấp xã ở Nhật, cho rộng dài đi thì dưới cấp huyện. Cường quốc là khái niệm nước lớn, nhưng người ta vẫn bảo: Nước Mỹ là cường quốc nhưng là tiểu quốc về bóng đá. Có người đã tự nhận nước ta là cường quốc về thơ, vậy thì nước ta còn là cường quốc về nông nghiệp, cường quốc về vứt rác bừa bãi, cường quốc về thiểu năng trí tuệ khi làm dường xong mới đào lên đặt cống.

Và nền văn học dưới cấp huyện trên cấp xã của chúng ta chỉ là một nền văn học nông dân, học, rồi đi bộ đội hay công nhân để được thoát ly, không phải đội mưa gió ngoài đồng, “ăn cơn chúa múa tối ngày”. Văn nghệ mới đầu mục đích chỉ là phong trào để kích thích động viên sản xuất và chiến đấu. Rồi tiếp diễn các anh chị công –nông – binh cứ à uôm viết tiến lên. Anh nào quá giỏi hay xuất sắc cũng thường chỉ được một bài. Rồi lại lao vào “học nhi ưu tắc sĩ” (học giỏi làm quan). Giải thưởng năm nay chủ yếu giải quyết chính sách hưu hạ cánh an toàn cho các bác cả đời đã thành bã văn thơ, không có khả năng đội trần hay đạp trần, mà chỉ có khả năng luồn cúi ngang lưng lãnh đạo. Hãy xem những giải:

“Theo thông tin từ Hội Nhà văn Việt Nam, các giải thưởng của Hội năm 2014 thuộc về: Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia), tiểu thuyết tư liệu của Trần Mai Hạnh; Trường ca ngắn, kịch thơ (Nhà xuất bản Hội Nhà văn) của Nguyễn Thuỵ Kha; Trăm năm trong cõi… (Nhà xuất bản Văn học), lý luận phê bình của Phong Lê và Thơ Việt Nam hiện đại, tiến trình và hình tượng (Nhà xuất bản Văn học), lý luận phê bình của Nguyễn Đăng Điệp…”

Giải thơ năm ngoái thì trao cho đại ca Thanh Thảo với tập ấm ớ từ cái tên “Trường ca chân đất” văng cả cứt đái vào thơ, rồi Năm Trì gãi háng, rồi Phạm Đương, khi bị tố là đạo nguyên si cả tên đầu đề, Hội nhà văn cứ giả điếc trao bừa, coi như ta cứ trao bừa cho giải ăn cắp là ta không ăn cắp. Còn năm nay trao cho Thụy Kha cũng là một đầu gấu. Mọi người cứ nghiệm đi sang năm dù các đại ca này có ra những tập thơ hay hơn, cũng không đến lượt vì còn giành cho người khác xếp hàng.

Còn hãy nghe tài năng thơ xuất sắc của Nguyễn Thụy Kha một đại ca được mệnh danh là “con quạ của những xác chết” qua nhưng vần thơ được chắt lọc nhất:

“Tôi con dân chính gốc Hải Phòng/ Cả ấu thơ chưa hề đến biển. Năm ấy tôi mười ba tuổi/ Lần đầu tiên nghỉ hè cắm trại Đồ Sơn/ Lần đầu tiên chân chạm sóng đại dương/ (…) Năm ấy chúng tôi đâu biết có một chuyện bất ngờ đã từ đây sẽ xảy ra/ Chúng tôi thì lạc đường nhưng những người lính hải quân lại đang tìm đường mới/ Và cái vịnh khuất nẻo này sẽ là nơi xuất phát/ Của một đoàn tàu dũng cảm ra đi/ (… )/ Năm nay tôi sáu ba tuổi/ Lại trở về thung lũng xanh gặp tuổi mười ba/ Tần ngần nhớ ngày xưa bên mốc số không/ bên tượng đài thủy quân tàu không số/ Bất chợt thấy dâng lên quanh mình bao cực sóng/Thấy hồn mình cũng hóa thành cực sóng/ Để mãi mãi dạt dào sóng vọng Biển Đông/ Để Tổ quốc Việt Nam muon đời đứng vững/ Cong một đường thái cực thiêng liêng.”

Thơ văn là phải vướt qua thông tin cấp một mới là thơ văn, đằng này 99% những câu thơ trên là thông tin cấp một. Giờ tôi xin làm một khúc thơ vu vơ nhưng hay hơn:

Tôi là con gà gốc Đông Cảo, cả đời tôi chưa thấy hồ, ngày đó tôi 13 tháng tuổi, lần đầu tiên bị đem ra chợ Lồng, tôi đâu biết chuyện bất ngờ gì sẽ xảy ra, tôi được rao bán đúng lúc người ta tuyển quân băng dãy Trường Sơn… Một cụ bà vừa khóc vừa mua tôi, cụ đem về cúng cầu may cho con cụ qua khỏi cảnh chiến trường, cụ già lẩm cẩm chập chạp, tôi đạp tung lồng thoát khỏi… Ngày con cụ về đòi bắt tôi giết thịt ăn mừng/ nhưng cụ khóc lóc văn xin và bảo vía của tôi là gà thoát chết thì con mới thoát, mẹ nuôi nó thành gà già để kỷ niệm ngày con thoát trở về/ Sướng quá tôi đứng trên đỉnh lồng như đứng trên đầu trái đất gáy vang một khúc bất tử thiêng liêng!…

Thôi những thơ mậu dịch này, chỉ là chứng minh cho cơ chế cơ quan ăn tem phiếu nhạt hoét. Những cán bộ trong hệ mậu dịch hý hửng thấy mình lúc nào cũng là quả pháo hoa đứng xếp hàng trên đầu nòng súng. Họ đâu có biết viên đạn muốn bay cao thì phải được bắn đi từ đáy cò. Và thơ họ rút cục mãi mãi chỉ là pháo hoa rụng như bọt xà phòng ngay đầu cuống rơm.

Paul Đức 25/01/2014

Bài do Bảo Chân Trịnh <trinhbaochan@gmail.com>   gởi đến Vô Ngã

 

CẢ NĂM VĂN ĐÀN TẺ NHẠT, ĐỌC TRƯỜNG CA NGẮN & KỊCH THƠ CỦA NGUYỄN THỤY KHA, BỖNG CHỐC GẶT HÁI ĐƯỢC NHỮNG TRẬN CƯỜI

3 Th2

 

VŨ THỊ THƯ HUẾ

Vừa qua, dư luận về giải thưởng văn học 2014 đã đề cập đến THƠ DỞ, THƠ CHẠY GIẢI của NGUYỄN THỤY KHA qua các bài viết “Sóng gió giải thưởng” (báo Tiền Phong), GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC MẶT TRẬN ĐÃI NGỘ NHỮNG ĐẦU GẤU HẠ CÁNH AN TOÀN (Paul Nguyễn Hoàng Đức), THƠ ĐẠT GIẢI THƯỞNG CỦA NGUYỄN THỤY KHA QUÁ DỞ, QUÁ CŨ, QUÁ LỖI THỜI, HÔ KHẨU HIỆU SUÔNG! (Đỗ Hoàng) v.v… và hàng trăm lượt bạn đọc bình luận trên các trang mạng xã hội.  Có bạn bình luận: “Ngắn không thể gọi được trường ca- Mà “Trường ca ngắn của Thụy Kha- Chấp hành bỏ bớt đi chữ ngắn- Để cho thiên hạ đỡ kêu la”. Theo thông báo của BCH Hội nhà văn, đã bỏ đi chữ “ngắn” vì nghe đâu bị GS Văn Như Cương (fb kimcuong) diễu cợt Thụy Kha chưa rành tiếng Việt để đặt đề http://vanvn.net/…/5340-thong-bao-hoi-nghi-ban-chap…- TRƯỜNG CA – KỊCH THƠ của NGUYỄN THỤY KHA Hà Nội 16/1/2015 T/M BCH HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM CHỦ TỊCH Nhà thơ HỮU THỈNH (đã kí) Cái nhan đề thật đã bị Hội đồng GK bớt xén để thiên hạ khỏi chửi mắng, đúng là: Nhan đề trút hết cho người khác- Hồn ông giám khảo xác Thụy Kha. Ngay từ cái tựa đề đã sai, đã ngô ngọng Việt Hán để cho Ban Giám khảo lỡ chấm phải lấy khiên che đỡ bằng cách cắt đi một chữ ngắn! Lại còn “Kịch thơ” nữa, cái này đưa qua Hội Sân khấu chấm, cớ sao Hội Nhà văn nhầm lung tung vậy? Còn tự viết bài đưa lên báo là đang dựng “hợp xướng”. Hợp xướng thì để Hội Âm nhạc chấm, sao lại ghè Hội Nhà văn ra chịu là răng hè? Thực ra, các bản trường ca này quá xoàng, dưới mức dở, nghĩa là viết còn thua báo cáo thành tích của một bần cố nông để xin huy chương sau cải cách ruộng đất! Phải nói thẳng, cái mà Thụy Kha gọi Trường ca ngắn& Kịch thơ về mặt hình thức thể loại không danh chính ngôn thuận, về mặt nội dung nghệ thuật như một cơ thể vô hồn, đần độn, hoàn toàn vắng bóng của cảm xúc, của sáng tạo. Đến nỗi Họa sĩ Đỗ Mạnh Cương, bạn thân NTK còn nói: “Xin lỗi bạn Kha, sao dạo này thơ bạn nhạt vậy? Dù chơi với nhau tôi vẫn phải xin nói thật”. Nhà văn Ngô Minh cẩn thận nói chuyện bàn luận là ý kiến của từng người nhưng cũng thừa nhận: “Năm nào cũng thế, giải thưởng Hội Nhà văn  cũng gây ra những ý kiến trái chiều. Có người bảo đó là bình thường. Nhưng đọc ý kiến của một số tác giả thì thấy việc chấm giải thưởng thiếu cẩn thận, còn bị nhiều áp lực ngoài văn chương như vì bạn bè, ưu ái, không vì văn chương.”

Về Điện Biên, đã có bao bài thơ mang tính chất lịch sử của Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Chế Lan Viên, Trần Mạnh Hảo…rồi, anh không phát hiện gì thêm thì ngồi im, ai ngờ ngứa mồm bụt ra tràng giang đại hải những câu thơ buông tuồng cẩu thả:”Người Pháp đã làm gì ở Việt Nam một thế kỷ thực dân ?-Xây dựng cầu Đu-me ư ?-Mang ca khúc vào Hà Nội ư ?-kiến tạo Hà Nội thành thủ phủ liên bang Đông Dương ư ?-văn minh khai hoá”. Những câu hỏi quá vô bổ, quá lạc lõng, nó là của văn bản hành chính, không có tí thơ nào. Trần Mạnh Hảo lên Lai châu đã sống thực với không gian văn hóa tài hoa và bật lện sảng khoái: “Anh đã gặp những con người như lửa – Giấu khói lửa đi như thời bếp Hoàng CầmĐiện Biên của mọi người dành riêng em điệu múa-Những đời thường nhập lai hoá nhân dân-Lai Châu của lúa thơm sắn ngọt-Của tình em cho thị xã trăng rằm-Của ngọn gió kéo mặt trời qua dốc-Tiếng khèn Mèo làm suối cứ băn khoăn.” Vì Thụy Kha cố tình lội ngược dòng, bôi bẩn các thành tựu văn học bằng cách quăng thơ dở vào đất thiêng, bạn đọc có thể chất vấn: Sao Đảng Nhà nước dùng tiền thuế nhân dân đầu tư dạy Thụy Kha học thông tin, học hàm thụ âm nhạc, học viết văn Nguyễn Du là để cất tiếng nói nghệ thuật chinh phục bạn đọc, ai dè Thụy Kha không thuộc bài, tốn cơm, hư hỏng làm những bài thơ khẩu hiệu, cướp cơm chim của ngành thông tin cổ động, thiếu nhi hoạt náo! Sáu bảy mươi năm sau thời CM tháng 8, thời Điện Biên, Đảng Nhà nước phải xây dựng những nhà thơ có tài năng và tư cách, ai dè Thụy Kha lẻn chui vào nhóm lợi ích của khẩu phần tem phiếu giải thưởng, cố tình đi cửa trước cửa sau, vận động bạn bè đầu gấu vừa thủ thỉ vừa hăm dọa BGK, BCH để giật một cái giải thiếu đàng hoàng, không có lòng tự trọng! Chắc chắn đây là vết ô nhục của đời thơ Thụy Kha và phát súng kết liễu cái nhiệm kỳ Hội Nhà văn đầy tai tiếng! Một Bạn đọc nói:”Đỗ Hoàng nhận định chuẩn không cần chỉnh: “Nguyễn Thụy Kha còn viết cũ, dở, lỗi như một anh lính bị đạn vào sọ não: “Họ nói cười, họ hát vang vang-Những hành khúc ra trận“. Đúng là thơ học sinh lớp một thời chống Mỹ! Nguyễn Thụy Kha giáng cho các anh bộ đội một câu kinh hoàng: “Khát vọng trong trắng tâm hồn trong trắng và máu họ cũng trắng phải không- Họ thảnh thơi không hề biết sợ giữa trùng điệp đoàn quân”. Khổ quá, Kha ơi, ông viết vậy là trù ẻo quân đội trung dũng kiên cường đấy vì cho là bộ đội bị bệnh máu trắng (bạch cầu)! Ai quan tâm nghề y, đều hiểu bệnh máu trắng là ung thư của những tế bào máu. Mỗi năm, gần như 27,000 người lớn và hơn 2,000 trẻ con ở Hoa Kỳ biết bị bệnh bạch cầu. Để hiểu bệnh bạch cầu, thật có ích khi ta biết về những tế bào máu bình thường và cái gì xảy ra với chúng khi bệnh bạch cầu phát triển. Khi bệnh bạch cầu phát triển, cơ thể sản sinh một số lớn những tế bào máu bất thường. Trong đa số các kiểu bệnh ung thư máu, những tế bào dị thường là những bạch cầu. Trời đất! Thụy Kha cho những anh bộ đội trẻ măng ta bị tế bào bệnh bạch cầu, loại ung thư mà thông thường nhìn khác với tế bào máu bình thường và chúng không thực hiện đúng chức năng của chúng!.Đảng Nhà nước dốc lòng nuôi đội quân tinh nhuệ, ông bảo đồ ung thư! Thật không sự phỉ báng nào hơn!

Còn câu tiếp theo, ông viết cẩu thả đến mức không còn sự cẩu thả nào hơn:”Họ thảnh thơi không hề biết sợ giữa trùng điệp đoàn quân”. Trời ơi, đoàn quân nào đây, nghe ông tả theo văn mạch chắc là quân ta chứ không phải địch, can cớ chi những anh lính trẻ “không hề biết sợ” giữa đoàn quân ta! Ông và bạn bè là lính từ trường đại học ra, khi gặp địch không biết sợ mới anh hùng chứ! Hay ông ỷ lại ông có bằng kỹ sư thông tin (cái này NTK tự khai không ai kiểm tra biết thật giả ra răng), không biết sợ đội quân lớn tuổi hơn các ông nhưng ít có điều kiện học hành  hơn các ông. Vậy rõ các ông khinh đồng đội quá đáng nhé, họ là chỉ huy, dạn dày trận mạc hoặc là những chiến sĩ nhiều tuổi quân nên phải cực khổ, mang vác, còn các ông thì “thảnh thơi!” Không hiểu, hành quân giữa đoàn quân trùng điệp mà “không hề biết sợ” kỷ luật quân đội, “thảnh thơi” không mang ba lô súng ống, chỉ hái hoa bắt bướm chơi vì “khát vọng trong trắng” hay sao. Thơ Thụy Kha viết lan man, cẩu thả, vô cảm đến mức người đọc không ai hiểu cái “khát vọng trong trắng” là cái khát vọng gì, giống như tả gái dậy thì giữ mình vì sợ mẹ mìn bắt đưa vào nhà thổ! Các nhà thơ thế hệ cha anh Thụy Kha thời đó tả người lính: “Mấy chàng lính trẻ măng tơ- Nghêu ngao gõ bát hát chờ cơm sôi” (Tố Hữu- Nước non ngàn dặm)hoặc cô thanh niên xung phong: “Có phải thịt da em mềm mại trắng trong- Đã hóa thành những làn mây trắng” (Lâm Thị Mỹ Dạ- Khoảng trời hố bom) sinh động, đẹp đẽ thế, bỗng nửa thế kỷ sau, anh nhà thơ bất tài Nguyễn Thụy Kha xóa sạch, thay thế bằng những hình tượng sáo rỗng, vô cảm, góp phần làm giảm sút niềm tin thế hệ sau vào chính cuộc chiến mà Thụy Kha tham gia nếu họ đọc” trường ca ngắn” Màu Quảng Trị của Thụy Kha!

Nguyễn Thụy Kha sính màu mè đến nỗi ông dụng công đặt các tít đề thơ mình chủ ý các màu”cát trắng””đất đỏ””cây xanh””lúa tím””lửa trắng””ớt xanh”rồi lại “mùa xuân trắng”,”thời máu xanh”! Ôi anh bộ đội đâu phải con tắc kè mà ông tả lộn xộn ” trắng vẫn đỏ” mới đấy lại biến thành “máu xanh”. Đọc đến đây, chúng tôi không nhịn cười được khi có ý nghĩ Thụy Kha mù màu, như kiểu xấu hay làm tốt dốt hay nói chữ, anh mù màu cũng bôi quệt xanh đỏ tím vàng linh tinh lang tang, không một biểu cảm! Khi Vũ Ngàn Chi thời ấy viết:” Đêm Quảng Trị dắt ta vào trận đánh- Thủ pháo rung rinh đầu kíp nụ xòe- Đêm kỳ diệu quen nhuộm màu đen nhánh- Đêm ngàn đời đất thánh vẫn trùm che- Sông Ba Lòng ơi!- Ta muốn áp tai nghe- Đôi bờ phì nhiêu phập phồng ngực thở- Ta cúi hôn từng cụm lá chua me- Chung thủy với cha ta mười năm gian khổ.-” lập tức hồn người hồn đất sâu nặng ngân vang, các chiến sĩ thời ấy chép tay, đọc thuộc, chỉ huy cũng xúc động khen ngợi, bài thơ có tác dụng tại chỗ và còn được nhắc đến lâu dài, thì can cớ chi Thụy Kha nửa thế kỷ sau hồi tưởng lại mà viết hời hợt, nông cạn quá. Đặt “Màu Quảng Trị” lổm ngổm câu chữ vô cảm của Thụy Kha bên cạnh õ”Đêm Quảng Trị” thắm  đượm của Vũ Ngàn Chi, thật giống như Thụy Kha hốt cát dơ rác bẩn vãi lên bàn thờ! Đặt tên tuổi và tác phẩm Trường ca ngắn & Kịch thơ của Nguyễn Thụy Kha bên cạnh Nguyễn Duy, Bằng Việt, Ý Nhi, Nguyễn Mỹ, Hoàng Nhuận Cầm, Lâm Thị Mỹ Dạ, Hữu Thỉnh, Trần Mạnh Hảo, Đỗ Hoàng, Lê Thị Mây, Vũ Quần Phương, Y Phương, Phạm Tiến Duật…của thơ thời chống Mỹ cũng chẳng khác nào đặt em bé bị bệnh đao không trưởng thành nổi bên cạnh các đàn anh đàn chị khỏe khắn lộng lẫy từ thể chất tới tâm hồn!

40 năm sau giải phóng, Thụy Kha lần lượt nổ như những người mẫu chân dài não ngắn đi tìm lạc thú chốn showbiz thời nhiễu loạn lấy lộ hàng, tụt váy làm đình đám :“Cuộc chiến đã đi qua, gần bốn mươi năm, nhưng tôi vẫn muốn nói lại toàn bộ hành trình ấy để khép lại một cuộc chiến tranh với những quẫy động suốt thời gian dài. Để từ đây có thể hoàn toàn yên ổn, bớt day dứt hơn. Để bước sang một thời gian khác, làm những tập thơ khác có tính thời đại, mà chủ yếu là làm thơ tình, thơ tình của thế kỷ mới, và những vấn đề của thế kỷ mới”. Nghe giọng tự lobby chính mình mà vãi cả nón! Tôi đọc Bài “Vẫn là Nguyễn Thụy Kha của “thời máu xanh” trên báo Tin tức mà kinh hoàng, chỉ thấy lời tự xưng tụng của Thụy Kha với những chi tiết cuộc đời không ai kiểm chứng:”Có lần, khi cùng đồng đội đưa đường dây qua đường 9 ở vùng suối La La, bị máy bay trinh sát OV10 đuổi. Ngay sau đó B52 đến rải thảm. Một cuộc chạy đua để giành lấy sự sống, anh đã thoát chết trong gang tấc“. Tôi nhớ anh Hề xóm Hói, bị thần kinh nhưng anh kể các chặng đường gia nhập các trận đánh, vồ trực thăng chết hụt ra sao, bà con chợ Hói nghe mùi mẫn. Nhưng ai cũng biết, đó là các trận đánh bố anh ta tham gia, ông ta đã rót vào tai con những năm tuổi nhỏ, anh Hề còn nhớ mà nhả ra, như vệt sáng trí lực hiếm hoi trong cái cõi u minh tâm thần của anh ta. Chứ anh bị thần kinh, học lớp một bỏ dở chừng, đi lang thang, không hề chết hụt chết hiếc gì cả. Năm nay khoảng bốn chục tuổi, lang thanh xin ăn, lâu lâu no đủ cất lời kể chuyện trận mạc.

Thụy Kha mang đầu óc vĩ cuồng, tự trang điểm bằng những lời lẽ đao to búa lớn: “Tổng kết” bằng thơ cả một thời kỳ lịch sử, cũng là một lần nữa nhìn lại một thời kỳ lịch sử của dân tộc, mà ở đó sự hy sinh của nhiều thế cha anh đã góp phần tạo nên một dân tộc anh hùng và mỗi con người trong dòng sông lịch sử ấy đã hoàn thành sứ mệnh của họ”. Than ôi, đọc Lòng chảo của Thụy Kha, thế hệ sau thêm mất cảm tình với Điện Biên Phủ, đọc kịch thơ “Tình làng” là câu chuyện về thời kỳ Đồng Khởi khiến thế hệ sau giảm tự hào với Đồng Khởi đọc Trường ca “Cực sóng” là câu chuyện về những chuyến tàu không số khiến thế hệ sau tan tành những tưởng tượng đẹp đẽ của hào quang tàu không số, đọc “Biến tấu Souliko” thế hệ sau bớt đi lòng kính trọng vị nữ anh hùng và cuốn nhật ký đã góp phần thắp lửa tình yêu quê hương đất nước Đặng Thùy Trâm. Vì sao vậy? Vì nó chỉ là bản báo công vô hồn, lổm ngổm câu chữ, hình tượng xây dựng cẩu thả, màu mét bôi trét vung vãi một cách tùy tiện như trưởng giả học làm sang! Lấy một ví dụ, khi Đỗ Hoàng viết 40 năm trước về cái chết trong chiến tranh: “Anh đi trên trái đất cô đơn- Gió bấc lạnh thổi tung làn ngực nở.- Các em nằm- Một hành tinh vứt bỏ- Vó ngựa trường chinh lãnh đạm dẫm qua- Anh không thể nào viết nỗi lời thơ-Khóc em để loài người nguyền rủa! Trong vô biên- Mạng em thua hạt cỏ” xúc động quá, còn Thụy Kha tả Đặng Thùy Trâm, người đọc tưởng vẽ một ma nơ canh, thừa những câu chữ dềnh dàng vô hồn và thiếu sự chân thực và xúc động. Lại còn thông tin dây dợ nhập nhằng về Souliko như một cách khoe chữ diêm dúa! Tại sao hàng kho kỳ hương nước thơm bát nhã của nghệ thuật Việt chất đầy, Thụy Kha không biết (chắc sau mù màu Thụy Kha them bệnh mù mùi và bệnh điếc) lại vơ y phục và kèn trống Liên Xô làm vật tùy táng cho một nữ liệt sĩ Việt Nam!

Trường ca ngắn & Kịch thơ Nguyễn Thụy Kha bị nhiều nhà văn, nhà thơ chửi rát mặt vì theo một UV BCH người trong cuộc, nó có 2/15 phiếu vẫn được giải thưởng. Nó có tác dụng lớn là gây cho đồng nghiệp những trận cười khi bình tán loại thơ theo Thụy Kha có đầy đủ tính Đảng, tính nhân dân, tính giai cấp, tính chiến đấu chỉ thiếu mỗi tính văn học. Thực ra nó là thơ mà thiếu mỗi tính thơ! Nó là bản báo cáo sơ sài, cẩu thả của một anh đầu gấu, tính mượn công lao của cha anh và đồng đội hy sinh xương máu để trang trí sự nghiệp văn chương nhưng vì bất tài vô dụng nên bị lĩnh những cái nhìn khinh bạc và tràng cười diễu cợt của giới nhà văn!

Tóm lại: “Dốt hay nói chữ”. Điều này rất đúng với Nguyễn Thụy Kha”.Bạn Lâm Thu Hiền bình :”Khi một giải thưởng danh giá được trao cho một tác phẩm văn học, thơ ca… có giá trị, người nhận nó chắc hẳn sẽ rất vinh dự và hạnh phúc. Trái lại, nếu nó được trao cho một tác phẩm mà khiến nhiều người không tâm phục khẩu phục thì người nhận cũng chẳng vẻ vang, hãnh diện gì. Thậm chí, cái giải thưởng ấy còn làm người nhận bẽ bàng (cố đấm để …ăn xôi) giống như khi bậc phụ huynh cầm tấm giấy khen của con trên tay mà trong bụng vẫn ngậm ngùi biết rằng con mình ‘với chưa tới’, được cái giấy khen hoặc là do mình trong Ban phụ huynh hoặc là do mình chăm sóc cô giáo của con quá “chu đáo”. Xét đến cùng, thì CÁI ĐƯỢC/SỰ ĐƯỢC ấy cũng là chỉ cái “quá khẩu thành tàn”.

Ban đầu, Nguyễn Thụy Kha cũng bước vào làng thơ vớt chút ít tài năng thiên bẩm. Nhưng rồi cuộc sống 40 năm thời bình với những ảo vọng ngông cuồng trỗi dậy trồi ra ngoài kẽ hở của cơ chế, Nguyễn Thụy Kha đã tha hóa thực sự thành “ếch ngồi đáy giếng xem trời bằng vung” cấu kết đổi trắng thay đen, cướp giật đánh quả, dối trá man rợ. Ông ta không thật với lòng mình làm sao viết nổi một câu thơ hay. Trước đây vài năm, Thụy Kha dựng chuyện cùng Khúc Ngọc Chân toan tính ăn cướp ca khúc bất hủ NỖI LÒNG NGƯỜI ĐI của nhạc sĩ Anh Bằng. Ông Phạm Trần ở hải ngoại đã vạch mặt Nguyễn Thụy Thụy Kha:”Với những gì chúng ta đọc được quanh “vụ án Nỗi Lòng Người Đi” của Nhạc sỹ Anh Bằng cho thấy đã có những thay đổi nguy hiểm trong tâm tư của cả giới làm văn nghệ ở Việt Nam trong thời  đại “gian dối đã  ngự trị trên, không những con người mà cả nền tảng văn hoá truyền thống lấy nhân, nghĩa, lễ, trí, tín của dân tộc làm kim chỉ nam cho đời sống hàng ngày.””Một nền văn hoá loạn xạ như thế  phải là mối lo nhức nhối của mọi người, vì như Giáo sư Hòang Tụy đã báo động: “Giả dối hiện nay đang có nguy cơ trở thành nỗi nhục trong khi truyền thống dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc giả dối.”

Thật không ê chề nào hơn. Nguyễn Thụy Kha tự mình bôi bẩn cái thể chế mà ông ta tôn thờ bằng sự bất tài vô tướng của mình,cấu kết đổi trắng thay đen, cướp giật đánh quả, dối trá man rợ của ông ta. Cuộc chạy giải thưởng Hội Nhà văn với  sự liên kết hù dọa BGK để tặng cho tập Trường ca ngắn &Kịch thơ dưới mức dở, loạn hình thức thể loại, không quang minh chính đại, , chỉ tự tố cái tư cách thảm thương là một góc  trong hệ thống “chân dung đạo đức Nguyễn Thụy Kha”. Nếu có thực “các thế lực thù địch phản động ở hải ngoại” – như các cơ quan chức năng Việt Nam thường lên án- họ sẽ không bỏ nhỡ cơ hội gửi đô la về nuôi nấng Nguyễn Thụy Kha ăn no tắm mát sáng tác chuyên đề tài cách mạng kháng chiến! Bởi không gì bôi gio trát trấu, phủ nhận thành tựu cách mạng và thành tựu văn nghệ kháng chiến hiệu quả bằng thơ dở của Thụy Kha! Nó khiến nhân dân trong nước và kiều bào, nhất là các thế hệ đi sau, lỡ đọc phải càng giảm sút lòng tin vào thời đại đã qua, cái thời đại mà hệ thống tuyên truyền cực mạnh dày công trang điểm! Cư dân mạng đã giật tít “Chúc mừng Hội Nhà văn đã làm được công việc to tát là đã ngăn chặn được những tác phẩm hay không cho vào giải thưởng!”. Qua chuyện Trường ca ngắn & Kịch thơ của Nguyễn Thụy Kha chạy lọt giải thưởng cánh hẩu, văn giới Việt Nam như buồn ngủ gặp chiếu manh, cả năm tẻ nhạt bỗng chốc gặt hái được những trận cười!

VTTH

 

Reply   Forward    
 

Click here to Reply or Forward

XIN CHÚC MỪNG HỘI NHÀ VĂN ĐÃ LÀM ĐƯỢC CÔNG VIỆC RẤT TO LÀ ĐÃ LOẠI ĐƯỢC NHỮNG TÁC PHẨM HAY RA NGOÀI GIẢI THƯỞNG

3 Th2

 

Giải thưởng Hội Nhà văn một nhiệm kỳ nay, năm nào cũng vậy, bao nhiêu điều tiếng thị phi. Mà dư luận xã hội càng ngẫm càng có lý, mặt khác dư luận ngay từ chính nội bộ Ban Chấp hành và các hội đồng Thơ, Văn xuôi, Lý luận phê bình mà ra. Trong đó vẫn còn số ít những người có lương tâm nhưng bị các “đại ca đầu gấu” lấn lướt! Cứ tính lại 5 năm giải thưởng một nhiệm kỳ, mỗi năm số tác phẩm có tín hiệu của tài năng, sáng tạo đều bị lần lượt BCH tìm đủ cách êm dịu để loại ra. Mới tinh đây, mùa giải cuối cùng của nhiệm kỳ VIII cũng không nằm ngoài quy luật tráo trở, đổi trắng thay đen, ném đá giấu tay của tập thể lãnh đạo Hội Nhà văn bởi sự lèo lá, giả dối, không minh bạch. Chúng tôi đi tìm thông tin trên các mạng xã hội, thấy bài này trên FB Lê Anh Hoài với nhiều lời bình tán xôm tụ, mà thao tôi, câu bình xuất sắc là của FB Maria De la Tao “Xin các pác đừng ném đá hội nhà văn nhá vì hội nhà văn đã làm được một việc rất to là đã loại được những tác phẩm văn chương hay ra khỏi giải thưởng. Một tràng vỗ tay.”Khi nhiều FB chán nản đòi giải tán Hội thì FB Pham Tam Hieu BÀN: “Xời ơi. Vướn đề là còn ối người cao tuổi muốn được tặng phiếu Bé Ngoan”.Sang FB Paul Nguyễn Hoàng Đức, có status GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC MẶT TRẬN
ĐÃI NGỘ NHỮNG ĐẦU GẤU HẠ CÁNH AN TOÀN là một bài viết mạnh mẽ như sóng thần.Hàng trăm FB đã vào bình luận trong đó FB Lâm Thu Hiền nói: “Khi một giải thưởng danh giá được trao cho một tác phẩm văn học, thơ ca… có giá trị, người nhận nó chắc hẳn sẽ rất vinh dự và hạnh phúc. Trái lại, nếu nó được trao cho một tác phẩm mà khiến nhiều người không tâm phục khẩu phục thì người nhận cũng chẳng vẻ vang, hãnh diện gì. Thậm trí, cái giải thưởng ấy còn làm người nhận bẽ bàng (cố đấm để …ăn xôi) giống như khi bậc phụ huynh cầm tấm giấy khen của con trên tay mà trong bụng vẫn ngậm ngùi biết rằng con mình ‘với chưa tới’, được cái giấy khen hoặc là do mình trong Ban phụ huynh hoặc là do mình chăm sóc cô giáo của con quá “chu đáo”. Xét đến cùng, thì CÁI ĐƯỢC/SỰ ĐƯỢC ấy cũng là chỉ cái “quá khẩu thành tàn”.Bên cạnh FB Sao Mai cũng có ý kiến rất hay :”Sao Mai Nguyễn Thụy Kha …thơ gì mà thô lậu và ngớ ngẩn đến tức cười tội nghiệp . Cho ông ta nhận giải khác nào làm nhục ng ta .”FB Lâm Thu Hiền rất trình độ, hệ thống lại các vấn đề :”Văn thơ là thứ cao quý và tao nhã mà những kẻ cầm cân nảy mực về văn hóa cư xử (tôi chưa tìm ra từ thích đáng) như trong bài viết này và nhiều bài nữa (*) mà tôi đã đọc thì thật là xấu hổ…. ………………………………………………………………………………………………………………(*):
– Tại sao thơ dở, văn nhạt lên ngôi? (Nguyễn Hoàng Đức) – nguồn: Vandanviet.net 25/8/2013
– Sáng tác thơ, làm thơ, sinh hoạt thơ (Nguyễn Hoàng Đức) – nguồn: Bà đầm xoè 17/4/2014
– Thơ dở, văn dở… đang đắt giá (Trần Mạnh Hảo) – nguồn: Nguyễn Tường Thuỵ’s blog 01/8/2013
– “Những lớp sóng ngôn từ” hay những lớp sóng giải thưởng đánh chìm thơ? (Trần Mạnh Hảo) – nguồn: trannhuong.com 04/01/2014
– Trao giải thưởng văn học cho tác phẩm dở là một tội ác (Trần Mạnh Hảo) – nguồn: Bùi Văn Bồng’s blog 14/01/2014
– Từ “hiện tượng” thơ Hoàng Quang Thuận (Nguyễn Hoài Nhơn) – nguồn: trang Trung tâm phát triển Văn hoá-Nghệ thuật 06/10/2012
– Dương Kỳ Anh phù thuỷ bốc thơm thơ Hoàng Quang Thuận- ô danh muôn đời (Đỗ Hoàng) theo vannghecuocsong.com. – nguồn: Bà đầm xoè 19/9/2013
– Nhà văn Y Ban từ chối giải thưởng Hội nhà văn 2012 (Yến Anh) – nguồn: Người lao động Online 19/01/2013
& một số bài nữa mà tôi đọc rải rác trên báo giấy nhưng tôi không nhớ tiêu đề bài báo và tên người viết.”

Những bài viết mở màn trên đã nhận sự chia sẻ tích cực của các websites, blog văn chương trong và ngoài nước. Sự việc chắc chắn không dừng lại o9wr đây mà sẽ còn những đàm tiếu bi hài bất tận về cái sự, nói như ngôn ngữ nhà thơ Trần Mạnh Hảo trong một bài phê bình trước đây là bệnh mù thơ của Hội Nhà văn đã hết thuốc chữa, Hội Nhà văn hè nhau tiễn thi ca lên đoạn đầu đài!

GIẢI THƯỞNG VĂN HỌC MẶT TRẬN
ĐÃI NGỘ NHỮNG ĐẦU GẤU HẠ CÁNH AN TOÀN

Paul Nguyễn Hoàng Đức

Mỗi năm nhìn giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam lại liên tưởng tới hợp tác xã gia công. Thử nhìn, nước ta mỗi đầu sách in ra với 90 triệu dân số chỉ có quanh co khoảng 1000, nếu luộc hết cỡ khoảng dăm nghìn, trong khi đó mỗi đầu sách ở nước Nhật dân số cũng chỉ hơn ta gấp ba lần nhưng ra cả triệu bản, nghĩa là mỗi đầu sách được đón đọc gấp khoảng một nghìn lần nước ta.

Sức đọc phản ánh nền văn học, sức đọc văn học của ta chỉ ngang cấp xã ở Nhật, cho rộng dài đi thì dưới cấp huyện. Cường quốc là khái niệm nước lớn, nhưng người ta vẫn bảo: Nước Mỹ là cường quốc nhưng là tiểu quốc về bóng đá. Có người đã tự nhận nước ta là cường quốc về thơ, vậy thì nước ta còn là cường quốc về nông nghiệp, cường quốc về vứt rác bừa bãi, cường quốc về thiểu năng trí tuệ khi làm dường xong mới đào lên đặt cống.

Và nền văn học dưới cấp huyện trên cấp xã của chúng ta chỉ là một nền văn học nông dân, học, rồi đi bộ đội hay công nhân để được thoát ly, không phải đội mưa gió ngoài đồng, “ăn cơn chúa múa tối ngày”. Văn nghệ mới đầu mục đích chỉ là phong trào để kích thích động viên sản xuất và chiến đấu. Rồi tiếp diễn các anh chị công –nông – binh cứ à uôm viết tiến lên. Anh nào quá giỏi hay xuất sắc cũng thường chỉ được một bài. Rồi lại lao vào “học nhi ưu tắc sĩ” (học giỏi làm quan). Giải thưởng năm nay chủ yếu giải quyết chính sách hưu hạ cánh an toàn cho các bác cả đời đã thành bã văn thơ, không có khả năng đội trần hay đạp trần, mà chỉ có khả năng luồn cúi ngang lưng lãnh đạo. Hãy xem những giải:

“Theo thông tin từ Hội Nhà văn Việt Nam, các giải thưởng của Hội năm 2014 thuộc về: Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75 (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia), tiểu thuyết tư liệu của Trần Mai Hạnh; Trường ca ngắn, kịch thơ (Nhà xuất bản Hội Nhà văn) của Nguyễn Thuỵ Kha; Trăm năm trong cõi… (Nhà xuất bản Văn học), lý luận phê bình của Phong Lê và Thơ Việt Nam hiện đại, tiến trình và hình tượng (Nhà xuất bản Văn học), lý luận phê bình của Nguyễn Đăng Điệp…”

Giải thơ năm ngoái thì trao cho đại ca Thanh Thảo với tập ấm ớ từ cái tên “Trường ca chân đất” văng cả cứt đái vào thơ, rồi Năm Trì gãi háng, rồi Phạm Đương, khi bị tố là đạo nguyên si cả tên đầu đề, Hội nhà văn cứ giả điếc trao bừa, coi như ta cứ trao bừa cho giải ăn cắp là ta không ăn cắp. Còn năm nay trao cho Thụy Kha cũng là một đầu gấu. Mọi người cứ nghiệm đi sang năm dù các đại ca này có ra những tập thơ hay hơn, cũng không đến lượt vì còn giành cho người khác xếp hàng.

Còn hãy nghe tài năng thơ xuất sắc của Nguyễn Thụy Kha một đại ca được mệnh danh là “con quạ của những xác chết” qua nhưng vần thơ được chắt lọc nhất:

“Tôi con dân chính gốc Hải Phòng/ Cả ấu thơ chưa hề đến biển. Năm ấy tôi mười ba tuổi/ Lần đầu tiên nghỉ hè cắm trại Đồ Sơn/ Lần đầu tiên chân chạm sóng đại dương/ (…) Năm ấy chúng tôi đâu biết có một chuyện bất ngờ đã từ đây sẽ xảy ra/ Chúng tôi thì lạc đường nhưng những người lính hải quân lại đang tìm đường mới/ Và cái vịnh khuất nẻo này sẽ là nơi xuất phát/ Của một đoàn tàu dũng cảm ra đi/ (… )/ Năm nay tôi sáu ba tuổi/ Lại trở về thung lũng xanh gặp tuổi mười ba/ Tần ngần nhớ ngày xưa bên mốc số không/ bên tượng đài thủy quân tàu không số/ Bất chợt thấy dâng lên quanh mình bao cực sóng/Thấy hồn mình cũng hóa thành cực sóng/ Để mãi mãi dạt dào sóng vọng Biển Đông/ Để Tổ quốc Việt Nam muon đời đứng vững/ Cong một đường thái cực thiêng liêng.”

Thơ văn là phải vướt qua thông tin cấp một mới là thơ văn, đằng này 99% những câu thơ trên là thông tin cấp một. Giờ tôi xin làm một khúc thơ vu vơ nhưng hay hơn:

Tôi là con gà gốc Đông Cảo, cả đời tôi chưa thấy hồ, ngày đó tôi 13 tháng tuổi, lần đầu tiên bị đem ra chợ Lồng, tôi đâu biết chuyện bất ngờ gì sẽ xảy ra, tôi được rao bán đúng lúc người ta tuyển quân băng dãy Trường Sơn… Một cụ bà vừa khóc vừa mua tôi, cụ đem về cúng cầu may cho con cụ qua khỏi cảnh chiến trường, cụ già lẩm cẩm chập chạp, tôi đạp tung lồng thoát khỏi… Ngày con cụ về đòi bắt tôi giết thịt ăn mừng/ nhưng cụ khóc lóc văn xin và bảo vía của tôi là gà thoát chết thì con mới thoát, mẹ nuôi nó thành gà già để kỷ niệm ngày con thoát trở về/ Sướng quá tôi đứng trên đỉnh lồng như đứng trên đầu trái đất gáy vang một khúc bất tử thiêng liêng!…

Thôi những thơ mậu dịch này, chỉ là chứng minh cho cơ chế cơ quan ăn tem phiếu nhạt hoét. Những cán bộ trong hệ mậu dịch hý hửng thấy mình lúc nào cũng là quả pháo hoa đứng xếp hàng trên đầu nòng súng. Họ đâu có biết viên đạn muốn bay cao thì phải được bắn đi từ đáy cò. Và thơ họ rút cục mãi mãi chỉ là pháo hoa rụng như bọt xà phòng ngay đầu cuống rơm.

Paul Đức 25/01/2014

Mời quý vị đọc status này vốn là bài trên Báo Tiền phong:

HỠI ƠI, GIẢI THƯỞNG HỘI NHÀ DZĂN

Gần như hằng năm, cứ vào dịp này thì y như rằng sóng gió dư luận về Hội Nhà văn Việt Nam (NVVN) lại nổi lên.
Chuyện xét kết nạp hội viên mới thì đã lình xình rồi với những dư luận “không làm đơn cũng được kết nạp” (thực ra chuyện này là thị phi), rồi lại chuyện vài kẻ không được xét lên mạng tuyên bố tôi thân lắm với Chủ tịch, Phó chủ tịch, họ mời tôi vào, nhưng nay thế này tôi không thèm vào nữa…? Không hiểu có phải vì thế, mà báo Văn Nghệ, rồi website Hội NVVN mãi mới đăng danh sách các tân hội viên, trong khi các báo lại đăng trước đến cả tháng?

Chuyện thứ hai là kết quả giải thưởng văn chương.

Đầu tiên là một chuyện lặp đi lặp lại nhiều lần rồi. Từ việc tập “Trường ca ngắn – kịch thơ” (NXB Hội Nhà văn) của Nguyễn Thụy Kha đoạt giải thưởng ở thể loại thơ. Vấn đề là khi tập thơ này qua Hội đồng Thơ, nó chỉ được 2 phiếu trên 9 thành viên Hội đồng!

Nhân đó, một số vị lại rêu rao lên ở chốn nọ chốn kia rằng, Ban Chấp hành Hội không coi Hội đồng chuyên môn là gì. Có vị lại mạnh mồm tuyên bố có khi cần phải rút lui khỏi hội đồng (kiểu như nhà văn Y Ban đã từng rút lui khỏi Hội đồng văn xuôi năm 2013, nhưng với lý do khác).

Đàm tiếu cũng không tha giải thưởng ở thể loại văn xuôi – tác phẩm “Biên bản chiến tranh 1-2-3-4.75”?(NXB Chính trị Quốc gia) của tác giả Trần Mai Hạnh. Đây là một cuốn sách tập hợp lại những tư liệu, hồi ức của nhà báo Trần Mai Hạnh. Và chính Trần Mai Hạnh cho biết, cuốn sách được viết dưới hình thức biên bản. Vấn đề là ở đó. Nhiều người tỏ ra không phục với câu hỏi: Đây là giải thưởng văn chương cơ mà, đâu phải là giải báo chí? Trần Mai Hạnh đã vượt qua cả những ứng viên nặng ký năm nay – Hồ Anh Thái và Nguyễn Bình Phương. Một tờ báo giật tít có vẻ thảng thốt: Nhà báo đoạt giải thưởng văn chương. Chính Hội Nhà văn cũng có vẻ bối rối khi không thể nói rõ được cuốn sách này thuộc thể loại nào trong văn xuôi.

Ở thể loại lý luận phê bình văn học, tập “Trăm năm trong cõi”?(NXB Văn học) của tác giả Phong Lê và tập “Thơ Việt Nam hiện đại – tiến trình và hiện tượng”?(NXB Văn học) của tác giả Nguyễn Ðăng Ðiệp đoạt giải thưởng. Tập của Phong Lê cũng bị nhiều ý kiến phàn nàn. Rằng đây là một tuyển những bài tham luận nhân những dịp kỷ niệm và bài báo của ông, thì có đáng? Cuốn sách này đề cập đến những tác giả đã thành danh từ rất lâu (mà Phong Lê gọi là “Thế hệ Vàng”), những Tản Đà, Ngô Tất Tố, Hoàng Ngọc Phách… Tố Hữu, Chế Lan Viên, Tô Hoài… Vàng thì đã hẳn, nhưng còn tính phát hiện, chưa nói tính dự báo?

Cũng biết chuyện văn chương nghệ thuật là khó định giá. Cũng biết cạnh đỉnh vinh quang bao giờ cũng đầy rẫy thị phi. Nhưng xem ra, nhiều ý kiến của giới chuyên môn là có cơ sở. Trước hiện tượng này, liệu Hội đồng xét giải của Hội NVVN có động tâm?

Nguồn:
http://www.tienphong.vn/van…/song-gio-giai-thuong-814914.tpo

Bài do:

nam bộ hai's profile photo
hainambo40@gmail.com     gởi đến Vô Ngã

Thế giới thi ca tư tưởng Bùi Giáng – VHNA

17 Th1

 

 

 

Thế giới thi ca tư tưởng Bùi Giáng

 

Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia, văn nghệ sĩ cự phách thượng đẳng. Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.

Tạp chí Tư Tưởng do viện trưởng Thích Minh Châu làm chủ nhiệm là cơ quan luận thuyết là tiếng nói của viện Đại học Vạn Hạnh, thường xuyên đăng tải bài viết của các bậc cao thủ này. Những tác phẩm thi ca, tư tưởng, triết lý, đạo lý của họ vô cùng thâm thúy, có giá trị mãi cho đến ngày hôm nay.

Lúc bấy giờ có nhà xuất bản An Tiêm do Thanh Tuệ làm giám đốc, vì một cơ duyên hy hữu nào đó đã dốc toàn tâm toàn lực ra để lo cho công việc in ấn riêng biệt những tác phẩm thơ văn, biên khảo, dịch thuật của Bùi Giáng. Sức sáng tạo của thi sĩ vào thời gian này, từ năm 1960 đến năm 1975 rất mãnh liệt, như ngọn lửa thiêng sáng bừng rực rỡ khắp trời đất u huyền, khiến cho nhà xuất bản An Tiêm in ấn không kịp :

Tưng bừng xuất bản An Tiêm

Ấn hành cổ lục chung niềm cảo thơm

Mưa nguồn tuôn ngát xanh rờn

Ngàn thu rớt hột cô đơn cuối bờ

Đó là một điều không ai hiểu nổi vì suốt ngày thâu đêm, người ta chỉ thấy một Bùi Giáng lang thang rong chơi, nhảy múa ngoài đường. Thường ngâm thơ uống rượu lu bù với mọi giới bình dân đây đó, bạ đâu ngủ đấy ngay ngoài vỉa hè xó chợ, góc quán hiên chùa, rong rêu lêu lổng khắp đầu phường cuối phố, ngao du trào lộng giữa ta bà, quá độ nồng say như Tản Đà, Lý Bạch nhưng vẫn thung dung :

Uống xong ly rượu cuối cùng

Bỗng nhiên chợt nhớ  đã từng đầu tiên

Uống như uống nước ngọc tuyền

Từ đầu tiên mộng tới phiền muộn sau

Uống  xong ly rượu cùng nhau

Hẹn rằng mai sẽ quên nhau muôn đời

Em còn ở lại vui chơi

Suốt năm suốt tháng suốt nơi lan tràn

Riêng anh về suốt suối vàng

Trùng phùng Lý Bạch nghênh ngang Tản Đà

Thi sĩ sống không nhà cửa, không vợ con, không tài sản, không sự nghiệp, không danh lợi, không là gì cả ngoài một bầu rượu túi thơ và một bộ quần áo xốc xếch cũ mèm, rách nát tả tơi, trông giống như một Tế Điên, một Hàn San, Thập Đắc, một gã ăn mày quái dị lạ lùng. Thế mà sức sáng tạo, sáng tác quá đỗi rạt rào như thác đổ trào tuôn, thật là vô tiền khoáng hậu. Nhà thơ viết như thần nhập, như nhảy tung vào cõi mật ngôn ẩn ngữ, làm khơi mở mối giềng xiết bao rực cháy, gây nên một nguồn cảm hứng tưng bừng, dậy sóng phiêu bồng cho biết bao kẻ đồng điệu, đồng cảm vút hồn bay chuếnh choáng, ngất ngây trong cơn say sưa túy lúy.

Thi sĩ Bùi Giáng sinh năm 1926 tại Quảng Nam, quả nhiên là một hiện tượng kỳ lạ mà cho đến ngày nay, chưa một ai có thể hiểu thấu đáo về thế giới tâm hồn hoằng đại, cõi tư tưởng hoằng viễn thâm hậu và cõi thi ca  bát ngát vô song  đó. Có người hỏi tiểu sử thì Bùi Giáng cười đáp : “Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây gay cấn ly kỳ và sẽ chết đi giữa cỏ cây ly kỳ gay cấn… Thuở nhỏ bỏ học về nhà quê, làm thơ tặng chuồn chuồn và châu chấu.”  Hỏi về sự sáng tác phi thường thì lai  rai nói : “Con chim thì ta biết nó bay, con cá thì ta biết nó lội, thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ nhưng thơ là gì, thì đó là điều ta không biết.”

Tuyệt mù những ngày quá mộng thời còn thanh xuân lang thang ở Huế, Quế Sơn, Hội An, Vĩnh Điện, Đà Nẵng… Đến năm 1952, lúc mới 24 tuổi, thi sĩ lên đường phiêu lưu vào Sài Gòn, bắt đầu cuộc lữ phiêu bồng khốc liệt. Từ đó cho đến nay, suốt mấy chục năm trời viễn du biền biệt, chưa một lần quy hồi cố quận nhưng lòng thì vẫn nhung nhớ triền miên :

Điện Bàn Đại Lộc Duy Xuyên

Xiết bao tình nghĩa thần tiên mộng đầu

Vĩnh Trinh Lệ Trạch Thanh Châu

Thi Lai Hà Mật nhìn đâu dáng người

Người đầu tiên đã mỉm cười

Nhìn tôi tưởng thấy niềm vui vô cùng

Tôi ngồi tưởng nhớ mông lung

Tưởng từ chín suối tới bao dung Bầu Trời

Thi sĩ khơi vơi ngồi nhớ quê như thế. Quê hương cố xứ bên dòng sông Thu Bồn ở Duy Xuyên Quảng Nam. Về sở học của nhà thơ, quả thật là thông đạt quảng bác vô cùng, làu thông nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Đức, Hán. Không biết thi nhân tự học từ lúc nào mà trở thành một bậc thượng trí, hầu như vô sư tự ngộ, chỉ do đọc sách  mà phát minh tâm địa như trường hợp thiền sư Huyền Giác đọc kinh Duy Ma Cật mà hoát nhiên triệt ngộ chân lý diệu thường. Từ đó, trọn suốt cuộc đời thi sĩ cứ phiêu nhiên trên con đường thênh thang sáng tạo, bước đi thi ca tỏa rợp trời thơ đất mộng bồng bềnh, bát ngát phiêu diêu.

Nhiều người cho rằng Bùi Giáng là một gã cuồng sĩ điên rồ hay một đại thi hào, một Bồ tát nghệ sĩ gì gì đó cũng được, chỉ là những danh từ, khái niệm mà thôi. Điều cần thiết phải làm là chúng ta hãy đi vào bên trong tâm hồn phong phú, thể hiện qua tác phẩm, may ra có khám phá được điều gì mới mẻ trong cõi tư tưởng của nhà thơ tài hoa này hay không ?

Tư tưởng trong thơ Bùi Giáng là gì ? Nhưng tư tưởng là chi ? Theo Tuệ Sỹ thì : “Tư tưởng là Con Đường, là Đạo, là Tiếng Gọi mời ta lên đường. Chính bằng và trên Con Đường ấy, chúng ta mới có thể bắt gặp được bóng dáng của con người.”*

Vâng, tư tưởng là con đường mời gọi chúng ta hành động và do vậy, do bởi hành vi tư tưởng cho nên hành động mới mang một ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ mới lạ. Tư tưởng thi ca Bùi Giáng khởi phát rạt rào từ suối nguồn sâu thẳm tâm linh, từ cõi ban sơ tịch mịch khôn dò. Đó là cõi bờ âm thanh vi diệu ngữ của trời trăng mây nước, chim bướm cỏ hoa và ánh sáng rạng rỡ huyền hòa, là bước đi đã đạt tới cảnh giới thượng thừa thi sĩ, chỉ có thể cảm nhận chứ không thể suy nghĩ luận bàn.

Đi vào cõi thơ Bùi Giáng, chúng ta cần phải buông xuống cái biên kiến, chấp thủ và chỉ khi nào cái bản ngã hạn hẹp của mình được chuyển hóa thì lúc ấy chúng ta mới lãnh hội, tương ứng với ngôn ngữ chân thực nghĩa tân kỳ của thi ca, của một cái gì vốn dĩ vô ngôn mà phải nói đột xuất bất ngờ :

Ấy là nhạc ? Ấy là thơ ?

Ấy là rượu đế một giờ bỗng dưng ?

Ấy điên đảo ? Ấy điệp trùng ?

Ấy từ vô tận lừng khừng mà ra

Thưa em ngôn ngữ thật là

Cái gì như thể ngọc ngà thiên hương

Thưởng thức thơ Bùi Giáng, nên thưởng thức như Phạm Công Thiện nói : Đọc thơ cũng giống như đọc kinh. Phải thọ, trì, đọc, tụng. Đọc không phải để hiểu mà để biết. Biết cái thâm mật của một giây phút thoáng qua nhanh chóng hơn ánh sáng và biết cái thâm mật của tam thiên đại thiên thế giới, của vô số hằng hà tỉ tỉ thiên hà trong lòng ta và ngoài kia không gian phiêu dật, mà lòng ta là tất cà không gian phiêu dật.

Tại sao Nguyễn Du thường sử dụng chữ biết trong thơ và ít khi dùng chữ hiểu ? Đây là một sự việc quảng mật cần nên biết trong tương lai của văn hóa Việt Nam. Thơ là cái gì mà chỉ nên biết chứ không thể hiểu, may ra thì chúng ta có thể biết được cái thâm mật, cái quảng mật và cái thâm quảng mật, có thể biết được sơ sơ qua loa, chứ không thể nào hiểu được. Đó là diệu nghĩa vô lượng của tam mật, tam muội trong thơ văn của những thiên tài vĩ đại trên thế giới.”**

Bùi Giáng đương nhiên là một thi sĩ thiên tài, siêu quần bạt tụy rồi. Tư tưởng nhà thơ bao trùm khắp thiên hạ và thấu đạt hết ý nghĩa sâu xa thâm trầm của đạo học Đông phương cũng như triết lý Tây phương. Hầu hết các bậc đạo sư, thiền sư, văn nghệ sĩ phương Đông như Đức Phật, Duy Ma Cật, Long Thọ, Mã Minh, Thế Thân,  Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Năng, Huyền Giác, Lâm Tế, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Lý Bạch, Tô Đông Pha, Tô Mạn Thù, Đỗ Phủ, Nguyễn Du, Tản Đà  đến các triết gia, văn hào, thi sĩ vĩ đại của phương Tây như Martin Heidegger, Nietzsche, Holderlin, Wart Whitman, Shakespeare, Gerard Nerval, Kierkegaard, Malraux, Karl Jaspers, Albert Camus, Saint Exepery, Andre Gide, Apollinaire, Emily Dickinson, Paul Eluard, Dylan Thomas, Saint John Perse, Rimbaud, Rainer Maria Rilke… đều được thi nhân nói đến một cách rốt ráo cặn kẽ, tận sâu vào mạch ngầm tư tưởng uyên nguyên, uyên áo vô cùng.

Chúng ta hãy nghe Bùi Giáng phát biểu về thi ca : “Thơ là cái gì không thể bàn tới, không thể dịch, diễn được. Người ta có thể diễn tả một trận mưa bằng lời thơ, thì có lẽ muốn diễn tả một bài thơ, người ta chỉ có thể phát động một trận mưa rào hoặc một cơn gió thu, mà muốn thực hiện điều đó, thì ngoài việc làm thơ ra, con người không còn phép gì khác. Thế có nghĩa là muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể phải làm một bài thơ khác.

Người xưa am hiểu sự đó, nên họ chỉ vịnh thơ, chớ không bao giờ điên rồ gì mà luận bàn về thơ. Người đời nay trái lại, họ buộc phải luận thơ có mạch lạc, luận lý, không được bốc đồng vịnh lăng nhăng. Cái chỗ ngu si đó là điều bất khả tư nghì vậy.”Cho nên, ở đây người viết không dám luận bàn về thơ Bùi Giáng mà giản dị chỉ là cảm nhận một phần nào hương vị suối nguồn thi ca lai láng dạt dào, quá sức dữ dội của thi nhân mà thôi.

Vào miền cõi thơ Bùi Giáng là tha hồ tự do lang thang tang bồng, rong rêu phiêu lãng ngàn phương mọi chốn, trên rừng dưới biển đầy kỳ hoa dị thảo, dạo chơi giữa ngã ba, ngã bốn những con đường sương mù, mây trắng rồi bất ngờ mở ra một phương trời xanh biếc Nguyên Xuân, đồng thanh tương ứng, tương giao theo điệu chào sơ ngộ xưa sau :

Hỏi rằng : Người ở quê đâu

Thưa rằng : Tôi ở rất lâu quê nhà

Hỏi rằng : Từ bước chân ra

Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài

Thưa rằng : Nói nữa là sai

Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào

Hỏi rằng : Đất trích chiêm bao

Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau

Thưa rằng : Ly biệt mai sau

Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân

Nguyên Xuân là mùa xuân rực rỡ sơ nguyên trong lòng người, là Diệu Tâm trầm ẩn nhiệm mầu của chúng ta. Từ cõi quê lòng thanh tịnh đó, thi sĩ bước ra hòa điệu cùng cát bụi phù hoa phố thị, ngao du ngày tháng ta bà qua biết bao heo hút dặm dài, giáp mặt với sơn cùng thủy tận của mộng đời hư huyễn phù du. Nhà thơ chứng kiến cõi người ta cứ lo tranh đấu, tranh cãi đúng sai, phải trái, hơn thua giành giật nhau mãi, ai ai cũng phát huy cái bản ngã to bự của mình bằng cách chạy theo danh lợi, địa vị, dấy khởi hoài tham lam, sân hận, si mê…  để vô tình quên đi mất cái bản tâm thực tánh, cái mặt mũi xưa nay, cái cõi miền Tâm Xuân thuần nhiên huyền diệu giữa lòng mình, cho nên thi nhân chạnh lòng trắc ẩn, thương xót cho những cảnh đời quá nhiều thống khổ điêu linh, bởi con người cứ mãi đắm chìm trong vọng tưởng, vô minh, hiểu lầm ngộ nhận :

Trần gian thơ mộng xiết bao

Mà buồn vô tận ai nào biết ai

Chưa yêu dấu đã lạc loài

Chát chua ngộ nhận tự ngoài vào trong

 

Tháng giêng đau khổ mặt trời

Đông sầu lạnh giá đêm dài nửa năm

Về Bắc ngất tạnh mù tăm

Về Nam chỉ thấy thẳm thăm mịt mù

 

Đau thương từ bấy đến giờ

Ai người đã tỉnh đã mơ một lần

Ấy đau thương ấy tử phần

Không cho phép cánh đại bàng viễn du

Kể từ vô tận mùa thu

Vô biên khốn khổ tội tù một thân

Kể xa xôi kể gũi gần

Không từ đâu có dặm phần chia ly

Ôi từ vô thủy ra đi

Đến vô biên xứ từ quy xa vời

Trần gian đáng lẽ tuyệt vời

Về sau chẳng rõ muôn đời đảo điên

Niềm đau nỗi khổ ưu phiền

Nối đuôi tiếp tới triền miên từng giờ

Khi biết rõ từng giờ từng phút buồn thảm, u sầu cứ triền miên vây khổn chốn phù sinh đầy trầm mê, phiền não, khổ lụy như thế, thi sĩ phát đại bi tâm, nguyện yêu thương hết cả trần gian, yêu muôn loài vạn vật, cả thập loại chúng sinh giữa ba đời sáu cõi luân hồi, qua lại đến đi :

Tôi tự nguyện sẽ một lòng chung thủy

Qua những lần buồn tủi giữa đảo điên

Thân xương máu đã đành là ủy mị

Thì xin em cùng lên thác xuống ghềnh

 

Em đứng mũi anh chịu sào có vững

Bàn tay bưng đĩa muối có chấm gừng

Tôi đã nguyện yêu trần gian nguyên vẹn

Hết tâm hồn và hết cả da xương

 

Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi

Trần gian ôi cánh bướm cánh chuồn chuồn

Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại

Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn

 

Còn ở lại một ngày còn yêu mãi

Còn một đêm còn thở dưới trăng sao

Thì cánh mộng còn tung lên không ngại

Níu trời xanh tay vói kiễng chân cao

‘‘Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn’’huống chi là con người phải không ? Tình yêu tình thương ấy tràn ngập khắp các tác phẩm thơ văn Bùi Giáng, dòng dòng long lanh lấp lánh như  mưa nguồn tuôn đổ, như thác lũ trường giang chảy hoài miên man ngàn trùng đại hải :

Anh đã định chẳng bao giờ sẽ nói

Rằng tình yêu là chóp đỉnh phượng thờ

Vì anh biết gào kêu thân thiết gọi

Khó lọt vào tim máu của em thơ

 

Anh đã định sẽ yêu đời suốt kiếp

Suốt thiên thu từ vạn thuở phiêu bồng

Rồi anh chợt thấy mình luôn liên tiếp

Nửa điên cuồng nửa rồ dại lông bông

 

Và từng phút từng giây chồng chất ngất

Một trăm năm đứt ruột nát gan vàng

Một vĩnh viễn đoạn trường chìm ngây ngất

Dưới trầm luân từ thực thể muôn vàn

Từ thực thể muôn vàn trầm luân kiếp nhân sinh đó, cũng như  Nguyễn Du, nhà thơ tự nguyện gánh vác lên vai vô số khổ lụy đoạn trường của Thúy Kiều hay như sư cô Tam Hợp âm thầm nhiếp dẫn từ bi cứu nhân độ thế. Chính vì dâu bể vô thường trong cõi đời máu lệ điêu linh mà Diệu Pháp Liên Hoa Kinh đi về thể hiện tinh thần ‘‘khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến’’ chỉ ra Phật nhãn, cái thấy biết tuyệt vời tối thượng :

Từ bi ? Vô tận đoạn trường

Đạo cô Tam Hợp ? Hoa Hương Bốn Mùa

Trăm năm dâu bể thiệt thua

Cũng là Diệu Pháp thượng thừa Liên Hoa

Từ cõi Diệu Pháp vô vi bất khả tư nghì ấy bước ra, nên hành động của thi sĩ không giống như cõi hệ lụy ta bà đầy đa đoan chấp ngã của chúng ta, thành thử nhà thơ tự nhận mình là thằng điên, thằng khùng, ngây ngô khờ dại cho khỏe nhẹ để khỏi còn ai thắc mắc phân vân :

Thần Tiên Thánh Phật uy quyền

Giúp đời vô tận thằng điên quý gì ?

Điên từ muôn một liên miên

Mà ra vạn thuở nối liền Liên Hoa

Ấy từ Diệu Pháp mà ra

Đất đồng mộc mạc nở hoa lẫy lừng

Đó là thể điệu cuồng điên uyên mặc thượng thừa của thần tiên du hý, dậy lừng cung bậc Lăng Nghiêm trầm hùng cùng tuyệt :

Tam bành tứ trướng cuồng điên

Thần thông du hý thiên tiên dự phần

Lăng Nghiêm tam muội dậy lừng

Vượt non băng núi qua trùng điệp truông

 

Ấy từ bất khả nghị bàn

Từ vô tận xứ mà Nghiêm Hoa rằng

Hoặc từ vô tận hằng hằng 

Từ đâu tới một Nghiêm Lăng khôn lường ?

Lăng Nghiêm Kinh khai thị cái tâm chơn, tâm vọng của con người vốn bất nhị viên dung. Một khi thấu thị kỳ cùng điều đó, thi sĩ bất thần nhập diệu vào cảnh giới huy hoàng hoan hỷ địa, hồn phách bay bổng một niềm vui sướng lâng lâng :

Thượng thừa thể lệ trăm năm

Thần tiên du hý đánh chìm tài hoa

Cái tài hoa trác việt, độc đáo của mình, đáng lẽ nên tự hào, hãnh diện nhưng thi sĩ tự mình làm cho chìm khuất, tiềm ẩn đi, chứ không huênh hoang phách lối, khoe khoang, kiêu ngạo phô bày ra như kẻ phàm phu tục tử thường tình. Đó là nhân cách cao thượng của bậc đại trượng phu, của những tâm hồn thượng đẳng hoằng đại. Tự mình vượt lên trên vòng đối đãi thị phi phải trái, thoát ra ngoài mọi sinh hoạt quy ước của xã hội, để sống tự do tự tại theo ý mình, thay vì làm một bậc thượng sĩ cao nhân xuất chúng thì ngược lại, thi nhân thực hiện một bước nhảy trọng đại, ngoạn mục phi thường lả tự nguyện làm người điên khùng, khờ dại lãng trí, tự mình trách móc, mắng nhiếc mình theo cách điệu thể thái tùy nghi :

Bỏ đi dẹp mặt mày đi

Làm thằng thi sĩ như mi dơ tuồng

Mi say rượu mi điên cuồng

Mi không ý thức vui buồn thế gian

 

Lão già say rượu nói nhăng

Làm thơ lẩm cẩm gia tăng tâm tình

Máu tim chia sẻ tâm tình

Nửa dâng Thần Rượu nửa trình Nàng Thơ

 

Suốt ngày suốt tháng suốt năm

Nó be bét rượu muôn năm đế nồng

Thượng thừa kỳ vĩ vân mông

Sịch mành tỉnh mộng đêm mồng một giêng

 

Đền bù xiết kể bao lăm

Đáp đền muôn một trăm năm dại khờ

Khờ như dại dại như thơ

Dại không biết thẹn trơ trơ điên cuồng

Nói thì nói khề khà theo kiểu tự chế giễu, bỡn cợt khôi hài như thế, nhưng trái tim thi sĩ luôn luôn rực hồng ngọn lửa tình yêu thương vô lượng vô biên đối với cuộc đời đang sống trong túy sinh mộng tử này. Nhà thơ đau nỗi đau của con người, sầu nỗi sầu thiên cổ của kiếp nhân sinh tàn úa phai nhàu :

Nỗi buồn khôn tả từ đâu

Đi về phảng phất nỗi sầu thiên thu

Giữa đêm chén tạc chén thù

Một mình độc ẩm sương mù dưới trăng

Nỗi thương nỗi nhớ hằng hằng

Nhớ thương vô cớ cầm bằng như không

Ừ thì như không như có, như mộng như thực, như tỉnh như say… hết thảy đều là một chứ chẳng khác gì nhau như Tâm Kinh đã nói “sắc tức thị không, không tức thị sắc” đó mà :

Giật mình tôi chợt nhớ ra

Rằng đây đất của chúng ta chúng người

Mở môi em mỉm miệng cười

Tình yêu từ đó vẹn mười muôn năm

 

Yêu em yêu mãi tấm lòng

Yêu em quá độ long đong suốt đời

Nhớ em nhớ suốt mây trời

Suốt trăng vĩnh viễn suốt nơi nào là

Tình yêu đó lai láng như trường giang đại hải mênh mông, cứ tự nhiên trôi chảy, thường hướng đến những tầng lớp nghèo khổ trong xã hội như anh đạp xích lô, cô quét rác hay cô mua bán ve chai. Niềm thương cảm của thi sĩ có cái gì đó thật khác thường kỳ lạ :

Kính thưa đồng chí đại ca

Xích lô vô lượng kể đà bao phen

Từng phen lay lất ưu phiền

Niềm vui vô tận thường hằng đeo đai

 

Các em quét rác mỗi ngày

Mỗi năm mỗi tháng kéo dài muôn năm

 

Dzeee chai bán ! Bán dzeee chai

Tiếng rao mộng ảo dẻo dai dị thường

Tiếng rao huyền diệu phố phường

Tôi đi khắp chốn tình trường nhớ nhung

Tiếng rao lanh lảnh nghìn trùng

Nghìn nhung nhớ một tao phùng nết na

Người đi tôi ở lại nhà

Chiêm bao mộng tưởng vẫn là dzeee chaiii

 

Ve chai giày dép cũ càng

Em mua giúp hết dịu dàng em mua

Tơ trời thêu dệt bốn mùa

Đổi thay thời tiết nắng mưa luống từng

Dạn dày cho rõ phong sương

Âm thầm ý nghĩa muôn phương mây vàng

Từ cô thôn nữ ở đồng quê chân lấm tay bùn đến cô em mọi nhỏ ở trên rừng truông rú thẳm hoang lương, thi nhân cũng chia sẻ tỏ bày rất đỗi ân cần trìu mến :

Cày sâu cuốc bẫm cấy bền

Tháng ngày thanh thản êm đềm buồn vui

Thương em ngày tháng ngậm ngùi

Nhớ em ngày tháng sụt sùi giữa đêm

 

Thương em như thương một nường

Thiên thu là gái bình thường nhà quê

Em từ thôn nữ năm kia

Về đây phút chốc sẻ chia tấm lòng

 

Kể từ vô tận tiêu tao

Yêu em mọi nhỏ chốn nào đầu non

Thấy em như thấy vuông tròn

Thành thân thiên hạ biển non dịu dàng

Yêu em như nước lan tràn

Nhớ em như nhớ những tràng giang xa

Nguồn thơ xanh ngát lại mênh mang chảy tràn qua cổng chùa tu viện, vào thăm viếng thùy mị ni cô. Trước những vẻ đẹp hiền lành thanh thản đoan trang, chàng thi sĩ lóng cóng theo cách điệu bông đùa cà rỡn quý ni cô thuần hậu, thuần phác thảnh thơi, nhẹ nhõm trong tâm hồn :

Ngoài trời trận gió trở cơn

Rượu trong đáy cốc đầu hôm đi đời

Trở cơn trận gió ngoài trời

Tôn tiền hoàn xướng tuyệt vời ni cô

 

Than dài trận trận mù sương

Mười ra em mọi một nường ni cô

Gọi tôi bằng bác xô bồ

Bảo tôi đừng gọi ni cô là nuồng

 

Đi tu em nhớ một lời

Đừng bao giờ trở lại đời làm giai nhân

Đừng đẹp đẽ đến vô ngần

Chỉ cần chút đỉnh đẹp tần ngần tu ( đi )

Còn gì đẹp hơn là buông bỏ hết những phiền não, vọng mê để lên đường xuất gia, đi tu một trận ly kỳ, hy hữu giữa ảo mộng tồn sinh ? ‘Tu là cội phúc tình là dây oan’’ Nguyễn Du đã nói như thế, còn Bùi Giáng thì :

Tu là cội phúc phôi pha

Tình là oan nghiệt chiết ma đoạn trường

Đó là thứ tình dính mắc ràng buộc, chiếm hữu nên luôn luôn giận hờn ghen ghét, gây nên bao tan nát đoạn trường. Vượt qua thứ tình yêu nô lệ đó là tự do cất bước thong dong với chiếc áo nâu sồng mộc mạc, thoát khỏi mọi nỗi khổ niềm đau :

Nâu sồng đã bén muối dưa

Còn tình đâu nữa dây dưa tâm tình ?

Sự đời tắt lửa tồn sinh

Hồng quần quên mất rằng mình đã quên

 

Chép tờ địa lý đầy vai

Hùng tâm thánh nữ thiên tài ni cô

Định thần mừng rỡ bước vô

Song trùng chúc phúc hai cô một lần

 

Ni cô ? Thánh mẫu nhu mì

Thành thân vô tận thuận tùy đầu tiên

Ni cô ? Thục nữ thuyền quyên

Tìm đâu thấy được Nguyên Tuyền Ni Cô ?

Đặc biệt Bùi Giáng dành một tình yêu thương thanh thoát đối với sư cô Trí Hải ở Đại học Vạn Hạnh, người đã dịch Câu chuyện dòng sông của Herman Hesse. Thi sĩ cũng thường gọi sư cô là mẫu thân Phùng Khánh một cách tân kỳ sáng tạo :

Lúc về thờ phượng ni cô

Mẫu thân Phùng Khánh điểm tô đạo trời

Thần lên tiếng thánh đổi lời

Niềm riêng Vạn Hạnh mọc mời cô đơn

 

Con về giũ áo đười ươi

Nực cười Trí Hải ngậm ngùi mẫu thân

Đẻ con một trận vô ngần

Mẹ còn đẻ nữa một lần nửa thôi

Mẫu thân Phùng Khánh tuyệt vời

Chiều xuân thơ mộng dưới trời bước đi

 

Kể từ con lạc ra khơi

Mẫu thân Phùng Khánh vội dời chân đi

Một vùng cỏ mọc xanh rì

Hai vùng sóng lục nhu mì mở ra

Con về trong cõi người ta

Nghe tin sét đánh mẹ đà đi tu

 

U hoài đầu mộng hôm qua

Mẫu thân Phùng Khánh thật là u u

Chân đi từng bước hư phù

Mộng đi từng bước tuyệt trù ống chân

Mẹ về đứng giữa đầu sân

Cuối cùng mẹ bước vô ngần mẹ đi

 

Mẹ còn nhớ nữa con chăng

Mẫu thân Phùng Khánh con hằng chẳng quên

Tuy đòi phen chết nếp nền

Cung vang lừng bậc điệu đền bù xoang

Mẹ về ngõ vắng vườn hoang

Thừa Thiên sông lạnh kéo sang khu rừng

 

Mẹ về đẫm lệ trời xa

Gót đi cuối phố mưa sa đầu đường

Ôi Phùng Khánh mộng mười phương

Này mai này mốt mùi hương cuối cùng

Tà xiêm dấu trải mông lung

Một trường mê hoặc đóng khung cung hành

Con về vội vã chép nhanh

Mù sương nhị bội vây quanh thân hình

Nâu sồng kết tụ kệ kinh

Mai vàng trầm thống nín thinh đêm nào

Có người thắc mắc hỏi : ‘‘Cớ sao Phùng Khánh nhỏ tuổi hơn mà đại ca gọi là mẫu thân ?’’ Thi sĩ trả lời : ‘‘Bởi vì Phùng Khánh là mẹ Việt Nam, tôi là con dân Việt Nam thì tất nhiên Phùng Khánh là mẹ của tôi vậy. Nếu tôi không nhận Phùng Khánh là mẹ thì hóa ra tôi là người Lào, người Cao Miên hay con dân Âu Mỹ ư ? Huống nữa Phùng Khánh là bà mẹ loài người, vậy Phùng Khánh là mẹ của tôi rồi. Nếu tôi không phải con của Phùng Khánh thì hóa ra tôi chẳng phải con người mà là con vật hay sao ?’’

Ngoài Phùng Khánh ra, kỳ nữ Kim Cương cũng là một nàng thơ được thi sĩ đem lòng chiếu cố quý mến vô lường :

Kính thưa công chúa Kim Cương

Trẫm từ vô tận ven đường ngồi đây

Tờ thư rất mực mỏng dày

Làm sao định nghĩa đêm ngày yêu nhau ?

 

Em vui nước ngọt tuôn dòng

Em buồn toàn diện đèo bòng buồn theo

Em vui tinh thể bọt bèo

Em buồn toàn diện thu vèo sang đông

Ngổn ngang gò đống chất chồng

Em về vĩnh viễn đêm mồng một giêng

Em đi thanh thản ngọc tuyền

Anh ngồi nốc rượu nốc phiền thiên thu

Kim Cương nương tử tuyệt trù

Thơ thần chất vấn dặm cù tình điên

Với một suối nguồn thương yêu vô điều kiện, yêu thương vô phân biệt, nhà thơ  cũng rộn ràng trang trải cùng các cô gái đứng đường, xem các cô kỹ nữ như là tiên nương, thánh nữ giáng trần và tâm sự cùng các cô chan chứa nỗi niềm :

Bất ngờ tôi bắt gặp em

Vu vơ đi đứng một đêm giữa đường

Đến gần bất chợt tình thương

Bất ngờ tâm sự phi thường gần xa

Em từ viễn ngạn tuôn ra

Mười hằng hồng lệ chín sa dòng dòng

Tôi từ lịch kiếp long đong

Em từ lận đận tấm lòng bao lâu

Chúng ta từ cõi lao đao

Quen nhau từ những kiếp nào xưa xa

 

Tâm hồn của gái giang hồ

Các em vô tận kể từ đâu ra ?

Anh nay tuổi quá cỡ già

Thương em như nhớ gian nhà lưu ly

Các em dù tuổi tên gì

Cũng từng đã thốt lời gì anh nghe

Ngày nay đứng phố ngồi hè

Nhớ em mộng tưởng muôn bề rã tan

Cậy em lời cậy muôn vàn

Mình em riêng một đá vàng thiên thu

 

Tình yêu vô tận tự lòng

Tình không yêu cũng tùy tòng vô biên

Lỡ làng chút phận thuyền quyên

Chưa là thánh nữ cũng tiên nương rồi

Chỉ có cái nhìn vô phân biệt trí mới thấy được như thế. Dễ có mấy ai trên đời này xem các kỹ nữ lầu xanh là tiên nương thánh nữ ? Chỉ duy nhất thi sĩ Bùi Giáng mới có cái nhãn quan đại từ đại bi, đại hỷ đại xả như thế và từ cái nhìn thấu thị nhân sinh đó, thi sĩ ngợi ca, tán thán hết lời và gọi chung tất cả thục nữ mười phương là nàng thơ, nàng tiên diễm tuyệt vô ngần. Các nàng thơ, tiên nữ cứ đi về kề cận gần gũi, thân thiết miên man, bàng bạc ở khắp mọi nơi khắp chốn, từ phồn hoa đô hội đến lâm tuyền huyễn ngạn, ngoài bến gió bờ sương ngút ngàn quyến rũ mộng mị chiêm bao, dạt dào xao xuyến, xiết bao tâm tình du dương tha thiết :

Các em vô tận thuyền quyên

Từ thiên cổ tới đầu tiên bây giờ

Các em không thể nào ngờ

Rằng đầu tiên đã bài thơ luống từng

 

Em từ trái đất tuôn ra

Em đi xinh đẹp tiên nga dậy thì

Gặp em toàn thể nhu mì

Non sông đất nước thuộc tùy tình em

 

Thương em hơn cả phượng thờ

Ông trời ông Phật mút mùa thần tiên

Yêu em từ cái diện tiền

Của em số dzách thuyền quyên ấy là

Em từ một thuở tuôn ra

Một hơi hô hấp thiết tha dịu dàng

Từ đầu truông tới cuối ngàn

Cỏ cây nhớ mãi muôn vàn tình yêu

Thương em mỗi lúc mỗi nhiều

Yêu em mỗi lúc mỗi trìu mến em

Đường đi lát đá êm đềm

Cậy em thủng thẳng dịu mềm em đi

Mai sau còn một tí gì

Ấy là khu vực nhu mì của em

Cái gì vô tận của em

Ấy là cái ấy của em lạ lùng

Dị thường vô tận hoành tung

Tình yêu tim máu thủy chung tót vời

Anh từ vô tận viễn khơi

Gặp em như gặp đất trời vô biên

 

Chợt nhìn ta thấy em xinh

Buột mồm ta viết bình minh đờn bà

Bài thơ từ đó tuôn ra

Khôn lường vô tận ấy là em ôi

 

Riêng em có lẽ thật là

Thiên thu một thuở muôn nhà một nơi

Cùng em vô tận rong chơi

Khắp trùng dương dội sóng đời đời dâng

Ngân nga vang vọng sóng đời từ cuộc lữ đến cuộc chơi, từ cuộc tình đến cuộc mộng rồi từ cuộc mộng đến cuộc thơ, mở ra tưng bừng những làn gió hương màu phất phới, những phảng phất rung động trầm sâu mầu nhiệm bồi hồi :

Lối đi bình lặng nhiệm mầu

Lối về phấp phới hương màu đầu tiên

Lối đi nhìn ngửa ngó nghiêng

Lối về phảng phất nợ duyên khôn bì

Chập chùng những cuộc đi cuộc về trên con đường mây trắng phiêu du, lãng đãng phiêu bồng. Không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu nên thi nhân dấn mình nhập cuộc vào tồn lưu trôi chảy và đột ngột, thốt nhiên bỗng thấy trần gian đẹp đẽ vô cùng. Đẹp kinh hồn đến độ choáng váng mặt mày, ngập tràn cơn say chuếnh choáng, ngây ngất yêu đời vô tận nên nghêu ngao dạo khúc hát xênh xang.

Trạng thái xuất thần nhập diệu ấy càng ngày càng đến thường xuyên hơn trong cuộc sống thường nhật, nên thi sĩ phiêu hốt, phiêu diêu trong cảnh giới tiêu dao vô ngại đó nhiều đến nỗi phải khiêu vũ nhảy múa như một hoàng đế tự vất bỏ ngai vàng điện ngọc, đi vi hành làm kẻ vô danh tiểu tốt, tha hồ đùa chơi tiếu ngạo, ngâm nga la hét giữa phố thị ồn ào, tấp nập người qua kẻ lại, khiến thiên hạ cứ tưởng là nhà thơ điên. Kỳ thực đó là những phút giây bay bổng, khinh an, hoan lạc, nhập vào hoan hỷ địa xuất cốt diệu thường, cực lạc vô song :

Ông vua kỳ vĩ thập thành

Vì vui quá độ nên thành ra điên

Bây giờ tôi dại tôi điên

Chắp tay quỳ lạy khắp miền nhân gian

Chao ơi ! Thái độ ‘‘Chắp tay quỳ lạy khắp miền nhân gian’’ đó, chẳng khác chi hạnh nguyện của  Bồ tát Thường Bất Khinh, luôn luôn kính trọng hết thảy mọi người dù ngu trí, lớn nhỏ, giàu nghèo một cách trân quý lạ thường. Dường như nhờ đọc sách, kinh điển Phật giáo Đại thừa mà thi nhân bất ngờ trực ngộ, thấy ra tận tường cái bản tâm thanh tịnh chói sáng vạn hữu an lành :

Thượng thừa hồi phục tâm thanh

Thốt nhiên đốn ngộ ngọn ngành cảo thơm

 

Bước vào nào thấy chút chi

Bước ra bỗng thấy cái mì nhu em

Toàn nhiên đại ngộ hoát nhiên

Hoát nhiên đốn ngộ thần tiên thượng thừa

Giữa đỉnh cao và hố thẳm, giữa vô hình và hữu hình, giữa phù du và vĩnh cửu với điệu cười sinh tử như không, thi sĩ thấy ra cảnh giới Hoa Nghiêm trùng trùng duyên khởi nên hòa chung cung bậc đất trời rộng mở, thở cùng không khí phóng khoáng, hý lộng giữa đôi bờ mộng thực, tỉnh điên một cách khoan thai thoải mái :

Cái điên cái tỉnh ở đời

Nào ai dám chắc thế thời ra sao ?

Kéo dài rất mực chiêm bao

Cuộc chơi kỳ vĩ tiêu tao điên cuồng

Cuồng điên là gì, thế nào là điên cuồng ? Vì sao các thiên tài trên thế giới thường hay bị điên ? Có lẽ điên là một cảnh giới dị thường mà người tỉnh táo không bao giờ hiểu được như có lần thi sĩ tự lý giải lai rai : ‘‘Nó điên ? Vâng, nhưng điên một cách dzui dzẻ, bạ đâu gọi đó là mẫu thân bát ngát của con. Người ta bảo rằng nó không điên, có kẻ nói rằng nó giả vờ điên. Muốn biết nó điên hay không điên hoặc giả vờ điên thì trước hết phải đáp vào câu hỏi : Sao gọi là điên ? Nhưng mà, nhưng mà đó là một câu hỏi chưa hề có lời giải đáp dưới gầm trời suốt xưa nay vậy.’’

Vậy thì coi như bất khả tư nghì, không thể nghĩ bàn chi được nữa cả, chúng ta cứ tiếp tục đọc thơ chơi, phiêu hốt theo ngôn ngữ thượng thừa :

Nỗi buồn nỗi khổ đời xưa

Nỗi sung sướng đến móc mưa bất ngờ

Đời nay đất đá cằn khô

Đời xưa đất đá đều đờ đẫn điên

Điên duỗi dọc điên ngửa nghiêng

Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời

 

Cuộc chơi kỳ vĩ thập thành

Các em kỳ bí hơn anh quá nhiều

Tử sinh giữa cuộc dấn liều

Tử sinh liều giữa diễm kiều cuộc chơi

Chuyện sinh tử đối với phần đông phàm phu tục tử chúng ta là rất đỗi trầm trọng, kinh hoàng khủng khiếp, nhưng với thi sĩ thì thấy nhẹ như lông hồng, cho nên  cứ tiếp tục cuộc rỡn đùa chơi, vì đã thấu triệt được lẽ bất sinh bất diệt, chết rồi cũng chẳng mất đi đâu mà chuyển qua hình thức khác, chuyển biến theo luân hồi giữa ba đời sáu cõi, tái sinh theo nghiệp báo của riêng mình đấy thôi :

Em về choáng váng tê mê

Em về từ tử diệt về tái sinh ?

Em về vô tận bình minh

Từ em tử diệt tái sinh mừng chào

Chào mừng cuộc sống vô lượng vô biên giữa biển đời trùng trùng sóng phong quang Bát Nhã, sóng lai láng tràn vào từng trang cổ lục cảo thơm, giúp cho người ta thấy lại vẽ đẹp huy hoàng tráng lệ của trí tuệ muôn đời tung bay phất phới :

Thình lình vô tận biển khơi

Sóng triều Bát Nhã đẩy chơi vào bờ

Thượng thừa trí tuệ thẩn thơ

Chép tờ cổ lục cho tờ cảo thơm

Trí tuệ Bát Nhã ấy chẳng ở đâu xa mà nó ở ngay giữa tâm hồn chúng ta đây thôi. Em hãy quay nhìn lại chính mình thì sẽ thấy ngay lập tức cái lòng trong trẻo nguyên sơ hiển hiện ra khắp muôn chiều diệu dụng :

Em đi vô tận trùng trùng

Em về vô lượng tự lòng mà ra

Đại thi hào Nguyễn Du cũng đã từng nói  ‘‘Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra’’ giống như Hoa Nghiêm Kinh ‘‘Tất cả do tâm tạo.’’ Thì ra, cả sơn hà đại điạ, cả ba nghìn thế giới này cũng đều do tâm mình tạo ra mà thôi. Người thi sĩ hốt nhiên ‘‘ồ lên một tiếng’’ và mỉm cười rỗng rang sảng khoái :

Cõi bờ con mắt Hoa Nghiêm

Tường vôi lá cỏ lim dim vô cùng

Cảnh giới Hoa Nghiêm đang thị hiện diễn bày chung quanh khắp mặt đất trần gian cát bụi, từ vô lượng kiếp đến một phút giây của từng sát na vĩnh cửu. Một hôm lang thang lêu lổng, bỗng thi sĩ kỳ ngộ trùng phùng đức Thế Tôn bên vĩa hè phố chợ,  khiến chàng rúng động cả thần hồn, vội quỳ xuống đãnh lễ thành tâm :

Thập thành đãnh lễ bước chân

Như Lai hộ niệm phù vân điệu chào

Quan Âm Bồ tát chốn nào

Cũng cho nghĩ nghị lối vào Trung Niên

Ôi Bồ tát hỡi Nhu Lai

Lời thơ đãnh lễ lai rai vài hàng

Ngàn thu rớt hột xuống trang

Lá hoa cồn dậy muôn vàn bữa qua

Trung Niên thi sĩ bàng hoàng, choáng ngợp trước ánh hào quang tuệ giác siêu việt, trực kiến vô ngần Chân Không Diệu Hữu, không biết nói gì hơn là làm thơ tán thán ca hát chan hòa :

Ca về tuế nguyệt thiên thâu

Về ca khoảnh khắc sơ đầu sát na

Chân Không Diệu Hữu là ca

Không chân hữu diệu lưu sa hằng hằng

Đứng đi ngồi ngả ba đàng

Thượng thừa cung bậc muộn màng cứ ca

Chân Không mà Diệu Hữu nên mới có chuyện nói đi nói lại, nói mãi suốt từ thiên cổ xưa nay. Nói từ ngày Đức Phật chứng đạo dưới gốc cây Bồ đề đến bây giờ cũng bấy nhiêu chuyện mà thiên kinh vạn quyển, trùng trùng vô tận vẫn nói không hết lời. Cho nên thi nhân cũng hòa theo chiếu cố, ngưỡng mộ trước phong cách trầm hùng bất động vô nhiễm của Như Lai :

Phật ngồi dưới gốc Bồ đề

Tiên nương dừng bước tóc thề chấm vai

Thưa rằng Phật thật là tài

Thấy mà như chẳng từ ngoài vào trong

“Thấy mà như chẳng từ ngoài vào trong.”Chỉ cần một câu thơ đó thôi, Bùi Giáng đã lột tả hết được tinh túy của đạo lý Đông Phương  suốt từ mấy ngàn năm rồi, Khổng Tử, Long Thọ hay Cưu Ma La Thập thì cũng muốn nói quanh nói quẩn cái vô sở trụ, vô sở chấp ấy mà thôi :

Lời thô tục ? Ý u tồn ?

Ý nào u tục thô ngôn là lời ?

Giả danh chân đế cũng rồi

Giả danh tục đế đún đẩy lời cũng qua ?

Trăm năm trong cõi người ta

Lọ là Long Thọ lọ là Khổng Khâu ?

Vàng beo lục gấu trắng trâu

Đìu hiu trăng mọc nhịp cầu phù du

 

Bão giông hằng thể bi thanh

Liên Hoa Diệu Pháp lịch hành Thệ Đa

Thập thành sử hiện ra hoa

Thập Ma La Thập lời Hoa Nghiêm rằng

Rằng thì là…như thế. Như thế là như thế nào ? Chúng ta hãy nghe Bùi Giáng khề khà đối thoại thong dong :

 “- Đọc thơ văn mày viết ra, tao thấy rằng thỉnh thoảng mày nói lên đúng cái tư tưởng ẩn mật trong kinh Hoa Nghiêm, mặc dù mày viết theo cái điệu riêng biệt của mày. Thế nên tao càng ngạc nhiên thấy rằng thường thường mày cứ luẩn quẩn đọc những sách nhảm nhí lăng nhăng. Tao muốn hỏi mày tại sao mà như thế ? Mày quên mất cõi tư tưởng lớn hay sao ?

– Tao cũng chẳng rõ tại sao, nhưng mày thử giải nghĩa tao nghe thế nào là cõi tư tưởng lớn. Lớn là lớn bằng mặt trời hay mặt trăng hoặc to bự như vũ trụ ?

– Cứ tạm cho là to bự như vũ trụ.

– Thế thì tao thử hỏi lại mày : Có khi nào mày nhìn thấy vũ trụ to bự nằm ở ngay trong một giọt sương ?

– Có

– Trong một lá cỏ ?

– Có

– Trong một lổ chân lông ?

– Có

– Thế thì bây giờ mày đã nhận thấy rằng câu hỏi của mày nêu ra ở trên kia đích thực là lệch lạc ?

– Có lẽ ”

Thế đó, cảnh giới Hoa Nghiêm là vậy, thấy tất cả vũ trụ mười phương, muôn loài vạn vật, thánh phàm, thế gian và xuất thế gian đều nằm gọn trong tâm của chúng ta đây mà thôi. Tâm như hư không, vốn là rỗng lặng thanh tịnh, chẳng có hình dáng, không sinh không diệt, nhưng vô cùng diệu dụng rất sinh động, tuy bất biến mà tùy duyên. Cái tâm sinh động ấy ứng vào lòng thi sĩ Bùi Giáng nên hồn thơ xuất thần bay bổng lồng lộng giữa trời đất phong quang bát ngát mông mênh. Bên ngoài thì nhảy múa hát ca nhưng bên trong vẫn tịch nhiên niệm Phật như thường :

Huyền hoa đứng ở giữa đường

Người đi rốt cuộc phi thường vẫn đi

Nam mô Đà Phật A Di

Lan mùa nam diện lai quy phục hồi

Con đường hân hoan sáng tạo bước đi đã quá đổi dập dìu, phiêu lãng hoan say, khiến cho thánh thần cũng lắc đầu chịu thua, chỉ có những bậc Bồ tát mới độ lượng mỉm cười tương ứng cùng thi sĩ sâu xa :

Bây giờ huyền diệu sát na

Bước về gọi mộng sơn hà Trung Niên

Là thằng thi sĩ diện tiền

Làm thơ lố bịch thánh hiền chịu thua

Chỉ duy Bồ tát vui đùa

Niêm hoa vi tiếu là vừa lòng thôi

Bồ tát là người có tâm hồn rộng mở, bao dung, chấp nhận tất cả thuận nghịch tỉnh táo hay điên rồ của thế gian, luôn ban vui cứu khổ cho con người, như Tuệ Sỹ phát biểu : ‘‘Không tận hữu vi, Bồ tát chấp nhận sự tồn tại của dị biệt giữa các loại chúng sinh mà kiến thiết quốc độ thanh tịnh. Không trụ vô vi, Bồ tát nhận thức tính bình đẳng như hư không trong tất cả các loại chúng sinh, nên mọi giá trị cá biệt đều được kính trong  như là giá trị phổ quát. Không tận hữu vi, nên Bồ tát xây dựng quốc độ thanh tịnh không bằng hận thù tranh chấp. Không trụ vô vi, nên Bồ tát xây dựng quốc độ thanh tịnh bằng tình yêu và sự kính trọng giữa các loại chúng sinh.’’***  Thế là, người thi sĩ tuy điên cuồng nhưng vẫn được các vị Bồ tát chiếu cố, vì thế cứ tha hồ rong chơi, tiếu ngạo giang hồ và chuếnh choáng làm thơ tình yêu, ca ngợi tình thương vô lượng như muốn nhắn gởi điều chi bí mật cho người em chí cốt diệu thường :

Gởi em chút đỉnh mùi hương

Tình yêu xa vắng như dường như không

Gởi em mật pháp phiêu bồng

Ngàn trăng ngậm bóng sương đồng quy lai

Sau bao nhiêu trận trận tang bồng, phiêu dật, nhà thơ đã truyền âm nhập mật pháp môn gì đó ? Chỉ có nàng thơ mới có thể nghe và hiểu ra mật pháp đó mà thôi. Chúng ta đừng có tò mò mà luận bàn đủ thứ. Thi sĩ hẹn hò nàng thơ cùng gặp nhau ở phương trời cố quận cuối nẻo nào heo hút tận chân mây :

Mây theo gió thổi về mau

Bây giờ tiễn biệt mai sau trùng phùng

Cùng em cố quận sẽ cùng

Xiết bao tâm sự điệp trùng tái sinh

Bởi vì cũng từ nàng thơ huyền mộng, từ ngày em xuất hiện trên mặt đất sa mạc hoang vu này đã khiến cho thi sĩ bừng ngộ ra một điều chi kỳ bí lặng im :

Em từ thiếu nữ bước ra

Thành thân thục nữ tên là thuyền quyên

Mang thêm mỹ nữ chênh vênh

Em làm đắm đuối dưới trên bao người

Mỹ nhân cách điệu tuyệt vời

Giai nhân từ đó cũng vời tuyệt hơn

 

Em muôn vạn xứ êm đềm

Cho em rất mực muôn nghìn mà ra

Anh từ đó ngộ thiết tha

Em là vô tận em là em ơi !

Nàng thơ thỏ thẻ hỏi chàng thi sĩ đã ngộ điều chi ly kỳ gay cấn như rứa thì chàng nhẹ lắc đầu chỉ đáp :

Anh chỉ biết mỗi một điều là như thế

Như thế nào anh nói rõ em nghe ?

Là thế đó muôn đời là như thế

Nói làm gì em nghe nữa làm chi !

Phải chăng đó là thể lệ vô ngôn, vì ngôn từ bất lực không thể diễn tả được cái trực ngộ kia ? Thôi đành lặng lẽ lắng nghe điều huyền diệu đang dần dần lan tỏa quanh gót ngọc em về dưới nắng sớm chiều mưa :

Em đi bất chợt thượng thừa

Thoảng trong phút chốc còn lưa muôn đời

Em từ viễn tượng xa xôi

Về từ thiên thượng tuyệt vời tố nga

Tình yêu có lẽ chăng là

Tình thương vô tận tặng quà vô tâm

Té ra là như rứa, tất cả muôn sự muôn việc triền miên xảy ra từ xưa đến nay cũng chỉ là vô tâm, vô niệm như không, chẳng là gì gì hết cả :

Như không là ấy ruột rà

Như không vô tận từ ta tặng người

Tặng người em gái quê, gái phố, gái núi, gái rừng, gái biển, gái thuyền quyên thục nữ mười phương một bài thơ tình thương yêu bất tuyệt vĩnh hằng :

Tặng em thể điệu toàn thân

Kết chùm nguyệt rộng đôi vần thi ca

Tặng em thỉnh thoảng mà ra

Thiên thu tặng vật đóa hoa tình đầu

 

Chiều nay bỗng thấy tình thương

Chảy tràn ngập khắp du dương cõi bờ

Chân tình anh hỏi nàng thơ

Chẳng thà như rứa chớ bơ vơ – ồ !

 

Hình thành tinh thể bài thơ

Vô cùng kiều diễm một giờ mà ra

Muôn trùng vĩnh biệt thiết tha

Một giờ như thể muôn hoa một mùa

Một mùa chi mà lạ rứa ? Thưa rằng không biết nữa. Chỉ hay rằng, đặc biệt, nhà thơ Bùi Giáng có một niềm tương ứng đậm đà, thâm sâu đến độ tâm đắc cùng lục bát Nguyễn Du qua tác phẩm Truyện Kiều. Hình ảnh thi hào Tố Như luôn luôn xuất hiện, đi về trên khắp hàng ngàn trang thơ văn dặt dìu lãng đãng :

Sáng nay chim hót thật nhiều

Tưởng nghìn tiếng nói tình yêu đất trời

Chiều nay có lẽ lá rơi

Mưa rừng đổ xuống khắp nơi ào ào

Mai kia sẽ nhớ ngày nào

Ngày nay ấy mộng rì rào máu tim

Thượng thừa tiếng hót của chim

Của gà gáy sáng từ khuya tới giờ

Làm đi làm lại bài thơ

Kể từ tao ngộ bất ngờ Nguyễn Du

 

Tôi từ muôn kiếp phôi pha

Gặp em ngàn thuở mà ra một thời

Một lần vô hạn em ơi

Gặp từ vô tận đất trời Nguyễn Du

 

Chào em thiên nữ vong hồn

Thiên thu đã tới mang dồn dập hoa

Tán hoa thiên nữ ấy là

Thúy Kiều vô tận tên là Nguyễn Du

 

Thúy Kiều một thuở mà ra

Muôn thu vạn thuở nõn nà hiện thân

Kiều ôi có lẽ một lần

Hồng Sơn thiên lý tử phần tái sinh

 

Một vùng cỏ mọc nước ngâm

Nghìn năm nhớ mãi cung cầm Nguyễn Du

Các con không gặp Nguyễn Du

Chính ông cũng chẳng gặp Du bao giờ

Nhưng bài thơ ấy còn trơ

Bên nguồn vĩnh phúc bất ngờ tỏa ra

Những là ánh sáng chói lòa

Việt Nam văn hiến băng qua dặm nghìn

Đã hơn bốn nghìn năm văn hiến trôi qua, thi sĩ đi về cố xứ và âm thầm nhập diệu vào cõi miền vĩnh cửu uyên tư :

Về bên cố quận tuyệt trù

Vượt biên giới nhập thiên thu vô lường

Thiên thu vĩnh cửu nằm ngay trong giây phút bây giờ và ở đây. Không còn biên giới phân biệt nhị nguyên đúng sai, phải trái, hết rồi những có không, mộng thực giữa chốn tồn sinh. Người thi sĩ hồn nhiên như trẻ thơ, thở nhẹ nhàng từng điệu thở hài nhi nhẹ vời với tiếng cười nhẹ nhõm reo vui :

Chưa biết nói đã biết cười

Cười như thượng thặng vẹn mười Như Lai

Hồn như Di Lặc dẻo dai

Cười không biết chán chường ai ai người

Quả nhiên nó đúng là người

Mà sao nó khác hẳn người chúng ta

Quả nhiên nó rất là già

Mà sao nó bảo nó là trẻ thơ

Trẻ thơ nào có bao giờ

Biết làm thơ để phượng thờ tình yêu ?

Bùi Giáng là thế, vẫn tà tà cách điệu tiếu lâm, riễu cợt hài hước cho “vui thôi mà” chớ có chi đâu mà trầm trọng, nặng nề phê phán đúng sai, trúng trật, dở hay phải không ? Thì ra là vậy, trên con đường miên man sáng tạo, trên ngõ về vô sở trú phong quang, thi sĩ thung dung trỗi nhịp cung đàn hoan ca, hòa âm cùng cung bậc Bất nhị như thị như nhiên. Với tinh thần vô sở cầu, vô sở chấp, vô sở đắc, lặng lẽ buông bỏ, cho và cho hết những gì mà thiên hạ đang đấu tranh, giành giật chiếm hữu lẫn nhau, thi nhân tự nguyện sống nghèo nàn hàn sĩ, làm kẻ ăn mày, một tên cuồng sĩ lang thang suốt đời hát bản độc hành ca qua ngày tháng ngao du làm rớt hột phiêu bồng giữa mênh mông thông lộ vô cùng bất tận,  ngờm ngợp gió ngàn trăng.

Văn hào Mỹ vĩ đại Henry Miller nói : “Từ chút ít sách vở tôi đã đọc, tôi nghiệm ra rằng, những người lặn lội sâu nhất trong cuộc đời, những người nhồi nặn cuộc đời, những người chính là cuộc đời đều ăn ít, ngủ ít, sở hữu ít hay không có gì cả. Họ không có bất kỳ một ảo tưởng nào về bổn phận, hoặc nối dõi tông đường hay duy trì quốc gia. Họ chỉ quan tâm tới chân lý và chân lý mà thôi. Họ chỉ chấp nhận một hình thức hoạt động là sáng tạo. Không một người nào có thể chỉ huy công việc họ, bởi vì họ tự nguyện cho tất cả. Họ cho không, bởi vì đó là cách duy nhất để cho.”****

Nhận định trên của Henry Miller rất đúng với trường hợp Bùi Giáng biết bao. Một thi nhân đã tận hiến cho cuộc sống bằng tất cả tinh thành chân thiết nhất, bằng con đường nghệ thuật thi ca.

Nhà thơ Bùi Giáng đã sống trọn vẹn một cuộc đời hạnh phúc viên mãn theo ý nghĩa đạo Phật. Suốt bình sinh cuộc sống, thi sĩ là hình ảnh quá cùng đẹp trong cái nhìn của thiên hạ mọi người, nhất là giới tăng sĩ Phật giáo và giới văn nghệ sĩ, ai ai cũng nhìn ông với niềm ưu ái, quý mến đầy ngưỡng mộ. Ngưỡng mộ sự tự do tự tại, thung dung thoát tục, không dính bụi trần mà “hòa cùng ánh sáng, trộn cùng cát bụi” của thi nhân.  Bồng tênh tiêu sái, rong chơi suốt một đời thơ giữa phố thị phù hoa như một hài nhi tóc bạc thơ ngây, nhảy múa hồn nhiên hát ca vi vu vi vút.

Cuộc đời Bùi Giáng vô cùng thi vị, một cuộc đời hoàn toàn sống vì nghệ thuật, dâng hiến tất cả cho nghệ thuật thuần túy, chỉ biết sống hết mình cho thi ca và đệ nhất hy hữu nàng thơ tuyệt cùng chơn mỹ :

Em đi hồn nhớ nhung gì

Anh ngồi nhớ cái nhu mì lẻ loi

Trời cho rất mực rạch ròi

Vào trong thục nữ ra ngoài thuyền quyên

Của em toàn thể uy quyền

Của em toàn diện thần tiên dịu dàng

Tư tưởng trong thơ Bùi Giáng mang một ý nghĩa bùng vỡ khai phóng, đầy ắp hào quang sáng tạo. Tư tưởng nhập cuộc chịu chơi vào cõi tồn lưu mà vẫn thanh thản thong dong, không dính mắc, không ràng buộc, không chấp chặt của thi nhân thật chẳng khác gì thái độ vô tâm, vô niệm, vô sự của những bậc thiền sư. Nhà thơ thõng tay vào chợ, tung hoành ngang dọc, nhảy múa quay cuồng đủ thể điệu quàng xiên mà vẫn sáng suốt thông tuệ như như.

Tư tưởng phá chấp triệt để của Thiền tông được thi nhân thể hiện suốt bình sinh cuộc sống bằng chính bản thân mình, như ngụ ngầm khai thị một điều gì vi diệu mà mỗi một người trong chúng ta phải tự lãnh hội, tự thấu hiểu ra mà thôi.

Sở dĩ con người đau khổ là vì cố chấp, chấp ngã, chấp pháp, chấp đủ thử lu bù nên cứ mãi khổ đau trầm thống triền miên. Muốn thoát khỏi vòng trầm luân khổ não đó, chỉ còn một cách là hãy trở về lại chính mình, nhận biết cái bản tâm nguyên sơ, sống với thực tại đang là ngay trong từng hơi thở luôn luôn mới lạ và mới lạ.

Tiến sĩ Nguyễn Tường Bách nhận xét về thi sĩ : “Bùi Giáng cũng như một người điên, cỡ Tế Điên. Cũng như Tế Điên, hình như ông đến cõi đời này để dạo chơi, để đùa rỡn và cũng để giáo hóa cho con người thấy tất cả đều chỉ là trò ảo giác của sắc thân, của chữ nghĩa, của tư tưởng, chúng đều là chuyện đáng để đùa rỡn.”***** Rỡn đùa điên khùng chơi theo thể điệu Tiếu ngạo giang hồ Kim Dung tung chưởng vô chiêu, hay khùng điên nhảy múa ca hát, tràn đầy yêu thương tuyệt mỹ như nghệ sĩ Nijinsky : “Tôi là Thượng đế trong con người. Tôi cảm những gì Christ đã cảm. Tôi giống như đức Phật, tôi là đức Như Lai Phật giáo và là tất cả mọi Thượng đế thiên hình vạn trạng. Tôi quen biết tất cả những vị đó và đã gặp gỡ tất cả những vị đó. Tôi giả vờ làm thằng điên một cách cố ý  vì những mục đích riêng tư của tôi. Tôi biết rằng, nếu mọi người nghĩ rằng tôi là một thằng điên vô tội thì họ sẽ không sợ tôi. Tôi không thích thiên hạ nghĩ rằng tôi là một thằng điên nguy hiểm. Tôi là một thằng điên yêu thương nhân loại. Cơn bệnh điên của tôi là tình thương của tôi đối với nhân loại.”**

Thật vậy, quả nhiên đúng là như thế, phải không hỡi đại thi sĩ Bùi Giáng ? Cơn bệnh điên của thi sĩ là vì quá thương yêu nhân loại đó thôi. Yêu thương quá độ mà thành ra điên, mà bày ra đủ trò khiêu vũ ngôn ngữ, hý lộng ngữ ngôn một cách thượng thừa như đùa như rỡn trào tuôn. Ừ thì như thị, như thế, như thế, cứ mở ra những cuộc rỡn đùa chơi hay đại hòa điệu chơi giữa cõi người ta, vì tất cả mọi sự trên thế gian này đều chỉ là trò chơi, trò đùa huyễn mộng. Sống là chơi, chết là chơi, điên rồ là chơi, tỉnh táo là chơi, uống rượu khề khà là chơi, mê gái là chơi, làm thơ làm thẩn là chơi, làm văn nghệ là chơi, làm cuồng sĩ túy lúy ca là chơi, làm thiền sư tự do tự tại là chơi, làm bất cứ việc gì cũng là trò chơi, trò đùa du hý tam muội mà thôi :

Mỗi người có một cách chơi

Em vui với gió tôi ngồi nhìn trăng

Em đi năm tháng thường hằng

Tôi nằm nhớ mãi hàm răng em cười

 

Mở tờ giấy mới ra chơi

Hình như giấy cũng vui cười với em

Bài thơ do đó lem nhem

Lúc vui lúc khổ như em đó mà

Còn tôi vui khổ thật là

Đảo điên rất mực tiên nga giật mình

Trăm năm khó đổi tính tình

Cũng không có thể làm thinh muôn đời

Thôi thì cứ nói cho vui

Nghìn năm chỉ có một đời muôn năm

Làm sao quên được giọng cười ‘‘vui thôi mà’’ của thi nhân ? Giọng cười ấy vẫn còn đồng vọng khắp nơi trên mặt đất. Bất cứ ở đâu, nếu ai còn cảm được thi ca và phiêu lãng đều nói về Bùi Giáng với niềm rỡn tếu, bông đùa một cách vui vẻ thân mật, gần gũi như là anh em chí cốt ruột rà vậy. Đa số mọi người đều thấy đấy là một Bồ tát nghệ sĩ đi về mặt đất trần gian chuyển hóa con người ta nên buông xả cái tâm chấp thủ, dính mắc vào danh lợi, để sống thanh thản an nhiên với niềm tự do tự tại vô ngại. Bồ tát nghệ sĩ là người không những tự giải thoát chính mình ra khỏi mọi mắc dính buộc ràng mà còn khôn khéo tìm cách khơi mở tuệ giác nơi những kẻ khác bằng phương tiện nghệ thuật, ngay giữa bây giờ và chính ở đây thôi.

Ngày tháng vẫn luân lưu trôi chảy mãi, nói về Bùi Giáng thì bất tuyệt và giọng cười vô sự cũng mở ra bất tuyệt như Ma Ha Ca Diếp niêm hoa vi tiếu trên đỉnh Linh Sơn rờn mây trắng từ nghìn xưa cho mãi đến bây giờ :

Niêm hoa vi tiếu luống từng

Xuân phong bài động thơ mừng vụt dâng

Người thi sĩ thượng thừa đã về đã tới nơi chốn quê nhà, đã qui hồi cố quận, nằm ngắm trăng đón gió cùng mây về hòa điệu khúc cung cầm vô thủy vô chung :

Tâm tình mấy nẻo mông lung

Ta nằm cố quận muôn trùng người đi

Kỳ tuyệt cõi thi ca Bùi Giáng, thấm nhuần sâu sắc tư tưởng sự sự vô ngại, lý sự viên dung của pháp giới Hoa Nghiêm. Tư tưởng đó được thi sĩ tiêu dung, tiêu hóa và sáng tạo thành một nguồn thơ độc đáo vô song. Hồn thơ như ngọn lửa thiêng ngời tỏa ánh hào quang, cháy bừng lên rực rỡ huy hoàng làm ấm áp khắp mặt đất trần gian, chan chứa nồng nàn trong cõi người ta tha thiết thiên thu.

Giữa thiên thu vạn đại, ngưới viết xin kính tặng thi sĩ vài bài thơ để nhớ mãi những ngày tháng ở phố thị Sài Gòn cùng thi sĩ ngao du đủ thể điệu phiêu bồng :

 

SAY THƠ

 

Nhập cuộc chơi sớm chiều lêu lổng

Không dừng chân trú lại nơi đâu

Sinh nhằm quẻ Lữ trong Kinh Dịch

Nên rong rêu như bèo nổi qua cầu

 

Cầu sinh tử cứ trôi và chảy

Suối hồ sông biển cả mênh mông

Rạt rào vô hạn cùng Bùi Giáng

Giữa phù hoa nhảy múa phiêu bồng

 

Sài Gòn trút cơn mưa nguồn xuống

Gội cho đời bớt sa mạc khô khan

Trung Niên Thi Sĩ hề nâng cốc

Rượu thi ca tư tưởng uống tràn

 

Quán vĩa hè dăm ba cuồng sĩ

Túy lúy ca hòa cát bụi này

Ngày tháng ngao dumù lảo đảo

Phố phường say trời đất cũng say

 

THI SĨ BÙI GIÁNG

 

Không chỗ trú chẳng bến bờ

Vẫn bầu rượu với túi thơ dặm dài

Ngút mùa cuồng sĩ lai rai

Nghêu ngao vô sự hát bài Hoa Nghiêm

Có gì đâu phải đi tìm

Ba nghìn thế giới trong tim của mình

Tà tà giữa cuộc phiêu linh

Một hôm bất chợt thấy hình bóng xưa

Nên về cà rỡn bông đùa

Múa ca diệu dụng cùng mưa nắng cười

Miền hoan hỷ địa rong chơi

Khơi nguồn sáng tạo mở trời đất ra

…………………..

* Tạp chí Tư Tưởng số 5. Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn 1969

** Phạm Công Thiện. Một đêm siêu hình với Hàn Mặc Tử, Trần Thi xuất bản, Hoa Kỳ 2009

*** Tuệ Sỹ. Huyền thoại Duy Ma Cật. Phương Đông xuất bản,  2007

**** Nguyễn Hữu Hiệu. Con đường sáng tạo. Hồng Hà xuất bản, Sài Gòn 1973

***** Nguyễn Tường Bách. Mùi hương trầm. Trẻ xuất bản, 2001

 Thơ văn Bùi Giáng ( chữ nghiêng ) trích trong các tác phẩm : Mưa nguồn, Lá hoa cồn, Sa mạc phát tiết, Sa mạc trường ca, Rong rêu, Như sương, Đêm ngắm trăng, Mùa màng tháng tư, Ký ức, Trúc mai, Mười hai con mắt, Rớt hột phiêu bồng, Bèo mây bờ bến. Thơ vô tận vui, Tuyết băng vô tận xứ, Thúy Vân, Mùa xuân trong thi ca, Tư tưởng hiện đại, Lời cố quận, Lễ hội tháng ba, Ngày tháng ngao du.

 

 

← Older Entries

%d bloggers like this: